Trong khi đó chuyển giá là một hoạt động chủ quan, cố ý của các tập đoàn nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp và tăng cường khả năng cạnh tranh, chiếm thị phần, loại bỏ đối tác thông qua
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN QUANG TRUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2PHẦN DẪN NHẬP
Cơ sở khoa học và lý luận của luận án là những vấn đề mang tính cấp thiết phục vụ cho sự nghiệp CNH và HĐH đến những vấn đề mang tính toàn cầu hiện nay như:
• Vấn đề toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới với các nước đang phát triển:
Sau hội nghị cấp bộ trưởng WTO ở Seattle (Mỹ), sau diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos (Thụy Sỹ), một lần nữa vấn đề toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển lại được đem ra xem xét, thảo luận tại Hội Nghị Phát triển và Thương Mại của Liên Hợp Quốc lần thứ 10(UNCTAD-X) diễn ra tại BangKok (Thai Lan) vừa qua
Hội nghị lần này nêu bật lên những bất công và những bất lợi, rủi ro mà các nước đang phát triển phải gánh chịu khi tham gia vào thương mại quốc tế, tìm kiếm một chương trình hành động chung vì sự phát triển bền vững của các nước này và làm giảm hố sâu ngăn cách giữa các nước giàu và nghèo Theo báo cáo Phát triển thế giới 1999 của Ngân hàng Thế Giới thì khoảng cách giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển ngày càng rộng và chưa có dấu hiệu nào cho thấy xu hướng này sẽ giảm xuống Các nguồn viện trợ tài chính đã giảm mạnh chỉ còn bằng 1/3 so với thập kỷ 90, thay vào đó các nước đang phát triển nhận được sự thúc ép từ các nước phát triển tự do hóa kinh tế, tham gia vào thị trường thế giới Tuy nhiên khi tiến hành cải cách, mở cửa nền kinh tế, các nước nghèo phải chịu rất nhiều bất lợi và rủi
ro Toàn cầu hóa là một cuộc chơi không công bằng cho các nước đang phát triển Mậu dịch quốc tế ở các nước đang phát triển có lợi thế so sánh tự nhiên như nông sản, dệt, nguyên liệu thô,… tăng trưởng rất chậm chạp, giá cả thường xuyên biến động mạnh Từ giữa thập niên 80 đến giữa thập niên 90, buôn bán hàng nông sản chỉ tăng dưới 2%, so với mức tăng gần 6% của hàng chế tạo Các nước công nghiệp
Trang 3phát triển thúc ép các nước đang phát triển cải cách nền kinh tế, dịch vụ tài chính: nhưng lại dựng lên các hàng rào bảo hộ phi thuế quan mới bằng cách đề ra các quy định về bảo vệ môi trường, điều kiện lao động,…thay thế cho hàng rào thuế quan Hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang phát triển phải chịu mức bảo hộ cao gấp 4 lần
so với giữa các nước phát triển với nhau Ước tính hạn ngạch hàng nông sản của các nước thuộc Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế (OECD) gây thiệt hại cho các nước đang phát triển lến đến 20 tỷ USD mỗi năm, ảnh hưởng trực tiếp đến những người lao động trong khu vực nông nghiệp, chiếm đến 2/3 dân số các nước này Sự
lo ngại trước những rủi ro mà quá trình toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại mang lại cho các nước đang phát triển là một vấn đề lớn hiện nay Khi mở cửa nền kinh tế, các quốc gia phải đối mặt với những vấn đề nan giải trong nước Việc cải cách, điều chỉnh cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu đòi hỏi các quốc gia phải thực hiện nhiều biện pháp cứng rắn rất tốn kém và có tác động xấu về mặt xã hội Những người thất nghiệp dư ra từ các ngành không còn được bảo hộ, không dễ dàng tìm việc làm mới
ở các nước khác do thị trường lao động chưa hoàn thiện Hệ thống các chương trình phúc lợi xã hội hoạt động không hiệu quả sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực khác có tác động rất lâu dài, là nguy cơ bất ổn định tiềm ẩn Xu hướng sáp nhập các công
ty đa quốc gia thành các công ty khổng lồ có tiềm lực tài chính lớn hơn cả các quốc gia trung bình, các công ty này sẽ nuốt chửng các công ty nội địa khi xâm nhập vào thị trường trong nước Tình trạng các tập đoàn lũng đoạn nền kinh tế các nước đang phát triển là một thực tế cần xem xét Từ đó mà vấn đề xem xét lại một số luật lệ trong thương mại quốc tế, cải cách hệ thống tài chính quốc tế, nếu không sự bất ổn sẽ tiếp tục theo sự toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa là một xu hướng chung, một đất nước đang phát triển, đang thực hiện mở cửa để hòa nhập và đón nhận đầu tư như Việt nam thì việc hòa theo
xu hướng đó là điều không thể tránh khỏi Vấn đề là chúng ta hòa nhập trong tư thế như thế nào, điều đó còn phụ thuộc vào mức độ chuẩn bị và khả năng của chúng ta
Trang 4• Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phục vụ sự nghiệp Công Nghiệp Hóa và Hiện Đại Hóa đất nước
Trong chiến lược tài chính để thực hiện CNH và HĐH cần phải tính đến tổng vốn đầu tư toàn bộ nền kinh tế quốc dân và từng khu vực: Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, cũng như hệ số ICOR trong hoạt động đầu tư Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong điều kiện hệ số ICOR thời kỳ sau thường cao hơn thời kỳ trước, thì tổng vốn đầu tư sẽ tăng lên rất nhanh Thời kỳ 1991-1995 tổng vốn đầu
tư là 15,6 tỷ USD Theo dự tính ban đầu, để duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 8,5% như đã đạt được, thì tổng vốn đầu tư của thời kỳ 1996-2000 là 40-42 tỷ USD, bằng 2,7 lần 5 năm trước đó Từ đó suy ra tổng vốn đầu tư cho thời kỳ 2001-2005 khoảng 100-120 tỷ USD và 5 năm tiếp đó khoảng 200-220 tỷ USD Dù cho rằng trong tình hình suy thoái kinh tế, hiện chưa tính được điểm dừng của nó nên mức tăng trưởng đề ra khoảng 5-6%/năm và như vậy tổng vốn đầu tư sẽ ít hơn Tuy nhiên nếu ý kiến này được chấp nhận thì việc thực hiện mục tiêu CNH sẽ chậm lại hàng thập kỹ Vốn đầøu tư là một yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng, do vậy việc tăng tỷ lệ vốn đầu tư từ nước ngoài là một một nội dung quan trọng của chiến lược tài chính Trong vốn đầu tư nước ngoài thì vốn ODA đã được các nhà tài trợ cam kết từ năm 1993-1998 là 13,5 tỷ USD, đã được giải ngân khoảng 5, tỷ USD; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đã được đăng ký từ năm 1988-1998 là 35,5 tỷ USD và đã thực hiện khoảng 13,5 tỷ USD Như vậy, so với nhu cầu vốn đầu tư và năng lực tiếp nhận vốn nước ngoài của ta thì con số vốn đã thực hiện là quá ít Nếu so với Trung Quốc, thì sự tác động của FDI ở nước ta còn rất thấp Ví dụ, trong hơn 170 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc năm 1998, các doanh nghiệp có vốn đầu
8-tư nước ngoài (DN FDI) chiếm 45%, trong khi đó con số này tại nước ta chỉ là vài tỷ USD và chiếm một phần không đáng kể
Trang 5Nêu ra những con số trên để chúng ta thấy được nhu cầu bức thiết của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài như thế nào trong thời gian sắp tới Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chấp nhận làm ăn với các tập đoàn đầu tư quốc tế là đồng nghĩa với hòa nhập vào xu hướng toàn cầu hóa, là chấp nhận cuộc chơi với những thủ đoạn và cạnh tranh khốc liệt mà vấn đề hơn thiệt ở đây không phải giữa các cá nhân, các doanh nghiệp mà nó ảnh hưởng đến bước tiến, đến sự giàu nghèo của cả một dân tộc, một quốc gia Một quốc gia vừa thoát ra khỏi hai cuộc chiến tranh dành độc lập vĩ đại nhất trong lịch sử loài người như Việt Nam, đang vật lộn với nghèo nàn lạc hậu thì cuộc chiến này cũng sẽ không kém phần khó khăn như hai cuộc kháng chiến trước
Nghiên cứu vấn đề chuyển giá, là chúng ta muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng đất nước ấy Ý thức được tầm quan trọng và mức độ nghiêm trọng của vấn đề để làm kim chỉ nam cho đề tài này và thực tế đang diễn ra trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài là nguồn số liệu cho đề tài Phương pháp duy vật biện chứng, đặc biệt là những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật như “cái riêng và cái chung”, “nguyên nhân và kết quả”, những lý luận biện chứng của sự nhận thức thực tại khách quan và những phương pháp thống kê, phân tích, dự báo và những tài liệu nước ngoài đã được sử dụng trong đề tài này
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ
CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN GIÁ
1 Khái niệm về định giá chuyển giao và chuyển giá:
Trước hết chúng ta cần phân biệt rõ sự khác biệt và mối quan hệ giữa hai thuật ngữ “định giá chuyển giao – transfer pricing” và “chuyển giá – price transfering”
Các công ty đa quốc gia (MNC) theo đuổi chính sách toàn cầu hóa và chiến lược xuyên quốc gia đã ngày càng mở rộng hoạt động của chúng trên khắp thế giới
Do đó, một sản phẩm có thể được thiết kế, vẽ mẫu tại một số nước, còn một số bộ phận cấu thành của nó được sản xuất ở nước thứ hai, các bộ phận cấu thành khác được sản xuất ở nước thứ ba Tất cả sẽ được lắp ráp ở nước thứ tư và các sản phẩm hoàn thành sẽ được bán rộng rãi trên toàn cầu Vấn đề này làm phát sinh các nghiệp vụ nội bộ công ty rất phong phú và đa dạng Giá mà tại đó hàng hóa hay dịch vụ được chuyển giao gọi là giá chuyển giao – transfer price Mặc dù là giá hình thành trong nội bộ (tức là dựa trên cơ sở có mối quan hệ hữu cơ) nhưng luật pháp quốc tế thông thường đòi hỏi giá chuyển giao này phải được đánh giá theo tiêu chuẩn giá thị trường – Arm’s-length Standard), có nghĩa là nó được thực hiện với những doanh nghiệp khác không có liên kết trên thị trường Như vậy, khi thực hiện một nghiệp vụ chuyển giao qua lại giữa các MNC, có một nhu cầu nảy sinh trước hết là phải tính toán giá chuyển giao giữa các bộ phận Theo thuật ngữ tài chính thì công việc này được gọi là định giá chuyển giao-transfer pricing
Việc định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị doanh nghiệp tập đoàn, nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn thị trường thì xảy ra hiện tượng chuyển giá Xét về khía cạnh thuế, chuyển giá là một hành vi nhằm làm
Trang 7giảm đi số lợi tức, thu nhập mà các công ty con thực tế phải kê khai với cơ quan thuế để trốn và tránh thuế Nhìn chung có hai dấu hiệu cơ bản của hiện tượng chuyển giá, đó là: nâng giá đầu vào với các tài sản góp vốn, chi phí nguyên vật liệu, chí phí gián tiếp,… Đối với các yếu tố đầu ra thì kê khai thấp hơn giá bán thực tế trên thị trường Các nghiệp vụ chuyển giao được định giá thấp hơn hay cao hơn giá thị trường Các nghiệp vụ chuyển giá này có thể thực hiện dưới hai hình thức: chuyển giao giữa công ty mẹ với công ty con và ngược lại hoặc giữa các công ty có mối quan hệ liên kết với nhau-related parties
Như vậy, về thực chất hai khái niệm định giá chuyển giao và chuyển giá là không đồng nhất với nhau
Định giá chuyển giao là một khái niệm hàm ý thực hiện một hành vi với các khía cạnh tích cực của một chính sách tài chính của một tập đoàn nhằm tăng cường quản lý hoạt động của từng thành viên, ở khía cạnh nó hoàn toàn là một khoa học quản lý tài chính kế toán và khác hẳn với chuyển giá Tuy nhiên nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn là định giá chuyển giao giữa hai công ty thành viên ở hai nước khác nhau thì nó lại có điểm gần nhau ở chỗ được thực hiện đối với nước chủ nhà (the host country) và với chính quốc (the home country)
Trong khi đó chuyển giá là một hoạt động chủ quan, cố ý của các tập đoàn nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp và tăng cường khả năng cạnh tranh, chiếm thị phần, loại bỏ đối tác thông qua việc xác định giá trị các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ không đúng với giá thị trường
Khi nói đến chuyển giá là ta đề cập đến vấn đề chuyển giá quốc international transfer pricing- là quản lý thuế, trốn thuế và thôn tính đối thủ của các tập đoàn và do đó phải có những phương pháp định giá chuyển giao phù hợp và các giải pháp để chống lại vấn đề này, đây chính là hướng nghiên cứu chính của đề tài Bên cạnh đó chúng ta còn có vấn đề định giá chuyển giao nội địa- domestic transfer pricing- khái niệm nội địa không còn là ranh giới giữa các quốc gia nữa mà ở đây
Trang 8tế-nó có nghĩa là không đề cập đến chính sách thuế của các quốc gia mà chỉ chú trọng đến vấn đề quản lý của nội bộ một tập đoàn
Sau đây chúng ta sẽ đi lướt sang phần này trước khi vào hướng chính của đề tài
2 Các phương pháp định giá chuyển giao giữa các doanh nghiệp thành viên, ý nghĩa và sự cần thiết:
Là một khoa học quản lý, định giá chuyển giao (ĐGCG) như là một công cụ để giúp chúng ta đánh giá, phân bổ chính xác các chi phí hoạt động giữa các công ty thành viên, từ đó có được những quyết định đúng đắn, kịp thời Vấn đề là định như thế nào để thật hợp lý và thỏa đáng Giả sử chúng ta có ba công ty thành viên, thành phẩm của đơn vị thứ nhất là đầu vào của đơn vị thứ hai và ba và thành phẩm của đơn vị thứ hai cũng là một phần đầu vào của đơn vị thứ ba Như vậy ở đây ta có
ít nhất là hai lần chuyển nhượng của cải giữa các thành viên trong cùng công ty Loại giá nào sẽ được quy định cho các quá trình chuyển giao? Có thể định giá gồm lợi nhuận cho bộ phận giao không? Hay giá chỉ nên bao gồm chi phí phát sinh? Việc chọn giá như vậy là rất phức tạp bởi vì mỗi bộ phận có thể cung cấp sản phẩm của nó ra ngoài và ngược lại các bộ phận khác cũng có thể mua hàng từ bên ngoài Điều quan trọng nữa là giá tính bởi bộ phận này trở thành chi phí của bộ phận khác và chi phí này càng cao thì tỷ lệ hoàn vốn hay hiệu suất hoạt động của bộ phận nhận sẽ càng thấp Đó là mâu thuẫn chính của vấn đề và nó không phải là đơn giản và thường đưa tới sự tranh cãi kéo dài và sôi nổi giữa các tập đoàn Trong thựcï tế ta có các cách cơ bản thường được sử dụng như sau
2.1 Định giá chuyển giao trên căn bản giá thị trường
Nếu trên thị trường có tồn tại những sản phẩm và dịch vụ tương tự thì giá thị trường là cách định giá độc lập và công bằng nhất Bằng việc sử dụng giá thị trường để điều hành các hoạt động chuyển giao, tất cả các bộ phận đều có khả năng thu được lợi nhuận trên vốn bỏ ra chứ không chỉ có khâu cuối cùng của quá trình
Trang 9chuyển giao Cách tính này giúp cho nhà quản lý quyết định khi nào nên chuyển nhượng và các vấn đề khác
Quan điểm sử dụng giá thị trường là tạo điều kiện cạnh tranh giữa các bộ phận vì nó cho các kết quả hoạt động chính xác của từng bộ phận và là căn cứ tuyệt vời để đánh giá hoạt động của nhà quản lý Có một số nguyên tắc phải tuân theo khi sử dụng giá thị trường để chuyển nhượng, đó là:
- Bộ phận mua phải mua của bộ phận bán trong nội bộ khi mà bộ phận bán đáp ứng được tất cả điều kiện của giá mua ngoài và muốn bán nội bộ
- Nếu bộ phận bán không đáp ứng được tất cả điều kiện của giá mua ngoài thì bộ phận mua được tự do mua ngoài
- Bộ phận bán phải được tự do từ chối bán nội bộ nếu nó muốn bán ra ngoài
- Một ủy ban trung gian phải được thành lập để giúp giải quyết những bất đồng giữa các bộ phận về giá
Không phải tất cả các công ty đều có các điều kiện thị trường như nhau Có khi khách hàng của một công ty là một công ty khác thành viên khác duy nhất, nhưng cũng có khi khách hàng của nó là rất rộng, cả những công ty thành viên và cả những công ty trên thị trường Ta có thuật ngữ thị trường trung gian, đó là một thị trường mà ở đó một loại sản phẩm có thể được bán ngay và với dạng hiện hữu của nó cho những khách hàng bên ngoài nếu muốn, thay vì phải chuyển nhượng cho đơn
vị thành viên Công thức tính giá chuyển giao trong thị trường trung gian như sau:
Giá chuyển nhượng = Biến phí đơn vị + Số dư đảm phí của một đơn vị thu được do bán ra ngoài bị thiệt hại
Trong thị trường trung gian, sự nhất trí hoàn toàn về giá thường không tồn tại hoặc bị phá vỡ bởi một số nhà cung cấp quyết định giảm giá Liệu bộ phận bán có chấp nhận giảm giá bằng với giá của nhà cung cấp bên ngoài cho bộ phận mua không? Câu trả lời chung cho cả tập đoàn là tùy thuộc vào bộ phận bán đã hoạt động hết công suất chưa
Trang 10Nếu bộ phận bán đã hoạt động hết công suất: khi đó nó phải hủy bỏ việc bán
ra ngoài để bán cho bộ phận mua Trường hợp này giá chuyển giao được tính như sau:
Giá chuyển nhượng = Biến phí đơn vị + Số dư đảm phí của một đơn vị bị thiệt hại do hủy bán ra ngoài
Công thức này luôn phản ảnh giới hạn thấp nhất đối với một giá chuyển nhượng vì bộ phận bán phải nhận được một số tiền ít nhất là bằng với tiền tính được theo công thức để vẫn có kết quả như khi nó bán cho khách hàng ngoài thị trường
Do đó bộ phận bán sẽ không thể giảm giá xuống thấp hơn giá thị trường để bán cho bộ phận mua Nếu nó giảm giá thì nó (và cả tập đoàn) sẽ bị mất đi một khoản số dư đảm phí, đó chính là phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá chuyển nhượng Như vậy khi phải hủy bỏ việc bán ra ngoài để bán nội bộ, bộ phận bán có một chi phí cơ hội (opportunity cost) phải được quan tâm đến trong việc định giá chuyển nhượng Chi phí cơ hội này chính là số dư đảm phí sẽ bị thiệt hại như là kết quả của việc hủy bỏ việc bán ra ngoài Quá trình chuyển nhượng chỉ được thực hiện khi giá chuyển nhượng được tính đủ để bù đắp chi phí cơ hội này cùng với chi phí khả biến
Nếu bộ phận bán hoạt động chưa hết công suất và còn nhàn rỗi thì mọi việc sẽ khác đi, vì lúc này chi phí cơ hội bằng không Tuy nhiên mặc dù vậy giá chuyển nhượng cũng nên theo giá thị trường như vậy mới công bằng và hợp lý cho người bán Tuy nhiên vẫn có thể thương lượng với giá thấp hơn để tận dụng năng lực của người bán đang nhàn rỗi, để cả tập đoàn cùng có lợi Chỉ cần giá cao hơn chi phí khả biến là việc kinh doanh doanh nội bộ sẽ tốt hơn là bộ phận mua phải mua ngoài Giá chuyển nhượng trong trường hợp này là:
Giá chuyển nhượng = Biến phí đơn vị
Như vậy biến phí là giới hạn bé nhất cho giá chuyển nhượng, giá này có thể giao động từ mức biến phí đơn vị đến giá thị trường hiện tại Tuy nhiên bộ phận bán có quyền từ chối bán ngay cả với giá bằng giá thị trường vì có thể họ đã những kế
Trang 11hoạch trong dài hạn và muốn để năng lực nhàn rỗi một thời gian ngắn để triển khai sau đó một sản phẩm khác có lợi nhuận cao hơn Không có sự bắt buộc bán với giá chuyển nhượng ngay cả khi có một bộ phận tạm thời nhàn rỗi, đó là nguyên tắc Tuy nhiên bộ phận mua cũng không bị ép buộc phải mua với giá cao hơn giá thị trường của bộ phận bán, nó có thể mua bên ngoài với giá thị trường đang thấp hơn giá chuyển nhượng Trong trường hợp này, toàn tập đoàn có thể bị giảm số dư đảm phí trong ngắn hạn, do vậy các đơn vị phải cố gắn thương lượng để đạt một giá chuyển nhượng thỏa mãn cho cả hai
2.2 Định giá chuyển giao trên cơ sở chi phí :
Có rất nhiều đơn vị xác định giá chuyển nhượng chỉ trên căn cứ tập hợp chi phí, không tính tới bất kỳ yếu tố lợi nhuận nào Tính theo cách này, giá chuyển nhượng có thể căn cứ trên các chi phí khà biến liên quan, hoặc một phần chi phí bất biến cũng có thể được tính vào và như vậy nó còn được căn cứ trên chi phí toàn bộ Cách này rất đơn giản nhưng có những khuyết điểm lớn mà ta có thể thấy qua minh họa sau:
Giả sử có tập đoàn gồm bộ phận sản xuất ngắt điện (A) và mô tơ (B) Một ngắt điện có chi phí khả biến là $12 và giá bán ra là $20 Năng lực sản xuất là 50.000đv/năm Bộ phận B cần một loại ngắt điện mới và nó phải chọn một trong hai cách: Mua ngoài với giá $15/cái theo đơn đặt hàng 50.000 cái/năm; hoặc đặt A sản xuất với biến phí đơn vị $10/cái và bộ phận này phải hủy việc kinh doanh hiện tại Giải pháp nào có lợi cho cả tập đoàn A sẽ hủy việc kinh doanh với bên ngoài để sản xuất cho B với giá chuyển nhượng là $10/cái hay B nên tìm nhà cung cấp bên ngoài với giá $15/cái? Để rỏ hơn ta xem xét hai ví dụ sau:
Trường hợp 1: Bộ phận B mua từ ngoài với giá $15/cái và A tiếp tục sản xuất và bán loại ngắt điện củ giá $20/cái Giá một môtơ là $60/cái, chi phí khả biến chưa tính ngắt điện là $25/cái
50.000 sản phẩm mỗi năm
Trang 12Bộ phận A Bộ phận B Toàn công ty
Doanh số 1.000.000 3.000.000 4.000.000 Trừ chi phí khả biến 600.000 2.000.000 2.600.000 Số dư đảm phí 400.000 1.000.000 1.400.000
Trường hợp 2: B mua ngắt điện từ A với giá chuyển nhượng $10/cái, điều này cũng có nghĩa là A phải hủy việc kinh doanh ra ngoài
Doanh số 500.000 3.000.000 3.000.000
Trừ chi phí khả biến 500.000 1.750.000 1.750.000 Số dư đảm phí 0 1.250.000 1.250.000
Số dư đảm phí bị giảm 150.000
Với cách hai số dư đảm phí của công ty bị giảm, chúng ta không chọn phương án này Đây là nhược điểm của việc lấy chi phí là căn cứ xác định giá chuyển nhượng Ta thấy ở đây có hai nhược điểm: thứ nhất A không có lợi nhuận do đó việc đánh giá ROI để xác định chất lượng quản lý không thực hiện được và thứ hai số dư đảm phí của toàn công ty bị giảm đáng kể Ơû đây không có sự khuyến khích kiểm soát chi phí vì chi phí được chuyển nhượng một cách quá đơn giản Và việc phân tích hiệu suất hoạt động của từ bộ phận là không thể dẫn đến tính thiếu cạnh tranh trên thị trường Do vậy nếu cho rằng căn cứ cách định giá chuyển nhượng này là dễ hiểu và tiện lợi thì chi phí nên là chi phí tiêu chuẩn thay vì chi phí thực
2.3 Định giá chuyển giao trên cơ sở giá thị trường thương lượng
Vẫn có thể biện hộ cho trường hợp giá chuyển nhượng thấp hơn giá thị trường trung gian chẳn hạn như các phí tổn lưu thông và quản lý có thể ít hơn khi doanh số
Trang 13trong nội bộ được tính tăng lên nhiều Hoặc là khi bộ phận bán còn nhàn rỗi năng lực Giá thị trường thương lượng là giá chuyển nhượng trong những tình huống không bình thường hay giảm nhẹ Cũng có khi nó được sử dụng khi không có thị trường trung gian Có thể xét một ví dụ minh họa sau: Một bộ phận A cần 5000 chi tiết một loại vật liệu đặc thù X cho sản phẩm mới của mình và bộ phận B (là đơn vị nội bộ) duy nhất có khả năng cung cấp sản phẩm đạt yêu cầu của A Bộ phận B xác định biến phí cho sản phẩm X sẽ là $8, ngoài ra nó còn phải hy sinh mức sản xuất của sản phẩm Y khác là 35.000 đvsp/năm Sản phẩm Y được bán với giá được bán với giá $45 và chi phí khả biến đơn vị là $25 Giá chuyển nhượng sẽ được tính như thế nào cho sản phẩm X
Vậy giá chuyển nhượng đv sản phẩm X là : $8 + $14 = $22
Bộ phận B phải tính giá chuyển nhượng tối thiểu là $14 hoặc có thể cao hơn nếu không thì toàn công ty sẽ bị thiệt, bộ phận A có thể tìm nhà cung cấp bên ngoài nếu không đồng ý với giá $14 Nếu bộ phận B còn nhàn rỗi thì giá có thể thấp hơn nhưng không được thấp hơn biến phí đv $8
2.4 Định giá chuyển giao trên căn bản vốn chủ sở hữu
Vấn đề định giá chuyển giao thường dựa trên chi phí, đó là việc cộng thêm một tỷ lệ nhất định nào đó trên cơ sở chi phí thực hay giá trên thị trường Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng đôi khi chúng ta phải quan tâm đến tỷ lệ tài sản vốn của
Trang 14các bộ phận đóng góp cho toàn thể công ty trong hoạt động kinh doanh khi định giá chuyển giao Vấn đề là phải chia tách chi phí trên tỷ lệ đóng góp vốn trong những trường hợp mà hoạt động của nhiều bộ phận là nguyên nhân gây ra chi phí và không có sự rõ ràng trong việc phân chia chi phí
2.5 Định giá chuyển giao trên quan điểm quản trị:
Nhà quản lý hay một vị quan tòa có thể xác định giá chuyển giao nhằm mục đích quản lý bằng cách lấy giá thị trường trừ 10% hay lấy toàn bộ chi phí cộng thêm 5% cho những nghiệp vụ đặc thù xảy ra thường xuyên Những giá chuyển giao ấy không phản ánh sự quan tâm về kinh tế đơn thuần như giá trên căn bản thị trường hay trên căn bản chi phí mà cũng không quan tâm đến vấn đề kế toán như giá đàm phán Nó sẽ tạo ra một nguyên tắc chuyên quyền, tùy ý trong giao dịch nội bộ tập đoàn, từ đó tạo ra sự bù lỗ trong tập đoàn, tạo ra những động lực tiêu cực ảnh hưởng đến trách nhiệm của các thành viên với tập đoàn và xã hội, nó hàm chứa một sự bất công bằng trong cạnh tranh
Đây chính là một dạng còn được gọi là chuyển giá của các thành viên trong tập đoàn nhằm mục đích trốn thuế là chủ yếu Một phương pháp định giá mà các nhà tài chính tập đoàn đang suy tính để bòn rút của cải của đối tác hay của một quốc gia mà họ đang hợp tác làm ăn Vì thế cũng là lý do cho chúng ta giành hầu hết thời gian để nghiên cứu vấn đề này trong khuôn khổ luận án này Để chuyển sang những vấn đề sau, chúng ta thử nhìn lại bảng tóm tắc các phương pháp định giá chuyển giao sau:
Căn bản thị trường
Căn bản chi phí
Thương lượng
Quản lý
P.P sử dụng Giá thị trường Giá thành Thương lượng
trực tiếp
Aùp dụng nguyên tắc
Trang 15Lợi thế Nếu giá TT
tồn tại thì sẽ là mục tiêu và cung cấp sự khuyến khích kinh tế hợp lý
Thật dễ dàng cho việc áp dụng vì giá thành thường có sẳn tại xưởng
Phản ánh khả năng kế toán và kiểm soát của các trung tâm thành viên
Đơn giản và có thể để tránh sự mâu thuẩn giữa các thành viên
Khó khăn Không có hay
khó khăn trong việc xác định giá thị trường hợp lý
Có nhiều loại chi phí khác với chi phí cộng thêm bị bỏ sót
Sẽ dẫn đến những quyết định không cung cấp những lợi ích kinh tế lớn nhất
Dẫn đến sự vi phạm nguyên tắc trung thực và tinh thần trách nhiệm với xã hội
3 Vai trò của định giá chuyển giao và chuyển giá trong nền kinh tế mở nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng:
Thực hiện nền kinh tế mở, hòa nhập với xu hướng toàn cầu hóa ngày nay chúng ta phải xem vấn đề chuyển giá là một thách thức lớn cho cả các nhà quản lý doanh nghiệp và cả cơ quan thuế nhà nước
Với tư cách là nhà quản lý doanh nghiệp của một tập đoàn, đòi hỏi phải quản lý, phân tích, đánh giá chặt chẻ và chính xác kết quả hoạt động của từng đơn vị thành viên Nhà quản lý sẽ phải đối đầu với những vấn đề mang tính chiến lược sống còn như quyết định đầu tư thêm nhà máy hay đơn giản chỉ hợp đồng khoán việc cho nhà thầu phụ,…
Với tư cách là nhà quản lý thuế vụ, đòi hỏi cán bộ thuế phải có đủ năng lực và trung thực trong việc xử lý vấn đề này Đặc biệt hiện nay chúng ta đang cần thu
Trang 16hút vốn đầu tư nước ngoài nên vấn đề chuyển giá sẽ rất tế nhị Tuy nhiên không thể để cho các tập đoàn tùy ý định giá làm tổn thất nghiêm trọng đến của cải quốc gia Trên thực tế hiện nay ảûnh hưởng của chuyển giá đến nước tiếp nhận đầu tư và chính quốc trên thực tế diễn ra khá phổ biến ở một số mặt chủ yếu:
1 Các MNC có thể giảm nghĩa vụ nộp thuế của mình bằng cách sử dụng giá chuyển giao để chuyển thu nhập từ một nước có thuế cao sang một nước có thuế thấp Tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đang có chính sách thuế khóa tương đối cao nên các MNC đều muốn đẩy giá bán và các loại chi phí cho công ty con nhằm thu lợi ngay từ vòng đầu và khai báo lỗ tại công ty con Bằng biện pháp này các công ty mẹ dễ dàng lập kế hoạch kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh, chiếm thị phần mới; tạo uy tín tại chính quốc bằng cách tăng các khoản thuế (với mức thuế thấp hơn) Các nước nhận đầu tư sẽ bị thiệt khoản thuế mất đi, chi phí cao dẫn đến mất ổn định trong môi trường kinh doanh như cạnh tranh không lành mạnh, mất đi lợi thế cạnh tranh làm sản phẩm không thâm nhập vào thị trường quốc tế, không xuất khẩu, không thu được nguồn ngoại tệ; hơn thế nữa cán cân thương mại của quốc gia sẽ nghiên về nước đầu tư do có sự nhập siêu, một lượng lớn ngoại tệ mạnh sẽ được chuyển về nước đầu tư dưới hình thức thanh toán công nợ, các nước nhận đầu tư lại mất đi một khoản thuế, (ở Việt Nam ta là thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài - Withholding taxes)
2 Các MNC có thể sử dụng giá chuyển giao để chuyển vốn và các quỹ ra khỏi một nước khi có sự giảm giá tiền tệ quan trọng xẩy ra Bằng cách đó, công ty sẽ giảm được rủi ro về tỷ giá hối đoái Vấn đề biến động và kiểm soát tỷ giá hoái đoái của chính phủ là một vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu Thực hiện việc chuyển giá, cụ thể là nâng giá bán hàng và các khoản chi phí để nhận ngay khoản thanh toán (bao gồm cả lãi kinh doanh) dưới dạng thanh toán công nợ để tránh rủi ro về chênh lệch tỷ giá và những chính sách quản lý ngoại hối của chính quyền sở tại
Trang 173 Các MNC có thể sử dụng giá chuyển giao để chuyển tiền từ công
ty con về công ty mẹ hoặc là một “nơi trú ẩn an toàn về thuế” khi việc chuyển giao tài chính qua hình thức chia lợi tức cổ phần bị thu hẹp hay nới lỏng do chính sách của chính phủ nước tiếp nhận đầu tư Với mức thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và sự khó khăn trong việc chuyển đổi đồng bản tệ thành ngoại tệ mạnh khi chuyển lợi nhuận về nước, các nhà đầu tư không muốn để công ty con có lãi nhiều nêu họ ra tay trước bằng hình thức chuyển giá
4 Các MNC có thể sử dụng giá chuyển giao thấp hơn để giảm thuế quan phải trả khi chính phủ của nước nhập khẩu áp dụng biểu thuế quan tính theo tỉ lệ % trên giá nhập khẩu cao (tòng giá) Để bù đắp khoản giảm giá này, nhà đầu tư phải bằng mọi cách đẩy các chi phí gián tiếp khác như chi phí quản lý chung, phí tư vấn, tiếp thị, bản quyền, giá tài sản cố định nhập khẩu để tăng chi phí khấu hao,… từ đó dẫn đến tình trạng chồng chéo và phức tạp cho môi trường kinh doanh, quản lý thuế Nguy hiểm hơn họ còn lập ra những công ty ma để làm cho chu trình mua bán lòng vòng, phức tạp và đẻ ra những loại chi phí ma nhằm làm giảm tối đa lợi nhuận khai thuế để tránh nộp thuế thu nhập và thuế điều tiết thu nhập doanh nghiệp
5 Việc toàn cầu hóa ngày càng tăng, khoảng 60% mậu dịch quốc tế ngày nay được thực hiện giữa các MNC Các phương pháp thông tin hoàn thiện hơn dựa trên những thành tựu về kỹ thuật số, đã làm hình thành nên nền kinh tế tri thức, mà theo đó tầm quan trọng của dịch vụ và giá trị các tài sản vô hình ngày càng tăng đã tạo điều kiện và cơ hội cho việc chuyển giá Việc toàn cầu hóa càng tạo ra nhiều MNC và tập đoàn lớn với nhiền công ty thành viên hay các công ty có quan hệ về kinh tế, đồng thời làm tăng mức độ cạnh tranh giữa các công ty cung ứng, làm giảm giá mà họ nhận được từ hàng hóa và dịch vụ, thu hẹp tỷ suất lợi nhuận Từ đó khiến các MNC chú ý đến việc trốn để tiết kiệm thuế
Như vậy với xu thế phát triển ngày nay, vấn đề định giá chuyển giao là hết
sức cần thiết, tuy nhiên theo OECD thì : việc định giá chuyển giao không phải là một
Trang 18môn khoa học chính xác nhưng đòi hỏi phải có sự phán đoán nhận định đối với cả hai bên cơ quan quản lý thuế và ngưới đóng thuế Nghiên cứu vấn đề này thật sâu sắc và
có cái nhìn nghiêm túc thật sự với nó để dần tiến tới một giải pháp toàn diện bằng những quy định dưới dạng luật (luật hóa) nó là trách nhiệm của mỗi chúng ta
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO VÀ
CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC
Trang 19A Thực Trạng Của Vấn Đề Định Giá Chuyển Giao Và Chuyển Giá Tại Việt Nam:
1 Tình hình hoạt động của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Như chúng ta đã biết, vốn FDI là một trong những nguồn lực chủ yếu để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của những nước đang phát triển, đặc biệt là đối với Việt Nam ta Tuy nhiên từ khi có Luật đầu tư nước ngoài vào đầu năm 1997 đến nay, việc thực hiện Luật ĐTNN đang vấp phải hai trở ngại lớn:
- Thứ nhất, xu hướng FDI vào Việt Nam đang chựng lại, thậm chí giảm mạnh, Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, một phần do ảnh hưởng chung của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ Châu Á, một phần là do môi trường đầu tư của Việt nam chưa thực sự thông thoáng và ổn định, do đó chưa có tác dụng thu hút mạnh các nhà ĐTNN
- Thứ hai, trong lĩnh vực ĐTNN nổi lên một hiện tượng đáng báo động là số các DN FDI khai lỗ ngày một nhiều Chỉ tính riêng ở Tp.Hồ Chí Minh tỷ lệ này lên đến 70-80% trong hai ba năm gần đây Nguyên nhân gây lỗ có thể bắt nguồn từ sự yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng có thể từ một số phương pháp quản lý tài chính của các MNC
Tình hình này thật sự đặc biệt nghiêm trọng nếu so sánh với tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam (số làm ăn không hiệu quả tuy chiếm đến 60% nhưng vẫn chưa bằng với tỷ trọng nêu trên) Tuy nhiên cần thấy rằng các DN FDI là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế nước nhà, không kể liên doanh dầu khí Việt Xô khu vực này đã tạo ra 8%GDP vào năm 1998 và 9% trong năm 1999, đóng góp 7,5% tổng thu về thuế và lệ phí của NSNN, chiếm gần 22% tổng kim ngạch xuất khẩu và nếu kể cả số xuất dầu thô thì con số này là 1/3 tổng giá trị sản lượng công nghiệp Chúng ta không phủ nhận sự đóng góp của thành phần kinh tế này, nhưng càng kỳ vọng, chúng ta càng phải cảnh giác và xem xét khi
Trang 20mà tình hình kinh doanh bị lỗ của các DN FDI ngày càng gia tăng qua các năm và chiếm tỷ trọng lớn trong số các DN FDI kê khai lợi tức trong 4 năm qua (1995,
1996, 1997, 1998) Sau đây là bảng số liệu thực tế:
Tổn
g giá trị (lãi, lỗ)
Số
DN
%
DN (lãi, lỗ)
Tổng giá trị (lãi, lỗ)
Số
DN
%
DN (lãi, lỗ)
Tổng giá trị (lãi, lỗ)
Số
DN
%
DN (lãi, lỗ)
Tổng giá trị (lãi, lỗ)
(Nguồn từ: Viện Kinh Tế đối Ngoại 1998)
Tiếp sau đây là số liệu về một số DN FDI thua lỗ năng trong hoạt động kinh doanh, có dấu hiệu của sự chuyển giá:
Số lỗ tính đến thời điểm báo cáo
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lỗ
- VN 8,3
Tính đến 16/04/98 lỗ tích lũy: 151 tỉ
Chưa xác định được nguyên nhân cụ thể
Các bên đưa ra phương án
Trang 21Indochina
- Bên VN; Cty nước
giải khát Chương
Dương
vốn hoặc giải thể
02 Coca-Cola Ngọc Hồi
VN chiếm 30%
- đến 02/98 Tổng VĐT thực hiện là 48,4 do tăng vốn vay
Lỗ tích lũy từ
‘95 đến ’97 là
130 tỉ đồng
Chưa xác định Như trên
03 Cty LD Rượu Bia BGI
Đến cuối năm
1996 lỗ lủy kế là: 232 tỉ 143 triệu đồng
Theo Cty là sản phẩm không hợp thị hiếu, tiêu thu thấp
Chuyển thành 100% vốn nước ngoài
04 Cty LD BGI đà Nẵng
- VN: Nhà Máy Bia
Nuớc Ngọc đà
Nẵng
- NN: Cty Bia Đá
Quốc Tế
VĐT: 23 VPĐ: 8 VN: 3,2 NN: 4,8
Lỗ lũy kế đến cuối 1999 là 60,438 tỉ
Đến năm 1997 lỗ 50 tỉ
Lãi vay quá cao, sản xuất không hết công suất
Kéo dài thời gian KHTSCĐ, các biện pháp bảo hộ sản phẩm
NN: P&G Far East
VN: Cty Phương Đông
VĐT: 14,3 Đến 11/96 tăng lên 37
VN: 4,3 NN: 10
Đến 06/97 lỗ 311,4 tỉ Chi phí hành chánh quá cao Tăng VPĐ lên
83 triệu USD VN còn
7%VPĐ
(Nguồn từ Viện Kinh Tế Đối Ngoại năm 1999)
Qua bảng trên ta thấy thấp thoáng có sự chuyển giá dẫn đến nguyên nhân lỗ năng và cuối cùng là đẫy phía Việt Nam ra ngoài cuộc chơi, dần nắm độc quyền
Trang 22Chưa hết, theo báo cáo về quản lý thu thuế trong khu vực có FDI của thành phố ta có một số thông tin sau:
- Tại Công ty Liên Doanh Gia Cầm Việt Thái, phía Thái Lan góp vốn bằng dây chuyền giết mỗ trị giá 400.000USD nhưng đã kê khống thành 600.000USD
- Một khách sạn liên doan giữa Tổng công ty Du Lịch Sài Gòn và Vina Group đã quyết toán trị giá thiết bị vật tư của công ty Vina đưa vào liên doanh là 4.340.000USD, nhưng theo công ty giám định quốc tế thì chí có: 2.990.000USD, ta thiệt 1.350.000USD
- Vừa mới đây, được sự ủy nhiệm của chính phủ, công ty kiểm định quốc tế SGS đả tiến hành giám định thí điểm ở 12 đơn vị FDI thì có tới 6 đơn vị có chênh lệch giá mua vật tư thiết bị nhập khẩu, con số chênh lệch là 14 triệu USD
Sẽ còn rất nhiều trường hợp nữa, tuy nhiên nếu so sánh các con số trên với Trung Quốc thì ta thấy rằng đến 1995, sau 17 năm mở cửa thu hút FDI, nước này chỉ có 30% số DN FDI làm ăn có lãi và như vậy tình hình tại Việt Nam là chưa đáng lo ngại, nhưng cũng chính vì thế mà cần phải xem Trung Quốc như một bài học và sớm đề ra những hành lang pháp lý trong vấn đề nhạy cảm này
Trong thời gian qua, có thể nói chúng ta chưa có một hệ thống hoàn chỉnh các phương pháp kiểm tra giám sát tài chính đối với các DN FDI mà công cụ kiểm tra giám sát tài chính chủ yếu là thông qua chính sách thuế như thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp là chủ yếu Tuy nhiên, có thể nhận thấy chính sách thuế đối với các DN FDI trở nên bất cập, không thể kiểm tra giám sát chặt chẽ, dẫn đến tình trạng thất thu thuế, đặc biệt là đối với thuế thu nhập doanh nghiệp Đặc biệt khi Việt Nam và Mỹ ký kết Hiệp Định Thương Mại và khi Việt Nam tham gia khối AFTA và rồi WTO thì chúng ta không thể dùng hàng rào thuế quan, đặc biệt là thuế xuất nhập khẩu để chống chuyển giá
2 Phân Tích Tình Hình Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Coca-Cola Chương Dương- Đơn Vị Được Xem Là Có Dấu Hiệu Chuyển Giá:
Trang 23Để có thể thấy rỏ hơn thực trạng của vấn đề chuyển giá trong các DN FDI tại Việt Nam, xin được đi sâu phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của Công Ty Coca-Cola Chương Dương, một trong sáu đơn vị trong làng FDI có số lỗ lớn nhất
trong thời gian ngắn hoạt động được liệt kể ở bảng trên
2.1 Tình hình kinh doanh:
Trong niên độ từ 01/10/96 đến 30/09/97 doanh thu của công ty đạt 266.624.884K đòng gồm cả thuế doanh thu Cũng trong niên độ này số lỗ là 59.060.517K đồng Trong đó lỗ từ hoạt động sản xuất kinh doanh là 42.547.987K đồng và lỗ từ hoạt động tài chính là 16.512.530K đồng Qua báo cáo kết quả kinh doanh do đơn vị cung cấp và so sánh với các đơn vị cùng ngành và quy mô sản xuất
ta thấy:
2.1.1 Về giá vốn hàng bán: trong niên độ này là 172.555.005K đồng chiếm
64,72% doanh thu Trong đó: giá trị nguyên vật liệu là 139.775.948K đồng, chiếm 52,42% doanh thu Trong khi đó nếu so sánh với đơn vị cùng ngành nghề và quy mô sản xuất (cụ thể là công ty nước giải khát IBC) thì tỉ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu chỉ 51,1%, trong đó tỉ lệ giá trị nguyên vật liệu trên doanh thu chỉ 46,93% Điều này không tránh khỏi nghi vấn về nguyên giá nguyên vật liệu nhập khẩu của công
ty này, phải chăng đã có sự tồn tại của hiện tượng chuyển giá? Trong thực tế nếu căn cứ vào chính sách hiện hành thì những vấn đề này cơ quan thuế vẫn đành phải chấp nhận là hợp lý và hợp lệ Điều này tương đương với việc chấp nhận làm giảm thu nhập chịu thuế lợi tức của doanh nghiệp là 14.637.706K đồng (tính toán trên cơ sở tỉ lệ chênh lệch giá nguyên vật liệu giữa doanh nghiệp và các doanh nghiệp cùng ngành, cùng phạm vi)
2.1.2 Chi phí quảng cáo: Từ 01/10/96 đến 30/09/97 chi phí quảng cáo khuyến
mãi của đơn vị này là 21.182.432K đồng chiếm tới 7,94% doanh số bán, trong khi đó con số này tại IBC chỉ có 4,92% Trong chiến thuật tranh giành thị trường tiêu thụ, nếu đem so sánh với IBC thì Coca-Cola Chương Dương đã làm giãm lợi tức
Trang 24chịu thuế là 8.052.071K đồng Việc hạn chế tỉ lệ phí khác trong đó có chi phí quảng cáo tiếp thị đã được thực hiện nhằm chống lại chính sách của một số nhà đầu tư sử dụng tiềm năng tài chính của mình để tiêu diệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm độc quyền và lũng đoạn thị trường sau này bằng chiêu thức quảng cáo tiếp thị Tuy nhiên nếu căn cứ vào Luật Thuế Thu nHập Doanh Nghiệp (được áp dụng từ 01/01/99) thì công ty sẽ được chi không quá 5% doanh thu (5% này gồm cả các khoản chi khác không nằm trong 13 khoản mục chi phí hợp lý được quy định trong Luật, do đó chi phí quảng cáo tiếp thị sẽ phải nhỏ hơn 5%) Việc ra đời của Luật này trong đó có quy định về tỉ lệ chi phí khác là điều rất cần thiết nhưng cũng hơi muộn cho ngành nước ngọt nói riêng tại Việt Nam, bởi hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong làng nước ngọt nội địa chỉ còn sót lại một hai doanh gnhiệp lèo tèo Như thế mới thấy tác hại của việc chuyển giá qua các loại chi phí này nguy hiểm như thế nào
2.1.3 Chi phí KHTSCĐ: qua nghiên cứu các báo cáo tài chính của Coca-cola
và IBC, ta có bảng sau:
Tên doanh nghiệp Nguyên giá KH TSCĐ
2.1.4 Hoạt động tài chính: Lỗ từ hoạt động tài chính trong niên độ này là
16.512.530K đồng, trong đó lãi tiền vay là 15.450.367K đồng (thu lãi tiền gởi là 452.978K đồng và lỗ do chênh lệch tỷ giá là 1.507.073K đồng) Điều này cho thấy nguồn vốn lưu động của đơn vị không đáp ứng đủ theo yêu cầu kinh doanh, nên
Trang 25doanh nghiệp đã tài trợ cho kinh doanh bằng nguồn vốn vay Tổng các khoản vay ngắn hạn là 256.809.661K đồng Trong khi đó tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn là 235.072.119K đồng Đến cuối niên độ này vốn chủ sở hữu chỉ là 141.687.558K đồng, trong khi đó giá trị TSCĐ và đầu tư dài hạn là 293.616.033K đồng Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã dùng một phần đáng kể (chiếm tới 51.75%) nguồn vốn lưu động (nguồn từ vay ngắn hạn) tài trợ cho TSCĐ và đầu tư dài hạn Đây là một trong những nguyên nhân tạo ra lỗ từ hoạt động tài chính của đơn vị và gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi tức chịu thuế chung của công ty Ở đây ta đặt câu hỏi với một tình trạng yếu kém và cơ cấu vốn như thế chắc hẳn các ngân hàng thương mại trong giám cho vay lớn như thế, vì vậy chắc rằng nguồn vốn vay dồi dào này được cung cấp bởi công ty mẹ ở hải ngoại Suy cho cùng đây cũng là một thủ thuật chuyển giá
2.2 Tình hình tài chính:
2.2.1 Bố trí cơ cấu vốn: Chỉ tiêu phân tích này dùng để đánh giá cơ cấu sử
dụng vốn của doanh nghiệp trong niên độ từ 01/10/96 đến 30/09/97 Căn cứ vào báo cáo tài chính ta có:
-TSCĐ và đầu tư dài hạn trên tổng giá trị tài sản:
293.616.033K/528.688.152K = 55,54%
Theo cơ cấu vốn này và theo đặc điểm ngành nghề của đơn vị thì cơ cấu vốn bố trí như trên là không hợp lý (thường tỉ lệ này năm trong khoảng từ 70% đến 80%) nhằm mục đích tăng cường tính hiệu quả của đồng vốn, tránh tình trạng đồng vốn nằm tại các khoản không tạo ra hiệu quả của doanh nghiệp như hàng tồn kho, các khoản phải thu,…
2.2.2 Tỷ suất lợi nhuận: Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời của
doanh nghiệp trong niên độ báo cáo Theo báo cáo của đơn vị ta có:
- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu thuần:
(42.547.987K)/241.383.531K = (17,63)%
Trang 26Tỷ suất lợi nhuận trên (mà thật chất là tỷ suất lỗ hay là tỷ suất làm giảm vốn chủ sở hữu) thì với tốc độ này trong vòng bốn năm doanh nghiệp sẽ không còn vốn chủ sỡ hữu Đây là một vấn đề đáng báo động cho liên doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là đối với các đối tác Việt Nam Tính đến 30/09/97 tổng lỗ của công ty là 86.899.272K đồng (niên độ 01/10/95-30/09/96 lỗ 27.838.755K đồng, niên độ 01/10/96-30/09/97 lổ 59.060.517K đồng) trong khi đó tổng vốn pháp định của liên doanh là 228.586.830K đồng (Việt Nam góp 91.459.630K đồng và đối tác nước ngoài góp 137.127.200K đồng)
2.2.3 Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản: Chỉ tiêu này dùng để đánh
giá tỷ trọng tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các khoản phải trả tại thời điểm báo cáo:
- Tổng các khoản phải trả trên tổng giá trị tài sản thuần:
387.000.594K/528.688.152K = 73,2%
Tỷû lệ này như đã nói ở phần trên, nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu từ vốn vay, đây là một yếu tố rất quan trọng trong chủ động sản xuất kinh doanh (vốn vay, nợ phải trả quá cao dẫn đến tình trạng công ty không thể chủ động vốn để sản xuất và kinh doanh)cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp do phải trả chi phí lãi vay quá cao
2.2.4 Khả năng thanh toán: Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn phải trả của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo:
- Tổng giá trị tài sản lưu động trên tổng các khoản phải trả ngắn hạn:
235.072.119K/387.000.594K = 60,74%
Tỷ lệ này cho thấy khả thanh toán của đơn vị không đảm bảo cho hoạt động kinh doanh chũng như trong giao dịch kinh doanh với các đơn vị bạn
Trong đó khả năng thanh toán nhanh tại thời điểm báo cáo là:
- Tổng tiền mặt, tiền gởi ngân hàng, tiền đang chuyển trên tổng các khoản phải trả ngắn hạn:
Trang 277.989.062K/387.000.594K = 2,06%
điều này chứng tỏ khả năng thanh toán nhanh của đơn vị rất thấp và gần như không có
2.2.5 Một số chỉ tiêu khác: Theo báo cáo tài chính của đơn vị, chưa qua
kiểm toán, ta thấy:
- Tỷ lệ phải trả trên phải thu (thương mại):
28.504.967K/79.031.556K = 36,06%
Điều này cho thấy công ty đã bị chiếm dụng vốn nhiều hơn vốn chiếm dụng Đây là một trong những nguyên nhân gây nên lỗ trong hoạt động tài chính (do phải tài trợ bằng tiền vay và phải trả lãi vay ngân hàng) Trong các khoản nợ phải thu, đặc biệt cần lưu ý đến các khoản phải thu khác hàng là 71.552.242K chiếm 90,54% tổng số các khoản phải thu, cần phải thấy rõ đó là khoản thu tiền võ chai hay tiền nươc ngọt Các đơn vị kinh doanh nước ngọt, doanh thu bán hàng của đơn vị chỉ là doanh thu trên phần nước ngọt trong chai – trừ nước ngọt lon, không tính chi- đơn vị mua được xem là nợ nhà máy khoản tiền võ chai khi nhận hàng.Do tính đặt thù của ngành mà doanh nghiệp luông phải duy trì một lượng kết và chai để ứng cho khác hàng Như vậy có thể nói không phải nhà máy đã dùng các khoản phải thu thương mại đễ tài trợ cho cho việc bán hàng
- Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn trên vốn chủ sỡ hữu:
Trang 28Trên đây là sự phân tích một số nét chính của niên độ từ 01/10/96 đến 31/09/97, nếu ngược dòng thời gian trở về niện độ từ 01/10/95 đến 31/09/96 ta sẽ có một kết quả tương tự, thật vậy qua các số liệu trên đây ta sẽ thấy:
- Kết quả kinh doanh từ 01/10/95 đến 30/09/96 của Coca-Cola Chương Dương:
+ Tổng doanh thu bán hàng: 239.761.715K
+ Chiết khấu bán hàng: 1.224.487K
+ Tổng doanh thu thuần: 238.537.228K
+ Tổng chi phí: 266.375.982K
+ Tổng lỗ: 27.838.755K
Trong đó kết cấu chi phí:
Loại chi phí Số tiền (‘000
Lãi vay ngân
Chi phí bán hàng 22.570.142 9,41 8,47
Chi phí quản lý
hành chính
10.386.447 4,33 3,9 Với niên độ này tình hình cũng tương tự: tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiếp thị và bán hàng là quá cao
Trang 29Có thể nói rằng có sự tồn tại hiện tượng khê khai trên hóa đơn bán hàng cao hơn giá thực tế (cần lưu ý rằng nguyên vật liệu của đơn vị được nhập khẩu từ công
ty mẹ và những công ty hội viên thuộc tập đoàn Coca-Cola) Theo một cán bộ Cục Thuế Thành Phố Hồ Chí Minh thì đây là một sự ăn cắp có hệ thống và đúng pháp luật Cũng theo cán bộ này thì khi Coca-Cola thực hiện chiến dịch quảng cáo “tăng 50% dung tích giá không đổi” là nhằm mục đích để tiêu thụ nguyên vật liệu và quảng cáo cho nhãn hiệu hơn là mục đích tiêu thụ sản phẩm
Do giới hạn của đề tài nên chúng ta chỉ xin được phân tích tình hoạt động của Công ty Coca-Cola Chương Dương, một trong những đơn vị bị xem là điển hình của hiện tượng dùng chuyển giá để khai lỗ và đẫy đối tác Việt Nam ra rìa cuộc chơi, đồng thời cũng dùng chiêu thức này kết hợp với tiềm năng tài chính để thực hiện việc độc quyền, giành lấy ví trí độc tôn trong lĩng vực nước ngọt Việt Nam Hầu quả nhãn tiền là việc thất thu ngân sách hàng tỷ đồng mỗi năm, phía đối tác trong nước
bị thua thiệt về các khoản vốn góp và về lâu dài là sự lũng đoạn thị trường mà người bị thiệt là đại đa số người dân Việt Nam
Qua trường hợp này cần lưu ý một số điểm:
- Chính sách quản lý thích hợp cho nguyên vật liệu nhập khẩu với các công ty hội viên là một vấn đề hết sức phức tạp và tế nhị, mà hiện nay chúng ta còn bỏ ngõ
- Chưa có một quy chế cho việc kiểm định giá trị TSCĐ tham gia trong liên doanh
- Cần coi trọng việc thẩm định dự án đầu tư trước khi cấp phép, đặc biệt là phần thẩm định cơ cấu tài chính và ngùon vốn đầutư, vốn pháp định
- Cán bộ tham gia liên doanh chưa có đủ năng lực trình độ để tiến nói thực sự có trọng lượng làm đối với đối tác nước ngoài trong việc hoạch định chiến lược và chính sách kinh doanh, tài chính
3 Các hình thức chuyển giá của các MNC tại Việt Nam:
Trang 303.1 Chuyển giá tại Việt Nam – Một thủ thuật kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận của các DN FDI:
Có thể nói một cách chắc chắn rằng hiện tượng chuyển giá đã tồn tại rất nhiều ở các DN FDI tại Việt Nam, đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung FDI cao nhất nước Sau đây là những con số thực tế của một DN FDI khá nổi tiếng đang hoạt động trong lĩnh vực nước giải khát là Công ty Coca-Cola
Kết quả hoạt động (được làm tròn) của công ty qua các năm (ĐVT: triệu đồng)
Chỉ tiêu 1996 1997 1998
Tổng doanh thu bán hàng 240.500 260.900 318.650
Chiết khấu, hoa hồng 1.500 2.600
Tổng doanh thu thuần 239.000 260.900 316.050
Như vậy với tỷ lệ chi phí NVL trên 65% doanh thu là quá cao so với các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành (48%)
Chi phí quảng cáo và khuyến mãi lớn hơn 7%doanh thu là quá cao so với quy định hiện hành cho tổng số chi phí khác là 5-7%
Trang 31Tương tự với công ty này, chúng ta khảo sát kết quả kinh doanh của một nhà máy liên doanh sản xuất hàng công nghiệp qua các năm:
Tổng DT 50.400 520.600 1.128.000 1.136.000 1.450.000 Tổng CP 90.300 480.000 1.068.000 1.420.000 1.590.000 Lãi(+),lỗ(-) -39.900 +40.600 +60.000 -60.000 -140.000
CP bản quyền 18.600 107.244 250.900 272.000 290.300 thương hiệu
Công ty này đang sản xuất mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận bình quân khá cao dao động 16%, tuy nhiên nó chỉ có lãi trong hai năm, với một tỷ suất không cao khoảng 6,5% và đang có xu hướng lỗ nặng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên xuất phát từ:
Chi phí quảng cáo chiếm đến 10% doanh số, vượt mức quá xa tỷ lệ cho phép Chi phi bản quyền thương mại cho đối tác nước ngoài chiếm 20% trên tổng chi phí, nhưng nó vẫn phải trả chi phí tiếp thị, quảng cáo và nghiên cứu thị trường, đây cũng là những hình thức chuyển giá thông qua chi phí
Trên đây là một vài trường cơ bản điển hình về tình hình chuyển giá của các
DN FDI Trong thực tế các công ty có thể sử dụng những hình thức chuyển giá như sau
3.2 Nhận dạng các hình thức chuyển giá:
3.2.1 Nâng chi phí cho các dịch vụ hành chính và quản lý Với hình thức
này, công ty thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia, các chuyên gia tư vấn là những công ty thành viên hay có mối quan hệ về sỡ hữu Nếu công ty
Trang 32tư vấn là trong một tập đoàn thì đây chỉ là một hình thức chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, trong trường hợp này chúng ta phải xem xét đến hệ thống luật nhà thầu để có thể khắc phục Trong trường hợp là tư vấn thật sự thì có thể công việc của nhà tư vấn là giúp cho công ty mẹ nhưng chi phí sẽ được trả tại Việt Nam Tình trạng này hiện nay xảy ra khá phổ biến, thể hiện ở đặc điểm chi phí quản lý của các DN FDI thường rất cao, đặc biệt là các loại chi phí này Một số công ty liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng không có hiệu quả, do các chuyên gia này là những nhân viên lâu năm của tập đoàn và đã bị dôi ra tại công ty mẹ, mà vì những lý do nhân đạo nào đó được chuyển sang Việt Nam làm chuyên gia và liên doanh Việt Nam phải gánh chịu chi phí Xét trên bình diện rộng thì đây cũng là một hình thức chuyển giá
Đặc biệt trong trường hợp có sự giảm giá nhập khẩu để trốn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng có thuế nhập khẩu cao như các mặt hàng thực phẩm cao cấp,
xe ôtô và gắn máy,… hình thức ký hợp đồng tư vấn với công ty mẹ để chuyển tiền bù lại phần giảm giá là một hình thức đang được áp dụng phổ biến hiện nay Với cách chuyển giá này, Việt Nam đã thiệt hại rất nhiều và rất khó khắc phục với hành lang pháp lý hiện hành
3.2.2 Nâng phí bản quyền và các chi phí khác cho các tài sản vô hình Chúng
ta chưa quen lắm và chưa có một chuẩn mực nào về những loại tài sản vô hình như: chi phí bản quyền, goodwill, thương hiệu,… nên các công ty nước ngoài thường hay chuyển cho DN FDI Việt Nam một phần lớn chi phí vô hình trên, có thể dưới một dạng vốn góp, hay là hợp đồng chuyển giao Các loại chi phí này vì có tính chất vô hình nên phía nước ngoài thường nâng lên rất cao và do không có một chuẩn mực nào để kiểm định nên thường chúng ta phải chấp nhận, nhưng sau đó các loại chi phí tư vấn, marketing,… lại tiếp tục được chi ra hàng tháng với tỷ lệ rất cao và các loại chi phí này thường do các nhân viên nước ngoài phụ trách và ký hợp đồng Ngay cả những chi phí tiếp thị, quảng cáo xét trên góc độ thị trường thì có vẻ hợp
Trang 33lý, nhưng trong thực tế đó là một loại chi phí quá lớn mà chỉ có những tập đoàn lớn mới có thể trang trãi và từ đó dẫn đến tình trạng độc quyền về sau, khi mà các đơn
vị trong nước không thể cạnh tranh nổi và khi mà đối tác Việt Nam trong liên doanh buộc phải rút lui Vậy chúng ta phải nhanh chóng ban hành những chuẩn mực để định giá các loại tài sản và chi phí này, tất nhiên cần thận trọng để tránh xảy ra tình trạng tác dụng ngược
3.2.3 Nâng giá hoặc giảm giá hàng hóa mua đi bán lại: với các mặt hàng
nhập khẩu có thuế suất cao, hợp đồng nhập khẩu sẽ được ký với giá hạ để tránh thuế nhập khẩu, sau đó sẽ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bằng những hợp đồng
tư vấn, và các loại chi phí khác Nếu thuế xuất thuế nhập khẩu không cao, thường họ sẽ nâng giá bán lên cao nhằm tránh thuế thu nhập doanh nghiệp Đây có thể nói là hình thức chuyển giá được áp dụng thông dụng nhất, và rất khó để phát hiện
3.2.4 Các giao dịch tài trợ: đối với giao dịch tài trợ dưới dạng vật chất hữu
hình như các sản phẩm của công ty, biện pháp thông thường là nâng giá để chuyển giá Nhưng nếu là sản phẩm nhập khẩu tình trạng này vẫn giống như việc nâng giá bán Đối với việc tài trợ về kỹ thuật, dịch vụ tư vấn chuyên gia thì là môi trường lý tưởng cho việc chuyển giá Đặc biệt, chúng ta cần chú ý đến các hợp đồng viện trợ có hoàn lại và ngay cả những hợp đồng viện trợ không hoàn lại Bên cạnh đó các hợp đồng vay ODA có sự chỉ định nhà cung cấp, hay các dự án BOT cũng đều có khả năng xảy ra tình trạng chuyển giá Với các trường hợp này sự chuyển giá xảy
ra phổ biến với các dự án về cơ sở hạ tầng và y tế, giáo dục ở mức độ rất nghiêm trọng và sự thiệt hại là ở mức quốc gia mà hậu quả của nó là một số nợ khổng lồ của các quốc gia đang phát triển phải gánh chịu với các tổ chức hay tập đoàn đại diện cho các nước tư bản phát triển
Cần thấy rằng vốn ODA (hỗ trợ và phát triển chính thức) và viện trợ khômg hoàn lại là thiện chí của các nước phát triển nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển có nguồn vốn giải quyết những vấn đề khó khăn kinh tế-xã hội Tuy nhiên, phía
Trang 34cho vay không phải là không có lợi Trước tiên là sử dụng vốn thặng dư trong nước đầu tư ra nước ngoài, vừa tăng cường hợp tác đầu tư, vừa sinh lợi từ lãi suất cho vay (tuy thấp nhưng rất an toàn) Hơn thế nữa, họ còn thu được lợi nhuận cao nhất thông qua việc bán vật liệu, máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ để thực hiện dự án, tạo thị trường tiêu thụ cho hàng hóa sản xuất trong nước Phần vốn
“viện trợ không hoàn lại” (chủ yếu dành cho việc nghiên cứu luận chứng kinh tế kỹ thuật của các dự án) cũng không phải là phần cho không Chi phí cho mỗi dự án nghiên cứu kỹ thuật được tính như sau: 30% tổng vốn dành để trả lương cho các chuyên viên viện trợ sang nghiên cứu dự án 20% vốn dành mua máy móc, thiết bị văn phòng, phục vụ cho công tác nghiên cứu, mua phương tiện đi lại, thuê chỗ ở và sinh hoạt phí cho chuyên gia trong quá trình làm việc 40% vốn là phần dành cho các cuộc hội thảo, nghiệm thu dự án được tổ chức tại hai quốc gia như: trả nhuận bút viết báo cáo cho chuyên gia nước ngoài, tổ chức cho cán bộ của hai nước qua lại dự hội thảo,… Còn với các dự án ODA, phía đối tác nước ngoài chỉ cung cấp 85% tổng giá trị dự án, còn lại 15% vốn của Việt Nam Cuối cùng chúng ta chỉ được một phần nhỏ trong tổn số rất lớn vốn của dự án Nhưng vẫn phải nhìn nhận rằng với lãi suất từ 0,75-2%/năm và số năm ân hạn rất dài (có thể lên đến 10 năm) Hiện nay vốn ODA là nguồn tài trợ chính cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và ngành y tế, để thấy rỏ hơn vấn đề chuyển giá trong lĩnh vực này xin được đơn cử một thực tế của ngành y tế hiện nay
Đối với ngành y tế, từ năm 1996 trở về trước thường viện trợ là viện trợ không hoàn lại Nhưng trong ba bốn năm trở lại đây vốn vay (ODA) chiếm khoảng 15% ngân sách và chiếm 28% tổng ODA cam kết năm 1998, và con số này sẽ tăng hơn nữa Hiện có khoảng 148 dự án và 15 dự án có liên quan sử dụng vốn ODA Chúng ta thường chú trọng đến các khoản vật chất, trang thiết bị, từ vốn vay, nhưng các nhà tài trợ lại chú trọng đến các yếu tố “phần mềm”, cụ thể các chi phí thuê chuyên gia, đào tạo thường chiếm 30-40% tổng viện trợ, có những dự án con
Trang 35số này lên đến 50% Việc thuê chuyên gia y tế cộng động người nước ngoài là một điều không cần thiết và rất dễ dấn đến tình trạng nâng khống các khoản chi, đó cũng là một hiện tượng chuyển giá Do cơ chế phân bổ nên một số nơi tiếp nhận vốn nhưng không đủ năng lực và trình độ để tính toán với đối tác, hơn nữa về các vấn đề quản lý, mỗi tổ chức lại có một thủ tục phê duyệt, báo cáo, đánh giá nên gây ra gánh năng hành chính đáng kể, trong khi đó phía Việt Nam không được tham gia thảo luận hoặc tính toán các khoản chi phí này Có một số dự án thuộc ngành y tế đã được thực hiện từ A đến Z mà không có sự tham gia quản lý của phía
ta, thậm chí Bộ Y Tế cũng không được thao báo về giá trị dự án, vì thế tình trạng trang thiết bị, kỹ thuật và thông tin có lẽ sẽ bị lổi thời do tình trạng chuyển giá là điều không tránh khỏi
3.2.5 Các chi phí cho dịch vụ tư vấn kỹ thuật đặc biệt Trong các lĩnh vực về
dầu khí như thăm dò, lọc dầu, và trong các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao, thường các đối tác nước ngoài hay nâng giá hay đưa ra những khoản chi phí rất cao và chúng ta phải chấp nhận
Xuất phát từ mục tiêu là việc sử dụng khí đốt để sản xuất nguồn điện đáng tin cậy với giá cạnh tranh, Việt Nam đang hướng tới những dự án từ sản xuất khí đốt đến tiêu thụ điện, mà mỗi mắt xích trong dây chuyền này là một công việc kinh doanh riêng biệt, dù có liên quan đến mỗi mắt xích khác trong dây chuyền Từ đó sẽ phát sinh những cơ hội để chuyển giá giữa các công ty có quan hệ với nhau Do những kỹ thuật trong lĩnh vực này là hoàn toàn mới đối Việt Nam, hơn thế nữa chúng ta đang cần những dự án với số vốn lớn khổng lồ như thế nhưng trình độ và năng lực của các cán bộ quản lý dự án và làm việc trực tiếp với đối tác nước ngoài là đang rất thiếu Sắp tới chúng ta triển khai hệ thống lọc dầu Dung Quất và nhà máy khí đốt Nam Côn Sơn vấn đề chuyển giá cần phải được xem xét khi triển khai dự án
Trang 363.2.6 Nâng giá tài sản đem góp vốn đầu tư liên doanh hay tài sản thay cho vốn đầu tư: một hình thức rất phổ biến tại Việt Nam hiện nay Đối với các công ty
liên doanh việc nâng giá tài sản góp vốn là điều rất dể hiểu Nhưng với các công ty 100% vốn ĐTNN thì việc nâng tài sản góp vốn sẽ giúp họ đưa vào chi phí khấu hao về sau, và hưởng những ưu đãi về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài sau này Có dự án (xin được dấu tên) về liên doanh đầu tư khách cao cấp nhất hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh khi xây dựng xong công trình thì đối tác nước ngoài đã có thể hoàn vốn được ngay, đó là do họ áp dụng chuyển giá trong việc nâng giá trang thiết bị trong đầu tư lên gấp hai lần
Luật ĐTNN năm 1987 đã quy định:”phần góp vốn của mỗi bên được xác định trên cơ sở Giá thị trường quốc tế và được ghi vào văn bản thành lập thành tiền tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài do các bên thỏa thuận” nhưng “giá thị trường quốc tế” theo Luật ĐTNN năm 1987 là một khái niệm rất chung chung, rất khó xác định và cũng chưa rõ là sẽ xác định trên cơ sở nào, kẽ hở này đả bị các bên đối tác nước ngoài lợi dụng để nâng giá máy móc thiết bị và bí quyết công nghệ, làm tăng giá trị góp vốn của họ trong các liên doanh Thật ra, trong thực tế MPI cũng có đề
ra giải pháp để khắc phục đó là thuê các công ty kiểm định có uy tín trên thế giới như SGS của Thụy Sỹ, nhưng vấn đề trở nên phức tạp khi chi phí cho việc kiểm định là rất lớn và ai sẽ chịu chi phí này khi liên doanh không thỏa thuận được, hoặc trường hợp xấu hơn là có cả sự thông đồng quốc tế giữa các tập đoàn do quan hệ làm ăn lâu dài,…
Đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, việc xác định giá trị tài sản cao hơn giá trị thực tế của nó còn tạo điều kiện cho việc tăng mức khấu hao trích hàng năm, tác động làm tăng chi phí đầu vào
Luật ĐTNN mới được sửa đổi, bổ sung và ban hành tháng 11/1996 đã đề cập đến vai trò của tổ chức giám định độc lập đối với giá trị tài sản góp vốn, tuy nhiên để đảm bảo xác định đúng giá trị thực của tài sản góp vốn, các tổ chức giám định
Trang 37cần phải hoạt động có hiệu quả, chính xác và trung thực Cho đến nay, Tp.Hồ Chí Minh, địa bàn thu hút nhiều FDI tại Việt Nam, chỉ mới có hai công ty giám định tài sản được biết đến nhiều là công ty SGS và chi nhánh ITS, nhưng hoạt động của hai công ty trên chưa trở nên quen thuộc đối với các doanh nghiệp cũng như các cơ quan hữu quan có nhu cầu giám định tài sản
Sau đây xin nêu các trường hợp điển hình thực tế được cơ quan chức năng ghi nhận:
- Kết quả giám định khác nhau về chất lượng máy móc thiết bị góp vốn liên doanh của đối tác nước ngoài trong Công Ty Liên Doanh Singviet:
Chất lượng giấy phép NK quy định
TTTCĐLCL KV3
Giám định của Cty X
Tái giám định của Cty
Trang 38suy cho cùng thì chúng ta thiếu các chuẩn mực về giám định nói chung và giám định máy móc, thiết bị nói riêng vì vậy dẫn đến sự tùy tiện, ngẫu hứng mà thiệt hại vẫn là nhà nước Việt Nam
3.2.7 Nâng chi phí nguyên vật liệu nhập khẩu và chi phí quảng cáo cho sản phẩm mới Đây là hình thức mà các DN FDI đang thực hiện để thực hiện việc thôn
tính các đối tác nước ngoài trong thời gian các liên doanh đã đi vào hoạt động Các nguyên liệu ngoại thường được nhập từ các công ty thành viên với giá rất cao nhằm chuyển một phần lợi nhuận về cho đơn vị mẹ để tránh các loại thuế như thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế thu nhập và cả rủi ro về chênh lệch tỷ giá, và những ảnh hưởng bất lợi về quản lý ngoại hối của nước ta Xét về mặt chiến lượt lâu dài, đây là một hình thức chuyển giá rất nham hiểm nó có liên quan và kết hợp với sự độc quyền làm cho người tiêu dùng trong nước thiệt hại Chu kỳ này có thể bắt đầu bằng việc tăng cường các chi phí quảng cáo, tiếp thị và tăng giá nguyên vật liệu ngoại nhập đồng thời hạ giá bán để vừa chiếm lĩnh trường vừa loại bỏ những đối tác (mà đối với các nhà đầu tư nước ngoài thì vai trò “lịch sử” của họ đã chấm dứt) Tuy nhiên công ty mẹ vẫn có thể hòa vốn hoặc có lời từ việc chuyển giao chi phí tiếp thị, tư vấn và chuyển giá nguyên vật liệu Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn độc quyền.Trong trường hợp chính phủ có ban hành quy định về chống độc quyền thì lúc này họ đã bắt đầu khai thác thế độc quyền của mình bằng cách nâng giá nguyên liệu nhập, để nâng giá thành và nâng giá bán sản phẩm Ơû giai đoạn này công ty trong nước và cả công ty mẹ đều có thể thu lợi nhuận, nhưng phần lớn sẽ được chuyển về nước dưới dạng thanh toán chi phí để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Hàng rào thuế xuất nhập khẩu của
ta sẽ được tháo dỡ nốt khi ta hội nhập vào nền kinh tế chung, và lúc ấy là thời điểm tốt nhất cho việc thực hiện biện pháp chuyển giá này
Trang 393.2.8 Tài trợ bằng nguồn vốn vay từ công ty mẹ: Bằng thủ thuật tạo ra cơ cấu
vốn và nguồn vốn bất hợp lý như dùng nguồn vay ngắn hạn từ công ty mẹ đề tài trợ cho TSCĐ và đầu tư dài hạn ( không tăng vốn góp- vốn chủ sở hữu) nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên cao như chi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay,…) và chuyển một phần lợi nhuận dưới dạng lãi vay về nước tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập điều tiết, tránh lỗ do chênh lệch tỷ về sau
Với hình thức này, cần lưu ý rằng ngay cả khi doanh nghiệp vay của một ngân hàng nước ngoài do công ty mẹ bảo lãnh thì vẫn có thể xảy ra tình trạng chuyển giá Do một số giao dịch giữa công ty mẹ và ngân hàng hải ngoại diễn ra tại hải ngoại sẽ được tính với giá (lãi suất, tỷ giá hối đoái,…) rất thấp, phần bù đắp sẽ được gởi vào phần lãi vay (bằng cách nâng lãi suất cho vay cao hơn bình
thường) thu từ hoạt động cho vay của công ty trong nước với ngân hàng này
3.2.9 “Đầu tư chui”: Đứng sau lưng một số người quen thuộc để thành lập
công ty trong nước Trước nay chúng ta thường thấy việc chuyển giá liên quan đến các DN FDI, tuy nhiên gần đây các dạng đầu tư chui đang trở nên phổ biến Đối với hình thức này việc chuyển giá thường sử dụng việc nâng phí tư vấn, quảng cáo, giá mua bán – xuất nhập khẩu Với hình thức này việc nhận dạng và chống lại việc chuyển giá là rất khó nếu luật không có sự quy định rõ ràng về các đặc điểm để nhận biết hai công ty là có mối quan hệ với nhau để tiến hành xem xét việc chuyển giá Các công ty thương mại hoạt động trong lĩnh vực thương mại như hóa chất, thực phẩm cao cấp… là các hình thức thường được áp dụng nhất hiện nay Nhìn chung khi phân tích tài chính ở các DN FDI tại thành phố Hồ Chí Minh và trên bình diện cả nước, có thể rút ra một số nhận xét về vấn đề chuyển giá như sau:
- Một trong những mục tiêu của chính sách chuyển giá là làm suy yếu các doanh nghiệp nội địa, tạo nên tình trạng độc quyền của các MNC
Trang 40- Hoạt động chuyển giá tại các DN FDI đã gây xáo trộn nhiều mặt cho nền kinh tế nước ta
- Hoạt động định giá chuyển giao và kể cả hậu quả của nó là chuyển giá, còn là một phản ứng tất yếu của các MNC nhằm tránh nguy cơ bị thua lỗ hai lần ở hai đầu (Whipsawed)
Qua phân tích trên, có thể thấy được các biện pháp kiểm tra giám sát tài chính đối với các DN FDI chưa thật sự đồng bộ, chưa có tính hệ thống, do đó chưa mang lại hiệu quả cao Hiện tượng chuyển giá vẫn có điều kiện tồn tại trong các
DN FDI Các phương pháp chống chuyển giá áp dụng ở Việt Nam được một số người cho là thiếu thực tế và không có căn bản về thông tin để thực hiện
4 Môi trường pháp lý của Việt Nam liên quan đến vấn đề định giá chuyển giao và chuyển giá hiện tại:
4.1 Một số phương pháp định giá chuyển giao được quy định trong Thông Tư số 74/TC/TCT và 89/TT-BTC:
Như trên ta đã thấy chuyển giá là một hiện tượng khá phức tạp và rất khó nhận diện, nó được xem là một hoạt động tiêu cực Bên cạnh công cụ thuế, chính phủ Việt Nam cũng đã công bố một số quy định nhằm giám sát chặt chẽ hơn công tác quản lý tài chính ở các DNFDI, điển hình là Nghị định số 12/CP ngày 18/02/1997 của Chính Phủ về quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam và Thông Tư 74TC/TCT ngày 20/10/1997 và hiện nay vẫn được giữ nguyên văn về mặt diễn đạt theo Thông Tư 89/1999/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật ĐTNN tại Việt Nam, trong đó có vấn đề chống chuyển giá, với ba phương pháp:
- Phương pháp so sánh giá thị trường tự do: khi sử dụng phương pháp này cơ
quan thuế cần phải có đầy đủ những thông tin về 2 nghiệp vụ so sánh như: thông tin về chất lượng hàng hóa, về thời hạn thanh toán, điều kiện thanh toán, thời gian bảo hành, Thường thì việc xác định những nhân tố này rất khó khăn, phức tạp đôi