1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN CẤU TRÚC THUẾ Ở CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

66 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÊ THỊ KIM THƯƠNG TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN CẤU TRÚC THUẾ Ở CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG Mã số: 8340201 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚN

Trang 1

LÊ THỊ KIM THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN CẤU TRÚC THUẾ Ở CÁC QUỐC GIA

ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Trang 2

LÊ THỊ KIM THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN CẤU TRÚC THUẾ Ở CÁC QUỐC GIA

ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN KIM QUYẾN

Trang 3

nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Tp Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 09 năm 2018

Tác giả

LÊ THỊ KIM THƯƠNG

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1. Lý do chọn đề tài 1

1.2. Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu nhập dữ liệu 3

1.4. Phương pháp nghiên cứu 3

1.5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3

1.6. Bố cục của bài nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6

2.1. Các khái niệm liên quan 6

2.1.1. Tự do hóa thương mại 6

2.1.1.1. Khái niệm 6

2.1.1.2. Lý thuyết về tự do hóa thương mại quốc tế 7

2.1.1.2.1. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối 7

2.1.1.2.2. Lý thuyết về lợi thế tương đối 8

2.1.1.2.3. Mô hình Heckscher-Ohlin (mô hình H-O) 8

2.1.1.2.4. Lợi thế về cạnh tranh quốc gia 10

Trang 5

2.1.2.1. Định nghĩa 12

2.1.2.2. Các yếu tố tác động đến cấu trúc thuế 14

2.2. Lý thuyết về tác động của tự do hóa thương mại đến cấu trúc thuế 16

2.3 Các nghiên cứu liên quan về tác động của tự do hóa thương mại đến cấu trúc thuế 18

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1. Mô hình nghiên cứu 22

3.2. Dữ liệu và đo lường các biến 23

3.3. Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1. Thống kê mô tả 26

3.3.2. Kiếm định các khuyết tật mô hình 27

3.3.2.1. Kiểm định đa cộng tuyến 27

3.3.2.2. Kiếm định phương sai thay đổi 29

3.3.2.3. Kiểm định tự tương quan 29

3.3.3. Mô hình hồi quy dữ liệu bảng 30

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1. Phân tích thống kê mô tả 32

4.2. Kiểm định 34

4.3. Kết quả hồi quy 38

4.3.1. Kết quả hồi quy với biến IT 38

4.3.2. Kết quả hồi quy với biến ITT 40

4.3.3. Kết quả hồi quy với biến DGST 41

Trang 6

4.4. Phân tích kết quả hồi quy 44

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1. Kết luận 48

5.2. Hàm ý chính sách 49

5.3. Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 49

Trang 7

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 32

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 35

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi của các mô hình 36

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định tự tương quan 37

Bảng 4.5: Kết quả hồi quy với biến IT 38

Bảng 4.6: Kết quả hồi quy với biến ITT 40

Bảng 4.7: Kết quả hồi quy với biến DGST 41

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy với biến PRT 42

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy với biến OT 43

Bảng 4.10: Tổng hợp các kết quả hồi quy 44

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EU Liên minh châu Âu

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu hướng tất yếu của hầu hết các quốc gia Trong đó, tự do hóa thương mại là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia nói chung và của nguồn thu thuế nói riêng Các hoạt động thương mại thông qua quá trình xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ đã đóng vai trò góp phần làm tăng nguồn thu thuế thương mại

Đã có một sự tự do hóa thương mại mạnh mẽ chưa từng thấy bắt đầu vào giữa những năm 1980 trong phạm vi rộng ở các nước đang phát triển Cũng trong thời gian này xuất hiện những thay đổi đáng kể trong cơ cấu thuế của các nước Vì vậy, những cải cách thương mại vào giữa những năm 1980 cung cấp một thử nghiệm tự nhiên tuyệt vời để phân tích những thay đổi của cấu trúc thuế

Bởi vì đối với hầu hết các nước đang phát triển, thuế thương mại quốc tế trong tổng nguồn thu thuế chiếm tỷ trọng cao Vì vậy, tự do hoá thương mại có thể dẫn đến những thay đổi lớn trong cơ cấu thuế Vấn đề lớn mà tự do hóa thương mại gây ra là làm thế nào để bù đắp số thu thuế thương mại quốc tế một cách hợp lý Vì lý do này, các nước phải cố gắng thực hiện cải cách thuế trong nước gắn liền với các vấn đề về chính sách kinh tế, quản lý thuế và thiết kế cấu trúc thuế

Như theo nghiên cứu của Tosun (2005) đã chỉ ra rằng có một chuyển biến đáng

kể về mặt thống kê và kinh tế từ thuế thương mại quốc tế sang thuế nội địa đối với hàng hóa và dịch vụ ở các nước không thuộc khối OECD từ giữa những năm 1980 Tosun (2005) cũng chỉ ra rằng, không giống như các nước không thuộc OECD khác, các nước Trung Đông-Bắc Phi không tăng sự phụ thuộc vào thuế tiêu thụ nội địa để đáp ứng với tự do hóa thương mại

Trang 10

Trải qua 50 năm hình thành và phát triển từ một cơ cấu hợp tác đơn giản, mang tính chất khu vực là chính, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã dần trờ thành hạt nhân, đóng vai trò trung tâm trong các cơ chế, cấu trúc an ninh, hợp tác khu vực châu Á- Thái Bình Dương Hiện nay, ASEAN có 10 đối tác đối thoại chính thức, trong đó có 8 vùng lãnh thổ và 2 tổ chức quốc tế là Liên Hợp Quốc, Liên minh châu

Âu Có 6 đối tác đối thoại được thiết lập từ những năm 1970

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, ASEAN lập thêm quan hệ đối thoại với 4 đối tác khác, 2 đối tác đối thoại ngành Bên cạnh đó, ASEAN cũng xây dựng thành công quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi với nhiều tổ chức ở khu vực và trên thế giới như đối tác toàn diện ASEAN – Liên hợp quốc, Hội đồng hợp tác các nước vùng Vịnh (GCC), khối thị trường chung Nam Mỹ (Mercocur), Cộng đồng các quốc gia Nam Mỹ

và Carribe và Liên minh Thái Bình Dương Việc ASEAN mở rộng quan hệ hợp tác và khẳng định vị thế, vai trò của mình trên trường quốc tế, từ đó mở ra cơ hội phát triển cho các quốc gia thành viên, đặc biệt là về tự do hóa thương mại

Theo số liệu tại báo cáo Tóm lược Hợp tác Kinh tế ASEAN được thực hiện bởi Ban giám đốc Nghiên cứu Hợp tác ASEAN thuộc Ban Thư ký ASEAN, tổng thương mại hàng hóa dịch vụ năm 2016 khu vực ASEAN đạt 2.22 nghìn tỷ đô la, trong đó thương mại nội khối ASEAN chiếm 23.48% tổng kim ngạch và vẫn là thị trường lớn nhất cho ASEAN Trung Quốc giữ vị thế là thương mại lớn nhất, chiếm 16.01%, tiếp theo là EU ở mức 10.35% và Nhật Bản là 9.99% Các số liệu trên cho thấy việc thực hiện mạnh mẽ chính sách tự do hóa thương mại đang là vấn đề mà các quốc gia Đông Nam Á quan tâm và trở thành xu hướng trong thời gian vừa qua

Hiện nay, có khá nhiều bài nghiên cứu của các tác giả về lĩnh vực này, tuy nhiên

đa phần các bài nghiên chỉ tập trung xem xét ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đến tổng nguồn thu mà chưa xem xét đến sự thay đổi trong cơ cấu nguồn thu thuế Do đó,

Trang 11

để làm rõ mức độ ảnh hưởng này tại khu vực ASEAN, cụ thể là các quốc gia Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan trong giai đoạn 1995-2016, tác giả chọn đề tài “Tác động của tự do hóa thương mại đến cấu trúc thuế ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á” làm đề tài nghiên cứu

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: Tự do hóa thương mại có

tác động như thế nào đến cấu trúc thuế ở các nước khu vực Đông Nam Á?

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu nhập dữ liệu

− Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc thuế và tự do hóa thương mại

− Phạm vi thu thập dữ liệu: Các nước khu vực Đông Nam Á: Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan

− Thời gian: 1995-2016

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập của 09 nước Đông Nam Á từ năm

1995 đến 2016 để tạo ra bộ dữ liệu bảng Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ cở sở sữ liệu của Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế và Tổ chức minh bạch thế giới

Bài nghiên cứu tiến hành các kiểm định đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và

tự tương quan; sau đó tiền hành hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp GLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan

1.5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Trang 12

Đối với sự phát triển tài chính, trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy tự do hóa thương mại có tác động đến nguồn thu thuế Tuy nhiên, mức độ tác động đến mỗi loại thuế trong cấu trúc thuế như thế nào vẫn chưa được quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như chính bản thân các quốc gia Đề tài đưa ra bằng chứng khách quan khoa học góp phần giúp ích cho các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia khu vực Đông Nam Á có thể đưa ra những giải pháp tối ưu tăng nguồn thu cho đất nước trước những biến động của kinh tế thế giới trong quá trình hội nhập

1.6 Bố cục của bài nghiên cứu

Nội dung chính của bài nghiên cứu bao gồm 5 chương, được trình bày cụ thể theo trình tự như sau:

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do thực hiện đề tài nghiên cứu, mục tiêu cũng như là câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi thu thập dữ liệu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn khi thực hiện bài nghiên cứu này

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước

Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp và trình bày các lý thuyết khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trên thế giới về tác động của tự do hóa đến cấu trúc thuế ở các quốc gia, khu vực khác nhau

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Trang 13

Nội dung chương này là trình bày phương pháp, quy trình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình cũng như nguồn dữ liệu để thu thập và mô tả các đặc điểm của mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này tác giả trình bày thống kê mô tả dữ liệu, kết quả các kiểm định cũng như kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu về tự do hóa thương mại tác động như thế nào đến cấu trúc thuế ở các quốc gia Đông Nam Á

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trong chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, đưa ra kết luận

từ kết quả mô hình thực nghiêm, rút ra hàm ý chính sách và nêu lên những hạn chế của

đề tài cũng như hướng mở rộng nghiên cứu trong tương lai

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1 Các khái niệm liên quan

2.1.1 Tự do hóa thương mại

Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác với nhau và nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác Trong quá trình này, người bán là người cung cấp các sản phẩm cho người mua, đổi lại người mua sẽ trả lại cho người bán một giá trị tương đương nào đó Thương mại tồn tại vì nhiều lý do Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên môn hóa

và phân chia lao động, trong đó con người chỉ tập trung vào việc sản xuất hàng hóa hay dịch vụ thuộc lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ do người khác cung ứng,

Theo cách hiểu trên thì thương mại quốc tế là những hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ ra ngoài lãnh thổ của các quốc gia Như vậy, thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác thông qua các hoạt động xuất, nhập khẩu nên có vai trò đặc biệt quan trọng, là sợi dây liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng, là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sản xuất, tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển

“Tự do hóa thương mại là quá trình các quốc gia cắt giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại, bao gồm quá trình cắt giảm các hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan, xóa bỏ phân biệt đối xử tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho thương mại phát triển” (TS Bùi Thị Lý, 2010)

Trang 15

Như vậy có thể hiểu tự do hóa thương mại là tự do trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia mà không có sự kiểm soát bằng những chính sách, rào cản nhập khẩu Hiện nay, tự do hóa thương mại được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm đáng kể, thông qua các hiệp định, hiệp ước, các ký hết song phương, đa phương, tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa dễ dàng hơn, giảm thiểu về thủ tục hành chính và

các hàng rào thuế quan khác

Trong các lý thuyết kinh tế thì lý thuyết thương mại quốc tế được xem là có tính

hệ thống lôgic với nhau và phát triển nhất Nó là một hệ thống hoàn chỉnh, phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp lên cao, thể hiện ở chỗ lý thuyết sau luôn có sự kế thừa

và phát triển lý thuyết trước và mang tính khoa học ngày càng cao và sát với thực tiễn Thời gian qua, kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động, xã hội ngày càng văn minh, hiện đại; nhưng các lý thuyết thương mại quốc tế như tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, đặc biệt là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo vẫn còn có giá trị mãi và được các nhà nghiên cứu hiện nay tiếp tục vận dụng vào đời sống và nghiên cứu của mình

2.1.1.2.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối

Trong cuốn sách nổi tiếng của mình “Sự giàu có của các quốc gia” xuất bản năm

1776 , Adam Smith đã đưa ra lý luận phản bác quan điểm chủ nghĩa trọng thương cho rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không, ông đề cao sự tự do hóa thương mại Thông qua “Bàn tay vô hình” các nước sẽ sản xuất các loại hàng hóa có lợi thế nhất đối với họ bằng các nguồn lực hữu hạn Khi đó, các nước sẽ được hưởng lợi nhiều nhất do chi phí sản xuất là thấp nhất

Trang 16

Theo Smith, các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấy những hàng hóa sản xuất bởi những nước khác, tức là đối với loại hàng hóa mà quốc gia có thể mua được từ nước khác với chi phí thấp hơn chi phí sản xuất trong nước thì quốc gia đó không nên tự sản xuất những loại hàng hóa này Bằng cách chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa mà mỗi quốc gia có lợi thế tuyệt đối khi tham gia thương mại quốc tế, các quốc gia tham gia đều sẽ thu được lợi ích

2.1.1.2.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối

Để khắc phục những tồn tại trong lý thuyết của Adam Smith, David Ricardo (1917) cho rằng lợi thế tuyệt đối của mỗi nước là ít, đa phần các nước hoạt động thương mại với nhau còn dựa trên các lợi thế tương đối Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất, nhập khẩu những sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh và xuất khẩu những sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh

Với sự kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo

đã phát hiện ra rằng: Những quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có cơ hội nhận được lợi ích từ tham gia thương mại quốc tế bởi vì mỗi quốc gia đều có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm nào đó và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Thông qua việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi quốc gia đều có lợi ích từ thương mại Như vậy cơ sở để các nước buôn bán với nhau và cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế chính là lợi thế so sánh

Trang 17

Những nhà kinh tế thế hệ sau và theo trường phái Ricardo (còn gọi là Ricardian) tiếp tục nghiên cứu về lợi thế so sánh dựa trên cách tiếp cận khác hơn và mở rộng mô hình nghiên cứu so với Ricardo

Mô hình Ricardo giải thích ngoại thương xảy ra là do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các nước Trong thực tế ngoại thương xảy ra cũng được phản ánh sự khác nhau về nguồn lực giữa các nước Theo Eli Hecksher (1879-1952) và B Ohlin (1899-1979) - hai nhà kinh tế học Thụy Điển - đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, các nước luôn chủ động hướng tới việc chuyên môn hóa các ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố sản xuất thuận lợi nhất dẫn đến lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu hàng hóa của mình Chính các lợi thế

tự nhiên từ các yếu tố sản xuất (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu,…) đã làm cho một số nước có chi phí cơ hội thấp (so với sản xuất hàng hóa khác) khi sản xuất một số sản phẩm nào đó

Mô hình Hechsher-Ohlin nhấn mạnh sự khác biệt về nguồn lực (lao động, vốn, đất đai) là nguồn gốc của ngoại thương Mô hình này cho thấy rằng lợi thế so sánh cuả một nước được quyết định bởi:

- Sự dồi dào tương đối các yếu tố sản xuất cuả một nước

- Sự thâm dụng các yếu tố tương đối cuả một loại hàng hoá

Mô hình này có những dự đoán tương đối phù hợp với thực tế hơn so với mô hình Ricardo:

- Các nước có xu hướng sản xuất hai loại hàng hoá (không có chuyên môn hoá hoàn toàn)

Trang 18

- Ngoại thương mang lại lợi ích cho một nước nhưng đồng thời cũng gây

ra tác động phân phối lại thu nhập bên trong một nước

2.1.1.2.4 Lợi thế về cạnh tranh quốc gia

Michael Porter cho rằng sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào năng suất lao động của quốc gia đó, trong đó cái cốt lõi của năng suất chính là sự cạnh tranh Ông xây dựng trên sự kết hợp về yếu tố sản xuất, nhu cầu trong nước, cạnh tranh trong nước và ngành công nghiệp hỗ trợ Thương mại và đầu tư phát triển theo hướng tự do hóa để nâng cao năng suất, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn duy trì năng suất cao Vì thế, các quốc gia tập trung sản xuất mặt hàng mà quốc gia mình có lợi thế

và nhập khẩu những mặt hàng của đối thủ nếu như năng suất sản xuất trong nước thấp hơn Chính phủ có nhiệm vụ thúc đẩy nâng cao năng suất, loại bỏ rào cản thương mại, bảo hộ Ngoài ra, chính phủ cũng cần quan tâm phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng kinh

tế - xã hội

Krugman (1979) phát triển một lý thuyết hoàn toàn mới về thương mại quốc tế

Lý thuyết của Krugman được xem là một cuộc cách mạng trong tư duy thương mại quốc tế Bởi vì trong suốt cả một quãng thời gian dài, từ đầu thế kỷ 19 đến thập kỷ

1970, lý thuyết thương mại quốc tế được xây dựng dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo và sau đó được Porter phát triển thành lý thuyết lợi thế cạnh tranh

Krugman cho rằng quan hệ thương mại ngành dựa trên lợi thế theo quy mô, có nghĩa là quy mô sản xuất càng lớn thì chi phí sản xuất càng thấp Song song với lợi thế

về quy mô, ông còn cho rằng sự đa dạng của các mặt hàng khá được người tiêu dùng quan tâm tới Do đó, lợi thế về quy mô sản xuất và sự đa dạng đáp ứng được sở thích của người tiêu dùng đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất độc

Trang 19

quyền với nhãn hiệu của riêng mình, kể cả trong trường hợp phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các thương hiệu khác

Trước kia, khái niệm tự do hóa thương mại đơn giản được hiểu là những hoạt động mở rộng thương mại quốc tế và giảm thuế quan Điển hình như Hiệp định chung

về thuế quan và thương mại (GATT) qua 7 vòng đàm phán trong suốt 38 năm ròng cũng chỉ tập trung đám phán vào việc cắt giảm thuế quan Ngày nay, khái niệm tự do hóa thương mại được phát triển sâu rộng hơn, đó là việc một quốc gia thực hiện các chính sách kinh tế mở cửa kinh tế, tham gia vào các định chế kinh tế - tài chính quốc tế cũng như thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư Cụ thể:

- Đàm phán lộ trình cắt giảm thuế quan, với mục tiêu tiến tới áp dụng thuế suất đối với hàng hoá xuất nhập khẩu bằng 0;

- Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các chính sách gây cản trở đối với hoạt động thương mại thông qua các hàng rào phi thuế quan Những biện pháp phi thuế quan phổ biến (như giấy phép, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh kiểm dịch ) cần được chuẩn mực hoá theo các quy định chung của quốc tế;

- Cắt giảm các điều kiện làm hạn chế đối với hoạt động thương mại, dịch

vụ quốc tế Hiện nay có khoảng 12 nhóm ngành dịch vụ được đưa vào đàm phán để tự do hành nghê, từ các dịch vụ tài chính, ngân hàng cho đến tư vấn giáo dục, tin học, viễn thông, giao thông vận tải ;

- Giảm thiểu các hạn chế đối với hoạt động đầu tư để tạo điều kiện hơn nữa cho tự do hoá thương mại;

Trang 20

- Điều chỉnh các chính sách quản lý thương mại phù hợp với những quy tắc chung của thương mại quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến các giao dịch thương mại quốc tế như thủ tục hải quan, chính sách cạnh tranh, quyền sở hữu trí tuệ

- Triển khai mạnh mẽ các hoạt động hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hoá,

xã hội nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các quóc gia trong quá trình tự do hóa thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế

Tóm lại, có thể thấy vấn đề tự do hoa thương mại trong bối cảnh hiện nay không chỉ đơn thuần là giới hạn trong hình thức cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra cho tất cả các lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế - thương mại, với mục đích chính là nhằm mục tiêu loại bỏ các rào cản hữu hình cũng như vô hình đối với hoạt động thương mại quốc tế, mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ

2.1.2 Cấu trúc thuế

Bài nghiên cứu này áp dụng cách phân loại nguồn thu thuế của Quỹ tiền tệ thế giới IMF và có một số điều chỉnh để phù hợp với tình hình của các nước khu vực Đông Nam Á Theo đó, cấu trúc thuế của các quốc gia khu vực Đông Nam Á sẽ gồm 5 thành phần:

- Thuế từ thu nhập, lợi nhuận và vốn: Là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và doanh nghiệp, bao gồm:

Tiền lương, tiền công và các khoản phúc lợi khác mang tính chất tiền lương, tiền công của người lao động;

Thu nhập từ lãi, cổ tức, tiền thuê nhà và từ bản quyền;

Trang 21

Thu nhập từ đầu tư vốn bao gồm cả đầu tư vào các quỹ đầu tư; Lợi nhuận của các tập đoàn, công ty hợp danh, bất động sản và tín thác;

Các khoản chịu thuế từ an sinh xã hội, lương hưu, trợ cấp hằng năm, bảo hiểm nhân thọ và các khoản hưu trí khác

- Thuế thương mại quốc tế: đánh vào các giao dịch thương mại quốc tế, bao gồm:

Lệ phí hải quan và thuế nhập khẩu;

Thuế xuất khẩu;

Lợi nhuận của các đơn vị xuất nhập khẩu;

Lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá;

Thuế đánh vào các giao dịch mua bán ngoại tệ

- Thuế đối với hàng hóa dịch vụ trong nước: là tất cả các khoản thuế đánh vào việc sản xuất, khai thác, bán, chuyển nhượng, cho thuê hoặc chuyển giao hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong nước, bao gồm:

Thuế giá trị gia tăng;

Thuế bán hàng tổng hợp, cho dù được tính tại nhà sản xuất / sản xuất, bán buôn hay bán lẻ;

Thuế tiêu thụ đặc biệt;

Thuế đánh vào việc sử dụng xe có động cơ hoặc hàng hóa khác;

Trang 22

Thuế khai thác, chế biến, hoặc sản xuất khoáng sản và các sản phẩm khác

- Thuế tài sản: Khoản mục này bao gồm các khoản thuế đánh vào quyền

sử dụng, quyền sở hữu hoặc chuyển giao tài sản Loại thuế này có thể thu theo các từng kỳ đều đặn, thu một lần duy nhất hoặc thu khi thay đổi quyền sở hữu

Nhìn chung, có ba nguyên nhân chính gây ra những thay đổi trong cấu trúc thuế Đầu tiên xuất phát từ các lý thuyết thuế tối ưu và có thể được coi là nỗ lực để tạo

ra một hệ thống thuế “tốt hơn” Ở đây, hiệu quả và công bằng đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết thuế tối ưu Thứ hai là phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế tác động đến các căn cứ tính thuế khác nhau, do đó thay đổi tỷ trọng của mỗi loại thuế Điều thứ ba là hành động của các nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực của họ để đáp ứng các chức năng chính trị Xuất phát từ những nguyên nhân này, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cuộc tranh luận về các yếu tố tác động đến cấu trúc thuế Họ xem xét các biến như: GDP bình quân đầu người, tỷ trọng ngành kinh tế trong GDP, độ mở thương mại, tỷ lệ viện trợ nước ngoài/GDP, tỷ lệ tổng nợ/GDP, các giải pháp cho nền kinh tế… và các yếu tố thể chế như mức độ ổn định chính trị và tham nhũng là các yếu

tố tiềm năng quyết định đến số thu thuế

Khả năng thu các loại thuế khác nhau trong một nền kinh tế có thể được xác định bằng thu nhập bình quân đầu người, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP, tỷ trọng xuất khẩu khoáng sản/GDP, độ mở của nền kinh tế và tỷ lệ tiền/GDP

Thu nhập bình quân đầu người được dùng để đại diện cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế và được cho là tương quan cùng chiều với số thu thuế bởi vì nó được

Trang 23

xem là một chỉ số tốt về tổng thể mức độ phát triển kinh tế Hơn nữa, theo quy luật Wagner, nhu cầu về các dịch vụ của chính phủ thì co giãn theo thu nhập, do đó phần hàng hóa và dịch vụ mà chính phủ cung cấp dự kiến sẽ tăng lên theo thu nhập

Tỷ trọng ngành kinh tế trong GDP cũng là một yếu tố quan trọng vì sẽ có những ngành dễ thu thuế hơn những ngành khác Ví dụ, ngành nông nghiệp khó có thể thu thuế, đặc biệt là nếu nó bị chi phối bởi một số lượng lớn nông dân Mặt khác, ngành khai thác bị chi phối bởi một số công ty lớn có thể tạo ra nguồn thu nhập chịu thuế lớn

Trong khu vực công, động cơ thương lượng và dàn xếp trong hành vi tham nhũng thì dễ xảy ra Tình trạng này xảy ra từ các cán bộ quản lý nhà nước, người mà có thể làm giàu bằng cách nhận hối lộ và xảy ra từ cả người hối lộ, người mà muốn thu được lợi ích không đáng Trong lĩnh vực thuế, các quy định về thuế thường phức tạp, đến nỗi mà người nộp thuế có động cơ mạnh mẽ để tham nhũng và sự phức tạp của hệ thống thuế cũng cho phép công chức sử dụng quyền lực linh hoạt của họ để tham nhũng Sandmo (2004) định nghĩa hành vi trốn thuế như sau: “Trốn thuế là vi phạm pháp luật: Khi người nộp thuế cố tránh những báo cáo thu nhập từ lao động hoặc vốn

mà phải chịu thuế, ông ấy tham gia vào một hoạt động bất hợp pháp mà làm cho anh ta chịu trách nhiệm trước pháp luật hoặc trách nhiệm pháp lý từ các nhà chức trách” Trong trường hợp của các nước đang phát triền, tham nhũng thì phổ biến và hậu quả là

nó phá hủy hệ thống thuế Nó làm giảm các khoản thu của nhà nước và do đó làm giảm khả năng hoàn thành các nghĩa vụ đối với xã hội của nhà nước Đây là điều đáng báo động như nhiều nghiên cứu liên quan đến hệ thống thuế ở các nước đang phát triển cho thấy rằng hơn 50% số thu thuế bị thất thu vì tham nhũng tài chính và trốn thuế Tham nhũng gây ảnh hướng tiêu cực đối với tổng số thuế là điều rõ ràng, tuy nhiên tác động đối với mỗi loại thuế sẽ khác nhu Đối với những loại thuế có nhiều quy định chưa rõ ràng, nhiều thủ tục phức tạp thì đây chính là điều kiện để xuất hiện tham nhũng Từ đó,

Trang 24

các khoản thu thuế mà có hiện tượng tham nhũng cao thì chắc chắn số thu thuế đó sẽ bị thất thu, ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ trọng của thuế này trong cấu trúc thuế

Ngoài ra, yếu tố quản trị cũng tác động đến cấu trúc thuế Quản trị tốt giúp hệ thống thuế hoạt động hiệu quả Vì vậy, loại thuế được nào quản trị tốt sẽ góp phần làm

số thu, dẫn đến tăng tỷ trọng của thuế đó trong cấu trúc thuế Có 3 yếu tố chính để xây dựng một hệ thống thuế tốt, bao gồm:

- Tính hợp pháp nhà nước;

- Sự sẳn sàng nộp thuế của người nộp thuế;

- Hiệu quả của quản lý thuế

2.2 Lý thuyết về tác động của tự do hóa thương mại đến cấu trúc thuế

Tự do hóa thương mại là một thuật ngữ toàn diện và nó không chỉ bao gồm dòng chảy của hàng hóa và dịch vụ mà còn cả những ý tưởng và giá trị khoa học và văn hóa trên khắp các nước trên thế giới Nó cũng tạo điều kiện cho dòng chảy của vật chất, tài chính, và thậm chí cả vốn con người trên biên giới Tự do hóa thương mại có thể cải thiện hiệu quả kinh tế và có thể hữu ích trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các tác động tràn công nghệ Những lý thuyết trước đây về thương mại tự do như Lợi thế tuyệt đối của Smith (1776) và Lợi thế so sánh của Ricardo (1817) dựa trên khái niệm rằng thương mại tự do sẽ dẫn đến phân bổ hiệu quả các nguồn lực giữa các quốc gia thương mại

Mặc dù đem lại nhiều lợi ích, tự do hóa thương mại vẫn bị chỉ trích trên cơ sở rằng nó có thể có một tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân của các quốc gia đang phát triển Nó có thể gây ra các bệnh xã hội như đói nghèo, bất bình đẳng và suy thoái môi trường Bên cạnh đó, tự do hóa thương mại cũng có thể dẫn đến mất nguồn thu thuế, điều này hạn chế khả năng chi tiêu của chính phủ ở các nước đang phát triển

Trang 25

Tự do hoá thương mại có thể tạo ra bất ổn tài chính cho các nước đang phát triển vì thuế thương mại quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu thuế Tổng số thu thuế trong nước như là một phần của GDP thường thấp ở các nền kinh tế đang phát triển do quản lý thuế không phức tạp, khu vực phi chính thức lớn, thuế thu nhập nông nghiệp không đáng kể, miễn giảm và trốn thuế phổ biến Để tìm kiếm các nguồn tài nguyên thay thế của doanh thu thuế đối với tổn thất doanh thu thương mại là không dễ dàng bởi vì họ không có khả năng mang lại sự thay đổi hơn nữa trong cơ cấu thuế trong nước

Dễ dàng nhận thấy tự do hoá thương mại có tác động đến tỷ trọng của thuế thương mại quốc tế trong ổng số thu thuế vì một đặc điểm luôn tồn tại trong tiến trình

tự do hóa thương mại chính là loại bỏ các hàng rào thuế quan với hàng nhập khẩu Mối quan hệ chính xác thì còn phụ thuộc vào nhiều biến số, bao gồm bản chất của tự do hóa thương mại và phản ứng của nhập khẩu và xuất khẩu đối với tự do hóa Tùy thuộc vào mức thuế quan được thiết lập và sự thay đổi trong giá trị hàng nhập khẩu sau khi áp dụng tự do hoá thương mại, tỷ trọng của thuế thương mại quốc tế có thể tăng hoặc giảm Nếu các quốc gia cắt giảm thuế quan nhưng không có các biện pháp để thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế thì sẽ dẫn đến giảm số thu thuế thương mại quốc tế Một khi tỷ trọng của thuế thương mại quốc tế thay đổi chắc chắn sẽ kéo theo sự thay đổi của các thuế khác, tương ứng với phần tăng/giảm của thuế thương mại quốc tế Mối quan

hệ giữa thuế thương mại quốc tế với các loại thuế khác cũng không chắc chắn; và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cấu trúc của hệ thống thuế và khả năng quản lý hành chính Thường tự do hóa thương mại đi kèm với việc thay đổi chính sách thuế giá trị gia tăng hoặc các sắc thuế quan trọng khác trong nước

Tự do hoá thương mại mang lại những thách thức tài chính mới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển vì họ có mức thu nhập thuế thấp so với tỷ lệ GDP Khi tự

do hoa thương mại, các nước phát triển có thể bù đắp sự sụt giảm thuế thương mại

Trang 26

quốc tế bằng các hình thức thuế nội địa khác bởi vì họ có chất lượng thể chế cao và hệ thống quản trị hiệu quả Nhưng trong trường hợp các nước đang phát triển, họ phải đối mặt với cả hai vấn đề chất lượng thể chế thấp và hệ thống quản trị còn nhiều bất cập

Vì vậy, các nền kinh tế này không thể chuyển gánh nặng thuế thương mại quốc tế sang cho các sắc thuế nội địa

trúc thuế

Tự do hoá thương mại chủ yếu được coi là liên quan đến nguồn thu thuế thông qua tác động của nó đối với nguồn thu thuế thương mại quốc tế, mặc dù mối quan hệ chính xác phụ thuộc vào nhiều biến số, bao gồm bản chất của tự do hóa thương mại và phản ứng của nhập khẩu và xuất khẩu đối với tự do hóa

Thường thì bước đầu tiên trong tự do hóa thương mại là loại bỏ các hàng rào thuế quan với hàng nhập khẩu Điều này có thể dẫn đến số thu thuế thương mại cao hơn tùy thuộc vào mức thuế được thiết lập và thay đổi giá trị hàng nhập khẩu theo các biện pháp tự do hoá Tự do hoá thương mại cuối cùng dẫn đến việc giảm thuế nhập khẩu, và do đó có thể sẽ liên quan đến việc giảm số thu thuế thương mại quốc tế (Ebrill, Stotsky, và Gropp, 1999)

Mối quan hệ giữa tự do hoá thương mại và nguồn thu thuế, bao gồm nguồn thu nội địa, cũng không chắc chắn; và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cấu trúc của hệ thống thuế và khả năng quản lý hành chính (Ebrill, Stotsky, và Gropp, 1999 và Keen and Ligthart, 2002) Thường tự do hóa thương mại đi kèm với việc thay đổi chính sách thuế giá trị gia tăng hoặc các sắc thuế quan trọng khác trong nước

Các công trình nghiên cứu trước đây cho thấy rằng nguồn thu bị mất từ tự do hóa thương mại có thể được bù đắp nếu các cải cách tài chính thích hợp được thực

Trang 27

hiện Từ những phát hiện của WTO và Liam và cộng sự, (1999), tác động đến nguồn thu thuế của tự do hóa thương mại có thể được giảm thiểu bằng cách xây dựng các cải cách thuế trong nước Các khoản tiết kiệm công giảm cũng có thể được bù đắp bằng sự gia tăng tiết kiệm nước ngoài (Bhasin 2004), và bằng cách mở rộng khối lượng nhập khẩu và xuất khẩu (Baunsgaard và Keen, 2004)

Abed (1998) đã đưa ra một cái nhìn tổng quan toàn diện về kinh nghiệm tự do hóa thương mại của các quốc gia vùng Nam Địa Trung Hải thông qua các Hiệp định Mậu dịch tự do EU Ông đã thảo luận các đề xuất cải cách thuế khác nhau cần thiết để chống lại tổn thất doanh thu từ việc cắt giảm thuế quan Tuy nhiên, nghiên cứu đó không đưa ra ước tính thực nghiệm về ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đối với cấu trúc thuế Nó cũng chỉ tập trung vào các quốc gia vùng Nam Địa Trung Hải

Tosun (2005) chỉ ra rằng, các nước Trung Đông-Bắc Phi không tăng sự phụ thuộc vào thuế tiêu thụ nội địa để phản ứng lại tự do hóa thương mại

Mohammad Karimi (2015) nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại đến cấu trúc thuế sử dụng chỉ số độ mở thương mại để đo lường mức độ tự do hóa cho thấy dường như tự do hóa thương mại không có tác động mạnh đến nguồn thu thuế ở các nước đang phát triển

Tự do hoá thương mại có rất nhiều tác động đối với các nước mở cửa nền kinh

tế Lý thuyết kinh tế quan sát một mối quan hệ tích cực giữa tự do hóa thương mại và nguồn thu thuế thương mại Khi mức độ tự do hóa thương mại tăng lên dẫn đến khối lượng thương mại cao hơn dẫn đến sự gia tăng nguồn thu thuế thương mại Mối quan

hệ này giữa tự do hoá thương mại và các loại thuế khác cũng chỉ ra rằng tự do hoá thương mại, ở một mức độ nào đó, ảnh hưởng đến nguồn thu thuế trong nước Trong khi đó, một số nghiên cứu kết luận rằng tự do hoá thương mại có thể gây ra tổn thất nguồn thu thu và ảnh hưởng xấu đến việc thu các nguồn khác trong nước (Michael và

Trang 28

cộng sự, 1993; Hatzipanayotou và cộng sự., Abe, 1995; 1994; Keen and Ligthart, 2001,

2002, 2005) Adam et al (2001) kết luận rằng sự mở cửa của thương mại làm tăng thuế thương mại và giảm thuế hàng hóa và dịch vụ Điều này đề xuất rằng tự do hóa thương mại và nguồn thu thu đáp ứng các vấn đề đo lường Mối liên hệ giữa mở cửa thương mại và nguồn thu thuế với nguồn thu thuế nội địa cũng không rõ ràng Có rất nhiều yếu

tố như cơ cấu thuế của nền kinh tế, tỷ trọng nguồn thu thuế và quản lý thuế thương mại

có tác động đáng kể đối với nguồn thu thuế (Ebrill et al 1999; Keen & Ligthart, 2002)

Lý thuyết kinh tế xem xét mối quan hệ tích cực giữa tự do hóa thương mại và doanh thu thương mại Khi mức độ tự do hóa thương mại tăng lên dẫn đến khối lượng thương mại cao hơn sẽ dẫn đến sự gia tăng thuế thương mại Mối quan hệ giữa tự do hoá thương mại và các loại thuế khác cũng chỉ ra rằng tự do hoá thương mại, ở một mức độ nào đó, ảnh hưởng đến việc thu thuế trong nước Trong khi đó, một số nghiên cứu đã kết luận rằng tự do hoá thương mại có thể gây ra tổn thất về thuế (Michael và cộng sự, 1993; Hatzipanayotou et al., 1994; Abe, 1995; Keen and Ligthart, 2001, 2002) Adam et al (2001) kết luận rằng sự mở cửa thương mại làm tăng thuế thương mại và giảm thuế hàng hóa và dịch vụ Mối liên hệ giữa tự do hóa thương mại với thuế nội địa cũng không rõ ràng Có rất nhiều yếu tố như cấu trúc thuế của nền kinh tế, tỷ trọng mỗi loại thuế và quản lý thuế thương mại có ảnh hưởng đáng kể đối với số thu thuế (Ebrill et al 1999; Keen & Ligthart, 2002)

Liberati và Antonio (2011) đã phân tích tác động của hội nhập kinh tế đối với

cơ cấu thuế theo chiều dọc ở cấp quốc gia Trong điều kiện nhất định, khi khối lượng thương mại quốc tế tăng thì tổng số thu thuế trên GDP giảm Nó có thể dẫn đến các hiệu ứng khác nhau của cấu trúc theo chiều dọc của quốc gia về hiệu suất của các thành phần công Thứ nhất, tự do hoá thương mại có thể làm giảm tổng thuế của chính phủ đối với GDP Thứ hai, nó cũng có thể làm giảm tổng chi tiêu công Thứ ba, hội nhập kinh tế có thể làm tăng số thu thuế nội địa Thứ tư, nó làm tăng mức độ phân cấp trong

Trang 29

nước Cage và Lucie (2012) đã điều tra tác động tài chính của tự do hóa thương mại cho 103 nước đang phát triển Họ sử dụng bộ dữ liệu bảng về số thu thuế và các chi tiêu chính phủ trong giai đoạn 1945 - 2006 Số thu thuế thương mại quốc tế giảm trong quá trình tự do hoá thương mại ở hầu hết các nước đang phát triển Ít hơn một nửa số quốc gia có thể phục hồi tổn thất số thu thuế thương mại quốc tế thông qua các nguồn thuế khác Họ cũng kết luận rằng môi trường kinh tế thân thiện với thuế, các thể chế chính trị bao gồm chất lượng và quản trị thuế hiệu quả dẫn đến nhiều cơ hội phục hồi nguồn thu trong dài hạn

Trang 30

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

Để giải thích tác động của tự do hóa thương mại đối với cấu trúc thuế, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp cơ bản từ Tosun (2005), với một số sửa đổi theo mô hình thực nghiệm của Karimi (2016) Phân tích thực nghiệm sử dụng năm thành phần chính trong tổng số thu thuế dựa trên cơ sở dữ liệu Thống kê Tài chính Chính phủ (GFS) của IMF Theo đó, tổng số thu thuế (TT) được định nghĩa là:

TT = IT + PRT + DGST + ITT + OT

Trong đó:

IT : Thuế từ thu nhập, lợi nhuận và vốn

PRT : Thuế tài sản

DGST : Thuế đối với hàng hóa và dịch vụ trong nước

ITT : Thuế thương mại quốc tế

OT : Các loại thuế khác

Theo đó, tổng của tỷ trọng của mỗi loại thuế sẽ bằng 100, tức:

Sự thay đổi cấu trúc thuế được kiểm tra bằng cách sử dụng lần lượt tỷ trọng của

5 loại thuế làm biến phụ thuộc trong các phương trình hồi quy sau đây:

Trang 31

ℎ = + ! " + # $% + & % %$ + ' ()

+ * + ) + , -( + / 0 ) + 1 + 2

Vì tổng các tỷ trọng mỗi loại thuế luôn bằng 100 nên tổng hệ số của các biến giải thích luôn bằng 0 Tức nếu một biến giải thích tác động làm tăng tỷ lệ của một loại thuế chắc chắn sẽ có tác động làm giảm tỷ lệ của một loại thuế khác Do đó, có thể xem xét được, tự do hóa thương mại xảy ra thì tác động đến cấu trúc thuế như thế nào thông qua việc xem xét tỷ trọng của của loại thuế thay đổi tăng giảm như thế nào vì theo mô hình này, khi có một sự thay đổi trong tỷ trọng của loại thuế này thì chắc chắn tỷ trọng của của các loại thuế khác sẽ thay đổi để bù đắp lại và để cho tổng tỷ trọng của các loại luôn luôn bằng 100%, mặc khác, các hệ số hồi quy thể hiện sự thay đổi của tỷ trọng thuế tổng lại luôn bằng 0

Bài nghiên cứu tiến hành các kiểm định đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và

tự tương quan; sau đó tiền hành hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp GLS để khắc phục phương sai thay đổi và tự tương quan

3.2 Dữ liệu và đo lường các biến

− Biến phụ thuộc: ℎ : Tỷ trọng của thuế j ở nước i trong năm t, được tính bằng doanh thu thuế j chia cho tổng số thu thuế nhân 100 ở nước i trong năm t Số liệu số thu thuế mỗi loại được lấy từ IMF

Như vậy sẽ có 5 mô hình ứng với 5 biến phụ thuộc:

IT - Thuế từ thu nhập, lợi nhuận và vốn: Là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và doanh nghiệp

ITT - Thuế thương mại quốc tế: đánh vào các giao dịch thương mại quốc tế

Trang 32

DGST - Thuế đối với hàng hóa và dịch vụ trong nước: là tất cả các khoản thuế đánh vào việc sản xuất, khai thác, bán, chuyển nhượng, cho thuê hoặc chuyển giao hàng hóa và cung cấp dịch vụ PRT - Thuế tài sản: là các khoản thuế đánh vào quyền sử dụng, quyền sở hữu hoặc chuyển giao tài sản

OT - Các loại thuế khác Biến TaxShare (cụ thể là các biến IT, ITT, DGST, PRT, OT) được thu thập từ bộ dữ liệu Thống kê tài chính của chính phủ (GFS) của Quỹ tiền thế quốc tế (IMF)

− Biến độc lập: LIB: Chỉ số tự do hóa thương mại, là biến được sử dụng để

đo lường sự can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán hàng hóa thông qua thương mại quốc tế Tư do hóa thương mại càng cao thì mức độ hội nhập của một quốc gia sẽ càng lớn Tự do hóa thương mại bao gồm các yếu tố như: hàng hóa không có thuế quan hay những hàng rào thuế quan, dịch vụ không bị thuế quan và hàng rào thương mại, tự do lưu chuyển vốn và lao động giữa các quốc gia, không có chính sách bảo

hộ thương mại Bài nghiên cứu áp dụng một đặc điểm của tự do hóa thương mại là cắt giảm thuế quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Theo đó, trong bài nghiên cứu này, tự do hóa thương mại được đo lường bằng mức thuế quan trung bình có trọng số Mức thuế quan càng thấp tức mức độ tự do hóa hàng thương mại càng cao Số liệu được thu thập từ bộ dữ liệu Thống kê tài chính của chính phủ (GFS) của Quỹ tiền thế quốc tế (IMF)

- Một số biến kiếm soát:

Trang 33

Ký hiệu Diễn giải Đơn vị tính Nguồn

URB Tốc độ tăng của dân số thành thị % WB

COR Chỉ số tham nhũng CPI TI

Biến COR thu thập từ Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI), các biến kiếm soát còn lại được thu thập, tính toán từ bộ dữ liệu Các chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới (WB)

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phân tích định lượng, tác giả sử dụng kỹ thuật hồi quy

dữ liệu bảng, xây dựng mô hình hồi quy để xem xét mức độ ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đến cấu trúc thuế của các quốc gia Đông Nam Á

Ngày đăng: 01/09/2020, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w