1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước giai đoạn 2008-2013 theo mô hình Camel và phương pháp bao dữ liệu Dea

119 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 PHẠM PHAN BẠCH YẾN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2008-2013 THEO MÔ HÌNH CAMEL VÀ PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆ

Trang 1



PHẠM PHAN BẠCH YẾN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2008-2013 THEO MÔ HÌNH CAMEL VÀ PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU DEA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, Tháng 05/2014

Trang 2



PHẠM PHAN BẠCH YẾN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2008-2013 THEO MÔ HÌNH CAMEL VÀ PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU DEA

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các giải pháp kiến nghị do cá nhân tôi rút ra từ quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn

TP.HCM, Ngày tháng 05 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Phan Bạch Yến

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu: 3

5 Tính mới của đề tài 3

6 Hạn chế của đề tài 4

7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO MÔ HÌNH CAMEL VÀ PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU DEA 5

1.1 Khái quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 5

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 6

1.2.1 Nhóm yếu tố khách quan 6

1.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan 8

Trang 5

1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ

phần thuộc sở hữu nhà nước 11

1.3.1 Đánh giá theo mô hình CAMEL 11

1.3.1.1 Tóm lược về mô hình CAMEL 11

1.3.1.2 Đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo mô hình CAMEL 15

1.3.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình CAMEL 20

1.3.2 Đánh giá theo phương pháp bao dữ liệu DEA 21

1.3.2.1 Sơ lược về phương pháp bao dữ liệu DEA 21

1.3.2.2 Đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh 22

1.3.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình DEA 24

1.4 Tổng hợp các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng dựa vào mô hình CAMEL và phương pháp bao dữ liệu DEA 24

1.4.1 Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng dựa vào mô hình CAMEL 24

1.4.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 24

1.4.1.2 Nghiên cứu trong nước 26

1.4.2 Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng dựa vào phương pháp bao dữ liệu DEA 26

1.4.2.1 Nghiên cứu nước ngoài 26

1.4.2.2 Nghiên cứu trong nước 28

Kết luận chương 1 29

Trang 6

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC THEO

MÔ HÌNH CAMEL VÀ PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU DEA 30

2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh đối với các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước 30

2.2 Khuôn khổ đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo qui định của Ngân hàng Nhà nước 30

2.3 Giới thiệu tổng quan thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước tại Việt Nam 32

2.3.1 Cổ phần hóa 32

2.3.2 Quy mô hoạt động 33

2.3.2.1 Quy mô hoạt động của Vietinbank 34

2.3.2.2 Quy mô hoạt động của BIDV 34

2.3.2.3 Quy mô hoạt động của Vietcombank 35

2.3.3 Đổi mới công nghệ 36

2.3.3.1 Đổi mới công nghệ tại Vietinbank 36

2.3.3.2 Đổi mới công nghệ tại BIDV 37

2.3.3.3 Đổi mới công nghệ tại Vietcombank 38

2.3.4 Quan hệ hợp tác quốc tế 39

2.3.4.1 Quan hệ hợp tác quốc tế tại Vietinbank 39

2.3.4.2 Quan hệ hợp tác quốc tế tại BIDV 39

2.3.4.3 Quan hệ hợp tác quốc tế tại Vietcombank 40

2.3.5 Nguồn nhân lực 40

Trang 7

2.3.5.1 Nguồn nhân lực tại Vietinbank 40

2.3.5.2 Nguồn nhân lực tại BIDV 41

2.3.5.3 Nguồn nhân lực tại Vietcombank 41

2.4 Thực trạng hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước giai đoạn 2008-2013 43

2.4.1 Hoạt động huy động vốn 43

2.4.2 Hoạt động tín dụng 44

2.4.3 Hoạt động dịch vụ 44

2.5 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo mô hình CAMEL 45

2.5.1 Khả năng an toàn vốn 46

2.5.2 Chất lượng tài sản 47

2.5.3 Năng lực quản trị 50

2.5.4 Khả năng sinh lời 52

2.5.5 Khả năng thanh khoản 54

2.5.6 Xếp hạng các Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo mô hình CAMEL 56

2.6 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo phương pháp bao dữ liệu DEA 56

2.6.1 Mô tả dữ liệu 56

2.6.2 Kết quả nghiên cứu 57

2.6.2.1 Hiệu quả toàn bộ, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô của các Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước giai đoạn 2008-2013 57

Trang 8

2.6.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương

mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo chỉ số Malmquist 60

2.7 Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước giai đoạn 2008-2013 62

2.7.1 Những thành quả đã đạt được 62

2.7.2 Những hạn chế và nguyên nhân 64

Kết luận chương 2 66

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC 67

3.1 Định hướng phát triển ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 67

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước 68

3.2.1 Nhóm giải pháp rút ra từ kết quả mô hình CAMEL và phương pháp bao dữ liệu DEA 68

3.2.1.1 Giải pháp nhằm gia tăng khả năng an toàn vốn 68

3.2.1.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tài sản có 70

3.2.1.3 Giải pháp nhằm gia tăng nâng cao năng lực quản trị 72

3.2.1.4 Giải pháp nhằm gia tăng khả năng sinh lời 73

3.2.1.5 Giải pháp nhằm gia tăng khả năng thanh khoản 74

3.2.1.6 Không ngừng đầu tư cho phát triển công nghệ ngân hàng 76

3.2.1.7 Không ngừng mở rộng để tận dụng lợi thế về quy mô 77

Trang 9

3.2.2 Nhóm giải pháp khác 78

3.2.2.1 Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu 78

3.2.2.2 Cần tăng cường hơn nữa hợp tác quốc tế 81

3.2.2.3 Đẩy mạnh tái cơ cấu, sắp xếp và đổi mới ngân hàng 81

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 86

Trang 10

DANH MỤC VIẾT TẮT

BẢNG VIẾT TẮT TRONG TOÀN LUẬN VĂN

CAMEL Hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của tổ chức tài chính

NHNN

NHTM

Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng thương mại NHTMNN Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước

TMCP

TCTD

Thương mại cổ phần

Tổ chức tín dụng

Vietcombank Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

BẢNG VIẾT TẮT KẾT QUẢ CHẠY PHẦN MỀM DEA effch Thay đổi hiệu quả kỹ thuật Technical efficiency change

tfpch Thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp Total factor productivity

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Quy mô của các NHTMNN giai đoạn 2008-2013 35

Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn của các NHTMNN giai đoạn 2008-2013 43

Bảng 2.3: Tình hình tín dụng của NHTMNN giai đoạn 2008-2013 44

Bảng 2.4: Cơ cấu thu nhập của NHTMNN giai đoạn 2008-2013 45

Bảng 2.5: Khả năng an toàn vốn của NHTMNN giai đoạn 2008-2013 46

Bảng 2.6: Xếp hạng các NHTMNN theo Khả năng an toàn vốn 47

Bảng 2.7: Chất lƣợng tài sản có của NHTMNN giai đoạn 2008-2013 48

Bảng 2.8 Xếp hạng các NHTMNN theo Chất lƣợng tài sản có 50

Bảng 2.9: Năng lực quản trị của NHTMNN giai đoạn 2008-2013 50

Bảng 2.10: Xếp hạng các NHTMNN theo Năng lực quản trị 52

Bảng 2.11: Khả năng sinh lời của NHTMNN giai đoạn 2008-2013 52

Bảng 2.12 Xếp hạng các NHTMNN theo Khả năng sinh lời 54

Bảng 2.13: Khả năng thanh khoản của NHTMNN giai đoạn 2008-2013 54

Bảng 2.14 Xếp hạng các NHTMNN theo Khả năng thanh khoản 56

Bảng 2.15 Xếp hạng các NHTMNN theo CAMEL 56

Bảng 2.16: Hiệu quả toàn bộ, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô của các NHTMNN Việt Nam giai đoạn 2008-2013 58

Bảng 2.17: Hiệu quả toàn bộ, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô của các NHTMNN Việt Nam giai đoạn 2001-2005 69

Bảng 2.18: Chỉ số Malmquist hàng năm của các NHTMNN giai đoạn 2008-2013 60 Bảng 2.19: Chỉ số Malmquist mỗi NHTMNN giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2008-2013 61

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Năm 2013 qua đi, vẫn còn đó những hệ lụy của cuộc khủng hoảng tài chính toàn năm 2008 và nợ công Châu Âu năm 2009 Sáu năm đã trôi qua (2008-2013), nền kinh tế Việt Nam vẫn trong tình trạng yếu ớt: GDP (tổng sản phẩm nội địa) tăng trưởng thấp, hàng chục nghìn doanh nghiệp đóng cửa, bất động sản đóng băng kéo dài, thị trường chứng khoán sa sút nghiêm trọng, nợ xấu gây nhức nhối trong toàn

hệ thống ngân hàng v.v Những hệ lụy từ khó khăn chung của nền kinh tế khiến nhiều ngân hàng thương mại phải đối mặt với hàng loạt thách thức mà nổi bật là tình trạng nợ xấu gia tăng và suy giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh

Trong bối cảnh đó, các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước (NHTMNN) với lợi thế có qui mô lớn, hệ thống mạng lưới rộng khắp đã và đang là lực lượng chủ lực trong việc tài trợ vốn cho các dự án lớn, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của đất nước Điều đó nói lên rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMNN không chỉ quan trọng đối với cổ đông, hệ thống ngân hàng mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của đất nước

Theo luật tổ chức tín dụng đưa ra định nghĩa Ngân hàng thương mại nhà nước: “Ngân hàng thương mại nhà nước là ngân hàng trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Ngân hàng thương mại nhà nước gồm ngân hàng do nhà nước

sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần thuộc nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” Tại Việt Nam, hiện có 5 ngân hàng thương mại nhà nước bao gồm: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Nhóm ngân hàng này chiếm trên 50% thị phần tín dụng của nền kinh tế Trong đó, 3 NHTMNN chi phối gồm VietinBank, Vietcombank và BIDV chiếm tới 27,6 tổng tài sản, 28,9 tổng huy động và 1 3 tổng cho vay của cả hệ thống, đóng vai trò trụ cột của ngành ngân hàng Vì vậy

Trang 13

đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh NHTMNN là rất cần thiết để có những giải pháp khắc phục những tồn tại và phát huy những mặt tích cực nhằm nâng cao năng lực tài chính, đóng vai trò đầu ngành của hệ thống NHTM

Vậy bằng phương pháp nào để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMNN một cách toàn diện? Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại có thể đánh giá bằng phương pháp định tính và phương pháp định lượng như mô hình CAMEL, phương pháp bao dữ liệu DEA, v.v Mô hình CAMEL

là phương pháp giúp các chuyên gia có thể đánh giá một cách toàn diện tình hình tài chính, sức khỏe tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM để từ đó tìm

ra biện pháp đối phó với những rủi ro tiềm ẩn, đưa ra các cơ chế giám sát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng Còn phương pháp bao dữ liệu DEA cũng được các nhà nghiên cứu ứng dụng rộng rãi để phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu

quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước giai đoạn 2008-2013 theo mô hình CAMEL và phương pháp bao

dữ liệu DEA”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

 Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước Cụ thể là các ngân hàng: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam và Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứu: Các báo cáo tài chính đã kiểm toán của các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước Việt Nam, giai đoạn 2008-2013

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

 Mục tiêu nghiên cứu:

Luận văn này nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau:

Trang 14

Thứ nhất: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương

mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo mô hình CAMEL

Thứ hai: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương

mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo phương pháp bao dữ liệu DEA

Thứ ba: Tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

của các Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước

 Câu hỏi nghiên cứu:

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, tác giả sẽ làm rõ ba vấn đề:

1) Hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc

sở hữu nhà nước theo hệ thống CAMEL như thế nào?

2) Hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần thuộc

sở hữu nhà nước theo phương pháp bao dữ liệu DEA ra sao?

3) Cần những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của

Ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước trong thời gian tới?

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn này được hoàn thành thông qua nhiều bước với các phương pháp nghiên cứu khác nhau Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo mô hình CAMEL, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả Còn phương pháp nghiên cứu định lượng được

áp dụng trong phương pháp bao dữ liệu DEA Ngoài ra, phương pháp tổng hợp và phân tích cũng được sử dụng xuyên suốt luận văn này

5 Tính mới của đề tài

Hệ thống đánh giá CAMEL dù ra đời cách đây gần 40 năm nhưng đến nay việc áp dụng mô hình CAMEL vẫn còn phù hợp để đánh giá được sự yếu kém và khả năng sụp đổ của hệ thống ngân hàng Kết hợp với phương pháp bao dữ liệu DEA sẽ cho tác giả đánh giá đầy đủ hơn về hiệu quả hoạt động kinh doanh của

Trang 15

NHTMNN Luận văn kết hợp hai mô hình nghiên cứu này là điều mà tác giả chưa tìm thấy trong các luận văn khác mặc dù tác giả đã tham khảo khá nhiều luận văn

Hạn chế trong ứng dụng mô hình CAMEL: mô hình này có 6 tiêu chí để đánh giá, tuy nhiên trong luận văn này, tác giả chỉ đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTMNN thông qua 5 tiêu chí đầu tiên: khả năng an toàn vốn, chất lượng tài sản có, năng lực quản trị, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu ra, luận văn có kết cấu 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, mô hình CAMEL và phương pháp bao dữ liệu DEA

Chương 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước theo mô hình CAMEL và phương pháp bao dữ liệu DEA

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO MÔ HÌNH CAMEL VÀ PHƯƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU DEA

1.1 Khái quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương

mại

Trong cơ chế thị trường, mục tiêu bao trùm của các tổ chức kinh tế là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi tổ chức kinh tế phải có chiến lược kinh doanh thích hợp Kinh doanh vốn được xem là một nghệ thuật, đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề

ở tầm chiến lược Theo đó, hiệu quả hoạt động luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh của tổ chức Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thể hiện trên các phương diện sau:

- Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài liệu, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu đề ra

- Hiệu quả đầu tư: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra

- Hiệu quả xã hội: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định, đó là giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn

xã hội hoặc từng khu vực kinh tế, giảm số người thất nghiệp, nâng cao trình độ cho người lao động, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cũng như đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động

Theo Ngô Đình Giao (1997) “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định” Nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao Còn ECB (European Central Bank)

Trang 17

(9/2010) lại cho rằng: “hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững” Trong khi đó, Adel Bino & Shorouq Tomar (2007) khi xét về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động ngân hàng, hai ông định nghĩa đơn giản: hiệu quả hoạt động là kết quả cuối cùng của hoạt động đó

Như vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, thể hiện mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào bỏ

ra để có được hiệu quả đặt ra cũng như khả năng giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác Trong luận văn này sẽ tiếp cận hiệu quả hoạt động kinh doanh trên ba phương diện:

Thứ nhất: hiệu quả hoạt động kinh doanh được xem xét trong mối quan hệ giữa kết quả đạt được với chi phí đã bỏ ra

Thứ hai: hiệu quả hoạt động kinh doanh được xem xét trong mối tương quan giữ đầu vào và đầu ra Tức là với đầu ra có được thì việc sử dụng đầu vào đã hợp lý hay chưa

Thứ ba: hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng được xem xét khía cạnh

an toàn, rủi ro

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân

hàng thương mại

1.2.1 Nhóm yếu tố khách quan

 Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước:

Ngành ngân hàng là một ngành huyết mạch của nền kinh tế, do đó môi trường kinh tế, chính trị xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động toàn ngành nói chung và NHTM nói riêng Khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định, quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, các doanh nghiệp trong nền kinh tế đảm bảo khả năng mượn được vốn và hoàn trả vốn, như vậy hoạt động của ngân hàng cũng sẽ ổn định

Trang 18

Khi nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực khác trong nền kinh

tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động, do đó cầu về vốn vay tăng làm cho khu vực ngân hàng dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng, nợ xấu trong ngân hàng cũng giảm

vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế tốt như vậy sẽ được nâng cao Như vậy, trong hoàn cảnh này, vai trò làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và đầu tư của ngân hàng được phát huy tối đa Trái lại, nhu cầu vốn vay giảm, nguy cơ nợ quá hạn tăng, nợ xấu cao khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn, khi đó hiệu quả hoạt động ngân hàng giảm mạnh

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Toàn cầu hoá tạo ra mối quan hệ gắn bó,

sự tuỳ thuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế Thông qua quá trình tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại dịch vụ đầu tư, toàn cầu hóa tạo cho các quốc gia nói chung và hệ thống ngân hàng các nước nói riêng nhiều cơ hội mới như tranh thủ được các nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, ngành ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình hội nhập, như phải cạnh tranh với những tập đoàn tài chính lớn mạnh, đầy tiềm lực về vốn, công nghệ, quản lý…

Do đó, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, song tiến trình tự do hoá tài chính ngân hàng ở mỗi quốc giai phải được tiến hành với những bước đi phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế đất nước đó, phải tiến hành phát huy nội lực

và nâng cao năng lực quản lý, phải thực hiện nhiều quá trình tự cải cách hoàn thiện

để đảm bảo hiệu quả hoạt động và nâng cao sức cạnh tranh so với các quốc gia khác

 Môi trường pháp lý:

Môi trường pháp lý là cơ sở tiền đề cho các ngành kinh tế phát triển nhanh

và bền vững Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành luật và trình độ dân trí Trong đó, hệ thống luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành nền kinh tế thị trường Nếu hệ

Trang 19

thống luật pháp được xây dựng không phù hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là một rào cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế

Xét về ngành ngân hàng nói riêng: đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, họ có một hệ thống luật khá đầy đủ và được sửa đổi bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của mình, môi trường pháp lý của họ đang ngày càng hoàn thiện hơn, hệ thống ngân hàng theo đó đáp ứng ngày càng hiệu quả vai trò trung gian tài chính của mình

Ngược lại, môi trường pháp lý sẽ gây rủi ro, trở ngại cho các hoạt động của ngân hàng khi môi trường pháp lý đó chưa hoàn thiện hoặc cách thức thi hành còn chưa đảm bảo tính thời gian, tính nghiêm minh – đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển

1.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan

 Năng lực tài chính:

Trước tiên, yếu tố tài chính quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là vốn Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trang bị công nghệ Ngoài ra, vốn chủ sở hữu dùng để bù đắp các khoản thiệt hại từ rủi ro trong quá trình hoạt động như nợ khó đòi, lỗ trong hoạt động nghiệp vụ chứng khoán Do đó, vốn chủ sở hữu ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động ngân hàng

Như vậy, vốn là điều kiện cơ bản đảm bảo quy mô kinh doanh của một ngân hàng và khả năng bù đắp tổn thất có thể xảy ra, quyết định phần lớn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Tiếp theo, tài sản có cũng là một nhân tố tác động lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Một NHTM phải đảm bảo toàn bộ giá trị tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ thanh toán ở mọi thời điểm, để tránh mất khả năng thanh toán dẫn đến nguy cơ phá sản Tuy nhiên, nếu chỉ xét về khối lượng tài sản có thôi thì chưa đủ

mà cần phải xem các tài sản có chuyển thành tiền ngay được hay không, để tránh

Trang 20

rơi vào trường hợp có đủ khả năng trừ nợ nhưng lại thiếu thanh khoản để trang trải các khoản nợ tức thời, cũng coi như ngân hàng thiếu khả năng thanh toán và có nguy cơ dẫn đến phá sản

Các ngân hàng phải giữ rủi ro trong giới hạn nhất định, đảm bảo thanh khoản theo mức độ cần thiết trong kết cấu tài sản có và mức độ sinh lãi chấp nhận để có thể đứng vững và cạnh tranh được trong môi trường kinh doanh, quá chú trọng đến yếu tố này hoặc yếu tố khác thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh Nếu một ngân hàng thận trọng về rủi ro, nâng cao quá mức về thanh khoản thì sẽ dẫn đến lợi nhuận giảm, nguy hại hơn là làm cho khách hàng mất tin tưởng, đi tìm nơi khác có lợi cho họ hơn Ngược lại, nếu chấp nhận rủi ro cao, thanh khoản thấp để

mở rộng các nghiệp vụ sinh lời sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán, dễ dẫn đến phá sản

 Năng lực quản trị, điều hành:

Quản trị ngân hàng có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Năng lực quản trị điều hành trước hết phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để ứng phó với những tình huống trong thị trường liên tục biến đổi Tiếp theo năng lực quản trị thể hiện qua việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện thành công các mục tiêu, chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình của ngân hàng Năng lực quản trị, điều hành còn được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo được tập hợp đầu

ra cực đại

 Năng lực công nghệ

Trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu chỉ duy trì cung ứng các dịch vụ truyền thống thì các ngân hàng không thể nào giữ vững vị thế của mình được Chính vì vậy, trong thập niên qua công nghệ thông tin được xem như một xu hướng chính trong hoạt động ngân hàng hiện đại, các giải pháp kỹ thuật được lựa chọn phù hợp đảm bảo cho sự phát triển công nghệ tin học ngân hàng

Trang 21

đúng hướng, giúp các ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, chiếm lĩnh thị phần bằng các thiết bị giao dịch tự động, tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Xu hướng mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển các giao dịch ngân hàng điện tử đã góp phần nâng cao năng lực quản lý của hệ thống ngân hàng

Trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các ngân hàng đã và đang ngày càng nỗ lực để ứng dụng công nghệ hiện đại vào các hoạt động tạo điều kiện thuận lợi để người dân, các nhà đầu tư tiếp cận sản phẩm, dịch

vụ ngân hàng tiên tiến – đảm bảo hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh

 Nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực là đội ngũ giúp đảm bảo xây dựng và thực hiện thành công các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch kinh doanh đảm bảo khả năng ứng phó tốt với biến động, giành lợi thế cạnh tranh trên từng phân đoạn thị trường, đảm bảo an toàn

và lành mạnh của toàn hệ thống ngân hàng

Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi những dịch vụ mới, chất lượng cao hơn

từ ngân hàng, do đó đội ngũ lao động cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp thời với những biến đổi của thị trường Nguồn nhân lực có đạo đức nghề nghiệp và giỏi

về nghiệp vụ chuyên môn sẽ giúp ngân hàng ngăn ngừa và giảm thiểu những rủi ro

có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và giúp giữ chân được khách hàng

Hay nói cụ thể là đội ngũ nhân viên giỏi sẽ giúp giảm chi phí hoạt động và tăng lợi nhuận trong kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, khi thiếu nguồn nhân lực, nhất là các ngân hàng mới ra buộc phải đẩy chi phí này lên, thậm chí sẽ dẫn đến

sự cạnh tranh hỗn loạn trên thị trường nhân lực Sự thay đổi liên tục về nhân sự ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng

Trang 22

1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương

mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước

1.3.1 Đánh giá theo mô hình CAMEL

1.3.1.1 Tóm lược về mô hình CAMEL

Mô hình CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính Việc đánh giá dựa trên 5 tiêu chí: vốn, chất lượng tài sản, năng lực quản trị, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản của tổ chức tài chính CAMEL

là những chữ cái viết tắt của các chỉ tiêu cấu thành hệ thống xếp hạng đối với một TCTD gồm:

- C: Capital Adequacy – Khả năng an toàn vốn

- A: Assets Quality – Chất lượng tài sản

- M: Management Competence – Năng lực quản trị

- E: Earning Strength – Khả năng sinh lời

- L: Liquidity – Khả năng thanh khoản

Thành phần thứ sáu là S: Sensitivity to market risk - Mức độ nhạy cảm thị trường được bổ sung vào năm 1996 nhằm nhấn mạnh về quản lý của một tổ chức của rủi ro

Hệ thống đánh giá CAMEL do Cục Quản lý các tổ chức tín dụng Hoa Kỳ (National Credit Union Administration - NCUA) xây dựng Sau khủng hoảng kinh

tế châu Á 1997, hệ thống đánh giá CAMEL được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (Worldbank) khuyến nghị áp dụng ở các nước bị khủng hoảng như một trong các biện pháp để tái thiết khu vực tài chính

Trước đây, Việt Nam không áp dụng trực tiếp CAMEL, cho đến khi thành lập Quy chế xếp loại các Tổ chức tín dụng Việt Nam (1998) thì CAMEL đã được công nhận Cho đến nay, việc xây dựng một hệ thống xếp hạng rủi ro theo tiêu chuẩn CAMELS không chỉ hữu ích với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước mà còn là một công cụ phòng ngừa rủi ro rất tích cực đối với các ngân hàng thương mại (NHTM)

Trang 23

 Khả năng an toàn vốn

An toàn vốn đã là một trong các chỉ số nổi bật của tình hình tài chính của một hệ thống ngân hàng Nó rất hữu ích bởi để bảo tồn và bảo vệ sự tự tin các bên liên quan và ngăn ngừa các ngân hàng khỏi bị phá sản của ngân hàng, qua đó phản ánh liệu các ngân hàng có đủ vốn để chịu thiệt hại bất ngờ phát sinh trong tương lai

Các thành phần an toàn vốn tập trung vào: mức độ và chất lượng của vốn; tình hình tài chính tổng thể; Khả năng quản lý để đáp ứng nhu cầu thêm vốn gia tăng; bản chất, xu hướng và khối lượng tài sản có vấn đề, và tính đầy đủ của phân

bổ các khoản mất mát do cho thuê và cho vay, và dự trữ giá trị khác khác; thành phần cân đối kế toán; rủi ro đại diện bởi các hoạt động ngoại bảng; chất lượng và sức mạnh của thu nhập; tính hợp lý của cổ tức; triển vọng và kế hoạch phát triển, cũng như các kinh nghiệm quá khứ trong quản lý phát triển; và tiếp cận thị trường vốn và các nguồn vốn khác, bao gồm hỗ trợ cung cấp bởi công ty cổ phần mẹ

Chất lượng tài sản có

Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một ngân hàng Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập trung ở phía tài sản của nó, nên cùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn

Tài sản có của ngân hàng bao gồm các tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời, trong đó tài sản sinh lời luôn chiếm phần chủ yếu Vì vậy, nói đến chất lượng tài sản là nói đến chất lượng tài sản có sinh lời, mà trước hết được phản ánh ở chất lượng của hoạt động tín dụng Nếu một ngân hàng có chất lượng hoạt động tín dụng cao, thể hiện qua việc thu nợ gốc và lãi đúng hạn, bảo toàn được vốn cho vay, tỷ lệ

nợ quá hạn thấp, vòng quay vốn tín dụng nhanh, thì ngân hàng đó được đánh giá về

cơ bản là hoạt động an toàn và hiệu quả

Bên cạnh chất lượng hoạt động tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng còn thể hiện ở các tài sản có khác như danh mục đầu tư chứng khoán, tài sản bằng

Trang 24

ngoại tệ, vàng bạc, đá quý Chất lượng những tài sản này thường thể hiện ở cơ cấu

và trạng thái ngoại hối, chất lượng và trạng thái của danh mục đầu tư Những khoản mục này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của một ngân hàng Do đó, cần thiết đánh giá chất lượng tài sản và mức độ hoạt động của ngân hàng một cách đầy đủ và chính xác

Đánh giá về chất lượng tài sản của các tổ chức tài chính dựa trên: tính đầy

đủ các tiêu chuẩn bảo lãnh phát hành, tính đúng đắn của thực tiễn quản lý tín dụng,

và sự phù hợp của hoạt động nhận dạng rủi ro; cấp độ, phân phối, mức độ nghiêm trọng, và xu hướng của vấn đề, phân loại, tái cấu trúc, nợ quá hạn, nợ xấu trên cả giao dịch nội bảng và ngoại bảng; tính đầy đủ của dự phòng thiệt hại của các khoản cho vay, cho thuê và dự trữ giá trị tài sản khác; rủi ro tín dụng phát sinh từ hoặc giảm xuống do giao dịch ngoại bảng; đa dạng và chất lượng của danh mục cho vay

và đầu tư; mức độ hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán; sự tồn tại của tập trung tài sản; tính đầy đủ của các khoản vay và đầu tư, chính sách, thủ tục và thực tiễn; khả năng quản lý để quản lý tài sản của nó đúng cách, bao gồm việc xác định kịp thời và tập hợp các tài sản có; tính đầy đủ của kiểm soát nội bộ và hệ thống thông tin quản lý cũng như khối lượng và bản chất của những tài liệu tín dụng ngoại

lệ

 Năng lực quản trị

Năng lực quản trị được xem là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống phân tích CAMEL, bởi vì quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công trong hoạt động của ngân hàng

Đánh giá thành phần liên quan đến khả năng và thực hiện quản lý và ban giám đốc được đánh giá theo: cấp độ và chất lượng của giám sát và hỗ trợ bởi hội

đồng quản trị và các cấp quản lý; khả năng của hội đồng quản trị và các cấp quản lý trong việc lập kế hoạch và đối phó với rủi ro; tính đầy đủ và phù hợp với chính sách

và kiểm soát nội bộ; độ chính xác, kịp thời và hiệu quả của thông tin quản lý và giám sát rủi ro hệ thống; tính đầy đủ của kiểm toán và kiểm soát nội bộ; tính tuân

Trang 25

thủ pháp luật và các quy định; đáp ứng các khuyến nghị từ kiểm toán viên và cơ quan giám sát; mức độ chuyên sâu và kế thừa trong công tác quản lý; mức độ ảnh hưởng chi phối sự tập trung của chính quyền; tính hợp lý của chính sách bồi thường; sẵn sàng chứng minh để phục vụ cho nhu cầu hợp pháp về ngân hàng của cộng đồng; và hiệu suất tổng thể của tổ chức và danh mục rủi ro của nó

 Khả năng sinh lời

Bản chất của các ngân hàng thương mại là tìm kiếm lợi nhuận Vì vậy, khả năng sinh lời của các TCTD hết sức quan trọng, là thước đo trọng tâm để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các NHTM

Đánh giá thu nhập của một tổ chức tập trung vào: mức độ thu nhập, bao gồm khuynh hướng và tính ổn định; khả năng cung cấp cho đủ vốn thông qua lợi nhuận giữ lại; chất lượng và các nguồn thu nhập; mức chi phí liên quan đến hoạt động; tính đầy đủ của hệ thống ngân sách, quy trình dự báo và các hệ thống thông tin quản lý; đầy đủ các quy định để duy trì trợ cấp cho vay, cho thuê tài khoản thiệt hại và trợ cấp định giá khác; và thu nhập tiếp xúc với rủi ro thị trường như lãi suất, ngoại hối và rủi ro về giá v.v

 Thanh khoản

Thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của một loại tài sản ở mức

độ nhanh với chi phí thấp Thông thường một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả năng sinh lợi càng thấp và ngược lại Thanh khoản kém là một trong những nguyên nhân dẫn đến phá sản ngân hàng Chứng tỏ thanh khoản là nhiệm vụ hết sức quan trọng của bất kỳ ngân hàng nào

Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời

Trang 26

Đánh giá thành phần thanh khoản dựa trên: tính sẵn có của tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt khi chưa tới hạn với chi phí thấp; tính đầy đủ của nguồn thanh khoản so với hiện nay và nhu cầu trong tương lai và khả năng của các tổ chức

để đáp ứng nhu cầu thanh khoản mà không ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động hoặc tình trạng của nó; khả năng tiếp cận với thị trường tiền tệ và các nguồn kinh phí khác; mức độ đa dạng hóa các nguồn tài trợ; mức độ phụ thuộc vào ngắn hạn, nguồn biến động của quỹ, bao gồm các khoản vay và tiền gửi môi giới, để tài trợ cho tài sản dài hạn; xu hướng và sự ổn định của tiền gửi; khả năng chứng khoán hóa

và bán các công cụ nợ của tài sản và năng lực quản lý để xác định đo lường, giám sát và kiểm soát đúng khả năng thanh khoản của tổ chức, bao gồm cả tính hiệu quả của các chiến lược quản lý quỹ, chính sách thanh khoản, hệ thống thông tin quản lý

và kế hoạch kinh phí dự phòng

 Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường

Phân tích mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của thay đổi về lãi suất hoặc tỷ giá hoặc cả lãi suất hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ phần Để làm được điều này, cần quan tâm đến khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa ra dấu hiệu chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung

Sự nhạy cảm với thành phần rủi ro thị trường là dựa trên: Độ nhạy thu nhập các tổ chức tài chính để thay đổi bất lợi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa hoặc giá cổ phiếu; khả năng quản lý để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát tiếp xúc với rủi ro thị trường; bản chất và sự phức tạp của rủi ro lãi suất phát sinh từ

vị trí phi thương mại; và tính chất và sự phức tạp của rủi ro thị trường phát sinh từ giao dịch và các hoạt động nước ngoài

1.3.1.2 Đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ

phần thuộc sở hữu nhà nước theo mô hình CAMEL

 Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng an toàn vốn (Prasad & G.Ravider,

2012; Sushendra Kumar Misra & Parvesh Kumar Aspal, 2013)

Trang 27

- Tỷ lệ an toàn vốn (CAR - Capital Adequacy Ratio)

Tỷ lệ an toàn vốn là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng

CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%

CAR thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống ngân hàng Tỷ lệ này càng cao cho thấy ngân hàng càng khỏe mạnh và do đó càng bảo vệ được nhà đầu tư và người gửi tiền tốt hơn

- Tỷ lệ đòn bẩy (Debt-Equity ratio)

Các TCTD thường có xu hướng tối đa hoá tỷ lệ đòn bẩy đến mức cho phép

để tăng khả năng sinh lời Tỷ lệ này đại diện cho mức độ đòn bẩy của một ngân hàng Nó cho thấy bao nhiêu vốn kinh doanh của ngân hàng được tài trợ thông qua vốn chủ sở hữu và bao nhiêu thông qua nợ Nó được tính bằng cách chia tổng số các khoản vay với giá trị tài sản của cổ đông Tỷ lệ cao hơn là dấu hiệu của ít bảo vệ người gửi tiền và các chủ nợ và ngược lại

- Tỷ lệ Tổng dư nợ trên Tổng tài sản (Total Advances to Total Assets)

Đây là một tỷ lệ chỉ ra mối quan hệ giữa tổng khoản vay và tổng tài sản Tỷ

lệ này cho thấy sự năng nổ của ngân hàng cho vay nhằm thu được lợi nhuận tốt hơn

Tỷ lệ cao được ưa thích hơn tỷ lệ thấp

- Tỷ lệ trái phiếu chính phủ trên tổng đầu tư (Government Securities to Total

Trang 28

 Nhóm chỉ tiêu đo lường chất lượng tài sản có (Prasad & G.Ravider, 2012;

Sushendra Kumar Misra & Parvesh Kumar Aspal, 2013)

- Tỷ lệ tổng nợ xấu trên tổng dư nợ (Gross NPL to Advance)

Tỷ lệ nợ xấu cho biết bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên có thể

là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho vay Ngược lại, tỷ lệ này thấp so với các năm trước cho thấy chất lượng các khoản tín dụng được cải thiện

- Tỷ lệ nợ xấu ròng trên tổng dư nợ ròng (Net NPL to Net Advances)

Tỷ lệ này được xem là tiêu chuẩn tốt nhất để đánh giá chất lượng tài sản có của ngân hàng bởi nó đã loại trừ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Nó là tỷ lệ giữa

nợ xấu ròng (Tổng nợ xấu – Dự phòng rủi ro tín dụng) và tổng nợ ròng (Tổng dư nợ

- Dự phòng rủi ro tín dụng)

- Tỷ lệ nợ xấu ròng trên tổng tài sản (Net NPL to Total Assets)

Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả của ngân hàng trong việc đánh giá rủi ro tín dụng và khôi phục nợ, tỷ lệ này càng thấp chất lượng của món vay càng tốt

- Tỷ lệ Tổng đầu tư trên tổng tài sản (Total Investments to Total Assets)

Tỷ lệ này chỉ ra mức độ phân bổ các tài sản trong đầu tư so với tổng khoản vay Tỷ lệ này được sử dụng như một công cụ để đo lường tỷ lệ phần trăm của tổng

số tài sản đầu tư dài hạn, tỷ lệ này càng cao cho thấy cho thấy chính sách thận trọng của ngân hàng để đem lại phương thức bảo vệ cho các khoản đầu tư chống lại nợ xấu

 Nhóm chỉ tiêu đo lường năng lực quản trị (Prasad & G.Ravider, 2012;

Sushendra Kumar Misra & Parvesh Kumar Aspal, 2013)

- Tổng dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động (Total Advances to Total

Deposits)

Trang 29

Tỷ lệ này được xác định tổng dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động nhằm phản ánh năng lực và hiệu quả quản lý của quản lý ngân hàng ở mức độ huy động vốn có đáp ứng được nhu cầu cho vay hay không Nếu tỷ lệ này > 100% , chứng tỏ huy động vốn không đáp ứng được nhu cầu vay vốn của ngân hàng Trong trường hợp này rủi ro tín dụng có thể xảy ra sẽ gắn với rủi ro thanh khoản

- Lợi nhuận trên một nhân viên (Profit per Employee)

Lợi nhuận trên một nhân viên được tính bằng cách chia lợi nhuận sau thuế của ngân hàng với tổng số nhân viên Tỷ lệ này càng cao, thì là hiệu quả quản lý của ngân hàng càng cao và ngược lại

- Chi phí trên một nhân viên (Expenditure per Employee)

Chi phí trên một nhân viên được tính bằng cách chia chi phí hoạt động với tổng số nhân viên Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ công tác quản trị chi phí của ngân hàng càng hiệu quả

- Tỷ lệ chi phí ngoài lãi trên tổng thu nhập

Tỷ lệ chi phí chi phí ngoài lãi trên tổng thu nhập cho thấy rằng một đồng thu nhập được tạo ra phải mất bao nhiêu đồng chi ngoài lãi Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ công tác quản trị của ngân hàng đó càng hiệu quả

 Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời (Prasad & G.Ravider, 2012;

Sushendra Kumar Misra & Parvesh Kumar Aspal, 2013)

- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA - Return on Assets)

ROA được xác định bởi lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản có của ngân hàng Tỷ lệ này phản ánh lợi nhuận trên tài sản sử dụng hoặc hiệu quả trong việc sử dụng tài sản Tỷ lệ này càng cao phản ánh khả năng sinh lời của một ngân hàng trong tương lai càng lớn Đây là chỉ tiêu quan trọng và rất phổ biến để đo lường khả năng sinh lời của NHTM mà còn sử dụng để đo lường khả sinh lợi của các doanh nghiệp nói chung

- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on Equity)

Trang 30

ROE cũng là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến để đo lường khả năng sinh lời của cả ngân hàng và doanh nghiệp ROE được xác định bởi lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu của ngân hàng Chỉ số này nói lên rằng một đồng vốn cổ đông

bỏ ra và thu về bao nhiêu đồng lời

- Tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên trên Tổng tài sản có sinh lời (NIM - Net Interest Margin to Total Assets)

NIM là chỉ số riêng biệt đo lường khả năng sinh lời của các NHTM Tỷ lệ này được xác định bởi thu nhập lãi cận biên trên tổng tài sản có sinh lời (Tổng tài sản có sinh lãi = Tổng tài sản – Tổng tài sản không sinh lời) Chỉ số này quan trọng bởi nó giúp ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của tài sản Chỉ tiêu này phản ánh khá tốt hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng Tuy nhiên, nó không phản ánh đầy đủ tính sinh lời của một ngân hàng bởi tính sinh lời của một TCTD chịu ảnh hưởng bởi mô hình riêng biệt, đặc thù hoạt động, thành phần khách hàng,

và chiến lược huy động vốn NIM cao thường xảy ra ở những ngân hàng với mô hình huy động vốn và cho vay truyền thống trong khi các Ngân hàng Nhà nước với NIM thấp nhưng vẫn hoạt động hiệu quả vì quy mô rộng lớn của họ

- Lợi nhuận hoạt động trên tổng tài sản (Operating Profit to Total Assets)

Chỉ tiêu này cho thấy rằng một đồng tài sản thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng hoạt động càng hiệu quả

 Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản (Prasad & G.Ravider,

2012; Sushendra Kumar Misra & Parvesh Kumar Aspal, 2013)

- Tiền gửi khách hàng trên tổng nguồn vốn

Nguồn vốn của ngân hàng được cấu thành từ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu

Nợ phải trả bao gồm các khoản nợ chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi và vay các TCTD khác, tiền gửi khách hàng, các công cụ phái sinh, … Trong đó tiền gửi là khoản mục cần được xem xét trong khoản mục thanh khoản vì nó là nguồn vốn mà người gửi tiền có thể rút ra để đáp ứng nhu cầu của chính họ Tỷ lệ tiền gửi

Trang 31

trên tổng nguồn vốn cao cũng ngầm ý rằng TCTD phải có một hoạch định linh hoạt

để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của khách hàng

- Tài sản thanh khoản trên tổng tài sản (Liquid Assets to Total Assets)

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia tài sản thanh khoản cho tổng tài sản, chỉ tiêu này có nghĩa là một đồng tài sản có của ngân hàng có bao nhiêu đồng

để đáp ứng nhu cầu thanh toán

Tài sản thanh khoản của ngân hàng gồm: tiền mặt, vàng bạc và đá quý; tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; tiền, vàng gửi tại và cho vay các tổ chức tín dụng khác đáo hạn trong vòng ba tháng; chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư đáo hạn trong vòng ba tháng

- Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng vốn huy động (Liquid Assets to Total Deposits)

Tỷ lệ ngụ ý rằng có bao nhiêu đồng phục vụ thanh toán cho một đồng vốn huy động được từ khách hàng và các đối tác có liên quan Tỷ lệ này càng cao trong điều kiện bình thường sẽ không tốt cho ngân hàng bởi vốn huy động được phải được cho vay hoặc đầu tư mới đảm bảo được khả năng trả lãi huy động cũng như tạo thu nhập để ngân hàng tái đầu tư

- Tỷ lệ chứng khoán chính phủ trên tổng tài sản (Approved Securities to Total Asset)

Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia chứng khoán chính phủ trên tổng tài sản, chỉ tiêu này nhằm đo lường rủi ro đầu tư liên quan đến tài sản Chứng khoán chính phủ gồm tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc Chứng khoán chính phủ thường được coi là không có rủi ro tín dụng Vì vậy, tỷ lệ ngân hàng nắm giữ chứng khoán chính phủ càng lớn thì khả năng thanh khoản càng cao

1.3.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình CAMEL

Ưu điểm

Trang 32

Các tiêu chí đánh giá năng lực và tình hình tài chính được định lượng và áp dụng đồng nhất với tất cả các ngân hàng

Việc đánh giá hiệu quả và mức độ rủi ro của một ngân hàng có thể dễ dàng thực hiện qua các việc xếp hạng đánh giá trong nhiều thời kỳ liên tiếp và dưới cùng những chỉ tiêu thống nhất

Việc lượng hóa các đánh giá theo mô hình này có tính khách quan cao và dễ dàng tiếp thu

Nhược điểm

Đánh giá dựa trên số liệu trong báo cáo tài chính nên khi các báo cáo tài chính phản ánh chưa đầy đủ, thiếu chính xác, không kịp thời thì ảnh hưởng đến kết quả của mô hình

Kết quả mô hình CAMEL cơ bản chỉ xét các yếu tố tài chính mà không xét đến các yếu tố phi tài chính Việc thiếu đánh giá các yếu tố phi tài chính, các yếu tố xuất phát từ quan hệ đối tác kinh doanh dẫn đến kết quả đánh giá mô hình không toàn diện trong xu thế hiện tại

Ngoài ra, mô hình CAMEL chưa phản ánh được sự mất cân đối trong cơ cấu danh mục tín dụng như cho vay tập trung quá nhiều vào một lĩnh vực, khi rủi ro ngành xảy ra sẽ dẫn đến nợ xấu gia tăng

1.3.2 Đánh giá theo phương pháp bao dữ liệu DEA

1.3.2.1 Sơ lược về phương pháp bao dữ liệu DEA

DEA (Data Envelopment Analysis) là một cách tiếp cận phi tham số được khởi xướng bởi Farrel (1957), và sau này được tiếp tục phát triển bởi Charnes Cooper và Rhodes (1978), Fare, Grosskopf và Lowell (1985, 1994) và nhiều nhà khoa học khác nhằm đo lường hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp hay đơn vị (Decision Making Unit – DMU) Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng, nếu có thể ước lượng được đường giới hạn khả năng sản xuất của một DMU dựa trên tập hợp các biến đầu vào cho trước, thì có thể xác định được hiệu quả của việc

Trang 33

sử dụng các yếu tố đầu vào đó dựa trên tỷ lệ giữa kết quả đạt được (thực tế) và kết quả lý thuyết (khả năng sản xuất)

Theo đó thì, hiệu quả kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trên cơ sở so sánh lợi ích (doanh thu, lợi nhuận,…) thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của ngân hàng Khả năng sản xuất là tập hợp tất cả những điểm mà tại đó doanh nghiệp đạt được hiệu quả Pareto

Trong các ngành hoạt động dịch vụ phức tạp như ngành ngân hàng có rất nhiều mối quan hệ giữa các đầu vào đầu ra là không xác định, đặc biệt khi chúng ta xem xét mối quan hệ đồng thời nhiều đầu vào và đầu ra Trong khi phương thức tiếp cận tham số đòi hỏi phải chỉ định cụ thể dạng hàm, và điều này có thể dẫn đến sai sót nếu không chỉ định đúng các yếu tố đầu vào và đầu ra Sự ra đời của DEA đã khắc phục được những nhược điểm này

Theo DEA thì một đơn vị hoạt động tốt nhất sẽ có chỉ số hiệu quả là 1, và các đơn vị hoạt động phi hiệu quả có chỉ số <1 Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng những thông tin thu được qua phân tích DEA rất có ích cho các nhà quản

lý trong việc nhận diện thực tiễn hoạt động của đơn vị mình, từ đó có những hoạch định và chiến lược linh hoạt để cải thiện tình hình đó

1.3.2.2 Đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh

DEA được ứng dụng để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua các chỉ tiêu sau đây:

 Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô

Charnes, Cooper và Rhodes đã áp dụng kỹ thuật quy hoạch tuyến tính để xác định hiệu quả kỹ thuật (1978) Tiếp đó, Fare Grosskopf và Lowell (1985) đã phân rã hiệu quả kỹ thuật thành hiệu quả theo quy mô và các thành phần khác Hiệu quả theo quy mô gồm: hiệu quả không đổi theo quy mô, hiệu quả không tăng theo quy mô, và hiệu quả biến đổi theo quy mô

Trang 34

DEA cho thấy có hai nguồn gây ra tính không hiệu quả về mặt kỹ thuật toàn

bộ Thứ nhất là tính không hiệu quả về quy mô Thứ hai là tính không hiệu quả về

kỹ thuật thuần Kết quả của DEA bao gồm: hiệu quả kỹ thuật toàn bộ, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô

Hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (crste) được xác định trong điều kiện sản lượng không đổi theo quy mô Khi crste = 1 cho thấy rằng ngân hàng đã hoạt động tối ưu Tức là ngân hàng không bị lãng phí nguồn lực đầu vào Còn khi crste<1 nói lên rằng ngân hàng chưa hoạt động tối ưu, tức là việc sử dụng các yếu tố đầu vào còn bị lãng phí

Hiệu quả kỹ thuật thuần (vrste) được xác định trong điều kiện sản lượng thay đổi theo quy mô Tương tự hiệu quả kỹ thuật toàn bộ, khi vrste=1 được hiểu là ngân hàng đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật trong điều kiện quy mô thay đổi và khi vrste<1, hiệu quả hoạt động của ngân hàng bị giảm sút bởi việc thay đổi quy mô

Hiệu quả quy mô được xác định thông qua tỷ số crste/vrste Khi tỷ số này lớn hơn 1, việc gia tăng quy mô sẽ gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tỷ

số này nhỏ hơn 1, việc gia tăng quy mô sẽ giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng Khi tỷ số này bằng 1 hiệu quả hoạt động không đổi theo quy mô

số Malmquist sẽ dẫn tới việc giá trị của bộ phận đó >1 (hay <1) Chỉ số này lớn hơn

1 có nghĩa là thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp gia tăng Năng suất giảm sẽ gắn với việc chỉ số Malmquist nhỏ hơn 1

Trang 35

1.3.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình DEA

Có thể sử dụng trong trường hợp nhiều yếu tố đầu ra và nhiều yếu tố đầu vào

Có thể sử dụng để ước lượng riêng biệt các loại hiệu quả sản xuất như hiệu quả kỹ thuật toàn bộ, hiệu quả kỹ thuật thuần, hiệu quả quy mô sản xuất, chỉ số thay đổi tiến bộ công nghệ

Nhược điểm

Chỉ cho phép so sánh hiệu quả của những đơn vị sản xuất trong cùng một mẫu/tổng thể nghiên cứu Điều này có nghĩa là hiệu quả sản xuất của một đơn vị không thể so sánh với hiệu quả của những đơn vị trong mẫu/tổng thể khác Ví dụ: không thể so sánh hiệu quả hoạt động của nhóm NHTMCP thuộc sở hữu nhà nước

và nhóm NHTMCP thuộc sở hữu tư nhân

1.4 Tổng hợp các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh

ngân hàng dựa vào mô hình CAMEL và phương pháp bao dữ liệu DEA

1.4.1 Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng

dựa vào mô hình CAMEL

1.4.1.1 Nghiên cứu nước ngoài

Said và Saucier (2003) sử dụng phương pháp xếp hạng CAMEL dựa trên

dữ liệu 1993-1999 của các ngân hàng để đánh giá tính thanh khoản, khả năng thanh toán và hiệu quả của các ngân hàng Nhật Bản Nghiên cứu dựa trên các tiêu chí: an

Trang 36

toàn vốn, chất lượng tài sản và năng lực quản lý, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của ngân hàng không phải là quản trị không hiệu quả, mà là tiêu chuẩn về an toàn vốn thấp và các vấn đề về chất lượng tài sản có Đáng kể các ngân hàng ốm yếu hiệu quả trên trung bình có thể giải thích bởi một chiến lược sống còn thúc đẩy nâng cao năng lực quản trị

Prasuna (2003) đã phân tích hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Ấn Độ bằng cách áp dụng mô hình CAMEL dựa trên dữ liệu của 65 ngân hàng trong giai đoạn 2003-2004 Các ngân hàng khác nhau được xếp hạng theo 5 tiêu chí: an toàn vốn (capital adequacy), chất lượng tài sản (asset quality), quản lý hiệu quả (management efficiency), chất lượng thu nhập (earning quality) và thanh khoản (liquidity) Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo các tiêu chuẩn của mô hình CAMEL của tất cả các Ngân hàng Nhà nước ở Ấn Độ,

do đó, có nghĩa rằng hiệu suất tổng thể của các Ngân hàng Nhà nước là khác nhau Ngoài ra, tác giả kết luận rằng các ngân hàng có nhu cầu cải thiện hiệu suất của họ

để đạt được các tiêu chuẩn mong muốn

Gupta và Kaur (2008) đã đánh giá hiệu quả hoạt động của năm ngân hàng đứng đầu và năm ngân hàng đứng cuối của các ngân hàng khu vực tư nhân Ấn Độ giai đoạn 2003-2007 dựa vào mô hình CAMEL Họ cũng xếp hạng 20 ngân hàng tư nhân cũ và 10 ngân hàng tư nhân mới trên cơ sở mô hình CAMEL

Prasad và G.Ravinder (2012) đánh giá hiệu quả của lĩnh vực ngân hàng bằng mô hình CAMEL cho 20 ngân hàng quốc hữu hóa giai đoạn 2006-2010 ở Ấn

Độ Hai tác giả này đã xếp hạng các ngân hàng này dựa trên các nhóm tiêu chí an toàn vốn, chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ngân hàng trung bình Andhra xếp hạng thứ nhất, kế tiếp là ngân hàng Barodo và Punjap, xếp hạng cuối cùng là ngân hàng Central bank of Indian

Trang 37

Ngoài ứng dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, CAMEL còn sử dụng để dự đoán sự đổ vỡ của ngân hàng Nurazi và Evans (2005) kết luận rằng tỷ lệ an toàn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập, khả năng thanh khoản và quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích sự thất bại của ngân hàng ở Indonesia Olweny và Shipo (2011) phát hiện ra rằng chất lượng tài sản kém

và các tính thanh khoản thấp là hai nguyên nhân chính của thất bại ngân hàng ở Kenya

1.4.1.2 Nghiên cứu trong nước

Trần Thị Thanh Hòa (2012) đã phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu theo CAMEL giai đoạn 1993-2011 Tác giả này cũng

đã so sánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng này với 8 ngân hàng có quy mô tổng tài sản cao nhất tính đến thời điểm cuối năm 2011

Nghiên cứu này kết luận rằng chất lượng tín dụng của ACB khá tốt nhưng

đã có dấu hiệu sụt giảm từ năm 2011, khả năng thanh khoản tốt, khả năng an toàn vốn đảm bảo ACB đã phát triển nhanh, vượt qua các ngân hàng đồng hạng Sacombank, Techcombank, Eximbank để dành vị trí hàng đầu và chỉ đứng thứ 5, sau 4 Ngân hàng Nhà nước là Agribank, BIDV, Vietinbank và Vietcombank

Như vậy, đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng bằng mô hình CAMEL đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài sử dụng rộng rãi Ở trong nước, theo những tài liệu mà tác giả thu thập được mô hình CAMEL chưa được ứng dụng nhiều

1.4.2 Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng

dựa vào phương pháp bao dữ liệu DEA

1.4.2.1 Nghiên cứu nước ngoài

Tác giả đã tham khảo một số nghiên cứu liên quan đến hiệu quả hoạt động các tác giả ở nước ngoài theo phương pháp bao dữ liệu DEA sau đây:

Ong Tze San và cộng sự (2011) ứng dụng DEA để so sánh hiệu quả hoạt

động của ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài tại Malaysia Các biến được

Trang 38

chọn: Các yếu tố đầu vào là Tổng nguồn vốn huy động (Total deposits), tài sản cố định (Fixed assets) và các yếu tố đầu ra: Tổng nợ (Total loans), tổng đầu tư (total investments) Nghiên cứu này dựa vào dữ liệu bảng của 9 ngân hàng nội địa và 12 ngân hàng nước ngoài trong giai đoạn 2002-2009 Kết quả cho thấy ngân hàng nội địa hoạt động hiệu quả hơn ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nội địa quản lý tương đối hiệu quả hơn trong việc kiểm soát chi phí của họ

Anne W.Kamau (2011) ứng dụng phương pháp bao dữ liệu DEA để xem xét

hiệu quả trung gian và khả năng sản xuất của lĩnh vực ngân hàng tại Kenya dựa vào báo cáo thường niên của 40 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 1997-2009 với các yếu tố đầu vào: Tổng huy động vốn (deposits), vốn (capital) và lao động (labour) và các yếu tố đầu ra: Tổng nợ (loans), tổng đầu tư (investments) Nội dung bài viết điều tra hiệu quả trung gian và khả năng sản xuất trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn tự do hóa tại Kenya Kết quả chỉ ra rằng mặc dù các ngân hàng không có hiệu quả đầy đủ trong tất cả các khía cạnh, họ đã thực hiện khá tốt trong giai đoạn nghiên cứu Các ngân hàng vẫn có lý do và phạm vi để cải thiện hoạt động bằng cải tiến kỹ thuật công nghệ, kỹ năng và mở rộng phạm vi hoạt động để có hiệu quả đầy đủ

Kai Ji, Wei Song and Renwen Wang (2012) nghiên cứu đánh giá và xếp hạng các ngân hàng thương mại của Trung Quốc nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động ngân hàng Phân tích bao dữ liệu DEA dựa vào số liệu của 17 ngân hàng trong giai đoạn 2006-2008, với các yếu tố đầu vào: Số lượng lao động (Number of employees) (X1), chi phí trả lãi (Interest expenses) (X2), Chi phí ngoài lãi (Non-interest expenses) (X3), tổng tài sản (total assets) (X4) và các yếu tố đầu ra như: Thu nhập ngoài lãi (Non-interest income) (Y1), thu nhập lãi (interest income) (Y2),

tỷ lệ nợ xấu (non-performing loan ratio) (Y3) Kết quả nghiên cứu, lợi thế của DEA cũng phản ánh đầy đủ không chỉ thấy giá trị của các ngân hàng từ quan điểm chất lượng, mà còn một số lượng đổi mới thông qua kế hoạch điều chỉnh hoạt động Trong các đánh giá của các ngân hàng thương mại sử dụng phân tích DEA, có thể tích hợp nhiều hơn, chẳng hạn như phân tích thành phần chính và các phương pháp

Trang 39

phân tích cụm để nhận biết sự khác nhau của yếu tố quan trọng nhất của hiệu quả tích hợp của ngân hàng thương mại và sau đó mục tiêu nhắm đến được cải thiện

1.4.2.2 Nghiên cứu trong nước

Nguyễn Việt Hùng (2008) đánh giá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến

hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam là bài nghiên cứu được xem là khá đầy đủ và toàn diện về hệ thống ngân hàng Việt Nam, và là một hướng

đi mới cho các phương pháp nghiên cứu hiệu quả hoạt động ở Việt Nam, bởi nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở phân tích định tính - phương pháp pháp truyền thống

mà các tác giả Lê Thị Hương (2002), Lê Dân (2004) áp dụng để phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam, Nguyễn Việt Hùng đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng như phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA, phương pháp phi tham số DEA trong việc đo lường hiệu quả và sử dụng mô hình Tobit vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 32 ngân hàng thương mại Việt Nam thời kì 2001-2005

Trong phương pháp bao dữ liệu DEA, Nguyễn Việt Hùng đã chọn các yếu

tố đầu vào là: Tổng tài sản cố định ròng, chi cho nhân viên và tổng vốn huy động từ khách hàng và các yếu tố đầu ra bao gồm: Thu về lãi và các khoản tương đương, Thu ngoài lãi và các khoản tương đương Kết quả nghiên cứu thấy rằng, các ngân hàng này cùng tạo ra một mức sản lượng đầu ra như nhau thì hiện mới sử dụng 79,1% yếu tố đầu vào, hay nói cách khác, các ngân hàng này còn đang sử dụng lãng phí đầu vào 26,4%

Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012) cũng đã ứng dụng phương pháp

bao dữ liệu DEA để “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006-2009 Các tác giả này chọn yếu tố đầu vào là lao động, vốn, vốn kinh doanh, chi phí khác và các yếu tố đầu ra bao gồm: Thu nhập từ lãi và các khoản tương đương, thu nhập ngoài lãi và các khoản tương đương Số liệu nghiên cứu dựa trên báo cáo thường niên của 22 NHTMCP giai đoạn 2006 – 2009 Kết quả chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động đang suy

Trang 40

giảm và nguyên nhân chủ yếu do yếu tố phi hiệu quả về mặt công nghệ Những ngân hàng quy mô lớn có lợi thế về chi phí hơn hẳn các ngân hàng có quy mô nhỏ Các ngân hàng còn sử dụng lãng phí các đầu vào khoảng 7,7% và số lượng các ngân hàng đối mặt với hiệu suất giảm dần theo quy mô có xu hướng ngày càng ít đi

Như vậy, việc áp dụng các biến đầu vào – đầu ra khi ứng dụng phương pháp bao dữ liệu DEA cho các nghiên cứu là không hoàn toàn giống nhau Các nghiên cứu trong nước cũng đã vận dụng phương pháp bao dữ liệu DEA để nghiên cứu các tập biến khác nhau trong những khoảng thời gian không giống nhau, tuy nhiên, các nghiên cứu này đầu ra chủ yếu tập trung vào 2 yếu tố: Thu nhập lãi và các khoản tương tự, thu nhập ngoài lãi

Tóm lại, phương pháp bao dữ liệu DEA đã được sử dụng khá nhiều trên thế giới cũng như trong nước Còn mô hình CAMEL, tuy đã được ứng dụng khá nhiều trên thế giới nhưng tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu tác giả thu thập được thì mô hình này chưa được đánh giá một cách đầy đủ và chưa phổ biến

Kết luận chương 1

Mở đầu chương 1, tác giả đã phân tích để làm rõ khái niệm hiệu quả hoạt động của NHTM làm cơ sở để tìm ra mô hình phù hợp cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTMNN Tác giả đã phân tích cụ thể về mô hình CAMEL và phương pháp bao dữ liệu DEA, làm cơ sở để lựa chọn những chỉ tiêu và các biến phù hợp để sử dụng hai mô hình này Chương 1 khép lại sau khi tác giả đúc kết từ các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua mô hình CAMEL và mô hình DEA

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm