Với vị thế là một NHTMNN lớn, chiếm giữ thị phần cao trên địa bàn, đặc biệt đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động NHBB và thế mạnh truyền thống trong hoạt động thanh toán quốc tế, kin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRỊNH THỊ THU HIỀN
PHÁT TRIỂN SONG HÀNH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN VÀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: KINH TẾ – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi
Những số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, được trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website,…
Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Trịnh Thị Thu Hiền
Trang 3Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN
VÀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại -1
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại -1
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng -1
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán 2
1.1.2.3 Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng -2
1.1.3 Khái niệm dịch vụ ngân hàng thương mại -3
1.2 Dịch vụ ngân hàng bán buôn -4
1.2.1 Khái niệm ngân hàng bán buôn -4
1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán buôn -6
1.2.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán buôn -6
1.2.3.1 Đối với nền kinh tế -6
1.2.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại -7
1.2.3.3 Đối với khách hàng -7
1.2.4 Các dịch vụ ngân hàng bán buôn chủ yếu -8
1.2.4.1 Huy động vốn -8
1.2.4.2 Tín dụng -8
1.2.4.3 Dịch vụ thanh toán - 10
1.2.4.4 Kinh doanh ngoại tệ - 11
1.2.4.5 Dịch vụ ngân quỹ - 12
Trang 41.3.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ - 13
1.3.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ - 14
1.3.3.1 Đối với nền kinh tế - 14
1.3.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại - 15
1.3.3.3 Đối với khách hàng - 16
1.3.4 Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ chủ yếu - 16
1.3.4.1 Huy động vốn - 16
1.3.4.2 Tín dụng - 17
1.3.4.3 Dịch vụ thanh toán - 18
1.3.4.4 Dịch vụ ngân hàng điện tử - 19
1.3.4.5 Dịch vụ khác - 19
Kết luận chương 1 - 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN VÀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VCBHCM GIAI ĐOẠN 2004 - 2008 2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển VCBHCM - 21
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của VCBHCM trong giai đoạn 2004 – 2008 - 22
2.2.1 Đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của VCBHCM - 22
2.2.2 Đánh giá về thị phần hoạt động của VCBHCM - 23
2.3 Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ tại VCBHCM giai đoạn 2004 -2008 - 24
2.3.1 Huy động vốn - 24
2.3.1.1 Về tốc độ tăng trưởng - 24
2.3.1.2 Về thị phần - 25
2.3.1.3 Về cơ cấu huy động - 25
2.3.2 Cho vay - 28
2.3.2.1 Về tốc độ tăng trưởng - 28
2.3.2.2 Về thị phần - 29
2.3.2.3 Về chất lượng tín dụng - 30
2.3.2.4 Về cơ cấu dư nợ - 30
2.3.3 Bảo lãnh - 32
2.3.4 Dịch vụ thanh toán - 34
2.3.4.1 Thanh toán nội địa - 34
2.3.4.2 Thanh toán quốc tế - 35
Trang 52.3.7 Các dịch vụ ngân hàng dành riêng cho cá nhân - 40
2.3.7.1 Dịch vụ tài khoản cá nhân - 40
2.3.7.2 Dịch vụ thanh toán thẻ - 41
2.3.7.3 Dịch vụ chi trả kiều hối - 42
2.3.7.4 Dịch vụ quản lý tiền gửi của nhà đầu tư - 43
2.4 Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ tại VCBHCM giai đoạn 2004 - 2008 - 44
2.4.1 Những kết quả đạt được - 44
2.4.1.1 Về dịch vụ ngân hàng bán buôn - 45
2.4.1.2 Về dịch vụ ngân hàng bán lẻ - 45
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế - 46
2.4.2.1 Về dịch vụ ngân hàng bán buôn - 47
2.4.2.2 Về dịch vụ ngân hàng bán lẻ - 48
2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại - 49
2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan - 49
2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan - 51
Kết luận chương 2 - 53
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SONG HÀNH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN VÀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VCBHCM 3.1 Định hướng – mục tiêu trong tương lai của VCB - 54
3.1.1 Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng của VCB đến năm 2010 - 54
3.1.2 Định hướng chung của VCBHCM tới năm 2010 - 54
3.1.3 Kế hoạch kinh doanh năm 2008 của VCBHCM - 55
3.1.3.1 Phương hướng, nhiệm vụ của VCB - 55
3.1.3.2 Kế hoạch, mục tiêu - 56
3.2 Các giải pháp phát triển song hành hoạt động ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ tại VCBHCM - 57
3.2.1 Nhóm giải pháp chung - 57
3.2.1.1 Nhóm giải pháp phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng - 57
3.2.1.2 Nhóm giải pháp tăng cường công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm - 60
3.2.1.3 Nhóm giải pháp phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trọn gói - 61
3.2.1.4 Nhóm giải pháp về nhân sự - 62
3.2.2 Nhóm giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn - 63
Trang 63.2.2.4 Tăng cường tiếp thị các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - 67
3.2.3 Nhóm giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ - 68
3.2.3.1 Hoàn thiện và tăng trưởng các dịch vụ đã có - 68
3.2.3.2 Phát triển các dịch vụ mới - 72
3.2.3.3 Mở rộng mạng lưới kênh phân phối - 73
3.2.1.3.4 Tăng cường tiếp thị các DNVVN - 74
3.3 Kiến nghị - 74
3.3.1 Kiến nghị Hội sở chính VCB - 74
3.3.1.1 Xây dựng chiến lược sản phẩm dịch vụ theo định hướng khách hàng - 74
3.3.1.2 Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phù hợp, an toàn - 75
3.3.1.3 Hiện đại hóa quy trình nghiệp vụ - 76
3.3.1.4 Có chế độ đãi ngộ tương xứng, chế độ thưởng phạt nghiêm minh - 76
3.2.2.5 Thực hiện tốt việc phân cấp, phân quyền cho các chi nhánh cấp 1 - 76
3.2.2.6 Đổi mới mô hình hoạt động và cơ chế quản trị điều hành - 77
3.2.3 Kiến nghị với Chính phủ, NHNN và các cơ quan ban ngành - 77
Kết luận chương 3 - 78 KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu
CTCP Công ty cổ phần
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
EAB Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
EIB Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam KDNT Kinh doanh ngoại tệ
NHNNg Ngân hàng nước ngoài
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTMNN Ngân hàng Thương mại nhà nước
NHTMCP Ngân hàng Thương mại cổ phần
STB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương tín TCKT Tổ chức kinh tế
TCTD Tổ chức tín dụng
TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
TTKDTM Thanh toán không dùng tiền mặt
TTQT Thanh toán quốc tế
VCB Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
VCBHCM Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh TP.HCM
VIETINBANK Ngân hàng Công thương Việt nam
Trang 8Bảng 2.1 Số liệu một số hoạt động chủ yếu và kết quả kinh doanh của
VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008 Bảng 2.2 So sánh thị phần của VCBHCM với toàn hệ thống VCB
Bảng 2.3 So sánh thị phần của VCBHCM trên toàn địa bàn TP.HCM
Bảng 2.4 Tình hình huy động vốn của VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008 Bảng 2.5 Thị phần huy động của VCBHCM
Bảng 2.6 Dư nợ cho vay tại VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008
Bảng 2.7 Thị phần cho vay của VCBHCM
Bảng 2.8 Hoạt động bảo lãnh của VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008
Bảng 2.9 Doanh số thanh toán nội địa của VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008 Bảng 2.10 Doanh số thanh toán quốc tế của VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008 Bảng 2.11 Tình hình kinh doanh ngoại tệ của VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008 Bảng 2.12 Hoạt động tài khoản cá nhân tại VCBHCM giai đoạn 2004 – 2007 Bảng 2.13 Tình hình kinh doanh thẻ tại VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008 Bảng 2.14 Thị phần phát hành thẻ ATM của VCBHCM
Bảng 2.15 Tình hình chi trả kiều hối của VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008
Trang 9Đồ thị 1: Huy động vốn bán buôn và bán lẻ của VCBHCM
Đồ thị 2: Huy động VND phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 3: Huy động ngoại tệ phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 4: Huy động không kỳ hạn phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 5: Huy động có kỳ hạn phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 6: Huy động vốn bán buôn phân theo đối tượng khách hàng giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 7: Huy động vốn bán lẻ phân theo đối tượng khách hàng giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 8: Dư nợ bán buôn và bán lẻ của VCBHCM
Đồ thị 9: Dư nợ VND phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 10: Dư nợ ngoại tệ phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 11: Dư nợ ngắn hạn phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 12: Dư nợ trung dài hạn phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 13: Dư nợ bán buôn phân theo đối tượng khách hàng giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 14: Dư nợ bán lẻ phân theo đối tượng khách hàng giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 15: Doanh số bảo lãnh của VCBHCM
Đồ thị 16: Cơ cấu bảo lãnh bán buôn giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 17: Cơ cấu bảo lãnh bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 18: Cơ cấu bảo lãnh phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 19: Cơ cấu thanh toán nội địa phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 20: Doanh số thanh toán quốc tế của VCBHCM
Đồ thị 21: Doanh số TTQT phân theo bán buôn và bán lẻ của VCBHCM
Đồ thị 22: Tỷ trọng thanh toán XK của VCB năm 2007
Đồ thị 23: Tỷ trọng thanh toán NK của VCB năm 2007
Trang 10Đồ thị 26: Cơ cấu kinh doanh ngoại tệ bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 27: Cơ cấu kinh doanh ngoại tệ phân theo bán buôn và bán lẻ giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 28: Cơ cấu kinh doanh ngoại tệ theo khách hàng giai đoạn 2004-2008
Đồ thị 29: Phát hành thẻ của VCBHCM
Đồ thị 30: Doanh số thanh toán thẻ của VCBHCM
Đồ thị 31: Tỷ trọng các loại thẻ ghi nợ năm 2008
Đồ thị 32: Tỷ trọng phát hành thẻ năm 2008
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn một năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển động tích cực để từng bước đáp ứng yêu cầu cam kết khi gia nhập WTO Đối với riêng ngành NH - lĩnh vực nhạy cảm nhất của nền kinh tế cũng đã gặt hái được những thành công nhất định từ quá trình hội nhập Đặc biệt, ứng dụng công nghệ vào hoạt động của các NHTM được tăng cường hơn, do đó đã đẩy mạnh hoạt động dịch
vụ NH, đặc biệt là dịch vụ thanh toán Tuy nhiên, tác động của hội nhập cũng gây nên những khó khăn thách thức không nhỏ đối với ngành NH Khi vào WTO, dịch vụ
NH được dự báo sẽ là lĩnh vực cạnh tranh rất khốc liệt khi "vòng" bảo hộ cho NHTM trong nước không còn Vậy điều gì đang chờ đón các NHTM Việt Nam? Các NH này
sẽ phải chuẩn bị gì để không bị đẩy ra ngoài cuộc chơi?
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc cung cấp dịch vụ NH trong thời gian qua của các NHTM Việt Nam còn nhiều hạn chế Nhìn chung, hệ thống dịch vụ NH trong nước hiện rất đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ NH truyền thống Do đó từng dịch vụ của NHTM chưa tạo dựng được thương hiệu riêng, sức cạnh tranh yếu trong khi đó hoạt động marketing NH còn hạn chế, nên tỷ lệ khách hàng là cá nhân tiếp cận và sử dụng dịch
vụ NH còn ít
Từ nay đến 2010, các chi nhánh NHNNg có kế hoạch phát triển mạnh trên các lĩnh vực: dịch vụ thị trường tài chính, dịch vụ thẻ và tài trợ thương mại, đặc biệt là dịch vụ NHBL vì họ đánh giá rất cao tiềm năng thị trường gần 85 triệu dân của Việt Nam Bên cạnh đó, có thể còn một số NH khác nữa cũng sẽ tham gia và khu vực này
sẽ trở thành khu vực cạnh tranh khốc liệt nhất trong cả trung và dài hạn Khu vực đô thị, nhất là một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM sẽ là địa bàn hoạt động của các NHNNg và làm cho cạnh tranh trong hoạt động NH ở đây gia tăng hơn nữa
Trang 12tăng trưởng cao và mức đóng góp GDP lớn cho cả nước, VCBHCM đón nhận nhiều
cơ hội cũng như gặp phải không ít khó khăn thách thức trong quá trình phát triển kinh tế thành phố và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Thực tế trong nhiều năm qua, VCBHCM đã chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ các NHTM trong và ngoài nước Với vị thế là một NHTMNN lớn, chiếm giữ thị phần cao trên địa bàn, đặc biệt đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động NHBB và thế mạnh truyền thống trong hoạt động thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán thẻ, kinh doanh vốn, VCBHCM đang phải đối đầu với nguy cơ giảm sút thị phần trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ và các sản phẩm dịch vụ NH hiện đại
Xét về vị trí, VCBHCM là một NH có thế mạnh và giữ vai trò chủ lực trên địa bàn; trong hệ thống là một chi nhánh có nhiều đóng góp quan trọng, tỷ trọng các mặt hoạt động kinh doanh chiếm từ 20% - 50% so với toàn ngành Chính vì vậy, sự phát triển của chi nhánh ảnh hưởng rất lớn tới thành công chung của cả hệ thống VCB Hướng tới mục tiêu của NHNT Việt Nam là trở thành một tập đoàn tài chính đa năng, có quy mô tầm cỡ trong khu vực, VCBHCM xác định phải thực hiện đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh và mở rộng nhóm khách hàng mục tiêu của mình Nói cách khác, bên cạnh việc duy trì thế mạnh của một NHBB, VCBHCM cần mở rộng và phát triển mảng kinh doanh bán lẻ, trong đó nhóm khách hàng cá nhân và các DNNVV sẽ là một trong những ưu tiên lựa chọn phục vụ Xuất phát từ yêu cầu trên,
tôi đã lựa chọn đề tài: “ Phát triển song hành dịch vụ ngân hàng bán buôn và ngân
hàng bán lẻ tại Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh TP.HCM” làm đề tài tốt nghiệp
của mình Đây là một đề tài khá mới mẻ vì tác giả kết hợp nghiên cứu cả hai mảng bán buôn và bán lẻ tại một chi nhánh NHTM
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích thực trạng triển khai kết hợp so sánh sự tăng trưởng
và tỷ trọng của từng mảng dịch vụ NHBB và NHBL; chỉ ra mối quan hệ tác động qua lại đồng thời đánh giá thị phần và mức độ cạnh tranh của từng dịch vụ so với toàn hệ thống VCB và toàn địa bàn TP.HCM Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp cụ thể cho từng dịch vụ NHBB và NHBL nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và giữ vững thế mạnh trong kinh doanh của VCBHCM trong giai đoạn hiện nay
Trang 13tài là một hướng nghiên cứu mới cho phép tác giả đánh giá một cách tổng quát về hoạt động dịch vụ của một NH trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển từng mảng dịch vụ Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu sẽ rất rộng vì nó liên quan đến hầu hết các mặt hoạt động của một NH Vì vậy, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu tại một chi nhánh cấp 1 của toàn hệ thống VCB Cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: các dịch vụ NHBB và NHBL đang triển khai tại VCBHCM
- Phạm vi nghiên cứu: chi nhánh VCBHCM
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tận dụng tính chất hợp lý và ưu việt của từng loại phương pháp nghiên cứu khoa học Cụ thể bao gồm:
Phương pháp thống kê : thu thập và xử lý thông tin qua 2 nguồn, đó là:
Dùng dữ liệu nội bộ được tạo ra bởi VCB và VCBHCM
Dùng dữ liệu ngoại vi thu thập từ các nguồn: sách báo, các phương tiện truyền thông, thông tin thương mại, các tổ chức, hiệp hội, báo cáo thường niên của NHNN và một số NHTM…
Phương pháp điều tra khảo sát: dựa trên cơ sở tổng hợp số liệu từ việc thăm
dò ý kiến một số khách hàng của VCBHCM qua Phiếu điều tra khảo sát để rút ra những tồn tại, điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng các dịch vụ đang thực hiện tại VCBHCM Từ những cơ sở này và định hướng về phát triển dịch vụ ngân hàng của toàn hệ thống VCB, luận văn sẽ đưa ra những giải pháp để phát triển song hành dịch
vụ NHBB và NHBL tại VCBHCM trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra, luận văn còn
sử dụng các phương pháp khác như duy vật biện chứng gắn liền với phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp, phán đoán, tổng hợp; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn tư
duy logic để phân tích chứng minh…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về hoạt
Trang 14buôn và phát triển hơn nữa mảng kinh doanh bán lẻ vốn là một thị trường đầy tiềm năng nhưng chưa được các NHTM trong nước khai thác có hiệu quả Qua đó, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của VCBHCM nói riêng và hệ thống Vietcombank nói chung
6 Đóng góp mới của đề tài
Điểm nổi bật mới nhất của đề tài là sự kết hợp nghiên cứu cả hai mảng dịch vụ NHBB và NHBL tại một chi nhánh NHTM Các đề tài có liên quan đến lĩnh vực này thường chỉ tập trung nghiên cứu một mảng dịch vụ của NH: hoặc là dịch vụ NHBB hoặc là dịch vụ NHBL Việc nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa đối với VCBHCM
mà còn có ý nghĩa đối với các NHTM Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng dịch
vụ trước những thách thức lớn của giai đoạn hội nhập
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu gồm ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng bán buôn và ngân hàng
bán lẻ
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và ngân
hàng bán lẻ tại VCBHCM giai đoạn 2004 - 2008
Chương 3: Giải pháp phát triển song hành dịch vụ ngân hàng bán buôn
và ngân hàng bán lẻ tại VCBHCM trong giai đoạn hiện nay
Về mặt nhận thức, tôi cho rằng đây là một đề tài khá rộng về phạm vi và đối tượng nghiên cứu vì liên quan đến hầu hết các dịch vụ của một NH Do đó, để có thể nêu bật được hết tất cả các vấn đề, đề tài đòi hỏi nhiều công sức và thời gian Với khả năng của bản thân và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của Quý thầy cô, các anh chị đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện và mang tính thực tiễn hơn
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN VÀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
NHTM là tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất và có số lượng rất lớn trong nền kinh tế Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển thì ở đó
sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế xã hội và ngược lại
Theo Luật các TCTD Việt Nam, do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày
12/12/1997 thì “NHTM là một loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động NH
và các hoạt động khác có liên quan” Trong đó hoạt động NH được định nghĩa trong
Luật NHNN cũng do Quốc hội khóa X thông qua cùng ngày:“Hoạt động NH là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi,
sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
NHTM là loại NH giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế
và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ NH cho các đối
tượng nói trên Nhờ vào hệ thống NHTM mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác
trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển Để thực hiện chức năng này, NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (chủ
Trang 16yếu là các khoản tiết kiệm từ các hộ gia đình) để hình thành nguồn vốn cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế
Với chức năng này, NHTM thực sự là một cầu nối giữa những người có tiền muốn cho vay hoặc muốn gửi tiền với những người thiếu vốn cần vay NHTM thực hiện chức năng này theo nguyên tắc “hoàn trả” vô điều kiện (bất kể người đi vay sử dụng vốn có hiệu quả hay không) Nhờ vậy, NHTM đã góp phần tạo lợi ích công bằng cho cả ba bên: người gửi tiền, NH và người vay
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Theo Mác “Công việc của người thủ quỹ chính là ở chỗ làm trung gian để thanh toán Khi NH xuất hiện thì chức năng này được chuyển giao sang cho NH” Với chức năng này, NHTM thay mặt các khách hàng để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua và người bán…để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau Trong khi làm trung gian thanh toán, NHTM tạo ra các công cụ lưu thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó, nhờ vậy
đã tiết kiệm được cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông
Nhiệm vụ cụ thể của chức năng này bao gồm:
− Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cá nhân
− Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng
− Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng
Ngày nay, có thể nói rằng hoạt động thanh toán chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM Nó tạo điều kiện cho nhiều dịch vụ khác phát triển dễ dàng hơn, đồng thời nó tiết kiệm một khối lượng lớn tiền mặt trong lưu thông Chu chuyển tiền tệ ngày nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM và do vậy chỉ khi chức năng trung gian thanh toán được hoàn thiện thì vai trò của NHTM sẽ được nâng cao hơn với tư cách là người thủ quỹ của xã hội
1.1.2.3 Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng
Nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng có liên quan đến các hoạt động NH, các NHTM còn thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ NH Các dịch vụ này có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NH, điển hình như tín
Trang 17dụng Nhiệm vụ cụ thể của chức năng này bao gồm: (i) dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền nhanh quốc nội; (ii) dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế; (iii) dịch vụ
ủy thác (bảo quản, thu hộ, chi hộ…); (iv) dịch vụ tư vấn đầu tư, cung cấp thông tin; (v) dịch vụ NH điện tử
Chỉ có NHTM mới có thể thực hiện các dịch vụ NH một cách trọn vẹn và đầy đủ nhờ có những ưu thế riêng như hệ thống mạng lưới rộng khắp, mối quan hệ với nhiều khách hàng và hệ thống thông tin hiện đại Thông qua chức năng này, NHTM không những đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng mà còn hỗ trợ tích cực cho các NH thực hiện tốt hơn chức năng thứ nhất và thứ hai
1.1.3 Khái niệm dịch vụ ngân hàng thương mại
Cho đến nay, khái niệm dịch vụ NH chưa được định nghĩa một cách cụ thể trong
bất kỳ từ điển nào Mỗi quốc gia đều có những cách hiểu khác nhau về dịch vụ NH
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ
nào có tính chất tài chính được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ tài chính Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch
vụ NH và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm) Như vậy, dịch vụ NH được đặt trong nội hàm của dịch vụ tài chính
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO cũng không nêu khái
niệm dịch vụ mà thay vào đó là liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn Mỗi ngành lớn lại được chia ra các phân ngành nhỏ (55 phân ngành) và mỗi phân ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể chi tiết (155 phân ngành) Các dịch vụ NH, theo GATS, là: nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán thẻ, séc,…, bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn, trung gian và hỗ trợ về tài chính Đây là những cơ sở thích hợp cho việc xúc tiến đàm phán về mở cửa thị trường dịch vụ quốc
tế
Ở nước ta, đến nay vẫn chưa có sự minh định rõ ràng về dịch vụ NH Có không ít quan điểm cho rằng: dịch vụ NH không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ NH theo chức năng của một trung gian tài chính (như cho vay, huy
Trang 18dịch vụ NH Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động NH phục vụ cho DN và công
chúng đều là dịch vụ NH Theo Luật các TCTD do NHNN Việt Nam ban hành, dịch
vụ NH cũng không được định nghĩa và giải thích cụ thể Tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH bao hàm cả 3 nội dung : nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán, nhưng đâu là kinh doanh tiền
tệ và đâu là dịch vụ NH thì vẫn chưa được phân định rõ ràng Đây là một trong những điểm bất cập của Luật các TCTD
Tóm lại, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm cũng như danh mục các chỉ tiêu về dịch vụ NH trong các văn bản luật Tuy nhiên Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) đã được xây dựng trên các nguyên tắc chuẩn mực của WTO nên hầu như các nội dung
và phương pháp phân loại dịch vụ tài chính (trong đó có dịch vụ NH) tương tự như WTO Kết hợp với thực tế cung cấp các dịch vụ NH tại các NHTM Việt Nam, tác giả
thống nhất cách hiểu về dịch vụ NH như sau: Dịch vụ NH theo nghĩa rộng là toàn bộ
hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống NH cung ứng cho nền kinh tế
1.2 Dịch vụ ngân hàng bán buôn
1.2.1 Khái niệm về ngân hàng bán buôn
Khái niệm NHBB (wholesale banking) được sử dụng lần đầu vào cuối thập kỷ 60
của thế kỷ 20 ở Anh (David Cox, Shelagh Hefernan ở Anh, George H Hempel, Linda Allen ở Mỹ) Do sự hình thành và phát triển của các thị trường vốn bán buôn, các NH khi đó đã bắt đầu tham gia vào các thị trường này và thực hiện các khoản cho
vay với số tiền đã đi vay được, mang lại sự phát triển của nghiệp vụ NHBB NHBB là
thuật ngữ dùng cho các giao dịch giữa NH và khách hàng lớn (công ty) hoặc giao dịch với những khoản tiền lớn (tiền gửi lên tới hàng trăm ngàn và cho vay tới hàng triệu đô la hoặc bảng Anh) Thuật ngữ bán buôn còn chỉ cả những giao dịch giữa các
NH thực hiện qua thị trường liên NH tách biệt khỏi khách hàng – có thể được hiểu là
bán buôn “thật sự” trong ngôn ngữ của thương mại Hoạt động NHBB ra đời gắn liền với sự phát triển của các thị trường bán buôn, sau đó theo sự phát triển của NH đa quốc gia và được ứng dụng linh hoạt trong tài trợ phát triển quốc tế
Trang 19Tùy từng điều kiện phát triển tài chính quốc gia, người ta có những định nghĩa khác nhau về NHBB Điển hình như:
Tại Mỹ, NHBB là dịch vụ NH giữa NHTM (Merchant Bank) và các định chế tài
chính Trong đó, Merchant Bank được định nghĩa là NH kinh doanh chủ yếu (nhưng
không bị giới hạn bởi) là tài trợ thương mại quốc tế, cho vay dài hạn cho các công ty
và bảo lãnh phát hành Merchant Bank không cung cấp các dịch vụ NH cho công chúng nói chung
NH ANZ (www.anz.com) thì cho rằng NHBB là vay và cho vay với số lượng lớn
Từ điển NH và Tài chính của Anh định nghĩa NHBB là dịch vụ NH giữa NH tài
trợ thương mại và các định chế tài chính khác, ngược lại so với “NHBL”
Theo www.saga.vn, NHBB là những dịch vụ NH cung cấp cho các DN các bản
báo cáo tài chính hoàn hảo, và các khách hàng tổ chức, như quỹ lương hưu cũng như các cơ quan chính phủ Những dịch vụ bao gồm cho vay, quản lý tiền mặt, thế chấp thương mại, các khoản vay vốn lưu động, leasing, các dịch vụ ủy thác, Hầu hết các
NH phân chia hoạt động NHBB thành các dịch vụ khác nhau tùy quy mô của DN: Thị trường cho các DN lớn (ví dụ ở Mỹ là thị trường dành cho các công ty thuộc xếp hạng Fortune 500 và Fortune 1000), thị trường cho các DN vừa và thị trường cho các
DN nhỏ
Có quan điểm lại cho rằng bán buôn tập trung vào các DN lớn và hoạt động giao
dịch vốn thông qua các trung gian tài chính Những NHBB chủ yếu phục vụ các công
ty, các dự án
Tại Việt Nam, trong vốn từ vựng tiếng Việt chỉ có khái niệm bán buôn tức là bán cho người kinh doanh trung gian, chứ không bán thẳng cho người tiêu dùng, đối lại với bán lẻ là bán với số lượng ít và bán trực tiếp cho người tiêu dùng Khái niệm NHBB được sử dụng lần đầu vào năm 1996 khi Việt Nam tiếp nhận Dự án ODA từ
NH Thế giới (WB) - Dự án Tài chính Nông thôn Theo đó, Chính phủ giao cho NH Nhà nước Việt Nam làm chức năng “NHBB của Dự án” (Công văn số 5551/QHQT ngày 2/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ) Tiếp đó là trong Hiệp định Tín dụng phát triển của Dự án Tài chính Nông thôn II, hai bên Việt Nam và WB đã nhiều lần sử dụng khái niệm NHBB Thủ tướng Chính phủ chấp thuận giao cho NH Đầu tư và
Trang 20trong Công văn số 285/QĐ-TTg ngày 18/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về quyết định đầu tư Dự án TCNTII giai đoạn II có ghi rõ “NHĐT&PTVN là NHBB của Dự
án, chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện Dự án theo đúng những quy định đã được thỏa thuận và thống nhất với WB”
Tóm lại, kết hợp các định nghĩa nêu trên ta có thể rút ra khái niệm về NHBB như
sau: NHBB là NH chỉ cung cấp các dịch vụ cho các DN lớn và các định chế tài chính
hay những dịch vụ NH được cung cấp với số lượng lớn Các khách hàng chủ yếu của NHBB thường là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, xí nghiệp có quy mô lớn
1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán buôn
Số lượng khách hàng nhỏ: Do đối tượng phục vụ của NHBB chủ yếu là các DN
có quy mô lớn nên số lượng khách hàng không nhiều Thông thường, đối với một NH vừa kinh doanh bán buôn và bán lẻ thì lượng khách hàng bán buôn chỉ chiếm từ 10% đến 30% tổng số khách hàng của NH đó
Giá trị giao dịch lớn và chi phí bình quân trên mỗi giao dịch nhỏ
Các dịch vụ và quy trình thực hiện thường phức tạp, mất nhiều thời gian Ví dụ
như để cho vay một DN lớn, NH thường phải tiến hành thẩm định dự án lâu hơn so với cho vay một cá nhân
Thu nhập do các khách hàng mang lại rất lớn: Với khoảng 10% khách hàng có
thể mang lại 50% thu nhập cho NH Chính vì vậy, rủi ro trong kinh doanh NHBB là rất cao khi các khách hàng từ bỏ NH này để đến với một NH khác có những điều kiện tốt hơn
Chi phí hoạt động trung bình thấp: dịch vụ NHBB thường không đòi hỏi phải
trang bị nhiều về mạng lưới phân phối và nguồn nhân lực vì số lượng khách hàng ít hơn so với NHBL
1.2.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán buôn
1.2.3.1 Đối với nền kinh tế
Thông qua việc cho vay bán buôn, các NH cung cấp một khối lượng vốn lớn cho các DN để đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập như hiện nay, dịch vụ NHBB đóng vai trò hết sức to lớn đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Bên cạnh đó, việc thanh toán qua NH với giá trị giao dịch lớn
Trang 21làm giảm chi phí lưu thông tiền mặt, giúp tiết kiệm tối đa chi phí xã hội Ngoài ra, dịch vụ NHBB còn tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ NH khác phát triển, giúp các NH đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động, giảm thiểu rủi ro, từ đó tạo sự ổn định, bền vững cho nền tài chính quốc gia
1.2.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại
Nếu như bán lẻ quyết định quy mô huy động vốn thì bán buôn quyết định quy mô tín dụng của các NH Đối với một NHTM, tín dụng là hoạt động đặc trưng và chủ yếu trong việc tạo ra lợi nhuận Lợi nhuận lại chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của NHTM
Với chức năng trung gian thanh toán, NHBB thực hiện việc thanh toán với quy
mô lớn và thường xuyên, nhờ đó NH cũng thu được nhiều khoản phí dịch vụ Ngoài
ra, nó còn tạo điều kiện cho nhiều dịch vụ NH khác phát triển dễ dàng hơn Ví dụ: dịch vụ trả lương cho nhân viên các công ty qua tài khoản được phát triển nhờ vào việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán của công ty tại NH
Ngoài ra, do số lượng khách hàng ít nhưng chiếm tỷ trọng lớn về doanh số giao dịch nên NH có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch dựa vào lợi thế về quy mô giao dịch
1.2.3.3 Đối với khách hàng
Thông qua việc cung cấp tín dụng, NHBB đóng vai trò là kênh bơm vốn quan trọng cho các DN để thực hiện các dự án đầu tư hay XNK hàng hóa trong khi nguồn vốn tự có bị hạn chế Đây là một trong những yếu tố then chốt để quyết định sự thành công của các kế hoạch kinh doanh cũng như lợi nhuận của các DN Việc giải ngân nhanh chóng, đúng tiến độ sẽ giúp cho DN tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình, từ đó góp phần tăng trưởng lợi nhuận Bên cạnh đó, nhờ có dịch vụ huy động vốn tiền gửi từ các DN, NH giúp họ cất giữ, quản lý và cân đối có hiệu quả nguồn tiền của mình NHBB còn là trung gian thanh toán cho các DN nhờ vào các công cụ thanh toán nhanh chóng, tiện lợi, an toàn
mà lại tiết kiệm chi phí, giúp đồng vốn luân chuyển nhanh, thúc đẩy quá trình tái sản xuất của DN
Trang 22Đối với các khách hàng là TCTD, thông qua việc huy động vốn giữa các NHTM, dịch vụ thanh toán điện tử liên NH cũng có cơ hội phát triển nhờ việc ứng dụng các công cụ thanh toán hiện đại, giúp giảm thiểu rủi ro và đạt hiệu quả kinh tế cao
1.2.4 Các dịch vụ ngân hàng bán buôn chủ yếu
1.2.4.1 Huy động vốn
NHTM huy động vốn từ các TCTD và các DN lớn bằng nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá…
Tiền gửi thanh toán của các khách hàng bán buôn thường có số dư rất lớn do nhu
cầu thanh toán của DN và thanh toán liên NH giữa các TCTD rất nhiều Khách hàng lựa chọn tiền gởi loại tiền gửi này vì mục đích đảm bảo an toàn về tài sản và tính tiện ích trong việc thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng Chính vì vậy, lãi suất không phải là công cụ để thu hút nguồn vốn này mà công cụ chính là dịch vụ
NH cung cấp kèm theo phải là dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn, nhanh chóng và chính xác NH nào thu hút được nguồn vốn này càng nhiều thì chi phí sử dụng vốn bình quân sẽ rất thấp
Tiền gởi có kỳ hạn cũng là nguồn vốn huy động đáng kể của NH từ các DN lớn và
các TCTD Tuy nhiên, do nhu cầu kinh doanh nên các khách hàng thường chỉ gửi kỳ hạn ngắn (thường là các kỳ hạn dưới 1 năm) Để thu hút nguồn vốn này, các NHTM thường đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn tùy theo kỳ hạn và số tiền gửi Do đó lãi suất
là công cụ để thu hút nguồn vốn này
Ngoài việc huy động từ hai nguồn tiền gửi trên, các NHTM có thể huy động các nguồn vốn khác như tiền gửi ký quỹ, tiền gửi đảm bảo thanh toán, các loại tiền gửi khác…hoặc phát hành các loại chứng từ có giá như: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi có
kỳ hạn, chứng chỉ tiết kiệm, trái phiếu
Trang 23hạn (thường để đầu tư vào tài sản lưu động), cho vay trung dài hạn (nhằm đầu tư vào tài sản cố định, thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh) Trong các hình thức cho vay dành cho các khách hàng bán buôn thì cho vay dự án và cho vay đồng tài trợ là hai hình thức nổi bật và chiếm tỷ trọng cao nhất
Cho vay dự án: Đây là loại cho vay nhằm giúp đẩy nhanh quá trình đầu tư cơ sở
hạ tầng và phát triển sản suất ở Việt Nam Theo đó, các dự án đầu tư của Nhà nước hay của DN về phát triển sản xuất kinh doanh cơ sở hạ tầng, dịch vụ, đời sống…nếu tính toán được hiệu quả kinh tế, có tính khả thi mà thiếu vốn thì NH sẽ cho vay dự án đầu tư, giúp đơn vị chủ đầu tư có vốn để hoàn thành dự án đầu tư
Cho vay đồng tài trợ: Theo điều 2, khoản 1 quy chế đồng tài trợ - Quyết định số
186/2002/QĐ.NHNN ngày 03/04/2002 và Quyết định số 886/QĐ.NHNN ngày 11/08/2003 của Thống đốc NHNN Việt Nam “Đồng tài trợ là quá trình tổ chức thực hiện việc cấp tín dụng của bên đồng tài trợ với sự tham gia của hai hay nhiều TCTD,
do một TCTD làm đầu mối cho một hoặc một phần dự án, phương án sản xuất kinh doanh hay dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống”
Chiết khấu
Các NH thực hiện chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các DN lớn và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với NH khác Với dịch vụ này, các NHTM giúp cho các DN lớn khôi phục năng lực thanh toán, giúp họ đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn Đây là dịch vụ được ưa chuộng không những đối với các khách hàng mà còn cả đối với NH
vì có đảm bảo bằng giấy tờ có giá và rủi ro tín dụng thấp
Bảo lãnh
Bảo lãnh NH là cam kết của NH bảo lãnh được lập trên một văn bản để cam kết với bên có quyền (gọi là bên thụ hưởng bảo lãnh) Nếu khi đến hạn bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết đã nêu trong hợp đồng thì với NH bảo lãnh sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh Thực chất, đây là hình thức tín dụng bằng chữ ký, không xuất vốn nhưng lại có rủi ro vì NH bảo lãnh buộc phải thực hiện cam kết bảo lãnh khi người bảo lãnh
vì lý do nào đó không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình
Trang 24Các hình thức bảo lãnh chủ yếu dành cho các khách hàng của NHBB là bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh đối ứng
Cho thuê tài chính
NHTM phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng để thực hiện dịch vụ này Được triển khai từ năm 1995, cho đến nay, Việt Nam có 8 công ty cho thuê tài chính, trong đó có 5 công ty con trực thuộc các NHTMNN, 2 công ty liên doanh và 1 công
ty 100% vốn nước ngoài
Cho thuê tài chính là một giao dịch hợp đồng giữa hai chủ thể bao gồm bên chủ
sở hữu tài sản và bên sử dụng tài sản, trong đó bên chủ sở hữu tài sản (bên cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu tài sản Thực chất của cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, trong đó theo yêu cầu của bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên đi thuê sử dụng
Bao thanh toán
Đây là một hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hóa đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng Dịch vụ này do một công ty “factor” (hầu hết các NH lớn tổ chức thực hiện dịch vụ factoring thông qua công ty “factor” trực thuộc) nhằm giúp các DN bán những khoản nợ hiện có của mình để quay vòng vốn Công ty “factor” xem xét, thẩm định đối tác mua hàng, nếu đồng ý tài trợ, sẽ ký hợp đồng “factor” với
DN bán hàng Chênh lệch giữa giá trị hóa đơn và giá bao thanh toán tạo nên thu nhập cho công ty “factor” lại là phí tổn tài chính cho DN bán hàng, con số này thường không nhỏ
1.2.4.3 Dịch vụ thanh toán
Thanh toán trong nước
Bao gồm thanh toán giữa các DN và thanh toán giữa các NH Thanh toán giữa các
DN qua NH là việc thanh toán bằng cách trích tiền từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người hưởng thụ thông qua nghiệp vụ kế toán thanh toán của NH
Có rất nhiều phương thức thanh toán qua hệ thống NH như: thanh toán bằng uỷ
Trang 25nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, chuyển khoản thanh toán tự động định kỳ,…Thanh toán giữa các NH xảy ra khi hai bên chi trả và thụ hưởng không có tài khoản ở cùng NH nên phải thông qua việc thanh toán giữa các NH với nhau Cách thức thực hiện việc thanh toán giữa các NHTM bao gồm: thanh toán qua NHNN, thanh toán bù trừ giữa các NH, thanh toán thu/chi hộ giữa các NH Nhờ có dịch vụ này mà NHTM tập trung ngày càng nhiều các khoản vốn tiền tệ trong nền kinh tế, làm tăng thêm nguồn vốn tín dụng để đầu tư vào các quá trình tái sản xuất mở rộng
Thanh toán quốc tế
Dịch vụ này áp dụng cho các DN XNK khi thanh toán tiền hàng với bên bán hoặc đòi tiền bên mua Các giao dịch thanh toán quốc tế thường được thực hiện thông qua các phương thức chủ yếu như tín dụng chứng từ (L/C), nhờ thu, chuyển tiền
1.2.4.4 Kinh doanh ngoại tệ
Kinh doanh ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên NH
Đây là hình thức kinh doanh ngoại tệ giữa các NHTM với nhau thông qua thị trường liên NH Hiện nay, các NHTM Việt Nam chủ yếu kinh doanh ngoại tệ với khách hàng là DN (từ 75-85%), lượng ngoại tệ dư thừa mới đem giao dịch ở thị trường ngoại tệ liên NH Trong trường hợp khan hiếm ngoại tệ, các NHTM thường
sử dụng chính sách dự trữ ngoại tệ, khiến cho hoạt động của thị trường liên NH không phát triển, kìm hãm tốc độ luân chuyển vốn, gây thiệt hại cho nền kinh tế nói chung
Kinh doanh ngoại tệ với khách hàng là DN
Trong giao dịch mua bán ngoại tệ với khách hàng trong nước, NHTM chủ yếu giao dịch với các DN có hoạt động kinh doanh XNK Các công ty XK có nhu cầu bán ngoại tệ thu được từ XK để lấy VND chi tiêu hoặc lấy ngoại tệ khác tùy theo nhu cầu của mình Ngoài ra các công ty XK còn có nhu cầu mua bán ngoại tệ theo hợp đồng
kỳ hạn hoặc quyền chọn để phục vụ cho việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá Các công ty
NK thường có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng NK đến hạn, mua ngoại tệ kỳ hạn hoặc quyền chọn mua để phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Trong tương lai, khi thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển và được tự do hóa hơn sẽ xuất hiện một bộ phận khách hàng tiềm năng có nhu cầu mua bán ngoại tệ để
Trang 26phục vụ cho nhu cầu tích lũy hoặc đầu cơ Vì vậy, NHTM cần có các kế hoạch chuẩn
bị để đáp ứng nhu cầu này của khách hàng
1.2.4.5 Dịch vụ ngân quỹ
Thu chi tại quầy
NH nhận tiền mặt (VND và ngoại tệ) từ các khách hàng có nhu cầu nộp vào NH
để gửi tiết kiệm, gửi vào tài khoản thanh toán, trả nợ vay, chuyển trả tiền hàng, thu đổi ngoại tệ…đồng thời NH chi tiền mặt (VND và ngoại tệ) cho các khách hàng có nhu cầu rút tiết kiệm, rút từ tài khoản thanh toán, tài khoản tiền vay… tại quầy giao dịch của NH
Thu chi hộ
NH thay mặt khách hàng để thực hiện nghiệp vụ thu hộ tiền từ người mua hàng hóa, dịch vụ… hoặc chi trả hộ lương, chi trả tiền cho đối tác của khách hàng Dịch vụ thu chi hộ có thể thực hiện bằng tiền mặt hoặc bằng phương thức chuyển khoản (qua tài khoản cá nhân hoặc qua thẻ ATM)
1.2.4.6 Dịch vụ ngân hàng điện tử
NH điện tử, hiểu theo nghĩa cụ thể nhất là sự kết hợp hoạt động của NH với internet Đây là kết quả tất yếu của quá trình phát triển công nghệ thông tin, được ứng dụng trong hoạt động NH E-Banking là dịch vụ NH điện tử có tiện ích cao, khách hàng chỉ cần quan hệ, giao dịch và thanh toán với NH qua mạng, nhưng rủi ro trong hoạt động dịch vụ này cũng không nhỏ, vì khó đảm bảo tính an toàn, bảo mật trong thanh toán với công nghệ hiện nay
Dịch vụ NH điện tử dành cho các khách hàng của NHBB chủ yếu là Home banking và Internet banking Hiện nay, các NH Việt Nam mới chỉ thực hiện được một phần trong giai đoạn hai của chiến lược NH điện tử, tức là khách hàng mới chỉ truy vấn tài khoản và vẫn phải tới NH để thực hiện các giao dịch Sử dụng dịch vụ
NH điện tử chủ yếu là các TCTD, còn các DN, tổ chức kinh tế chỉ tham gia với tính chất tư vấn, tham khảo và tìm kiếm thông tin là chính
1.2.4.7 Dịch vụ khác
Ngoài các dịch vụ nêu trên, NHBB còn cung cấp các dịch vụ khác như: dịch vụ ngăn tủ sắt, dịch vụ ủy thác,…
Trang 271.3 Dịch vụ ngân hàng bán lẻ
1.3.1 Khái niệm ngân hàng bán lẻ
Theo khái niệm của Tổ chức thương mại thế giới, NHBL là nơi khách hàng cá
nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của NH để thực hiện các dịch vụ như: gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
và các dịch vụ khác đi kèm
Các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT cho rằng NHBL là
NH cung ứng sản phẩm, dịch vụ NH tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNNVV thông qua mạng lưới chi nhánh Khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch
vụ NH thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin
Từ điển giải nghĩa Tài chính – Đầu tư – Ngân hàng – Kế toán Anh Việt, Nhà xuất
bản khoa học và kinh tế năm 1999 định nghĩa dịch vụ NHBL là các dịch vụ NH được
thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ NHBB là dịch vụ NH dành cho các định chế tài
chính và những dịch vụ NH được cung cấp với số lượng lớn
Theo cách hiểu thông thường, NHBL là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ
chủ yếu cho khách hàng là các DNNVV, các hộ gia đình và các cá nhân
Cũng có quan điểm cho rằng NHBL là NH giao dịch không thông qua các trung gian tài chính Nếu hiểu theo góc độ này thì bán lẻ chính là “một vấn đề của phân phối” trong đó chủ yếu triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm các sản phẩm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối mà nổi bật là kinh doanh qua mạng
Nói tóm lại, kết hợp các quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về NHBL như
sau: NHBL là NH cung ứng các sản phẩm dịch vụ NH cho các đối tượng chủ yếu là
các cá nhân, hộ gia đình hay DNNVV thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc việc các khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ NH thông qua phương tiện thông tin, điện tử viễn thông
Trang 281.3.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Đối tượng phục vụ của NHBL vô cùng lớn: các cá nhân, hộ gia đình và các
DNNVV có số lượng rất lớn và đa dạng về hình thức phục vụ
Số lượng sản phẩm dịch vụ NHBL cung cấp rất đa dạng nhưng giá trị của từng khoản giao dịch không cao Sản phẩm dịch vụ NHBL bao gồm các sản phẩm thuộc
tài sản nợ (huy động vốn), tài sản có (cho vay) và các sản phẩm dịch vụ NH khác rất
đa dạng về chủng loại và phong phú về hình thức Tuy nhiên, do khách hàng của NHBL là các cá nhân và DNNVV nên giá trị giao dịch không cao Để phục vụ mỗi đối tượng khách hàng của NHBL, NH cũng phải tốn chi phí giống như khi phục vụ một khách hàng của NHBB nên chi phí bình quân tính trên mỗi giao dịch của NHBL thường lớn
Dịch vụ NHBL phát triển chủ yếu dựa trên nền tảng công nghệ và nguồn nhân lực Sự phát triển của dịch vụ NHBL phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển công
nghệ thông tin của nền kinh tế nói chung và mỗi NH nói riêng Điển hình là các sản phẩm NHBL điện tử được ứng dụng mạnh mẽ công nghệ hiện đại trong việc mở rộng
và nâng cao chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, để đưa sản phẩm dịch vụ đến từng đối tượng khách hàng, NHBL phải có một đội ngũ nhân viên lớn và thông thạo
nghiệp vụ
Dịch vụ đơn giản, dễ thực hiện: Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá
nhân, nên các dịch vụ thường tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản, vay vốn,
mở thẻ tín dụng
Chi phí hoạt động trung bình cao: Số lượng khách hàng tuy đông nhưng phân tán
rộng khắp nên việc giao dịch không được thuận tiện Vì vậy, để phục vụ các khách hàng này, NH thường phải mở rộng mạng lưới, đầu tư giao dịch online rất tốn kém
Phương thức quản lý và các hình thức tiếp thị đa dạng, phức tạp hơn dịch vụ
NHBB do mạng lưới khách hàng trải rộng
1.3.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
1.3.3.1 Đối với nền kinh tế
Dịch vụ NHBL góp phần khai thác nguồn lực của nền kinh tế một cách có hiệu quả và góp phần thực thi chính sách tiền tệ quốc gia Vai trò này thể hiện thông qua
Trang 29việc góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn từ các DNNVV và các cá nhân để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho
cả ngân hàng và khách hàng
Dịch vụ NHBL càng phát triển thì càng thể hiện tính chuyên môn hóa của NH trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ, đưa dịch vụ đến gần hơn với người sử dụng, từ đó sẽ góp phần giảm chi phí của xã hội và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của chủ thể khác
Việc phát triển các sản phẩm dịch vụ NHBL trên nền tảng công nghệ tiên tiến, hiện đại thể hiện sự văn minh của nền kinh tế quốc gia vì nó trực tiếp làm biến đổi từ nền kinh tế tiền mặt sang nền kinh tế phi tiền mặt Nhờ vào khả năng mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ NHBL góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, kiểm soát các hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, tham nhũng…
1.3.3.2 Đối với ngân hàng
Tạp chí Stephen Timewell nhận định: xu hướng ngày nay thể hiện rõ rằng, NH nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ NHBL cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai Vì vậy, NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trên thế giới, các NHBL toàn cầu sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách 20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vào năm 2015 Các NHTM Việt Nam đã và đang phát triển dịch
vụ NHBL vì đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các NH trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo cho các NH quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng dịch
vụ chất lượng cao cho khách hàng, định hướng kinh doanh, thị trường sản phẩm mục tiêu, giúp NH đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu
Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế Nguồn thu này sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng cao nếu
NH thu hút được ngày càng nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của mình Phát triển dịch vụ NHBL là cách thức có hiệu quả nhất để thay đổi cơ cấu thu nhập của NH Với điều kiện thị trường ngày càng phức tạp, hoạt động tín dụng có quá nhiều rủi ro
Trang 30nên nếu chỉ dựa vào nguồn thu từ lãi tín dụng sẽ rất bấp bênh Vì vậy, việc phát triển các dịch vụ NHBL sẽ tăng nguồn thu dịch vụ cho NH
Dịch vụ NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho NH, góp phần đa dạng hóa hoạt động NH, góp phần làm vững mạnh nền tài chính quốc gia NHBL
mở rộng khả năng mua bán chéo (cross-sold) giữa các cá nhân và DN với NH, từ đó gia tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của NHTM
Phát triển dịch vụ NHBL sẽ mang lại nhiều lợi ích từ huy động vốn, tín dụng và dịch vụ cho các NHTM Ngoài nguồn vốn huy động có kỳ hạn tương đối ổn định, NHTM còn có thể sử dụng số dư không kỳ hạn từ các tài khoản thanh toán, tài khoản
mở phát hành thẻ, tài khoản ký quỹ…để huy động nguồn vốn có lãi suất thấp
1.3.3.3 Đối với khách hàng
Vì đây là ngành lợi thế theo quy mô và phạm vi nên khi số người tham gia càng nhiều thì chi phí càng thấp và càng thuận tiện cho người sử dụng Việc phát triển các sản phẩm dịch vụ NHBL trên nền tảng công nghệ tiên tiến giúp tiết kiệm nhân lực và giảm chi phí vận hành, nhờ đó giảm chi phí dịch vụ cho khách hàng Khách hàng sẽ được phục vụ tốt hơn do hoạt động NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình Đặc biệt, đối với các DNNVV, thông qua nguồn vốn được tài trợ và các tiện ích thanh toán khác, hoạt động NHBL tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất và luân chuyển hàng hóa
1.3.4 Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ chủ yếu
1.3.4.1 Huy động vốn
Các NHTM huy động nguồn vốn từ các cá nhân và DNNVV dưới các hình thức chủ yếu như: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành các loại giấy tờ có giá Các khách hàng cá nhân và DNNVV có nguồn vốn nhàn rỗi tuy không lớn nhưng với số lượng khách hàng đông sẽ tạo nên nền tảng huy động vốn lớn cho các NHTM Thông thường, nguồn vốn huy động qua các đối tượng khách hàng bán lẻ thường có chi phí cao do địa bàn huy động dàn trải, các khách
Trang 31hàng cá nhân thường lựa chọn hình thức gửi tiết kiệm và sự cạnh tranh giữa các NH trong huy động vốn Ngoài ra, nguồn vốn này thường không đồng đều về không gian địa lý do ảnh hưởng bởi thu nhập và trình độ dân trí
Trong các hình thức huy động bán lẻ thì tiền gửi tiết kiệm của cá nhân là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn, góp phần quan trọng tạo nên nguồn vốn trung dài hạn để tài trợ cho các hoạt động tín dụng của NH Trên thế giới, có hai loại tiền gửi tiết kiệm chính:
Tiền gửi tiết kiệm không có thời gian đáo hạn: người gửi khi muốn rút ra phải
báo trước cho NH một thời gian Tuy nhiên, trên thực tế, ngày nay các NH thường cho phép khách hàng được rút tiền tiết kiệm mà không cần báo trước
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: người gửi ký thác ở NH để sử dụng vào một mục
đích nhất định như mua nhà ở, trang trải chi phí học tập,… Đối với những người gửi loại tiền này, NH thường cấp tín dụng để bù đắp thêm phần thiếu hụt khi sử dụng theo mục đích của tiền gửi tiết kiệm
Ở Việt Nam, loại hình tiền gửi tiết kiệm ở các NH hết sức đa dạng như tiền gửi không kỳ hạn (tất cả các NH đều có); tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn không mục đích (đa số các NH đều có); tiền gửi tiết kiệm dự thưởng (Vietinbank, ACB); tiền gửi tiết kiệm bậc thang (Vietinbank); tiết kiệm an cư (EAB); tiết kiệm cơ hội vàng (STB)…
1.3.4.2 Tín dụng
Dịch vụ tín dụng bán lẻ bao gồm: cho vay cá nhân (như cho vay du học; cho vay mua nhà trả góp; cho vay mua ô tô; cho vay đầu tư chứng khoán, kinh doanh vàng, bất động sản …), cho vay hộ gia đình và cho vay các DNNVV (như cho vay từng lần, cho vay thấu chi, cho vay theo hạn mức)
Trong lĩnh vực tín dụng hiện nay, các NHTMCP tỏ ra năng động và ưu thế hơn các NHTMNN và NHNNg trong việc cung cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân Nhìn chung, hiện nay các NHTMCP đã phát triển các sản phẩm tín dụng khá đa dạng
và phong phú dành cho các khách hàng cá nhân, điển hình như ACB, STB, EIB, EAB Các sản phẩm của ACB tập trung vào các nhóm chính như: cho vay sinh hoạt tiêu dùng; cho vay hỗ trợ tiêu dùng; cho vay xây dựng, sửa chữa nhà; cho vay mua nhà, nền nhà, hoán đổi nhà, cho vay sản xuất kinh doanh; cho vay mua xe cơ giới;
Trang 32cho vay hỗ trợ du học…Về mặt quy chế và thủ tục, cho vay khách hàng cá nhân vẫn thực hiện theo quy chế cho vay khách hàng của các TCTD Có một điểm khác biệt là các NHTMCP như ACB thường tổ chức bộ phận riêng chuyên giao dịch với khách hàng cá nhân để tiện giao dịch và phục vụ tốt hơn cho các khách hàng
Nhìn chung, tỷ trọng cho vay cá nhân và các DNNVV ngày càng lớn trong tổng
dư nợ của NH, góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận cho các NHTM Tuy nhiên, các khoản cho vay nhỏ lẻ, phân tán nên chi phí quản lý cao Bên cạnh đó, các khách hàng vay rất nhạy cảm với các yếu tố như lãi suất, thời hạn và thủ tục nên NHTM bị tác động mạnh bởi yếu tố cạnh tranh trên thị trường và khả năng trục lợi của khách hàng
1.3.4.3 Dịch vụ thanh toán
NH thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ như phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử…NH thực hiện dịch vụ này thông qua việc mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho khách hàng Các phương tiện thanh toán thông dụng bao gồm: séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thương phiếu…
Với việc cung ứng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, NHTM mang lại cho các cá nhân và DNNVV nhiều tiện ích trong việc thanh toán Nhờ lượng khách hàng này, NHTM có thể tăng thêm thu nhập từ thu phí dịch vụ và là cơ sở để phát triển các dịch vụ khác Điển hình nhất là thông qua việc mở các tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, các NH có cơ hội cung cấp dịch vụ thẻ cho các cá nhân Thẻ ATM đang được xem là một công cụ hiện đại, năng động và linh hoạt, phục
vụ hữu hiệu cho khách hàng khi sử dụng tài khoản cá nhân với độ an toàn và tính bảo mật cao Thẻ ATM xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2002 Đến cuối năm
2007, có hơn 30 NH tham gia với trên 130 thương hiệu thẻ khác nhau gồm thẻ ghi nợ nội địa, thẻ ghi nợ quốc tế, thẻ tín dụng quốc tế và thẻ trả trước Tổng số thẻ phát hành đạt khoảng gần 10 triệu thẻ, bao gồm cả thẻ nội địa và quốc tế, tăng hơn 120%
so với cùng kỳ năm 2006 trong đó thẻ nội địa chiếm 94.3% Sản phẩm thẻ nội địa tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao trong đó chủ yếu là thẻ ghi nợ nội địa với tổng
số phát hành lên đến hơn 9 triệu thẻ, tăng 124% so với năm 2006 trong đó VCB tiếp tục dẫn đầu với hơn 2.3 triệu thẻ, chiếm hơn 25% thị phần Hoạt động phát hành thẻ quốc tế cũng đạt mức tăng trưởng đáng kể với hơn 550 nghìn thẻ, tăng 83% so với
Trang 33năm 2006 Vị trí đứng đầu về số lượng thẻ phát hành của ACB và VCB tiếp tục được duy trì trong đó ACB chiếm 44.7% thị phần, VCB chiếm 30.9% thị phần Mạng lưới ATM đạt 4.800 máy, tăng 103% so với năm 2006 Mạng lưới chấp nhận thẻ cũng được mở rộng từ vài trăm điểm lên gần 18.000 điểm trong đó VCB tiếp tục dẫn đầu với 5.500 POS
1.3.4.4 Dịch vụ ngân hàng điện tử
Trong những năm gần đây, với sự phát triển của công nghệ thông tin, các sản phẩm dịch vụ NH dần dần được hiện đại hóa, từ đó cho ra đời các sản phẩm NH hiện đại, nhiều tiện ích, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các cá nhân và DNNVV Tại TP.HCM và cả nước, các NHTMCP, điển hình như ACB, VCB đã tiên phong trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ NH điện tử hiện đại, có thể kể đến như:
Phone banking: khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản; kiểm tra các giao
dịch gần nhất; nghe các thông tin về tỷ giá và lãi suất; yêu cầu NH gửi fax các bảng sao kê, tỷ giá hoặc lãi suất cho khách hàng Hiện đã có một số NH cung cấp dịch vụ
này như BIDV, VCB, Vietinbank, ACB
Internet banking: khách hàng có thể tìm kiếm thông tin về sản phẩm và dịch vụ
của NH; truy cập thông tin về tài khoản cá nhân như số dư, các giao dịch của tài khoản trong từng tháng Hiện nay, các một số NHTM của Việt Nam đã triển khai
dịch vụ này như VCB, Vietinbank, ACB, BIDV, Techcombank
Mobile banking: khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản; liệt kê giao dịch;
thông báo số dư, tỷ giá và lãi suất tự động; thanh toán hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, internet và nạp tiền vào thẻ Các NH cung cấp dịch vụ này gồm có BIDV,
Vietinbank, ACB, Techcombank…
Home banking: khách hàng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch tại nhà hoặc
văn phòng làm việc của mình thông qua hệ thống máy tính kết nối với hệ thống máy tính của NH Các giao dịch thông thường bao gồm chuyển tiền, tỷ giá, lãi suất, báo
nợ, báo có…Hiện nay, một số NH cung cấp dịch vụ này là BIDV, Techcombank,
Eximbank, VCB
Trang 341.3.4.5 Các dịch vụ khác
Ngoài các dịch vụ nêu trên, các dịch vụ dành cho DNNVV còn bao gồm dịch vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh Dịch vụ dành cho các cá nhân còn bao gồm dịch vụ chi trả kiều hối, thu hộ/chi hộ, chuyển tiền du học, giữ hộ vàng, cho thuê tủ sắt…
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến dịch vụ NHBB và NHBL Qua nghiên cứu rút ra:
- Dịch vụ NHBB nhằm phục vụ cho các TCKT và TCTD trong đó chủ yếu là các
dịch vụ tín dụng, thanh toán XNK, kinh doanh ngoại tệ NHBB thường giao dịch với giá trị lớn nên có tính chất quyết định quy mô đầu ra (thường là tín dụng) của các
NH, vì vậy dịch vụ NHBB đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận NH Việc phát triển các dịch vụ NHBB có thể tạo điều kiện cho nhiều dịch vụ NH khác, đặc biệt là dịch vụ NHBL phát triển dễ dàng hơn
- Dịch vụ NHBL nhằm phục vụ cho các cá nhân và DNNVV trong đó chủ yếu là
các dịch vụ huy động vốn, cho vay tiêu dùng, thanh toán thẻ Dịch vụ NHBL là mảng kinh doanh dịch vụ hiện đại nên hiện nay được nhiều NHTM chú trọng phát triển Đây là hoạt động dịch vụ chủ yếu tạo ra nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho NH,
là cơ sở để tài trợ cho hoạt động tín dụng bán buôn và đa dạng hóa hoạt động của các NHTM Hoạt động NHBL đem lại nguồn thu nhập ổn định, chắc chắn, hạn chế được nhiều rủi ro bên ngoài, tiết kiệm chi phí và thời gian, tức là nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NH Đối với nền kinh tế nói chung, hoạt động NHBL góp phần khai thác và tận dụng hiệu quả tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân cư, xây dựng văn minh thanh toán không dùng tiền mặt
Trang 35CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN VÀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VCBHCM GIAI ĐOẠN 2004 – 2008
2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển VCBHCM
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh (VCBHCM) mà tiền thân là Ngân hàng Việt Nam Thương tín, được thành lập sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, ngày 1-11-1976 Trải qua hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, VCBHCM đã có những đóng góp xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội của TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung
Từ ngày đầu thành lập, tổng số CBNV chi nhánh là 338 người Là một chi nhánh
có những hoạt động rất đa dạng, lại có một khối lượng giao dịch lớn nhất nước về XNK, dịch vụ ngoại tệ kiều hối và các giao dịch đối ngoại khác tại địa bàn TP.HCM
và các tỉnh phía Nam, chi nhánh đã thực hiện tốt vai trò của mình trong suốt thời kỳ
kế hoạch tập trung bao cấp Do tác động phức tạp của nền kinh tế thị trường, sự thiếu đồng bộ trong đổi mới nên giai đoạn đầu của thời kỳ 1996-2000, VCBHCM đã lâm vào tình trạng “thoái trào” vì số lượng tài sản thất thoát qua các vụ án kinh tế và nợ quá hạn khó đòi tăng cao, lên đến trên 1.200 tỷ đồng Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo NHNT vẫn vững vàng, kiên quyết bằng mọi giá ổn định tình hình và khắc phục khó khăn Chi nhánh đã giải quyết thành công những nội dung hoạt động của Chương trình tái cơ cấu, tiếp tục đổi mới và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh Đến nay, chi nhánh VCBHCM có tất cả 37 phòng ban trong đó có 10 PGD, 1000 cán bộ nhân viên
Tóm lại, sau một chặng đường hơn 30 năm hình thành và phát triển, VCBHCM ngày nay đã trở thành một NHTM thực sự hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường, vận hành theo các quy định của luật pháp hiện hành về NHTM ở Việt Nam Bằng những định hướng đúng đắn và những nỗ lực phấn đấu không ngừng, chi nhánh
đã giữ vững vị trí một cơ sở NHTM quốc doanh có quy mô lớn nhất nước về bộ máy
tổ chức NHBL hiện đại, đáp ứng yêu cầu phục vụ hoạt động kinh tế - dịch vụ Nhờ
Trang 36hoạt động tăng trưởng cao, chi nhánh đã góp phần tích cực trong việc thực hiện thành công những nội dung cơ bản của Chương trình đổi mới – tái cơ cấu của cả hệ thống VCB Đặc biệt, cùng với thành công trong đợt IPO của VCB vào ngày 26/12/2007 đánh dấu mốc son trong lịch sử 45 năm hình thành và phát triển của một NHTM lớn nhất Việt Nam, chi nhánh VCBHCM đang từng bước chuyển mình để hòa nhập vào
xu thế mới của thời đại, sẵn sàng cho một cuộc hành trình nhìn ra biển lớn
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của VCBHCM giai đoạn 2004 - 2008
2.2.1 Đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của VCBHCM
Bảng 2.1: Một số hoạt động chủ yếu và kết quả kinh doanh của VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008
Tốc độ tăng trưởng Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 Q1.08
05/04 06/05 07/06 08/07*
1 Nguồn vốn (ngàn tỷ đồng) 21.7 24.6 25.4 28.0 27.3 14% 3% 10% 9%
Trong đó vốn huy động 19.6 22.0 22.6 25.1 24.3 12% 3% 11% 10%
2 Dư nợ tín dụng (ngàn tỷ đồng) 11.1 14.0 10.9 13.5 15.6 26% -22% 24% 26%
3 Thanh toán quốc tế (tỷ USD) 5.5 7.5 10.1 9.9 3.1 37% 35% -3% 31%
4 Kinh doanh ngoại tệ (tỷ USD) 4.1 5.6 7.1 8.3 3.4 35% 28% 16% 92%
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của VCBHCM các năm 2004-2008
(Chú thích: *quý 1.08 so với quý 1.07)
Nhìn chung, giai đoạn 2004 – 2008 đánh dấu nhiều bước thăng trầm trong các mặt hoạt động của VCBHCM Năm 2005, hầu hết các lĩnh vực hoạt động của chi nhánh đều đạt kết quả rất cao Bước sang năm 2006, do sự chuyển tách các chi nhánh cấp 2 theo chủ trương của NHNN làm cho nguồn vốn chỉ tăng 3% trong khi dư nợ tín dụng giảm mạnh 22%, phát hành thẻ giảm 5% kéo theo các chỉ tiêu như thu lãi ròng, thu dịch vụ ròng cũng giảm mạnh, kết quả là lợi nhuận giảm 43% Chính vì vậy, trong năm 2007, chi nhánh đã từng bước khôi phục và phát triển các mặt hoạt động kinh doanh nhằm bù đắp lại sự sụt giảm doanh số do việc chuyển tách các chi nhánh cấp 2 Về cơ bản, các mặt hoạt động chính đã có sự tăng trưởng khá, tạo đà cho những năm tiếp theo, điển hình như vốn huy động tăng 11%, dư nợ tín dụng tăng
Trang 3724%, doanh số mua bán ngoại tệ tăng 16% Đặc biệt, bước sang những tháng đầu năm 2008, thị trường tài chính tiền tệ có nhiều biến động mạnh, điển hình là “cơn bão” lãi suất huy động của các NHTM trên địa bàn kéo theo sự dịch chuyển một lượng khách hàng của chi nhánh sang giao dịch tại các NH khác Trước tình hình đó, bằng nhiều nỗ lực, VCBHCM đã làm chủ được tình thế và gặt hái được những kết quả đáng khích lệ với tốc độ tăng trưởng cao trên tất cả các mặt hoạt động, điển hình
là các mảng kinh doanh dịch vụ truyền thống
2.2.2 Đánh giá về thị phần hoạt động của VCBHCM
Bảng 2.2: So sánh thị phần của VCBHCM với toàn hệ thống VCB
Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ các báo cáo hoạt động kinh doanh của VCB và VCBHCM
Bảng 2.3: So sánh thị phần của VCBHCM trên toàn địa bàn TP.HCM
3 Thanh toán quốc tế 36% 40% 37% 30% 1
4 Kinh doanh ngoại tệ 15% 14% 12% 10% 1
2007 huy động chỉ còn chiếm 5% còn dư nợ chỉ còn 3% Thị trường thẻ ATM cũng
Trang 38bị chia sẻ bởi các NHTM khác với mức độ ngày càng tăng Riêng hai mảng dịch vụ truyền thống là thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ vẫn còn giữ được phong độ mặc dù đã có sự giảm sút so với các năm trước
Hiện nay, các NHTMCP trong nước đang đẩy mạnh mảng kinh doanh dịch vụ bán lẻ và họ đã chinh phục được thị trường bởi chất lượng dịch vụ hơn hẳn các NHTMNN, điển hình là dịch vụ huy động vốn có tốc độ tăng trưởng trên 50%, cá biệt có những NH có mức tăng trưởng trên 100% trong năm 2007 như Sacombank Bên cạnh đó, các NHTMNN khác trên địa bàn cũng chú trọng hơn đến chính sách khách hàng cũng như không ngừng đưa ra các sản phẩm mới nhằm duy trì thị phần
và thu hút các khách hàng Các NH liên doanh, chi nhánh NHNNg mặc dù chưa tấn công mạnh vào thị trường nhưng cũng đang gấp rút chuẩn bị cho các chiến lược dài hạn nhằm khai thác tiềm năng to lớn của nền kinh tế Việt Nam Tất cả nhưng đối thủ này là thách thức rất lớn đối với VCBHCM, nhất là khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính NH vào năm 2010 Trong các năm tiếp theo để tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu trong toàn hệ thống, chi nhánh cần phải nỗ lực rất nhiều nhằm duy trì các mảng hoạt động kinh doanh truyền thống như tín dụng, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ đồng thời tăng cường mở rộng các hoạt động của một NH hiện đại, đặc biệt chú trọng mảng dịch vụ bán lẻ
2.3 Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ tại VCBHCM giai đoạn 2004 – 2008
Nguồn: Báo cáo nguồn vốn và sử dụng vốn của VCB các năm 2004-2008
(Chú thích: *quý 1.08 so với quý 1.07)
Trang 39Nhìn chung, tốc độ tăng của vốn huy động bán buôn giữa các năm khá cao: từ
9% đến 24% Ngược lại, huy động bán lẻ có tốc độ tăng trưởng thất thường Điều
này là do việc chuyển tách các chi nhánh cấp 2 vào cuối năm 2006 làm vốn huy động
của chi nhánh giảm đi 15% trong đó có tới/ 2/3 là huy động bán lẻ Sang năm 2007,
với nỗ lực mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch, huy động bán lẻ của chi nhánh đã
phục hồi và đạt tốc độ tăng 14% Tuy nhiên, bước vào đầu năm 2008, tình hình khan
vốn trên thị trường buộc các NHTM lao vào cuộc đua lãi suất khiến cho lợi thế cạnh
tranh về huy động vốn của chi nhánh bị suy giảm Trong cuộc chạy đua này, VCB
nói chung và VCBHCM nói riêng đành phải theo sau các NHTMCP – nơi có cơ chế
lãi suất linh động hơn rất nhiều Và kết quả là chi nhánh đã mất đi một lượng tiền gửi
không nhỏ (bình quân chi nhánh mất đi gần 1000 tỷ so với thời điểm đầu năm) trong
đó có tới một nửa là tiền gửi của các khách hàng cá nhân do dịch chuyển vốn sang
Huy động bán buôn: giai đoạn 2004 – 2008, huy động bán buôn chiếm trung bình
21% so với toàn hệ thống và 10% so với toàn địa bàn Nhìn chung, thị phần có sự
tăng giảm giữa các năm nhưng không đáng kể Với tỷ trọng thị phần này, VCBHCM
vẫn được coi là một chi nhánh dẫn đầu hệ thống và có lợi thế huy động bán buôn trên
địa bàn
Huy động bán lẻ: thị phần sụt giảm rõ rệt qua các năm, điển hình là thị phần so
với toàn địa bàn, đến năm 2008 chỉ còn chiếm 4% Điều này cho thấy chi nhánh đã
không giữ chân được các khách hàng cá nhân chuyển sang giao dịch tại NH khác có
lãi suất hấp dẫn hơn và nhiều chương trình khuyến mãi hơn
Trang 402.3.1.3 Về cơ cấu huy động ( phụ lục 1)
Cơ cấu huy động theo loại tiền
Cơ cấu này tương đối đồng đều giữa VNĐ và ngoại tệ, giữa bán buôn và bán lẻ trong từng loại tiền Tuy nhiên, tỷ trọng huy động bán buôn cao hơn một chút so với bán lẻ Cụ thể: trong huy động VND, bán buôn chiếm trung bình 58% còn trong huy
động ngoại tệ, bán buôn chiếm trung bình 55% (đồ thị 2 và 3)
Xét cơ cấu huy động theo loại tiền đối với từng mảng bán buôn và bán lẻ ta thấy: giai đoạn từ 2004 – 2006, huy động ngoại tệ có ưu thế hơn so với VND (đối với bán buôn, huy động ngoại tệ chiếm trung bình 53%; đối với bán lẻ, huy động ngoại tệ chiếm trung bình 55%), tuy nhiên sang giai đoạn 2007 – 2008, huy động VND lại có
ưu thế hơn so với ngoại tệ (huy động VND chiếm trung bình 59% trong huy động bán buôn và 57% trong huy động bán lẻ) Sự chuyển dịch nguồn vốn huy động từ ngoại tệ sang VND nằm trong xu thế chung của các NHTM trên địa bàn TP.HCM
Cụ thể là: vốn huy động VND của các NHTM năm 2007 tăng 85% so với năm 2006, chiếm 75% trong cơ cấu huy động vốn (trong khi năm 2006 tỷ trọng này chỉ đạt 69%); vốn huy động VND cuối tháng 3.08 đạt 388.875 tỷ, tăng 55.3% so với cùng
kỳ, chiếm 75% tổng huy động Nguyên nhân của hiện tượng này là do chênh lệch lãi suất giữa VNĐ và ngoại tệ vẫn khá lớn (trung bình năm 2007 từ 3% - 4%/năm, 3 tháng đầu năm 2008 từ 5% - 6%/năm) kết hợp với mức độ biến động của giá cả khoảng 0.36% nên lãi suất VNĐ vẫn tiếp tục hấp dẫn người dân gửi tiền đồng Bên cạnh đó, lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế tương đối ổn định và có xu hướng giảm trong những tháng cuối năm gắn liền với việc điều chỉnh giảm lãi suất liên tục của cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) từ 5.25%/năm xuống còn 2.25%/năm vào cuối tháng 3/2008
Cơ cấu huy động theo kỳ hạn
Nguồn vốn huy động không kỳ hạn chiếm tỷ trọng khá cao (trung bình 52%) trong
đó phần lớn là từ mảng bán buôn (huy động bán buôn chiếm trung bình 76% huy động không kỳ hạn) Ngược lại, huy động bán lẻ lại chiếm tỷ trọng cao trong huy động có kỳ hạn (trung bình 64%) – đồ thị 3 và 4 Cơ cấu này cho thấy chi nhánh rất
có lợi thế về chi phí huy động vốn vì nguồn tiền huy động chủ yếu từ tiền gửi thanh toán của các DN lớn, điển hình như Cụm cảng Hàng không Việt Nam, Tổng công ty