1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÂN TÍCH ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC ĐẶC TRƢNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

113 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây về đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng đều đo lường tỷ suất sinh lợi bằng hai chỉ tiêu là tỷ suất sinh lợi trên

Trang 1

VĂN THỊ THU HIỀN

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2014

Trang 2

VĂN THỊ THU HIỀN

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướng dẫn hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là TS Lại tiến Dĩnh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo

Nếu có bất kì sai sót, gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2014

Tác giả

Văn Thị Thu Hiền

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa thực tiễn 5

7 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7

1.1 Tổng quan đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng 7

1.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới và ở Việt Nam về tỷ suất sinh lợi và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng 16

Trang 5

Kết luận chương 1 22

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI TP.HCM 23

2.1 Khả năng sinh lời trên tài sản 23

2.2 Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu 25

2.3 Quy mô vốn chủ sở hữu (CA) 26

2.4 Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn (LA) 31

2.5 Khả năng thanh khoản (LDR) 33

2.6 Hiệu quả quản lý (EFF) 35

2.7 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) 37

2.8 Quy mô ngân hàng (SIZE) 39

2.9 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GRT) 40

2.10 Tỷ lệ lạm phát (INF) 41

2.11 Cung tiền (M2) 42

Kết luận chương 2 42

CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CÁC ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA MỘT SỐ NHTMCP TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 44

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 44

Trang 6

3.4 Phân tích thống kê mô tả 51

3.5 Phân tích tương quan 54

3.6 Kết quả phân tích 60

Kết luận chương 3 68

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 69

4.1 Một số giải pháp đề xuất 69

4.1.1 Đề xuất đối với các ngân hàng 69

4.1.2 Đề xuất đối với Chính phủ 76

4.2 Giới hạn của đề tài 77

4.3 Kiến nghị hướng nghiên cứu trong tương lai 77

Kết luận chương 4 78

KẾT LUẬN CỦA LUẬN VĂN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Tên tiếng anh Nghĩa tiếng Việt

CA Capital To Assets Vốn chủ sở hữu

GRT Gross Domestic Product Tốc độ tăng trưởng GDP

NIM Net Interest Margin Tỷ lệ lãi cận biên

ROA Return On Assets Tỷ lệ lãi ròng trên tổng tài sản ROE Return On Equity Tỷ lệ lãi ròng trên vốn chủ sở hữu

SPSS Statistical Package for the

Social Sciences Phần mềm thống kê

VIF Variance Inflation Factor Hệ số phóng đại phương sai

Trang 8

Bảng 2 3: Mức vốn pháp định cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 27

Bảng 2 4: Nguồn vốn chủ sở hữu bình quân của một số NHTMCP Việt Nam từ

2006 - 2013 29

Bảng 2 5: Các NHTM Việt Nam có quy mô vốn lớn 31

Bảng 2 6: Tỷ số tổng dƣ nợ trên tổng nguồn vốn bình quân của một số NHTMCP Việt Nam từ 2006 - 2013 31

Bảng 2 7: Một số NHTMCP Việt Nam có tỷ số tổng dƣ nợ trên tổng nguồn vốn vƣợt khung an toàn 33 Bảng 2 8: Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động bình quân của một số NHTMCP Việt Nam từ 2006 - 2013 34

Bảng 2 9: Chỉ số hoạt động bình quân của một số NHTMCP Việt Nam từ 2006 -

Trang 9

Bảng 3 3: Thống kê mô tả các biến 51

Bảng 3 4: Kết quả phân tích tương quan 55

Bảng 3 5: Tóm tắt mô hình 1 61

Bảng 3 6: Kết quả phân tích ANOVA của mô hình 1 61

Bảng 3 7: Hệ số hồi quy 61

Bảng 3 8: Tóm tắt mô hình 2 64

Bảng 3 9: Kết quả phân tích ANOVA mô hình 2 65

Bảng 3 10: Hệ số hồi quy 65

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mặc dù tầm quan trọng của các định chế tài chính trung gian khác như công

ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư đang ngày càng tăng lên nhưng ngân hàng vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống tài chính của nền kinh tế

và được xem như hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế trên quốc gia và toàn cầu Bởi vì, thứ nhất, ngân hàng là nơi tái phân bổ tiền (hay tín dụng) từ người tiết kiệm tới người cho vay (chức năng tín dụng); thứ hai, ngân hàng nằm ở trung tâm của hệ thống thanh toán bù trừ (chức năng thanh toán), bằng cách phối hợp để thanh toán, ngân hàng giúp các cá nhân và công ty thực hiện các giao dịch nhanh hơn và tiết kiệm chi phí hơn; thứ ba, ngân hàng có chức năng tạo tiền cho nền kinh tế - tức là tạo ra lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Như vậy, mặc dù không trực tiếp tạo ra sản phẩm của cải vật chất cho nền kinh tế, song, với những hoạt động riêng có của mình, ngành ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tổng lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2012 là 28,600 tỷ đồng, sụt giảm gần 50% so với năm 2011; lợi nhuận của hầu hết các ngân hàng, kể cả các ngân hàng lớn như Vietcombank, Vietinbank, BIDV đều bị giảm mạnh đáng kể Tính tới tháng 11/2013, lợi nhuận lũy kế của ngành ngân hàng khoảng 29.500 tỉ đồng, tăng 3,2% so với cuối năm 2012 nhưng quy mô lợi nhuận chỉ bằng 53% so với năm 2010 và bằng 64% so với năm 2011; trong 100

tổ chức tín dụng có lãi thì hơn 50% có số lợi nhuận giảm một nửa so với 2012 Tiêu biểu tại TP.HCM, theo Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, tổng lợi nhuận của các ngân hàng trên địa bàn đạt được đến ngày 25-12-2013 là 5.459 tỉ đồng, sụt giảm so với mức 6.666 tỉ đồng năm 2012, có 80 chi nhánh trên tổng số

378 chi nhánh của các ngân hàng hoạt động trên địa bàn TP.HCM thua lỗ và có tổng cộng 10 ngân hàng tại TP.HCM đã có đề án tái cấu trúc và đang trong tiến trình thực hiện

Trang 12

Theo báo cáo “Khảo sát về ngành ngân hàng Việt Nam năm 2013” của KPMG Việt Nam về ngành ngân hàng dựa trên thông tin thu thập từ báo cáo thường niên của 33 ngân hàng cho biết: tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) của ngành ngân hàng năm 2012 là 0.78% giảm 27% so với mức 1.06% của năm 2011 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) của ngành ngân hàng năm 2012 là 9.56%, giảm 33%

so với mức 14.19% của năm 2011

Nhìn vào những số liệu báo cáo trên, ta có thể thấy tình hình hoạt động của các ngân hàng Việt Nam rất kém hiệu quả, đạt lợi nhuận không cao và thậm chí thua lỗ Với vai trò cung cấp tín dụng và vận hành hệ thống thanh toán của nền kinh

tế, sự phá sản của ngân hàng có thể gây ra các tác động tiêu cực lớn hơn tới nền kinh tế so với sự sụp đổ của hoạt động kinh doanh khác Do đó, các nhà quản trị ngân hàng, các nhà đầu tư, các nhà nghiên cứu cần phải nghiên cứu tìm hiểu rõ ràng quá trình hình thành lợi nhuận của ngân hàng, cụ thể hơn là phân tích, tìm hiểu những yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng để có cơ sở đưa ra những quyết định kinh doanh thích hợp

Nghiên cứu thực nghiệm về đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng khá phổ biến trên thế giới và từ rất sớm như Short (1979), Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992) và Demirguc-Kunt and Huizinga (2000), nhưng ở Việt Nam đề tài này chưa được phổ biến Đa số các đề tài thực nghiệm ở Việt Nam tập trung phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính, hoặc quản trị tài sản, hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc một số doanh nghiệp nổi bật được niêm yết trên thị trường chứng khoán Mới gần đây thì

có nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngân (2011) và Phan Thị Hằng Nga (2011), Ngô Phương Khanh (2013) nhưng vẫn còn nhiều bất cập Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây về đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân

hàng đều đo lường tỷ suất sinh lợi bằng hai chỉ tiêu là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài

sản (ROA- lợi nhuận ròng trên tổng tài sản) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE- lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) và chia các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi thành hai nhóm là nhóm các yếu tố thuộc về đặc trưng ngân hàng như

Trang 13

vốn chủ sở hữu, dư nợ, vốn huy động…và các yếu tố thuộc về kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hằng năm

Dựa trên thực tế đó, tác giả đã lựa chọn đề tài « Phân tích ảnh hưởng của

các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi của một số ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM », phân tích dữ liệu trong giai

đoạn từ năm 2006 đến năm 2013 để làm luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích ảnh hưởng của các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô tác động đến tỷ suất sinh lợi của một số ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM, giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013

Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của luận văn là tập trung nghiên cứu, phân tích ảnh hưởng của các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi của một số ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM, giai đoạn từ năm 2006 đến năm

Để nghiên cứu này giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu, cần phải làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:

1, Những chỉ số tài chính nào của ngân hàng có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn năm 2006 đến 2013?

2, Những chỉ số kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế, lạm phát, và mức cung tiền có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2013 hay không?

Trang 14

3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên số liệu báo cáo tài chính (đã kiểm toán) của

14 ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các đặc trưng ngân hàng

và các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi của một số ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM

- Về thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận văn được thu thập trong khoảng thời gian chủ yếu trong giai đoạn 2006-2013 (8 năm), trong đó bao gồm dữ liệu có sẵn từ báo cáo tài chính của các ngân hàng, báo báo của NHNN, báo cáo ngân hàng thế giới, báo cáo của hệ thống giám sát ngân hàng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Nghiên cứu đã sử dụng các số liệu thống

kê thông qua thu thập dữ liệu có sẵn, tiến hành lập bảng biểu, vẽ biểu đồ để dễ dàng

so sánh và đánh giá nội dung cần tập trung nghiên cứu Bên cạnh đó, đề tài cũng đã

sử dụng phương pháp suy diễn để lập luận và giải thích đặc điểm của từng chỉ tiêu trong quá trình phân tích số liệu nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu thực hiện phân tích thống

kê mô tả, phân tích tương quan, và phân tích hồi quy nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ vô đến tỷ suất sinh lợi của một

số NHTMCP trên địa bàn TP.HCM, thông qua việc thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính của các Ngân hàng TMCP Việt Nam, với kích thước mẫu là 112 quan sát Các ngân hàng được chọn để phân tích là các NHTMCP có quy mô vốn lớn, nhỏ, trung bình Sau đó, tác giả tiến hành kiểm định sự phù hợp của mô hình qua các kiểm định: kiểm định ANOVA về tính thích hợp của mô hình, kiểm định Durbin-Waston về tự tương quan, và kiểm định đa cộng tuyến để kiểm định các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ suất sinh lợi của NHTM, từ đó xác định được mức độ tác động của từng nhân tố đến tỷ suất sinh lợi của NHTM tại Việt Nam

Trang 15

6 Ý nghĩa thực tiễn

Điểm mới trong nghiên cứu là tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu và phân tích định tính thực trạng của các đặc trưng ngân hàng của một số ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM, giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013 và phân tích các yếu tố vĩ

mô, kết quả đã đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, cũng từ kết quả đánh giá đó tác giả đã đưa ra được mô hình về mức độ ảnh hưởng của các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô đến đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

Đề tài nghiên cứu cung cấp nhiều thông tin giá trị cho các nhà quản trị của ngân hàng trong việc ra xác định các yếu tố trọng tâm, quyết định về các chính sách đầu tư và các kế hoạch phát triển nhằm đạt mục tiêu nâng cao lợi nhuận của ngân hàng Nhà đầu tư có thể sử dụng bài nghiên cứu như một tài liệu nâng cao hiểu biết

về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng và là căn cứ để đưa ra các quyết định về việc đầu tư vào nhóm cổ phiếu ngân hàng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng sẽ góp phần cung cấp các thông tin có hữu ích cho các đối tượng quan tâm

Đề tài cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm về lợi nhuận và các yếu tố có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng để Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các hiệp hội Ngân hàng có cơ sở ban hành các quy định và chính sách phù hợp thông qua việc vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phân tích định tính (thống kê mô tả, suy diễn, sử dụng kỹ thuật định tính) cùng với phương pháp định lượng (kiểm định ANOVA về tính thích hợp của mô hình, kiểm định Durbin-Waston về tự tương quan, và kiểm định đa cộng tuyến) Mỗi phương pháp được vận dụng phù hợp theo từng nội dung nghiên cứu trong luận án Bài nghiên cứu này có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng về phương pháp luận, về đánh giá đo lường, về kiểm định cũng như kết quả của nghiên cứu

7 Kết cấu của đề tài

Bài nghiên cứu được chia làm 5 chương:

Trang 16

Chương 1: Lý thuyết đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô tác động đến

tỷ suất sinh lợi của ngân hàng và tổng quan các nghiên cứu trước đây

Chương 2: Phân tích thực trạng của các ngân hàng thương mại cổ phần tại

TP.HCM

Chương 3: Nghiên cứu các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô tác

động đến tỷ suất sinh lợi của một số ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM

Chương 4: Một số giải pháp đề xuất

Trang 17

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ

VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG VÀ

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1.1 Tổng quan đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô tác động đến tỷ suất

sinh lợi của ngân hàng

Để phân tích và đo lường mức độ ảnh hưởng của các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, tác giả đã chọn tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm 2 biến phụ thuộc Các yếu tố để phân tích gồm: 6 đặc trưng của ngân hàng gồm: (1)- vốn chủ sở hữu (đại diện là tỷ số tổng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn- Capital

to assets- CA); (2)- tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn (đại diện là tỷ số tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn - Liabilities to assets ratio- LA); (3)- khả năng thanh khoản (đại diện là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động- Liquidity ratio – LDR); (4)- hiệu quả quản lý (đại diện là tỷ lệ tổng thu nhập tiền lãi trên tổng chi phí tiền lãi - EFF); (5)- tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM); (6)- quy mô ngân hàng (SIZE), 3 yếu

tố vĩ mô của nền kinh tế là: (1)- tỷ lệ lạm phát (INF); (2)- tốc độ tăng trưởng GDP

(GRT) và (3)- mức cung tiền (M2)

Tỷ suất sinh lợi

Mức sinh lời trong một khoảng thời gian tính theo giá trị tuyệt đối hay

còn gọi là lợi nhuận của một khoản đầu tư được hiểu là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau một khoảng thời gian đầu tư với phần vốn gốc mà nhà đầu tư

phải bỏ ra ban đầu Công thức tính:

Tổng mức sinh lời = Số tiền thu được sau thời gian đầu tư – Giá trị vốn gốc

đầu tư ban đầu – Cổ tức (trái tức) + Mức lãi (lỗ) vốn

Mức sinh lời trong một khoảng thời gian tính theo giá trị tương đối (tính

theo phần trăm) cho biết nếu đầu tư 1 đồng sẽ thu về được thêm bao nhiêu đồng

Được tính bằng mức sinh lời tuyệt đối chia cho khoản vốn gốc đầu tư ban đầu

Trang 18

Trong đó:

R: Lợi suất trong giai đoạn đầu tƣ

D: Cổ tức (lãi) thu đƣợc

P0: Giá mua ban đầu

P1: Giá thanh lý vào cuối giai đoạn đầu tƣ

Ví dụ: ROA (Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản), ROE (Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu), ROI (Lợi tức đầu tƣ), ROC (Khả năng sinh lợi trên nguồn vốn dài

hạn), ROS (Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu)

Lợi suất bình quân bao gồm lợi suất bình quân số học và lợi suất bình quân

hình học

Lợi suất bình quân số học:

Rs: Lợi suất bình quân số học

R1, R2, , Rn: Lợi suất từ năm thứ 1 đến năm thứ n

Lợi suất bình quân hình học:

Rh=

Trong đó:

Rh: Lợi suất bình quân hình học

R1, R2, , Rn: Lợi suất từ năm thứ 1 đến năm thứ n

Trang 19

Lợi suất kỳ vọng là lợi suất bình quân của một cơ hội đầu tư trong tương lai trên cơ sở các khả năng sinh lời dự tính Công thức tính:

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA)

Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) được đo bằng lãi ròng trên tổng tài sản, ROA cho biết cứ mỗi đồng tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này phản ánh khả năng để chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng và cũng là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc so sánh hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng với nhau

Tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) đo lường hoạt động của một ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập (độc lập với việc huy động vốn

để mua các tài sản đó) Tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) nối kết các kết quả của hoạt động kinh doanh với hoạt động đầu tư của một ngân hàng, không kể đến việc ngân hàng đã dùng nguồn vốn nào để phục vụ cho các hoạt động đầu tư của mình Như vậy, ROA cố gắng đo lường thành công của một ngân hàng trong hoạt động kinh doanh, dịch vụ của nó

Tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản không tính đến việc huy động vốn hỗn hợp (vốn vay và vốn cổ phần), một hoạt động thuộc phạm vi trách nhiệm của những người làm công tác tài chính Giống như việc tính toán của hầu hết các tỷ số sinh lợi,

tỉ số này chia thu nhập hoặc kết quả kinh doanh (bằng một đơn vị đo lường) cho các tài sản hoặc vốn cần có để tạo ra thu nhập đó Cách tính toán ROA như sau:

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có một mối liên hệ đặc biệt đối với người cho vay, hoặc chủ nợ, của một ngân hàng Những người cho vay này có quyền đòi hỏi ưu tiên trên tài sản của ngân hàng trước người chủ sở hữu cổ phần thường

Trang 20

Những người cho vay nhận được phần thu nhập của họ theo như hợp đồng đã ký kết Ngân hàng thường trả lãi vay trước khi thanh toán các khoản khác, ví dụ như trả cổ tức, cho những người cấp vốn khác Khi gia hạn nợ hoặc cung cấp các khoản nợ cho ngân hàng, những người cho vay muốn chắc chắn rằng ngân hàng có thể tạo ra mức sinh lợi trên tài sản vượt trội hơn chi phí của nó

Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu được đo bằng lãi ròng trên vốn chủ

sở hữu, ROE cho biết mỗi đồng vốn của chủ sở hữu bỏ ra sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROE là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời, cho biết mức

tỷ suất lợi nhuận chia cho các cổ đông của ngân hàng

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường đo lường kết quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập và lãi cho các cổ đông của cổ phần thường Khác với tỷ suất sinh lợi trên tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần có xem xét đến chi phí huy động vốn Như vậy việc đo lường khả năng sinh lợi này kết hợp với kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư và các quyết định huy động vốn Việc tính toán tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường như sau:

Hạn chế của ROA và ROE

Một ưu điểm rõ ràng của các hệ số này là dễ dàng tính toán Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số vấn đề khi sử dụng các hệ số này: Thứ nhất, các hệ số về khả năng sinh lợi không tính đến rủi ro mà công ty phải đối mặt Thứ hai, khi tính toán các hệ

số, số liệu trong quá khứ được sử dụng và không thể hiện được dự báo về lợi ích trong tương lai Thứ ba, các hệ số này đơn thuần chỉ thể hiện kết quả dựa trên giá trị ghi sổ mà chưa tính đến giá trị thị trường (ROE) Thứ tư, trong một số trường hợp, các nhà quản lý do áp lực thành tích có xu hướng chỉ quan tâm đến việc làm tăng ROA, ROE trong ngắn hạn mà không quan tâm đến lợi ích dài hạn

Trang 21

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

Các đặc trưng ngân hàng

Vốn chủ sở hữu (đại diện là tỷ số tổng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn-

Capital to assets- CA)

Nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng được hình thành vốn góp của chủ sở hữu, nguồn lợi nhuận chưa giữ lại trong quá trình hoạt động kinh doanh Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thể hiện khả năng tự tài trợ của ngân hàng, là tấm đệm chống lại rủi ro phá sản, tạo niềm tin cho công chúng và đảm bảo với các chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng Một số nghiên cứu trước đây liên quan tới nguồn vốn chủ

sở hữu của ngân hàng như: Athanasoglou et al (2005) trong nghiên cứu của mình đã

lý luận rằng ngân hàng có vốn chủ sở hữu càng nhiều thì khả năng phá sản càng thấp, Deger Alper và Adem Anbar (2011) trong nghiên cứu của mình đã phát hiện

ra sự tương quan cùng chiều giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và lợi nhuận của ngân hàng

Tỷ lệ tổng dư nợ/tổng nguồn vốn (đại diện là tỷ số tổng dư nợ trên tổng

nguồn vốn- Liabilities to assets ratio- LA)

Tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn là một đặc trưng cơ bản của chất lượng tài sản, nếu ngân hàng có dư nợ càng lớn, khả năng mang lại lợi nhuận càng cao, nhưng đồng thời ngân hàng cũng phải đối mặt với nguy cơ gia tăng nợ xấu và rủi ro thanh khoản của ngân hàng Vì vậy mà ảnh hưởng của dư nợ tới lợi nhuận của ngân hàng còn tùy thuộc vào chất lượng của các khoản cho vay, phụ thuộc vào chính sách cho vay và quản lý rủi ro của ngân hàng Một số nghiên cứu trước đây liên quan như: Athanasoglou et al (2006) trong nghiên cứu của mình đã phát hiện sự tương quan ngược chiều giữ tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn và lợi nhuận của ngân hàng

Trang 22

Tỷ lệ tổng nợ trên tổng nguồn vốn là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của ngân hàng Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và tổng nguồn vốn)

mà ngân hàng sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng Tỷ lệ tổng nợ trên tổng nguồn vốn được tính bằng cách chia tổng nợ cho tổng nguồn vốn:

Trong đó nợ của ngân hàng bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Tổng nguồn vốn hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng

Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất ) bổ sung cho các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời nhằm phản ánh đầy đủ kết quả kinh doanh của ngân hàng trong một thời kỳ Nếu ngân hàng theo đuổi các khoản đầu tư mạo hiểm, có thể tỷ lệ sinh lời hiện tại sẽ cao hơn Tuy nhiên, nếu tổn thất xảy ra (thường qua một thời gian nhất định), tỷ suất sinh lời của ngân hàng sẽ giảm sút, thậm chí có thể ngân hàng sẽ bị phá sản Do vậy, thời kỳ này rủi ro cao có thể gây ra tổn thất kì sau, làm giảm khả năng sinh lời kì sau Tỷ lệ nợ/nguồn vốn càng cao, tỷ lệ sinh lời ROE càng lớn, song khả năng chống đỡ với những tổn thất của ngân hàng càng kém Tỷ lệ tài sản nhạy cảm/nguồn vốn nhạy cảm phản ánh rủi

ro lãi suất khi lãi sất thay đổi theo hướng bất lợi cho ngân hàng Tuy nhiên, khi lãi suất thay đổi theo hướng có lợi hoặc không thay đổi, thu nhập của ngân hàng sẽ gia tăng

Khả năng thanh khoản (đại diện là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy

động - Liquidity ratio - LDR)

Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động: Tác giả sử dụng tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động dưới hình thức mối quan hệ giữa cho vay so với tiền gửi (Liquidity ratio - LDR), bằng tổng các khoản cho vay chia cho tổng tiền gửi,

Trang 23

biểu hiện bằng % cho vay của ngân hàng được tài trợ bằng tiền gửi của khách hàng Việc sử dụng mối quan hệ giữa cho vay và tiền gửi như một thước đo về thanh khoản dựa trên tiền đề cho rằng tín dụng là tài sản kém linh hoạt nhất trong số các tài sản sinh lời của ngân hàng Vì thế, khi tỉ lệ LDR tăng thì tính thanh khoản của ngân hàng giảm đi một cách tương ứng Vì thế, tác giả dự đoán biến LDR sẽ có mối quan hệ ngược chiều với ROA và ROE

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại

là đảm bảo khả năng thanh khoản đầy đủ Một ngân hàng thương mại được xem là

có khả năng thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng ở chi phí hợp lý và đúng lúc cần thiết Điều này có nghĩa là ngân hàng có sẵn lượng ngân quỹ

dự trữ trong tay hoặc có thể tăng thêm bằng cách vay mượn hoặc bán bớt một số tài sản mà ngân hàng đang có

Thực tế cho chúng ta thấy hiện tượng thiếu hụt thanh khoản, thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Kế đến những ngân hàng có vấn đề này bắt đầu mất các khoản tiền gửi cũ và mới, nguồn cung cấp tiền ngày càng khác ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì thiếu sự an toàn hoặc với lãi suất cao hơn, một tác nhân làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng có vấn đề

Nhiều ngân hàng thực sự cho rằng có thể vay mượn các nguồn thanh khoản không giới hạn bất kỳ lúc nào cần đến Do đó, không cần phải dự trữ thanh khoản nhiều dưới hình thức các tài sản có giá cả ổn định và dễ bán Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng thiếu hụt ngân quỹ ở một mức độ lớn tại một số ngân hàng đã chỉ ra rằng vấn đề thanh khoản là không thể bỏ qua

Ngày nay, quản trị thanh khoản trở nên quan trọng hơn so với trước đây rất nhiều, bởi vì một ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản, mặc dù về kỹ thuật, nó vẫn còn khả năng trả nợ Hơn nữa, năng lực

Trang 24

quản trị thanh khoản của một ngân hàng là thước đo quan trọng về tính hiệu quả tổng thể để đạt đến các mục tiêu dài hạn của ngân hàng

Hiệu quả quản lý (đại diện là tỷ lệ tổng thu nhập tiền lãi trên tổng chi phí

tiền lãi - EFF)

Chỉ tiêu hiệu quả quả lý được đo bằng tỷ số tổng thu nhập lãi vay trên tổng chi phí lãi vay (EFF) EFF cho biết với một đồng chi phí lãi vay bỏ ra sẽ đem về bao nhiêu đồng lợi nhuận Ở khía cạnh khác, có thể được xem như tỷ lệ lãi suất cho vay trên lãi suất huy động, thể hiện mức lợi nhuận của mỗi đồng vốn huy động Tỷ số này càng cao, ngân hàng tạo ra lợi nhuận càng nhiều hơn so với chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này đánh giá mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngân hàng

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là thước đo tính hiệu quả cũng như khả

năng sinh lời của ngân hàng Tỷ lện này thể hiện khả năng quản trị của ban lãnh đạo ngân hàng và nhân viên trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoảng vay trên thị trường tiền tệ, lương nhân viên và phúc lợi) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua các hoạt động kiếm soát chặt chẽ tài sản sinh lời, theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất

Tỷ lệ lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất

Trang 25

Quy mô ngân hàng (SIZE) được tính bằng Logarit của tổng tài sản (SIZE),

được dùng để đánh giá mức độ tác động quy mô ngân hàng đến tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng Một số bài nghiên cứu trước đây như: Smirlock 1985, Deger Alper

và Adem Anber 2011, Althanasolou et al (2005) phát hiện sự tương quan cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận, tức là quy mô ngân hàng càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng càng cao

SIZE = Log (Tổng tài sản)

Các yếu tố kinh tế vĩ mô

Tỷ lệ lạm phát (INF) hằng năm được đo bằng tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu

dùng (CPI) của tất cả hoàng hóa và dịch vụ Trong nghiên cứu của mình, Perry (1992) đã tìm ra mối tương quan giữa lạm phát và tỷ suất sinh lời là có thể tương quan thuận hoặc tương quan nghịch tùy vào có dự đoán hoặc không dự đoán Ngân hàng có thể dự đoán mức lạm phát, để điều chỉnh lãi suất sao cho lãi thực luôn dương Nếu ngân hàng không dự đoán được lạm phát, ngân hàng rất khó trong việc điều chỉnh lãi suất để đảm bảo lãi thực luôn dương để tăng lợi nhuận Một số nghiên cứu trước đây như: Bourke (1989), Molyneux và Thorton (1992) trong nghiên cứu của mình đã phát hiện ra sự tương quan thuận giữa lạm phát và lợi nhuận của ngân

hàng

Tốc độ tăng trưởng GDP (GRT) (Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc

nội hằng năm) thể hiện tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế và quy mô của một nền kinh tế, là chỉ tiêu đo lường tổng thể các hoạt động của nền kinh tế Đây là một công cụ đo lường của tổng thể hoạt động kinh tế và nó được điều chỉnh theo lạm phát GRT được dự kiến sẽ có một tác động vào nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng như tiền gửi của khách hàng và cho vay khách hàng Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng, GRT được mong đợi có mối tương quan thuận với hiệu

Trang 26

quả hoạt động của ngân hàng (thí dụ, Deger Alper và Adem Anbar, 2011) Trong bài nghiên cứu này, tác giả cùng mong đợi mối tương quan thuận giữa tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vì doanh nghiệp thường có nhu cầu vay vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi kinh tế tăng trưởng

Tốc độ tăng trưởng mức cung tiền (M2)

Cung tiền (Money Supply- cung ứng tiền tệ) là toàn bộ lượng tiền đang lưu thông của cá nhân và doanh nghiệp, không kể các tổ chức tín dụng và ngân hàng nhà nước

 M0 = Tổng lượng tiền mặt do NHTW phát hành đang được lưu thông (Tiền

cơ sở; Tiền hẹp; Tiền mặt có thể chi tiêu ngay lập tức)

 M1 = M0 + Tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương (Đồng tiền mạnh)

 M2 = M1 + Chuẩn tệ (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn… tại các tổ chức tín dụng) (Tiền rộng; Tiền gửi tiết kiệm không thể tiêu ngay được)

Cung tiền M2 có mức độ chuyển đổi có kém hơn M1 nhưng đây cũng là loại tiền có khả năng chuyển đổi sang tiền mặt tương đối cao, do vậy loại tiền này cũng được coi là loại tiền có khả năng thanh toán Có nhiều quốc gia phát triển coi M2 là đại lượng đo mức cung tiền chủ yếu

1.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới và ở Việt

Nam về tỷ suất sinh lợi và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

Trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, hiệu quả hoạt động của ngân hàng (tỷ suất sinh lợi) thường được diễn tả bằng hàm số của các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài ngân hàng Yếu tố bên trong là những yếu tố thuộc về đặc trưng của ngân hàng Yếu tố bên ngoài là những biến không liên quan đến việc quản lý ngân hàng, đại diện cho các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý có tác động đến hoạt động và kết quả kinh doanh của ngân hàng Nhiều biến giải thích đã được đề xuất cho cả hai yếu tố này tùy thuộc vào mục đích và bản chất của mỗi nghiên cứu

Trang 27

Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thường phân tích hệ thống ngân hàng ở nhiều quốc gia hoặc ở một quốc gia Nhóm các nghiên cứu ở phạm vi nhiều quốc gia có thể kể đến Short (1979), Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992) và Demirguc-Kunt and Huizinga (2000) Nhóm các nghiên cứu ở phạm vi một quốc gia cụ thể thường nghiên cứu về hệ thống ngân hàng ở Hoa Kỳ (thí dụ, Berger et al.,1987), Châu Âu (ví dụ, Athanasoglou et al, 2005 và Kosmidou

et al, 2007) hoặc ở các quốc gia đang phát triển (ví dụ Barajas et al., 1999; Deger Alper và Adem Anbar, 2011) Đặc điểm chung của các nghiên cứu này là xem xét ảnh hưởng của các đặc trưng của ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Kết quả nghiên cứu khác nhau do mẫu nghiên cứu và môi trường nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên đặc điểm chung của các nghiên cứu đã cho phép phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

Các yếu tố nội tại của ngân hàng (các đặc trưng của ngân hàng) được sử dụng như quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, quản trị rủi ro và chi phí quản lý Quy

mô ngân hàng được sử dụng để đại diện cho độ lớn của ngân hàng hoặc thị phần Smirlock (1985) đã tìm thấy bằng chứng về mối tương quan thuận đáng kể giữa quy

mô ngân hàng và tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Demirguc-Kunt và Huizinga (2000) cho rằng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tài chính, pháp lý và các nhân tố khác đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng có mối liên kết chặt chẽ với quy mô ngân hàng Bên cạnh đó, Short (1979) tranh luận rằng quy mô ngân hàng có quan hệ mật thiết với vốn chủ sở hữu của ngân hàng vì các ngân hàng lớn thường huy động vốn với chi phí rẻ hơn, do đó có tỷ suất sinh lợi cao hơn Với lập luận tương tự, Bikker

và Hu (2002), Goddard et al (2004) và một số nhà nghiên cứu khác đã cho thấy mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng, đặc biệt trong trường hợp ngân hàng nhỏ và vừa, với vốn chủ sở hữu do đó có mối quan hệ với tỷ suất sinh lợi Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng việc tăng quy mô của ngân hàng chỉ giúp tiết kiệm được chi phí rất ít (Berger et al, 1987)

Trang 28

Nhu cầu quản trị rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng là thiết yếu cho hoạt động của ngân hàng Chất lượng tài sản thấp và khả năng thanh khoản thấp là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng Trong giai đoạn mà sự mất ổn định tăng lên, các tổ chức tài chính có thể quyết định đa dạng hóa danh mục đầu tư và/hoặc tăng nắm giữ các tài sản có khả năng thanh khoản cao nhằm mục đích giảm rủi ro Dựa trên quan điểm này, rủi ro có thể được phân chia thành rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản Molyneux and Thornton (1992) đã tìm thấy mối tương quan nghịch đáng kể giữa khả năng thanh khoản và tỷ suất sinh lợi Ngược lại, nghiên cứu của Bourke (1989) lại cho kết quả là khả năng thanh khoản có mối tương quan thuận với tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, nhưng mối quan hệ tương quan nghịch giữa rủi ro tín dụng và tỷ suất sinh lợi là khá rõ ràng (Miller and Noulas, 1997) Kết quả này có thể được giải thích dựa trên thực tế là các tổ chức tín dụng đã có nhiều khoản cho vay có rủi ro cao Điều này có nghĩa là các tổ chức tín dụng sẽ phải gánh chịu các khoản lỗ do không thu hồi được khoản cho vay nên đã làm giảm tỷ suất sinh lợi

Đối với các yếu tố kinh tế vi mô và môi trường pháp lý ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, các nghiên cứu thực nghiệm thường sử dụng các chỉ tiêu như lạm phát, lãi suất và tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội Revell (1979) giới thiệu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi của ngân hàng và lạm phát Tác giả cho rằng ảnh hưởng của lạm phát đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng tùy thuộc vào tỷ lệ tăng của lương nhân viên ngân hàng và các chi phí hoạt động khác có nhanh hơn tỷ lệ lạm phát hay không Câu hỏi là nền kinh tế của một quốc gia đã phát triển đến mức nào và tỷ lệ lạm phát trong tương lai có thể được dự báo đúng đắn đến đâu và do đó ngân hàng có thể quản lý chi phí hoạt động của chúng Dựa trên quan điểm này, Perry (1992) cho rằng mức độ lạm phát ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng tùy thuộc vào khả năng dự báo chính xác về tỷ lệ lạm phát trong tương lai Tỷ lệ lạm phát trong tương lai có thể được ước tính bởi ngân hàng, điều này có nghĩa là ngân hàng có thể điều chỉnh tỷ lệ lãi suất để đảm bảo mức độ tăng của doanh thu nhanh hơn mức độ tăng của chi phí, do đó ngân hàng có thể

Trang 29

kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Phần lớn các nghiên cứu cho thấy mối tương quan thuận giữa tỷ suất sinh lợi với tỷ lệ lạm phát hoặc tỷ lệ lãi suất dài hạn Ngoài ra, tốc

độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội hàng năm là chỉ số rất thường được sử dụng

để đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô Các nghiên cứu trước đây thường cho thấy mối tương quan thuận giữa tỷ suất sinh lợi và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm

1.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới gần đây

John Goddard, Phil Molyneux và John Wilson (2004) nghiên cứu tỷ suất

sinh lợi của các ngân hàng Châu Âu của những năm 1990 Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 665 ngân hàng từ sáu nước Châu Âu (Đan Mạch, Pháp, Đức,Ý, Tây Ban Nha

và Anh) trong giai đoạn 1992 – 1998 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng không có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó rằng hiệu quả quản lý chi phí hoạt động có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lợi của ngân hàng hơn là quy mô ngân hàng Đồng thời, tác giả cũng đã tìm thấy mối tương quan thuận giữa biến vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lợi của ngân hàng

Athanasoglou et al (2005) xem xét các yếu tố quyết định tỷ suất sinh lợi của

ngân hàng Đức giai đoạn 1985-2001 bằng kỹ thuật GMM (Generalized Method Moment) Tác giả đã phân tích thực nghiệm bằng mô hình hồi quy, sử dụng các biến đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô Kết quả cho thấy tất cả đặc trưng ngân hàng ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng ngoại trừ tổng tài sản (hay quy

mô ngân hàng) Một ngân hàng với nguồn vốn tốt sẽ có tỷ suất sinh lợi cao trong cạnh tranh kinh doanh Các biến vĩ mô như lạm phát, sản lượng theo chu kỳ có tác động cùng chiều với tỷ suất sinh lợi

Ramlall (2009) nghiên cứu các yếu tố quyết định tỷ suất sinh lợi của ngân

hàng dựa trên đặc trưng ngân hàng, đặc trưng công nghiệp và yếu tố vĩ mô, giai đoạn 2002-2007 của các ngân hàng tại Đài Loan Kết quả cho thấy nguồn vốn có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi, càng nhiều vốn, ngân hàng càng dễ dàng mở rộng

Trang 30

cho vay và mang lại tỷ suất sinh lợi cao khi đáo hạn Tuy nhiên, rủi ro tín dụng có ảnh hưởng ngược chiều, khi rủi ro tín dụng tăng 1% sẽ làm giảm 94% tỷ suất sinh lợi

Sing and Chaudhary (2009) nghiên cứu về ngân hàng Ấn Độ từ ba khía

cạnh: ngân hàng công, ngân hàng tư nhân, ngân hàng nước ngoài, giai đoạn

2002-2007 Kết quả cho thấy tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Ấn Độ gia tăng đáng kể trong những năm trước đây Các yếu tố vĩ mô (thu nhập/vốn, xuất khẩu, dự trữ ngoại hối) ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi

1.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm chỉ thật sự phổ biến từ khoảng năm 2010 trở lại đây Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi đã sử dụng dữ liệu phân tích là các doanh nghiệp niêm yết, ít tác giả nghiên cứu về lĩnh vực ngân hàng

Đối với các nghiên cứu về doanh nghiệp, nhiều tác giả tìm bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động (Nguyễn Thị Diễm, 2012; Phan Thị Phượng, 2012; Đặng Thị Diễm Kiều, 2012; Phan Văn Nhựt, 2012; Trương Quốc Bình, 2012) Bên cạnh đó, nhiều tác giả cũng nghiên cứu về tác động của quản trị vốn lưu động đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Nguyễn Thị Việt Thủy, 2012; Trần Thị Bích Vân, 2012; Nguyễn Công Anh, 2012; Chu Thị Oanh, 2012) Một số tác giả khác nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa niêm yết trên thị trường chứng khoán (Nguyễn Thị Thu Ngân, 2012; Đặng Ngọc Tú, 2012)

Trong khi đó, các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam tính đến năm 2013 chỉ có ba đề tài Đó là các đề tài của: Nguyễn Thị Ngân (2011) và Phan Thị Hằng Nga (2011), Ngô Phương Khanh (2013)

Nguyễn Thị Ngân (2011) nghiên cứu thực trạng hoạt động của các ngân

hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 Dữ liệu nghiên cứu

là 37 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ

Trang 31

trọng cho vay khách hàng trong tổng tài sản, tỷ trọng chứng khoán kinh doanh, đầu

tư và góp vốn, mua cổ phiếu trong tổng tài sản có tương quan nghịch chiều với ROE

Tỷ trọng tiền gửi của khách hàng trong tổng nguồn vốn, sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài có tương quan thuận với ROE đối với ngân hàng quy mô lớn Đối với các ngân hàng có quy mô nhỏ, tỷ trọng tài sản cố định trong tổng tài sản có tương quan thuận với ROE, trong khi đó tỷ trọng tiền gửi của khách hàng trong tổng nguồn vốn có tương quan nghịch với ROE Đặc biệt, các biến tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản đều có tương quan thuận chiều với ROE

Tương tự, Phan Thị Hằng Nga (2011) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến

tỷ suất sinh lợi các ngân hàng niêm yết giai đoạn 2005 – 2010 Kết quả cho thấy tỷ suất sinh lợi của ngân hàng niêm yết chịu ảnh hưởng bởi yếu tố quy mô vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tài chính (DFL), tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), dư nợ/tổng tài sản

có, nợ xấu/tổng dư nợ, NIM, tỷ lệ thanh khoản tài sản, hệ số đảm bảo tiền gửi, hệ số thanh khoản ngắn hạn, và dư nợ cho vay/tiền gửi với mức ý nghĩa 5%

Ngô Phương Khanh (2013) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất

sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”, phân tích số liệu trên báo cáo tài chính của 17 ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 Kết quả phân tích cho thấy hệ số hồi quy của biến LA (tính thanh khoản) với ROA và ROE là âm Điều này có nghĩa là LA có mối quan hệ tác động nghịch chiều với ROA và ROE, và mối quan hệ này có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% Do các ngân hàng cung cấp khoản vay đối với các khách hàng không đủ khả năng thanh toán nên làm phát sinh nợ xấu và phải gánh chịu các khoản lỗ do nợ xấu, do đó tăng cho vay khách hàng làm giảm ROA và ROE Ngược lại, hệ số hồi quy của các biến NIM, NII, RGDP và RI là dương và có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy là 95% Hiệu quả hoạt động của ngân hàng có mối tương quan thuận với hiệu quả hoạt động cho vay lợi nhuận ngoài lãi vay, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm và lãi suất thực Tuy nhiên, kết quả phân tích cho thấy hệ số hồi quy của SIZE, CA, LQD, DP đối với ROA và ROE là không có ý nghĩa thống kê

Trang 32

Kết luận chương 1

Chương 1 cung cấp lý thuyết về các đặc trưng ngân hàng và các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, đồng thời trình bày các kết quả của các đề tài nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài

Dựa trên mô hình nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu trước đây, đặc điểm nổi bật là các nghiên cứu đều sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là biến phụ thuộc đại diện cho lợi nhuận của ngân hàng

Các đặc điểm nội tại của ngân hàng là các yếu tố nội bộ chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của nhà quản lý, bao gồm: quy mô vốn chủ sở hữu, tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn, khả năng thanh khoản, hiệu quả quản lý, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, và quy mô ngân hàng Các yếu tố kinh tế vĩ mô là những yếu tố không chịu

sự ảnh hưởng của các quyết định quản lý của ngân hàng, bao gồm: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm, tỷ lệ lạm phát và mức cung tiền

Trang 33

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI TP.HCM 2.1 Khả năng sinh lời trên tài sản

Bảng 2 1: Khả năng sinh lời trên tài sản bình quân của một số NHTMCP Việt Nam từ 2006 - 2013

nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Trang 34

Biểu đồ 2 1: Tỷ suất sinh lợi trên tài sản bình quân của một số NHTMCP Việt Nam từ 2006 - 2013

Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) bình quân của các NHTMCP Việt Nam qua các năm như sau: Năm 2006 và năm 2007 ROA bình quân là 1,5; Năm 2008 ROA bình quân là 1%; Năm 2009 ROA bình quân là 1,2%; Năm 2010 ROA bình quân là 1,3%; Năm 2011 ROA bình quân là 1,1%; Năm 2012 ROA bình quân là 0.7%, và đến hết năm 2013 ROA chỉ còn 0,5% Qua kết quả đạt được hằng năm của

hệ thống NHTM Việt Nam cho thấy hiệu quả kinh doanh có xu hướng tăng đến năm

2007 và giảm cho đến 2013 Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tài sản tăng đều qua các năm nhưng hiệu quả kinh doanh lại giảm, đây là dấu hiệu cho thấy tính cạnh tranh ngày càng cao của ngành ngân hàng Theo mức chuẩn CAMEL đưa ra thì ROA trên 1% là đạt yêu cầu

Nguồn: Tác giả tính toán từ BCTC của 14 NHTMCP Việt Nam

Trang 35

2.2 Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Bảng 2 2: Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân của một số

NHTMCP Việt Nam từ 2006 - 2013

nhất

Giá trị lớn nhất

Trung bình

Trang 36

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân của các NHTMCP Việt Nam qua các năm như sau: Năm 2006 ROE bình quân là 11%; Năm 2007 ROE bình quân là 13%; Năm 2008 ROE bình quân là 8%; Năm 2009 ROE bình quân là 10%; Năm 2010 ROE bình quân là 11%; Năm 2011 ROE bình quân là 10%; Năm

2012 ROE bình quân là 6%; Năm 2013 ROE bình quân là 4% Qua kết quả đạt được hằng năm của hệ thống NHTM Việt Nam cho thấy hiệu quả kinh doanh có xu hướng tăng đến năm 2007 và những năm sau có xu hướng giảm, phuvj hồi tặng ở các năm 2009, 2010, 2011 và đặc biệt năm 2013 giảm mạnh Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tài sản tăng đều qua các năm nhưng hiệu quả kinh doanh lại giảm, đây

là dấu hiệu cho thấy áp lực cạnh tranh ngày càng cao của ngành ngân hàng trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

2.3 Quy mô vốn chủ sở hữu (CA)

Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua ba lần thay đổi quy định về vốn điều lệ qua việc ban hành Quyết định 67/QĐ-NH5 (ban hành ngày 27/03/1996), Nghị định 82/1998/NĐ-CP (ban hành ngày 03/10/1998), và Nghị định 141/2006/NĐ-CP (ban hành ngày 22/11/2006) Cụ thể, bắt đầu từ năm 1996, quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu để thành lập một NHTMCP khá thấp và thay đổi phụ thuộc tùy thuộc vào nhiều yếu tố như ngân hàng được thành lập ở khu vực thành thị hay nông thôn, mở thêm hay không mở thêm chi nhánh Ví dụ, ba tỷ đồng

là số vốn tối thiểu để mở một ngân hàng mà không mở thêm chi nhánh ở khu vực nông thôn, trong khi để mở một ngân hàng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cần

ít nhất số vốn lần lượt 100 tỷ đồng và 150 tỷ đồng Do những yêu cầu về vốn thấp, khả năng sinh lời tương đối tốt và tính ổn định của ngành ngân hàng thời bấy giờ,

đã có một làn sóng mạnh mẽ thành lập các NHTMCP cỡ nhỏ Tuy nhiên, không phải tất cả các ngân hàng nhỏ này đều hoạt động hiệu quả như mong đợi Đối với một vài ngân hàng, sự thiếu kiểm soát và kinh nghiệm, hoạt động cho vay nghèo nàn cùng sự cạnh tranh dữ dội đã đưa họ đến tình trạng thiếu thanh khoản, mất khả năng thanh toán và âm vốn chủ sở hữu Nền tảng vốn mỏng không đủ khả năng hấp

Trang 37

thụ thua lỗ do hoạt động yếu kém đã khiến các ngân hàng này không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phá sản hoặc bị mua lại bởi những ngân hàng mạnh hơn Đối với những ngân hàng nhỏ còn sống sót, họ ý thức rõ được sự cần thiết trong việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) và tích cực gia tăng vốn điều lệ

Với việc ban hành Nghị định 141 năm 2006, Chính phủ đã nâng mức vốn pháp định áp dụng cho tất cả các tổ chức tín dụng ở Việt Nam lên mức mới như sau:

Bảng 2 3: Mức vốn pháp định cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam

Chi nhánh NH nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD

Nghị định này quy định rằng bất kỳ ngân hàng thương mại nào không đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ trước ngày 31/12/2010 sẽ bị buộc phải hợp nhất, thu hẹp quy mô hoạt động, hoặc bị rút giấy phép Chỉ có 20 ngân hàng đáp ứng được yêu cầu này đúng thời hạn 29 ngân hàng thương mại không có khả năng đáp ứng yêu cầu này đúng hạn một phần do hoạt động yếu kém của thị trường chứng khoán, một phần do sự gia tăng phát hành cổ phiếu của một loạt ngân hàng muốn tăng vốn đồng thời Trước tình hình đó, Chính phủ đã gia hạn tới ngày 31/12/2011 (theo Thông tư 10/2011/NĐ-CP) Quy định này làm giảm bớt áp lực lên việc tăng vốn ngay lập tức và giúp các ngân hàng có thêm thời gian để thực hiện kế hoạch tăng vốn trong năm 2011

Tính đến hết năm 2013, tất cả các ngân hàng thương mại đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn điều lệ Tổng số vốn đăng ký của 39 ngân hàng thương mại Việt

Nguồn: Website NHNN Việt Nam

Trang 38

ĐVT: triệu đồng

Nam là 298.383 tỷ đồng, với quy mô trung bình là 7.651 tỷ đồng một ngân hàng Bốn ngân hàng có số vốn điều lệ lớn nhất đều là NHTMNN, trong đó Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam giữ vị trí thứ nhất với số vốn điều lệ trị giá 37.234

tỷ đồng

Biểu đồ 2 3: Vốn điều lệ của một số NHTMCP Việt Nam tại thời điểm

31/12/2013

Nguồn: Website NHNN Việt Nam

Trong 34 NHTMCP, chỉ có bốn ngân hàng có số vốn trên 10.000 tỷ VND

Hệ thống ngân hàng đang phân phối lệch về phía các ngân hàng nhỏ Khi so sánh quy mô của các ngân hàng đã niêm yết với nhau, Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam là ngân hàng lớn nhất, tuy nhiên cũng không thể so sánh được với các ngân hàng trong khu vực

Theo quy chuẩn của Camel thì vốn chủ sở hữu của các ngân hàng phải đạt 20.000 tỷ đồng, thực tế vốn chủ sở hữu của một số NHTMCP Việt Nam được thống

kê theo bảng sau:

Trang 40

ĐVT: tỷ đồng

Biểu đồ 2 4: Quy mô vốn chủ sở hữu bình quân của một số NHTMCP Việt Nam từ 2006 - 2013

Nguồn: Tác giả tính toán từ BCTC của 14 NHTMCP Việt Nam

Qua số liệu cho thấy các NHTMCP Việt Nam có quy mô vốn chủ sở hữu không ngừng tăng qua các năm Với mức tăng trưởng của năm sau cao hơn năm trước tương ứng như sau: Năm 2007 mức tăng bình quân đột biến 132%, năm 2008 mức tăng bình quân 35%, năm 2008 mức tăng bình quân 22%, năm 2010 mức tăng bình quân 23%, năm 2011 mức tăng bình quân 22%, năm 2012 mức tăng bình quân giảm xuống còn 2%, năm 2013 duy trì mức tăng bình quân chậm còn 2% Mặc dù tốc độ tăng mạnh qua các năm nhưng tổng quy mô vốn của các ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với chuẩn quy định Quy mô vốn lớn nhất năm 2013 trung bình của các ngân hàng là 6.892 tỷ đồng Mà theo khung an toàn CAMEL là 20.000 tỷ đồng Như vậy quy mô vốn các Ngân hàng thương mại Việt Nam là rất thấp (chỉ bằng 35%) so với mức khung an toàn CAMEL đưa ra, ngoại trừ các ngân hàng sau

là đạt so với khung an toàn CAMEL đưa ra

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm