Trong quá trình thực hiện cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế bọc lộ nhiều hạn chế trong công tác tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC thuế cho NNT như: các chín
Trang 1Nguyễn Văn Hồng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
KHAI THÔNG NHỮNG TẮC NGHẼN TRONG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI CƠ QUAN THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Lê Quang Cường
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
KHAI THÔNG NHỮNG TẮC NGHẼN TRONG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI CƠ QUAN THUẾ TỈNH ĐỒNG THÁP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau gần 2 năm học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh, được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy Lê Quang Cường Đồng thời, tôi cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ của các anh (chị) tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp, đến nay tôi đã
hoàn thành Luận văn Thạc Sỹ "Khai thông những tắc nghẽn trong Cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp"
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy Lê Quang Cường - người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để Luận văn được hoàn thành một cách thuận lợi và chỉn chu
Với sự nỗ lực hết mình thực hiện nghiên cứu, tìm tòi tài liệu để hoàn thành Luận văn, bản thân trực tiếp tham gia thực hiện trong Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp nên Luận văn này của tôi được viết theo thực tế tại đơn vị mình đang công tác Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, Luận văn còn có những hạn chế nhất định Vì vậy, tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và những người quan tâm tới vấn đề được đề cập trong Luận văn để tôi tiếp tục hoàn thiện Luận văn hơn nữa
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Hồng
Trang 5MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN……… ………i
LỜI CẢM ƠN……….… …………ii
MỤC LỤC……… … iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT………vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ……… ….viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ………ix
TÓM TẮT ……… …x
CHƯƠNG 1_ GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LUẬN VĂN……….…… 1
1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài ……….……….1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ……… ………3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… ……3
1.4 Phương pháp nghiên cứu……….….……4
1.5 Ý nghĩaikhoa học và thực tiễnicủa đề tài……….4
1.6.iKết cấu củaiđề tài……….………5
CHƯƠNG 2_ CƠ i SỞ LÝ i LUẬN i VỀ CẢI i CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH i VÀ i CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ i CHẾ MỘT i CỬA ……….………6
2.1 Khái quát về thủ tục hành chính……… ……….6
2.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính……… ……….6
2.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính……… ………9
2.1.3.iÝ nghĩa của thủ tục hành chính……….……… 10
2.1.4 Phân loạiithủ tục hành chính……….……… 11
2.2 Cải cách thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa……….13
2.2.1 Một số quan niệm về cải cách thủ tục hành chính……… …………13
2.2.1.1 Khái niệm cải cách hành chính……… 13
Trang 62.2.1.2 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính……… 15
2.2.1.3.iSự cần thiết phảiicải cách thủ tục hành chính………15
2.2.2 Ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính……… ………16
2.2.3 Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa………17
2.2.3.1 Các khái niệm có liên quan………17
2.2.3.2 Bản chất của cải cáchithủ tục hành chính theo cơ chế mộticửa……… ……… 18
2.2.3.3 Các nguyênitắc thực hiện cơ chếimột cửa……….18
2.2.3.4 Cơ quanivà phạm viiáp dụngicơ chế mộticửa………19
2.2.3.5 Ý nghĩa của cơ chế một cửa……… …………19
2.2.3.6 Quy trìnhithực hiện cơichế mộticửa……… 20
2.3 Các yêu cầu khi thực hiện cơichế một cửa……… ……… 23
2.4 Hiệu quả từ việc thựcihiện cơ chế một cửa……… ……… 26
2.5 Bài học kinh nghiệm……… ………26
CHƯƠNG 3_ĐÁNH GIÁ CẢI CÁCH i THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ THEO CƠ i CHẾ MỘT CỬA CƠ QUAN THUẾ i TỈNH ĐỒNG i THÁP….……32
3.1 Cơ cấuitổ chức bộ máy……….………….32
3.1.1 Lịch sử hành thành……… ………32
3.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hiện nay……… ………33
3.1.3 Chức năng của cơiquan thuế……… ……….35
3.1.4 Trách nhiệm của cơ quan thuế……… ……… 35
3.1.5 Quyền hạnicủa cơ quanithuế……… ……….36
3.1.6 Một số dịch vụ hành chính công của ngành thuế……….36
3.2 Giới thiệu về cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp……… ……….38
3.2.1 Tổ chứcibộ máy ……….……….38
3.2.2.iChức năng củaicác phòng thuộc cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp ……39
3.3 Đánh giá công tác cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan Thuế tỉnh Đồng Tháp ……… ……… 41
Trang 73.3.1 Đánh giá công tác cải cách thủ tục hành chính thuế trước khi áp dụng
3.3.2.2 So sánh kết quả đạt được trong cải cách thủ tục hành chính
thuế sau khi áp dụng theo cơ chế một cửa … 44
3.3.2.3.iQuy trìnhithực hiện cơichế mộticửa……… 45 3.3.2.4 Những kết quả đạt được trong cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa ……… ……… …….50
3.3.3 Những thuận lợi và điểm nghẽn trong quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa ……… ……… …62
3.3.3.1 Những thuậnilợi trong quáitrình thực hiệnicơ chế
3.3.3.2 Điểm nghẽn trong quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa ………63
3.3.4 Những nguyên nhân đem lại điểm nghẽn khi thực hiện cải cách thủ tục
hành chính thuế theo cơ chế một cửa ……… ………66 CHƯƠNG 4_ KHAI THÔNG NHỮNG TẮC NGHẼN TRONG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ THEO CƠ CHẾ i MỘT CỬA i TẠI CƠ QUAN THUẾ i TỈNH ĐỒNG i THÁP……… …70
4.1 Giải pháp chung trong cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa toàn ngành thuế ………70
4.1.1 Thực hiện theo đúng Tuyên ngôn của ngành thuế………… ….…….72 4.1.2 Giải pháp liên quan đến cải cách thủ tục hành chính thuế tạo sự tin cậy đối với người nộp thuế……….……….………72
Trang 84.1.3 Giải pháp công tác phối hợp và trách nhiệm của các phòng (bộ phận)
và công chức trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp
thuế.……….……… 73
4.1.4 Giải pháp trong công tácichỉ đạo,iđiều hành…….………… ………75
4.1.5 Giải pháp khác……….……… …… 76
4.2 Khai thông những tắc nghẽn trong cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp ……… ……… … 77
4.2.1 Khai thông tắc nghẽn trong thực hiện chính sách thuế………77
4.2.2 Khai thông tác nghẽn về năng lực chuyên mônivà trách nhiệmicủa công chức thuế……… ……77
4.2.3 Khai thông tác nghẽn về thực hiện công tác phối hợp……….78
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………81
BIÊN BẢN HỌP LẤY Ý KIẾN CHUYÊN GIA……… 83
PHỤ LỤC BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 92
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Tổng hợp tình hình tiếp nhận, giải quyết TTHC thuế 51
2 Bảng 3.2 Thống kê về hồ sơ trả lời vướng mắc bằng văn bản 53
3 Bảng 3.3 Thống kê về hồisơ đăng ký thuế 54
5 Bảng 3.5 Thống kê về hồ sơ miễn giảm thuế 57
6 Bảng 3.6 Thốngikê về hồ sơ khiếu nại về thuế 59
7 Bảng 3.7 Thống kê về hồ sơ về hóa đơn 60
8 Bảng 3.8 Thống kê về hồ sơ xác nhận số nộp ngân sách 61
9 Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả khảo sát nhận xét của người nộp
thuế
64
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thực hiện cơ chế một cửa 20
2 Hình 2.2 Mô hình khái quát thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan
4 Hình 3.2 Sơ đồ khái quát Tổ chức bộ máy tại Chiicục Thuế 34
5 Hình 3.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
hiện nay
39
Trang 12TÓM TẮT
Các nghiên cứu trước đây về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa đã được xác nhận là một bước đột phá trong cải cách hành chính nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi và minh bạch cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi tổ chức và cá nhân Cải cách thủ tục hành chính thuế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp góp phần giải quyết mối quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế một cách đơn giản, gọn nhẹ, công khai và minh bạch; cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Nghiên cứu này phân tích tác động trực tiếp đến tắc nghẽn trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế theo cơ chế một cửa Bằng các phương pháp thống kê, mô
tả và phân tích cho thấy rõ các tắc nghẽn trong quá trình thực hiện Kể từ đó, đưa ra các giải pháp để giải tỏa tắc nghẽn trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa, tạo ra các sản phẩm phù hợp để làm hài lòng người nộp thuế
Từ khóa: Thủ tục hành chính, cải cách hành chính, người nộp thuế
Trang 13ABSTRACT
Previous studies on administrative procedure reform under the one-stop mechanism have been confirmed as a breakthrough step in administrative reform in order to create a favorable and transparent environment for business production activities of every organizations and individuals Reforming follow one-stop tax administrative procedures at Dong Thap provincial tax office contributes to solving the relationship between tax authorities and taxpayers in a simple, compact, open and transparent manner; improve business environment, free all resources and enhance competitiveness, ensure conditions for the economic develop fast and sustainable This research analyzes the direct impact on congestion in the process of solving tax administrative procedures of taxpayers under the one-stop mechanism
By statistical methods, the description and analysis clearly show the bottlenecks in the implementation process Since then, offering solutions to clear congestion in the process of solving tax administrative procedures under the one-stop mechanism, creating appropriate products to satisfy taxpayers
Keywords: Administrative procedures, administrative reform, taxpayers
Trang 14CHƯƠNG 1_ GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LUẬN VĂN
1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Thuế là đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Trải qua hơn nữa thế kỷ xây dựng và phát triển dưới chính quyền cách mạng, công tác thuế của nước ta không ngừng được cải tiến, cải cách để hoàn thiện theo đà phát triển và lớn mạnh của đất nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, ngành thuế đã kịp thời nghiên cứu chính sách thu thuế phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng, của Nhà nước, trong từng giai đoạn cách mạng Qua đó góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, khơi dậy năng lực nội sinh của đất nước, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Thuế trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN, góp phần chống lạm phát, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Quản lý thuế trong thời kỳ hội nhập quốc tế không chỉ đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu bộ máy Nhà nước và đầu tư phát triển kinh tế xã hội mà còn là một dịch vụ hành chính công phục vụ cho các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh Trong mối quan hệ này, tổ chức, cá nhân nộp thuế trở thành “khách hàng”, còn cơ quan thuế là
“người phục vụ” luôn tạo điều kiện hỗ trợ cho các tổ chức,cá nhân có nhiều thuận lợi để phát triển sản xuất kinh doanh,thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước
Nhận thức được điều đó, ngành thuế cả nước nói chung và ngành thuế tỉnh Đồng Tháp nói riêng trong thời gian qua đã và đang thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC thuế, phục vụ tốt hơn cho NNT Trong
đó, việc thực hiện giải quyết các TTHC thuế cho NNT theo cơ chế một cửa là quan trọng hàng đầu của cơ quan thuế Đảm bảo các TTHC thuế được giải quyết theo trình tự về thời gian, không gian khi thực hiện Xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của tổ chức,cá nhân.Tiến hành rà soát tất
cả các TTHC tuế trên tất cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định sai
Trang 15pháp luật, không phù hợp để kiên quyết sửa đổi, bổ sung và thay thế Đây là khâu cản trở sự phát triển và gây nhiều bức xúc trong cộng đồng NNT; cần tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực này
Mục tiêu của cải cách TTHC thuế nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cơ quan thuế với tổ chức, cá nhân theo hướng đơn giản, gọn nhẹ và công khai, minh bạch;
để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh,giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh,bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh,bền vững Trong đó, việc thực hiện giải quyết TTHC thuế của NNT theo cơ chế một cửa là bước đột phá xuất sắc trong việc thực hiện CCHC Cụ thể là cắt giảm và nâng cao chất lượng giải quyết TTHC thuế trong tất cả các lĩnh vực, nhất là TTHC thuế liên quan tới người dân, doanh nghiệp; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các TTHC thuế theo quy định của pháp luật; công khai, minh bạch tất cả các TTHC bằng các hình thức thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất khi giải quyết TTHC thuế tại cơ quan thuế; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của NNT về các quy định hành chính thuế để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện TTHC thuế của cơ quan thuế các cấp
Hiện nay, TTHC thuế tại cơ quan thuế thực hiện theo cơ chế một cửa vẫn tồn tại một số nhược điểm như: hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho NNT, rườm rà, chưa rõ ràng về trách nhiệm, chưa phù hợp với yêu cầu của thời kỳ
mở cửa và hội nhập TTHC thuế theo cơ chế một cửa thiếu thống nhất, đồng bộ, thường bị thay đổi một cách tuỳ tiện, thiếu công khai, minh bạch Hậu quả của nhược điểm trên là gây phiền hà, tốn thời gian, chi phí cho việc thực hiện giải quyết các TTHC thuế của cộng đồng NNT, ảnh hưởng đến công việc chung của cơ quan, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác quốc tế Xuất hiện nhiều căn bệnh mới, đó
là tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ trong hệ thống cơ quan hành chính thuế, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh
Trong quá trình thực hiện cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế bọc lộ nhiều hạn chế trong công tác tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC thuế cho NNT như: các chính sách thuế thay đổi, sửa đổi, bổ sung liên tục
Trang 16kéo theo sự thay đổi về các TTHC thuế; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức trong thực hiện giải quyết thuế còn hạn chế; trách nhiệm của các Phòng ban (bộ phận) trong công tác thực hiện nhiệm vụ được giao cũng như sự phối hợp với nhau trong giải quyết các yêu cầu TTHC thuế; công tác phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan khác trong thực hiện giải quyết yêu cầu của NNT;… từ đó, sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn trong quá trình giải quyết các TTHC thuế của NNT theo cơ chế một cửa, dẫn đến tình trạng trả kết quả cho NNT bị trễ hạn
Câu hỏi đặt ra là: các điểm nghẽn nào trong cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp trong việc giải quyết các TTHC thuế cho NNT?
Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi chọn đề tài “Khai thông những tắc nghẽn trong cải cách thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp” làm luận văn thạc sĩ để thực hiện với mong muốn tìm ra được sự
tắc nghẽn trong thực hiện giải quyết các TTHC thuế theo cơ chế một cửa Qua đó, giúp ngành thuế tháo gỡ sự tắc nghẽn, nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện CCHC tại cơ quan thuế góp phần thực hiện tạo lập một môi trường kinh doanh
trong sạch, bền vững và nâng cao nâng lực canh tranh trong lĩnh vực thuế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp Dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá kết quả của việc thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết các TTHC thuế theo cơ chế một cửa
để rút ra những điểm nghẽn trong việc thực hiện và từ đó đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm khai thông những tắc nghẽn trong cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quá trình cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại
cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 17+ Không gian: Tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ thuế theo
cơ chế một cửa cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
+ Thời gian: Giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2018
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp mô tả: bằng quan sát và nghiên cứu các văn bản, bản báo cáo, luận văn tiến hành phân tích và đánh giá những công việc đặc thù theo cơ chế tổ một cửa theo chức năng, nhiệm vụ được mô tả tại tổ một cửa cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp Qua đó, rút ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện,
để qua đó đề xuất áp dụng các kiến nghị thích hợp nâng cao hiệu quả trong quá trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
- Phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá: thông qua phương pháp so sánh; phương pháp thống kê và phát phiếu khảo sát về nhận xét của NNT; thống kê, tổng hợp, luận văn tiến hành phân tích và đánh giá việc thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
Kết hợp các phương pháp thống kê, mô tả nói trên để đánh giá các tồn tại, hạn chế trong việc tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả hồ sơ thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp, từ đó tìm ra những điểm nghẽn và các kiến nghị để khai thông những tắc nghẽn trong cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống và tập trung
hệ thống hoá cơ sở lý luận về thực hiện công tác cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp, đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế của quá trình thực hiện Từ đó, đề xuất các kiến nghị trong cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần thực hiện tốt quá trình thực hiện công tác cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh
Trang 18Đồng Tháp nói riêng và có thể nhân rộng ra các đơn vị trực thuộc (Chi cục Thuế) trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Các số liệu, thông tin thực tế của luận văn có thể giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách làm cơ sở để xây dựng và điều chỉnh quy trình cho phù hợp với điều kiện thực tế của ngành thuế Các kiến nghị đưa ra trong luận văn này
có thể được ứng dụng vào thực hiện quy trình cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế các cấp
1.6.Kết cấu của đề tài
Tên đề tài: “Khai thông những tắc nghẽn trong cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp”
Kết cấu đề tài: Ngoài phần Mở đầu và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành 4 chương:
- Chương 1_Giới thiệu tổng quan về luận văn
- Chương 2_ Cơ sở lý luận về cải cách TTHC và Cải cách TTHC theo cơ chế một cửa
- Chương 3_ Đánh giá cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
- Chương 4_ Khai thông những tắc nghẽn trong cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
Tóm tắt chương 1
Chương 1 giới thiệu một cách tổng quát nhất về luận văn như: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thời gian, không gian của nghiên cứu,… Từ đó, trình bày một cách chung nhất về những đóng góp của luận văn cũng như giới thiệu về kết cấu luận văn
Trang 19CHƯƠNG 2_ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA
2.1 Khái quát về thủ tục hành chính
2.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là cách thức tiến hành một công việc và nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước Như vậy, hoạt động quản lí nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục nhất định Mỗi hoạt động quản lí theo cách nói thông thường (ví dụ, hoạt động ban hành văn bản QPPL, hoạt động cấp giấy phép, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính ) thực chất là một chuỗi những hoạt động diễn ra theo trình tự nhất định mà mỗi hoạt động
cụ thể trong đó có thể được thực hiện bởi những chủ thể khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, với nội dung và nhằm những mục đích khác nhau Kết quả của hoạt động quản lí phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phụ thuộc một phần đáng kể vào số lượng, thứ tự các hoạt động cụ thể, mục đích, nội dung, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong một chuỗi hoạt động thống nhất, tức là phụ thuộc vào thủ tục tiến hành các hoạt động quản lí Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt động quản lí nhà nước được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật và thực hiện thủ tục trên thực tế Bản thân thủ tục không có mục đích tự thân, thủ tục chỉ thể hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà nước Vì vậy, thủ tục bị quy định bởi chính các hoạt động quản lí Nói cách khác, các hoạt động quản lí khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) là ba nhóm thủ tục: Thủ tục lập pháp, TTHC, thủ tục tư pháp
Thủ tục lập pháp là thủ tục làm hiến pháp và làm luật, do các chủ thể sử dụng quyền lập pháp tiến hành Thủ tục tư pháp là thủ tục giải quyết các vụ án hình
sự, dân sự, hành chính, lao động, kinh tế, do các chủ thể sử dụng quyền tư pháp tiến hành TTHC là thủ tục tiến hành các hoạt động quản lí hành chính nhà nước được thực hiện bởi các chủ thể sử dụng quyền hành pháp Có nhiều cách hiểu khác nhau
Trang 20về thủ tục và TTHC Có quan điểm cho rằng thủ tục là trình tự giải quyết một công việc, một loại việc Lẽ dĩ nhiên, thứ tự diễn biến về mặt thời gian (trình tự) của các hoạt động quản lí là nội dung quan trọng của thủ tục nhưng hiểu thủ tục theo nghĩa hẹp như vậy là hạ thấp vai trò, ý nghĩa của thủ tục trong quản lí Ngược lại, quan điểm khác lại cho rằng trình tự nằm ngoài phạm vi khái niệm thủ tục, chẳng hạn Luật ban hành văn bản QPPL xác định “Luật này quy định thẩm quyển, thủ tục và trình tự ban hành văn bản QPPL Cách hiểu này cũng làm sai lệch khái niệm thủ tục bởi lẽ nói đến thủ tục trước hết phải nói đến trình tự thực hiện các hoạt động trong quá trình giải quyết một công việc nhất định Cũng có quan điểm cho rằng TTHC là tổng thể các QPPL xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ xã hội do luật hành chính xác lập nhằm thực hiện các quy phạm vật chất của luật hành chính Thực ra TTHC do QPPL hành chính quy định nên TTHC là nội dung của một nhóm QPPL hành chính (thường gọi là quy phạm thủ tục) chứ thủ tục khống phải là QPPL
Theo tinh thần, nội dung các văn kiện của Đảng (Nghị quyết đại hội Đảng VII, Nghị quyết trung ương lần thứ 8 khoá VII Nghị quyết đại hội Đảng VIII, IX, X) và các văn bản pháp luật (Nghị quvết của Chính phủ số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước TTHC trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001- 2010) thì TTHC có nội dung rất rộng, bao gồm:
- Số lượng các hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành những hoạt động quản lí nhất định
- Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể
- Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể
- Trình tự của các hoạt động cụ thể; mối liên hệ giữa các hoạt động đó
Có thể nói, đây là cách hiểu đầy đủ nhất về TTHC Cách hiểu này cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của TTHC trong quản lí nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương hướng, biện pháp thích hợp để cải cách
Trang 21TTHC nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lí nhà nước trong điều kiện hiện nay
Quản lí hành chính là hoạt động đa dạng và phức tạp nên TTHC cũng đa dạng, phức tạp theo TTHC hợp lí sẽ tạo nên sự hài hòa, thống nhất trong bộ máy nhà nước, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển TTHC bất hợp lí là mảnh đất tốt cho tệ tham nhũng, cửa quyền, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền Do vai trò quan trọng của TTHC như vậy nên số lượng QPPL quy định về TTHC chiếm tỉ trọng khá lớn trong số QPPL hành chính nhằm tránh tình trạng các chủ thể thực hiện thủ tục không thực hiện thủ tục theo đúng thứ tự cần thiết, loại bỏ một số hoạt động quan trọng hay thực hiện những hoạt động không cần thiết
Trong nền hành chính nhà nước, để giải quyết các công việc cần phải tuân thủ theo những thủ tục phù hợp Những thủ tục này, theo nghĩa chung nhất, “là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn” Đó là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi thực hiện một công việc nhất định Theo đó, TTHC “do các cơ quan nhà nước xây dựng và công bố để thực hiện chức năng quản lý của nền hành chính nhà nước và đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm thực thi các thủ tục đó”
Như vậy, TTHC là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước được quy định trong các QPPL hành chính bao gồm trình tự, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lí hành chính nhà nước (Phạm Ngọc Minh – 2018)
Hiện nay, khái niệm về TTHC được nhà nước ta đề cập tới tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ, TTHC là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức (Khoản 1 Điều 3)
Trang 222.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi, nội dung TTHC Tuy nhiên, các quan điểm về vấn đề này đều thống nhất theo các đặc điểm chung của
TTHC, Lương Thị Thu Huỳnh (2017), bao gồm:
Một là, là tổng thể các hành động diễn ra theo trình tự thời gian, TTHC được thực hiện bởi cơ quan và công chức nhà nước Tuy nhiên mỗi TTHC ở các cơ quan khác nhau thì sẽ có những tính chất đặc thù riêng
Hai là, TTHC là thủ tục giải quyết công việc của nhà nước và công việc liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân Chính vì vậy, đối tượng cần thực hiện các TTHC để giải quyết thường không giống nhau mà rất phức tạp, dẫn đến yêu cầu TTHC cần đơn giản, nhanh gọn, ít khâu, nhưng vẫn đảm bảo chính xác
Ba là, quản lý hành chính nhà nước chủ yếu là hoạt động định hướng, mang tính mệnh lệnh cưỡng chế đòi hỏi phải thi hành nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả Chính vì vậy, TTHC phải kết hợp khuôn mẫu ổn định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc và từng đối tượng
Bốn là, hoạt động quản lý hành chính đang ngày trở nên phong phú, đa dạng
về nội dung, hình thức cũng như biện pháp do sự chuyển đổi của nhà nước từ cơ chế tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước cùng sự chuyển đổi của nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ Do đó, TTHC rất đa dạng và phức tạp
Năm là, các TTHC do nhà nước thực hiện chủ yếu tại văn phòng của công sở nhà nước và phương tiện truyền đạt quyết định cũng như các thông tin quản lý phần lớn là văn bản, vì thế nó gắn chặt với công tác văn thư, với việc tổ chức ban hành,
sử dụng và quản lý văn bản trong cơ quan nhà nước
Sáu là, trong bối cảnh toàn cầu hóa, TTHC sẽ chịu ảnh hưởng và tác động, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, v.v… đòi hỏi TTHC phải
có những thay đổi phù hợp không chỉ với yêu cầu trong nước mà còn cả với quốc tế
để có thể dễ dàng hội nhập và mở cửa Do đó TTHC cần nhạy bén và so với các quy
Trang 23phạm của luật hành chính, TTHC có tính năng động hơn và đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn một khi thực tế cuộc sống đã có những yêu cầu mới
2.1.3 Ý nghĩa của thủ tục hành chính
Mục tiêu của cải cách nền hành chính nhà nước là xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả nên TTHC càng trở nên có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước, do đó TTHC có được những ý nghĩa sau:
Thứ nhất, TTHC đảm bảo cho các quyết định hành chính được thi hành Nếu không thực hiện các TTHC thì một quyết định hành chính trong nhiều trường hợp
có thể bị vô hiệu hóa, gây ra bệnh quan liêu, cửa quyền, tùy tiện và quyết định đó sẽ không được đưa vào thực hiện hoặc bị hạn chế tác dụng Thủ tục càng có tính chất
cơ bản thì ý nghĩa của nó càng lớn, bởi vì các thủ tục cơ bản thường tác động đến giai đoạn cuối cùng của quyết định hành chính
Thứ hai, TTHC đảm bảo cho việc thi hành quyết định được thống nhất và có kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra
Thứ ba, TTHC khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý, sẽ tạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước Bởi TTHC liên quan đến quyền lợi công dân, do vậy khi được xây dựng hợp lý và vận dụng tốt vào đời sống nó sẽ có ý nghĩa thiết thực, làm giảm sự phiền hà, chống được tệ quan liêu, tham nhũng, củng cố được mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân
Thứ tư, TTHC là một bộ phận pháp luật hành chính, do đó nắm vững và thực hiện các quy định về TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Cũng cần nhấn mạnh rằng, TTHC có ý nghĩa như công cụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính, không thể tách rời khỏi các
tổ chức hành chính
Trang 24Như vậy, có thể khẳng định rằng: TTHC là chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà nước với nhân dân và các tổ chức, có khả năng làm bền chặt mối quan hệ
đó, làm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Trên một phương diện nhất định, TTHC biểu hiện trình độ văn hóa đó là văn hóa giao tiếp, văn hóa điều hành, mức độ văn minh của nền hành chính Vì vậy, cải cách TTHC không đơn thuần liên quan đến pháp luật, mà còn là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước về chính trị, văn hóa, giáo dục và mở rộng
giao lưu hợp tác quốc tế
2.1.4 Phân loại thủ tục hành chính
Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy muốn xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phân loại chúng một cách khoa học theo một số tiêu chí nhất định Lợi ích của cách phân loại này là giúp cho người quản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mình phụ trách, từ
đó đề ra yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này các thủ tục cần thiết thích hợp, nhằm quản lý tốt nhiệm vụ, mục tiêu của quản lý nhà nước Theo Tác giả GS.TS Nguyễn Văn Thâm và Võ Kim Sơn (2002) thì dựa theo những tiêu chí khác nhau có thể phân loại TTHC như sau:
* Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước
Các TTHC được xây dựng cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân loại theo cơ cấu, chức năng của bộ máy quản lý nhà nước hiện hành Theo tiêu chí phân loại này, chúng ta có các loại thủ tục như sau:
- Thủ tục cấp giấy phép xây dựng;
- Thủ tục đăng ký kinh doanh;
- Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Thủ tục hộ tịch, hộ khẩu, v.v…
* Phân loại theo công việc của cơ quan Nhà nước
Cách phân loại này đơn giản và có khả năng áp dụng rộng rãi Theo cách phân loại này, TTHC bao gồm:
Trang 25- Thủ tục thông qua và ban hành văn bản: Thủ tục thông qua và ban hành quyết định hành chính, thủ tục thông qua và ban hành văn bản hành chính;
- Thủ tục tuyển dụng CBCC: thủ tục tuyển dụng cán bộ quản lý, tuyển dụng cán bộ kỹ thuật, tuyển dụng nhân viên, v.v ;
* Phân loại theo chức năng chuyên môn hoạt động của các cơ quan
Cách phân loại này thường được áp dụng trong các cơ quan có chức năng quản lý chuyên môn Các cơ quan chuyên môn thực hiện các hoạt động của mình phải đảm bảo những thủ tục cần thiết theo yêu cầu chung của Nhà nước
Theo cách phân loại này, có các loại TTHC như sau:
- Thủ tục cung cấp các dịch vụ thông tin;
- Thủ tục kiểm tra mức độ an toàn trong lao động;
- Thủ tục hải quan;
- Thủ tục về thuế, v.v…
* Phân loại theo quan hệ công tác
Cách phân loại này còn thường được gọi là phân loại theo tính chất quan hệ TTHC Theo cách phân loại này, có bốn nhóm thủ tục sau đây:
- TTHC nội bộ: là thủ tục thực hiện các công việc nội bộ trong cơ quan nhà nước, trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung
- TTHC thực hiện thẩm quyền, hay (TTHC liên hệ): Là thủ tục tiến hành giải quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính; trưng thu, trưng mua các động sản và bất động sản của tổ chức và công dân khi nhà nước có yêu cầu giải quyết nhiệm vụ nhất định vì lợi ích cộng đồng
Trang 26- Thủ tục cho phép: Là thủ tục giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân trong trường hợp công dân muốn thực hiện các hành vi phải xin phép nhà nước Các
cơ quan nhà nước giải quyết bằng các quyết định hành chính cá biệt
- Thủ tục trưng thu, trưng dụng: Trong một số trường hợp theo luật định, cơ quan hành chính có thẩm quyền được thực hiện quyền trưng thu, trưng dụng (trong tình thế cấp bách), trưng mua (trong trường hợp cần ưu tiên vì lợi ích công cộng)
2.2 Cải cách thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
2.2.1 Một số quan niệm về cải cách thủ tục hành chính
2.2.1.1 Khái niệm cải cách hành chính
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, cải cách là sự sửa đổi căn bản từng phần, từng mặt của đời sống xã hội theo hướng tiến bộ mà không đụng tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành Cải cách là thay đổi những bộ phận cũ không hợp
lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan, là những thay đổi có tính hệ thống và có mục đích nhằm làm cho hệ thống đó hoạt động tốt hơn
CCHC là thuật ngữ chỉ quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính nhà nước nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại
CCHC là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do
đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau Tuy nhiên, qua xem xét, phân tích dưới
Trang 27nhiều góc độ định nghĩa của khái niệm, có thể thấy các khái niệm về CCHC được nêu ra có một số điểm thống nhất đó là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
CCHC không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho
hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ CBCC làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành CCHC đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia
CCHC tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ CBCC, thể chế pháp lý, hoặc tài chính công
Hiện nay, tại Việt Nam, chưa có văn bản QPPL nào chính thức định nghĩa khái niệm CCHC Tuy nhiên, Nghị quyết số 30C/NQ-CP đã đề cập tới CCHC cụ thể là “cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để CBCC, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công” [6, Tr.1] Bên cạnh đó, đã có rất nhiều văn bản quan trọng của Đảng đề cập đến thuật ngữ này, như Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết Trung ương 8 - khoá VII, Nghị quyết Đại hội VIII, v.v đã nêu ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho công cuộc CCHC nhà nước Đồng thời, Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, 2011 - 2020 của Chính phủ với những nội dung cơ bản của CCHC Việt Nam đã có những cách hiểu và thực hiện CCHC đồng bộ Theo đó có thể hiểu CCHC là những thay đổi có tính hệ thống, lâu dài và có mục đích nhằm làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội của mình
Như vậy, CCHC nhằm thay đổi và làm hợp lý hóa bộ máy hành chính, với mục đích tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước
Trang 282.2.1.2 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính
Cải cách TTHC là một nội dung quan trọng trong tiến trình CCHC Sự xuất hiện của TTHC là hết sức quan trọng đối với quản lý hành chính nhà nước để đảm bảo tính pháp chế, khoa học và tính thống nhất trong hoạt động hành chính TTHC
là cơ sở và điều kiện cần thiết để cơ quan nhà nước giải quyết công việc của dân và
tổ chức, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân Trong phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì cải cách TTHC là điều kiện cần thiết để tăng cường mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân Như vậy có thể hiểu cải cách TTHC là quá trình rà soát, đánh giá để loại bỏ những bước, thủ tục bất hợp lý, không cần thiết, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các TTHC mới theo quy định của pháp luật và triển khai thực hiện công khai minh bạch tất cả các TTHC bằng các hình thức thiết thực và thích hợp nhằm tạo sự thuận tiện cho tổ chức, công dân trong xã hội (Nguyễn Văn Thâm (2003))
2.2.1.3 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải cải cách TTHC, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Yêu cầu chung của cải cách TTHC là giảm bớt TTHC rườm rà và phức tạp, giảm bớt những TTHC chồng chéo dễ bị lợi dụng
để tham nhũng, gây khó khăn và cản trở việc giải quyết công việc chung, làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức, công dân do đó công việc cải cách TTHC càng trở nên quan trọng và cần thiết vì những lý do sau:
Một là, TTHC là cơ sở và điều kiện cần thiết để cơ quan nhà nước giải quyết công việc của công dân và tổ chức theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức có công việc cần giải quyết Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mục tiêu xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, chuyên nghiệp, hiện đại, hướng tới hiệu lực hiệu quả, mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân là bình đẳng
Trang 29trước pháp luật, chuyển từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ, coi người dân là khách hàng Do đó TTHC cần phải có sự thay đổi mới đápứng và đạt được những mục tiêu đã đưa ra
Hai là, thực tế TTHC vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như: chưa quan tâm nhiều đến việc mẫu hoá giấy tờ nên còn quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân, nhất là những người hạn chế về trình độ Mặc dù TTHC đã quan tâm tập trung vào cơ chế một cửa nhưng vẫn còn mang tính hình thức, vẫn còn tồn tại nhiều cấp trung gian, nhiều giấy tờ không cần thiết Giải quyết thủ tục vẫn còn nặng nề theo kinh nghiệm lối mòn, ít sáng tạo, một bộ phận không theo kịp với nhịp độ phát triển của công nghệ… Chính những điều đó đã gây phiền hà cho nhân dân trong việc thực hiện quyền tự do, lợi ích hợp pháp của người dân, gây trở ngại cho việc giao lưu, hợp tác quốc tế, ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút đầu tư và sẽ là mảnh đất cho nạn tham nhũng, cửa quyền và làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước
Vì vậy, cải cách TTHC là yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay, là khâu đột phá của quá trình cải cách nền hành chính nhà nước Cải cách TTHC là điều kiện để tăng cường, củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân (Nguyễn Văn Thâm (2003))
2.2.2 Ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính
Trong tiến trình CCHC nhà nước, cải cách TTHC có ý nghĩa quan trọng được thể hiện như sau:
Thứ nhất, cải cách TTHC là khâu đột phá của công tác CCHC thường xuyên được Chính phủ quan tâm Vì đây là TTHC trong ngày liên quan đến công việc nội
bộ của cơ quan, cấp chính quyền cũng như các tổ chức, cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước Các quyền, nghĩa vụ của công dân được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào đều thông qua TTHC Do đó, TTHC nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính, loại bỏ những rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân
Trang 30Thứ hai, cải cách TTHC giúp gỡ bỏ những rào cản về TTHC với môi trường kinh doanh và đời sống của nhân dân, giúp cắt giảm chi phí rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện TTHC
Thứ ba, cải cách TTHC tạo cơ sở cho quá trình thực hiện và tăng cường khả năng giám sát thực thi công vụ của nhân dân, các tổ chức cá nhân thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình đối với hoạt động của nhà nước
Thứ tư, cải cách TTHC với việc thực hiện mô hình một cửa để tập trung giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhằm tạo
ra sự phối kết hợp giữa các phòng ban, các cơ quan có liên quan, đảm bảo giải quyết công việc cho nhân dân nhanh chóng
Thứ năm, cải cách TTHC giúp tiết kiệm tiền của, xây dựng được môi trường pháp lý lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức phát huy tối đa quyền và nghĩa vụ của mình, bộ máy nhà nước được sắp xếp tổ chức theo hướng gọn nhẹ, hiện đại, chuyên nghiệp hóa nên phần nào bài trừ tệ quan liêu, cửa quyền, hối lộ, tham nhũng khiến bộ máy ngày càng trong sạch hơn (Nguyễn Văn Thâm (2003))
2.2.3 Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
2.2.3.1 Các khái niệm có liên quan
Trên lộ trình thực hiện Nghị quyết số 38/CP về Chương trình tổng thể CCHC nhà nước, việc cải cách theo hướng đơn giản hóa TTHC gắn với việc thực hiện cơ chế một cửa đã được triển khai mạnh và thu được những kết quả bước đầu tích cực
Cơ chế một cửa trong giải quyết TTHC là phương thức tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân của một cơ quan có thẩm quyền thông qua Bộ phận một cửa được quy định tại Điều 3 Nghị định 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ quy định
Bộ phận một cửa là tên gọi chung của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC hoặc Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết
Trang 31quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân (Lưu Thị Thu Huỳnh (2017))
2.2.3.2 Bản chất của cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
Cải cách TTHC theo cơ chế một cửa nhằm đạt được bước chuyển quan trọng trong quá trình giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân, chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, đạt được mục tiêu trong tiến trình cải cách TTHC nói riêng và cải cách nền hành chính nhà nước nói chung, để hướng tới nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả Để làm được điều đó thì cải cách TTHC tập trung chủ yếu vào một số nội dung như sau:
- Khi cá nhân, tổ chức có nhu cầu giải quyết hồ sơ hành chính có liên quan đến cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức đó chỉ cần liên hệ với một đầu mối đó là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
- Cá nhân, tổ chức có thêm những thông tin để thường xuyên trao đổi với cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện các TTHC
- CBCC nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ và kỹ năng hành chính để giải quyết công việc cũng như khả năng phối hợp, kết hợp giữa các bộ phận để giải quyết TTHC nhanh hơn và hiệu quả hơn
2.2.3.3 Các nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa
Để cơ chế một cửa thực hiện có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu, góp phần quan trọng trong tiến trình CCHC, trong quá trình thực hiện cơ chế này cần tuân theo một số nguyên tắc như sau:
- Niêm yết công khai, đầy đủ, kịp thời các TTHC tại quyết định công bố TTHC theo quy định
- Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức; việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ tại một cơ quan chuyên môn
- Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức
Trang 32- Việc thu phí, lệ phí của cá nhân, tổ chức được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
2.2.3.4 Cơ quan và phạm vi áp dụng cơ chế một cửa
- Các cơ quan áp dụng cơ chế một cửa: Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, cấp xã và các cơ quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương
- Phạm vi áp dụng cơ chế một cửa: Cơ chế một cửa được thực hiện trong giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, các cơ quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương, UBND cấp huyện và cấp xã
2.2.3.5 Ý nghĩa của cơ chế một cửa
Hiệu quả của việc giải quyết hồ sơ theo cơ chế này đã làm cho nền hành chính trở nên dân chủ, minh bạch, có tính chuyên nghiệp hơn, mang lại sự thuận lợi cho mọi cá nhân, tổ chức, cụ thể là:
Thứ nhất, việc thực hiện cơ chế một cửa đã góp phần nâng cao năng lực hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước:
- Đối với tổ chức bộ máy cơ quan hành chính nhà nước: Sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hợp lý, hoạt động hiệu quả bằng việc xác định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan và từng CBCC
- Đổi mới phương thức hoạt động: Mối quan hệ giữa các phòng ban (bộ phận) trong giải quyết công việc cho nhân dân ngày càng thắt chặt Việc tiếp nhận, thụ lý và trả kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã ngăn chặn tình trạng sách nhiễu nhân dân Mặt khác, giúp các phòng ban (bộ phận) có điều kiện tập trung
và chủ động giải quyết công việc thuộc thẩm quyền chuyên môn nghiệp vụ
Thứ hai, đối với đội ngũ CBCC: Thực hiện cơ chế một cửa góp phần tăng cường năng lực, trách nhiệm của CBCC; kỹ năng nghiệp vụ hành chính cũng như tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ CBCC được nâng cao nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trang 33Thứ ba, bước đầu tạo lập niềm tin vào cơ quan công quyền: Sự đổi mới hoạt động của cơ quan hành chính và thái độ phục vụ thân thiện CBCC đã đem đến sự hài lòng cho nhân dân khi giải quyết công việc
Sự công khai hóa TTHC, thời gian qua đã hạn chế tình trạng quan liêu, tham nhũng Đồng thời, đảm bảo cho mỗi người dân có thể tham gia vào hoạt động giám sát và quản lý hành chính nhà nước
2.2.3.6 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa
* Quy trình thực hiện cơ chế một cửa
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ
Bước 2: Chuyển hồ sơ
Bước 3: Giải quyết hồ sơ
Bước 4: Trả kết quả giải quyết hồ sơ
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thực hiện cơ chế một cửa
Tiếp nhận hồ sơ
Chuyển hồ sơ
Giải quyết hồ sơ
Trả kết quả giải quyết hồ sơ
Nguồn: quy trình TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế tỉnh Đồng Tháp
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ
+ Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy định nhận hồ
sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến
+ Công chức tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ: Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì
Trang 34hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết; trường hợp
hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cụ thể theo mẫu
+ Công chức tiếp nhận hồ sơ nhập vào sổ theo dõi hồ sơ theo mẫu số theo từng lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; và phần mềm điện tử (nếu có); lập giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo mẫu trong đó giấy tiếp nhận và hẹn trả kết quả được lập thành 2 liên; một liên chuyển kèm theo Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ và được lưu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; một liên giao cho cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ; cá nhân, tổ chức có thể đăng ký nhận kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hoặc tại nhà (trụ sở tổ chức) qua dịch vụ bưu chính
+ Trường hợp công chức tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được phân công giải quyết hồ sơ thì nhập vào sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện
tử (nếu có) Đối với hồ sơ quy định giải quyết và trả kết quả ngay, không phải lập giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức; Đối với hồ sơ quy định có thời hạn giải quyết: Công chức lập giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức
+ Chuyển hồ sơ và phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ cho cơ quan, tổ chức liên quan giải quyết Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ được chuyển theo hồ sơ và lưu tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Bước 3: Giải quyết hồ sơ
Trang 35Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan, tổ chức phân công CBCC giải quyết như sau:
+ Trường hợp không quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
+ Trường hợp có quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức báo cáo người có thẩm quyền phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực hiện Quá trình thẩm tra, xác minh phải được lập hồ sơ và lưu tại cơ quan giải quyết
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh chưa đủ điều kiện giải quyết: Công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà cơ quan, tổ chức đã giải quyết lần đầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ
+ Các hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết và chưa hợp lệ sau khi thẩm định không đủ điều kiện giải quyết, công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ
sơ và thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do không giải quyết hồ sơ Thông báo được nhập vào mục trả kết quả trong sổ theo dõi hồ sơ Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định
+ Các hồ sơ quá hạn giải quyết: Cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và có văn bản xin lỗi tổ chức, cá nhân trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả
Bước 4: Trả kết quả giải quyết hồ sơ
Công chức tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhập vào sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử (nếu có) và thực hiện như sau:
+ Các hồ sơ đã giải quyết xong: Trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức và thu phí, lệ phí (nếu có); trường hợp cá nhân, tổ chức đã đăng ký nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính thì việc trả kết quả, thu phí, lệ phí (nếu có) và cước phí
Trang 36được thực hiện qua dịch vụ bưu chính; nếu thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức
độ 4 thì việc trả kết quả và thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định
+ Đối với hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để yêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ và văn bản xin lỗi của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (nếu là lỗi của công chức khi tiếp nhận hồ sơ)
+ Đối với hồ sơ không giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để trả lại hồ
sơ kèm theo thông báo không giải quyết hồ sơ
+ Đối với hồ sơ quá hạn giải quyết: Thông báo thời hạn trả kết quả lần sau và chuyển văn bản xin lỗi của cơ quan, tổ chức làm quá hạn giải quyết cho cá nhân, tổ chức
+ Đối với hồ sơ giải quyết xong trước thời hạn trả kết quả: Liên hệ để cá nhân, tổ chức nhận kết quả
+ Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa đến nhận hồ sơ theo giấy tiếp nhận hồ
sơ và hẹn trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả
2.3 Các yêu cầu khi thực hiện cơ chế một cửa
Khi thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan thuế chứa năm nhóm yêu cầu chung, mỗi nhóm được xem như một mắc xít kết nối lại với nhau thành một hệ thống và được mô phòng theo quý trình thực hiện:
Đầu vào -> quá trình giải quyết -> Đầu ra
Quá trình thực hiện cơ chế một cửa của một tổ chức được mô hình hóa dựa trên quá trình chuyển hóa đầu vào thành đầu ra có giá trị tăng thêm bao gồm năm nhóm yêu cầu được minh họa như hình sau:
Trang 37Hình 2.2 Mô hình khái quát thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan thuế
(Nguồn: quy trình TTHC thuế theo cơ chế một cửa tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp)
Mô hình trên bao gồm năm nhóm yêu cầu như sau:
Nhóm yêu cầu thứ nhất: Các yêu cầu tổng thể đối với việc thực hiện cơ chế một cửa
Phần này nêu chi tiết các yêu cầu chung về thực hiện cơ chế một cửa để làm nền tảng Các yêu cầu chung đòi hỏi phải nhìn vào các quá trình thực hiện của cơ chế một cửa, cách thức chúng tác động lẫn nhau; các nguồn lực, chuyên môn để vận hành các quá trình đó và đánh giá, theo dõi, phân tích cũng như cải tiến chúng như thế nào Ngoài ra, nhóm này cũng ấn định các yêu cầu về cơ chế cần thiết cho việc điều hành có hiệu lực và cách kiểm soát tài liệu, hồ sơ
Nhóm yêu cầu thứ hai: Trách nhiệm của Lãnh đạo
QUẢN LÝ CƠ CHẾ MỘT CỬA
Đầu Vào
NGƯỜI NỘP THUẾ
Kết quả: Sự thỏa mãn
GẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ, CẢI TIẾN LIÊN TỤC CƠ CHẾ MỘT CỬA
Quản lý về quy định TTHC, nguồn lực, chuyên môn nghiệp
vụ, cơ sở vật chất…
Đánh giá, theo dõi, giám sát, phân tích, cải tiến
Tạo ra sản
phẩm
Đầu ra
Trang 38Quản lý cơ chế một cửa là trách nhiệm của lãnh đạo cấp cao nhất Lãnh đạo cấp cao nhất phải xác định chính xác chất lượng, hiệu quả của hoạt động của cơ chế
và từ đó đề ra các mục tiêu trong việc hoạch định các biện pháp cần tiến hành để đạt được mục tiêu, hiệu quả đó Ngoài ra, họ còn phải đảm bảo sự trao đổi thông tin nội
bộ rõ ràng về hiệu lực hoạt động của cơ chế và xem xét định kỳ để đảm bảo cơ chế luôn luôn hoạt động có hiệu lực, hiệu quả tạo ra sự thỏa mãn cho NNT
Nhóm yêu cầu thứ ba: Quản lý về quy định TTHC, nguồn lực, chuyên môn nghiệp vụ và cơ sở vật chất
Phần này quy định quản lý các TTHC, các nguồn nhân lực, chuyên môn nghiệp vụ và cơ sở vật chất cần thiết để thực hiện quá trình Các TTHC được quy định cụ thể quá trình thực hiện các yêu cầu của tổ chức, cá nhân Công chức cần có năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao Chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện các công việc hướng dẫn, tiếp nhận các yêu cầu TTHC của tổ chức, cá nhân và bộ phân chuyên môn trong việc giải quyết các yêu cầu TTHC đó Đồng thời, cơ sở hạ tầng, môi trường làm việc cần thiết nhằm tạo khả năng đảm bảo các yêu cầu của tổ chức,
cá nhân đều được đáp ứng
Nhóm yêu cầu thứ tư: Tạo sản phẩm, dịch vụ
Nhóm này bao gồm các quá trình thực hiện sản phẩm hay cung cấp dịch vụ thỏa mãn nhu cầu tổ chức, cá nhân Đây là hoạt động chuyển hóa đầu vào của quá trình thành đầu ra có giá trị tăng thêm
Nhóm yêu cầu thứ năm: Đánh giá, theo dõi, phân tích và cải tiến
Đây là công việc đánh giá để có thể theo dõi và phân tích nhằm cung cấp thông tin về thực hiện cơ chế đó được vận hành như thế nào để giải quyết các yêu cầu của tổ chức, cá nhân thông qua việc đánh giá quá trình thực hiện và sản phẩm tạo ra Việc phân tích này, bao gồm cả những thiếu sót, sai sót trong thực hiện cơ chế để cung cấp những thông tin có giá trị làm cơ sở cho việc thực hiện các nội dung cải tiến cần thiết để đáp ứng sự thỏa mãn của tổ chức, cá nhân
Có thể thấy, mỗi yêu cầu trong số năm yêu cầu cơ bản nói trên đều cần thiết
để tạo nên một cơ chế một cửa vận hành và thực hiện chất lượng có hiệu quả dựa
Trang 39trên quá trình bởi nếu thiếu chỉ một yếu tố thì quá trình thực hiện cơ chế đó sẽ không được kiểm soát Như vậy, việc thực hiện cơ chế một cửa là một hệ thống thực hiện một loạt các quá trình liên kết lẫn nhau để tạo sản phẩm đầu ra phù hợp với mục tiêu đã định theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân và tạo ra sản phẩm thỏa mãn với nhu cầu của tổ chức, cá nhân
2.4 Hiệu quả từ việc thực hiện cơ chế một cửa
- Đảm bảo việc thực hiện giải quyết các TTHC của tổ chức, cá nhân được giải quyết nhanh chóng, kịp thời
- Tiết kiệm thời gian, cho phí của tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện giải quyết TTHC
- Phối hợp chặt chẽ các bộ phận chức năng trong việc giải quyết TTHC Đồng thời, giám sát công chức và bộ phận chức năng trong quá trình thực hiện
- Sản phẩm được tạo ra đáp ứng sự thỏa mãn của tổ chức, cá nhân
- Tăng cường năng lực, trách nhiệm; kỹ năng nghiệp vụ hành chính cũng như tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của CBCC
- Tạo lập niềm tin vào cơ quan công quyền
2.5 Bài học kinh nghiệm
Trong thời gian qua, những nỗ lực cải cách TTHC của Bộ Tài chính đã được người dân và cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và hiệp hội nghề nghiệp đánh giá cao Bộ tài chính đã đánh giá những kết quả, đồng thời chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện công tác CCHC của ngành Trong đó, cơ quan thuế đã có nhiều giải pháp đồng bộ trong CCHC, mà cải cách TTHC thuế đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của NNT Cụ thể trong năm 2017, theo khảo sát của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, có đến 71% NNT được hỏi hài lòng với kết quả cải cách của
cơ quan thuế trong những năm qua
Cùng với sự nỗ lực của Bộ Tài chính, cơ quan thuế là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính cùng góp sức chung trong công cuộc CCHC Với nhiều nỗ lực tích cực,
cơ quan thuế đã đáp ứng theo sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính và tạo được
Trang 40sự ủng hộ tích cực từ NNT Trong đó, với nỗ lực đề nghị bãi bỏ các TTHC thuế rườm rà, TTHC thuế lạc hậu, cắt giảm thời gian giải quyết trong đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế Đây là những thủ tục mà NNT phải thực hiện khi liên quan đến các quyền và nghĩa vụ thuế của mình, mà cụ thể là quyền và nghĩa vụ thực hiện NSNN
Trong đó, công tác cải cách TTHC thuế theo cơ chế một cửa được Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế chỉ đạo tích cực và thường xuyên nhất Trong đó, quá trình thực hiện phải đảm bảo tạo thuận lợi cho NNT, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc thực hiện hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả cho NNT
Ngoài ra còn có hàng loạt các công trình nghiên cứu, đề tài đã từng nghiên cứu những vấn đề liên quan đến cải cách TTHC theo cơ chế một cửa như sau:
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Văn Tấn với đề tài: “Cơ chế một cửa, một cửa liên thông - Nghiên cứu thực tiễn tỉnh Đồng Tháp”, năm 2011 Tác giả xuất
phát từ những vấn đề lý luận về cải cách TTHC theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông, khái quát quá trình thực hiện cải cách TTHC tại tỉnh Đồng Tháp Từ đó, chỉ
ra những kết quả đạt được và những khó khăn vướng mắc, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm thông qua thực tiễn thực hiện công tác cải cách tại địa phương
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Mai Thị Thơm với đề tài: “Cải cách TTHC theo cơ chế một cửa về cấp phép xây dựng từ thực tiễn quận Hoàn Kiếm - Hà Nội”,
năm 2013 Từ nghiên cứu này, độc giả có thể nhận thức được rằng thực tế thực hiện các TTHC, quận Hoàn Kiếm – Hà Nội đã chỉ rõ những hạn chế, yếu kém và khẳng định cải cách TTHC là nhu cầu tất yếu, khách quan hiện nay Tuy vậy, trong tiến trình cải cách TTHC, phải xác định được rằng cải cách TTHC trong cấp giấy phép xây dựng là một nhu cầu quan trọng và cấp thiết Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một
số giải pháp và kiến nghị đối với cấp Trung ương và UBND thành phố Hà Nội, UBND quận Hoàn Kiếm nhằm hoàn thiện TTHC theo cơ chế một cửa trong cấp phép xây dựng
- Luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công của tác giả Đào Thị Oanh: “Cải cách TTHC tại UBND quận Thanh Xuân”, năm 2014 Theo quan điểm của tác giả,