1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng sở hữu chéo và vấn đế không tuân thủ các quy định đảm bảo an toàn hoạt động tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

80 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

50 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ HÌNH THỨC SỞ HỮU CHÉO VÀ HẠN CHẾ CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA HÌNH THỨC SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VI

Trang 1

o0o

NGUYỄN TRÍ THIỆN

THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VẤN ĐỀ KHÔNG TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014

Trang 2

o0o

NGUYỄN TRÍ THIỆN

THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VẤN ĐỀ KHÔNG TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Ngân Hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN QUỐC KHANH

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014

Trang 3

liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tác giả luận văn

Nguyễn Trí Thiện

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ ngữ viết tắt

Danh mục các hình vẽ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 2

4 Kết quả đạt được và một số hạn chế của đề tài 3

5 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 5

1.1 Các khái niệm 5

1.1.1 Khái niệm về quyền sở hữu 5

1.1.2 Khái niệm về quyền quản lý 5

1.1.3 An toàn hoạt động của tổ chức tín dụng 6

1.2 Hình thức sở hữu chéo 12

Trang 5

1.2.3 Nguyên nhân của hình thức sở hữu chéo 14

1.2.4 Các cách thức thực hiện sở hữu chéo 16

1.2.5 Ưu điểm của hình thức sở hữu chéo 16

1.2.6 Nhược điểm của hình thức sở hữu chéo 17

1.3 Hình thức sở hữu chéo ở một số nước trên thế giới 18

1.3.1 Hình thức sở hữu chéo ở nước Đức 18

1.3.2 Hình thức sở hữu chéo ở Nhật Bản 19

1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 19

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VẤN ĐỀ KHÔNG TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 22

2.1 Một số quy định về đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay 22

2.1.1 Vốn của ngân hàng thương mại 22

2.1.2 Giới hạn tín dụng 23

2.1.3 Giới hạn đầu tư, góp vốn cổ phần 24

Trang 6

2.2 Thực trạng hình thức sở hữu chéo ở Việt Nam 25

2.2.1 Hình thức sở hữu chéo tại ngân hàng thương mại nhà nước 26

2.2.2 Hình thức sở hữu chéo tại ngân hàng thương mại cổ phần 27

2.2.3 Hình thức sở hữu chéo giữa các ngân hàng và doanh nghiệp 29

2.3 Phân tích vấn đề không tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam do tình trạng sở hữu chéo gây ra 30

2.3.1 Vấn đề không tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động tại các ngân hàng thương mại nhà nước 30

2.3.2 Vấn đề không tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động tại các ngân hàng thương mại cổ phần 34

2.3.3 Vấn đề không tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động tại các ngân hàng và doanh nghiệp 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ HÌNH THỨC SỞ HỮU CHÉO VÀ HẠN CHẾ CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA HÌNH THỨC SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 51

3.1 Dự đoán xu hướng của hình thức sở hữu chéo trong thời gian tới 51

Trang 7

3.2.1 Định nghĩa lại khái niệm người có liên quan 53

3.2.2 Quy định về công bố thông tin 54

3.2.3 Chế tài 54

3.2.4 Giám sát cổ đông, tổ chức sở hữu ngân hàng 54

3.3 Một số kiến nghị nhằm hạn chế hình thức sở hữu chéo 55

3.3.1 Đối với Chính Phủ 55

3.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước 55

3.3.3 Đối với các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mại nhà nước đang sở hữu cổ phần tại các ngân hàng thương mại cổ phần 56

3.1.4 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59

KẾT LUẬN 60

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

BKS : Ban Kiểm soát

BCTC : Báo cáo tài chính

CAR : (Capital Adequacy Ratio)

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

CEO : (Chief Executive Officer)

NHVN : Ngân hàng Việt Nam

NHTM : Ngân hàng Thương mại

NHTMNN : Ngân hàng Thương mại Nhà nước

NHTMCP : Ngân hàng Thương mại Cổ phần

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

P.TGĐ : Phó Tổng Giám đốc

Trang 9

TV.BKS : Thành viên Ban Kiểm soát

TV HĐQT : Thành viên Hội đồng Quản trị

DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

3 NH Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam AGRB Agribank

4 NHTMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam BIDV BIDV

6 NHTMCP Công Thương Việt Nam CTG Viettinbank

9 NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam EIB Eximbank

12 NHTMCP Phát triển TP.HCM HDB HDBank

16 NHTMCP Phát Triển Mê Kong MDB MeKong Development Bank

17 NHTMCP Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long MHB MHB Bank

24 NHTMCP Xăng Dầu Petrolimex PGB PGBank

Trang 10

29 NHTMCP Sài Gòn Công Thương SGB Saigonbank

30 NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội SHB SH Bank

31 NHTMCP Sài Gòn Thương Tín STB Sacombank

32 NHTMCP Xây Dựng Việt Nam(NHTMCP Xây Dựng

33 NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam TCB Techcombank

34 NHTMCP Tiên Phong Bank TPB Tien Phong Bank

36 NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam VCB Vietcombank

39 NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng VPB VPBank

40 NHTMCP Việt Nam Thương Tín VTTB Vietbank

Trang 11

Hình 2.2 Hình thức sở hữu chéo tại ngân hàng thương mại cổ phần 27

Hình 2.3 Hình thức sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp 29

Hình 2.4 Thực trạng sở hữu chéo tại các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước 31

Hình 2.5 Mối quan hệ sở hữu lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại cổ phần 36

Hình 2.6 Sở hữu chéo giữa ACB và các NH có liên quan 37

Hình 2.7 Sở hữu chéo giữa ACB và KienLong Bank 38

Hình 2.8 Sở hữu chéo giữa ACB - DaiABank 39

Hình 2.9 Sở hữu chéo giữa ACB và Eximbank 41

Hình 2.10 Sở hữu chéo giữa ACB và VietBank 42

Hình 2.11 Sở hữu chéo giữa ACB và VietABank 43

Hình 2.12 Sở hữu chéo giữa các ngân hàng và doanh nghiệp 47

Hình 2.13 Cho vay theo quan hệ tại NHTMCP An Bình 48

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Hệ thống các ngân hàng thương mại ở nước ta đã có bước phát triển đáng kể, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cũng như góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định trật tự xã hội Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng thương mại vẫn còn nhiều mặt tồn tại như: nợ xấu tăng cao, thanh khoản của hệ

thống chưa thực sự ổn định, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chưa thực sự vững chắc

Một số vụ bê bối tài chính trong hệ thống ngân hàng trong thời gian qua điển hình như

vụ án Bầu Kiên (Nguyễn Đức Kiên) xảy ra tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và vụ án Huỳnh Thị Huyền Như xảy ra tại ngân hàng công thương Việt Nam đã làm ảnh hưởng lớn đến lòng tin của các khách hàng đối với hệ thống ngân hàng Đồng thời, cũng làm giảm xếp hàng tín nhiệm của các tổ chức tài chính tại Việt Nam nguyên nhân một phần cũng là do sở hữu chéo gây ra

Thêm nữa, sự sụp đổ của tập đoàn tài chính Vinashin một phần là do Vinashin là “con cưng” của Chính phủ nên được ưu tiên trên mọi phương diện, kể cả việc “lách” các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng mà Chính phủ chỉ định để cho Vinashin vay vốn Ngoài việc cho Vinashin vay vốn, còn có rất nhiều các ngân hàng thương mại khác có tham gia góp vốn hoặc đầu tư một cách gián tiếp vào dự án Vinashin Vì vậy, khi Vinashin sụp đổ, kéo theo không ít các tổ chức tài chính bị liên lụy như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (đã bị sáp nhập), ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng

Kỹ thương Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội …

Sở hữu chéo được thừa nhận là khá phổ biến nhưng lại có rất ít các nghiên cứu khoa học nghiên cứu về các mối quan hệ sở hữu chéo Sở dĩ như vậy là vì mức độ sở hữu chéo ở Việt Nam rất khó đánh giá Nguyên do là không minh bạch thông tin và các kế

Trang 13

sách lách luật sở hữu một cách hợp pháp Ở Việt Nam hiện nay, do lạm dụng mô hình

sở hữu chéo nên việc này đã trở nên phức tạp hơn bao giờ hết

Từ những thực tiễn trên, tôi xin chọn đề tài “Thực trạng sở hữu chéo và vấn đề không tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn xin đưa ra hai vấn đề cần làm rõ như sau:

Các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện có cấu trúc sở hữu chéo lẫn nhau

và với các doanh nghiệp phi ngân hàng như thế nào

Cơ cấu sở hữu chéo có ảnh hưởng như thế nào đến việc không tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động và gây ra những tác động tiêu cực như thế nào đối với việc quản lý và điều hành hoạt động của các ngân hàng thương mại

Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu tác động của sở hữu chéo đến việc không tuân thủ quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại, từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm minh bạch tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại đồng thời hạn chế tác động tiêu cực của hình thức sở hữu chéo

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Để làm rõ các vấn đề liên quan đến sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại luận văn sử dụng các nghiên cứu thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích để khái quát và nêu ra những đặc điểm nổi bật của tình trạng sở hữu chéo hiện nay tại các ngân hàng thương mại

Trang 14

Luận văn sẽ tập trung vào phân tích cấu trúc sở hữu của 35 ngân hàng thương mại cổ phần và 6 ngân hàng thương mại nhà nước để phân tích, đánh giá việc tuân thủ khung giám sát của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2010 -2013 Tức là sau khi

thực hiện nghị định 141/2006/NĐ-CP và Nghị định 10/2011/NĐ-CP của Chính phủ về

việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006

về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng Các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại trong nước, các bản cáo bạch được công bố trong những năm 2010-2013 Các trang web của ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại

và các trang báo kinh tế - xã hội Các bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học …

4 Kết quả đạt được và một số hạn chế của đề tài

Trên cơ sở nguồn dữ liệu đã tổng hợp được, luận văn nêu ra một cách khái quát về các khái niệm của sở hữu chéo, những ưu điểm và nhược điểm cũng như những hệ quả xấu

mà hình thức sở hữu chéo gây ra cho hệ thống ngân hàng thương mại Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra cách thức mà sở hữu chéo có thể “lách” qua các quy định về an toàn hoạt động của các tổ chức tín Luận văn cũng kiến nghị một số giải pháp để hạn chế tác động tiêu cực của hình thức sở hữu chéo đối với hệ thống ngân hàng và đề xuất một số biện pháp chế tài nhằm tạo ra khung pháp lý xử lý những vi phạm liên quan đến hình thức sở hữu chéo

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như độ dài của luận văn, tác giả không nghiên cứu sâu và hệ thống được toàn bộ các vấn đề sở hữu chéo của toàn hệ thống ngân hàng thương mại mà chỉ tập trung vào một số ngân hàng nổi bật, có tình trạng sở hữu chéo chằng chịt và làm ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng trong thời gian qua Các giải pháp kiến nghị cũng chưa phải là những biện pháp tốt nhất nhằm xử lý triệt để những tác động tiêu cực của hình thức sở hữu chéo và cần tiếp tục có những giải pháp hữu hiệu hơn trong những nghiên cứu sau này

Trang 15

5 Cấu trúc luận văn

Luận văn có cấu trúc gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Thực trạng sở hữu chéo tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số kiến nghị và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế hình thức sở hữu chéo

và hạn chế các tác động tiêu cực của hình thức sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm về quyền sở hữu

Quyền sở hữu: Là chỉ tổng hợp các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều

chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các

tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

Khái niệm quyền sở hữu vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một phạm trù pháp lý

Là phạm trù kinh tế, sở hữu thể hiện các quan hệ sản xuất xã hội, phương thức chiếm hữu và phân phối trong từng hình thái kinh tế- xã hội và quan hệ xã hội nhất định Sở hữu là việc tài sản, thành quả lao động, tư liệu sản xuất thuộc về ai, do đó nó thể hiện quan hệ giữa người với người trong quá trình tạo ra và phân phối các thành quả vật chất

Là phạm trù pháp lý, quyền sở hữu mang tính chất chủ quan vì nó là sự ghi nhận của Nhà nước, nhưng Nhà nước không thể đặt ra quyền sở hữu theo ý chí chủ quan của mình mà quyền sở hữu được qui định trước hết bởi nội dung kinh tế xã hội, tức là thể chế hoá những quan hệ chiếm hữu, sử dụng và định đoạt những của cải vật chất do con người tạo ra

1.1.2 Khái niệm về quyền quản lý

Khái niệm về quản lý đã xuất hiện từ lâu và phát triển cùng với những mối quan hệ về sản xuất, nó được hiểu phụ thuộc vào chế độ xã hội, nghề nghiệp… cùng với sự phát triển của xã hội thì khái niệm này ngày càng trở nên rõ ràng hơn

Trang 17

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động

Quản lý doanh nghiệp là hệ thống các cơ chế mà theo đó doanh nghiệp được quản lý thông qua việc tổ chức điều hành nội bộ, các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quản

lý như cổ đông, hội đồng quản trị, Giám đốc, người lao động và những người có lợi ích

có liên quan được phân công rõ ràng

Theo đó quyền quản lý đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên để hoàn thành mục tiêu chung

1.1.3 An toàn hoạt động của tổ chức tín dụng

Khi nhắc tới an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng người ta sẽ nhắc tới trước hết là các tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel I và Hiệp ước Basel II, và được áp dụng đối với Việt Nam là thông tư 13 của Ngân hàng nhà nước được ban hành năm 2010 Những tiêu chuẩn về an toàn hoạt động này đã ra đời cách đây hai thập kỷ và cho đến nay vẫn còn giữ nguyên được những giá trị thực tiễn của nó Các tổ chức tín dụng trên toàn thế giới vẫn đang áp dụng và cố gắng tuân thủ một cách triệt để những tiêu chuẩn trong Hiệp ước nhằm hạn chế tối đa những rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng

Theo đó, để đảm bảo an toàn hoạt động của mình, các ngân hàng phải tuân thủ theo 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu quả của Ủy ban Basel

1.1.3.1 Quá trình hình thành và hoạt động của Ủy ban Basel

Ủy ban Basel được thành lập vào năm 1974 bởi thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm 10 nước Hiện nay, các thành viên của Ủy ban này đã bao gồm 27 nước mà hầu

Trang 18

hết là các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới Các quốc gia được đại diện bởi ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng.Ủy ban này được nhóm họp 4 lần trong một năm Trong Ủy ban còn có 25 nhóm kỹ thuật và một số bộ phận khác được nhóm họp thường xuyên để thực hiện các nội dung công việc của Ủy ban

Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của nó không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng Thay vào đó, Ủy ban này chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho

hệ thống quốc gia của chính họ Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên

Ủy ban báo cáo cho thống đốc đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước thành viên Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho những sáng kiến của Ủy ban Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tài chính Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc

tế trên hai nguyên lý cơ bản là (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng

Vào năm 1988, Ủy ban đã công bố hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8% Từ năm 1988, Basel

I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn ở hầu hết các nước khác với các ngân hàng hoạt động quốc tế

Trang 19

Năm 1999, Ủy ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới (Basel II) với 3 trụ cột chính: (1) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (2) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; và (3) sử dụng hiệu quả việc công bộ thông tin nhằm làm mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát Sau những tương tác rộng rãi với các ngân hàng, các nhóm ngành

và các cơ quan giám sát không phải thành viên của Ủy ban, Basel II được ban hành vào ngày 26/06/2004 Tài liệu này có thể làm cơ sở cho các quá trình phê duyệt và xây dựng luật lệ quốc gia về giám sát hoạt động ngân hàng và cho các ngân hàng hoàn chỉnh sự chuẩn bị của họ cho việc thực hiện các tiêu chuẩn mới

1.1.3.2 Ba trụ cột chính của Basel II

Trụ cột thứ nhất – Các yêu cần vốn tối thiểu

So với Basel I, Basel II mang tính kế thừa và phát huy hiệu quả mạnh hơn thông qua việc quy định chi tiết hơn so với Basel I

Theo quy định trong Basel II, một tổ chức tài chính được gọi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu 4% đối với vốn cấp 1 và 8% đối với vốn cấp 2 Hệ số CAR được tính theo công thức:

CAR =

Vốn ngân hàng

Vốn ngân hàng được chia thành hai cấp, vốn cấp 1 và vốn cấp 2

Vốn cấp 1 bao gồm: Vốn cổ phần thường và dự trữ được công bố

Vốn ngân hàng

Tài sản có điều chỉnh rủi ro

Trang 20

Vốn cấp 2 gồm: Dữ trữ không được công bố, dự trữ tài sản đánh giá lại, dự phòng chung/ dự phòng tổn thất cho vay chung, các công cụ vốn lai (nợ/vốn chủ sở hữu), nợ thứ cấp.

Các giới hạn: Tổng vốn cấp 2 được đưa vào tính toán tỷ lệ đủ vốn không được quá 100% vốn cấp 1; nợ thứ cấp tối đa bằng 50% vốn cấp 1; dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi ro; dự trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình

Tài sản có điều chỉnh rủi ro

Tùy theo mỗi loại tài sản sẽ được gắn cho một trọng số rủi ro Theo Basel I trọng số rủi

ro của tài sản được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50% và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản Ví dụ tiền mặt tại quỹ hay trái phiếu chính phủ có trọng số rủi ro là 0%, các khoản vay cho khu vực tư nhân là 100% Nhược điểm lớn nhất của quy định này là không phân biệt các loại rủi ro đặc thù Ví dụ tất cả các khoản vay của khu vực

tư nhân đều được gắn trọng số 100%, cho dù đó là khoản vay của một công ty nổi tiếng như IBM hoặc của một doanh nghiệp địa phương không có tên tuổi Basel II đã khắc phục nhược điểm này Việc xếp trọng số bao nhiêu tùy thuộc xếp hạng tín nhiệm của chủ nợ Điểm khác biệt nữa trong Basel II là nợ được chia thành 5 nhóm có trọng số lần lượt là 0%, 20%, 50%, 100% và 150%

Trụ cột thứ hai - Tăng cường cơ chế giám sát

Trụ cột này là tập trung vào việc xây dựng hệ thống quản lý rủi ro Quy trình kiểm tra kiểm sát trong Basel II không chỉ để đảm bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để giải quyết tất cả các rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích ngân hàng phát triển

Trang 21

và sử dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro tốt hơn trong việc kiểm soát và quản lý các rủi

ro

Bốn nguyên tắc chính của trụ cột II:

Nguyên tắc 1: Ngân hàng nên có quy trình đánh giá sự thích hợp của tổng vốn và hồ sơ rủi ro của ngân hàng và một chiến lược duy trì các mức vốn khác nhau

Nguyên tắc 2: Những người giám sát cần kiểm tra lại và đánh giá các chiến lược và việc đánh giá mức vốn thích hợp nội bộ của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo sự tuân thủ các mức vốn điều tiết Những người giám sát cần phải có những hành động giám sát phù hợp nếu họ không thỏa mãn với kết quả của quy trình đánh giá

Nguyên tắc 3: Kiểm sát viên nên yêu cầu ngân hàng duy trì mức cao hơn tỷ lệ vốn điều chỉnh tối

thiểu và phải có khả năng yêu cầu các đơn vị thành viên duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu

Nguyên tắc 4: Kiểm sát viên cần phải có biện pháp can thiệp ngay ở giai đoạn đầu tiên

để ngăn mức vốn không bị rớt xuống thấp hơn mức tối thiểu để giải quyết những thuộc tính rủi ro của một ngân hàng nhất định và cần có hành động giải quyết tức thì nếu vốn không duy trì hoặc khôi phục được

Trụ cột thứ ba – Tuân thủ kỷ luật thị trường

Trụ cột này tập trung vào việc yêu cầu tuân thủ các kỷ luật thị trường, vấn đề công bố thông tin đầy đủ và minh bạch, trong đó nhấn mạnh đến việc công bố các loại thông tin

về rủi ro, dự trữ, vốn

Trang 22

Từ một văn bản 30 trang (Basel I) đã được phát triển thành một văn bản gần 250 trang (Basel II) là một sự xây dựng chi tiết Nếu áp dụng đúng các tiêu chuẩn này thì việc đánh giá sức khỏe của các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung sẽ trở nên dễ dàng và minh bạch hơn Tuy nhiên, đây là một quy trình hết sức chi tiết và phức tạp nên nhiều người cho rằng việc áp dụng Basel II sẽ gây khó khăn hơn và làm tăng chi phí của các tổ chức tài chính khi áp dụng nó

Đối với các nước đang phát triển việc áp dụng đầy đủ các chuẩn mực trong Basel II sẽ rất khó khăn Do đó, có nghiên cứu đã đề xuất rằng, các nước này chỉ nên thực hiện Basel 1.5, Basel 1.5+, Basel +… trên cơ sở có điều chỉnh một số vấn đề cho phù hợp với các nước đang phát triển hơn Theo kế hoạch Basel II sẽ được áp dụng rộng rãi vào năm 2007 Tuy nhiên, vào thời điểm này cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu xảy ra, Basel II bộc lộ vấn đề của nó liên quan đến yếu tố đủ vốn ở hai khía cạnh Thứ nhất, việc dựa vào định mức tín nhiệm của các tổ chức độc lập để đánh giá mức độ rủi

ro của các loại tài sản trong bối cảnh các tổ chức đánh giá tín nhiệm được chính khách hàng của mình trả tiền để đánh giá đã gây ra những xung đột lợi ích làm cho kết quả đánh giá không thực sự khách quan Kết quả hệ số đủ vốn đã bị thổi phồng Ví dụ trường hợp của NHĐT Lehman Brothers, trước khi phá sản, dựa vào các tiêu chuẩn đánh giá của Basel II, hệ số đủ vốn của họ lên đến trên 15%, trong khi tỷ lệ giữa vốn tự

có và vốn huy động chỉ là 1 -30 Thứ hai, với các yêu cầu dữ trữ của Basel II trong nhiều trường hợp là không đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh khoản Nói một cách đơn giản là các ngân hàng đã không đủ vốn để ứng phó với những bất trắc có thể xảy ra Chính vì vậy, hiện nay các thảo luận để cho ra đời Basel III đang được tiến hành Một trong những điểm quan trọng của phiên bản Basel mới dự kiến sẽ yêu cầu các tổ chức tài chính gia tăng các quỹ dự trữ thanh khoản

Trang 23

1.2 Hình thức sở hữu chéo

1.2.1 Khái niệm về hình thức sở hữu chéo

Khái niệm về sở hữu chéo (SHC) được đưa ra trong các nghiên cứu dựa trên định nghĩa

về sở hữu Như vậy sở hữu chéo được hiểu là việc 2 tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau

Theo Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) định nghĩa: “Sở hữu chéo ở Đức là việc các công ty, thuộc lĩnh vực công nghiệp và tài chính, nắm giữ lâu dài cổ phần của nhau”

Theo Scher (2001) định nghĩa: “Sở hữu chéo ở Nhật Bản thường được hiểu là việc hai hoặc nhiều công ty nắm giữ cổ phần của nhau”

Sở hữu chéo thường được tìm thấy trong các doanh nghiệp tại Đức và Nhật Bản Trong khi, đối với những nền kinh tế phần nhiều theo định hướng thị trường như Anh, Mỹ, quan hệ sở hữu chéo ít phổ biến Xu hướng sở hữu chéo đã dần suy yếu tại Đức và Nhật Bản trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính năm 1997-

1998 Thông thường, sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp có tính trực tiếp Ví dụ: Doanh nghiệp A sở hữu doanh nghiệp B hoặc ngược lại Tuy nhiên, sở hữu chéo có thể tồn tại một cách gián tiếp Ví dụ: một nhà đầu tư (hoặc một nhóm nhà đầu tư) sở hữu

cả doanh nghiệp C và doanh nghiệp D, thực chất doanh nghiệp C và doanh nghiệp D là

sở hữu chéo của nhau chính vì vậy hình thức sở hữu chéo này thiếu tính minh bạch và rất khó kiểm soát

1.2.2 Phân loại các hình thức sở hữu chéo

Hình thức sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng có thể chia thành các nhóm sau:

Trang 24

Sở hữu của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước và NHTM nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh: Hiện tại có sáu ngân hàng liên doanh trong hệ thống các tổ

chức tín dụng (TCTD) của Việt Nam Thông thường một ngân hàng liên doanh được

sở hữu bởi một NH nước ngoài và một NH trong nước Chẳng hạn NH Việt Thái là ngân hàng liên doanh giữa 3 đối tác lớn: NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT VN), NHTM Siam của Thái Lan và Tập đoàn Charoen Pokphand của Thái Lan với tỷ lệ vốn góp tương ứng là 34%, 33% và 33%; NH Việt Nga là liên doanh giữa NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và NH VTB (trước là NH Ngoại thương Nga Vneshtorgbank) với mức góp vốn điều lệ ngang nhau

Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM nhà nước và NHTM cổ phần: đứng

trước nhu cầu thu hút vốn và kỹ năng quản trị từ 158 định chế tài chính có kinh nghiệm nước ngoài, NHNN đã có chủ trương khuyến khích các NHTM trong nước tìm kiếm các đối tác nước ngoài làm cổ đông chiến lược Đến nay, có khoảng 10 NHTM có đối tác chiến lược là các tập đoàn tài chính nước ngoài

Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ: Từ năm 2005 trở lại đây, các quỹ

quản lý vốn bắt đầu xuất hiện nhiều ở Việt Nam Các quỹ này thường đầu tư vốn vào những NHTM cổ phần có tiềm năng phát triển tốt

Sở hữu giữa các NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần: quan hệ sở hữu này hình

thành chủ yếu việc yếu kém nghiệp vụ NH của các NHTM cổ phần trong giai đoạn đầu thành lập cũng như trong giai đoạn khủng hoảng 1997-1998 Hiện tại, có 8 NHTM cổ phần có quan hệ cổ phần với 4 NHTM nhà nước

Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần: Hiện tượng sở hữu lẫn nhau giữa các

NHTM cổ phần cũng khá phổ biến ở Việt Nam Từ những thông tin công bố của các

NH, hiện có ít nhất 6 NHTM cổ phần có cổ đông là một NHTM cổ phần khác

Trang 25

Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân: Trong giai

đoạn bùng nổ các NHTM cổ phần và quỹ đầu tư tài chính, rất nhiều tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã tham gia góp vốn hình thành các TCTD này

Trong các mối quan hệ trên, ba nhóm sở hữu chéo đầu tiên có tính tích cực vì các mối quan hệ này chủ yếu hướng đến việc tăng cường thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam và quốc tế, nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả Vì vậy luận văn không tập trung phân tích về ba hình thức sở hữu chéo ở trên mà chỉ tập trung vào các hình thức sở hữu chéo còn lại vì đây mới chính là nguyên nhân gây ra những tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng tại Việt Nam

1.2.3 Nguyên nhân của hình thức sở hữu chéo

- Khoảng trống pháp lý quy định về việc giám sát hiệu quả đối với tập đoàn tài chính

Việc ban hành chưa đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật đối với việc kiểm soát các

tổ chức tín hoạt động dưới hình thái tập đoàn tài chính là lỗ hổng dẫn đến việc góp vốn chéo (sở hữu chéo) giữa các thành viên và đối tượng có liên quan trong tập đoàn tài chính không sớm được phát hiện, đo lường và kiểm soát kịp thời bởi các cơ quan quản

lý nhà nước Từ đó dẫn tới việc những người quản lý, điều hành, cổ đông có ảnh hưởng trọng yếu hoặc nắm quyền kiểm soát đối với tập đoàn tài chính này đã và đang lợi dụng khe hở pháp lý để thực hiện những giao dịch có tính chất nội bộ thiếu minh bạch có thể gây rủi ro lớn cho tổ chức tín dụng thuộc tập đoàn

- Không quy định về người có liên quan

Việc xác định các bên có liên quan được thực hiện phần lớn dựa trên các thông tin kê khai và cam kết của cá nhân và TCTD Từ đó, dẫn đến việc không xác định được những cổ đông thực sự kiểm soát TCTD và quy mô của tập đoàn tài chính mà trong đó TCTD là thành viên hoặc công ty Mẹ Do vậy, việc quản lý Nhà nước về lĩnh vực tài

Trang 26

chính, ngân hàng không nhận biết, đo lường và kiểm soát được rủi ro phát sinh từ những giao dịch nội bộ thiếu minh bạch trong các tập đoàn tài chính hiện nay ở Việt Nam dẫn đến việc tăng vốn điều lệ ảo ở các TCTD (góp vốn chéo) và cấp tín dụng tập trung vào những thành viên trong tập đoàn và các bên có liên quan tới cổ đông nắm quyền kiểm soát đối với TCTD (mà chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực đầy rủi ro như chứng khoán, bất động sản, kinh doanh vàng…) với rủi ro tín dụng tăng cao (làm tăng

nợ xấu của hệ thống ngân hàng) là một trong những nguyên nhân (chính) của thực trạng hệ thống tai chính Việt Nam hiện nay

- Sự bùng nổ của thị trường chứng khoán

Với sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) trong những năm gần đây, các nhà đầu tư (đặc biệt là các nhà đầu tư lớn) có thể dễ dàng thu gom các cổ phiếu của các ngân hàng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Trường hợp các ngân hàng Eximbank, Southern bank thu gom cổ phiếu của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (STB) mới đây là một ví dụ điển hình

- Quá trình tăng vốn nhanh chóng của hệ thống ngân hàng làm gia tăng thêm hình thức sở hữu chéo ngân hàng

Dưới áp lực tăng vốn điều lệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các NHTM Việt Nam buộc phải thực hiện tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng theo đúng lộ trình Tuy nhiên, hầu hết sự gia tăng vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam chỉ là sự gia tăng vốn ảo vì thông qua việc sở hữu chéo ngân hàng, cổ đông có thể vay vốn của ngân hàng này để góp vốn vào ngân hàng kia một cách dễ dàng Điều này đã tạo nên hiện tượng sở hữu chéo của các NHTM Việt Nam càng ngày càng phức tạp và tạo nên những khó khăn trong công tác quản lý của NHNN

Trang 27

1.2.4 Các cách thức thực hiện sở hữu chéo

Cách một cá nhân sở hữu một ngân hàng, thì có thể thông qua những người thân quen trong gia đình đứng ra sở hữu cổ phần của một doanh nghiệp hay ngân hàng nào đó Cách thứ hai là gián tiếp, tức doanh nghiệp A sở hữu một ngân hàng B, và ngân hàng

đó lại sở hữu một công ty C, công ty C lại cho doanh nghiệp D vay Sự rắc rối này khiến không kiểm soát được các mức độ sở hữu nhau là bao nhiêu Một kênh nữa là có thể nhượng kế tài sản Kênh này hợp pháp nhưng cũng làm tăng sở hữu chéo thời gian qua

1.2.5 Ưu điểm của hình thức sở hữu chéo

Hiện nay chúng ta có thể thấy được các mặt tích cực của sở hữu chéo như sau:

Thứ nhất: cho phép các tổ chức kinh tế góp vốn với nhau để tăng vốn làm ăn, kinh

doanh Điều này mới hình thành công ty cổ phần, liên kết, liên doanh Sở hữu chéo thắt chặt mối liên kết giữa các đối tác kinh doanh, giảm thiểu các tác động tiêu cực bắt nguồn từ các cú sốc bên ngoài, hoặc trong bối cảnh điều kiện kinh tế thay đổi quá nhanh, góp phần ổn định công việc kinh doanh Sở hữu chéo tạo nguồn tài chính dồi dào bền vững, đặc biệt đối với các doanh nghiệp là công ty con, công ty liên doanh, liên kết hoặc công ty mà có cổ đông chi phối là ngân hàng Trong trường hợp này, ngân hàng đóng vai trò cổ đông đồng thời cả vai trò chủ nợ, giúp các doanh nghiệp này tiếp cận đượcvới nguồn vốn kinh doanh với chi phí hợp lý, kể cả khi mà thị trường vốn chưa phát triển, hoặc khi doanh nghiệp chưa thể khẳng định được mình và chưa thể huy động được vốn trên thị trường chứng khoán

Thứ hai: các bên sẽ tận dụng lợi thế, ưu điểm của nhau như mạng lưới chi nhánh, nhân

công, công nghệ để chia sẻ

Thứ ba: sở hữu chéo cũng là cách để ngân hàng giám sát hoạt động của công ty mà

ngân hàng góp vốn hoặc có cổ phần, giúp hoạt động của công ty con được hiệu quả

Trang 28

hơn Sở hữu chéo làm giảm nguy cơ thâu tóm thù địch Với cơ cấu sở hữu ổn định, hạn chế tranh chấp nội bộ, các doanh nghiệp từ đó có thể lựa chọn chính sách, tập trung nguồn lực để phát triển kinh doanh, thay vì tạo giá trị lớn nhất cho cổ đông Chính sách

cổ tức vì vậy được thiết kế không phụ thuộc vào kếtquả hoạt động kinh doanh, và chủ yếu được đưa vào vốn kinh doanh để tái đầu tư

1.2.6 Nhược điểm của hình thức sở hữu chéo

Có bốn nhược điểm cơ bản có thể nhìn thấy từ hình thức SHC tồn tại trong thời gian qua

Thứ nhất, khi có sở hữu chéo, thì sẽ không có sự minh bạch Điều đó khiến cơ

quan chức năng không biết mức độ đan chéo sở hữu là bao nhiêu, như thế nào

để quản lý Điều này gây nên rủi ro hệ thống Nghĩa là nếu trong một mắt xích của sở hữu chéo, một công ty nào bị rủi ro, thì lập tức hệ lụy cho cả dây chuyền

Thứ hai, làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường Vì có liên kết sở hữu chéo,

nên tạo ra sức cạnh tranh rất lớn cho doanh nghiệp, và như vậy dẫn đến hiện tượng thao túng giá cả ở những thời điểm nhất định

Thứ ba, làm dòng vốn phân bổ không được tốt Ví dụ, có thể gây nợ xấu, hoặc

cho vay không hiệu quả, giám sát không tốt, dẫn đến kênh tín dụng phân bổ không hiệu quả Nếu không có tác động của sở hữu chéo, lẽ ra dòng vốn phải được phân bổ vào những dự án hiệu quả hơn

Thứ tư, sở hữu chéo khiến các cơ quan chức năng khó giám sát và quản lý

Việc khó kiểm soát và quản lý được sở hữu chéo trong thời gian qua đã gây ra rất nhiều

hệ lụy tiêu cực, các cá nhân và tổ chức luôn sử dụng sở hữu chéo để lách luật, lách các quy định về đầu tư, làm tăng vốn ảo tại các ngân hàng…

Trang 29

1.3 Hình thức sở hữu chéo ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Hình thức sở hữu chéo ở nước Đức

Hệ thống những mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp ở Đức được xem là một trong những mối liên kết chính trong mô hình liên kết kinh tế độc quyền của Đức (Gerschenkron 1968, Charkham 1989, Baums 1993) Vấn đề này có liên quan đến vai trò độc quyền của những ngân hàng tại Đức Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) định nghĩa sở hữu chéo ở Đức là việc các công ty, thuộc lĩnh vực công nghiệp và tài chính, nắm giữ lâu dài cổ phần của nhau

Lập luận ủng hộ cho rằng SHC giữa NH và DN làm giảm bất cân xứng thông tin, qua

đó NH có thể hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) cho rằng SHC giữa NH, công ty bảo hiểm và các DN lớn và mối quan hệ gần gũi, liên kết giữa thành viên hội đồng quản trị của các công ty khác nhau là đặc điểm chính của mối quan hệ NH - DN ở Đức Mô hình truyền thống này đã hỗ trợ dẫn dắt sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Đức, góp phần tạo nên một nền tảng công nghiệp

ổn định Quan hệ SHC với các NH đảm bảo cho các DN sự ổn định về sở hữu cùng tính liên tục trong quản trị doanh nghiệp Đồng thời SHC cho phép NH nắm giữ quyền lực quan trọng trong các DN từ đó tạo nên cho NH mạng lưới các mối quan hệ cá nhân, không phải luôn minh bạch, với một số nhất định các nhà điều hành của các công ty khác nhau

Tuy nhiên Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) cũng chỉ ra rằng, do ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa, đang hình thành một xu hướng hoạt động theo định hướng thị trường của các NH Đức Xu hướng truyền thống kiểm soát DN thông qua sở hữu chéo, mặc dù đang giữ vai trò lớn, theo xu thế đang dần giảm đi tầm quan trọng

Trang 30

1.3.2 Hình thức sở hữu chéo ở Nhật Bản

Nghiên cứu về SHC ở Nhật Bản có một số đặc thù Các công ty ở Nhật Bản thường thiết lập quan hệ chặt chẽ với một NH (gọi là “main bank”) Các NH này cho vay và mua cổ phần của các doanh nghiệp Scher (2001) cho thấy hai lý do của việc tồn tại SHC giữa NH và DN là duy trì mối quan hệ kinh doanh ổn định và duy trì yêu cầu đủ vốn Mô hình “main bank” đã đóng một vai trò nhất định trong sự thịnh vượng của kinh tế Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới 2 Tuy nhiên nghiên cứu của Scher cũng cho thấy mô hình “main bank” không còn phù hợp từ những năm 1990 do đã góp phần tạo nên hậu quả xấu cho nền kinh tế Nhật Bản Cụ thể, do các NH không những thực hiện không tốt vai trò giám sát các DN liên quan mà còn cấp một lượng tín dụng lớn, kém chất lượng cho các DN này Hậu quả là các NH chịu những khoản nợ xấu lớn

và bị suy giảm vốn chủ sở hữu Thêm vào đó, việc giảm giá cổ phiếu của các DN liên quan mà NH nắm giữ sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ CAR của các NH theo Hiệp ước Basel Sau những nỗ lực tái cấu trúc tài chính sau khủng hoảng, mức độ SHC trong các NH Nhật Bản đã giảm

Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 cũng đã cho thấy tác động tiêu cực của SHC tại các quốc gia Đông Á và là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu NH

và sụp đổ tài chính Claessens, Djankov và Lang (1999) đã xác định rõ mối quan hệ sở hữu tại các DN lớn ở châu Á với các NCTH về sở hữu chéo Các DN sở hữu gia đình lớn ở châu Á đều nắm quyền kiểm soát các NHTM để có thể sử dụng các NH tài trợ cho các dự án của mình và các công ty có liên quan, đi ngược lại tinh thần các quy định nhằm bảo đảm an toàn hoạt động

1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Như vậy, hình thức sở hữu chéo đã tồn tại từ rất lâu trên thế giới và các nước đã có những điều chỉnh thích hợp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đồng thời tận dụng

Trang 31

những mặt ưu điểm của hình thức sở hữu chéo nhằm mang lại những lợi ích trong quá trình hoạt động của các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp Do đó, không thể loại

bỏ hoàn toàn hình thức sở hữu chéo ra khỏi nền kinh tế, mà cần phải biết tận dụng những ưu điểm của nó để tạo ra những thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây, cụm từ sở hữu chéo xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Đối với chúng ta, cụm từ này còn mới mẻ tuy nhiên đó không hẳn

là vấn đề mới phát sinh gần đây, mà chắc chắn đã tồn tại trong nền kinh tế từ rất lâu, có điều chúng ta chưa quan tâm và kiểm soát đúng mức về tình trạng này mà thôi

Từ những nghiên cứu về sở hữu chéo ở Đức, ta thấy một phần cũng giống như thực trạng sở hữu chéo ở Việt Nam hiện nay, tuy nhiên có hơi hướng ngược lại Ở Đức, các

NH là người nắm giữ cổ phần lớn ở các doanh nghiệp và kiểm soát các doanh nghiệp thì ở Việt Nam, các Doanh nghiệp lại là người nắm giữ và chi phối hoạt động và điều hành các NHTM và NHTMNN Điều này làm ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của các NH, chúng ta sẽ nói đến ở chương 2, khi phân tích thực trạng và chỉ ra sự ảnh hưởng của các doanh nghiệp đến các NH mà doanh nghiệp nắm giữ phần lớn cổ phần Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy được cách thức mà các doanh nghiệp ở Đức sử dụng sở hữu chéo để gia tăng sức mạnh cho nền kinh tế Việc kiểm soát tốt hình thức sở hữu chéo đã mang lại những lợi ích đáng kể cho nền kinh tế Đức mà bằng chứng là họ đã

có một nền công nghiệp vững mạnh như hiện nay Các ngân hàng có vốn cổ phần trong các doanh nghiệp luôn là một yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển

Trái với Đức, việc kiểm soát sở hữu chéo ở Nhật Bản đã cho chúng ta thấy khi mất kiểm soát thì sở hữu chéo sẽ mang lại những hậu quả như thế nào Đồng thời, cách thức xử lý sở hữu chéo của Nhật Bản cũng đưa cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý báu có thể áp dụng ở Việt Nam

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã nêu ra những khái niệm, từ ngữ liên quan đến quyền sở hữu và hình thức

sở hữu chéo về nguyên nhân, cách thức thực hiện, những ưu điểm, nhược điểm của hình thức sở hữu chéo Một số hình thức sở hữu chéo ở các nước trên thế giới như ở Đức và Nhật Bản dẫn chứng cho thấy hình thức sở hữu chéo ở các nước Châu Á có phần giống nhau Ở Đức, hình thức sở hữu chéo được sử dụng để hỗ trợ cho việc phát triển của các công ty có liên quan trong cùng một ngành nghề, trong khi đó ở Nhật Bản hình thức sở hữu chéo bị lợi dụng để các doanh nghiệp nắm giữ quyền kiểm soát các ngân hàng nhằm mục đích tài trợ cho chính công ty của mình

Để hiểu rõ thêm về vấn đề này, luận văn sẽ phân tích ở chương 2 về thực trạng hình thức sở hữu chéo tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VẤN ĐỀ KHÔNG TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Một số quy định về đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Như đã đề cập ở Chương 1, luận văn sẽ nghiên cứu việc tuân thủ các quy định đảm bảo

an toàn trong hoạt động của các NHTM Quy định hiện hành của VN về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM gồm các nội dung giám sát về vốn, giới hạn tín dụng và giới hạn đầu tư góp vốn cổ phần, tỷ lệ khả năng chi trả và việc phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro Các nội dung giám sát sẽ được lần lượt trình bày dưới đây

2.1.1 Vốn của ngân hàng thương mại

Từ năm 2011, theo quy định của Chính phủ VN, vốn pháp định của NHTMCP hoặc NHTMNN không được thấp hơn 3000 tỷ đồng (141/2006/NĐ-CP)

Hướng tới chuẩn mực giám sát quốc tế theo Hiệp ước Basel, bên cạnh quy định về vốn điều lệ tối thiểu, NHNN đã đưa ra quy định mới về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) gồm CAR riêng lẻ và CAR hợp nhất Theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN Quy định

về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng , tài sản có được chia thành nhiều loại với mức độ rủi ro khác nhau từ 0% đến 250% Các tài sản đầu tư an toàn có hệ số rủi ro 0% trong khi các khoản đầu tư rủi ro nhất có hệ số 250% gồm các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán hoặc kinh doanh bất động sản Đồng thời vốn tự

có cũng được chia thành vốn cấp 1 và vốn cấp 2 với các thành phần được định nghĩa cụ thể Theo quy định này, từ tháng 10 năm 2010, CAR của các NHTM phải đạt 9% Quy định trước đây là chỉ là 8% (Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN) với các phân chia sơ bộ

Trang 34

về tài sản và vốn tự có Nhằm ngăn ngừa ảnh hưởng xấu từ hoạt động của công ty con, NHNN đã quy định về tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất đối với các NHTM

2.1.2 Giới hạn tín dụng

Tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thống mang lại lợi nhuận chính cho các NHTM Do NH dùng tiền gửi huy động từ nền kinh tế để cho vay lại các khách hàng, nguyên tắc đầu tiên quan trọng của hoạt động này là vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi Từ nguồn tiền trả nợ của người vay, NH hoàn trả tiền gửi và lãi cho người gửi tiền Nếu người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, NH gặp khó khăn Do đó, giám sát hoạt động tín dụng là một trong các nội dung chính của cơ quan giám sát NH mà ở

VN là NHNN Một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên chất lượng nợ xấu là cho vay theo quan hệ Quyết định cấp tín dụng không dựa trên tính khả thi của phương

án vay vốn mà dựa trên mối quan hệ giữa bên cho vay và đi vay Khi rủi ro xảy ra, người chịu tổn t hất sau cùng là người gửi tiền và cổ đông Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp dù đã rất nỗ lực nhưng do hoạt động sản xuất kinh doanh chịu thiệt hại từ các nguyên nhân khách quan, người vay vốn vẫn không trả nợ được cho NH Điều này gây rủi ro lớn cho NH vì tổ chức này luôn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi đúng hạn cho người gửi tiền Theo quy định hiện hành (Luật các tổ chức tín dụng

2010 Điều 4 khoản 28, Điều 126, 127, 128 và 129) NHTM phải xác định rõ một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan, các đối tượng không được cấp tín dụng, những trường hợp không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cho vay ưu đãi, các đối tượng hạn chế cấp tín dụng Cụ thể, tổng dư nợ cho vay một khách hàng là không quá 15% vốn tự có của NHTM và tổng dư nợ cho vay tối đa với một nhóm khách hàng có liên quan là 25% vốn tự có của NH Khoản đầu tư trái phiếu do DN phát hành cũng được tính gộp vào dư nợ tín dụng Các NHTM không được cấp tín dụng cho DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà NHTM nắm quyền kiểm soát

Trang 35

2.1.3 Giới hạn đầu tư, góp vốn cổ phần

Hoạt động đầu tư, góp vốn cổ phần thuộc lĩnh vực hoạt động NH đầu tư, không phải là ngành nghề kinh doanh cốt lõi của NHTM Để hạn chế trục trặc từ vấn đề chi phí ủy quyền của vốn cổ phần, khung giám sát hiện hành quy định NHTM phải thành lập hoặc mua lại công ty con để thực hiện các hoạt động kinh doanh NH đầu tư, cho thuê tài chính và bảo hiểm (Luật các tổ chức tín dụng 2010 - Điều 103) Đồng thời Luật các tổ chức tín dụng cũng quy định tỷ lệ góp vốn tối đa vào mỗi công ty và tổng mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM (Thông tư 13 - Điều 16 và Luật các tổ chức tín dụng

2010 - Điều 130) Các NHTM không được góp vốn, mua cổ phần của NHTM là cổ đông, thành viên góp vốn của chính NHTM đó Các khoản đầu tư, góp vốn cổ phần này của NHTM phải loại ra khỏi vốn tự có khi tính các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

2.1.4 Đảm bảo khả năng chi trả

Do sự sai biệt kỳ hạn của tiền gửi và các khoản cho vay, kỳ hạn của tiền gửi thường ngắn hơn kỳ hạn của khoản cho vay, nên NHTM luôn chịu rủi ro thanh khoản NHTM duy trì thanh khoản nhằm mục đích đảm bảo tiền gửi cho người gửi tiền Vì vậy, NHNN quy định các NHTM phải luôn đảm bảo khả năng chi trả (Luật các tổ chức tín dụng 2010 - Điều 130) Tỷ lệ giữa tổng tài sản có thanh toán ngay và tổng nợ phải trả cho ngày hôm sau tối thiểu bằng 15% Tỷ lệ giữa tổng tài sản có đến hạn trong 7 ngày tiếp theo và tổng nợ đến hạn thanh toán trong vòng 7 ngày tối thiểu bằng 1(Thông tư số

13, đã dẫn).Ngoài ra NHNN cũng quy định tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn tối đa là 30% (Thông tư số 15/2009/TT – NHNN) Cũng từ năm

2010, NHNN quy định tỷ lệ cho vay trên tổng huy động của các NHTM tối đa là 80%( Thông tư số 13, đã dẫn)

Trang 36

2.1.5 Phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro

Khi hoạt động kinh doanh gặp rủi ro, quỹ dự phòng rủi ro cùng với vốn tự có là hai lá chắn tài chính của NHTM NHNN quy định, ít nhất mỗi quý một lần, các NHTM thực hiện phân loại nợ gốc và trích lập dự phòng rủi ro đến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của quý (tháng) trước Theo quy định hiện hành các khoản nợ thuộc nhóm 3,

4 và 5 là nợ xấu của NHTM (chi tiết xem Phụ lục 04) NHNN quy định và giám sát việc phân loại nợ và trích lập dự phòng nhằm bảo đảm NHTM không bị mất vốn Đồng thời việc trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu làm tăng chi phí, từ đó làm giảm lợi nhuận của NHTM Người gửi tiền được bảo vệ quyền lợi tốt hơn vì nếu một NHTM có lượng nợ xấu cao, NH đó không thể chia cổ tức Ngoài năm nội dung giám sát chính nêu trên, quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM còn một số nội dung khác, trong đó có hạn chế về kinh doanh bất động sản Khung giám sát của NHNN đã được ban hành và liên tục cập nhật, nâng cao nhằm giám sát tốt hơn nữa hoạt động của các NHTM Rất nhiều chỉ tiêu giám sát đã gần tiệm cận với tiêu chuẩn giám sát theo khuyến nghị của Hiệp ước Basel Về mặt lý thuyết, với mức độ phát triển hiện tại, nếu các NHTM tuân thủ tốt các quy định hiện hành của khung giám sát thì an toàn của cả

hệ thống NH sẽ được đảm bảo Tuy nhiên, NHTM phải chịu phí tổn để tuân thủ khung giám sát và họ có thể có động cơ hình thành các cơ chế để không phải tuân thủ Sở hữu chéo là một trong những cơ chế này

2.2 Thực trạng hình thức sở hữu chéo ở Việt Nam

Gắn với phạm vi nghiên cứu của luận văn và việc phân loại các hình thức sở hữu chéo

ở chương 1, luận văn đi sâu vào phân tích 3 nhóm sở hữu chéo có phát sinh tiêu cực đó

là chiều giữa NH-NH, giữa DN-NH, giữa nhóm cổ đông và ngân hàng Định nghĩa này

có thể được coi là sở hữu chéo một cách trực tiếp, nhưng sở hữu chéo có thể tồn tại một cách gián tiếp Nếu một nhà đầu tư hoặc một nhóm các nhà đầu tư hay một doanh nghiệp sở hữu cả ngân hàng A và ngân hàng B thì thực chất ngân hàng A và ngân hàng

Trang 37

B là sở hữu chéo của nhau Các hình thức SHC giữa NH-NH và giữa DN-NH ở VN được luận văn khái quát và minh hoạ bằng ba sơ đồ sở hữu để sử dụng làm cơ sở cho các phân tích trong luận văn Đó là SHC giữa NHTMNN và NHTMCP, giữa các

NHTMCP và giữa DN và NH

2.2.1 Hình thức sở hữu chéo tại ngân hàng thương mại nhà nước

Hình 2.1 Hình thức sở hữu chéo tại ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước

Nguồn: Tác giả tự vẽ

Hình 2.1 Cho thấy các NHTMNN không chỉ sở hữu NHTMCP mà còn có thể cho vay đối với các cổ đông lớn nhằm gia tăng quyền điều hành và kiểm soát các NHTMCP khác Điều này cho thấy lợi ích là việc NHNN thông qua các NHTMNN có thể giải cứu NHTMCP trong trường hợp các NHTMCP gặp khó khăn Tuy nhiên vấn đề lại phát sinh ở chỗ việc ỷ lại vào sự hỗ trợ của NHNN là nguyên nhân khiến các NHTMNN không tuân thủ khung giám sát nhằm bảo đảm an toàn hoạt động

NHNN

NHTMNN

NHTMCP

Quản lý Tái cấp vốn Giám sát

Trang 38

2.2.2 Hình thức sở hữu chéo tại ngân hàng thương mại cổ phần

Về mặt lý thuyết thì hình thức sở hữu chéo này được minh họa như sau:

Hình 2.2 Hình thức sở hữu chéo tại ngân hàng thương mại cổ phần

B cho vay hoặc mua cổ phần của các công ty do cổ đông lớn của NH A sở hữu hoặc có liên quan Bằng sở hữu chéo, các NHTM đã không vi phạm các quy định về các hạn

Cổ đông lớn

Ngân hàng A Ngân hàng B

Sở hữu

Tái cấp vốn

Trang 39

chế nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM Đó là các quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và quy định

về giới hạn góp vốn, mua cổ phần Đồng thời, theo lộ trình tăng vốn điều lệ của các

NH theo quy định Nghị định 141 của Chính phủ, cổ đông của NH A có thể vay vốn từ

NH B để góp vốn vào NH mình đang sở hữu Việc đi vay để góp vốn vào các NHTM làm cho khung giám sát về vốn tự có tối thiểu mất hiệu lực Vì việc làm này nếu xảy ra phổ biến sẽ tạo nên việc tăng vốn ảo trong toàn hệ thống NH Các NHTM đã tăng vốn điều lệ nhưng năng lực tài chính không được nâng cao tương ứng như mục tiêu đặt ra của chính sách

Tổn thất, thiệt hại của các hoạt động lách luật trên sẽ lần lượt được phân tích sau đây

NH A đầu tư mua cổ phần của NH khác không vì lợi ích của cổ đông mà vì lợi ích của các cổ đông lớn của NH A làm thiệt hại đến các cổ đông thiểu số của NH NH B thực hiện hành động rủi ro là cho vay, đầu tư do quan hệ hoặc chỉ định Khi rủi ro xảy ra, khoản cho vay hay đầu tư bị lỗ, gây mất vốn NH B khó khăn về thanh khoản Mức độ thiệt hại của các khoản cho vay hay đầu tư ngày càng lớn, NH B sẽ mất thanh khoản

Do Chính phủ không muốn để các NH phá sản, NHNN sẽ phải tái cấp vốn cho NH B

Việc tái cấp vốn chính là hành động bơm tiền cứu NH B, việc này có thể dẫn đến hai điều sau, một là sẽ giải quyết được vấn đề thanh khoản tồn tại ở NH B, hoặc sẽ làm phình to bong bóng từ những khoản cho vay rủi ro của NH B, dẫn đến hệ quả ngày một xấu hơn từ hành động trên

Trang 40

2.2.3 Hình thức sở hữu chéo giữa các ngân hàng và doanh nghiệp

Hình 2.3 Hình thức sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp

Nguồn: Tác giả tự vẽ

Tiếp theo luận văn sẽ sử dụng số liệu thống kê và các nghiên cứu tình huống để thiết lập bức tranh tổng thể về SHC và phân tích những tác động tiêu cực của SHC theo khung lý thuyết đã thiết lập

Hình thức sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp không phải là mới, tuy nhiên, nhiều tổ chức và cá nhân đã lợi dụng hình thức này để lách qua các luật lệ do NHNN ban hành Tạo thành mối quan hệ chằng chịt, đan kết, giằng néo giữa ngân hàng – doanh nghiệp – công ty chứng khoán Cụ thể là trường hợp của ngân hàng thương mại

cổ phần Á Châu sẽ được nghiên cứu và phân tích rõ hơn ở phần sau

Cổ đông lớn

NHNN

Sở hữu

Sở hữu

Giám sát

Tái cấp vốn Cho vay

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w