1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những Giải Pháp Đẩy Nhanh Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Nước Ta

63 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua cổ phần hóa, hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu của Nhà nước duy nhất trở thành sở hữu hỗn hợp, và chính từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ c

Trang 1

HUỲNH CAO ĐÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH

1.2 CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỂ PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP

NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

21

2.2 TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH CỔ PHẦN HOÁ DOANH

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ ĐẨY NHANH CỔ PHẦN HOÁ

3.1.1 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là tuân thủ quy luật

Trang 3

quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất 43 3.1.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là giải pháp tổ chức

doanh nghiệp phù hợp với quy luật cạnh tranh trong cơ chế thị

3.1.3 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước để phù hợp với thể chế

3.1.4 Cơ sở thực tiển của việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà

nước

44

3.2.1 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước không phải là quá trình

3.2.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là biện pháp để cơ

cấu lại doanh nghiệp Nhà nước nâng cao hiệu quả và sức cạnh

3.2.3 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là sự kết hợp hài hòa

3.3.1 Việc xác định giá trị doanh nghiệp và giá bán cổ phần thuộc

3.3.6 Thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hoá và quyết

3.3.9 Giải quyết các khoản nợ của doanh nghiệp Nhà nước thực

3.3.12 Nhận thức đúng đắn về chủ trương, chính sách cổ phần hoá

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU -oOo -

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI :

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm mở rộng vốn cho doanh nghiệp, khai thác nguồn vốn tiềm tàng trong công nhân, lao động cho đầu tư phát triển, và như vậy vừa để tăng cường thực lực kinh tế Nhà nước, vừa tạo thêm điều kiện cho công nhân, viên chức thực hiện quyền làm chủ thông qua sở hửu của mình dưới hình thức cổ phần

Qua cổ phần hóa, hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu của Nhà nước duy nhất trở thành sở hữu hỗn hợp, và chính từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty

Doanh nghiệp Nhà nước sau khi cổ phần hóa sẽ trở thành công ty cổ phần, hoạt động theo Luật doanh nghiệp Việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc quản lý kinh tế, nâng cao quyền tự chủ tài chính và khả năng tự quản trong sản xuất kinh doanh, nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng như óc sáng tạo của người lao động và người lãnh đạo doanh nghiệp

Cổ phần hoá là biện pháp có hiệu quả sử dụng đồng vốn được tốt nhất Doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ thu hút ngày càng nhiều vốn nếu hoạt động kinh doanh có hiệu quả, nhất là khi đã hình thành thị trường chứng khoán Song tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta còn diễn ra chậm chạp, gặp nhiều trở ngại, không đạt kế hoạch mà Nhà nước đã đưa ra Một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc thúc đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta là: Các chính sách tài chính hiện nay chưa hoàn chỉnh, chưa tạo cho người lao động trong doanh nghiệp và người ngoài doanh nghiệp quan tâm đến việc mua cổ phần, để thúc đẩy nhanh việc hoàn thành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã chọn đề tài :

Trang 5

“Những giải pháp đẩy nhanh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta”

Trong thực tiển cho thấy việc hoàn thiện các giải pháp để đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam rất phức tạp Do vậy trong luận án này, chúng tôi chỉ căn cứ vào thực tiển công tác hiện nay và dựa vào lý luận đã được trang bị để đề xuất một số giải pháp đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta

Do kiến thức có hạn nên luận án còn nhiều mục hạn chế, rất mong được quý thầy cô chỉ bảo thêm để luận án được hoàn chỉnh hơn

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

Nhằm góp phần tìm ra giải pháp để đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, góp phần thực hiện tốt kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

3 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiển của việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

- Thực trạng, tình hình triển khai công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, từ đó rút ra những thành công, thất bại và nguyên nhân tồn tại

- Đưa ra các giải pháp để thúc đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện luận án này, ngoài phương pháp xuyên suốt trong luận án này là phương pháp duy vật biện chứng, còn kết hợp các phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp mô hình hóa, so sánh, thống kê

… để rút ra những căn cứ có tính quy luật của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

5 ÝNGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN:

Luận án góp phần làm sáng tỏ sự cần thiết về mặt lý luận và thực tiển của chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước và từ đó đưa ra một số giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho cả người bán cũng như

Trang 6

người mua cổ phần trong tình hình hiện nay, góp phần hoàn thành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN:

Luận án bao gồm 03 chương:

- Lời mở đầu

Giải pháp đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

- Phần kết luận

- Tài liệu tham khảo

Trang 7

Chương I : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 KHÁI NIỆM CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:

Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong nhiều năm qua được hiểu khác nhau, nhưng tựu trung lại có 3 loại ý kiến:

- Cổ phần hóa thực chất là tư nhân hóa

- Cổ phần hóa xác định lại chủ sở hữu thực, cụ thể của doanh nghiệp

- Cổ phần hóa thực chất là quá trình xã hội hóa các doanh nghiệp Nhà nước

Trước hết cổ phần hoá và tư nhân hoá là 2 khái niệm riêng rẻ

Tư nhân hoá là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ Nhà nước sang tư nhân đồng thời chuyển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ Nhà nước độc quyền sang cho tư nhân đảm nhiệm theo nguyên tắc thị trường (cung cầu, cạnh tranh …) Để đạt được sự chuyển đổi này, chúng ta đã thấy nhiều cách thức khác nhau được thực hiện ở Liên Xô cũ và Đông Âu như cho không các công dân một giá trị nhất định tài sản của Chính phủ, bán đấu giá, bán lại toàn bộ cho tư nhân, cổ phần hóa … Những cách thức này đã được quy định trong các văn bản của Chính phủ Như vậy, mặc nhiên cổ phần hóa chỉ là một trong nhiều cách để tư nhân hoá một phần tài sản của doanh nghiệp Nhà nước Cổ phần hóa là khái niệm hẹp hơn tư nhân hóa Trong cổ phần hóa, tài sản của doanh nghiệp Nhà nước được bán lại cho nhiều đối tượng khác nhau bao gồm: Các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp, giữ lại một tỷ lệ cổ phần hoặc không giữ cổ phần trong chính doanh nghiệp cổ phần đó Như vậy, hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đó chuyển từ Nhà nước duy nhất sang hổn hợp, từ đây dẫn đến những quy định quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty

Doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa trở thành công ty cổ phần, điều lệ và thể thức hoạt động theo Luật doanh nghiệp (chương IV, Công ty cổ phần) Còn doanh nghiệp Nhà nước sau tư nhân hoá trở thành doanh

Trang 8

nghiệp tư nhân và thể thức hoạt động theo Luật doanh nghiệp (chương VI, Doanh nghiệp tư nhân)

Những phân tích trên cho phép chúng ta khẳng định cổ phần hóa ở nước ta không thể đồng nhất về bản chất với quá trình tư nhân hoá được

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước chính là chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, là chuyển đổi hình thức sở hữu đối với một phần tài sản của Nhà nước sang sở hữu nhiều thành phần nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp và góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2 CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ:.

1.2.1 Cổ phần hoá - hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường:

Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các cổ đông góp vốn kinh doanh và chịu trách nhiệm trong phạm vi góp vốn trên cơ sở tự nguyện để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận

Công ty cổ phần ra đời từ cuối thế kỷ 16 ở các nước phát triển Công

ty cổ phần là sự hình thành một kiểu tổ chức doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Nó ra đời không nằm trong ý muốn chủ quan của bất cứ lực lượng nào mà là một quá trình kinh tế khách quan, do các nguyên nhân sau:

* Quá trình xã hôäi hoá tư bản, tăng cường tích tụ và tập trung tư bản ngày càng cao là nguyên nhân hàng đầu thúc đẩy Công ty cổ phần ra đời:

- Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị tác động mạnh sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản, buộc họ tìm cách cải tiến nâng cao trình độ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất nhằm làm cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức

Trang 9

giá trị hàng hoá xã hội, thì mới có thể tiếp tục tồn tại và phát triển Điều này thường chỉ những nhà tư bản lớn có quy mô sản xuất ở mức độ nhất định mới có đủ khả năng để trang bị những kỹ thuật hiện đại, làm cho năng suất lao động tăng lên, do đó mới có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh Để tồn tại trong cạnh tranh các nhà tư bản vừa và nhỏ phải tự tích tụ vốn để mở rộng quy mô sản xuất và hiện đại hoá các trang thiết bị, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Song đây là biện pháp hết sức khó khăn và cần thời gian dài Một biện pháp nhanh hơn và có hiệu quả hơn là các nhà tư bản vừa và nhỏ có thể thoả hiệp và liên minh nhau, tập trung các tư bản cá biệt của họ lại thành một tư bản lớn để đủ sức cạnh tranh và giành ưu thế với các nhà tư bản khác Từ hình thức tập trung vốn như vậy, các công ty cổ phần ngày càng phát triển mạnh mẻ

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật càng cao, đòi hỏi vốn mà một nhà tư bản phải có để có thể kinh doanh trong điều kiện bình thường ngày càng lớn Trong trường hợp này, các nhà tư bản cũng phải liên minh với nhau Mặt khác, do ngày càng xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới có hiệu quả hơn, thu hút các nhà tư bản di chuyển vốn từ nơi kinh doanh kém sang nơi kinh doanh hiệu quả hơn, nhưng thực tế vẫn gặp khó khăn khi chuyển đổi, bởi vì không phải trong chốc lát mà họ có thể bỏ xí nghiệp cũ, thu hồi vốn để chuyển sang xây dựng xí nghiệp mới được

Biện pháp khắc phục mà họ chọn là liên kết lại với nhau, cùng nhau góp vốn xây dựng lại xí nghiệp mới kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần

* Sự phân tán tư bản để giành rủi ro trong cạnh tranh và tạo thế mạnh trong quản lý:

Sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật ngày càng cao, cạnh tranh càng khốc liệt thì sự rủi ro trong kinh doanh, đe dọa phá sản đối với các nhà tư bản lớn Để tránh sự phá sản, các nhà tư bản đã phải phân tán tư bản của mình để tham gia vào nhiều tư bản khác biệt, nghĩa là tham gia đầu tư kinh doanh ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều công ty khác nhau Với cách làm này, một mặt các nhà tư bản tìm cách chia sẻ sự thiệt hại cho nhiều người khi gặp rủi ro Nhưng mặt khác do cũng được một số đông

Trang 10

người cùng tham gia quản lý, tập trung được trí tuệ của nhiều người, nên công ty cổ phần hạn chế được rủi ro trong kinh doanh Cho đến nay công ty cổ phần là hình thức tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh được các nhà tư bản ưa chuộng nhất nên nó được hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẻ

* Sự phát triển mạnh mẻ của chế độ tín dụng tạo động lực thúc đẩy công ty cổ phần ra đời và phát triển:

Sự phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu ra đời và phát triển các loại thị trường, trong đó có thị trường vốn Nguyên nhân ra đời và phát triển thị trường vốn là do đặc điểm của sự vận động vốn tiền tệ trong quá trình sản xuất và lưu thông không ăn khớp với nhau về không gian và thời gian, làm nẩy sinh tình hình có những doanh nghiệp đã tiêu thụ được hàng hoá nhưng chưa sử dụng – tức là có khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi Ngược lại có những doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hoá, nhưng lại có nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh… Trong các tầng lớp dân cư có một bộ phận không sử dụng hết ngay số tiền kiếm được mà để dành sử dụng các mục đích khác nhau – tức là có một khoản tiền nhàn rỗi; ngược lại bộ phận dân

cư khác lại cần tiền cho nhu cầu chi tiêu … tức thiếu vốn Mâu thuẩn này được giải quyết thông qua hình thức tín dụng Sự ra đời và phát triển của tín dụng là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế hàng hóa Tín dụng có vai trò và động lực thút đẩy việc hình thành và phát triển các công

ty cổ phần, bởi vì:

- Việc phát hành cổ phiếu trong công ty cổ phần không thể nào thực hiện được nếu không có thị trường tiền tệ phát triển, nếu không có những doanh nghiệp và dân cư có nhu cầu sử dụng vốn tiền tệ trên thị trường

- Thực tiển lịch sử ra đời và phát triển của các công ty cổ phần trên thế giới đều chứng tỏ việc phát hành cổ phần chỉ được thực hiện thông qua các ngân hàng đôi khi còn do bản thân ngân hàng tiến hành

Như vậy về lịch sử cũng như về logic, tín dụng có trước khi thành lập công ty cổ phần, tín dụng là cơ sở trực tiếp, là động lực thúc đẩy công ty cổ phần ra đời và phát triển

Trang 11

Tóm lại, công ty cổ phần là quá trình kinh tế khách quan đòi hỏi của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường Nó là kết quả tất yếu của quá trình tâïp trung tư bản, nó diễn ra một cách mạnh mẻ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và sự cạnh tranh dưới chủ nghĩa tư bản Mác khẳng định: “ Ngày nay sự thu hút lẫn nhau giữa các nhà tư bản riêng lẻ và xu hướng tập trung tỏ ra mạnh hơn bao giờ hết ” Từ đây đánh dấu một thời kỳ rộng khắp của các công ty cổ phần, đồng thời nó trở thành một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới Đến năm 1930 số công ty cổ phần ở nước Anh lên tới 86.000 và 90% tư bản ở nước Anh chịu sự khống chế của công ty cổ phần Ở Mỹ năm 1909 có tổng số 262.000 công ty cổ phần, giá trị mỗi cổ phần do công ty phát hành nhỏ (các công ty thông dụng của Mỹ giá mỗi cổ phần là 1,5 USD) Đến năm 1939 số công ty cổ phần ở Mỹ chiếm 51,7% trong tổng số các xí nghiệp công nghiệp và chiếm 92,6% giá trị tổng sản lượng công nghiệp

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy : Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước đua nhau thành lập các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là những nước xã hội chủ nghĩa và các nước theo mô hình Liên Xô (cũ) Nhưng đến những năm 1970 thì đa số các nước đều nhận thấy : Kinh tế quốc doanh với cơ cấu như vậy là kém hiệu quả, chứa đựng nhiều tiêu cực, trì trệ

Riêng ở nước ta, kinh tế quốc doanh ra đời gắn với sự xuất hiện của Nhà nước chuyên chính vô sản, được quản lý theo kiểu tập trung và được coi là hình thức quản lý tiên tiến Kinh tế quốc doanh lúc đó được coi là hình thức quốc doanh sở hữu đặc trưng, riêng có của chủ nghĩa xã hội, và mang tính phổ biến trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân … Các quan điểm này đã dẫn đến việc phát triển ồ ạt và trên phạm vi rôïng lớn các xí nghiệp quốc doanh, không tính đến khả năng thích hợp của nó trong từng ngành, từng lĩnh vực, do vậy hiệu quả kinh tế của các xí nghiệp quốc doanh hết sức thấp kém

Cho đến nay, ở những mức độ khác nhau, các nước đang tìm cách cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh, mà cổ phần hóa được coi là giải pháp quan trọng và phổ biến

1.2.2 Cổ phần hóa là giải pháp cải cách doanh nghiệp Nhà nước :

Trang 12

a Trên thế giới:

Ở các nước tư bản chủ nghĩa, hệ thống doanh nghiệp thụôc sở hữu Nhà nước được coi là các doanh nghiệp công Doanh nghiệp công đã chiếm vị trí quan trọng trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng và đặc biệt then chốt ở các nước tư bản phương Tây trong thập kỷ 50 – 70 của thế kỷ này

Để quản lý có hiệu quả các doanh nghiệp công Chính phủ các nước

tư bản chủ nghĩa đã chia các doanh nghiệp công ra làm 2 loại; xí nghiệp công và công ty của Nhà nước, và áp dụng cơ chế quản lý tài chính khác nhau đối với 2 loại này:

Xí nghiệp công là doanh nghiệp được Nhà nước thành lập để cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng, hoạt động của chúng không vì mục tiêu lợi nhuận và được Nhà nước trợ cấp tài chính Tuy nhiên, Chính phủ kiểm soát rất chặt chẻ chi phí trên một đơn vị sản phẩm và giá cả hàng hoá

Các công ty của Nhà nước do Nhà nước đầu tư thành lập, hoạt động theo luật công ty và phải cạnh tranh để tồn tại Đối với các loại doanh nghiệp này, Nhà nước áp dụng theo cơ chế không cấp thêm vốn, xí nghiệp phải tự huy động vốn trên thị trường và tự chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp

Quá trình cổ phần hóa ở các nước tư bản chủ nghĩa diễn ra rất thuận lợi, không gặp trở ngại như ở các nước đang phát triển và ở các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường Vì

ở các nước tư bản chủ nghĩa, các điều kiện để đảm bảo cho các công ty cổ phần vận hành tốt đã rất phát triển ví dụ như :

Trang 13

b Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta và giải pháp cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước :

Từ năm 1989, Nhà nước đã thực hiện chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước Các doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả thực hiện giải thể, sát nhập vào các doanh nghiệp khác (số lượng doanh nghiệp từ 12.000 xuống còn 5.280 doanh nghiệp) để nâng cao hiệu quả sản xuất doanh nghiệp Nhà nước, đóng góp của các doanh nghiệp trong phát triển kinh tế tăng lên tỷ trọng GDP của doanh nghiệp Nhà nước tăng từ 37,6% lên 42,3% năm 1995, 40,07 NĂM 1998

Khu vực doanh nghiệp Nhà nước

Các doanh nghiệp Nhà nước có đặc điểm chủ yếu sau:

- Đa số hình thành từ thời kỳ quản lý tập trung bao cấp, cơ chế quản lý hiện nay vừa thiếu, vừa thừa Thừa vì vẫn còn sự quản lý chồng chéo lẫn nhau Thiếu vì quản lý không đạt hiệu quả cao, nhiều khâu còn buông lỏng và dễ phát sinh ra tiêu cực, hệ thống kế toán kiểm toán không đầy đủ, dễ bóp méo tình hình gây ra hiện tượng lãi giả, lổ thật

- Doanh nghiệp Nhà nước không đủ các điều kiện cần thiết để hoạt động nhất là về vốn, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ Trình độ công nghệ quá cũ nhưng ít khả năng đổi mới Cả thời kỳ 1991 – 1995 chỉ trang

bị lại được 10% thiết bị, bằng 12% tổng giá trị thiết bị của doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài được xây lắp trong cùng thời gian Máy móc thiết bị lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, bình quân lạc hậu 2 –3

Trang 14

thế hệ, hơn 55% là trình độ thủ công, 41% trình độ cơ khí, chỉ có 4% trình độ tự động hóa

- Kinh tế ngoài quốc doanh còn quá non yếu nên doanh nghiệp Nhà nước không có điều kiện tập trung vào những ngành và lĩnh vực then chốt

Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong kinh tế thị trường được thể hiện qua :

Các sản phẩm quan trọng trong nền kinh tế như điện than, xi măng, sắt thép, giấy, vận tải hàng không, đường sắt, bưu chính viễn thông, xuất nhập khẩu…

- Đóng góp vào Ngân sách Nhà nước và phát triển GDP ngày càng tăng so các năm Năm 1995, số thu nộp Ngân sách của doanh nghiệp Nhà nước tăng gấp 7 lần năm 1989 và đạt 30.100 tỷ đồng chiếm 61% tổng số thu trong nước của Ngân sách Nhà nước, tốc độ thu nộp Ngân sách của doanh nghiệp tăng 50,5% / năm trong thời kỳ 1991- 1995 Năm 1999 các doanh nghiệp Nhà nước làm ra 40,2% GDP, trên 50% giá trị xuất khẩu, đóng góp 29,25% tổng nộp Ngân sách Nhà nước

Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Nhà nước cũng tăng lên theo hướng tích cực, so với năm 1990 thì năm 1996 giá trị tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh tăng từ 83,7% lên 86%, trong đó thiết bị sản xuất từ 12,4% lên 18,7% Việc huy động công suất thiết bị có tiến bộ, năm 1993 so với năm 1990, số thiết bị làm việc 3 ca tăng từ 9% lên 20%, số làm việc một

ca giảm từ 80% xuống còn 65%

Trong giai đoạn đầu xóa bỏ dần giai cấp, chuyển sang kinh tế thị trường số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ tăng từ 5% (năm 1986) lên đến 24% (năm 1991) Sau năm 1991, do thích ứng dần với cơ chế thị trường, số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ giảm dần xuống còn 16% năm 1995 và khoảng 15% năm 1996 Tuy nhiên, do cơ chế tài chính và phương thức hạch toán kế toán từ năm 1996 trở về trước chưa đầy đủ, nhiều khoản chi chưa được phản ánh trong chi phí, các khoản thiệt hại tài sản được hạch

Trang 15

toán giảm vốn nên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ảnh chưa

chính xác Nếu hạch toán đúng theo cơ chế tài chính hiện nay, số doanh

nghiệp kinh doanh thua lỗ chắc chắn sẽ cao hơn nhiều

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhà nước được nâng cao

hơn trước Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt 3,6 % năm 1990, năm 1995

đạt 5,6% Nhìn chung tỷ lệ lợi tức của doanh nghiệp Nhà nước trong cả

thời kỳ 1991 – 1995 đều thấp – lãi suất cho vay của Ngân hàng cao nhưng

doanh nghiệp vẫn phải vay vì thiếu vốn kinh doanh, tiền trả lãi vay chiếm

tỷ trọng khá lớn (2,2 – 2,7% ) trong tổng chi phí của doanh nghiệp và bằng

35% – 40% lợi tức của doang nghiệp

Tỷ trọng GDP của DNNN trong các

ngành:

%

Hiệu quả hoạt động

Tỷ trọng thu NS của DNNN/tổng

thu của các thành phần kinh tế

Trang 16

Doanh nghiệp Nhà nước đã duy trì được tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng vốn, mức độ nộp Ngân sách cao hơn bình quân nền kinh tế trong giai đoạn 1991- 1995, nhưng gần đây đã có dấu hiệu chững lại Tốc độ bình quân thời kỳ 1991 – 1995 bằng 1,5 lần bình quân chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhưng năm 1996 chỉ bằng 1,4 lần

Ngành công nghiệp quốc doanh chỉ bằng 0,8 lần tốc độ của thành phần kinh tế cùng ngành

Nhiều doanh nghiệp Nhà nước không đủ khả năng giải quyết nợ Ngân hàng trong khi doanh nghiệp chiếm khoảng 40% tổng thu Ngân sách và 50% tổng tín dụng trong nước

Thời gian gần đây vai trò tích cực của doanh nghiệp Nhà nước đã giảm dần và có biểu hiện sút giảm trong một số ngành, một số địa phương Sức cạnh tranh thấp là điểm yếu nhất trong bối cảnh phải hội nhập trong khu vực và quốc tế theo lịch trình đã và sẽ cam kết

Nguyên nhân chủ yếu là:

- Chủ trương đổi mới doanh nghiệp Nhà nước chưa được triển khai đồng bộ và triệt để

- Chưa tạo được động lực phát triển cho các doanh nghiệp Nhà nước và chưa xác định đại diện chủ sở hữu cụ thể Cơ chế tài chính còn nhiều

Trang 17

điểm chưa hợp lý, gò bó doanh nghiệp, Nhà nước giám sát vừa quá chi tiết vừa kém hiệu lực

- Công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ lãnh đạo còn nhiều thiếu sót

- Công nghệ cũ và lạc hậu nhưng lại thiếu vốn nghiêm trọng Doanh nghiệp Nhà nước phải đóng góp nhiều khoản cho yêu cầu địa phương

- Qui mô doanh nghiệp còn quá nhỏ, trùng lắp, việc phân định chức năng quản lý Nhà nước vẫn còn chồng chéo và sơ hở

- Chậm trể việc thực hiện chủ trương đa dạng hoá sở hữu và cổ phần hóa

- Chưa nhận thức cụ thể và thống nhất vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước nên khó khăn lúng túng trong việc triển khai đổi mới doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính và hạch toán kế toán lạc hậu, không phù hợp với cơ chế thị trường như chậm thay đổi Vì vậy chưa thúc đẩy được công tác hạch toán kinh tế của doanh nghiệp, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp không được phản ánh chính xác Việc chấp hành chế độ quản lý tài chính của doanh nghiệp chưa được nghiêm chỉnh, tài sản quản lý chưa chặc chẽ, chưa phản ảnh đúng giá trị, nhiều chi phí bất hợp lý, lãng phí Tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, không theo đúng chế độ khá phổ biến, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư kém Tình trạng đầu tư tràn lan, công nghệ lạc hậu, chưa tính đầy đủ đến nguyên liệu , thị trường tiêu thụ sản phẩm và khả năng cạnh tranh của các đối tượng khá phổ biến, đội ngủ công nhân đông nhưng tỷ lệ công nhân lành nghề thấp làm chi phí sản xuất cao, sản phẩm tiêu thụ chậm, doanh nghiệp bị lỗ, thậm chí không đủ nộp thuế, nhất là thuế tiêu thụ đặc biệt

Nhận thức được thực trạng này, trong những năm qua Nhà nước đã thực hiện một số chủ trương đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước

Một là: sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, duy trì và phát triển những doanh nghiệp Nhà nước đủ kinh doanh hoạt động, giải thể cho phá sản

Trang 18

những doanh nghiệp Nhà nước bị thua lỗ nghiêm trọng, ban hành quy chế bán, giao cho tập thể quản lý, giao khoán hoặc đấu thầu quản lý những doanh nghiệp Nhà nước quá nhỏ

Hai là: Tổ chức lại tổng công ty

Ba là: Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước theo hướng giao quyền tự chủ kinh doanh xoá bỏ dần chế độ Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản và sự cách biệt giữa xí nghiệp trung ương và địa phương, đồng thời tăng cường vai trò kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước

Bốn là: cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước có đủ điều kiện

Trong các giải pháp trên, cổ phần hóa được coi là giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả xã hội vì những lý do sau:

- Nhà nước không thể và không cần thiết phải dàn trải quá nhiều doanh nghiệp Nhà nước, mà chỉ cần nắm giữ những doanh nghiệp lớn, quan trọng, những doanh nghiệp có vị trí then chốt của nền kinh tế quốc dân, để làm chức năng chi phối và điều tiết vĩ mô

- Cổ phần hóa là hình thức để huy động nguồn vốn đang tiền ẩn trong các thành phần kinh tế và trong dân cư, huy động vốn của các cá nhân và tổ chức kinh tế nước ngoài, đặc biệt vốn của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp cổ phần hóa bước đầu không lớn nhưng đóng một vai trò quan trọng

- Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước góp phần chuyển đổi cách thức tổ chức, quản lý doanh nghiệp, tạo điều kiện để những người góp vốn và công nhân viên chức trong doanh nghiệp nâng cao vai trò làm chủ thực sự, thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả

- Cổ phần hóa gắn với việc xuất hiện cổ phiếu và mua bán cổ phiếu sẽ góp phần vào sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán

Trang 19

- Cổ phần hóa là giải pháp nhằm nâng cao vai trò chủ đạo thực sự của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho xã hội xã hội chủ nghĩa

1.3 KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHEI65P NHÀ NƯỚC Ở CÁC NƯỚC:

1.3.1 Các nước tư bản chủ nghĩa:

Doanh nghiệp Nhà nước ở các nước tư bản là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế chống lại những căn bệnh của chủ nghĩa

tư bản, trong các nước tư bản phát triển, tỷ trọng sở hữu của Nhà nước có khác nhau : chẳng hạn như Mỹ là 2%, Anh 8%, Nhật 11%, Ý khoảng 39%

… Tuy tỷ lệ trên đây ở mỗi nước khác nhau, nhưng mấy năm gần đây, xu hướng chung là các chính phủ ở các nước đều muốn chuyển hoá sở hữu doanh nghiệp Nhà nước, với các hình thức, biện pháp, bước đi có khác nhau

Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến việc chuyển hoá sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là tính không hiệu quả, thua lỗ kéo dài của các doanh nghiệp quốc doanh

Có 2 hình thức chuyển hóa sở hữu doanh nghiệp:

+ Bán toàn bộ

+ Bán từng phần: Bán từng bộ phận của xí nghiệp hoặc chuyển một phần sở hữu của xí nghiệp cho tư nhân thông qua việc bán một lượng cổ phiếu nhất định dưới dạng công ty cổ phần

Do ý đồ, điều kiện ở từng nước khác nhau, kết quả cổ phần hóa (hay

tư nhân hóa) ở mỗi nước cũng có khác biệt:

- Ở Anh, đầu năm 1911, có đến 11 triệu cổ đông bằng 24% số người trưởng thành, kết quả thu được 33 tỷ bảng Anh

- Ở Pháp, trong gần một năm rưởi thực hiện được 1/3 chương trình tư nhân hoá và thu được 70 tỷ france

Trang 20

- Ở Ý, từ 1980 –1987, Chính phủ nước này đã bán từ 4 đến 5 xí nghiệp quốc doanh hàng năm, và tổng cộng thu được 7.000 tỷ Lia

- Cộng hoà liên bang Đức: từ 1984 – 1987, Chính phủ đã bán toàn bộ hay một phần cổ phiếu khống chế của Nhà nước hơn 50 công ty trị giá 5 tỷ Mác

1.3./ Các nước châu Á – Thái bình dương:

- Hàn quốc : đợt đầu từ 1968 – 1973, trong số 7 xí nghiệp quốc doanh bán cho tư nhân và cho các tổ chức tài chính hoặc được tổ chức lại thành xí nghiệp mới Đợt 2, gồm 2 biện pháp chủ yếu: một là cổ phần hoá một số xí nghiệp quốc doanh chủ yếu, bao gồm các Ngân hàng Thương mại, hai là đối với các xí nghiệp không cổ phần hóa cần nâng cao hiệu quả chi phí, phù hợp với Luật quản lý xí nghiệp quốc doanh được thông qua tháng 12/1993 Tháng 4/1977, Chính phủ thông qua một kế hoạch tham vọng về bán một phần hoặc toàn bộ tài sản xí nghiệp quốc doanh trong thời kỳ 1988 –1992, trong số này có các xí nghiệp lớn như công ty điện, công ty viễn thông, công ty quặng sắt và thép Poheng, công ty độc quyền thuốc lá nhân sâm Ginseng được thực hiện thông qua ưu tiên phân phối 95% cổ phần cho những người thu nhập thấp trong đó có 20% được bán cho công nhân xí nghiệp cổ phần hóa và số còn lại bán cho thợ thuyền, tiểu chủ, nông dân và ngư dân

- Ở Singapore: Thông qua thị trường chứng khoán được mở rộng, các

xí nghiệp công cộng đã tiến hành bán cổ phần cho nhiều nhà đầu tư

- Ở Malaysia: Nhà nước nhượng nhiều cổ phần chủ yếu trong 29 doanh nghiệp Nhà nước tại thị trường chứng khoán Kula Lumpur

- Ở Philippine: Nhà nước mở cửa cho tư nhân tham gia đến 30% cổ phần trong Ngân hàng quốc gia

- Ở Thái lan: trong khu vực công nghiệp giầy và khách sạn của quốc doanh Nhà nước đã mạnh dạn chuyển nhượng cho các thành phần kinh tế khác từ 70% đến 100% cổ phần

Trang 21

Nhìn chung ở mỗi nước khác nhau, quá trình chuyển hóa sở hữu Nhà nước ở các doanh nghiệp được hiểu và điều hành khác nhau Nói chung, được phân theo những cấp độ sau đây:

+ Bán tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, đất đai, rừng, tài nguyên … Điển hình ở Australia

+ Thực hiện cải cách kinh tế nhưng không chấp nhận loại bỏ sở hữu Nhà nước, ở một số nước như Trung quốc, Ấn độ, Hàn quốc

+ Chấp nhận xoá bỏ một phần sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước như Malaysia

+ Chấp nhậm xoá bỏ quyền sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp như Philippin, Srilanca … cho rằng doanh nghiệp được sở hữu bởi Nhà nước hay tư nhân điều đó không quan trọng chỉ cần doanh nghiệp đó tạo ra lợi ích thiết thực cho các thành viên trong doanh nghiệp đó cũng như cho toàn xã hội

1.3.3 Đông Âu và Liên bang Nga:

Sau khi chế độ chính trị và chính quyền cũ bị sụp đổ Các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã chủ trương sở hữu Nhà nước nhằm xoá bỏ hệ thống quản lý cũ, quan hệ sản xuất cũ, thay vào đó một quan hệ sản xuất một hệ thống tổ chức quản lý khác hẳn về bản chất và nguyên tắc trước đây, nhằm tiến hành xây dựng từng bước nền kinh tế thị trường

Mặc dù có nhiều khó khăn, nhưng việc chuyển đổi sở hữu Nhà nước sang các hình thức sở hữu khác là lối ra để bước vào kinh tế thị trường, nên các nước đều lần lượt công bố chương trình chuyển đổi sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp của mình với những nét cơ bản giống nhau sau đây:

- Các doanh nghiệp Nhà nước đang làm ăn có lãi hoặc có triển vọng mới có thể chuyển thành công ty cổ phần Nhưng muốn quá trình chuyển hoá thuận lợi và sau khi chuyển hoá các công ty cổ phần nhanh chóng đi vào hoạt động có kết quả, thì nhất thiết cần có một khuôn khổ pháp luật cụ thể và rõ ràng Một nước có hệ thống luật pháp chuẩn bị cho quá trình

Trang 22

chuyển đổi đầy đủ hơn thì kết quả thu được sẽ tốt hơn, ví dụ như Hungari là nước có hệ thống luật pháp đầy đủ hơn nên việc triển khai tư nhân hoá có chậm hơn các nước ở khu vực Đông âu nhưng đã thu được kết quả khả quan hơn

- Về hình thức có 2 trường hợp: chuyển đổi từng phần hoặc chuyển đổi toàn bộ và thông qua các phương cách:

+ Chỉ bán, không cho không (Hungari)

+ Cho không, với đối tượng không những là công nhân viên của doanh nghiệp được chuyển đổi mà còn là mọi công nhân bên ngoài doanh nghiệp (Ba lan, Nga, Séc)

Ngoài ra còn có các chính sách ưu đãi về giá cổ phiếu, trợ giá, tín dụng … để khuyến khích người mua

Kinh nghiệm các nước Đông Âu cho thấy vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp là khó khăn phức tạp Vì thế mặc dù cổ phần hóa là cần thiết nhưng không thể nóng vội, chủ quan mà phải kiên trì, từng bước tạo ra những tiền đề cần thiết để giải quyết sự chuyển hoá này một cách hữu hiệu

1.3.4 Những kinh nghiệm rút ra từ cổ phần hóa ở các nước

Qua thực tiển cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở các nước, tốc độ cổ phần hoá nhanh hay chậm phụ thuộc vào mục tiêu của từng quốc gia Hậu quả của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở các quốc gia đều tương tự nhau và đều rất khó khăn khi giải quyết đó là vấn đề lao động dôi

dư, thất thoát tài sản,

Từ những thành công và thất bại, có thể rút ra từ những bài học như sau:

Thứ nhất : cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước phải được xây dựng theo một đề án cải cách tổng thể và có lộ trình với các giai đoạn cụ thể, có mục tiêu và biện pháp phù hợp Việc thực hiện phải do một cơ quan tương

Trang 23

đối mạnh do một quyền lực chính trị tổ chức, chỉ đạo và và giám sát chương trình

Phải phân tách độc lập giữa bộ phận xây dựng các chính sách, đề án cổ phần hoá với bộ phận thực hiện các đề án cổ phần hoá đã được xây dựng và phê duyệt

Phải thiết lập một khuôn khổ pháp lý đầy đủ và có tính pháp quy cao (Luật cổ phần hoá) làm nền tảng cho việc đề ra các nguyên tắc kỹ thuật (định giá tài sản, lựa chọn mô hình ) phù hợp với điều kiện thực tế

Thứ hai : Cổ phần hoá không nên quá lệ thuộc vào đầu tư nước ngoài, mà phải thấy vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp và chất lượng các lợi ích mà doanh nghiệp cung cấp cho xã hội là chính Phân phối các lợi ích trong trong quá trình cổ phần hoá, cổ phiếu phải công khai và đảm bảo sự công bằng

Thứ ba : cổ phần hoá được tiến hành đối với mọi doanh nghiệp, trong đó những doanh nghiệp thua lỗ cần được cơ cấu, chấn chỉnh lại, tăng sức thu hút của nhà đầu tư sau đó mới tiến hành cổ phần hoá Các doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hoá nếu gặp khó khăn cần có chính sách

ưu đãi, hỗ trợ, có điều kiện từ phía Nhà nước

Thứ tư : Phải có chính sách ưu đãi phù hợp để giải quyết hai vấn đề quan trọng nhất là việc làm và thu nhập của người lao động (là cán bộ công nhân viên Nhà nước), Nhà nước cần quan tâm cho các ưu đãi đó biến thành hiện thực

Thứ năm : Cổ phần hoá phải là một bộ phận của chương trình cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp Nhà nước nói riêng, gắn liền với chương trình cải cách kinh tế nói chung- Cổ phần hoá phải đi cùng với các quá trình cải cách khác về chính sách, cơ chế và quản lý hành chính

Thứ sáu : Trong quá trình cổ phần hoá cần tránh việc chuyển từ độc quyền Nhà nước sang độc quyền tư nhân, hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần quá lớn, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc là người được Nhà nước bổ nhiệm như Trung quốc

Trang 24

Chương II:

THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP

NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.1 BỐI CẢNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: 2.1.1 Chủ trương:

Ngay từ đầu thập kỷ 90 cùng với đổi mới chính sách kinh tế – Xã hội, Đảng ta đã sớm có chủ trương chuyển một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần Chủ trương này đã được nêu ra tại các nghị quyết của Đảng ở các thời kỳ như sau:

Nghị quyết Hội nghị lần 2 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII (tháng 11 năm1991) đã chỉ ra “chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành lập công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẻ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp.”

Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa VIII ngày 26/12/1991 về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đã ghi “ thí điểm việc cổ phần hoá một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển ”

Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1/1994) đã nêu mục đích, hình thức và mức độ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa

Nghị quyết của Bộ chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước (số 10NQ/TW ngày 17/3/1995) đã bổ sung về phương châm tiến hành cổ phần hóa tỷ lệ bán cổ phần cho nhân viên trong doanh nghịêp và ngoài doanh nghiệp Trong kết luận của Bộ Chính trị về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 1996-2000 (số 301 BBK/BTC ngày 12/9/1995) để bổ sung thêm mục tiêu cổ phần hoá doanh

Trang 25

nghiệp Nhà nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phân loại doanh nghiệp Nhà nước để cổ phần hóa

Trên cơ sở đánh giá tình hình triển khai cổ phần hoá và kết quả bước đầu của các công ty cổ phần, ngày 4/4/1997 Bộ chính trị đã có thông báo số 63/TB-TW “ Triển khai tích cực, vững chắc việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản của Nhà nước tăng lên, là sự kết hợp giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế nhân dân để phát triển đất nước chứ không phải để tư nhân hoa.ù” Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu rõ định hướng và giải pháp cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước

Tóm lại chủ trương của Đảng về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ngày càng được cụ thể hoá cả về mục tiêu và giải pháp

Phương châm của Đảng là đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước một cách tích cực, vững chắc, phải phân loại doanh nghiệp Nhà nước, xác định rõ loại doanh nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn, loại doanh nghiệp Nhà nước không giữ 100% vốn thì tổ chức cổ phần hóa, trong đó phải quy định các lĩnh vực Nhà nước cần giữ cổ phần chi phối Về đối tượng bán cổ phần bao gồm mọi cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân khác để huy động cho đầu tư phát triển Nhưng chú trọng tạo điều kiện cho cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp có sở hữu cổ phần

2.1.2 Mục tiêu:

- Mục tiêu nhất quán cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là để huy động vốn của toàn xã hội bao gồm các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước

- Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản

Trang 26

Nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế của đất nước

Phân tích mục tiêu đầu:

Thực trạng kỹ thuật, công nghệ ở các doanh nghiệp Nhà nước ở nước

ta rất lạc hậu, yếu kém, vì vậy việc đổi mới công nghệ, nâng cấp hoạt động doanh nghiệp Nhà nước là vấn đề cấp bách được nêu ra, nhưng để thực hiện điều này đòi hỏi một lượng vốn quá lớn, ngân sách Nhà nước không đáp ứng nổi

Do đó việc huy động vốn trong công nhân viên chức trong doanh nghiệp nói riêng và trong dân cư nói chung là mục tiêu đúng và có triển vọng Nhờ đó góp phần làm chuyển biến hình thái tiết kiệm, đầu tư, tiền vốn nhàn rỗi trong nhân dân

Về mục tiêu thứ hai:

Chúng ta đã trải qua nhiều thời kỳ muốn xác lập quyền làm chủ của người lao động trong doanh nghiệp, nhưng thực tế cho đến nay các doanh nghiệp vẫn chưa được xác định được người chủ cụ thể Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là giải pháp qua đó người lao động có thể thực sự làm chủ bằng việc tham gia mua cổ phiếu doanh nghiệp, tham gia chọn thành viên trong hội đồng quản trị Đương nhiên trong trường hợp này, quyền làm chủ của mỗi người cũng không giống nhau, người có nhiều cổ phần sẽ có quyền hơn người có ít cổ phần, đây là điều phải chấp nhận trong giai đoạn hiện nay, vì:

sự khác biệt về năng lưcï của từng người tất nhiên sẽ dẫn đến thu nhập cũng không đồng đều và tích luỹ cũng khác nhau

khách quan, kích thích sự năng động, tích cực của người lao động nói chung nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

2.1.3 Chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước:

Trang 27

Tại kỳ họp thứ 10 – quốc hội khóa VIII ngày 26/12/1991 Quốc hội đã ra nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm (1991-1995) Trong đó về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đã chỉ rõ : “thí điểm việc cổ phần hóa một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển”

Nghị quyết kỳ họp thứ IV quốc hội khoá IX (tháng 12/1993) đã chỉ rõ “ đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước thực hiện các hình thức cổ phần hóa thích hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả …”

Thực hiện chủ trương trên, Chính phủ đã có các văn bản quy định việc tổ chức thực hiện cổ phần hóa như sau:

- Quyết định số 143HĐBT ngày 10/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về tổng kết thực hiện quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 các Nghị định số 50/HĐBT ngày 20/3/1988 và 98/HĐBT ngày 2/6/1988 và làm thử việc tiếp tục đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh có đề ra thí điểm chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần đối với một số ít xí nghiệp đủ điều kiện và tiêu biểu

- Ngày 08/06/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) đã ban hành quyết định số 202/CT về tiếp tục thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần và kèm theo là đề án “ chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần áp dụng tại các doanh nghiệp được chọn làm thí điểm.”

- Quyết định số 203/CT ngày 08/06/1992, Chính phủ đã chọn 7 doanh nghiệp Nhà nước thí điểm cổ phần là:

Nhà máy xà bông Miền Nam (thuộc công ty bột giặt Miền Nam) Nhà máy diêm Thống nhất (thuộc liên hiệp sản xuất-xuất nhập khẩu gỗ diêm)

Trang 28

Xí nghiệp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 1 (Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm )

Xí nghiệp chế biến gỗ Long bình (thuộc Tổng công ty dịch vụ, sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản III)

Công ty vật tư tổng hợp Hải hưng (Bộ thương mại và du lịch)

Xí nghiệp sản xuất bao bì (thuộc Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà nội)

Xí nghiệp may mặc (thuộc công ty Legamex thành phố Hồ Chí Minh)

Đồng thời giao cho mỗi ngành, tỉnh, thành phố chọn 1-2 doanh nghiệp Nhà nước để tiến hành thí điểm chuyển thành công ty cổ phần

Trên cơ sở quyết định 202 HĐBT, các cơ quan chức năng đã ban hành các thông tư hướng dẫn:

động thương binh xã hội “Hướng dẫn về lao động và chính sách đối với người lao động trong thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần”

những vấn đề tài chính trong việc thực hiện thí điểm trong cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định số 202 HĐBT của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng và chỉ thị số 84-TTg ngày 04/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ

Tuy nhiên, trong thời kỳ này (1992-1996) việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước dừng lại ở bước thí điểm, nhằm đúc kết kinh nghiệm, tìm cách thực hiện có hiệu quả sau này

Ngày 07/05/1996, Chính phủ ban hành nghị định số 28/CP về việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, quyết định

Trang 29

số 548 TTg ngày 13/08/1996 của Thủ tướng chính phủ về thành lập ban chỉ đạo cổ phần hóa Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách tương đối đồng bộ về các chính sách đối với doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá

Quyết định số 659/TTg ngày 13/09/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép các công ty cổ phần đã được Nhà nước thí điển cổ phần hóa trước đây thực hiện một số chính sách ưu đãi qui định tại nghị định số 28/CP ngày 07/05/1999 của Chính phủ

Căn cứ Nghị định số 28/CP, các Bộ đã có:

hướng dẫn những vấn đề tài chính, bán cổ phần và phát hành cổ phiếu trong việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

động thương binh xã hội hướng dẫn về chính sách đối với người lao động khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

ban chỉ đạo Trung ương về cổ phần hóa ban hành hướng dẫn quy trình chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần hóa

lao động Việt Nam hướng dẫn nội dung hoạt động công đoàn khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

Ngày 26/03/1997 Chính phủ ban hành nghị định số 25/CP sửa đổi một số điều của nghị định 28/CP

Để đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian tới, trên cơ sở đánh giá các tồn tại, hạn chế của Nghị định 28/CP, tiếp thu đóng góp của các ngành, địa phương và doanh nghiệp Chính phủ đã ban hành nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 thay thế Nghị định số 28/CP và 25/CP, Thủ tướng chính phủ và các Bộ, ngành ban hành các văn bản hướng dẫn sau:

Trang 30

• Thông tư số 104/1998/TT-BTC ngày 18/07/1998 của Bộ tài chính hướng dẫn những vấn đề tài chính khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

chính hướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế và lệ phí trước bạ quy định tại điều 13 nghị định số 44/1998/Nđ- CP ngày 29/06/1998

hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số nội dung liên quan đến ngân hàng khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

lao động thương binh xã hội hướng dẫn chính sách đối với người lao động khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

lao động Việt Nam về nội dung hoạt động của công đoàn khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

phòng chính phủ về hướng dẫn qui trình và phương án mẫu cổ phần hóa

hướng dẫn cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

tướng chính phủ về ban hành qui chế bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài

tướng chính phủ về tổ chức và hoạt động của quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Trang 31

Có thể nói nghị định số 44/1998/NĐ-CP và các văn bản ban hành kèm theo đã xác định cụ thể danh mục các loại doanh nghiệp Nhà nước chưa tiến hành cổ phần hoá, loại doanh nghiệp cổ phần hoá mà Nhà nước nắm cổ phiếu chi phối, quy định nhiều hình thức cổ phần hoá hơn, đồng thời có sự phân cấp mạnh mẻ quy định trách nhiệm và quyền hạn của các cấp quản lý Nhà nước trong chỉ đạo cổ phần hoá đã tạo thuận lợi thúc đẩy việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đạt hiệu quả mong muốn

2.2 TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:

2.2.1 Thành lập ban chỉ đạo cổ phần hóa các cấp:

Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 111/1998/qđ-TTg ngày 29/06/1998 thành lập Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương và quyết định về thành viên lãnh đạo Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương do một Phó Thủ tướng làm Trưởng ban, một phó ban thường trực, một số phó trưởng ban chuyên trách và các uỷ viên kiêm nhiệm là cấp thứ trưởng, của các bộ, cơ quan có liên quan để giúp Thủ tướng chính phủ tập trung nhiệm vụ đổi mới đổi mới quản lý doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước vào một đầu mối Đến nay ở các bộ, địa phương, tổng công ty 91 đã thành lập ban đổi mới quản lý doanh nghiệp trực thuộc Bộ, địa phương, tổng công ty

91

2.2.2 Triển khai thực hiện cổ phần hóa:

a/ Giai đoạn thí điểm (năm 1992 đến tháng 5/1996)

Tốc độ cổ phần hóa diễn ra rất chậm, số doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang cổ phần hóa có 5 doanh nghiệp là:

- Năm 1993: 2 doanh nghiệp công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển, công ty cổ phần cơ điện lạnh

- Năm 1994: Công ty cổ phần giầy Hiệp an

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w