Từ khi ra đời đến nay, Hải quan Việt Nam với vai trò “Là một binh chủng đặc biệt trên mặt trận kinh tế, chính trị, an ninh đối ngoại”Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, thực hiện chức năng quản lý
Trang 1TRẦN ĐÌNH THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2MỞ ĐẦU
Đơn giản hóa, công khai hóa thủ tục hải quan, tạo thuận lợi, nhanh chóng cho xuất nhập khẩu phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, quản lý chặt chẽ đúng chính sách, pháp luật là mục tiêu, yêu cầu và là nội dung chủ yếu của cải cách và hiện đại hóa trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan
Từ khi ra đời đến nay, Hải quan Việt Nam với vai trò “Là một binh chủng đặc biệt trên mặt trận kinh tế, chính trị, an ninh đối ngoại”(Tổng bí thư Lê Khả Phiêu), thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiên vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh và đấu tranh chống buôn lậu , chống gian lận thương mại
Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thông qua thủ tục Hải quan không phải chỉ để tăng thu cho ngân sách nhà nước mà còn nhằm bảo vệ và hỗ trợ sản xuất trong nước phát triển, góp phần thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa với nước ngoài phát triển đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Hơn 10 năm qua, quá trình đổi mới ở nước ta đã diễn ra theo chiều hướng tích cực với nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và xã hội Cùng với nó là sự lớn mạnh và tự khẳng định mình của Ngành Hải quan Việt Nam cả về lượng và chất Đến nay, Ngành Hải quan đã có gần 8.000 cán bộ Với cơ sở vật chất và trang thiết bị dù chưa nhiều song đã là bước tiến rất dài của Ngành trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hải quan Nhìn chung công tác Hải quan trong những năm gần đây phát triển nhanh chóng và đi vào nề nếp Các quy trình nghiệp vụ của từng Đơn vị công tác trực thuộc được nghiên cứu xây dựng chặt chẽ hơn do tích lũy từ thực tế công tác và từ sự thay đổi của cơ chế kinh tế
Tuy nhiên, với lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tăng, đối tượng quản lý đa dạng, loại hình kinh doanh phong phú… đòi hỏi những cố gắng vượt bậc của Ngành trong việc quản lý đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong việc gác cửa nền kinh tế của đất nước
Trong tình hình hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, xu hướng tích cực chủ động tham gia ngày càng nhiều vào kinh tế khu vực và thế giới nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực này tiến tới hình thành những khu vực tự do mậu dịch, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); tham gia khu vực mậu dịch tự do
Trang 3Châu Á (AFTA); tham gia diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC); tích cực chuẩn bị tham gia tổ chức Thương mại thế giới (WTO); thực hiện chương trình giảm thuế có hiệu lực chung (CEPT); tích cực tham gia ký kết nhiều Công ước quốc tế khác về hải quan… đã đặt Ngành hải quan Việt Nam trước những câu hỏi sau :
- Cơ chế quản lý hiện nay của Hải quan Việt Nam có phù hợp với yêu cầu chung của khu vực ?
- Sự hội nhập vào các tổ chức hải quan là cần thiết ?
- Những thách thức của tương lai đối với ngành là gì?
- Bằng cách nào môi trường hải quan phát triển? và bằng cách nào sự quản lý và chế ngự những thay đổi có thể giúp cho những nhà quản lý đối phó tốt hơn với những thách thức phía trước ?
Sau khi thực hiện viêc nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi chọn tên đề tài là” Những biện pháp cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý hành chính Hải quan Việt Nam trong giai đoạn 2001-2006” để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề
cải cách và hiện đại hóa trong xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa Cũng như những yêu cầu, đòi hỏi đơn giản hóa, công khai hóa thủ tục hải quan, tạo thuận lợi, nhanh chóng cho xuất nhập khẩu phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, quản lý chặt chẽ đúng chính sách, pháp luật Đó chính là những nội dung chủ yếu mà chúng tôi muốn đề cập trong phạm vi đề tài
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HẢI QUAN
1.1 Khái niệm chung về công tác hải quan và hành chính hải quan :
1.1.1 Khái niệm về công tác hải quan :
“Hải quan” là cụm từ được phiên dịch từ chữ hán (Trung Quốc) Theo khái niệm này, Hải quan là cơ quan nhà nước phụ trách việc kiểm tra, giám sát hàng hóa, vật phẩm và phương tiện vận tải được phép đưa vào đưa ra khỏi lãnh thổ quốc gia, và thu thuế quan các loại động sản này
Xét về lịch sử phát triển, từ hải quan có nguồn gốc từ từ “Douane” (thu quốc gia) của người Ai Cập ngay từ khi nhà nước của quốc gia này hình thành Sau đó, La Mã đã la tinh hóa, rồi Pháp cũng sử dung từ này Còn Hy Lạp và Đức gọi là “Zull” (thu quốc gia), Anh và các nước nói tiếng Anh gọi là “Custom” (tập quán)
Theo tập quán và thông lệ quốc tế, Hải quan là công cụ hành pháp mà bất cứ một nhà nước có chủ quyền nào cũng phải tổ chức ra để bảo vệ lợi ích, chủ quyền an ninh quốc gia trong hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại
Tùy theo tình hình chính trị, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế – xã hội và mối quan hệ quốc tế đặc thù tại từng quốc gia, từng khu vực và trong từng thời kỳ lịch sử mà chức năng, nhiệm vụ, hình thức tổ chức, tên gọi, phạm vi địa bàn hoạt động, vị trí trong hệ thống bộ máy nhà nước có thể khác nhau, nhưng xét về tính chất cơ bản, Hải quan các quốc gia đều nắm giữ vai trò quan trọng như nhau: Đó là binh chủng đặc biệt gác cửa đất nước về kinh tế, gắn liền với hoạt động đối ngoại, kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia
Hải quan Việt Nam ra đời ngay từ sau cách mạng tháng tám 1945, được gọi là “Sở Thuế quan và thuế gián thu”, đặt trong Bộ Tài chính (Sắc lệnh số 27/SL, ngày 10-09-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), sau đó gọi là ngành “thuế xuất nhập khẩu”(Nghị định số 63/NĐ, ngày 17-07-1951 của Bộ Tài chính), rồi đổi thành Sở Hải quan (Nghị định 508 –TTg ngày 06-04-1955 của Chính phủ) và năm 1962, được đổi tên thành Cục Hải quan Trung ương, thuộc Bộ Ngoại thương (Quyết định 490/NTg-QĐ/TCCB ngày 17-06-1962 của Bộ Ngoại thương)
Ngày 20-10-1984, theo Nghị định 139/HĐBT, Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) được thành lập Theo nghị định đó
Trang 5và sau này là Pháp lệnh Hải quan công bố ngày 24-02-1990, công tác hải quan nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam và đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới
1.1.2 Khái niệm về hành chính hải quan :
Hải quan là công cụ quan trọng của mỗi quốc gia, nằm trong hệ thống hành pháp của nhà nước, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan, vì vậy nó là một bộ phận của nền hành chính quốc gia bao gồm hệ thống thực thi quyền hành pháp, là công cụ hành pháp, quản lý một lĩnh vực xã hội – lĩnh vực hải quan, trên cơ sở thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về hải quan
Hành chính hải quan được thể hiện trên các phương diện:
+ Thể chế hành chính hải quan, mà nội dung của nó là hệ thống qui phạm pháp luật hải quan về chính sách, chế độ, thủ tục, qui chế, qui trình nghiệp vụ hải quan đối với các đối tượng quản lý nhà nước về hải quan là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam Đó chính là đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đối ngoại, kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia được thể chế hóa nhằm đảm bảo thực hiện quyền lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan, thông qua công cụ hành pháp là hải quan Mặt khác, công tác hải quan vừa phải tuân thủ pháp luật quốc gia, vừa tuân theo các điều ước quốc tế liên quan và các thông lệ, tập quán quốc tế về hải quan mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Vì vậy, thể chế hành chính hải quan còn bao hàm việc thể chế hóa những điều ước, thông lệ và tập quán quốc tế về hải quan trong thủ tục hải quan và các chế độ hải quan như vấn đế ưu đãi hải quan, về các biện pháp phối hợp và phòng ngừa trong quan hệ buôn bán giữa các nước…
+ Hệ thống thiết chế bộ máy hải quan được tổ chức từ trung ương đến cơ sở Hệ thống thiết chế này tương ứng với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao, đồng thời phải đủ khả năng hành động để đảm bảo cho chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hải quan được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả trong phục vụ và quản lý, thực thi quyền hành pháp của công cụ hành pháp nhà nước Nói cách khác, hệ thống thiết chế bộ máy hải quan phải phù hợp với hệ thống thể chế hành chính hải quan Chỉ có như vậy, hệ thống thiết chế bộ máy hải quan mới phát huy được hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan
+ Hệ thống nhân sự hải quan gồm đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ công chức hải quan Hệ thống này thuộc yếu tố con người, gắn liền với hệ
Trang 6thống công sở đặt dưới quyền quản lý của thủ trưởng cơ quan hải quan các cấp, có ý nghĩa quyết định đến việc thực thi quyền hành pháp trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, đến hiệu lực, hiệu quả của quyền lực quản lý
Ơû nước ta hiện nay, hệ thống hành chính hải quan bao gồm từ hệ thống thể chế hành chính, đến hệ thống thiết chế bộ máy và hệ thống nhân sự, là công cụ đắc lực trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật và của Nhà nước, nghị quyết của Quốc hội và hệ thống văn bản pháp qui của Chính phủ nhằm quản lý và phát triển kinh tế - xã hội nói chung, về kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia nói riêng, đem lại lợi ích cho đất nước và cho nhân dân, đóng góp ngày càng quan trọng trong việc đem lại lợi ích cho cả cộng đồng quốc tế
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức của Hải quan Việt Nam :
Chức năng, nhiệm vụ, hệ thống tổ chức, bộ máy và đội ngũ công chức Hải quan Việt Nam được xác định trong Pháp lệnh Hải quan năm 1990
1.2.1 Chức năng Hải quan Việt Nam :
Pháp lệnh Hải quan 1990 (Điều 3) đã xác định “Trong phạm vi nhiệm vụ
quyền hạn do Pháp lệnh này qui định, Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường Việt Nam ; đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối hoặc tiền Việt Nam qua biên giới”
Chức năng của Hải quan Việt Nam cần được hiểu đúng, đủ và thống nhất là chức năng quản lý nhà nước về hải quan và chức năng chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới Vì đây là hai mặt của vấn đề thuộc quyền lực nhà nước về hải quan để bảo đảm lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia trong hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại Hai chức năng đó có mối quan hệ tương hỗ và tạo nên sức mạnh tổng hợp thuộc quyền lực của Hải quan Việt Nam, được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Hiểu một cách đơn giản, xem nhẹ hoặc tước bỏ một chức năng nào, tức là vô hình trung làm giảm quyền lực của Hải quan Việt Nam đã được pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam qui định
Nói đến chức năng “Quản lý nhà nước về hải quan” đối với hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường Việt Nam là nói đến việc sử dụng quyền lực nhà nước được thể chế hóa thành các qui phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật hải quan, tức là các hành vi của các tổ chức hoặc cá nhân thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, vật phẩm và phương tiện vận tải ra, vào lãnh thổ Việt Nam; áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát và tiến hành
Trang 7thủ tục hải quan đối với các hoạt động đó; hoặc áp dụng hàng rào thuế quan và các biện pháp bảo vệ, phòng ngừa trong quan hệ buôn bán giữa các nước với Việt Nam, nhằm bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia của Việt Nam
Chức năng “Đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới” là việc cơ quan Hải quan Việt Nam
sử dụng quyền lực nhà nước, được xác định tại các Bộ luật hình sự (Điều 97), Bộ luật tố tụng hình sự (Điều 93), Pháp lệnh Hải quan (Điều 46, 47), Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (Điều 28)… về khởi tố, điều tra ban đầu đối với hai tội xâm phạm an ninh đối nội và đối ngoại của Việt Nam là tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới Để thực hiện chức năng này, Hải quan Việt Nam được tiến hành các biện pháp nghiệp vụ công khai và bí mật nhằm phát hiện, ngăn ngừa, điều tra và xử lý các hành vi buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới, các hành vi vi phạm qui định khác của Nhà nước về hải quan trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật qui định và những điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hải quan Việt Nam :
Theo Điều 6 của Pháp lệnh Hải quan 1990 quy định : Hải quan Việt Nam có những nhiệm vụ và quyền hạn sau :
• Tiến hành thủ tục Hải quan, thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan theo quy định của Pháp lệnh Hải quan
• Bảo đảm thực hiện quy định của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu, về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các nghĩa vụ khác trong phạm
vi thẩm quyền do pháp luật quy định
• Tiến hành những biện pháp phát hiện, ngăn ngừa, điều tra và xử lý hành vi buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới, hành vi vi phạm các quy định khác của Nhà nước về Hải quan trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định
• Thực hiện thống kê Nhà nước về Hải quan
• Kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, mượn đường Việt Nam; hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện quy định của Nhà nước về Hải quan
• Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân viên Hải quan
• Hợp tác quốc tế với Hải quan các nước
Trang 8Trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hải quan Việt Nam phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương các cấp, các lực lượng vũ trang,
cơ quan nhà nước khác, tổ chức xã hội, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân
Trong tình hình hiện nay, ngành Hải quan Việt Nam tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động nghiệp vụ của mình là :
• Kiểm tra, giám sát, quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
• Kiểm tra thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các loại thuế khác theo qui định chung là “thuế hải quan”
• Điều tra chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới
• Thống kê nhà nước về hải quan
Như vậy, vai trò, vị trí, chức năng của Hải quan Việt Nam được khẳng định trong từng giai đoạn cách mạng, còn nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam lại phát triển theo sự phát triển của tình hình kinh tế, xã hội của đất nước Do đó, đòi hỏi đội ngũ chỉ huy, quản lý phải nắm bắt được qui luật khách quan để điều chỉnh cho phủ hợp, như xác định nhiệm vụ chủ yếu, hoặc nhấn mạnh nhiệm vụ này, hay nhiệm vụ khác, nhưng không thể vượt ra khỏi phạm vi chức năng đã được pháp luật qui định Có như vậy mới phát huy được hiệu lực, hiệu quả công tác, đồng thời khắc phục được những sai phạm đáng tiếc có thể xảy ra
1.2.3 Hệ thống tổ chức bộ máy Hải quan Việt Nam :
Điều 5 – Pháp lệnh hải quan xác định: Hải quan Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ)
Ngày 07/3/1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 16/CP xác định Hải quan Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ Bộ máy tổ chức Hải quan Việt Nam được qui định như sau:
- Tổng Cục Hải quan là cơ quan thuộc chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực hiện chế độ quản lý nhà nước về hải quan trên phạm vi cả nước
- Tổ chức Hải quan Việt Nam bao gồm Tổng Cục Hải quan; Hải quan Tỉnh hoặc Liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan
Trang 9- Cơ cấu tổ chức của khối cơ quan Tổng cục Hải quan bao gồm: bộ máy giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước là cục Giám sát quản lý về hải quan, cục Kiểm tra thu thuế XNK, cục Điều tra chống buôn lậu, vụ Pháp chế, vụ Quan hệ quốc tế, vụ Kế hoạch – tài vụ, vụ Tổ chức cán bộ và đào tạo, Thanh tra, Văn phòng; và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc là Trung tâm tin học thống kê, Viện nghiên cứu khoa học, Trường cao đẳng Hải quan, Báo Hải quan
1.2.4 Hệ thống chức danh công chức hải quan:
Các chức danh lãnh đạo trong ngành Hải quan gồm có:
+ Tổng cục trưởng và các Phó Tổng cục trưởng
+ Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng và các Phó Cục trưởng, Phó Vụ trưởng, Phó Viện trưởng và chức vụ tương đương tại cơ quan Tổng cục Hải quan; Cục trưởng, Phó cục trưởng cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các chức vụ tương đương
+ Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các phòng nghiệp vụ thuộc các vụ, cục đơn vị trực thuộc Tổng cục, hoặc cục Hải quan Tỉnh, thành phố; Trưởng Hải quan cửa khẩu, Phó Trưởng hải quan cửa khẩu và chức vụ tương đương; Đội trưởng, Phó Đội trưởng đội kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu
+ Đội trưởng, Phó Đội trưởng đội nghiệp vụ thuộc phòng hoặc cửa khẩu Ngành Hải quan còn được săp xếp theo ngạch công chức Hải quan qui định tại quyết định số 427/TCCP-VC ngày 02-06-1993 của Bộ trưởng – trưởng ban tổ chức Cán bộ Chính phủ trong đó có có các ngạch:
+ Kiểm tra viên cao cấp hải quan
+ Kiểm tra viên chính hải quan
+ Kiểm tra viên hải quan
+ Kiểm tra viên trung cấp hải quan
+ Nhân viên hải quan
Lực lượng Hải quan là công cụ hành pháp của Nhà nước, Tổng cục Hải quan là cơ quan thuộc Chính phủ Trung ương Do vậy, các đơn vị Hải quan (Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan ) được bố trí làm nhiệm vụ tại các địa bàn, lãnh thổ có cửa khẩu quốc gia, cửa khẩu quốc tế, hoặc những nơi có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh… là lực lượng của trung ương đứng chân trên lãnh thổ theo địa giới hành chính địa phương (tỉnh, thành phố…) để thực hiện chức năng quản lý nhà
Trang 10nước về Hải quan đối với các hoạt động nói trên Các lực lượng này do Tổng cục Hải quan quản lý trực tiếp và toàn diện, đồng thời chịu sự kiểm tra cấp ủy, chính quyền địa phương về việc chấp hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Trung ương tại địa phương Đó là mối quan hệ dọc – ngang của các lực lượng Trung ương đóng tại địa phương đã được pháp luật qui định Cần đề phòng khuynh hướng: các lực lượng Hải quan thiếu sự tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo và sự kiểm tra của cấp ủy, chính quyền địa phương về những nội dung đã được pháp luật qui định, hoặc ngược lại, chính quyền địa phương can thiệp quá sâu vào lĩnh vực hoạt động công tác thuộc chính sách, luật pháp của Nhà nước về hải quan và các chế độ qui định về nghiệp vụ hải quan do ngành Hải quan chỉ đạo
1.3 Nguyên tắc phạm vi địa bàn hoạt động, khu vực kiểm soát, thủ tục Hải quan :
1.3.1 Nguyên tắc phạm vi địa bàn hoạt động, khu vực kiểm soát Hải quan :
Trong hoạt động của mình, Hải quan Việt Nam tuân theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động hải quan mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc công nhận (Pháp lệnh Hải quan – Điều 3) Điểm 2, Điều 5 Pháp lệnh này còn qui định: Địa bàn hoạt động của Hải quan Việt Nam bao gồm: khu vực cửa khẩu, cảng biển, cảng sông quốc tế,Cảng hàng không dân dụng quốc tế, bưu điện quốc tế; khu vực kiểm soát Hải quan dọc theo biên giới, bờ biển, hải đảo, vùng tiếp giáp lãnh hải, và những địa điểm khác ở nội địa do pháp lệnh này qui định Nghị định 128/HĐBT (19-04-1991) qui định cụ thể các nội dung này
Gần đây do tình hình buôn lậu tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng ở nhiều nơi về tính chất cũng như số lượng Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành Hải quan :
+ Chủ trì cùng Bộ quốc phòng, Bộ Công An, Bộ Thương mại xây dựng kế hoạch chung, tổ chức việc phối hợp giữa các lực lượng trong công tác chỉ đạo đấu tranh chống buôn lậu mạnh mẽ, toàn diện trên toàn tuyến biển Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm chính về công tác chống buông lậu trên biển và cửa khẩu
+ Phải tổ chức lực lượng đủ mạnh để điều tra những đường dây buôn lậu móc nối từ biên giới vào nội địa, được phép chủ động phối hợp với các lực lượng khác (quản lý thị trường, nội vụ, thuế vụ…) phát hiện và xử lý kịp thời những ổ nhóm thuộc đường dây buôn lậu từ biên giới nằm ngay tại các địa điểm trong nội địa
Trang 111.3.2 Thủ tục Hải quan:
Thủ tục Hải quan là trình tự những việc làm giữa cơ quan Hải quan và người khai Hải quan để đảm bảo cho các đối tượng kiểm tra hải quan (hàng hóa, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh…) được tiến hành kiểm tra, giám sát và xử lý trong khuôn khổ pháp luật hải quan
a Nguyên tắc chung:
nhập cảnh hoặc quá cảnh đều phải làm thủ tục hải quan
- Thủ tục hải quan phải công khai, nhanh chóng, thuận tiện và chặt chẽ
- Đối tượng kiểm tra hải quan đã hoàn thành thủ tục hải quan được xuất
ra nước ngoài, hoặc nhập vào Việt Nam
b Trình tự tiến hành:
Theo Điều 12 Pháp lệnh Hải quan quy định thủ tục Hải quan bao gồm:
- Khai báo và nộp tờ khai Hải quan, nộp hoặc xuất trình giấy phép và các giấy tờ cần thiết khác theo quy định của pháp luật ( Nghị định 171/ HĐBT ngày 27/5/1991 quy định cụ thể những loại giấy tờ phải nộp cho Hải quan khi thực hiện việc làm thủ tục xuất, nhập qua biên giới cho từng loại đối tượng cụ thể)
Những đối tượng kiểm tra Hải quan đã hoàn thành thủ tục Hải quan được phép xuất ra nước ngoài hoặc được nhập vào lưu thông nội địa
Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thông qua thủ tục Hải quan không phải chỉ để tăng thu cho ngân sách nhà nước mà còn nhằm bảo vệ và hỗ trợ sản xuất trong nước phát triển, góp phần thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa với nước ngoài và phát triển đúng đường lối, chủ trương của Đảng, của Nhà nước
Trang 12Chương 2 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CỘNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH HẢI QUAN HIỆN NAY , NHỮNG XU HƯỚNG VỀ CẢI CÁCH VÀ HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH HẢI QUAN CỦA WCO (WORLD CUSTOMS ORGANIZATION)
A KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CỘNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH HẢI QUAN HIỆN NAY
2.1 Quá trình hình thành phát triển:
Để bảo vệ chủ quyền kinh tế của đất nước, bảo đảm nguồn thu ngân sách và bảo vệ an ninh quốc gia Trong những ngày đầu giành chính quyền, chỉ 8 ngày sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập (2-9-45), Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp, thừa ủy nhiệm Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Công hòa đã ký sắc lệnh số 27/SL ngày 10-09-1945 thành lập “Sở Thuế quan và thuế gián thu” khai sinh Hải quan Việt Nam Trải qua trên 55 năm hình thành và phát triển, nhiều lần thay đổi tên gọi, mô hình tổ chức, đồng thời chức năng nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam cũng được bổ sung hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng của đất nước trong từng giai đoạn
2.1.1 Thời kỳ xây dựng chính quyền nhân dân, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954):
Nhiệm vụ chủ yếu của Hải quan Việt Nam trong thời kỳ này là đấu tranh kinh tế với địch, kiểm soát và thu thuế quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra giữa vùng tự do và vùng địch tạm chiếm, chống buôn lậu giữa hai vùng, và thu thuế gián thu đánh vào thuốc lá, thuốc lào… lưu thông ở vùng tự do Quá trình trên Hải quan Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính
2.1.2 Thời kỳ xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1954- 1975):
Thời kỳ này, cơ quan Hải quan hoạt động với chức năng, nhiệm vụ và nhiều quyền hạn (khám người, nhà ở…; tạm giữ người phạm pháp…) được qui định tại “Điều lệ hải quan” ban hành kèm theo Nghị định số 03/CP ngày 27-02-
1960 của Chính phủ, để bảo vệ chính sách Nhà nước độc quyền ngoại thương, kiểm tra, giám sát, quản lý hàng hóa XNK mậu dịch (theo nghị định thư) và phi mậu dịch, kiểm soát chống buôn lậu và vận chuyển hàng quốc cấm (thuốc phiện, vũ khí) và thu thuế XNK đối với hàng phi mâïu dịch Để phù hợp với tình
Trang 13hình nhiệm vụ mới, “Cơ quan thuế xuất nhập khẩu “ từ Bộ Tài chính chuyển sang Bộ Công thương
2.1.3 Thời kỳ cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975- 1986):
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-04-1975), thống nhất đất nước, cả nước bước vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc XHCN”, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, có không ít khó khăn Bọn phản cách mạng và các thế lực thù địch tiến hành kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt đối với nước ta, tập trung phá hoại nền kinh tế và chính trị còn non trẻ Trước tình hình đó, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trên lĩnh vực công tác này, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định nhiều biện pháp cấp bách, trong đó có việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác của nhân dân, đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, tăng cường kiểm soát ở cửa khẩu biên giới, tổ chức lại việc phối hợp các lực lượng kiểm soát ở vùng biên giới… thành lập Tổng cục Hải quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng để giúp Chính phủ quản lý công tác hải quan
Bộ máy Hải quan Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ Trung ương xuống cơ sở Cán bộ, nhân viên hải quan được Nhà nước cấp trang chế phục thống nhất, có phù hiệu, chứng minh hải quan… là công cụ chuyên chính bán vũ trang của Đảng và Nhà nước Hải quan Việt Nam có thang lương riêng, được hưởng thâm niên công tác và các chế độ khác… như Công an Nhân dân
Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định chuyển sự theo dõi, quản lý Tổng cục Hải quan từ Khối Kinh tế sang khối Nội chính, do Ban Nội chính Trung ương phụ trách
2.1.4 Thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập (1986 đến nay):
Trong sự nghiệp đổi mới, để đảm bảo thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế- xã hội, giao lưu hợp tác văn hóa với nước ngoài, góp phần tăng cường sự giao lưu hợp tác quốc tế bảo vệ lợi ích chủ quyền an ninh quốc gia, Hội đồng Nhà nước ban hành “Pháp lệnh Hải quan” theo lệnh số 32/LCT/HĐNN8 ngày 24-02-1990, nhằm khẳng định vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bảo vệ tổ quốc giữ vững an ninh quốc gia, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế trong thời kỳ mới
Chính phủ, bằng Nghị định số 16/CP ngày 07-03-1994, qui định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy của Hải quan Việt Nam với 4 nhiệm vụ chủ yếu; xác định tên gọi là Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Chính phủ, có hệ
Trang 14thống tổ chức dọc 3 cấp: Trung ương (Tổng cục Hải quan), tỉnh, liên tỉnh, thành phố (cục Hải quan) và cấp cơ sở (Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan)
Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phân tích và khẳng định tính cách mạng, tính chiến đấu và tính quần chúng của công tác hải quan trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thới giao nhiệm vụ cho Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Tổng cục Hải quan phát triển nghiên cứu đề xuất với Đảng và Nhà nước về chủ trương, phương hướng và đề án cụ thể về tổ chức ngành Hải quan, bao gồm cả việc tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng Hải quan, để đảm bảo cho Hải quan Việt Nam thực sự là người: “Chiến sĩ cách mạng, gác cửa nền kinh tế đất nước”
2.2 Công tác quản lý hải quan:
2.2.1 Một số thành tựu đạt được:
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa VII) ngày 16-01-1995 và nghị quyết 38/CP ngày 04-05-1994 của Chính phủ, về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính,
“cải cách thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận và giải quyết công việc của công dân và tổ chức”; căn cứ thực tiễn hoạt động hải quan thời gian qua cũng như yêu cầu mới đặt ra cho công tác hải quan trong thời gian tới, ngành Hải quan đã xây dựng đề án, đề ra các giải pháp đồng bộ và xác định mục tiêu, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan Quá trình thực hiện được sự phối hợp chặt chẽ của Văn phòng Chính phủ, các Bộ ngành hữu quan, cùng với sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, toàn ngành Hải quan đã tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đat nhiều thành tích mới trên các mặt công tác chủ yếu sau:
Công tác thống kê nhà nước về hải quan được tiến hành tích cực, nhưng chủ yếu tác nghiệp bằng phương pháp thủ công nên năng suất, chất lượng công tác có phần hạn chế
Công tác kiểm tra thu thuế XNK được triển khai thực hiện ráo riết, từ thu thuế XNK phi mậu dịch đến thuế XNK hàng mậu dịch theo Luật thuế XK, thuế
NK Qua hơn 7 năm (1992 - 1998) thi hành luật thuế XK, thuế NK, nhất là qua hơn 6 năm (1994 - 2000) thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật thuế
XK, thuế NK đã thu được kết quả đáng khích lệ
Thông qua công tác giám sát, quản lý, kiểm tra thu thuế XNK và kiểm soát hải quan đã thực hiện được sự quản lý, kiểm soát của nhà nước đối với hoạt động XNK, góp phần bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất – kinh doanh XNK
Trang 15 Biểu thuế, biểu giá tính thuế được xây dựng trên cơ sở vận dụng danh mục hàng hóa sắp xếp theo hệ thống hài hòa trong mô tả và mã hóa (HS) của tổ chức hải quan thế giới (WCO) và giá tính thuế vận dụng theo một số nguyên tắc về giá trị của GATT/WTO góp phần đảm bảo thu đúng, thu đủ, chống thất thu, tạo điều kiện trao đổi thông tin thương mại, tiến tới mở rộng hợp tác quốc tế về thuế quan và mậu dịch
Bảng 2.1: Kết quả thống kê về kim ngạch và khoản thuế xuất nhập khẩu thu nộp ngân sách của Hải quan Việt Nam từ 1995 - 2000:
(tỷ USD)
% tăng so với năm trươc
Số thu (Tỷ VNĐ)
% tăng so với năm trươc
(Số liệu thống kê Cục thống kê – Tổng cục Hải quan)
Công tác đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới được đẩy mạnh, tăng cường kiểm tra, kiểm soát trên các tuyến biên giới và địa bàn trọng điểm, kết quả từ 12-1994 đến 12-2000 lực lượng Hải quan đã phát hiện 66.854 vụ buôn lậu,vi phạm pháp luật hải quan, tịch thu rất nhiều tang vật, trị giá hàng lậu bị xử lý tịch thu ước tính khoảng 1.694.600.000.000 VNĐ; bắt giữ 47,21 kg Heroin, 144,2 kg thuốc phiện, 6.670
kg cần sa và rất nhiều loại vũ khí, tài liệu phản động, ấn phẩm đồi trụy…
Công tác giám sát quản lý về hải quan đã tiến hành thủ tục thuận lợi, nhanh chóng, đúng chính sách, pháp luật cho hàng hóa XNK, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển trao đổi thương mại với các quốc gia trên toàn thế giới, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư
Bảng 2.2: Kết quả tiến hành thủ tục hải quan (1998 – 2000):
103.883 4,1
50
131.932 4,9 63,5
147.764 7,01 88,9
383.579 23,05 202,4
(Số liệu thống kê Cục thống kê – Tổng cục Hải quan)
Trang 16Bảng 2.3: Tỷ lệ tăng bình quân:
(Số liệu thống kê Cục thống kê – Tổng cục Hải quan)
Đồng thời nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách, cơ chế quản lý XNK, XNC phù hợp với cơ chế mới như:
2.2.1.1 Cải tiến việc cấp giấy phép hải quan:
Nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục giấy tờ, giảm bớt sự vụ ở tổng hành dinh, tăng cường vai trò quản lý của Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Hải quan cửa khẩu, Tổng cuc Hải quan đã bãi bỏ việc cấp giấy phép hải quan đối với hàng hóa XNK đã có giấy phép của cơ quan quản lý chuyên ngành (văn hóa, y tế, lâm nghiệp…) và đối với các trường hợp xuất nhập khẩu hàng mẫu, vât phẩm quảng cáo, hàng tiếp tế, quà biếu, hành lý vượt tiêu chuẩn miễn thuế; bỏ giấy phép miễn thủ tục hải quan các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ
Quá trình thực hiện chủ trương trên đã góp phần giảm phiền hà, tạo thông thoáng, thuận tiện cho hoạt động XNK, XNC, nâng cao hiệu lực quản lý hải quan, tạo ra phong cách làm việc mới, có hiệu quả hơn, được đông đảo khách hàng trong và ngoài nước, cũng như nội bộ ngành Hải quan đồng tình, ủng hộ Thực tế trên cho thấy việc bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép XNK hàng hóa thuộc thẩm quyền Tổng cục Hải quan không đơn thuần về thủ tục hành chính Nó găn kết với nhiều khâu, đòi hỏi cần tiến hành đồng bộ với các biện pháp nghiệp vụ khác, đi liền với công tác tổ chức, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Tổng cục, mới có thể hoàn thiện và đem lại hiệu quả thiết thực hơn
2.2.1.2 Thành lập mới các đơn vị hải quan quản lý các địa bàn và loại hình XNK mới
Trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập, hoạt động XNK ở nước ta trong những năm qua phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều loại hình mới, đòi hỏi ngành Hải quan phải đổi mới phương thức tổ chức hoạt động và quản lý cho phù hợp
Những loại hình XNK mơí có xu hướng phát triển ra phạm vi cả nước trong đó tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm kinh tế – thương mại ở nội địa, thuận tiện về giao thông và đã hình thành các khu công nghiệp
Trang 17tâïp trung, khu chế xuất, cơ sở sản xuất, gia công hàng xuất khẩu, dịch vụ xuất nhập khẩu
Trước tình hình đó, từ cuối năm 1994 lại đây, để đáp ứng với sự phát triển của tình hình, để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước của mình, bộ máy thiết chế hành chiùnh hải quan được chính phủ cho phép thành lập thêm nhiều đơn vị hải quan từ cơ quan tham mưu giúp việc đến các đơn vị cơ sở, nhằm bám sát phục vụ, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan
a Thành lập các đơn vị hải quan quản lý hoạt động XNK ở nội địa
Trong chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu, hầu hết các tỉnh nội địa đều tổ chức và đẩy mạnh hoạt động XNK và đều có nhu cầu thành lập tổ chức hải quan để tạo thuận tiện, nhanh chóng trong việc làm thủ tục hải quan cho hàng hóa XNK, giảm phiền hà, bớt tốn kém tiền của và thời gian đi lại của các doanh nghiệp phải đến các tỉnh khác có tổ chức hải quan để làm thủ tục Nhằm đáp ứng nhu cầu đó, ngành Hải quan đã thành lập các tổ chức hải quan nội địa trực thuộc Cục Hải quan các tỉnh, thành phố gần đó, để phục vụ trực tiếp cho hoạt động XNK của địa phương tỉnh, thành đó hoặc để quản lý các loại hình XNK mới, vừa tinh giảm bộ máy, vừa đảm bảo chỉ đạo, chi huy tập trung, thống nhất của ngành, cụ thể là đã thành lập các đơn vị Hải quan Sơn La (thuộc Cục Hải quan Lai Châu), Yên Bái, Việt Trì, Hà Đông, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (thuộc Cục Hải quan thành phố Hà Nội), Diêm Điền, Hải Dương, Hưng Yên (thuộc Cục Hải quan Thanh Hóa), Hồng Lĩnh (thuộc Cục Hải quan Hà Tĩnh), Đà Lạt (thuộc Cục Hải quan Đắc Lắc), Tuy Hòa, Sa Kỳ (thuộc Cục Hải quan Bình Định) Như vậy đến hết năm 1998 cả nước đã có 45/61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có tổ chức hải quan
b Thành lập hải quan địa điểm thông quan nội địa (ICD)
Địa điểm thông quan nội địa (Inland Clearance Depot – ICD) là một loại hình giao nhận hàng hóa XNK và thông quan phổ biến trên thế giới Thực chất đây là điểm “nối dài” của cảng biển quốc tế vào sâu nội địa (còn gọi là “cảng khô”) để tiếp nhận và giải phóng hàng hóa do các công ty vận chuyển hàng hóa đường biển thực hiện theo phương thức container, đối với hàng nhập khẩu là container có cảng đích là ICD, đối với hàng hóa XK từ đó ra đi, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển thương mại và giao lưu quốc tế Kết quả cho thấy, ICD là loại hình hoạt động phù hợp với điều kiện ở nước ta và có hiệu quả
Hai năm 1999 – 2000 ICD Gia Thụy và ICD Thủ Đức đã làm thủ tục thông quan cho lượng hàng hóa đạt tổng kim ngạch XNK 1.14 tỷ USD, thu
Trang 181175.38 tỷ VNĐ tiền thuế XNK, phát hiện 881 vụ vi phạm pháp luật hải quan Trị giá hàng hóa vi phạm 23.14 tỷ VNĐ
Kết quả trên đã góp phần khẳng định chủ trương trong việc mở địa điểm thông quan nội địa (ICD) là phù hợp với điều kiện nước ta, góp phần thiết thực vào việc nâng cao khả năng tiếp nhận và giải phóng nhanh hàng hóa thông qua các cảng biển quốc tế vừa tạo thuận tiện, giảm phiền hà và tốn kém cho chủ hàng, vừa giảm bớt ùn tắc ở cửa khẩu, đảm bảo quản lý chặt chẽ của hải quan
c Thành lập hải quan kho ngoại quan
Kho ngoại quan là một hình thức dịch vụ XNK tạm thời lưu giữ, bảo quản hàng hóa từ nước ngoài, hoặc từ trong nước đưa vào kho để chờ xử XK, NK Sau một thời gian thí điểm, kho ngoại quan ở nước ta đã chính thức đi vào hoạt động và đã đạt hiệu quả khả quan Ngày 31.01.1992 Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ Tướng Chính Phủ) ra quyết định số 43/CT vể thí điểm thành lập và quản lý kho ngoại quan Sau 2 năm (1992 – 1993) hoạt động có hiệu quả, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 104 – TTG ngày 16.03.1994 ban hành quy chế kho ngoại quan và cho phép kho ngoại quan chính thức đi vào hoạt đôïng Tổng kết hoạt động 2 năm 1999 – 2000, 14 kho ngoại quan đã ký được 2.520 hợp đồng và tổng trị giá hàng qua kho là1.88 tỷ USD, thu 4.21 triệu USD và 15.7 tỷ đồng dịch vụ phí
Đến nay, có 14 Hải quan kho ngoại quan thuộc 5 Cục Hải quan tỉnh, thành phố Trong đó thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh (2), Cục Hải quan Đà Nẳng (2), Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh (4), Cục Hải quan Bà Rịa – Vũng Tàu (2)
d Thành lập hải quan khu chế xuất
Khu chế xuất theo khái niệm của các nhà kinh tế học, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng có thể chia thành hai loại:
Loại thứ nhất (theo nghĩa hẹp): khu chế xuất là một lãnh địa công nghiệp chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu, tách rời khỏi chế độ thương mại và thuế quan của một nước và áp dụng chế độ thương mại tự do
Loại thứ hai (theo nghĩa rộng): các cảng tự do, khu mậu dịch tự do, liên hiệp hải quan, khu quá cảng, kho quá cảng, khu công nghiệp tự do, đặc khu kinh tế là những thiết chế có đặc trưng bản chất tương đồng vơi khu chế xuất
Mầm móng khu chế xuất xuất hiện ở Châu Á – Thái Bình Dương từ hồi đầu thế kỷ XIX, với các “hải cảng tự do”, khu chế xuất (theo nghĩa hẹp) được thành lập đầu tiên ở Đài Loan vào cuối năm 1996 Đầu năm 1984 đã có 29 khu chế xuất được xây dựng ở nước 7 nước trong khu vực
Trang 19Ơû Việt Nam, khu chế xuất được xác định là khu công nghiệp tập trung chuyên sản xuất hàng XK và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng XK và NK Khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung tại TP Hồ Chí Minh được thành lập đầu tiên vào năm 1991 Tiếp đó là các khu chế xuất và công nghiệp Đồ Sơn (Hải Phòng), Quảng Nam – Đà Nẳng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu Đến nay cả nước đã có 4 KCX và 60 khu công nghiệp tập trung và một khu công nghiệp cao được thành lập
Tuy nhiên, trên thực tế mới có một khu chế xuất và khu công nghiệp đi vào hoạt động chính thức Tổng cục Hải quan đã thành lâïp Hải quan khu chế xuất thuộc Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Hải quan các khu công nghiệp Hòa Khánh – Tiên Châu (Đà Nẳng), Sóng Thần, Việt Hưng (Bình Dương), Nhơn Trạch, Song Mây (Đồng Nai) để quản lý các hoạt động này
e Thành lập hải quan đướng sắt liên vận quốc tế
Đường sắt là phương tiện vận tải kinh tế nhất, với giá thành thấp hơn nhiều so với các loại phương tiện vận tải khác, nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đầu tư xây dựng và khai thác triệt để loại phương tiện vận tải này
Ơû nước ta, cách đây hơn 43 năm, ngày 01.08.1955 đã khánh thành đướng sắt liên vận đầu tiên Việt Nam – Trung Quốc, nối liền hệ thống đường xe lửa của ta với hệ thống đường xe lửa của các nước XHCN, phục vụ việc đi lại và vận tải hàng hóa giữa các nước trong cộng đồng
Sau khi bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc, chính phủ ta và chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã ký hiệp định thương mại và hiệp định tạm thời giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nước (07.11.1991) và một số các hiệp định khác liên quan đến thương mại
Ngày 12.02.1996 tuyến đường sắt liên vận Việt Nam – Trung Quốc chính thức được khôi phục hoạt động trở lại
g Thành lập thêm một số đơn vị chống buôn lậu và nghiệp vụ khác để nâng cao khả năng công tác và quản lý ở cơ sở
Cùng với chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa XNK, phương tiện vận tải XNC, công tác đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới là chức năng và là một trong bốn nhiệm vụ chủ yếu của Hải quan Việt Nam
Do đó, để nâng cao năng lực quản lý và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống buôn lậu, ngành Hải quan đặc biệt chú trọng tăng cường lực lượng, phương tiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở cơ sở
Trang 20Trong những năm qua, Tổng cục Hải quan đã thành lập các Phòng Điều tra chống buôn lậu, Phòng Kiểm tra thu thuế XNK tại hầu hết các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, thành lập 3 đội chống buôn lậu ma túy và 4 đội tàu tuần tra cao tốc thuộc cục điều tra chống buôn lậu (Tổng Cục Hải quan) Các đơn vị này đã thực sự là những mũi nhọn thọc sâu, đánh trúng một số vụ vận chuyển ma túy lớn và thực sự là phương tiện răn đe có hiệu quả, góp phần xóa bỏ các tụ điểm buôn lậu trên biển Đầu năm 1999, ngành hải quan đã tổ chức các hải đội tàu cao tốc để tăng cường lực lượng chống buôn lậu trên biển Lực lượng điều tra chống buôn lậu đã và đang ngày càng tăng lên trong biên chế toàn ngành Hải quan
h Thành lập thêm các đơn vị tham mưu giúp việc và các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc tổng cục trưởng để nâng cao khả năng nghiên cứu, chỉ đạo, chỉ huy và quản lý của ngành
Nhận rõ tầm quan trọng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi chung của toàn ngành, Tổng cục Hải quan đã đề nghị và được chính phủ cho phép thành lập thêm một số đơn vị tham mưu giúp việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước như: Cục Kiểm tra thu thuế XNK, Vụ Pháp chế, Vụ Quan hệ quốc tế và các đơn vị sự nghiệp phục vụ công tác chỉ đạo, chỉ huy như Trung tâm tin học – thống kê, Viện Nghiên cứu khoa học Hải quan, Trường Cao đẳng Hải quan, Tạp chí Hải quan, công ty Nam Hải và Báo Hải quan
Như vậy, đến nay toàn ngành Hải quan có 14 vụ, cục, đơn vị trực thuộc Tổng cục, 30 Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 151 đơn vị Hải quan cơ sở, trong đó có 102 đơn vị Hải quan cửa khẩu, 49 Đội kiểm soát chống buôn lậu (thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố)
i Quy định chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của hải quan các cấp nhằm xây dựng nề nếp chính quy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
Để đạt mục tiêu, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, cùng với việc cải tiến quy chế, quy trình thủ tục hải quan, Tổng cục Hải quan đã tập trung chỉ đạo xây dựng chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng đơn vị trong toàn ngành, nhằm xây dựng nề nếp chính quy, nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới
Đến nay, hầu hết các đơn vị Hải quan trong toàn ngành đã đi vào hoạt động theo chức năng nhiệm vụ được quy định thống nhất cho từng cấp
Cấp vụ, cục, viện, nhà trường và đơn vị tương đương
Cấp Phòng và tương đương
Cấp Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát và tương đương
Trang 21Quá trình thực hiện các quy định trên, những việc làm chồng chéo, thụ động, ỷ lại, dựa dẫm nhau đã giảm nhiều, tính chủ động, tinh thần phối kết hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc hàng ngày được đề cao và nâng lên từng bước Nhờ đó, chất lượng, hiệu quả công tác ở từng đơn vị, cá nhân có chuyển biến, tiến bộ nhiều so với trước
2.2.1.3 Phân luồng hàng hóa, hành lý, làm thủ tục hải quan đảm bảo kiểm tra trọng điểm, thông quan nhanh chóng
2.2.1.3.1 Áp dụng phân luồng “xanh”, “đỏ” đối với khách nhập cảnh tại
ga nhập ở cửa khẩu sân bay quốc tế
- Bố trí lực lượng, mặt bằng làm việc của hải quan
Quá trình theo dõi cho thấy trong lưu lượng khách nhập cảnh có khoảng
70 – 80% không có ngoại hối, hàng hóa phải khai báo, còn lại khoảng 20 – 30% có ngoại hối, hàng hóa phải khai báo Do đó, việc bố trí lực lượng, mặt bằng làm việc để thực hiện phân luồng “xanh”, “đỏ” đã được áp dụng theo công thức 3/1 hoặc 4/1 (yêu cầu bố trí lực lượng, mặt bằng làm việc cho luồng “xanh” là 3 hoặc 4, luồng “đỏ” là 1)
- Xây dựng quy trình thủ tục liên hoàn và trang bị kỹ thuật hỗ trợ
Để tạo thuận tiện cho khách, hợp lý hóa thao tác nghiệp vụ, giảm bớt sự
di chuyển không cần thiết cho cán bộ, nhân viên hải quan, kiểm tra quản lý được chặt chẽ, đã nghiên cứu bố trí liên hoàn từ khâu tiếp nhận tờ khai, kiểm tra bằng máy soi, xác nhận kết quả kiểm hóa tại máy đến khâu “kiểm tra kỹ”
- Phối hợp các lực lượng kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu
Tại khu vực làm thủ tục hải quan, ngoài lực lượng kiểm tra, giám sát công khai, còn bố trí lực lượng trinh sát bí mật, giám sát và tiếp cận đối tượng Các lực lượng này tiếp nhận thông tin và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trưởng Hải quan cửa khẩu Những dấu hiệu nghi vấn hoặc những hành vi vi phạm được phát hiện từ bàn đăng ký, tiếp nhận tờ khai qua máy soi hành lý, hệ thống camera, hoặc qua các lực lượng giám sát máy bay, sân đỗ, nhà ga đều được báo cáo về trung tâm chỉ huy, đảm bảo ngăn chặn, hạn chế kịp thời những hành vi phạm pháp luật
- Kết quả thực hiện phân luồng “xanh”,”đỏ”
Sau 6 năm (1994 – 2000) thực hiện phân luồng “xanh”, “đỏ” đối với khách nhập cảnh tại sân bay quốc tế đem lại hiệu quả thiết thực trên nhiều mặt Tạo được thông thoáng, văn minh, lịch sự ở cửa khẩu, giảm được phiền hà, tiêu cực Đảm bảo kiểm tra, quản lý chặt chẽ, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành
vi vi phạm chính sách, pháp luật vể hải quan
Trang 22Thủ tục hải quan đơn giản, thuận tiện từ việc khai báo đến việc kiểm tra hành lý theo một trình tự hợp lý Trung bình khoảng 70 – 80% khách nhập cảnh
đi luồng “xanh”, giảm được 2/3 số thời gian khách phải chờ đợi làm thủ tục cho một chuyến bay (250 khách, từ 90 –120 phút, còn 30 – 40 phút) Nếu khách khai đúng và không phát hiện nghi vấn thì chỉ sau vài phút hành khách có thể ra khỏi nhà ga Không còn cảnh chen chúc, chờ đợi lâu, tạo cảm giác văn minh, dễ chịu cho khách
Nhờ tinh thần cảnh giác, ý thức, trách nhiệm, kinh nghiệm công tác và phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp nghiệp vụ nêu trên, hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất đã phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi lợi dụng đi luồng “xanh” để mang hàng cấm, hàng vượt tiêu chuẩn hành lý miễm thuế, hoặc đi luồng “đỏ” nhưng không khai báo hải quan bằng nhiều thủ đoạn tinh vi
2.2.1.3.2 Phân luồng “xanh”, “vàng”, “đỏ” đối với hàng hóa kinh doanh XNK tại các địa điểm thông quan mới theo đề án cải cách thủ tục hải quan đã được chính phủ phê duyệt
Để thực hiện đề án “cải cách thủ tục hải quan ở cửa khẩu” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tổng cục hải quan đã cho phát hành sách và tờ hướng dẫn thủ tục hải quan đối với các loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quy định việc thực hiện quy trình nghiệp vụ hải quan, cải cách hành chính trong thủ tục hải quan
Nội dung các văn bản chỉ đạo của tổng cục hải quan tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
- Tờ hướng dẫn thủ tục hải quan đối với các loại hàng hóa XNK gồm 6 loại mẫu được niêm yết công khai tại địa điểm làm thủ tục hải quan
Trong nội dung các mẫu trên đều thông báo rõ việc khai báo, đăng ký tờ khai hải quan, danh mục hồ sơ chủ hàng phải nộp hoặc xuất trình cho hải quan, trình tự kiểm tra hàng hóa, tính thuế, thu thuế và kết thúc thủ tục Tiền mua tờ khai, mua seal để niêm phong container, và số điện thoại của lãnh đạo hải quan các cấp để tiện việc liên lạc, giải đáp thắc mắc hoặc tiếp nhận các hành vi nhũng nhiễu của nhân viên hải quan để có biện pháp xử lý, chấn chỉnh kịp thời
- Phân luồng hàng hóa, ấn định thời gian làm thủ tục được nhanh chóng, thuận tiện
Loại hàng hóa”cửa xanh”: là hàng không có thuế (thuế suất 0 %), hàng đầu tư liên doanh và hàng xuất khẩu, thời gian làm thủ tục tối đa 4 tiếng
Trang 23Loại hàng qua “cửa vàng”: là hàng có thuế, thời gian làm thủ tục tối đa 8 tiếng
Loại hàng qua “cửa đỏ”: là hàng vướng mắc về chính sách, thủ tục giấy tờ của các bộ, ngành chức năng hoặc chủ hàng hay vi phạm, gian lận, trốn thuế, phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ và phải hoàn tất mọi thủ tục mới được giải phóng hàng
- Thành lập đội đặc nhiệm để đảm nhiệm việc kiểm tra có trọng điểm và xử lý sai phạm kịp thời, tại chồ
Tổng cục hải quan thành lập 2 đội đặc nhiệm, thường xuyên có mặt tại 2 khu vực cảng Hải Phòng và cảng Sài Gòn để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm của tổ chức, cá nhân, nhằm ngăn ngừa, hạn chế những biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực hoặc làm chậm trễ việc giải phóng hàng hóa gây khó khăn phiền phức cho các doanh nghiệp XNK và đầu tư
Nhờ áp dụng các biện pháp trên, qua 4 tháng (từ tháng 03 – 06.1998) thí điểm cải cách thủ tục hải quan ở cửa khẩu cảng Hải Phòng và cảng Sài Gòn, đã đạt được kết quả bước đầu như sau:
Khoảng 45 – 50% lượng hàng hóa đăng ký làm thủ tục qua “cửa xanh” Thời gian giải phóng 1 lô hàng mất khoảng 1 – 3 giờ (qui định 4 giờ)
Khoảng 35 – 40% lượng hàng hóa đăng ký làm thủ tục qua “cửa vàng” Thời gian hoàn thành thủ tục giải phóng 1 lô hàng mất khoảng 4 –5 giờ (qui định 8 giờ)
Khoảng 5 –10% lượng hàng hóa đăng ký thủ tục qua “cửa đỏ” Thời gian hoàn thành thủ tục giải phóng 1 lô hàng phụ thuộc vào kết quả kiểm tra, giải quyết các vướng mắc đối với từng trường hợp cụ thể
Kết quả chung ở 2 cảng biển quốc tế lớn nói trên số hàng hóa được giải phóng ngay trong ngày chiếm khoảng 95 – 97% số tờ khai đã đăng ký, số còn lại (3 - 5%) chủ yếu do vướng mắc về cơ chế, chính sách quản lý do quy định của bộ, ngành chưa phù hợp nhưng chưa được tháo gỡ
2.2.2 Những mặt yếu kém bất cập:
2.2.2.1 Hệ thống văn bản qui phạm pháp luật hải quan còn thiếu đồng bộ nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý mới:
Đường lối đổi mới chính sách “mở cửa” xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ hội cho kinh tế đối ngoại, hoạt động XNK, đầu tư, du lịch… phát triển mạnh mẽ, với nhiều loại hình mới như: đầu tư
Trang 24nước ngoài và đầu tư trong nước, gia công cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công, kho ngoại quan, khu chế xuất, khu công nghiệp…Các hoạt động trên đòi hỏi phải nhanh chóng tháo gỡ những ách tắc, tạo ra thông thoáng vừa giải phóng nhanh hàng hóa, phương tiện vận tải phục vụ sản xuất, đời sống kịp thời, vừa quản lý chặt chẽ, đúng chính sách, pháp luật Trong khi đó, hệ thống văn bản qui phạm pháp luật hải quan còn thiếu đồng bộ và chưa sát thực tế, nhất là còn rườm rà, chồng chéo nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời, có nhiều điều chưa được qui định phù hợp với cơ chế quản lý mới để tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động XNK, đầu tư, du lịch… phát triển theo kịp đà phát triển nhanh nền kinh tế- xã hội đất nước và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Những vướng mắc, gây phiền hà, ách tắc trong hoạt động XNK, đầu tư…: + Về chính sách mặt hàng, cơ chế quản lý và chính sách thuế XNK chưa thể hiện ưu tiên đúng mức để khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, hàng gia công, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như: thị trường xuất khẩu còn hạn hẹp, cơ chế nhập nguyên liệu, xuất sản phẩm còn nhiều khó khăn, nhất là việc xác định mức tiêu hao nguyên phụ liệu; biểu xuất thuế, biểu giá chưa đủ khuyến khích và chưa thuận lợi cho việc tiến hành làm thủ tục XNK; Nhà nước qui định giá tối thiểu cho quá nhiều mặt hàng để tính thuế XNK, giá giao dịch trong hợp đồng chủ yếu có tính chất tham khảo, nếu hàng XNK chưa có giá trong biểu giá này thì phải tạm giữ hàng tại cửa khẩu chờ làm thủ tục xin giá từ cơ sở lên Hải quan tỉnh, Tổng cục Hải quan và lên Bộ tài chính để quyết định giá tính thuế…Do đó, nhiều doanh nghiệp XNK gặp khó khăn trong việc giải phóng hàng phục vụ sản xuất kinh doanh, và chính hải quan cũng rất khó khăn trong việc tiến hành thủ tục thông quan, luôn trở thành đối tượng trực tiếp của nhiều dư luận
Đối với hàng nhập khẩu, việc hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, hàng kỹ thuật cao…, vừa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, và khả năng sức mua của nhân dân trong khi ta còn thiếu hàng tiêu dùng, thu nhập dân
cư còn quá thấp, nguồn thu ngân sách Nhà nước còn hạn chế
+ Cơ chế quản lý hàng XNK phi thuế quan cứng ngắc bằng hạn ngạch, bằng quản lý chuyên ngành, nhất là cơ chế quản lý bằng thủ tục cấp giấy phép, kiểm tra chất lượng, bằng giám định gây phiền hà, ách tắc, đây cũng là nguyên nhân phát sinh tiêu cực tại các bộ chủ quản, cả ngành Hải quan, vừa là nguyên nhân dẫn đến một số doanh nghiệp đối phó bằng buôn lậu, gian lận thương mại
+ Thủ tục hải quan còn rườm rà, có quá nhiều khâu, nhiều cửa; mặt bằng tiến hành thủ tục thông quan còn chật hẹp; bố trí địa điểm chưa hợp lý, buộc chủ hàng đi lại nhiều lần, phần lớn khâu nghiệp vụ tác nghiệp còn thực hiện thủ công, chủ hàng tự luân chuyển hồ sơ hải quan, trực tiếp tiếp xúc với các bộ phận
Trang 25hoặc cá nhân hải quan vừa gây châm trễ, ách tắc, làm mất nhiều thời gian, gây tốn kém cho doanh nghiệp, vừa dễ nảy sinh móc ngoặc giữa chủ hàng và nhân viên hải quan để “ăn chia”, gian lận hàng hóa và thuế, làm thất thu ngân sách nhà nước
+ Pháp lệnh Hải quan xây dựng từ năm 1990 và các nghị đinh hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ban hành năm 1991 đến nay có nhiều điểm không phù hợp với tình hình mới, nhưng chưa được sửa đổi bổ sung; hiện nay mới đang trong quá trình xây dựng Luật Hải quan; còn một số nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chưa được ban hành nên hiệu lực Pháp lệnh Hải quan bị hạn chế
+ Công tác hải quan liên quan đến nhiều ngành luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia Hầu hết các ngành luật liên quan trực tiếp đến hoạt động hải quan chỉ mới được công bố trong 2 năm 1997 và 1998 như Luật Thương mại có hiệu lực từ 1-1-1998, Luật Ngân hàng có hiệu lực từ 1-10-1998, Luật Thuế GTGT và luật sửa đổi, bổ sung một số điều, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có hiệu lực từ 01-01-1999…; nhiều ngành luật khác nữa đến nay chưa được xây dựng Nhiều công ước quốc tế về trị giá hải quan, về phối hợp giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh chống buôn lậu… chưa được Nhà nước ta thông qua tham gia ký kết hoặc công nhận, đây cũng là những thiệt thòi lớn, hạn chế đến hoạt động của Hải quan nước ta trong khi Hải quan Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) từ năm
Hệ thống tổ chức bộ máy trên đã góp phần đảm bảo sự chỉ huy, tập trung thống nhất của ngành Hải quan, đồng thời tranh thủ được sự chỉ đạo, giúp đỡ và kiểm tra của cấp ủy, chính quyền và địa phương nơi có hải quan, đảm bảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hải quan được tổ chức triển khai và thực hiện có hiệu lực, hiệu quả
Tuy nhiên, do hệ thống tổ chức bộ máy Hải quan Việt Nam mới được chấn chỉnh, kiện toàn một bước, việc bố trí dàn trải theo cơ chế quản lý cũ, gắn với điạ giới hành chính, chưa tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu, địa bàn trọng điểm; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng cấp chưa được xác định rõ ràng; việc bố trí lực lượng trực tiếp làm thủ tục hải quan còn theo
Trang 26quyền hạn, trách nhiệm một cách cứng nhắc, hoặc còn chồng chéo, phân tán… nên có nơi, có lúc chưa đảm bảo nguyến tắc lãnh đạo chỉ đạo tập trung, thống nhất ngành, nhất là đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, đối với công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Lề lối làm việc vẫn theo nếp cũ, quan liêu, trì trệ, nhiều tiêu cực, chưa lấy mục tiêu thúc đẩy hoạt động XNK phát triển… làm mục tiêu hàng đầu
2.2.2.3 Đội ngũ cán bộ, công chức hải quan còn có những mặt hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ:
Đội ngũ cán bộ, công chức hải quan trong những năm gần đây được bổ sung, tăng bình quân hằng năm khoảng 10% Tính đến năm 1999 tổng biên chế ngành Hải quan khoảng 7.200 trong đó trình độ học vấn: đại học, trên đại học 44,35%; trung cấp 20,08%; sơ cấp 35,57% Trung bình hàng năm có khoảng 600 lượt cán bộ công chức hải quan tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức chung và bồi dưỡng nghiệp vụ, chiếm khoảng 10% biên chế toàn ngành Ngoài ra còn có hàng trăm lượt cán bộ, công chức hải quan theo học các lớp đại học chuyên ngành tại chức, và hàng chục cán bộ được lựa chọn cử đi đào tạo nghiệp vụ tại hải quan một số nước
Đánh giá chung đội ngũ cán bộ, công chức hải quan sau gần 10 năm thành lập Tổng cục Hải quan cho thấy:
+ Mặt mạnh:
- Trong điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, môi trường công tác phức tạp, thường xuyên tiếp xúc với hàng, tiền, cùng nhiều tác động tiêu cực, nhưng hầu hết cán bộ, công chức hải quan vẫn giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức vững vàng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Đại bộ phận cán bộ, công chức hải quan được rèn luyện thử thách trong chiến đấu Đội ngũ chủ chốt trưởng thành trong môi trường cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng, kiên định với đường lối đổi mới, tận tâm với công việc Số lưc lượng trẻ được đào tạo chính qui, cơ bản là lực lượng nòng cốt trong công cuộc thực hiện các mục tiêu cải cách và hiện đại hóa Hải quan Việt Nam Phần lớn có tinh thần phấn đấu vươn lên, có ý thức tìm tòi học hỏi, sáng tạo, cải tiến quản lý và thực nhiện vụ được giao tuy chưa ngang tầm nhưng bước đầu đáp ứng được một phần nhiệm vụ mới
+ Mặt yếu kém, tồn tại:
Những năm gần đây, do nhu cầu tăng cường biên chế để đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của công việc, một số đông cán bộ từ các ngành, các trường được tuyển dụng vào ngành Hải quan, nhưng chưa được đào tạo nghiệp vụ một cách hệ
Trang 27thống, nên bộc lộ nhiều hạn chế, lúng túng trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ và quản lý đơn vị
Một số cán bộ không chịu rèn luyện, tu dưỡng, thoái hóa về đạo đức, lối sốâng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn và những sơ hở trong cơ chế, chính sách quản lý để móc ngoặc với chủ hàng, tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại, sách nhiễu chủ hàng, làm sai chế độ chính sách để trục lợi, làm giàu bất chính Số ít,
do tham vọng cá nhân, kèn cựa địa vị, quyền lợi, viết thư nặc danh, tố cao sai sự thật, xuyên tạc với dụng ý xấu, làm mất uy tín đồng nghiệp, gây mất đoàn kết nội bộ Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt chưa đồng đều về kiến thức nghiệp vụ, một số năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong nền kinh tế mở cửa và hội nhập quốc tế dẫn đến việc cản trở và làm kém đi hiệu quả hoạt động của Ngành
Việc đào tạo, tái đào tạo đội ngũ cán bộ còn chưa được chú ý đúng mức, một số cán bộ công chức chạy theo bằng cấp, chạy theo ngành dễ học, chưa nỗ lực học tập trau dồi kiến thức một cách nghiêm túc, nên chất lượng, hiệu quả đào tạo chưa cao, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng cơ cấu ngành nghề Trình độ ngoại ngữ nói chung còn thấp, chưa được trang bị các kiến thức nâng cao trong quản lý kinh tế như kiến thức về quản trị rủi ro, quản trị thông tin, kiểm toán… nên khó khăn trong công tác và học tập kinh nghiệm của Hải quan quốc tế
Qua công tác kiểm tra, thanh tra từ năm 1995 đến nay, ngành Hải quan đã phát hiện, xử lý gần 900 trường hợp cán bộ, công chức hải quan mắc sai phạm kỷ luật Trong đó 270 trường hợp bị khiển trách, 320 bị cảnh cáo, 85 cách chức hạ lương, 80 buộc thôi việc, 142 khởi tố hình sự Những con số trên phần nào phản ảnh tình hình phức tạp trong công tác quản lý nhân sự trong ngành Hải quan Việt Nam
2.2.2.4 Chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động công tác hải quan vẫn còn hạn chế
Hằng năm, căn cứ nghị quyết của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ, Hải quan Việt Nam tập trung chỉ đạo toàn lực lượng nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Song nhìn chung chất lượng hiệu quả công tác còn hạn chế:
- Công tác giám sát, quản lý hàng năm tiến hành thủ tục cho khối lượng hàng hóa, tổng kinh ngạch XNK tăng bình quân 20-25% so với năm trước Nhưng trình độ nghiên cứu đề xuất chính sách, giải pháp quản lý, thức đẩy hoạt động XNK theo cơ chế mới còn hạn chế Việc làm thủ tục thông quan nhanh trong quản lý chặt chẽ còn bất cập, việc hướng dẫn thực hiện các chế độ chính sách, qui chế, qui trình nghiệp vụ, đặc biệt là kiểm tra chống sót lọt hàng lậu,