1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của NHTM Hoạt động của các NHTM có ổn định và phát triển hay không, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác hay không ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN HOÀNG NGÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 2CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó trong các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm
và nâng cao được thu nhập thực tế
Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể thường xuyên đưa ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay tốt hơn
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện ở hai khía cạnh sau:
- Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Chi phí thấp mang lại cho doanh nghiệp tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lực lượng cạnh tranh mạnh mẽ
- Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay quanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường Những khác biệt này
Trang 3có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, như: sự điển hình về thiết kế hay danh tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạng lưới bán hàng
1.1.3 Các yếu tố góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp
Lợi thế cạnh tranh là một trong những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc có thể huy động để có thể cạnh tranh thắng lợi Để có thể tạo được lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần nghiên cứu các yếu tố sau:
- Nguồn gốc sự khác biệt: So với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có gì vượt trội hơn về mặt giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chất lượng sản phẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối
- Thế mạnh của doanh nghiệp về cơ sở vật chất, nhà xưởng, trang thiết bị kỹ thật
- Khả năng phát triển sản phẩm mới, đổi mới dây chuyền công nghệ, hệ thống phân phối
- Khả năng tiếp thị: Nhiều doanh nghiệp thành công nhờ vào việc cố gắng cung cấp nhiều giá trị hơn cho khách hàng, phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ và phân phối sản phẩm
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm chung về năng lực cạnh tranh của NHTM
Trang 4Trong bài viết “Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” tác giả Đỗ Thị Minh Đức đã đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của các NHTM như sau : “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với NHTM khác” Như vậy, đây là một yếu tố năng động, luôn được đặt trong sự phát triển liên tục Các lợi thế so sánh (hiện có và được tạo ra) chỉ là những yếu tố tiềm năng, điều quan trọng là các lợi thế này phải được sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, đồng thời phải luôn đầu tư nhằm duy trì và tăng cường thêm năng lực một cách bền vững Ngoài ra, cạnh tranh là một hoạt động có chủ đích, do vậy năng lực cạnh tranh thường gắn liền với kết quả hoạt động cạnh tranh, tức là mức độ đạt được các mục tiêu cạnh tranh đã đặt ra
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy thì “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”
Với khái niệm này thì PGS.TS Nguyễn Thị Quy đã đề cập đến năng lực nội tại của một NHTM và mối quan hệ của nó với sự phát triển của của ngành ngân hàng trên
cơ sở tận dụng được lợi thế của mình nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn Mặt khác, khái niệm trên cũng thể hiện sự linh hoạt trong chiến lược cạnh tranh của NHTM khi thích nghi và tận dụng những sự thay đổi của môi trường kinh doanh
Từ những quan điểm trên, theo tôi, “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra, sử dụng và duy trì lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh, nhằm đứng vững và phát triển trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi” Nó bao gồm các yếu tố nội tại và ngoại sinh của ngân hàng tác động đến chiến lược cạnh tranh của ngân hàng
đó Từ đó, có thể tận dụng các cơ hội trên cơ sở phát huy lợi thế của mình, đồng thời
Trang 5cũng khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của NHTM
Hoạt động của các NHTM có ổn định và phát triển hay không, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác hay không phụ thuộc không chỉ vào bản thân các nguồn lực nội tại và hiện có của các ngân hàng như : tiềm lực tài chính, công nghệ, chất lượng đội ngũ nguồn nhhân lực, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như những đối thủ cạnh tranh của chính các ngân hàng đó là ai (các sản phẩm, dịch vụ thay thế), khả năng thâm nhập của các đối thủ như thế nào, mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại sẽ ra sao, các nguồn lực mà ngân hàng có để thích ứng với những thay đổi thế nào, chiến lược mà các ngân hàng sử dụng có phù hợp không, ngân hàng có khả năng thay đổi chiến lược cạnh tranh của mình không, có điều kiện của môi trường vĩ mô sẽ tác động như thế nào đến khả năng đó của các ngân hàng trước những thách thức và cơ hội mới
Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các NHTM:
Sơ đồ 1.1 : Hệ thống chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh nội tại của NHTM
SỨC CẠNH TRANH
- Địa điểm cung ứng mới
- Công nghệ tiên tiến
Trang 6- Chất lượng tài sản có : Đây là chỉ tiêu phản ánh “sức khoẻ” của ngân hàng, nó được thể hiện thông qua chỉ tiêu như : tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hoá của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn,
- Mức sinh lời : Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng Nó có thể được phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như : giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu lợi nhuận; tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA); các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tương quan với chi phí,
- Khả năng thanh khoản : Nó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán ngay, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM
1.2.2.2 Năng lực về công nghệ
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ ngày càng đóng vai trò như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ
Trang 7thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM,… mà còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý (MIS – Managerment Informtics System), hệ thống báo cáo rủi ro, trong nội bộ ngân hàng Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của ngân hàng Như vậy, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại
mà còn bao gồm cả khả năng đổi mới của công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế
1.2.2.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng và không thể thiếu của bất kỳ ngân hàng nào Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến và đổi mới Năng lực cạnh tranh
về nguồn nhân lực được thể hiện qua một số tiêu chí như : trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với ngân hàng
Trình độ, hay kỹ năng của người lao động là những chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên viên ngân hàng thường rất tốn kém cả về thời gian và công sức Hiệu quả của chính sách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng và cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng duy trì đội ngũ nhân sự chất lượng cao của một ngân hàng
Động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó của nhân viên ngân hàng cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không
1.2.2.4 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức
Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của ban lãnh đạo của một ngân hàng Năng lực quản lý thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của hội đồng quản trị đối với ban giám đốc; mục tiêu, động cơ, mức độ cam kết của ban lãnh đạo đối với việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng; chính sách tiền lương
và thu nhập đối với ban giám đốc; số lượng, chất lượng và hiệu lực thực hiện của các
Trang 8chiến lược, chính sách và quy trình kinh doanh cũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm toán kiểm soát nội bộ trong ngân hàng
Năng lực quản lý của ban lãnh đạo ngân hàng cũng bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức của NHTM Cơ cấu tổ chức là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cơ chế phân bố các nguồn lực của một ngân hàng Nó cho biết cơ chế phân bổ nguồn lực của một ngân hàng có phù hợp với quy mô, trình độ quản lý của ngân hàng; phù hợp với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không
Cơ cấu tổ chức thể hiện ở sự phân chia các phòng ban chức năng, các bộ phận tác nghiệp, các đơn vị trực thuộc, Hiệu quả của cơ chế quản lý không chỉ phản ánh ở
số lượng phòng ban, sự phân công phân cấp giữa các phòng ban mà còn phụ thuộc vào mức độ phối hợp giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến động của ngành hay của môi trường vĩ mô,
1.2.2.5 Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp
Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của các NHTM Hệ thống kênh phân phối của các NHTM thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác nhau và sự phân bố các chi nhánh theo lãnh thổ địa lý Việc triển khai công nghệ ngân hàng hiện đại đã rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam, vai trò của mạng lưới chi nhánh rộng khắp vẫn rất quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện sản phẩm, dịch vụ truyền thống của ngân hàng vẫn còn phát triển
Mức độ đa dạng hoá các dịch vụ cũng là một chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Một ngân hàng có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp phù hợp với nhu cầu của thị trường sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hoá các dịch vụ một mặt tạo cho ngân hàng phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép ngân hàng phát huy lợi thế nhờ quy mô Tuy nhiên, sự đa dạng hoá các dịch vụ cần phải thực
Trang 9hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng Nếu không, việc triển khai quá nhiều dịch vụ có thể làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực
1.2.2.6 Mức độ cạnh tranh và khả năng hợp tác giữa các ngân hàng thương mại trong nước
Cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Sự cạnh tranh lành mạnh và hợp tác hiệu quả giữa các ngân hàng trong nước là nền tảng để tạo sức mạnh của hệ thống ngân hàng và quyết định năng lực cạnh tranh quốc tế của các NHTM trong nước
Đánh giá về vấn đề cạnh tranh và hợp tác giữa các ngân hàng trong nước cần làm rõ nhưng không giới hạn ở những nội dung sau :
- Chính sách về cạnh tranh và các quy định pháp lý về cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước là điều kiện hết sức quan trọng để đảm bảo sự bình đẳng và lành mạnh trong cạnh tranh Sự bình đẳng và lành mạnh trong cạnh tranh đến lượt mình lại là nền tảng tạo động lực vươn lên mạnh mẽ cho từng ngân hàng trong nước nhằm khẳng định mình, đồng thời thôi thúc các ngân hàng khác cũng vươn lên
- Đánh giá về số lượng các ngân hàng trong nước trong tương quan với quy mô ngành là một phân tích cần thiết cho thấy số lượng các ngân hàng hiện có là nhiều hay
ít so với quy mô của ngành
- Đặc điểm về cạnh tranh giữa các ngân hàng là yếu tố quan trọng hơn quyết định sự lành mạnh của môi trường cạnh tranh Đặc điểm về cạnh tranh thể hiện ở sự đa dạng của chiến lược cạnh tranh của các ngành trong nước, các phương pháp và phương thức cạnh tranh cụ thể
- Sự hợp tác giữa các ngân hàng trong nước cũng là một cơ sở để tạo ra lợi thế cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước đối với các ngân hàng nước ngoài cũng như việc cạnh tranh ra thị trường quốc tế Theo quan điểm của Micheal Porter, đánh giá về
Trang 10sự hợp tác giữa các đối thủ cạnh tranh trong nước bao gồm việc đánh giá các chỉ tiêu như hình thức hợp tác, phương thức hợp tác, tính chất hợp tác và hiệu quả hợp tác
1.3 Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình mở cửa để đưa hệ thống ngân hàng trong nước hòa nhập với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng không còn bó hẹp trong phạm vi một nước, một khu vực mà mở rộng trên phạm vi toàn cầu Hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo quy luật thị trường và các nguyên tắc kinh doanh quốc tế, hoạt động ngân hàng được thực hiện theo tín hiệu thị trường mà không bị ngăn chặn bởi các biện pháp quản lý hành chính, lãi suất, tỷ giá, hoạt động tín dụng… do thị trường quyết định
Quá trình hội nhập của hệ thống ngân hàng có thể hiểu là quá trình cải cách từng bước hệ thống ngân hàng xuất phát từ yêu cầu thực tế của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế quốc gia, vì có như vậy hệ thống ngân hàng mới có thể đảm nhiệm và phát huy được vai trò trung gian tài chính của mình trong bối cảnh nền kinh tế mới với nhiều biến động phức tạp của thị trường quốc tế nói chung và thị trường nội địa nói riêng
Thực hiện hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi chính phủ và NHNN phải xóa bỏ những ưu đãi, tiến tới cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng trong và ngoài nước Do đó, mức độ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ tự do hóa tài chính - tiền tệ Việc thực hiện tự do hóa tài chính - tiền tệ càng sâu rộng có hiệu quả thì việc hội nhập ngân hàng càng thuận lợi
Cho đến nay, cả lý luận và thực tiễn phát triển của các nền kinh tế thế giới đều khẳng định rằng: một quốc gia muốn tồn tại, phát triển ổn định và bền vững cần phải chủ động hội nhập quốc tế, đặc biệt là chủ động hội nhập thành công lĩnh vực tài chính ngân hàng – lĩnh vực nhạy cảm và trọng yếu của nền kinh tế quốc dân
1.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TRUNGQUỐC VÀ KHU VỰC
Trang 11Chính phủ Trung quốc đã đưa ra một tiến trình hội nhập quốc tế ngành ngân hàng một cách từ từ được hỗ trợ bằng các chương trình cải cách nhằm củng cố khu vực ngân hàng
Phương pháp hội nhập quốc tế “từ từ” của Trung Quốc bằng cách: giảm dần các hạn chế đối với sự tham gia và hoạt động của các NHNNg thông qua việc cho phép thành lập “mới” các ngân hàng 100% vốn nước ngoài và thong qua việc mua lại cổ phiếu của đối tác chiến lược Mở cửa cho phép các NHNNg tham gia vào thị trường trong nước với xu hướng cho phép các ngân hàng con tham gia nhiều hơn các chi nhánh
Để hội nhập thàng công, Trung Quốc luôn xác định ngoài việc đưa ra các chính sách tạo điều kiện cho hội nhập, cần tạo một môi trường trong nước thật hấp dẫn để tất
cả các ngân hàng (trong nước và ngoài nước) cùng phát triển Quá trình hội nhập “từ từ” nhưng đồng bộ và toàn diện của Trung Quốc chắc chắn sẽ giúp đất nước này có một hệ thống ngân hàng lành mạnh và hội nhập quốc tế
Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong quá trình cải cách,
mở cửa, hiện đại hóa đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới Việt Nam và Trung Quốc đều là những quốc gia đang phát triển, lực lượng kinh tế, trình độ văn hóa, hệ thống luật pháp còn có những hạn chế so với các nước phát triển; hai nước đều vừa phải trải qua thời kỳ thực hiện kinh tế kế hoạch tập trung, quá trình cải cách thể chế kinh tế theo hướng kinh tế thị trường mới bắt đầu; hai nước đều vừa phải trải qua thời kỳ đóng cửa tương đối về kinh tế, giao lưu kinh tế đối ngoại mới thực sự bắt đầu từ ngày chuyển sang cải cách mở cửa, chưa nhiều kinh nghiệm trong quan hệ quốc tế về kinh tế… do vậy , những kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình hội nhập rất có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng
Các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong hội nhập quốc tế về ngân hàng
Trang 12Thứ nhất, nhanh chóng xây dựng chiến lược, chiến thuật thích hợp để đảm bảo cho quá trình hội nhập ngân hàng thành công, mang lại lợi ích thật sự cho nền kinh tế Việt Nam
Thứ hai, xây dựng một môi trường pháp lý ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế Việt Nam và hệ thống ngân hàng phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế
- Tiến hành bước đầu rà soát, đối chiếu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam để xây dựng văn bản pháp luật cho phù hợp với các quy định cam kết
- Từng bước xoá bỏ các cơ chế bao cấp, bảo hộ đối với NHTM Việt Nam, đồng thời nới rộng dần các hạn chế đối với NHNNg
- Xây dựng khung pháp lý đảm bảo sân chơi bình đẳng, an toàn cho các loại hình NHTM trên lĩnh vực tín dụng, dịch vụ ngân hàng, đầu tư và các nghiệp vụ tài chính khác
- Từng bước thiết lập và áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ như: chuẩn mực về tỉ lệ an toàn trong hệ thống ngân hàng, phân loại, trích lập và sử dụng dự phòng bù đắp rủi ro, bảo hiểm tiền gửi, phá sản TCTD… thông qua việc tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản để môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế
Thứ ba, nâng cao vai trò của NHNN trong điều hành chính sách tiền tệ
- Hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp quá sâu của chính phủ, các cơ quan, tổ chức đối với các hoạt động của NHNN
- Tiếp tục hoàn thiện các công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp
- Đẩy mạnh và phát triển thị trường liên ngân hàng: Từng bước hoàn thiện thị trường tiền tệ thứ cấp, đặc biệt là thị trường liên ngân hàng về nội tệ và ngoại tệ Phát triển các công cụ tài chính của thị trường này, đặc biệt là các công cụ phái sinh như: forward, swap, option… Mở rộng thành viên tham gia giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cho tất cả các TCTD kể cả NHNNg
Trang 13Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các NHTM Việt Nam
- Nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam thông qua thực hiện tăng vốn tự có, cần tăng vốn tự có lên mức ngang bằng với các ngân hang trong khu vực (trên 1 tỷ USD) Tuy nhiên, việc nâng vốn tự có của các ngân hàng phải phù hợp với chiến lược tài chính của mình
- Giảm tỷ lệ nợ xấu bằng cách các ngân hàng phải thực hiện chặt chẽ quy trình cho vay, chấn chỉnh và thường xuyên kiểm tra, xử lý kịp thời rủi ro tín dụng, thực hiện các nghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro hữu hiệu Song song với việc phân loại nợ, cần nhanh chóng phối hợp với các công ty mua bán nợ của các ngân hàng và công ty mua bán nợ của Bộ tài chính để nhanh chóng làm sạch bảng cân đối Đây là cách mà các NHTM Trung Quốc đã thực hiện và đạt được kết quả
- Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để theo kịp với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và thế giới Việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng sẽ làm tiết giảm được thời gian, lao động phục vụ việc quản trị, điều hành, tác nghiệp cũng như phục vụ khách hàng nhanh chóng, thuận tiện hơn, đồng thời phát triển được nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại
- Mở rộng và nâng cao chất lượng danh mục sản phẩm dịch vụ Cho phép các ngân hàng thực hiện không hạn chế các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư và kinh doanh tiền
tệ mới, đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh tiền tệ, lãi suất, tỷ giá trên thị trường tài chính trong nước và quốc tế nhằm tối đa hóa cơ hội đầu tư và giảm thiểu rủi ro
- Nâng cao năng lực quản trị điều hành của NHTM, tăng cường tổ chức các khóa đào tạo dành riêng cho cán bộ quản lý theo từng cấp, lựa chọn cán bộ quản lý cấp cao đi đào tạo thực tập ở các ngân hàng nước ngoài, đổi mới mô hình tổ chức và quy chế điều hành theo hướng tăng quyền lực quản lý của hội đồng quản trị, nâng cao hơn nữa quyền tự chủ tài chính cho các NHTM
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Quy trình nghiên cứu
Trang 14Sơ đồ 1.2 : Quy trình nghiên cứu đề tài
Lấy thông tin vào bảng câu hỏiThiết kế bảng câu hỏi để phỏng vấn
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị
Nhập số liệu và xử lý số liệu trên phần mềm SPSS
Kết luận và nhận xét từ phân tích, xử
lý số liệu
Nội dung xử lý dữ liệu
- Kiểm định thang đo
- Đo lường sức cạnh tranh
- Phân tích hồi quy để xác định trọng số cho từng nhóm biến
Trang 15tranh của NHTM để xây dựng nên các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của NHTM
Các ý kiến được tập hợp và hoàn chỉnh để đưa vào bảng câu hỏi tập trung vào các mảng lớn như sau :
1 Tiềm lực tài chính & hiệu quả kinh doanh
2 Sản phẩm dịch vụ đa dạng thoả mãn khách hàng
3 Chất lượng nhân sự và trình độ chuyên nghiệp trong quản lý và điều hành NH
4 Công nghệ tiên tiến và khả năng khai thác sản phẩm thông qua công nghệ Xuất phát từ các nhân tố này, tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh nội tại của VCB thông qua những thông tin, dữ liệu thứ cấp để phân tích và đánh giá những tồn tại cũng như ưu thế mà VCB đang có Sau đó, sử dụng dữ liệu sơ cấp để xác định mô hình và sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sức cạnh tranh nội tại của VCB
1.5.3 Nghiên cứu định lượng
Được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp CBCNV của VCB thông qua bảng câu hỏi chi tiết được xây dựng sau quá trình nghiên cứu định tính Mục đích của bước nghiên cứu này là đo lường các yếu tố tác động đến sức cạnh tranh của VCB, đồng thời kiểm tra mô hình lý thuyết đặt ra
Mẫu nghiên cứu : mẫu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, kích thước mẫu là 250 phần tử, phân bố tại Hội sở, các chi nhánh của VCB trên địa bàn TP.HCM, theo độ tuổi, bộ phận làm việc, vị trí khác nhau
Để đạt kết quả tốt hơn, chúng tôi đã tiến hành bước thử nghiệm, phỏng vấn thử 25 người Sau đó thực hiện việc hiệu chỉnh một số câu hỏi chưa rõ hoặc yêu cầu thêm phỏng vấn viên về các thuyết phục người trả lời, đánh giá theo suy nghĩ của mình để hạn chế đến mức thấp nhất số câu hỏi bị bỏ trống
Trang 16Sau khi thực hiện phỏng vấn thử, chúng tôi đã phát 250 phiếu điều tra Kết quả thu về được 223 phiếu, kiểm tra sự phù hợp của các phiếu điều tra có 19 phiếu bị loại
bỏ vì chỉ có một lựa chọn duy nhất cho tất cả các câu hỏi hoặc bỏ trống quá nhiều Với
204 phiếu hoàn chỉnh được sử dụng, chúng tôi tiến hành việc cập nhật và làm sạch dữ liệu thông qua phần mềm SPSS 16.0
1.5.4 Xây dựng thang đo
Theo nội dung phân tích ở trên, chúng tôi đã rút ra 4 nội dung chủ yếu về nhân
tố năng lực nội tại áp dụng cho việc nghiên cứu, đánh giá sức cạnh tranh nội tại của VCB Sau khi điều chỉnh, thang đo về năng lực nội tại của VCB bao gồm 04 nhóm biến tiềm ẩn được chúng tôi mô tả cụ thể như sau :
- Tiềm lực tài chính và hiệu quả kinh doanh
Tiềm lực tài chính là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của NHTM Trong lĩnh vực ngân hàng tiềm lực về vốn tự có và hiệu qủa kinh doanh sẽ tác động đến uy tín và lòng tin của khách hàng cũng như đảm bảo khả năng thanh toán, mở rộng
và an toàn cho việc phát triển kinh doanh
- Sản phẩm dịch vụ đa dạng thoả mãn khách hàng
Trong kinh doanh ngân hàng, sự thoả mãn của khách hàng là yếu tố rất quan trọng bởi chỉ có khách hàng mới biết được chất lượng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng như thế nào Và điều này cũng tạo nên uy tín của ngân hàng
- Chất lượng nhân sự và trình độ chuyên nghiệp trong quản lý & điều hành NH
Để có thể thoả mãn khách hàng, trình độ chuyên nghiệp của đội ngũ nhân sự cũng như khả năng điều hành ngân hàng là yếu tố rất quan trọng Hiện nay, để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thì yếu tố nhân sự sẽ quyết định lợi thế cạnh tranh
- Công nghệ tiên tiến và khả năng khai thác sản phẩm mới từ công nghệ
Trang 17Đây là yếu tố đánh giá về khả năng cung cấp các loại sản phẩm mới của ngân hàng ra thị trường, cũng như khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến vào trong quá trình kinh doanh của ngân hang
Để đánh giá về năng lực cạnh tranh nội tại của VCB chúng tôi đã sử dụng một biến về năng lực cạnh tranh tổng thể của ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã đề cập đến các khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong bối cảnh toàn cầu hoá về dịch vụ tài chính, đồng thời trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Trong chương này cũng xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của NHTM thông qua cơ sở lý luận và ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng Từ đây, tác giả đã xây dựng thang đo Likert 5 bậc và thực hiện việc nghiên cứu với kích thức mẫu n = 204 Trong chương tiếp theo, tôi sẽ tổng hợp kết quả nghiên cứu của vấn đề và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của VCB
Trang 18CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức hoạt động ngày 2 tháng 6 năm 2008 (theo giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP ngày 23/5/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 2/6/2008) sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hoá thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày 26/12/2007
Trải qua 46 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank luôn giữ vững vị thế là nhà cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ
dự án… cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại như: kinh doanh ngoại tệ và các công cụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử… Vietcombank đang chiếm lĩnh thị phần đáng kể tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như : cho vay (~10%), tiền gửi (~12%), thanh toán quốc tế (~23%), thanh toán thẻ (~55%)… Với thế mạnh về công nghệ, Vietcombank là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng và không ngừng đưa ra các sản phẩm dịch vụ điện tử nhằm “đưa ngân hàng tới gần khách hàng” như: dịch vụ Internet banking, VCB-Money (Home banking), SMS Banking, Phone banking…
Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc với mạng lưới bao gồm 1 Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở giao dịch, hơn 300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty
Trang 19con tại Việt Nam, 1 công ty con tại Hồng Kông, 4 công ty liên doanh, 3 công ty liên kết, 1 văn phòng đại diện tại Singapore Bên cạnh đó VCB còn phát triển một hệ thống Autobank với 11.183 máy ATM và điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới 1.300 ngân hàng đại lý tại
100 quốc gia và vùng lãnh thổ
Với bề dày kinh nghiệm và đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, được đào tạo bài bản về lĩnh vực tài chính, ngân hàng, có kiến thức về kinh tế thị trường, trình độ ngoại ngữ, có khả năng thích nghi nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại và mang tính hội nhập cao…, Vietcombank vẫn luôn là sự lựa chọn hàng đầu cho các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp trong và ngoài nước cũng như của hơn 4 triệu khách hàng
cá nhân
Năm 2009 đánh dấu một bước phát triển đột phá trong hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, hơn 1 năm kể từ khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế cổ phần, Vietcombank đạt mức lợi nhuận kỷ lục kể từ khi thành lập đến nay (lợi nhuận trước thuế đạt 5.004 tỷ đồng) Hoạt động quản trị điều hành của Vietcombank cũng ngày càng linh hoạt và quyết liệt hơn, đưa ngân hàng phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và hiệu quả
Một năm đã đi qua với bao biến động, với muôn vàn gian khó nhưng cũng đã mang đến không ít những thành công
Tiếp nối đà suy thoái của năm 2008, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã tiếp tục suy giảm sâu trong nửa đầu năm 2009 nhưng rồi đã gượng dậy và dần hồi phục trong nửa cuối năm Nền kinh tế Việt Nam đã khá thành công khi đạt được mức tăng trưởng tương đối cao so với các nước trong khu vực (5,32%) trong khi vẫn giữ được lạm phát ở mức thấp (6,52%), FDI cam kết và giải ngân vẫn đạt mức cao, đời sống xã hội ổn định, … Gói kích thích kinh tế của Chính Phủ mà trọng tâm là chương trình hỗ trợ lãi suất đã mang lại những hiệu ứng tích cực cho hoạt động ngân hàng; nhưng
Trang 20những diễn biến phức tạp của lãi suất, tỷ giá, thanh khoản,… cũng khiến hoạt động của các ngân hàng gặp không ít khó khăn
Thực hiện phương châm “An toàn – Chất lượng – Tăng trưởng – Hiệu quả”, năm qua Vietcombank đã tiếp tục khẳng định vị thế là một ngân hàng có truyền thống lâu đời, hàng đầu tại Việt Nam và ảnh hưởng ngày càng tăng trên trường quốc tế
Các chỉ tiêu Đại hội cổ đông giao về cơ bản đã được Vietcombank hoàn thành tốt, tổng tích sản đạt 255,5 ngàn tỷ đồng, tăng 15,04% so với năm 2008, dư nợ tín dụng tăng 25,56%, huy động vốn từ nền kinh tế tăng 5,92%; chất lượng tín dụng được cải thiện đáng kể với tỷ lệ nợ xấu còn 2,47%; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 5.004 tỷ đồng, tăng tới 39,39% so với năm 2008 nâng suất sinh lời của vốn chủ sở hữu lên tới 23,7% Hệ thống mạng lưới của Vietcombank tiếp tục được mở rộng với 53 Chi nhánh
và Phòng Giao dịch mới, nâng tổng số Chi nhánh và Phòng Giao dịch lên 321 An toàn hoạt động được đảm bảo, hiệu quả công tác quản trị điều hành không ngừng được nâng cao Hoạt động đối ngoại ngày càng mở rộng và phát triển mang đến những cơ hội kinh doanh mới Cổ phiếu VCB đã được niêm yết và giao dịch tại SGD Chứng khoán T.p HCM, thông tin được đảm bảo công bố kịp thời, công khai, minh bạch
Bên cạnh chú trọng hoạt động kinh doanh, trong năm qua, Vietcombank cũng đã thực thi tốt những chỉ đạo của Chính Phủ, của NHNN, góp phần tích cực chống suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ; tích cực tham gia công tác an sinh xã hội và các hoạt động vì cộng đồng
Những kết quả trên một mặt thể hiện sự nỗ lực của gần 9.300 cán bộ nhân viên Vietcombank nhưng mặt khác cũng là kết quả từ sự tin cậy, gắn bó của hàng triệu khách hàng, của hơn 20 ngàn cổ đông; là kết quả của sự ủng hộ, quan tâm, tạo điều kiện của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp
2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Mô tả mẫu và làm sạch dữ liệu
2.2.1.1 Mô tả mẫu
Trang 21Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu theo 5 thuộc tính : Giới tính,
độ tuổi, bộ phận làm việc, thâm niên công tác và trình độ chuyên môn (Phụ lục 1)
- Về bộ phận làm việc
Trong tổng số 204 người được hỏi, khối dịch vụ chiếm 47,5%, khối tín dụng chiếm 28,9%, các phòng điểm giao dịch 8,8%, khối quản lý nội bộ chiếm 6,4% và bộ phận khác chiếm 8,3%
- Về thâm niên công tác
Từ 5-10 năm chiếm tỷ lệ 35,8%, có 73 người trả lời
Từ 3-5 năm có 64 người trả lời, chiếm 31,4%
Dưới 3 năm có 41 người trả lời, chiếm 20,1%
Trên 10 năm có 26 người trả lời, chiếm 12,8%
- Về trình độ chuyên môn
Về trình độ học vấn, số người được phỏng vấn
Phổ thông : 17 người, chiếm 8,3%
Trung cấp, cao đẳng : 21 người, chiếm 10,3%
Đại học : 141 người, chiếm 69,1%
Trên đại học : 25 người, chiếm 12,3%
2.2.1.2 Kết quả làm sạch dữ liệu
Trang 22Phương pháp thực hiện : sử dụng bảng tần số để rà soát lại tất cả các biến quan sát nhằm tìm ra các biến có thông tin bị sai lệch hay thiếu sót bằng công cụ phần mềm SPSS
Lệnh : Analyze -> Descriptive Statistics -> Frequencies
Kết quả thực hiện : sau khi thực hiện lệnh cho kết quả , thấy không có biến quan sát nào bị sai lệnh hoặc thiếu Vậy, dữ liệu có thể tiến hành các phân tích và kiểm định
2.2.2 Các kết quả kiểm định
2.2.2.1 Kiểm định thang đo
Mục tiêu và phương pháp thực hiện:
- Mục tiêu : xác định mức độ ảnh hưởng của các biến quan sát tới các biến tiềm
ẩn để loại bỏ những biến không đạt yêu cầu để thang đo có độ tin cậy thoả mãn điều kiện cho phép
- Phương pháp : Sử dụng công cụ phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha để loại các biến rác Các biến có hệ số tương quan biến –tổng nhỏ hơn 0,30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn để chọn thang đo khi nó có hệ số tin cậy Alpha đạt từ 0,6 trở lên Bên cạnh đó, khi xét độ tin cậy Cronbach Alpha, nếu biến quan sát nào bị loại mà làm cho hệ số Cronbach Alpha tăng lên chứng tỏ biến đó không cần thiết, cần loại bỏ
Sau đó phân tích nhân tố khám phá EFA với điểm dừng khi trích các yếu tố có Eigenvalue là 1 và phương sai trích từ 0,50 trở lên để lọc ra các biến phù hợp
Lệnh để thực hiện kiểm định trong SPSS 16.0
Độ tin cậy Cronbanch Alpha : Analyze -> Scale -> Reliability Analysis
Kết quả phân tích Cronbach Alpha của các thang đo cho thấy (phụ lục 2):
+ Thang đo tiềm lực tài chính và hiệu quả kinh doanh : Thành phần thang đo gồm
5 biến quan sát ký hiệu từ C.1 đến C.5 Hệ số tin cậy Alpha = 0,623 > 0,6 Các hệ số tương quan biến – tổng đều lớn hơn so với tiêu chuẩn cho phép (>0,3) Vì vậy, các biến này được chấp nhận
Trang 23+ Thang đo sản phẩm đa dạng thỏa mãn khách hàng : Thành phần thang đo gồm 6 biến quan sát ký hiệu từ C.6 đến c.11 Hệ số tin cậy Alpha = 0,650 > 0,6 Các hệ số tương quan biến – tổng đều lớn hơn so với tiêu chuẩn cho phép (>0,3) Vì vậy, các biến này được chấp nhận
+ Thang đo chất lượng nhân sự và trình độ chuyên nghiệp trong quản lý điều hành : Thành phần thang đo gồm 4 biến quan sát ký hiệu từ C.12 đến c.15 Hệ số tin cậy Alpha = 0,696 > 0,6 Các hệ số tương quan biến – tổng đều lớn hơn so với tiêu chuẩn cho phép (>0,3) Vì vậy, các biến này được chấp nhận
+ Thang đo công nghệ tiên tiến và khả năng khai thác sản phẩm mới : Thành phần thang đo gồm 3 biến quan sát ký hiệu từ C.15 đến c.18 Hệ số tin cậy Alpha = 0,662 > 0,6 Các hệ số tương quan biến – tổng đều lớn hơn so với tiêu chuẩn cho phép (>0,3)
Vì vậy, các biến này được chấp nhận
Tiếp theo, thực hiện việc kiểm định thang đo khám phá nhân tố EFA Nhân tố
khám phá EFA : Analyze -> Data Reduction -> Factor
Các biến có trọng số nhỏ hơn 0,5 sẽ tiếp tục bị loại (Othman & Owen, 2002) Phương pháp tính hệ số sử dụng Principal Components với phép quay Quatimaxs và điểm dừng khi trích các yếu tố Eigenvalue=1 Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích phải bằng hoặc lớn hơn 50% Kết quả phân tích EFA , cụ thể :
Với tổng số 18 biến độc lập (ký hiệu từ c.1 đến c.18) sau khi thực hiện Factor Kết quả được EFA gom lại thành 05 nhóm nhân tố, với giá trị tổng phương sai trích là 55,886%
Từ kết quả phân tích EFA, với 05 nhân tố và 18 biến đạt yêu cầu, được điều chỉnh
mô hình lại như sau (phụ lục 2 ):
(1) Nhân sự & điều hành (8 biến): c.10, c.12, c.13, c.14, c.15, c.16, c.17, c.18 (2) Tiềm lực tài chính (4 biến) : c.1, c.2, c.3, c.4
(3) Sản phẩm dịch vụ (2 biến) : c.7, c.8
(4) Hình ảnh thương hiệu (2 biến) : c.5, c.6
Trang 24(5) Giá cả & liên kết (2 biến) : c.9, c.11
Sơ đồ 2.1 : Mô hình lý thuyết được điều chỉnh theo EFA
Các giả thuyết trong mô hình :
5 : Nếu giá cả càng tăng thì sẽ làm cho sức cạnh càng giảm
Ta có phương trình tổng quát được xây dựng như sau
Trang 25NLCT : Năng lực cạnh tranh nội tại của VCB (được xem là biến phụ thuộc) Các biến độc lập là :chatluong (Chất lượng nhân sự và quản lý điều hành); taichinh (tiềm lực tài chình và hiệu quả hoạt động kinh doanh); sanpham (Sản phẩm đa dạng và khác biệt); thuonghieu (hình ảnh thương hiệu nổi tiếng); giaca (giá cả của sản phẩm dịch vụ)
2.2.2.2 Kết quả kiểm định mô hình
Phương pháp thực hiện : sử dụng công cụ hồi quy tương quan trong phần mềm SPSS để xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
Lệnh : Analyze -> Regression – Linear
So sánh giá trị cho thấy : Chất lượng sản phẩm và phục vụ là yếu tố quan trọng nhất trong, tác động lớn nhất đến năng lực cạnh tranh nội tại của VCB ( = 0,238) Mỗi sự thay đổi trong sản phẩm và cung cách phục vụ tốt lên thì sẽ tác động làm tăng năng lực cạnh tranh của VCB, cao hơn so với các yếu tố khác Thương hiệu (=0,164) ảnh hưởng khá mạnh đến năng lực cạnh tranh Một thương hiệu nổi tiếng và tạo được uy tín với khách hàng sẽ là yếu tố nâng cao sức cạnh tranh lên rất lớn của ngành dịch vụ Các yếu
tố khác như : hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như tiềm lực tài chính của ngân hàng (=0,88); Chất lượng nhân sự và hiệu quả trong quản lý điều hành ngân hàng ( = 0,76); và khi giá cả tăng lên làm cho sức cạnh tranh của ngân hàng giảm ( = -0,75)
Trang 26Như vậy, các giả thuyết H
1, H
2, H
3, H
4, H
5 đều được chấp nhận và chưa có cơ sở
để bác bỏ những giả thuyết này
Từ kết quả trên, phương trình hồi quy được xác định như sau :
Kết quả hồi quy cho thấy 05 thành phần đều tham gia vào mô hình Có sự ảnh hướng lớn nhất là : Sản phẩm đa dạng và có sự khác biệt thoả mãn nhu cầu của khách hàng, tiếp đến là thương hiệu mạnh; tiềm lực tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh; chất lượng nhân sự và kinh nghiệm, khả năng quản lý và điều hành và cuối cùng là yếu tố giá cả có tác động nghịch biến làm giảm sức cạnh tranh của ngân hàng
Mô hình hồi quy cũng đã thể hiện, yếu tố mà làm cho năng lực cạnh tranh ảnh hưởng nhiều nhất là sự đa dạng và khác biệt về sản phẩm, điều này phù hợp với tình trạng hiện nay khi mà các ngân hàng Việt Nam so với các ngân hàng nước ngoài thì số lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp quá ít cũng như tính chuyên nghiệp trong phục vụ chưa cao Bên cạnh đó thì thương hiệu chính là uy tín, lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng Những ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh và hiệu quả hoạt động tốt cũng là những nhân tố làm cho sự trung thành của khách hàng đối với ngân hàng tăng lên Tuy nhiên, một thực tế cho thấy khi mà giá cả các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh thì sẽ tác động ngược làm giảm sức cạnh tranh của ngân hàng
Kết qua nghiên cứu tương đối phù hợp với thực tế, nhưng kết quả đo lường năng lực cạnh tranh nội tại chỉ phản ánh đúng cho riêng NHTMCP Ngoại thương; đối với
Trang 27các ngân hàng khác, kết quả này chỉ mang tính tham khảo Nếu muốn có được kết quả chính xác thì công tác khảo sát phải được thực hiện lại trên quy mô của ngân hàng cần thực hiện đo lường
Từ những kết quả kiểm định trên, tôi sẽ đánh giá một cách chi tiết từng yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh nội tại của VCB trong phần 2.3 và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại của VCB trong quá trình hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay và sắp tới
2.3 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.3.1 Năng lực tài chính
2.3.1.1 Vốn chủ sỡ hữu
Vốn chủ sở hữu (còn gọi là vốn tự có) là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong qua trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại
Trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều rủi ro, những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng, đôi khi nó có thể dẫn ngân hàng đến bờ vực phá sản Khi đó vốn tự có sẽ giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh và đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên Trong một số trường hợp ngân hàng mất khả năng chi trả thì vốn tự có sẽ được hoàn trả cho khách hàng
Bảng 2.1 : Tổng tài sản và vốn chủ sỡ hữu Vietcombank 2006-2009
Trang 28Biểu đồ 2.1 : Vốn chủ sỡ hữu NHNT
16710 13946
13528 11228
197363 167128
00000 100000 200000 300000
2006 2007 2008 2009
tỷ VNĐ
Về vốn chủ sở hữu thì qua các năm Vietcombank luôn duy trì ở mức khoảng 6% tổng tài sản Năm 2006 là năm mà tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu của ngân hàng ở mức cao (33%) do trong năm ngân hàng kinh doanh khá hiệu quả, đạt 3.877 tỷ Từ đó giúp bổ sung tăng các quỹ của ngân hàng từ 2.728 tỷ lên 5.321 tỷ
Năm 2008 tốc độ tăng vốn chủ sở hữu thấp là do cuối năm 2007 ngân hàng thực hiện IPO và đầu năm 2008 Nhà nước đã tiến hành thu lại nguồn vốn thuộc về mình Kết thúc năm 2009, vốn chủ sở hữu của VCB đạt 16.710 tỷ, tăng 23,8% so với cuối năm 2008
Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của Vietcombank không cao như của các ngân hàng thương mại cổ phần Trong giai đoạn 2006-2009 tổng tài sản tăng trưởng trung bình 17.11%, trong đó năm 2006 là tăng trưởng cao nhất, đạt 22.5%
Tổng tài sản của Vietcombank đến cuối năm 2009 đạt 255.496 tỷ, đứng thứ ba nếu so với 4 ngân hàng trong nhóm các ngân hàng quốc doanh và đứng thứ nhất nếu so với các ngân hàng thương mại cổ phần và hiện VCB là ngân hàng có mức vốn hóa lớn nhất trong tất cả các ngân hàng được niêm yết
Bảng 2.2 : Tổng tài sản và vốn chủ sỡ hữu một số ngân hàng năm 2009
Đvt : tỷ VNĐ
Trang 29Nguồn : Tổng hợp từ các báo cáo tài chính
2.3.1.2 Khà năng phòng ngừa, chống đỡ rủi ro
* Rủi ro: Thực trạng rủi ro ở các NHTM Việt Nam tập trung cao ở rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao hàm những tổn thất mà NHNT có thể phải gánh chịu khi khách hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã được NHNT bảo lãnh, hoặc không thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi các khoản tiền vay theo hợp đồng
NHNT đã triển khai mô hình tín dụng mới theo tư vấn của Dự án hỗ trợ kỹ thuật do Chính phủ Hà Lan tài trợ thông qua Ngân hàng thế giới trong toàn hệ thống từ tháng 08/2006 Chất lượng quản lý rủi ro tín dụng được cải thiện thông qua việc tách biệt các nghiệp vụ: quan hệ khách hàng, quản lý rủi ro tín dụng và quản lý nợ, đồng thời công tác khách hàng và phát triển kinh doanh được chuyên biệt hóa với bộ phận chuyên trách quan hệ khách hàng Sự thay đổi về tư duy quản
lý, phương thức quản lý, phương thức quản trị rủi ro và chiến lược cạnh tranh, phát triển khách hàng là bước chuẩn bị cần thiết cho sự phát triển bền vững
* Dự phòng rủi ro : Với quan điểm thận trọng, Vietcombank đã phân loại
nợ khá chặt chẽ theo quy định của NHNN và đã trích đầy đủ dự phòng cho số nợ
có nguy cơ tiềm ẩn Năm 2009, toàn hệ thống Vietcombank đã trích đủ 100% dự phòng rủi ro tín dụng với tổng số tiền hạch toán vào chi phí là 3.586 tỷ VND (bao gồm: chi phí dự phòng rủi ro tín dụng: 2.971 tỷ đồng, chi phí dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán: 614,5 tỷ đồng), gấp 2,7 lần so với chi phí dự phòng năm
2008 Số dư quỹ dự phòng rủi ro đến 31/12/09 là 5.688 tỷ đồng, trong đó số dư dự
Trang 30dự phòng giảm giá là 623 tỷ đồng
2.3.1.3 Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là điều kiện để đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Khả năng sinh lời được được thể hiện qua các chỉ số ROE và ROA
Hoạt động kinh doanh của VCB luôn đạt hiệu quả cao, suất sinh lời của tài sản, vốn chủ sở hữu luôn cao hơn mức trung bình ngành; cơ cấu thu nhập chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng thu ngoài lãi
Kết thúc năm 2009, lợi nhuận sau thuế của VCB đạt 3.944 tỷ, tăng 45% so với năm 2008 ROA và ROE của VCB lần lượt đạt 1.64% và 25,58% Đây là mức tăng trưởng rất ấn tượng mà không phải ngân hàng nào cũng đạt được
Bảng 2.3 : Các chỉ tiêu tài chính của VCB năm 2006-2009
Đvt : tỷ VNĐ
Tổng thu nhập hoạt động kinh doanh 5.289 6.114 8.940 9.287
Tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu
Trang 31Biều đồ 2.3 : Tỳ suất lợi
nhuận/vốn chủ sỡ hữu (ROE) của
VCB 2006-2009
1.64%
1.29%
1.31%
0 0.005 0.01 0.015 0.02
NHNT hiện đang ứng dụng các phần mềm hệ thống tiên tiến xử lý các nghiệp
vụ ngân hàng hiện đại: sử dụng các giải pháp công nghệ dựa trên hệ điều hành Unix và ngôn ngữ xử lý cơ sở dữ liệu thế hệ 4, ngôn ngữ lập trình hiện đại (C,C++, Visual Basic…) Đây là các phần mềm hệ thống và cơ sở dữ liệu cho phép phát triển các ứng dụng ngân hàng có tốc độ xử lý nhanh, liên kết tự động hóa, truy cập nhanh với số lượng người sử dụng lớn, tính bảo mật cao, đồng thời được thiết kế theo hệ thống mở,
có thể kết nối kỹ thuật với hệ thống khác NHNT còn tham gia vào dự án hiện đại hóa
Trang 32ngân hàng và hệ thống thanh toán do WB tài trợ Thông qua dự án, NHNT đã xây dựng được nền tảng công nghệ hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển và tiêu chuẩn quốc
tế, nhất là hệ thống thanh toán nội bộ, thiết lập mạng online và hệ thống nghiệp vụ cốt lõi Ngoài ra, NHNT tiếp tục củng cố hệ thống công nghệ nền tảng VCB – Vision
2010, đồng thời chính thức nghiệm thu tiểu dự án của WB với 5 module chính là bán
lẻ, kinh doanh vốn, tài trợ thương mại chuyển tiền và thông tin quản lý Mặt khác, NHNT đã ký kết hợp đồng tư vấn Dự án hỗ trợ liên kết kỹ thuật cơ cấu lại NHNT với NHNN và liên doanh tư vấn ING & PRICE WATERHOUSE COOPER nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của NHNT bằng việc xây dựng lại bộ máy tổ chức, phát triển và đa dạng hóa sản phẩm, họat động, ứng dụng công nghệ tiên tiến
Tuy nhiên NHNT còn nhiều tồn tại yếu kém trong việc phát triển công nghệ thông tin là do các nguyên nhân:
- Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng Nhưng đây là một lĩnh vực đòi hỏi sự đầu tư rất lớn - Đầu tư vào công nghệ, ngân hàng phải chịu chi phí lớn (mạng lưới, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chi phí đào tạo…)
- Hiện nay NHNT chưa có một bộ phận chuyên trách nghiên cứu về chiến lược phát triển công nghệ thông tin vì thế công nghệ thiết kế chưa bao quát tổng thể, chạy theo yêu cầu thay đổi của người sử dụng mang tính tự phát, đặc thù chuyên biệt cho số
ít khách hàng riêng lẻ gây lãng phí chi phí chỉnh sửa nhưng đem lại hiệu quả không cao
- Tính rủi ro cao do các vấn đề an ninh, mạng virut
- Tính liên kết giữa NHNT và các ngân hàng về giải pháp công nghệ chưa cao
… dẫn đến các dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi và hấp dẫn
2.3.3 Năng lực hoạt động kinh doanh
2.3.3.1 Năng lực huy động vốn
Nhằm đảm bảo sự tăng trưởng ổn định của nguồn vốn, VCB đã đưa ra chính sách chú trọng công tác huy động vốn từ cả nền kinh tế và thị trường liên ngân hàng,
Trang 33sử dụng công cụ lãi suất linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng khách hàng và tận dụng lợi thế vùng, miền để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế
Với mục tiêu trở thành một ngân hàng đa năng, chính sách huy động vốn của VCB không chỉ hướng tới các khách hàng bán buôn truyền thống là các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn mà còn không ngừng mở rộng hoạt động huy động vốn tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các thể nhân
Hiện nay, VCB là ngân hàng có nhiều sản phẩm tiết kiệm đồng Việt Nam và ngoại tệ với kỳ hạn phong phú, thu hút mạnh nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và doanh nghiệp Các sản phẩm huy động vốn của VCB rất linh hoạt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng như : các sản phẩm tiết kiệm cho phép khách hàng chủ động lựa chọn phương thức nhận lãi, gốc; các loại chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu với lãi suất ưu đãi kèm theo nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn
Năm 2007 được đánh giá là năm sôi động và gặt hái thành công của hoạt động kinh doanh ngân hàng (đặc biệt là khối các ngân hàng thương mại cổ phần) Tổng huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng mạnh so với năm 2006 Mức tăng trưởng huy động vốn của VCB năm 2007 tăng 16,95% Tuy nhiên cuối năm 2007 đến đầu năm
2008, lạm phát tăng cao, theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, khống chế mức tăng trưởng tín dụng đã tạo ra cuộc đua về lãi suất huy động giữa các ngân hàng, đẩy mặt bằng lãi suất chung lên cao làm cho hoạt động kinh doanh ngân hàng gặp nhiều khó khăn Tình hình khó khăn tiếp tục kéo dài hết năm 2008 vì vậy không nằm ngoài tình hình chung của toàn hệ thống, tổng huy động vốn của VCB năm 2008 tăng 10,46%, thấp hơn so với mức độ tăng của năm 2007
Trong năm 2009, trước diễn biến phức tạp của thị trường vốn và sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM, ngay từ đầu năm Ban Lãnh đạo Vietcombank đã quán triệt trong toàn hệ thống coi công tác huy động là một trong những những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và xuyên suốt trong năm Cuối năm 2009 tổng vốn huy động của
Trang 34Vietcombank đạt 230,970 tỷ, tăng 17.5% so với năm 2008, thấp hơn mức tăng trưởng bình quân của toàn ngành là 28%
Trong bối cảnh bị cạnh tranh gay gắt, huy động tiền gửi cả các tổ chức kinh tế bi giảm (-9%), song huy động từ dân cư lại có mức tăng trưởng khá tốt và đều đặn (+34,5%) là nhờ vào các chương trình huy động trải đều trong năm và sự cố gắng, nỗ lực của hầu hết các chi nhánh trong hệ thống Với chính sách lãi suất linh hoạt, sự đa dạng về các sản phẩm huy động vốn, trong giai đoạn căng thẳng về thanh khoản 3 tháng cuối năm 2009, Vietcombank vẫn duy trì được trạng thái thanh khoản ổn định, đồng thời còn hỗ trợ vốn tích cực và kịp thời cho các ngân hàng khác, giúp bình ổn hệ thống ngân hàng và đảm bảo gia tăng lợi nhuận kinh doanh vốn choVietcombank
Vietcombank rất đa dạng nguồn huy động của mình với nhiều hình thức khác nhau Trong cơ cấu vốn huy động của Vietcombank thì chiếm chủ yếu là tiền gửi của khách hàng (hơn 70%), nguồn vốn từ thị trường liên ngân hàng chiếm khoảng hơn 10% , còn lại là các nguồn vốn khác
Bảng 2.4 : Tình hình huy động vốn từ 2006-2009
Đơn vị : tỷ VNĐ
Tốc độ tăng trưởng CHỈ TIÊU 2006 2007 2008 2009 2006-
I Vốn huy động từ nền
kinh tế
111.916 141.589 157.067 169.071 26,51% 10,93% 7,64% Theo loại hình
1.1 tiền gửi thanh
toán+ký quỹ+chuyên
dùng
49.988 76.225 55.602 52.009 52,49% -27,06% -6,46%
1.2 Tiền gửi có kỳ hạn 61.927 65.462 101.463 117.061 5,7% 55% 15,37% Theo đối tượng
2.1 Tổ chức kinh tế 71.623 98.035 106.788 97.216 36,88% 8,93% -9% 2.2 Dân cư 40.292 43.553 20.278 27.165 8,09% 15,44% 34,5% Theo loại tiền
3.1.VNĐ 56.001 69.438 85.621 100.099 24,00% 23,30% 16,91% 3.2.Ngoại tệ quy VNĐ 55.915 72.150 71.445 69.216 29,03% -0,98% -3,46%
II.Tiền gửi/Tiền vay
Trang 35Tổ chức kinh tế Dân cư Tiền gửi/tiển vay khác GTCG
Biểu đồ 2.6 : Huy động vốn theo loại tiền
Nhìn chung công tác huy động vốn đã được NHNT làm tốt do NHNT đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung - cầu vốn trên thị trường, cải thiện quản trị thanh khoản, phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới (chứng chỉ tiền gửi, lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng …) Tuy nhiên so với sự nhanh nhẹn, linh hoạt thì vẫn thua các NHTM cổ phần khác chẳng hạn NHNT chưa huy động tiền gửi tiết kiệm vàng mà một số NHTM CP đã làm rất tốt như: ACB, Sacombank, Eximbank… NHNT đã không huy động được khoản vốn nhàn rổi trong dân cư bởi vì vàng chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, vàng luôn được xem là một đồng tiền đặc biệt, giữ vai trò vật ngang giá chung ổn định, bền vững và lâu đời nhất Ngoài ra khi điều chỉnh tăng lãi suất tiền gởi tiết kiệm, NHNT thường điều chỉnh
Trang 36chậm hơn các NHTM trên địa bàn, làm khách hàng tất toán sổ tiết kiệm gởi ở NHTM khác, NHNT mất khách hàng
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Tổng dư nợ tín dụng (tỷ đồng) Tốc độ tăng trưởng tin dụng (%)
Dư nợ cho vay khách hàng của Vietcombank năm 2007 có mức tăng trưởng mạnh 44%, đạt 97,532 tỷ và chiếm 9.2% thị phần cả nước
Tuy nhiên do ảnh hưởng chung của ngành, qua năm 2008 tăng trưởng dư nợ cho vay cũng bị sụt giảm, chỉ còn 14.5%, đạt 112,792 tỷ Trên thực tế, Vietcombank đã 2 lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, từ 29,2% xuống 27,0% và xuống còn 15,0%; Trong phạm vi kiềm chế tín dụng, Vietcombank cũng đã thực hiện chính sách
ưu tiên đáp ứng vốn cho sản xuất, lưu thông, xuất khẩu và nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu (nhất là các loại hàng mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được) như lương thực, xăng dầu, xi măng, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh, giấy Thu hẹp cho vay các lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro cao hoặc chưa thực sự thiết yếu như chứng khoán,
Trang 37bất động sản, tiêu dùng; đồng thời tích cực thu hồi nợ đến hạn, nợ quá hạn và nợ xấu
để tạo nguồn phục vụ các lĩnh vực, khách hàng thuộc mục tiêu phát triển
Năm 2009 là một năm có nhiều biến động đối với hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng nói chung và Vietcombank nói riêng Đầu năm 2009, cả hệ thống Vietcombank tăng trưởng âm Tuy nhiên, sau khi triển khai chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ, từ tháng 02/2009 đến hết tháng 07/2009, trung bình dư nợ tăng trưởng 3,3%/tháng Song từ tháng 8 trở đi, sau khi NHNN giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng dưới 25%, Vietcombank đã khống chế tăng trưởng tín dụng bằng việc giao chỉ tiêu dư nợ mục tiêu cho các chi nhánh Kết quả là, Vietcombank đã đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng 25,6% so với năm 2008 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của Vietcombank thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành Ngân hàng (37,7%), nhưng đảm bảo được sự cân bằng giữa an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng
Cơ cấu cho vay theo khu vực địa lý
Mạng lưới hoạt động của VCB bao phủ rộng khắp trong cả nước, tuy nhiên Bắc
bộ và Nam bộ vẫn là nơi có tỷ trọng dư nợ tín dụng lớn nhất, chiếm lần lượt 36,0% và 45,3% tổng dư nợ tín dụng của VCB
Cơ cấu cho vay theo kỳ hạn và loại tiền
Biểu đồ 2.9 : Cơ cấu cho vay theo kỳ
50.3%
48.3%
0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2
Trang 38Cơ cấu cho vay theo phân ngành
Cơ cấu cho vay của VCB thể hiện sự hài hòa trong các lĩnh vực, phù hợp với chiến lược phát triển của nền kinh tế Hai nhóm lĩnh vực chính là sản xuất chế biến và thương mại & dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng VCB với tỷ lệ tương ứng cho 2 nhóm ngành này là 38,5% và 25,4% Vietcombank hầu như không cho vay đầu tư chứng khoán (trừ các khoản cho vay cán bộ nhân viên mua cổ phiếu ưu đãi Vietcombank) và đầu cơ bất động sản
Bảng 2.5 : Cơ cấu cho vay theo phân ngành
Trang 39Biểu đồ 2.11 : Dư nợ cho vay theo phân ngành tính đến ngày
Ngành khác 8%
Nông lâm nghiệp và thủy sản 1%
Giao thong 5%
Công nghiệp khai thác mỏ 6%
Xây dựng 8%
Khách sạn & nhà hàng 2%
Công nghiệp khai thác mỏ 39%
Cơ cấu dư nợ theo đối tượng
Tại thời điểm 31/12/2009, dư nợ tín dụng của các tổ chức chiếm 90,4% tổng dư nợ trong khi dư nợ tín dụng của các cá nhân chỉ chiếm 9,6% Các khách hàng tổ chức của VCB chủ yếu là các tổng công ty và các doanh nghiệp lớn có tên tuổi và thương hiệu trên thị trường Tổng dư nợ tín dụng đối với các đối tượng này chiếm 65,3% tổng dư nợ Trong những năm gần đây, song song với việc phát triển các khách hàng là các tổng công ty và doanh nghiệp lớn, VCB còn tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cho tới thời điểm 31/12/2009, dư
nợ tín dụng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ này chiếm 25,1% tổng dư nợ
Biểu đồ 2.12 : Cơ cấu dư nợ theo đối tượng
Trang 40Chất lượng tín dụng và trích lập dự phòng rủi ro
Hàng quý, VCB thực hiện phân loại nợ gốc và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của NHNN Các loại nợ sẽ được phân làm 5 nhóm theo các mức độ rủi ro khác nhau Theo đó, VCB sẽ trích lập dự phòng rủi ro theo tỷ lệ phần trăm được quy định tương ứng với mỗi nhóm nợ
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có
thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết
Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung
Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các
khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra
Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất
chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm
Trong năm 2009, Vietcombank đã theo đuổi chính sách tăng trưởng tín dụng bền vững, coi trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng với các biện pháp : cơ cấu lại danh mục đầu tư, củng cố quan hệ khách hàng…; áp dụng kỹ thuật hiện đại vào quản trị danh mục đầu tư, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, quản trị rủi ro v.v Kết quả là chất lượng tín dụng của Vietcombank trong năm 2009 được cải thiện đáng kể Đến 31/12/09 tỉ lệ nợ xấu của Vietcombank là 2,47% - thấp hơn nhiều so với mức 4,61% vào cuối năm 2008, thấp hơn mức dự kiến mà Đại hội cổ đông cho phép là 3,5% Mặc dù thị trường năm 2009 còn nhiều khó khăn, nhưng chất lượng tín dụng và sức khỏe doanh nghiệp đã phần nào được cải thiện Nhiều khoản nợ khó đòi của năm
2008 đã được thu hồi, kéo nợ xấu giảm Nguyên nhân là nhờ gói hỗ trợ lãi suất kích cầu, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tiếp tục kế hoạch kinh doanh để thu hồi vốn trả nợ vay ngân hàng Bên cạnh đó, thị trường bất động sản có dấu hiệu ấm dần đã