i Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm sản phẩm du lịch lữ hành của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu c
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẮM SẢN PHẨM DU LỊCH LỮ HÀNH
Chuyên ngành: Kinh doanh t hương mại
Trang 3i
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm sản phẩm du lịch lữ hành của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các số liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực, đồng thời tôi cũng nhận được
rất nhiều góp ý của TS Bùi Thanh Tráng để hoàn thành luận văn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệu về nội dung của luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, năm 2013 Người thực hiện luận văn
Trần Thị Ngọc Bích
Trang 4ii
L ỜI CAM ĐOAN i
M ỤC LỤC ii
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ vii
DANH M ỤC CÁC PHỤ LỤC viii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
1.6 Kết cấu đề tài 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Giá trị cảm nhận của khách hàng 7
2.1.1 Khái niệm giá trị cảm nhận 7
2.1.2 Giá trị cảm nhận và sự thỏa mãn của khách hàng 9
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch lữ hành 10
2.2.1 Sản phẩm du lịch lữ hành 10
2.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch lữ hành 15
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối vớ i sản phẩm du lịch lữ hành 22
2.3 Ý định mua sắm của khách hàng 23
2.4 Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm của khách hàng 27
2.5 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu 29
2.6 Tóm tắt chương 2 33
Trang 5iii
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thiết kế nghiên cứu 34
3.1.1 Nghiên cứu định tính 34
3.1.2 Nghiên cứu định lượng 34
3.1.3 Quy trình nghiên cứu 36
3.2 Xây dựng thang đo 37
3.2.1 Thang đo phương tiện hữu hình (HH) 37
3.2.2 Thang đo chất lượng chương trình du lịch (CL) 37
3.2.3 Thang đo tính chuyên nghiệp của nhân viên (NV) 38
3.2.4 Thang đo giá cả và thanh toán (GC) 39
3.2.5 Thang đo phản ứng cảm xúc (CX) 39
3.2.6 Thang đo mối quan hệ xã hội (XH) 40
3.2.7 Thang đo giá trị cảm nhận của khách hàng (CN) 40
3.2.8 Thang đo ý định mua sắm (YD) 41
3.3 Tóm tắt chương 3 42
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu 43
4.2 Đánh giá thang đo 44
4.2.1 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 44
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 46
4.3 Điều chỉnh mô hình nghiên cứu sau phân tích nhân tố khám phá (EFA) 51
4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu 53
4.4.1 Phân tích tương quan Pearson 53
4.4.2 Kiểm định giả thuyết về mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận của khách hàng với các nhân tố của nó 54
4.4.3 Kiểm định giả thuyết về mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận và ý định mua sắm của khách hàng 56
4.5 Phân tích ảnh hưởng của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đến giá trị cảm nhận của khách hàng 57
Trang 6iv
4.6 Tóm tắt chương 4 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Định hướng cho các kiến nghị 60
5.3 Một số kiến nghị cho các nhà quản lý 61
5.3.1 Tính chuyên nghiệp của nhân viên 61
5.3.2 Cảm xúc 62
5.3.3 Chất lượng chương trình du lịch 63
5.3.4 Mối quan hệ xã hội 64
5.3.5 Giá cả và thanh toán 64
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 65
Trang 7v
SPSS: Statistical Package for the Social Sciences – Phần mềm SPSS
(Thống kê cho khoa học xã hội) EFA: Exploratory Factor Analysis – Phân tích nhân tố khám phá KMO: Hệ số Kaiser – Mayer – Olkin
Sig.: Observed significance level – Mức ý nghĩa quan sát
VIF: Variance inflation factor – Hệ số phóng đại phương sai
ANOVA: Analysis of Variance – Phân tích phương sai
Trang 8vi
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận 22
Bảng 2.2 Đặc điểm các giai đoạn của lòng trung thành 24
Bảng 3.1 Thang đo phương tiện hữu hình 37
Bảng 3.2 Thang đo chất lượng chương trình du lịch 38
Bảng 3.3 Thang đo tính chuyên nghiệp của nhân viên 38
Bảng 3.4 Thang đo giá cả và thanh toán 39
Bảng 3.5 Thang đo cảm xúc 39
Bảng 3.6 Thang đo mối quan hệ xã hội 40
Bảng 3.7 Thang đo giá trị cảm nhận của khách hàng 41
Bảng 3.8 Thang đo ý định mua sắm 41
Bảng 4.1 Mô tả mẫu 44
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha các thang đo 45
Bảng 4.3 Kết quả EFA đối với các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận lần 1 47 Bảng 4.4 Kết quả EFA đối với các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận lần 2 48 Bảng 4.5 Kết quả EFA đối với thang đo giá trị cảm nhận của khách hàng 50
Bảng 4.6 Kết quả EFA đối với thang đo ý định mua sắm của khách hàng 50
Bảng 4.7 Bảng kết quả phân tích tương quan Pearson 53
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy tuyến tính bội 55
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy tuyến tính đơn 57
Trang 9vii
Hình 2.1 Các nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch lữ
hành (Gallarza & Saura, 2006) 18
Hình 2.2 Các nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch nhà dân (Salamiah và cộng sự, 2011) 20
Hình 2.3 Các nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch lữ hành (Sanchez và cộng sự, 2006) 21 Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu đề nghị 30
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 36
Trang 10viii
Phụ lục 1: Dàn bài thảo luận tay đôi (nghiên cứu định tính)
Phụ lục 2: Danh sách thảo luận tay đôi
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng
Phụ lục 4: Kết quả phân tích Cronbach’s alpha các khái niệm trong thang đo chính
thức
Phụ lục 5: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phụ lục 6: Kết quả phân tích Cronbach’s alpha sau phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phụ lục 7: Phân tích tương quan và hồi quy
Phụ lục 8: Phân tích phương sai ANOVA và T-test
Trang 111
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do hình thành đề tài
So với chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng thì giá trị cảm nhận
nổi lên như một chủ đề mới đầy thú vị, không ngừng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Giá trị cảm nhận đã trở thành một lĩnh vực với sức hút mạnh mẽ khi mà chính nó được xem là nhân tố then chốt ảnh hưởng đến việc ra quyết định và hành vi của người tiêu dùng (Zeithaml, 1988; Sheth và cộng sự , 1991) Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để định nghĩa giá trị cảm nhận
của khách hàng như: giá trị cảm nhận, giá trị của khách hàng, giá trị cho khách hàng, giá trị cảm nhận của khách hàng , giá trị khách hàng cảm nhận, giá trị của người tiêu dùng, giá trị tiêu dùng,…
Việc tạo ra giá trị cao hơn cho khách hàng chính là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh (Woodruff, 1997) Các công ty đã nhận thức được tầm quan trọng của việc
phối hợp các hoạt động nội bộ để tạo ra sức mạnh tổng hợp cần thiết cho việc tiếp
tục tạo ra và truyền tải giá trị đến khách hàng Các tổ chức kinh doanh phải trở thành nhà cung cấp giá trị, và phải thực hiện điều đó một cách khác biệt so với đối
thủ, chính điều này này sẽ cho phép họ nổi bật hơn đối thủ, từ đó đạt được kết quả
cải thiện và gia tăng khả năng tồn tại trong tương lai (Butz & Goodstein, 1996) Khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu du lịch theo đó
cũng gia tăng mạnh mẽ Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, ngành du lịch nước ta đang
gặp phải những khó khăn chung của nền kinh tế: chi phí sản xuất tăng cao trong khi người dân tiếp tục thắt chặt chi tiêu Trên một thị trường khó khăn và cạnh tranh
khốc liệt, để giữ chân khách hàng hiện tại và thu hút thêm khách hàng mới cần có
một chiến lược quản lý hiệu quả trên mọi khía cạnh Có thể thấy, việc duy trì duy khách hàng hiện tại tiết kiệm chi phí hơn so với việc tìm kiếm những khách hàng
mới (Reicheld & Sasser, 1990) Do vậy, sự hiểu biết các nhân tố tác động đến ý định mua sắm của khách hàng hiện tại được xem như mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp du lịch lữ h ành Cụ thể là tác động của các nhân tố giá trị cảm
Trang 122
nhận, bởi vì cảm nhận của khách hàng cung cấp nguồn dữ liệu trực tiếp cho việc phát triển và cải tiến dịch vụ (Williams & Soutar, 2000) Để giữ vững khách hàng,
tận dụng lòng trung thành của họ, sự thấu hiểu giá trị cảm nhận khách hàng là điều
cần thiết (Berry, 1983) Một sự hiểu biết thấu đáo giá trị cảm nhận sẽ giúp doanh nghiệp thay đổi, điều chỉnh một cách phù hợp nhằm giữ vững lượng khách hàng trung thành của mình, cũng là giúp doanh nghiệp tiếp tục tồn tại và phát triền Vì lý
do đó, đề tài “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm
s ản phẩm du lịch lữ hành của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh” được lựa
chọn nghiên cứu Với đề tài này, hy vọng kết quả tìm được sẽ giúp xác định và đo lường mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận và ý định mua sắm cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới giá trị cảm nhận đối với sản phẩm dịch vụ du lịch lữ hành Từ đó, gợi
ý cho các nhà lãnh đạo cũng như nhà làm marketing trong các công ty du lịch lữ hành đưa ra các biện pháp gia tăng giá trị cảm nhận khách hàng một cách phù hợp
nhằm tiếp tục giữ vững khách hàng của mình
1.2 M ục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của luận văn là tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng
của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm sản phẩm du lịch lữ hành - du lịch di sản các tỉnh miền Trung của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn tập trung vào:
- Xác định sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm sản phẩm
du lịch di sản các tỉnh miền Trung của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh;
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du
lịch di sản các tỉnh miền Trung của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh;
- Đề xuất kiến nghị giúp các doanh nghiệp du lịch lữ hành gia tăng giá trị cảm
nhận của khách hàng nhằm góp phần giữ chân khách hàng, khiến họ tiếp tục quay
lại sử dụng sản phẩm
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Trang 133
Sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm sản phẩm du lịch di
sản các tỉnh miền Trung của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh;
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch di sản các tỉnh miền Trung của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh;
Khách hàng hiện đang sinh sống tại thành ph ố Hồ Chí Minh, đã từng mua và
trải nghiệm chương trình du lịch di sản các tỉnh miền Trung Đà Nẵng – Huế -
Quảng Trị - Quảng Bình của một hoặc nhiều doanh nghiệp trong số tất cả các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch lữ hành trên địa bàn Hồ Chí Minh bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (Saigontourist, Vietravel, Fiditour, Bến Thành )
Sản phẩm được nghiên cứu là sản phẩm du lịch lữ hành trọn gói, cụ thể là sản
phẩm du lịch di sản các tỉnh miền Trung, cụ thể là các tỉnh Đà Nẵng – Huế - Quảng
Trị - Quảng Bình Từ khi cố đô Huế và tiếp theo đó là đô thị cổ Hội An, Mỹ Sơn, nhã nhạc cung đình Huế, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng lần lượt được công
nhận là di sản văn hóa thế giới thì điểm đến là các tỉnh miền Trung này đã tạo ra
một sức hút mạnh mẽ đối với khách du lịch
1.4 P hương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện thông qua nghiên định tính và nghiên cứu định lượng:
- Nghiên c ứu định tính: Do sự khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và trình đ ộ
phát triển, các thang đo đã thiết lập trên thế giới chưa thật sự phù hợp với thị trường
Việt Nam Do đó, nghiên cứu định tính nhằm mục đích khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường khái niệm nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn tay đôi với 10 nhà quản lý có kinh nghiệm làm việc lâu năm tại các công ty du lịch lữ hành và 10 khách hàng tại thành phố Hồ
Trang 144
Chí Minh thường xuyên sử dụng dịch vụ du lịch lữ hành bao gồm loại hình du lịch
di sản các tỉnh miền Trung
- Nghiên c ứu định lượng: Thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi và kỹ thuật
phỏng vấn các khách hàng đã từng mua và trải nghiệm chương trình du lịch di sản các tỉnh miền Trung của một hoặc nhiều công ty, đang sinh sống tại Hồ Chí Minh Kích thước mẫu n=200 được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Đánh giá
độ tin cậy và giá trị của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) thông qua phần mềm xử lý SPSS, qua đó loại bỏ các biến quan sát không giải thích cho khái niệm nghiên cứu (không đạt độ tin cậy) đồng
thời tái cấu trúc các biến quan sát còn lại vào các nhân tố (thành phần đo lường) phù
hợp làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên
cứu, các nội dung phân tích và kiểm định tiếp theo Sau cùng, nghiên cứu dùng phương pháp phân tích hồi quy với các quan hệ tuyến tính để xây dựng hàm hồi quy
về mối liên hệ giữa các khái niệm trong mô hình với nhau Cuối cùng, sử dụng ANOVA để kiểm định sự ảnh hưởng của nhân tố định tính đến giá trị cảm nhận của
khách hàng
1.5 Ý ngh ĩa thực tiễn
Phần lớn các đề tài về ý định mua sắm của khách hàng tại Việt Nam nghiên
cứu ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng, nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu giá trị cảm nhận và xem xét chất lượng dịch vụ chỉ là
một phần trong số các nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận của khách hàng
Nghiên cứu này góp phần phát triển hệ thống thang đo các nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch lữ hành trọn gói của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh, trên nền tảng đó từng bước thiết lập hệ thống tương đương
về đo lường giá trị cảm nhận của khách hàng trên cả lãnh thổ Việt Nam Bên cạnh
đó, nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận với ý định mua sắm
của khách hàng
Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý doanh nghiệp trong ngành kinh doanh lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh có cái nhìn đầy
Trang 155
đủ và toàn diện hơn về phương thức tiếp cận và đo lường các thành phần giá trị cảm
nhận và tác động của chúng đến ý định hành vi mua sắm của khách hàng, cụ thể đối
với sản phẩm du lịch di sản mà điểm đến là các tỉnh miền Trung Từ đó, các doanh nghiệp có thể điều chỉnh và xây dựng các chính sách phù hợp và hiệu quả hơn nhằm
giữ vững lượng khách hàng hiện tại cũng như thu hút thêm lượng khách hàng tiềm
năng và tạo ra lợi thế cạnh tranh
1.6 K ết cấu đề tài
Đề tài được trình bày thành 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương đầu tiên trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Nội dung của chương 2 làm rõ khái niệm về giá trị cảm nhận của khách hàng
và các nhân tố ảnh hưởng đến nó Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày khái niệm sự
thỏa mãn và ý định mua sắm của khách hàng Từ đó, xây dựng mô hình phục vụ cho
việc nghiên cứu và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày hai phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là định tính và định lượng, cách lựa chọn mẫu nghiên cứu, quy trình nghiên cứu cũng như thiết kế thang đo các thành phần trong mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 phân tích kết quả mẫu nghiên cứu, sử dụng Cronbach’s Alpha để
kiểm định độ tin cậy của các nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận và ý định mua
sắm của khách hàng; đồng thời tái cấu trúc các biến quan sát của các nhân tố thỏa mãn độ tin cậy bằng cách sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA), làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu Tiếp theo, nghiên cứu dùng phương pháp phân tích hồi quy với các quan hệ tuyến tính để xây
dựng hàm hồi quy về mối liên hệ giữa các khái niệm trong mô hình với nhau Cuối
Trang 166
cùng, sử dụng T-test và ANOVA để kiểm định sự ảnh hưởng của các nhân tố định tính đến giá trị cảm nhận của khách hàng
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Dựa trên kết quả chương 4, nội dung chương 5 trình bày các kiến nghị góp
phần gia tăng giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm du lịch lữ hành của các công ty tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung
Trang 177
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 sẽ trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến các khái niệm để làm nền tảng cho nghiên cứu này, bao gồm các khái niệm như: giá trị
cảm nhận của khách hàng, sự thỏa mãn của khách hàng, ý định mua sắm của khách hàng; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận ; phân tích sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm Từ đó, xây dựng mô hình phục vụ cho việc nghiên cứu và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Giá tr ị cảm nhận của khách hàng
2.1.1 Khái ni ệm giá trị cảm nhận
Từ những năm cuối thế kỷ 20 khái niệm giá trị cảm nhận đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm đến, nó nổi lên như một yếu tố đóng vai trò quan
trọng đối với sự sống còn của tổ chức, doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu đã sử
dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để định nghĩa “giá trị cảm nhận” của khách hàng
Chẳng hạn như: giá trị cảm nhận, giá trị của khách hàng, giá trị cho khách hàng, giá
trị cảm nhận của khách hàng, giá trị khách hàng cảm nhận, giá trị của người tiêu dùng, giá trị tiêu dùng… Theo Patterson & Spreng (1997), giá trị là một khái niệm
trừu tượng mà ý nghĩa của nó đa dạng tùy thuộc vào từng bối cảnh Trong phạm trù marketing, giá trị được xác định từ phía khách hàng, và nhà làm marketing phải dựa vào quan điểm của khách hàng để nhận ra giá trị (Zeithaml, 1988; Gallarza & Saura, 2006)
Tính đến nay, khái niệm giá trị cảm nhận phổ biến nhất được phát biểu bởi tác
giả Zeithaml (1988) Dựa vào kết quả phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm nghiên
cứu về giá trị cảm nhận, tác giả đã tập hợp, chia thành bốn ý kiến về giá trị: thứ
nhất, giá trị là giá cả thấp; thứ hai, giá trị là những gì mong muốn ở một sản phẩm;
thứ ba, giá trị là chất lượng nhận được so sánh với giá cả phải trả; thứ tư, giá trị là
những gì nhận được so với những gì bỏ ra Theo đó, Zeithaml kết luận giá trị cảm
nhận là sự đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về tiện ích của một sản phẩm dựa
Trang 188
vào nhận thức của họ về những gì nhận được và những gì phải bỏ ra Khái niệm này
thể hiện việc đánh giá của khách hàng như một sự so sánh giữa hai thành phần nhận được và bỏ ra cho sản phẩm
Vì giá trị cảm nhận luôn thay đổi, nó khác nhau giữa các khách hàng, văn hóa
và thời gian (Sanchez và cộng sự, 2006) nên ngoài khái niệm phổ biến của Zeithaml
đề cập ở trên, một số nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra các khái niệm về giá trị cảm
nhận của khách hàng
Cùng quan điểm so sánh giữa thành phần nhận được và bỏ ra của Zeithaml, theo Monroe (1990) giá trị cảm nhận là sự cân đối giữa chất lượng sản phẩm hoặc
lợi ích mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm và chi phí mà họ phải trả cho
sản phẩm đó Anderson và cộng sự (1993) cũng phát biểu rằng giá trị cảm nhận của khách hàng là giá trị được cảm nhận tính th eo đơn vị tiền tệ của lợi ích về mặt kỹ thuật, kinh tế, dịch vụ và xã hội mà khách hàng có thể nhận được so với giá mà họ
trả cho một sản phẩm, đặt trong việc xem xét giá cả và chào hàng của các nhà cung
cấp sẵn có
Một định nghĩa khác về giá trị cảm nhận, đó là mối quan hệ cảm xúc được thiết lập giữa khách hàng và nhà cung cấp sau khi khách hàng đã sử dụng một sản
phẩm hay dịch vụ của nhà cung cấp và thấy rằng sản phẩm hay dịch vụ đó tạo ra giá
trị gia tăng (Butz & Goodstein, 1996) Khái niệm này dựa trên mối quan hệ cảm xúc
giữa khách hàng và nhà cung cấp sau khi sử dụng sản phẩm
Còn theo Woodruff (1997), giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu thích,
cảm nhận và đánh giá của khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, chức năng và
những kết quả đạt được hoặc hậu quả phát sinh từ việc sử dụng đó, qua đó tạo điều
kiện thuận lợi đạt được mục tiêu và mục đích của khách hàng trong các trường hợp
sử dụng Giá trị cảm nhận trong định nghĩa này kết hợp chặt chẽ giá trị mong muốn
và giá trị nhận được và nhấn mạnh rằng giá trị xuất phát từ nhận thức, sự yêu thích
và đánh giá của khách hàng Nó cũng liên kết sản phẩm với các trường hợp sử dụng
và hiệu quả đạt được qua quá trình sử dụng bởi các khách hàng
Trang 199
Như vậy, có thể hiểu giá trị cảm nhận của khách hàng là sự đánh giá, sự hài lòng v ề sản phẩm trong sự so sánh với những gì nhận được và những gì phải bỏ ra
Giá trị cảm nhận diễn ra ở các giai đoạn khác nhau của quá trình mua hàng, bao
gồm cả giai đoạn trước, trong và sau khi mua, do đó sẽ có nhiều nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận của khách hàng
2.1.2 Giá tr ị cảm nhận và sự thỏa mãn của khách hàng
Cũng như giá trị cảm nhận, có nhiều quan điểm khác nhau về sự thỏa mãn của khách hàng Theo Bachelet (1995), sự thỏa mãn của khách hàng là phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ Tác giả Oliver (1997) cho rằng sự thỏa mãn của khách hàng cũng là phản ứng của khách hàng, nhưng là phản ứng về việc đáp ứng nhu cầu của họ Với “cha đẻ marketing hiện đại” Philip Kotler (2003) thì sự thỏa mãn của khách hàng được phát biểu là mức độ thích thú hoặc thất vọng bắt nguồn từ sự kỳ vọng của họ về sản phẩm Cụ thể, sự
thỏa mãn chính là cảm xúc thích thú hoặc thất vọng của một người thông qua so sánh kết quả có được từ việc tiêu dùng sản phẩm với những kỳ vọng của họ Nếu
kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ
phản hồi của khách hàng đối với sản phẩm Đôi khi, còn có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này
Thực tế, giá trị cảm nhận là một khái niệm khác biệt so với sự thỏa mãn Trong khi giá trị cảm nhận xảy ra ở các giai đoạn khác nhau của quá trình mua hàng, bao gồm cả giai đoạn trước khi mua (Woodruff, 1997) thì sự thỏa mãn được
Trang 2010
chấp nhận rộng rãi là sự đánh giá sau khi mua và tiêu thụ sản phẩm (Oliver, 1981)
Do vậy, giá trị nhận thức có thể được hình thành mà không phải thông qua quá trình mua và sử dụng sản phẩm, trái lại trải nghiệm của quá trình sử dụng sản phẩm sẽ định hình sự thỏa mãn của khách hàng
Một sự khác biệt nhận thấy được khi ta xem xét tại thời điểm sau khi mua hàng, giá trị cảm nhận là sự so sánh giữa những gì nhận được và những gì phải bỏ
ra khi mua sản phẩm, trong khi thỏa mãn là sự so sánh giữa kết quả đạt được và mong đợi Hơn nữa, sự thỏa mãn thường được tiếp cận dưới d ạng cấu trúc đơn hướng, liên tục từ thất vọng đến thỏa mãn còn giá trị cảm nhận là một cấu trúc đa hướng (Sweeney và Soutar, 2001)
2.2 Các nhân t ố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch
- Kinh doanh lưu trú du lịch;
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch;
quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian
hoặc văn phòng đại diện tổ chức các chương trình và hướng dẫn du lịch
a Chương trình du lịch trọn gói
Trang 2111
Một chương trình du lịch trọn gói gói phải được sắp đặt trước và liên kết bởi các thành phần sau:
- Phương tiện vận chuyển: trong chương trình du lịch tùy thuộc vào các điều
kiện cụ thể mà sử dụng các phương tiện, chẳng hạn có thể kết hợp giữa hai loại máy bay/ ô tô, máy bay/ tàu thủy hoặc chỉ một loại tàu hỏa, hoặc chỉ ô tô… Đặc điểm
của phương tiện vận chuyển như là chủng loại, thứ hạng, nhà ga, bến cảng, sân bay,
uy tín của các hãng vận chuyển Dịch vụ vận chuyển được xác địn h là thành phần chính, quan trọng thứ nhất của chương trình du lịch trọn gói vì nó thỏa mãn nhu cầu thiết yếu khi đi du lịch
- Nơi ở được sắp xếp vào thành phần quan trọng thứ hai của chương trình du
lịch trọn gói vì nó thỏa mãn nhu cầu thiết yếu Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà nơi ở có thể là các loại hạng cơ sở lưu trú, chủng loại buồng giường…
- Lộ trình được sắp xếp vào thành phần quan trọng thứ ba của chương trình du
lịch trọn gói Nó bao gồm số điểm dừng, thời gian tại mỗi điểm dừng, thời gian và khoảng cách giữa điểm đi và điểm đến, các hoạt động cụ thể của từng buổi, từng ngày với thời gian và không gian đã được ấn định trước
- Bữa ăn được sắp xếp vào thành phần quan trọng thứ tư của chương trình du
lịch trọn gói Nó bao gồm các bữa ăn, nơi ăn, thực đơn, có thể chọn món hoặc không, các loại nước uống không cồn
- Tham quan giải trí là thành phần khôn g chỉ quan trọng mà nó còn là thành
phần đặc trưng để thỏa mãn nhu cầu cảm thụ các đẹp và giải trí của khách Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể lựa chọn các đối tượng tham quan, các loại hình vui chơi
giải trí khác nhau
- Quản lý và hướng dẫn là thành phần làm tăng giá trị của các dịch vụ đơn lẻ nói trên, làm thỏa mãn sự mong đợi của khách trong chuyến đi Nó bao gồm việc tổ
chức, thông tin, kiểm tra
- Mua sắm là dịch vụ không thể thiếu của chương trình
- Các thành phần khác như là hành lý được mang, hành lý miễn cước, các hàng hóa biếu tặng khách
Trang 2212
b Đặc điểm sản phẩm du lịch lữ hành
Chương trình du lịch là một dịch vụ tổng hợp, mang tính trọn vẹn được tạo nên
từ các dịch vụ riêng lẻ của các nhà cung cấp khác nhau Do vậy, chương trình du
lịch mang trong nó những đặc điểm vốn có của sản phẩm là dịch vụ Các đặc điểm
đó là tính vô hình, tính không đồng nhất, tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, tính không dự trữ Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn mang tính thời vụ cao
- Tính vô hình của chương trình du lịch biểu hiện ở chỗ nó không phải là thứ
có thể cân đong đo đếm, sờ, nếm thử để kiểm tra, lựa chọn trước khi mua giống như người ta bước vào một cửa hàng, mà người ta phải đi du lịch theo chuyến, phải tiêu dùng nó thì mới có được sự cảm nhận về nó tốt xấu, hay dở Kết quả khi mua chương trình du lịch là sự trải nghiệm về nó chứ không phải là sở hữu nó
- Tính không đồng nhất của chương trình du lịch biểu hiện ở chỗ nó kh ông
giống nhau, không lặp lại về chất lượng ở những chuyến thực hiện khác nhau Vì
chất lượng các dịch vụ cấu thành phụ thuộc vào tâm lý, trạng thái tình cảm của cả người phục vụ lẫn người cảm nhận Mà các nhân tố đó thì lại thay đổi và chịu tác động của nhiều nhân tố trong những thời điểm khác nhau Do đó, việc đánh giá chất lượng của một chuyến du lịch theo sự tiêu chuẩn hóa nó là công việc rất khó khăn
với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, quá trình sản xuất và tiêu dùng
sản phẩm lữ hành diễn ra trong cùng một thời gian Trong kinh doanh lữ hành, chúng ta chỉ tiến hành phục vụ khách du lịch khi có sự có mặt của khách trong quá trình phục vụ Có thể xem khách hàng là nhân tố “nguyên liệu đầu vào” trong quá trình kinh doanh lữ hành Vì thế trong kinh doanh lữ hành sản phẩm không thể sản
xuất trước Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm lữ hành diễn ra trong cùng
một không gian Các sản phẩm lữ hành không thể vận chuyển mang đến tận nơi để
phục vụ khách hàng Khách hàng chỉ có thể thoả mãn nhu cầu khi vận động gặp gỡ Như vậy, khách hàng là bộ phận tham gia trực tiếp không thể tách rời từ quá trình
sản xuất
Trang 2313
- Tính không dự trữ được, không giống như ngành sản xuất vật chất khác, sản
phẩm du lịch lữ hành không bảo quản, lưu kho, lưu bãi được và giá của sản phẩm lữ hành có tính linh động cao
- Một đặc điểm cần lưu ý là kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ rõ nét Ở các thời vụ khác nhau trong năm, nhu cầu của du khách cũng khác nhau Chẳng
hạn, vào mùa hè nhu cầu du lịch nghỉ biển tăng rất cao nhưng vào mùa đông thì ngược lại, vào mùa xuân nhu cầu du lịch lễ hội cũng tăng mạnh làm cho hoạt động kinh doanh lữ hành có tình thời vụ Vì vậy, trong kinh doanh lữ hành đòi hỏi các nhà quản trị phải nắm bắt được tính thời vụ nhằm có những biện pháp hạn chế tính
thời vụ, duy trì nhịp độ phát triển đều đặn và nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành Ngoài ra, hoạt động kinh doanh lữ hành còn phụ thuộc khá nhiều vào nhân tố tự nhiên, quỹ thời gian nhàn rỗi, trình độ dân trí cũng như phụ thuộc vào thu nhập của người dân
c S ản phẩm du lịch di sản miền Trung
Đất nước Việt Nam với ưu thế được thiên nhiên ban tặng một nguồn tài nguyên phong phú: bãi biển, hang động, đảo, nước khoáng, lớp phủ thực vật, cảnh quan thiên nhiên độc đáo cùng với bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa với các
di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán, các làng nghề thủ công truyền thống, sự đa dạng về bản sắc văn hóa của các dân tộc Đây chính tiền đề thuận lợi cho ngành du lịch Việt Nam phát tr iển được nhiều loại hình du lịch khác nhau: du lịch sinh thái, du lịch di sản, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng , du lịch nhà dân, du lịch mạo
hiểm…
Thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có đến 16 di sản được UNESCO công nhận
là di sản thế giới Tận dụng thế mạnh này, việc khai thác giá trị di sản trong hoạt động du lịch vẫn luôn được khẳng định là chủ chốt trong chiến lược phát triển du
lịch tại Việt Nam Đặc biệt, khu vực các tỉnh miền Trung Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị,
Quảng Bình là nơi hội tụ nhiều nền văn hóa và sự sáng tạo đặc sắc của con người
Trang 24Từ kiệt tác của thiên nhiên với những hang động có kích thước lớn nhất, dài nhất,
cửa hang cao và rộng nhất, hồ ngầm đẹp nhất thế giới – di sản Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình; đến sự tinh tế của Nhã nhạc cung đình Huế, sự thâm nghiêm của Quần thể di tích cố đô Huế - di sản được UNESCO xem là "một thí dụ điển hình về đô thị hóa và kiến trúc của một kinh đô phòng thủ, thể hiện quyền lực
của vương quốc phong kiến cổ của Việt Nam ở thời kỳ huy hoàng vào thế kỷ XIX" Đặc biệt hơn là điểm dừng chân Đà Nẵng – một điểm đến hai di sản: Đô thị cổ Hội
An và Thánh địa Mỹ Sơn – những bằng chứng sống động về giao thoa văn hóa với
những giá trị kiến trúc, điêu khắc điển hình Trong đó, đô thị cổ Hội An là sự bảo
tồn hoàn hảo một cảng thị châu Á truyền thống, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Trung, Nhật; còn Thánh địa Mỹ Sơn là Angkor của Việt Nam, một ví dụ tiêu
biểu về trao đổi văn hóa với Ấn Độ, Chămpa
Bắt kịp nhu cầu muốn trải nghiệm, tìm về mảnh đất miền Trung – nơi hội tụ các di sản văn hóa thế giới của khách hàng cùng với sự phát động của Tổng cục Du
lịch, những năm gần đây, các doanh nghiệp lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh cung cấp ra thị trường sản phẩm du lịch di sản miền Trung đi qua các tỉnh
Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị, Quảng Bình với tên gọi “Con đường di sản miền Trung” Chương trình du lịch thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày, giá chương trình dao động từ
3 triệu đồng đến 6 triệu đồng chưa bao gồm tiền vé máy bay Phương tiện vận chuyển từ thành phố Hồ Chí Minh ra Đà Nẵng được các hãng lữ hành lựa chọn là máy bay Sau khi đến Đà Nẵng, khách hàng sẽ được vận chuyển bằng xe khách du
lịch Đặc điểm của sản phẩm du lịch này, khách hàng sẽ được tự mình trải nghiệm tìm hiểu, khám phá các di sản thế giới cùng với việc kết hợp tham quan các tuyến điểm du lịch đặc sắc khác như Bán đảo Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Bà Nà Hill, Biển
Mỹ Khê…
Trang 25phải bỏ ra Nó diễn ra ở các giai đoạn khác nhau của quá trình mua hàng, bao gồm
cả giai đoạn trước, trong và sau khi mua, do đó sẽ có nhiều nhân tố tác động đến giá
trị cảm nhận của khách hàng
Với nghiên cứu thực hiện trong ngành thuốc lá , Sheth và cộng sự (1991) đã xác định giá trị cảm nhận bao gồm năm giá trị cốt lõi, đó là chức năng của sản
phẩm, giá trị xã hội, cảm xúc, tri thức và điều kiện Mỗi nhân tố thành phần của giá
trị cảm nhận trong lý thuyết phù hợp với những thành phần khác nhau của những
mô hình được phát triển bởi Maslow, Kart
Trong đó, các tác giả xác định chức năng của sản phẩm là các lợi ích thực
dụng, thiết thực hay hiệu quả vật chất của sản phẩm Lâu nay, giá trị chức năng được xem như lực dẫn dắt chính sự lựa chọn của khách hàng Giá trị chức năng có
thể xuất phát từ các đặc điểm và thuộc tính như độ tin cậy, độ bền và giá cả Còn giá
trị xã hội được định nghĩa là các tác động vô hình liên quan đến mối quan hệ giữa
cá nhân với một hay nhiều nhóm đặc biệt trong xã hội xuất phát từ việc mua sản
phẩm như địa vị xã hội và sự kính trọng người khác dành cho họ Với nhân tố cảm xúc, các tác giả cho rằng đây chính là những cảm giác hoặc trạng thái cảm xúc hình thành trong bản thân khách hàng trong quá trình trước, trong và sau khi mua sản
phẩm Sự cảm nhận của khách hàng về giá trị sản phẩm thường liên quan tới các
phản hồi về cảm xúc Nhân tố tri thức cũng là một thành phần quan trọng trong giá
trị cảm nhận của khách hàng, nó bao gồm sự tò mò, tính mới lạ và các kiến thức,
hiểu biết mà sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng Cuối cùng, nhân tố điều kiện được định nghĩa là tính hữu dụng của sản phẩm phụ thuộc vào một tình huống, điều
kiện cụ thể nào đó
Phát triển dựa trên nghiên cứu của Sheth và cộng sự (1991), trong một nghiên
cứu sau đó về cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm được mua tại các điểm
Trang 2616
bán lẻ, Sweeney & Soutar (2001) đã không xem nhân tố tri thức và nhân tố điều
kiện là quan trọng tác động đến giá trị cảm nhận Năm nhân tố ban đầu do đó giảm
xuống còn ba: chức năng của sản phẩm, giá trị xã hội và cảm xúc Với nghiên cứu này, Sweeney và Soutar (2001) đã thiết kế một thang đo đo lường giá trị cảm nhận PERVAL như đã biết Chức năng của sản phẩm bao gồm các nhân tố giá cả - tiện ích có được từ chi phí tiền bạc bỏ ra và nhân tố chất lượng – tiện ích có được từ chất lượng cảm nhận và hiệu suất mong đợi của sản phẩm Trong khi đó, cảm xúc là
những cảm xúc và trạng thái tình cảm có được từ kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm và giá trị xã hội là những ảnh hưởng vô hình của việc mua sản phẩm đến các mối quan
cứu của Sweeney & Soutar (2001), nghiên cứu của Sheth và cộng sự (1991) được
thực hiện đối với sản phẩm hàng hóa hữu hình, đối với trường hợp sản phẩm chương trình du lịch trọn gói, tác giả sẽ tiếp tục phân tích chi tiết hơn các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch
a Nghiên c ứu của Gallarza & Saura (2006): sản phẩm du lịch lữ hành
Trong một nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận đối với sản
phẩm du lịch lữ hành của sinh viên đại học tại Tây Ban Nha – đối tượng thường xuyên đi du lịch theo nhóm trong kỳ nghỉ mùa xuân, Gallarza & Saura (2006) ban đầu đã đề xuất 8 nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận, trong đó 5 nhân tố tác động cùng chiều và 3 nhân tố tác động ngược chiều:
Thứ nhất, nhân tố được tác giả gọi tên là hiệu suất có tác động cùng chiều đến giá trị cảm nhận Tên gọi là hiệu suất tuy nhiên đây thực chất là sự đánh giá của khách hàng đối với chất lượng của 3 dịch vụ thành phần tạo thành chương trình du
lịch trong chương trình du lịch bao gồm: di chuyển, ăn uống, lưu trú
Trang 2717
Thứ hai, nhân tố chất lượng dịch vụ có tác động cùng chiều đến giá trị cảm
nhận Chính xác đây là nhân tố đo lường tính chuyên nghiệp của nhân viên bao
gồm: nhân viên cung cấp dịch vụ một cách đáng tin cậy; đúng giờ; nhân viên có
kiến thức và kỹ năng tốt; việc tiếp cận nhân viên dễ dàng; nhân viên lịch sự và tôn
trọng khách hàng; nhân viên lắng nghe và thấu hiểu khách hàng; nhân viên đáng tin
cậy và trung thực; nhân viên cố gắng trong việc thấu hiểu nhu cầu khách hàng; nhân
viện gọn gàng và sạch sẽ
Thứ ba, nhân tố mối quan hệ xã hội tác động cùng chiều đến giá trị cảm nhận
Mối quan hệ xã hội chính là mối quan hệ giữa giá trị cá nhân trong và ngoài một nhóm người nhất định, bao gồm việc củng cố mối quan hệ với các thành viên trong nhóm du lịch và các thành viên ngoài nhóm là những người đi chung chuyến du lịch nhưng không quen biết trước và những người dân địa phương
Thứ tư, nhân tố cảm xúc tác động cùng chiều đến giá trị cảm nhận Đây là nhân tố thuộc về cảm xúc bên trong của khách hàng, có được từ quá trình tiêu thụ
sản phẩm du lịch lữ hành, tuy nhiên các biến quan sát đo lường chỉ mang tính chung chung về cảm xúc vui thích khi được trải nghiệm chuyến du lịch
Thứ năm, nhân tố thẩm mỹ tác động cùng chiều đến giá trị cảm nhận Nhân tố
thẩm mỹ là một phần quan trọng trong chương trình du lịch lữ hành, khách hàng có
sự quan tâm đặc biệt đến nhân tố này, nó bao gồm nét đẹp của phong cảnh thiên nhiên cũng như do con người tạo ra các con đường, tòa nhà cao ốc,…
Thứ sáu, nhân tố chi phí tiền tệ tác động ngược chiều đến giá trị cảm nhận Nhân tố chi phí ngoài chi phí trả cho chương trình du lịch đã mua còn bao gồm chi phí cho ăn uống, shopping ngoài chương trình, chi phí cơ hội của số tiền bỏ ra và cả chi phí trong trường hợp trả lại vé không đi
Thứ bảy, nhân tố cảm nhận rủi to tác động ngược chiều với giá trị cảm nhận
Việc đề cập đến nhân tố rủi ro là điểm mới của nghiên cứu, vì nhân tố này rất ít xuất
hiện trong các nghiên cứu trước đó, nhân tố rủi ro bao gồm rủi ro gặp phải khủng
bố, tội phạm, bệnh truyền nhiễm, thảm họa thiên nhiên, vấn đề chính trị, xả hội
Trang 2818
Thứ tám, nhân tố thời gian và công sức ảnh hưởng ngược chiều với giá trị cảm
nhận Thời gian và công sức của khách hàng đánh đổi để có được sản phẩm Bao
gồm thời gian bỏ ra trong chuyến du lịch, chi phí cơ hội cho quỹ thời gian đã bỏ ra,
nỗ lực rời bỏ công việc, gia đình và bạn bè
Nguồn: Gallarza, M G & Saura, I G., 2006 Value dimensions, perceived
value, satisfaction and loyalty: an investigation of university students’ travel
behavior Tourism Management
Hình 2.1 Các nhân t ố tác động đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du
l ịch lữ hành (Gallarza & Saura, 2006)
Thông qua khảo sát 274 bảng câu hỏi tại 2 trường đại học của Valencia và Madrid, kết quả cho thấy chỉ có 5 trên 8 nhân tố trên có ảnh hưởng đến giá trị cảm
nhận: bao gồm nhân tố chất lượng dịch vụ, mối quan hệ xã hội, cảm xúc, thẩm mỹ,
thời gian và công sức Ưu điểm của nghiên cứu này là các tác giả đã bám sát đối
Giá trị cảm nhận
Trang 2919
tượng sản phẩm nghiên cứu là sản phẩm du lịch lữ hành để tìm ra các nhân tố cụ thể tác động đến giá trị cảm nhận của khách hàng Tuy nhiên, nghiên cứu gặp phải hạn
chế ở cách đặt tên các nhân tố tác động đến giá trị cảm nhận không thực sự phù hợp
với nội dung các biến quan sát; hơn nữa, kết quả vẫn chưa thể làm hài lòng tác giả
do nhân tố đánh giá chất lượng các dịch vụ thành phần tạo thành chương trình du
lịch như di chuyển, ăn uống, lưu trú là quan trọng lại không có ảnh hưởng đến giá
trị cảm nhận, đây có thể được giải thích là sai số do chọn mẫu
b Nghiên c ứu của Salamiah và cộng sự (2011): sản phẩm du lịch nhà dân – homestay
Nghiên cứu về giá trị cảm nhận của du khách đối với chương trình du lịch nhà dân tại Malaysia của Salamiah và cộng sự (2011) đã chỉ ra 5 nhân tố ảnh hưởng tích
cực đến giá trị cảm nhận bao gồm: cảm xúc; tương tác giữa chủ nhà và khách; văn hóa và kiến thức; phương tiện hữu hình; giá cả
Cũng giống như các nghiên cứu khác, cảm xúc là yếu tố thuộc về cảm xúc bên trong của khách hàng, xuất phát từ quá trình trải nghiệm dịch vụ
Đối với nhân tố sự tương tác giữa chủ nhà và khách, đây có thể được hiểu là nhân tố đánh giá về tính chuyên nghiệp của nhân viên trực tiếp giao dịch với khách hàng, mà cụ thể ở đây là chủ nhà
Vì du lịch nhà dân là hình thức du lịch tạo cho du khách cảm giác gần gũi với thiên nhiên, văn hóa và tập quán bản địa, nên văn hóa và kiến thức bao gồm các
hoạt động hướng về truyền thống, lễ hội, sự kiện, được tách hẳn ra một nhân tố độc
lập ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận
Trong khi đó, phương tiện hữu hình chính là không gian sinh hoạt tại ngôi nhà
du khách ở cũng như những cảnh vật xung quanh N hân tố giá cả được đo lường thông qua cảm nhận của du khách về giá cả chung phải trả cho chương trình du lịch, giá cả cho các sản phẩm, dịch vụ ngoài chương trình có sẵn tại địa phương
Các tác giả chọn 3 ngôi làng tại các bang khác nhau trên đất nước Malaysia bao gồm Banghuris, Selangor, Tanjung Piai, Johor, Pelegong, Negeri Sembilan để
thực hiện nghiên cứu Có 353 du khách phần đông là Malaysia, Nhật Bản, Trung
Trang 3020
Quốc, Hồng Kông tham gia khảo sát thông qua bảng câu hỏi Kết quả nghiên cứu ngoài việc khẳng định ảnh hưởng của 5 nhân tố kể trên đến giá trị cảm nhận còn
nhấn mạnh đối với loại hình du lịch nhà dân, nhân tố cảm xúc có ảnh hưởng quan
trọng hơn nhân tố thuộc về chức năng (nhân tố hữu hình và giá) Bởi vì du khách đến với du lịch nhà dân tại các ngôi làng truyền thống muốn tìm kiếm một trải nghiệm độc đáo, khác lạ do đó sự đánh giá của họ về giá trị cảm nhận sẽ hướng tới
cảm xúc nhiều hơn
Nguồn: Salamiah A Jamal, Nor’Ain Othman and Nik Muhammad, 2011
Tourist perceived value in a community-based homestay visit: An investigation into
the functional and experiential aspect of value Journal of Vacation Marketing
Hình 2.2 Các nhân t ố tác động đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du
l ịch nhà dân (Salamiah và cộng sự, 2011)
c Nghiên c ứu của Sanchez và cộng sự (2006): sản phẩm du lịch lữ hành
Được thực hiện tại Tây Ban Nha, một công trình nghiên cứu của Sanchez và
cộng sự (2006) đã cho thấy có 6 nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận của khách
Trang 3121
hàng đối với sản phẩm du lịch lữ hành Thông qua phỏng vấn 402 người dân sinh
sống tại 3 thành phố Madrid, Valencia, La Coruna, kết quả khẳng định giá trị cảm
nhận chịu ảnh hưởng tích cực bởi phương tiện hữu hình, nhân viên, giá trị sản
phẩm, giá cả, cảm xúc và giá trị xã hội
Sanchez, J., Callarisa, L., Rodrıguez, R.M., & Moliner, M.A., 2006 Perceived
value of the purchase of a tourism product Tourism Management
Hình 2.3 Các nhân t ố tác động đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du
Giá trị xã hộiPhương tiện
hữu hình
Trang 32Cảm xúc Tri thức Điều kiện Sweeney & Soutar
(2001)
Sản phẩm mua tại các điểm bán lẻ
Chức năng của sản phẩm Giá trị xã hội
và khách Văn hóa và kiến thức Phương tiện hữu hìnhGiá cả
Sanchez và cộng sự
Giá trị sản phẩmNhân viên Phương tiện hữu hìnhGiá cả
Trang 3323
Cảm xúcGiá trị xã hộiThông qua các công trình nghiên cứu về giá trị cảm nhận của khách hàng đã phân tích ở phần trên, đặc biệt là 3 công trình trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, có thể
nhận thấy mặc dù với tên gọi khác nhau nhưng hầu như các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch lữ hành đều có những điểm chung nhất định Nhân tố thẩm mỹ trong nghiên cứu của Gallarza & Saura (2006) với nội dung
là nét đẹp của cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo thực chất được các tác giả khác
gộp chung vào nhân tố giá trị sản phẩm du lịch Ngoài ra, nhân tố văn hóa và kiến
thức của Salamiah và cộng sự (2011) cũng được tác giả khác xem xét trong nhân tố
xã hội, kiến thức du khách có được từ trải nghiệm du lịch giúp họ hiểu biết hơn trong mắt người khác Từ nền tảng đó, tác giả rút ra các nhân tố ảnh hưởng đến giá
trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch di sản miền Trung, bao gồm:
- Chất lượng chương trình du lịch
- Tính chuyên nghiệp của nhân viên
- Phương tiện hữu hình
- Giá cả và thanh toán
- Cảm xúc
- Mối quan hệ xã hội
Mặc dù kết quả nghiên cứu của Gallarza & Saura (2006) cho thấy nhân tố chất lượng chương trình du lịch (hiệu suất) không ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận, tuy nhiên, tác giả vẫn đưa vào nghiên cứu vì nhận thấy đây là một nhân tố nhân tố quan
trọng và ngay cả bản thân Gallarza & Saura (2006) cũng kiến nghị các công trình nghiên cứu tiếp theo cần kiểm định lại nhân tố này trong mối quan hệ với giá trị
cảm nhận
2.3 Ý định mua sắm của khách hàng
Ý định mua sắm của khách hàng là một thành phần của lòng trung thành Lòng trung thành của khách hàng được định nghĩa như là sự cam kết của khách hàng sẽ
Trang 3424
mua lại sản phẩm hoặc dịch vụ ưa thích (Chaudhuri, 1999), sẽ ưu tiên tìm mua sản
phẩm của một thương hiệu nào đó (Yoo và cộng sự, 2000) trong tương lai
Theo Oliver (1999), lòng trung thành của khách hàng là một quá trình bao
gồm bốn giai đoạn theo trình tự nhận thức, cảm xúc, ý muốn và hành động Ban đầu, nhận thức dựa vào kiến thức hoặc kinh nghiệm sử dụng trước đây và lòng trung thành chủ yếu dựa vào nguồn thông tin này, do đó mức độ trung thành còn
thấp Trong giai đoạn tiếp theo, sự gắn kết với thương hiệu được phát triển theo cùng với sự gia tăng hài lòng của khách hàng, khách hàng hài lòng khi sử dụng sản
phẩm và nó trở thành một phần kinh nghiệm trong họ Do đó, họ bắt đầu hình thành
cảm xúc yêu thích đối với sản phẩm Tuy nhiên, tương tự như giai đoạn trước, tại giai đoạn này, lòng trung thành vẫn dễ bị tổn thương, khả năng khách hàng thay thế
sản phẩm khác là khá cao Mức độ trung thành tăng lên trong giai đoạn ý muốn, khách hàng có cam kết hoặc ý định tiếp tục mua lại sản phẩm, sự lặp lại thường xuyên các cảm xúc tích cực hình thành nên giai đoạn ý muốn Cuối cùng, sự mong
muốn và ý định được chuyển thành sự háo hức hành động, khách hàng sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại ngăn cản họ sử dụng sản phẩm yêu thích
B ảng 2.2 Đặc điểm các giai đoạn của lòng trung thành
Giai đoạn của lòng trung thành Đặc điểm
Ý mu ốn Cam kết hoặc ý định mua lại
Trong thực tế, trung thành thể hiện ở giai đoạn hành động rất khó đo lường và
hầu hết các nhà nghiên cứu có khuynh hướ ng sử dụng ý định hành vi mua sắm khi
đề cập đến lòng trung thành (Yang và Peterson, 2004) Trong lĩnh vực dịch vụ, ý định mua lại và sự sẵn sàng giới thiệu cho người khác được xem là thành phần của
ý định mua sắm (Chen và Tsai, 2007) Phần lớn các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của việc đo lường ý định mua sắm, điều này sẽ giúp tổ chức đánh giá được tiềm năng tiếp tục gắn bó hoặc rời bỏ tổ chức của khách hàng Theo
Trang 3525
Parasuraman và cộng sự (1988), ý định mua sắm tích cực của khách hàng cùng với
nỗ lực của nhà cung cấp dịch vụ tiếp tục giữ vững lòng trung thành khách hàng Khi khách hàng trung thành với công ty, họ sẽ không tìm kiếm các dịch vụ thay thế cũng không nhạy cảm với giá cả và sẽ truyền đi những thông tin tích cực cho khách hàng khác (Desai & Mahajan 1998) và thậm chí họ còn sẵn sàng mua các sản phẩm khác
từ công ty (Shani & Chalasani, 1992)
Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ, hành vi khách hàng chính là sự tác động qua lại giữa các nhân tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó con người thay đổi cuộc sống của họ Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng Những nhân
tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì,
bề ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng
Ý nghĩa giá trị cảm nhận đối với hành vi khách hàng
Còn theo hai nhà nghiên cứu Kotler & Levy (196 9), hành vi khách hàng là
những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử
dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ
Như vậy, có thể kết luận hành vi khách hàng là những suy nghĩ và cảm nhận
của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng Hành vi khách hàng là năng động và tương tác vì nó chịu tác động bởi những nhân tố từ môi trường bên ngoài
và có sự tác động trở lại đối với môi trường ấy Hành vi khách hàng bao gồm các
hoạt động: mua sắm, sử dụng và xử lý sản phẩm dịch vụ
Tính đến nay, nghiên cứu về hành vi khách hàng đã thu hút nhiều sự quan tâm
của các nhà hoạt động marketing thực tiễn bởi vì một sự hiểu biết thấu đáo cách
thức khách hàng suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử cho phép họ miêu tả, phân tích, dự đoán và kiểm soát cũng như tác động đến quá trình ra quyết định của người tiêu dùng (Crounch và cộng sự, 2004)
Trang 3626
Các tổ chức ra sức tìm kiếm thông tin về hành vi khách hàng Và những thông tin này được xem là thành phần quan trọng trong việc phát triển chiến lược makerting (Cravens & Piercy, 2003) Đi sâu hơn, tổ chức buộc phải nghiên cứu về giá trị cảm nhận vì đây là nền tảng giúp công ty đáp ứng được mong đợi của khách hàng, qua đó tác động đến hành vi khách hàng (Lin và cộng sự, 2005) Chính việc
tạo ra giá trị vượt trội cho khách hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp nổi bật hơn trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh (Cant và cộng sự, 2006) Nhiều nhà nghiên cứu marketing đã đồng ý rằng giá trị cảm nhận là công cụ đắc lực trong việc gia tăng lợi
thế cạnh tranh Việc thấu hiểu các khoảng cách giữ cảm nhận khách hàng và mong đợi của họ sẽ có tác động tích cực lên nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nâng cao giá trị cảm nhận của khách hàng (Woodruff, 1997)
Gallarza & Saura (2006) lập luận rằng hành vi khách hàng được nhận thức rõ
ràng hơn thông qua góc nhìn giá trị cảm nhận Bởi vì giá trị cảm nhận giải thích được các góc cạnh khác nhau của hành vi khách hàng, như sự lựa chọn sản phẩm và hành vi mua lại
Giá trị cảm nhận cũng có mối quan hệ với một phần cấu trúc quan trọng của hành vi khách hàng, đó là lòng trung thành Lòng trung thành của khách hàng được xây dựng bằng cách không ngừng mang lại giá trị vượt trội cho họ (Butcher và cộng
sự, 2002)
Tóm lại, với những lập luận trên, ta thấy được sự quan tâm và hiểu biết về giá
trị cảm nhận mang lại những lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp Ban đầu, các nhà nghiên cứu chiến lược về marketing hiện đại tiếp cận giá trị cảm nhận như là sự định hướng thoát ra ngoài doanh nghiệp, hướng tới và lấy khách hàng làm trọng tâm Sau đó, chính tầm quan trọng của nó đã khiến họ phải dồn sự tập trung vào quá trình tạo ra giá trị, mang đến giá trị tốt hơn cho khách hàng nhằm mục đích giành
lấy lợi thế cạnh tranh Bởi vì khách hàng thường nghĩ về dịch vụ của một công ty trong mối quan hệ với những dịch vụ khác được cung cấp bởi các đối thủ cạnh tranh Do đó, nắm bắt giá trị cảm nhận của khách hàng hiện tại và các khách hàng
Trang 37chứng minh rằng có sự ảnh hưởng tích cực của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm
của khách hàng Nghiên cứu xin giới thiệu một số công trình của các tác giả sau đây:
a Nghiên c ứu của Zeithaml (1988)
Nghiên cứu về giá trị cảm nhận của người tiêu dùng là nữ giới đối với sản
phẩm nước uống trái cây tại Hoa Kỳ, Zeithaml (1988) đã chỉ ra ảnh hưởng trực tiếp
của giá trị cảm nhận đến quyết định mua sắm
Tại thời điểm năm 1988, có nhiều công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa
chất lượng sản phẩm và hành vi mua hàng, nhưng nghiên cứu về sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến hành vi mua hàng có lẽ Zeithaml được xem là người tiên phong Thông qua nghiên cứu khám phá của mình, Zeithmal chỉ ra rằng mặc dù người tiêu dùng đều tin tưởng rằng nước ép trái cây nguyên chất có chất lượng cao hơn nước ép đóng gói, nhiều người trong số họ không chọn mua duy nhất nước ép nguyên chất bởi vì nó quá mắc, họ có khuynh hướng trộn cả hai loại nước ép trên theo một tỷ lệ nhất định Như vậy, một sản phẩm có thể có chất lượng cao nhưng khách hàng không đủ tiền mua hoặc không muốn bỏ tiền r a để mua nó, giá trị của
sản phẩm đó không được cảm nhận cao như một sản phẩm có giá trị thấp hơn nhưng với giá cả hợp lý Chính cảm nhận của khách hàng khi cân nhắc về những gì
họ nhận được và bỏ ra mới là nhân tố tác động trực tiếp đến quyết định mua sắm
chứ không phải là chất lượng sản phẩm
b Nghiên c ứu của Chen & Tsai (2008)
Chen & Tsai (2008) trong một nghiên cứu của mình về hành vi người tiêu dùng đối với sản phẩm dịch vụ lưu trú thông qua kênh mua sắm ti vi tại Đài Loan,
Trang 3828
đã đưa ra mô hình ảnh hưởng của giá trị cảm nhận trực tiếp đến lòng trung thành và
sự thỏa mãn của khách hàng
Thông qua việc khảo sát 1,000 khách hàng, thu về 407 bảng câu hỏi có giá trị,
kết quả cho thấy giá trị cảm nhận ảnh hưởng tích cực đến lòng trung thành và sự
thỏa mãn Điều bất ngờ với kết quả nghiên cứu là giả thiết sự thỏa mãn ảnh hưởng đến lòng trung thành không được chấp nhận Vì bản chất của sản phẩm dịch vụ lưu trú tại khách sản được mua thông qua dịch vụ mua sắm trên ti vi, nên sự đánh giá
của khách hàng về thỏa mãn bao gồm cả dịch vụ khách sạn và dịch vụ mua sắm, nên rất khó để truy ra nguồn gốc của việc bác bỏ giả thiết là xuất phát từ kênh mua
sắm hay là từ phía khách sạn
c Nghiên c ứu của Meng và cộng sự (2010)
Nếu như nghiên cứu của Zeithaml (1998) và Sheth và cộng sự (1991) đối với
sản phẩm hàng hóa hữu hình, nghiên cứu của Chen & Tsai (2008) đối với dịch vụ lưu trú thì nghiên cứu của Meng và cộng sự (2010) có đối tượng sản phẩm gần
giống với luận văn này nhất, đó là sản phẩm du lịch du thuyền
Với đối tượng nghiên cứu là 1,600 hành khách của công ty Star Cruise, công
ty nổi tiếng chuyên cung cấp hành trình du thuyền tại Đài Loan, lòng trung thành
của khách hàng được đo lường cụ thể qua khái niệm ý định mua sắm Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả đã chứng minh sự ảnh hưởng cùng chiều của giá trị cảm nhận đến ý định hành vi mua sắm và sự thỏa mãn cũng như sự
thỏa mãn có tác động tích cực đến ý định hành vi mua sắm
d Nghiên c ứu của Sumaedi và cộng sự (2012)
Một nghiên cứu của Sumaedi và cộng sự (2012) về ý định mua sắm của khách hàng đối với dịch vụ vận chuyển công cộng tại thủ đô Jakarta của Indonesia cũng cho kết quả tương tự như nghiên cứu của Meng và cộng sự (2010)
Sumaedi và cộng sự (2012) tiếp tục chứng minh được sự ảnh hưởng đáng kể
của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm và sự thỏa mãn của khách hàng thông qua nghiên cứu định lượng Tuy nhiên, số lượng mẫu trong trường hợp này chỉ dừng lại
Trang 3929
ở con số 339 hành khách nên kết quả bị hạn chế trong việc khái quát hóa cho tất cả hành khách tại Jarkata
e Nghiên c ứu của Wahyuningsih (2012)
Wahyuningsih (2012) tiếp tục chỉ ra sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm của khách hàng trong một nghiên cứu về ý định mua sắm của khách
du lịch đến đảo Togean, Indonesia Wahyuningsih (2012) đã chứng minh nhân tố tác động trực tiếp ý định hành vi mua sắm của khách hàng là giá trị cảm nhận Cấu trúc giá trị cảm nhận trong nghiên cứu này được tiếp cận bao gồm chất lượng cảm
nhận và giá cả cảm nhận, tuy nhiên đối với sản phẩm du lịch giá trị cảm nhận nên được đo lường bởi nhiều nhân tố khác hơn là chỉ bao gồm hai nhân tố trên
Tóm lại, kết quả của các công trình nghiên cứu được thực hiện tại thị trường Hoa Kỳ, Đài Loan, Indonesia đối với sản phẩm hữu hình và cả sản phẩm dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch đã cho thấy có sự tác động tích cực của giá trị cảm nhận lên hành vi mua sắm gồm ý định và quyết định mua sắm của khách hàng
2.5 Mô hình nghiên c ứu và các giả thiết nghiên cứu
Từ các phân tích đã trình bày ở trên, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến ý định mua sắm của khách hàng đối với sản
phẩm du lịch lữ hành – du lịch di sản miền Trung
Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu thêm mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến giá
trị cảm nhận đối với sản phẩm du lịch lữ hành gồm 6 nhân tố (1) Phương tiện hữu hình, (2) Chất lượng chương trình du lịch, (3) Tính chuyên nghiệp của nhân viên, (4) Giá cả và thanh toán, (5) Cảm xúc, (6) Mối quan hệ xã hội
Như vậy, ta có mô hình đề nghị tổng quát như sau:
Trang 4030
Hình 2.4 Mô hình nghiên c ứu đề nghị
Phương tiện hữu hình: vì giá trị cảm nhận của khách hàng về sản phẩm du lịch
bao gồm giá trị cảm nhận của họ về chương trình du lịch và nhà cung cấp dịch vụ (Sanchez và cộng sự, 2006) nên phương tiện hữu hình được xé t đến ở đây bao gồm văn phòng, trụ sở giao dịch của doanh nghiệp và cả các phương tiện, cơ sở vật chất
kỹ thuật tạo ra các dịch vụ, hàng hóa cấu thành chương trình du lịch Phương tiện
hữu hình là một nhân tố quan trọng đối với cảm nhận của khách hàng về giá trị sản
phẩm, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ khi mà hàng hóa mang tính vô hình, đánh giá
của khách hàng càng có xu hướng dựa vào các phương tiện hữu hình Phương tiện
hữu hình càng khang trang, hiện đại, càng đem đến cảm giác yên tâm cho khách
H7 (+) H4 (+)
Giá trị
cảm nhận
H5 (+) H6 (+)
H2 (+) H1 (+)