HỒ CHÍ MINH --- LÝ TRUNG DŨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA HỘ NÔNG DÂN: NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TÔM LÚA TẠI HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP... HỒ CH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
LÝ TRUNG DŨNG
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA
HỘ NÔNG DÂN: NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TÔM LÚA TẠI HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
LÝ TRUNG DŨNG
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA
HỘ NÔNG DÂN: NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TÔM LÚA
TẠI HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3Tôi xin cam đoan, luận văn này là hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và nguồn số liệu sử dụng trong luận văn đều được trích nguồn và có độ chính xác cao nhất trong khả năng hiểu biết của tôi Luận văn là bài nghiên cứu chính sách của cá nhân, do đó không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2017
Học viên thực hiện
Lý Trung Dũng
Trang 4
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 2 5
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (BĐKH) 5
2.1.1 Khái niệm 5
2.1.2 Một số nguyên nhân biến đổi khí hậu 6
2.1.3 Biến đổi khí hậu ở đồng bằng Sông Cửu Long 7
2.2 SINH KẾ BỀN VỮNG 8
2.2.1 Khái niệm sinh kế 8
2.2.2 Sinh kế bền vững 9
2.2.3 Khung phân tích sinh kế bền vững 9
2.2.3.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương 10
2.2.3.2 Tài sản sinh kế 10
2.2.3.3 Chiến lược sinh kế 13
Trang 52.2.3.4 Kết quả của sinh kế 13
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 14
2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 14
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 17
CHƯƠNG 3 18
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH 18
3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 19
3.3 THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI 20
3.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 20
3.4.1 Dữ liệu thứ cấp 20
3.4.2 Dữ liệu sơ cấp 20
3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 21
3.5.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu 21
3.5.2 Phân tích thống kê mô tả 21
3.5.3 Kiểm định trung bình hai mẫu độc lập (t-test) 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 22
CHƯƠNG 4 23
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN AN MINH 23
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 23
4.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp 24
4.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TÔM LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN MINH 26
4.3 NGUỒN VỐN SINH KẾ 29
4.3.1 Nguồn vốn con người 29
4.3.2 Nguồn vốn tự nhiên 33
4.3.3 Nguồn vốn tài chính 34
4.3.4 Nguồn vốn vật chất 35
4.3.5 Nguồn vốn xã hội 37
4.4 BỐI CẢNH TỔN THƯƠNG 39
4.5 CHIẾN LƯỢC SINH KẾ 40
4.6 KẾT QUẢ SINH KẾ 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 43
Trang 6CHƯƠNG 5 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 44
5.1 KẾT LUẬN 44
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 46
5.2.1 Đối với UBND tỉnh Kiên Giang 46
5.2.2 Đối với UBND huyện An Minh 46
5.2.3 Đối với hộ nông dân 47
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU KHẢO SÁT
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
BĐKH: Biến đổi khí hậu
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
TNMT: Tài nguyên môi trường
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.2: Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp 24
Biểu đồ 4.3: Sản lƣợng khai thác thủy sản 24
Biểu đồ 4.4: Sản lƣợng nuôi trồng thủy sản 25
Biểu đồ 4.5: Diện tích và sản lƣợng tôm lúa 25
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, mô hình tôm lúa được xem là mô hình sản xuất thông minh trên địa bàn huyện An Minh Luân canh tôm lúa đã được nhận diện là mô hình thủy sản bền vững và hạn chế rủi ro so với các mô hình nuôi trồng thủy sản khác Mô hình tôm lúa là mô hình chủ lực trong định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương Thành công của việc chuyển đổi mô hình này hoàn hoàn phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh trong bối cảnh Chương trình ngọt hóa vùng bán đảo Cà Mau chưa được thực hiện.
Tác giả chọn mẫu 120 hộ nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu thập các thông tin phục vụ cho việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của hộ gia đình Phân tích các nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình bao gồm nguồn vốn con người, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn tài chính, nguồn vốn vật chất và nguồn vốn xã hội Kết quả cho thấy, các nguồn vốn của hộ gia đình trên địa bàn huyện An Minh có tỷ lệ tương đối cao, điều này cho thấy hộ gia đình sẽ thích ứng được với những tác động của điều kiện BĐKH
Đánh giá bối cảnh tổn thương, cho thấy tác động của BĐKH làm giảm diện tích sản xuất trồng lúa, gây thất mùa, thiếu nước sinh hoạt, giảm thu nhập của người dân Từ bối cảnh đó, hộ gia đình trên địa bàn huyện An Minh đã tìm được chiến lược sinh kế bằng việc chuyển đổi mô hình trồng lúa hai vụ sang mô hình tôm lúa Kết quả ban đầu cho thấy, mô hình này đã làm giảm chi phí sản xuất so với lúa hai vụ trước đây, năng suất tôm cao hơn so với mô hình nuôi tôm quảng canh và tác động môi trường cũng giảm hơn Từ sản xuất mô hình tôm lúa cũng làm cho thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, chi tiêu của
hộ cũng giảm hơn so với trước đây
Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy được hiệu quả sản xuất của mô hình tôm lúa trên địa bàn huyện An Minh Đánh giá tổng quát nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình, ảnh hưởng của BĐKH, chuyển đổi mô hình sản xuất của hộ gia
Trang 11đình Đây là những cơ sở quan trọng để tác giả đề tài đề xuất các giải pháp nhằm giúp hộ nông dân huyện An Minh nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện thu nhập, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Trang 12GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh và thành phố, trong đó có 11 tỉnh sát biển ĐBSCL có diện tích khoảng 40.000km², chiếm 12,3% diện tích của cả nước Hàng năm, 50% diện tích vùng ĐBSCL bị ngập lũ từ 3-4 tháng, 40% diện tích bị ảnh hưởng xâm nhập mặn Dân số vùng ĐBSCL là 18 triệu người, chiếm 20% dân số cả nước, trong đó có trên 80% dân số sống ở vùng nông thôn ĐBSCL có địa hình thấp và bằng phẳng, phần lớn có cao độ trung bình từ 0,7-1,2m so với mực nước biển và là vùng bị ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH, chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi triều và xâm nhập mặn (Báo cáo của Tổng cục Thống
kê, 2016) Những năm gần đây, trong điều kiện BĐKH, nước biển dâng, vấn đề khan hiếm nước sinh hoạt nông thôn xảy ra ở hầu hết các địa phương thuộc vùng ĐBSCL do ảnh hưởng xâm nhập mặn sâu, lũ lụt và hạn hán kéo dài, chất lượng nguồn nước suy giảm
Đối với Kiên Giang là một tỉnh ven biển của ĐBSCL với bờ biển dài trên 200km, với 137 hòn/đảo lớn nhỏ cùng với hệ sinh thái đa dạng, phong phú được xác định là khu dự trữ sinh quyển thế giới (Báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang, 2015) Mặt khác tỉnh nằm ở cuối nguồn của sông Hậu, nơi thoát nước ra biển nhưng là đầu nguồn của triều biển Tây Do đó BĐKH sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đối với tỉnh Kiên Giang đặc biệt là nước biển dâng, xâm nhập mặn và các yếu tố thời tiết cực đoan đối với khu vực ven biển, các đảo có dân cư sinh sống Nhận thấy những khó khăn, thách thức của BĐKH tác động đến tỉnh, đặt biệt đối với dải ven biển, vùng trũng thấp và các hải đảo; UBND tỉnh đã phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Theo Kế hoạch đề ra trong thời gian đầu tập trung cho công tác nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH, làm sao đến cuối năm 2015 có khoảng 30% cộng đồng dân cư và trên 65% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết cơ bản về
Trang 13BĐKH và các tác động của nó Đến cuối năm 2020 có trên 80% cộng đồng dân
cư và 100% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết về BĐKH (Báo cáo của
Sở Công thương Kiên Giang, 2015)
Huyện An Minh là huyện vùng sâu của tỉnh Kiên Giang, kinh tế chủ yếu
là Nông - Lâm - Ngư nghiệp Huyện An Minh phía bắc giáp huyện An Biên, nam giáp tỉnh Cà Mau, tây giáp vịnh Thái Lan, đông- giáp huyện U Minh Thượng Huyện có 10 xã và 1 thị trấn Diện tích 590,56 km2, dân số: 119.279 người Diện tích dùng để nuôi trồng thủy sản chiếm trên 50% (Niên giám thống
kê tỉnh Kiên Giang, 2015) Trong những năm qua, tình trạng biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng gay gắt trên địa bàn huyện An Minh, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp Hạn hán, xâm nhập mặn làm thiếu nước ngọt cho trồng lúa, nuôi cá nước ngọt Người dân huyện An Minh từ trồng lúa đã dần chuyển sang mô hình tôm lúa để thích ứng với điều kiện canh tác mới Việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của hộ sản xuất theo mô hình tôm lúa tại huyện An Minh là việc làm cần thiết, góp phần quan trọng để đề xuất các chính sách giúp chính quyền địa phương có những chính sách hợp lý trong quy hoạch vùng nuôi, hỗ trợ nguồn vốn giúp hộ nông dân yên tâm canh tác, phát
triển sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế địa phương Từ thực tế đó,
tác giả quyết định chọn đề tài “Biến đổi khí hậu và thay đổi sinh kế của hộ nông dân: Nghiên cứu mô hình tôm lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang”
Trang 14hậu
Thứ hai, đề xuất một số chính sách nhằm ổn định sinh kế của hộ nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang trong điều kiện biến đổi khí hậu
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Thay đổi sinh kế của hộ nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa tại huyện
An Minh như thế nào trong điều kiện biến đổi khí hậu?
Các chính sách nào nhằm ổn định sinh kế cho những hộ gia đình nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang trong điều kiện biến đổi khí hậu?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhóm hộ gia đình sản xuất theo mô hình tôm lúa và nhóm hộ gia đình không tham gia Đề tài sử dụng khung sinh kế bền vững của DFID và tập trung nghiên cứu cụ thể năm nguồn vốn sinh kế bao gồm nguồn vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài thực hiện tại 2 xã Đông Thạnh và Đông Hòa của huyện An Minh vì nơi đây có nhiều hộ tham gia sản xuất theo mô hình tôm lúa Số liệu thứ cấp được lấy từ báo cáo các năm 2011-2015 của Ủy ban nhân dân huyện An Minh, Phòng Nông nghiệp & PTNN huyện An Minh và Niên giám Thống kê tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 – 2015 Số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2016
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Luận văn gồm 5 chương cụ thể như sau:
Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Chương này trình bày lý do chọn đề tài
nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn
Chương 2 Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về biến
đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đối với sản xuất nông nghiệp; trình bày cơ sở
Trang 15lý thuyết về khung sinh kế bền vững DFID và các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về chọn điểm
nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày về các nguồn vốn
sinh kế của hộ nông dân tại huyện An Minh, đánh giá tác động biến đổi khí hậu đối với các nguồn vốn sinh kế, phân tích sự thích ứng biến đổi khí hậu của các
hộ nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa tại huyện An Minh đối với các nguồn vốn sinh kế
Chương 5 Kết luận và kiến nghị chính sách Chương này trình bày những
kết quả chính đạt được trong đề tài, các hàm ý chính sách giúp hộ nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa cải thiện nguồn vốn sinh kế, nâng cao thu nhập; đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16Các biểu hiện của BĐKH là:
(i) Sự nóng lên của bầu khí quyển và bề mặt trái đất;
(ii) Sự thay đổi thành phần và chất lượng của khí quyển có hại đến môi
trường sinh thái và sự sống trên trái đất;
(iii) Sự dâng cao của nước biển do băng tan làm ngập úng các vùng đất
thấp, trũng;
(iv) Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng ngàn năm trên các
vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loại sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người;
(v) Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển,
chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác;
(vi) Sự thay đổi năng suất sinh hoạt của các hệ sinh thái, chất lượng và
thành phần của thủy quyển, sinh quyển và các địa tuyến
Theo Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH thì BĐKH là
“những ảnh hưởng có hại của BĐKH”, là những biến đổi trong môi trường vật
Trang 17lý hoặc sinh hoạt gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người
Theo định nghĩa của Tổ chức Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) trong báo cáo lần thứ Tư (AR4) năm 2007, BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn
Như vậy, BĐKH là bất kỳ sự thay đổi có hệ thống của các nhân tố khí hậu (nhiệt độ, áp suất hoặc gió) qua một thời gian dài do quá trình tự nhiên như thay đổi trong quá trình phát năng lượng của mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay quả đất, hoặc do các tác động từ hoạt động của con người
2.1.2 Một số nguyên nhân biến đổi khí hậu
Nguyên nhân chính làm BĐKH trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và
bể khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác
Nguyên nhân của hiện tượng BĐKH có thể được lý giải như sau: Những nhân tố có thể hình thành khí hậu là thay đổi bức xạ khí quyển, bao gồm các quá trình như biến đổi bức xạ mặt trời, độ lệch quỹ đạo Trái đất, quá trình kiến tạo núi, kiến tạo trôi dạt lục địa và sự thay đổi nồng độ khí nhà kính Trên thực tế,
“nhiệt độ của Trái đất là cân bằng nếu nó phát ra trở lại vào không gian cùng một lượng năng lượng mà nó nhận được từ mặt trời (khoảng 340 watts cho mỗi mét vuông)” (Kolstad, 2000) Khoảng 100 w/m2
được phản xạ trở lại vào khí quyển do những đám mây và 240 w/m2 vào bề mặt trái đất Bầu không khí có nhiều thành phần, những chất khí có khả năng giữ nhiệt, được gọi là “khí nhà kính” Khi tăng quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, các luồng khí nhà kính vào khí quyển cũng phát triển, làm tăng hiệu ứng nhà kính cả nồng độ và cường
độ Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về BĐKH có thể tăng hoặc giảm
Trang 18bớt các biến đổi ban đầu Một số thành phần của hệ thống khí hậu, chẳng hạn như các đại dương và chỏm băng, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn Do đó, hệ thống khí hậu có thể mất thời gian lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài
Việc biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế của hộ gia đình Hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra thường xuyên làm giảm diện tích sản xuất nông nghiệp, tình trạng mất mùa diễn ra thường xuyên Thời tiết thất thường ảnh hưởng đến lịch thời vụ Việc chọn con giống, cây trồng để thích ứng với điều
kiện khí hậu mới cũng khó khăn, dẫn đến năng suất không cao
2.1.3 Biến đổi khí hậu ở đồng bằng Sông Cửu Long
ĐBSCL là 1 trong 3 đồng bằng dễ bị tổn thương nhất trên Trái đất do BĐKH, những diễn biến thời tiết ngày càng xấu đi và đang tác động nghiêm trọng lên khu vực này BĐKH làm cho mực nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, xảy
ra với tần suất ngày càng lớn hơn Những yếu tố đó làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan tràn chua phèn… và dẫn tới những hệ lụy khác
Qua phân tích chuỗi số liệu khí tượng và thủy văn ở các tỉnh vùng ĐBSCL cho thấy xu hướng gia tăng nhiệt độ trung bình năm khá rõ rệt Trong khoảng thời gian từ 20 - 30 năm qua, nhiệt độ không khí đã tăng trung bình khoảng 0,5 - 0,7oC Mặc dù nhiệt độ không khí (cả nhiệt độ cao nhất và thấp nhất) đều có xu thế gia tăng nhưng số giờ nắng lại có khuynh hướng giảm đi Số giờ nắng tháng 1 giảm đi trung bình từ 10 - 20 giờ, tháng 7 giảm đi khoảng 20 -
30 giờ Số liệu quan trắc thủy văn biển nhiều năm cho thấy, trong 50 năm qua, mực nước biển đã gia tăng từ 25 - 30 cm Hiện tượng El Nino và La Nina đã có ảnh hưởng rõ rệt trong vài thập niên qua gây nên nhiều hiện tượng thiên tai tác động nặng nề đến cuộc sống và sản xuất của người dân
Thời gian qua, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn, đặc biệt trận lũ kéo dài trong năm 2000 là trận lũ lớn nhất trong vòng 70 năm qua Lũ lớn liên tiếp xảy
ra vào các năm 2001, 2002 và lũ lớn năm 2011 ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân vùng nông thôn và hoạt động của các ngành kinh tế Lũ lụt gây ra trượt lở đất ở vùng ven biển dẫn tới việc biển tiến sâu vào
Trang 19đất liền và gây ra hiện tượng nhiễm mặn ở vùng nội đồng Địa hình của ĐBSCL tương đối bằng phẳng, nếu như bão đổ bộ vào thì sẽ giống như đi trên biển, không gặp một trở ngại nào Nếu gặp những cơn bão từ cấp 10 trở lên đi qua thì ĐBSCL sẽ phải đối mặt với những thảm họa khôn lường Trước đây, ĐBSCL rất
ít hứng chịu bão, thế nhưng trong thập kỷ vừa qua, vào năm 1997 đã hứng chịu tác động của cơn bão Linda, đến năm 2006 thì bị đuôi bão Durian quét qua gây tổn thất nặng nề Cơn bão Durian này đạt tới cấp 14 và gió giật trên cấp 14 đã làm cho địa bàn tỉnh Tiền Giang gánh chịu những thiệt hại to lớn: 500 căn nhà bị tốc máy, 29 căn nhà bị sập, một tàu cá bị chìm và 7 người mất tích
Nhiều nghiên cứu gần đây nhận thấy mối tương quan giữa việc bão ở Tây Thái Bình Dương có xu hướng xảy ra thường xuyên sau tháng 10 dương lịch và
đi về hướng xích đạo với nhiệt độ nước biển bề mặt tăng, đường đẳng trị nhiệt
độ 20o
C bị thay đổi và biến đổi dòng hải lưu do BĐKH Sự tàn phá mà cơn bão Durian đã gây ra sẽ còn lớn lao và khắc nghiệt hơn nhiều nếu giả thuyết ở thời điểm trong tương lai khi mực nước biển cao hơn so với hiện nay
2.2 SINH KẾ BỀN VỮNG
2.2.1 Khái niệm sinh kế
Sinh kế là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ
Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ (Bộ phát triển Quốc tế Anh)
Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ
Tiếp cận sinh kế là cách tư duy về mục tiêu, phạm vi và những ưu tiên cho phát triển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo Đây là phương pháp tiếp cận
Trang 20sâu rộng với mục đích nắm giữ và cung cấp các phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân và các mặt trong của đói nghèo với trọng tâm tập trung vào một số yếu tố như các vấn đề kinh tế, an ninh lương thực
Phương pháp tiếp cận sinh kế có mục đích giúp người dân đạt được thành quả lâu dài trong sinh kế mà những kết quả đó được đo bằng các chỉ số do bản thân họ tự xác lập và vì thế họ sẽ không bị đặt ra bên ngoài
2.2.2 Sinh kế bền vững
Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận)
và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn (Chambers & Conway,1991)
2.2.3 Khung phân tích sinh kế bền vững
Sơ đồ 2.1: Khung sinh kế
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể sử
Trang 21dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại
2.2.3.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương
Bối cảnh dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được
Một số ví dụ về các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản và sinh kế của con người:
Xu hướng: xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột, xu hướng kinh tế quốc gia, quốc tế, những xu hướng thể chế (bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật )
Cú sốc: cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh cây trồng vật nuôi
Tính thời vụ: biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng
có tác động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi
2.2.3.2 Tài sản sinh kế
Theo DFID (1999), tài sản sinh kế là việc kết hợp 5 loại tài sản gồm nguồn vốn con người (H), nguốn vốn tự nhiên (N), nguồn vốn tài chính (F), nguồn vốn vật chất (P), nguồn nguồn vốn xã hội (S) để tạo ra sinh kế tích cực cho đời sống Giữa chúng có hai mối quan hệ quan trọng là xác định trình tự (sequencing) và thay thế (substitution) Năm loại tài sản này được xem là yếu tố
cơ bản trong khung phân tích về sinh kế bền vững
Vốn con người
Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động của hộ; yếu tố này
Trang 22khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống (như các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủ tục)
Vốn con người là quan trọng nhất trong tài sản sinh kế, vì vốn con người
là cần thiết để sử dụng và tạo ra bốn tài sản còn lại Nó được nâng cao thông qua đầu tư trong giáo dục, huấn luyện những kỹ năng để có thể đáp ứng với một hoặc nhiều nghề nghiệp
Vốn xã hội
Là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình Chúng được phát triển thông qua các mạng lưới, hợp tác giữa các thành viên nhóm chính thức; các mối quan hệ được thực hiện dựa trên niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau, trao đổi và ảnh hưởng lẫn nhau
Vốn xã hội bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ hàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau… Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực
Vốn tự nhiên
Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên
Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người
Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hàng hoá công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được
sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng Trong khung sinh kế bền vững mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm họa tàn phá kế sinh nhai
Trang 23của người nghèo thường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháy rừng, lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu và đất nông nghiệp) Và tính mùa vụ thì ảnh hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất
và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua các năm
Vốn vật chất
Vốn vật chất gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn mặn, tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin
Cơ sở hạ tầng bao gồm thay đổi môi trường vật chất mà mọi người được giúp đỡ để đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ, bao gồm chi phí lưu thông, chất lượng của nhà ở, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, giá cả của năng lượng, chất lượng của truyền thông
Tài sản của hộ gia đình bao gồm cả các tài sản phục vụ sản xuất và các tài sản phục sinh hoạt của hộ, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình
Vốn tài chính
Là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các nguồn thu nhập tiền mặt như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước…để đạt được mục tiêu sinh kế của mình Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu: là vốn sẵn có và nguồn vốn vào thường xuyên, nguồn vốn sẵn có như: tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng, vật nuôi, khoản vay tín dụng và nguồn vốn vào thường xuyên như: trợ cấp, các khoản tiền chuyển nhượng từ nhà nước hoặc các khoản tiền gửi của người thân chuyển về, tiền lương hưu
Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình Đây cũng là loại tài sản linh hoạt nhất trong năm loại tài sản, có thể chuyển đổi với các mức độ khác nhau một cách dễ dàng, đóng vai trò trung gian và có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả bốn loại tài sản kia
Trang 242.2.3.3 Chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của họ Các hộ gia đình, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách sinh sống) Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều kiện môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thị trường, việc làm trong nền kinh tế và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Người dân có thể sử dụng những gì mà họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại
Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của họ về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau Quy mô của các hoạt động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi Quản lý như thế nào để bảo tồn được các nguồn lực sinh kế và thu nhập của họ? Cách người dân thu thập và phát triển các kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống? Cách sử dụng thời gian và công sức? Cách họ đối phó với rủi ro
Trong điều kiện BĐKH, với tình hình hạn hán, nước biển dâng, xâm ngập mặn kéo dài, người dân không thể dựa mãi vào cây lúa nên họ đã chuyển sang
mô hình tôm lúa để thích ứng với điều kiện sản xuất mới Việc trồng lúa trên đất nuôi tôm không xảy ra xung đột trong quá trình sản xuất, mà là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao Vào mùa khô, nước ngoài sông rạch mặn thì lấy vào nuôi tôm, khi mưa xuống nước ngọt thì rửa mặn nền đất nuôi tôm đưa vào trồng lúa Trong hệ thống canh tác tôm - lúa, sau khi nuôi một vụ tôm thì tiến hành trồng một vụ lúa, khi đó những chất thải hữu cơ dưới đáy ao sau khi thu hoạch tôm sẽ làm cho ruộng lúa màu mỡ, người trồng lúa chỉ bón một lượng phân nhỏ
là đáp ứng nhu cầu phát triển của cây Mô hình sản xuất tôm – lúa là mô hình sản xuất thân thiện với môi trường trong bối cảnh tình hình dịch bệnh trên tôm ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với tác động bất lợi của BĐKH ngày càng rõ rệt như: xâm nhập mặn, hạn hán, nước biển dâng, môi trường bị ô nhiễm
2.2.3.4 Kết quả của sinh kế
Kết quả sinh kế mang tính chất là tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền vững Kết quả sinh kế là vấn đề thuộc về an sinh xã hội, cuộc sống của
Trang 25người dân ra sao? Thu nhập của họ như thế nào? An ninh lương thực, khả năng ứng biến sinh kế trước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội Đây là kết quả của những thay đổi cuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mong muốn đạt được
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Reiner và các cộng sự (2004) đã công bố một nghiên cứu trên mô hình toán thủy lực để phỏng đoán các diễn biến ngập lũ ở Đồng bằng sông Mekong trong thời đoạn tháng 8 đến tháng 11 với kịch bản mực nước biển dâng 20 cm và
50 cm Kết quả cho thấy đường đồng mức ngập lũ sẽ mở rộng tương ứng với mức nước dâng 20 cm và 50 cm sẽ là 25 km và 50 km về phía hạ lưu Ở giai đoạn đầu của lũ (tháng 8), mực nước trung bình vùng Đồng bằng sẽ gia tăng thêm 14,1 cm (khi nước biển dâng 20 cm) và 32,2 cm (khi nước biển dâng 50 cm) Đến kỳ đỉnh lũ (tháng 10), mức gia tăng mức ngập tương ứng này sẽ là 11,9 cm và 27,4 cm
Nicholls và Lowe (2006) tính rằng khi mực nước biển dâng cao 40 cm, số nạn nhân của lũ trên thế giới hiện nay là 13 triệu người sẽ tăng lên 94 triệu người Khoảng 20% trong số họ sống ở vùng Đông Nam Á, trong đó vùng bị ảnh hưởng nặng nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng
Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu - IPCC (2007) qua phân tích
và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng đã công nhận ba vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do sự biến đổi khí hậu là vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập) Khi nước biển tăng lên 1 mét, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội ĐBSCL sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển (Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc – UNDP, 2007)
Dasgupta và các cộng sự (2007) đã công bố một nghiên cứu chính sách do Ngân hàng Thế giới - WB - xuất bản đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc
Trang 26gia chịu ảnh hưởng cao nhất do biến đổi khí hậu Tại Việt Nam, hai đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nhất Khi nước biển dâng cao 1 mét, ước chừng 5,3% diện tích tự nhiên, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp sẽ bị ảnh hưởng Rủi ro ở ĐBSCL, bao gồm cả hạn hán và lũ lụt, sẽ gia tăng với các trận mưa có cường độ cao và các ngày hạn kéo dài
Hanh và Furukawa (2007) dựa vào những ghi nhận ở trạm đo thủy triều ở Việt Nam để kết luận về những bằng chứng của sự dâng lên của mực nước biển: trung bình mỗi năm mực nước biển ở Việt Nam đã tăng trong khoảng 1,75 – 2,56 mm/năm
Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040 Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị tác động sau (Tuan and Supparkorn, 2009): nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35-37°C; lượng mưa đầu
vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%; sự phân bổ mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia tăng một ít vào cuối mùa mưa; Tổng lượng mưa năm tại An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng sẽ giảm chừng 20%, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2 tuần lễ;
diện tích ngập ở ĐBSCL do lũ sẽ gia tăng
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Võ Văn Tuấn và cộng sự (2013) nghiên cứu về Khả năng thích ứng của nông dân với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng thích ứng của nông dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long đối với tác động của biến đổi khí hậu Khả năng thích ứng của nông dân trồng lúa được đánh giá tại 4 tỉnh phía Nam Sông Hậu thuộc các đặc thù sinh thái khác nhau tùy theo chế độ thủy văn và đặc tính đất đai, bao gồm An Giang (lũ), Cần Thơ (phù sa), Hậu Giang (đất phèn) và Bạc
Trang 27Liêu (nước mặn) Nghiên cứu được thực hiện thông qua tiếp cận định tính, chủ yếu là thảo luận nhóm Có 23 nhóm nông dân được thảo luận, các nhóm này được phân chia theo quy mô sở hữu đất nông nghiệp (nhỏ và lớn hơn 1 ha) và hệ thống canh tác chính dựa trên nền lúa tại các điểm nghiên cứu Kết quả phân tích cho thấy rằng các hiểm họa chính được nông dân chỉ ra là nhiệt độ cao bất thường, ngập úng do lũ và mưa, hạn hán, xâm nhập mặn và dịch hại trên lúa Nông dân đã và đang ứng phó lại các tác động này; tuy vậy, bên cạnh các yếu tố thúc đẩy, họ đang đối mặt với nhiều yếu tố gây cản trở quá trình thích ứng Các yếu tố thúc đẩy gồm có diện tích đất lúa và hiệu quả sử dụng tài nguyên, phương tiện tiếp cận thông tin và các tổ chức không chính thức tại cộng đồng (CLB giống và khuyến nông) Các yếu tố cản trở đa dạng hơn, chẳng hạn như thiếu lao động, đất canh tác hạn chế, ô nhiễm nước mặt, thiếu vốn cục bộ và tham gia đoàn thể địa phương
Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn và cộng sự (2014) về “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân đồng bằng Sông Cửu Long” Nghiên cứu
sử dụng công cụ đánh giá nhanh có sự tham gia bằng công cụ PRA để trao đổi qua nhóm Kết quả nghiên cứu được điều tra và tham gia thảo luận nhóm ở cộng đồng liên quan đến tác động thiên tai và biến đổi khí hậu từ 2011-2013 hơn 400 người cho thấy nhóm đối tượng bị nhiều tổn thương nhất được sắp xếp theo thứ
tự người nghèo, trẻ con, người già, người khuyết tật, phụ nữ đơn thân và người dân tộc thiểu số Nghiên cứu cũng đã xác định giả thiết biến đổi khí hậu tạo ra những tác động tiêu cực nhiều hơn tích cực cho sinh kế ở các nhóm dễ bị tổn thương Việc đối phó với sự xâm nhập mặn và khô hạn khó khăn và tốn kém hơn việc chủ động sống chung với lũ trên cái nhìn sinh kế và đời sống
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài Tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về biến đổi khí hậu gồm khái niệm, nguyên nhân biến đổi khí hậu, thực tế biến đổi khí hậu ở ĐBSCL và những tác động của nó Đồng thời, tác giả cũng trình bày cơ sở lý thuyết về sinh kế bền vững gồm khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững, khung phân tích sinh kế bền vững Qua nghiên cứu cho thấy, biến đổi khí hậu đã làm thay đổi mô hình sản xuất nông nghiệp Diện tích trồng lúa ngày càng bị thu hẹp Nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm Tình hình thời tiết thất thường làm thay đổi lịch thời vụ, dịch bệnh cây trồng ngày càng tăng Từ bối cảnh đó, người dân huyện An Minh dần chuyển sang các mô hình sản xuất mới, trong đó mô hình tôm lúa được hầu hết hộ gia đình nông dân lựa chọn Chính quyền địa phương đã có nhiều hỗ trợ trong việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật, xây dựng hệ thống đê bao ngăn mặn, hỗ trợ con giống, nguồn vốn, tập huấn kỹ thuật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện thu nhập của hộ gia đình Từ thực tế trên và tổng quan các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu là cơ sở để tác giả đề xuất phương pháp nghiên cứu cho Luận văn
Trang 29CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH
Đề tài dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững để đánh giá tác động của BĐKH ở Sơ đồ 2.1 đối với sinh kế hộ tham gia mô hình tôm lúa tại huyện
An Minh, tỉnh Kiên Giang, tác giả đề xuất khung phân tích theo Sơ đồ 3.1
Sơ đồ 3.1: Khung phân tích
Nguồn: Tổng hợp của tác giả năm 2016 Bối cảnh tổn thương: Nghiên cứu dựa trên bối cảnh tình trạng nước biển dâng lên, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, xâm nhập mặn diễn ra trên diện rộng trên địa bàn huyện An Minh, từ đó ảnh hưởng đến sinh kế của hộ gia đình nông thôn
Tài sản sinh kế: bao gồm nguồn vốn con người (trình độ học vấn, sức khỏe), nguồn vốn tự nhiên (diện tích đất sản xuất), nguồn vốn tài chính (vay vốn tín dụng), nguồn vốn vật chất (nhà ở, điều kiện sinh hoạt), nguồn vốn xã hội (tham gia hội đoàn thể)
- Đầu tư thủy lợi,
Mô hình tôm lúa
Thay đổi sinh kế
Trang 30Chiến lược sinh kế: do tình trạng xâm ngập mặn nên hộ gia đình trên địa bàn huyện An Minh không thể sản xuất lúa hai vụ theo truyền thống mà phải chuyển đổi sang mô hình tôm lúa, nhằm thích ứng với sự biến đổi khí hậu
Kết quả sinh kế: được thể hiện bằng sự thay đổi sinh kế của người dân thông qua việc tăng thu nhập, giảm chi phí, năng suất tôm, năng suất lúa, lợi nhuận thu được
3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu bao gồm các bước sau: (1) Thu thập thông tin thứ cấp và khảo sát sơ bộ để thiết kế bảng câu hỏi; (2) Thiết kế bảng câu hỏi và lựa chọn phương thức khảo sát; (3) Lấy mẫu và thu thập số liệu; (4) Xử lý và phân tích số liệu
Sơ đồ 3.2: Quy trình nghiên cứu Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 313.3 THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI
Bảng câu hỏi được thiết kế gồm tám phần, liệt kê thông tin về các loại tài sản phục vụ sinh kế, các nguồn thu nhập, chi phí, các tổn thương do cú sốc do thiên tai, các thay đổi thích ứng BĐKH từ hộ, các biện pháp mà gia đình áp dụng để ứng phó, những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình đa dạng hóa điều kiện sinh kế, các chính sách hỗ trợ của chính quyền, các cú sốc mà họ gặp phải trong một vài năm gần đây hay dự định kế hoạch sinh kế trong tương lai, những nội dung này dựa vào khung phân tích theo Sơ đồ 3.1
3.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.4.1 Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề tài; số liệu thống kê về hộ tham gia sản xuất theo mô hình tôm lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010 – 2015; báo cáo của UBND huyện An Minh về tình hình phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020
Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên giám Thống kê tỉnh Kiên Giang; các báo cáo về hiệu quả sản xuất theo mô hình tôm lúa của Phòng Nông nghiệp & PTNN huyện An Minh
đề tài đánh giá một cách khách quan và khuyến nghị chính sách phù hợp cho hộ gia đình sản xuất theo mô hình tôm lúa Dựa vào số liệu được cung cấp từ Ủy ban nhân dân huyện An Minh, đặc biệt là số liệu của Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện, Ủy ban nhân dân 02 xã Đông Thạnh, Đông Hòa, tác giả chọn 120
Trang 32hộ gia đình tham gia sản xuất theo mô hình tôm lúa để thu thập dữ liệu Tiến hành phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc người đại diện thông qua bảng câu hỏi chuẩn bị trước Trường hợp những hộ không hợp tác phỏng vấn hoặc trả lời không đầy đủ các thông tin thì đổi sang hộ khác phỏng vấn đến khi nào đủ số lượng mẫu thì dừng khảo sát
3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
3.5.2 Phân tích thống kê mô tả
Phân tích thống kê mô tả nhằm xác định, kiểm tra các biến trong mô hình,
mô tả lại mẫu nghiên cứu Sử dụng phần mềm Stata để thực hiện Phân tích tần
số và tần suất của từng biến, lập biểu đồ mô tả cho từng biến Khảo sát mối liên
hệ giữa các biến được đề cập
3.5.3 Kiểm định trung bình hai mẫu độc lập (t-test)
Sử dụng phương pháp kiểm định t-test trong Stata12 để kiểm định trung bình của một biến ở hai mẫu độc lập có bằng nhau hay không
Giả thiết H0: Trung bình hai biến như nhau
Giả thiết H1: Trung bình hai biến khác nhau
Dựa vào kết quả kiểm định sự bằng nhau của hai phương sai tổng thể đã tính được Dựa vào giá trị p-value để quyết định Nếu giá trị p-value < α nên bác
bỏ giả thiết H0 Như vậy, trung bình của hai biến của hai nhóm là khác nhau
Kiểm định hai biến định tính:
Sử dụng phương pháp kiểm định chi-squared với Stata 12 để kiểm định mối liên hệ giữa hai biến trong tổng thể
Giả thiết H0: Hai biến không có mối liên hệ với nhau
Giả thiết H1: Hai biến có mối liên hệ với nhau
Trang 33Dựa vào giá trị p-value sau đó so sánh với giá trị α để kiểm định giả thiết Nếu p-value < α thì bác bỏ giả thuyết H0, tức là hai biến có mối liên hệ với nhau
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu Khung phân tích của đề tài dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững Tác giả đưa ra quy trình nghiên cứu của đề tài Mẫu nghiên cứu được chọn từ 120 hộ gia đình chuyển đổi sang mô hình tôm lúa khi chịu tác động bởi tình trạng xâm ngập mặn Tác giả đề xuất phương pháp phân tích số liệu gồm quy trình sàn lọc dữ liệu, phân tích thống kê
mô tả, kiểm định sự khác biệt Phương pháp nghiên cứu đề xuất là cơ sở để tác giả đưa ra kết quả nghiên cứu của đề tài
Trang 34CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN AN MINH
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Huyện An Minh được thành lập ngày 13 tháng 01 năm 1986, với diện tích
tự nhiên là 59.055,71 ha, có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Thuận Hòa, Đông Hòa, Đông Thạnh, Tân Thạnh, Đông Hưng, Đông Hưng A, Đông Hưng B, Vân Khánh, Vân Khánh Đông, Vân Khánh Tây và thị trấn Thứ Mười Một Huyện An Minh giáp với huyện U Minh Thượng ở phía Đông, huyện An Biên ở phía Bắc, huyện U Minh và huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau ở phía Nam
Ở phía Tây, huyện trông ra vịnh Thái Lan
Hiện tại, huyện An Minh có dân số khoảng 119.279 người, trong đó dân
số đô thị chiếm 12%, còn lại là dân số nông thôn chiếm 88% Tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên khoảng 0,98% Lao động trong nền kinh tế quốc dân là 64.594 người; trong đó: lao động nông lâm thủy sản 49.778 người, lao động công nghiệp – XDCB 3.612 người, lao động dịch vụ 11.024 người, trong đó: lao động ngoài nhà nước có khoảng 7.412 người, trong nhà nước 3.612 người (Báo cáo của UBND huyện An Minh, 2016)
Biểu đồ 4.1: Dân số theo khu vực
Nguồn: Báo cáo của UBND huyện An Minh năm 2016 Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 39,86 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo từ 14,84% năm 2010 giảm xuống còn 6,3% năm 2015; tỷ lệ hộ cận nghèo
Trang 35từ 6,65% giảm còn 5,86% Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực, giảm dần lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, tăng lao động công nghiệp và dịch vụ
4.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện An Minh là là 59.055,71 ha, trong
đó đất nông nghiệp chiếm 91%, đất chuyên dùng chiếm 4%, đất ở chiếm 3%, còn lại đất loại khác chiếm 2%
Biểu đồ 4.2: Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp
Nguồn: Báo cáo của UBND huyện An Minh năm 2016
Về khai thác thủy sản, tổng sản lƣợng khai thác năm 2016 là 10.773 tấn, trong đó sản lƣợng tôm là 1.620 tấn, mực 2.093 tấn, cá các loại 6.300 tấn và hải sản khác là 760 tấn
Biểu đồ 4.3: Sản lƣợng khai thác thủy sản
Nguồn: Báo cáo của UBND huyện An Minh năm 2016
Về thủy sản nuôi trồng, năm 2016 sản lƣợng là 49.363 tấn, trong đó sản lƣợng tôm đạt 19.799 tấn, chiếm 40%; cá các loại 570 tấn, chiếm 11%; sò huyết
Trang 361.839 tấn, chiếm 4%; cua biển 12.558 tấn, chiếm 25%; nghêu, lụa, vẹm xanh
960 tấn, chiếm 2%; hến biển 13.637 tấn, chiếm 28%
Biểu đồ 4.4: Sản lượng nuôi trồng thủy sản
Nguồn: Báo cáo của UBND huyện An Minh năm 2016
Mô hình kết hợp tôm lúa, trong năm 2016 diện tích nuôi trồng khoảng 41.284 ha, năng suất đạt 0,44 tấn/ha, sản lượng 18.247 tấn Trong đó, diện tích tôm lúa có cải tiến có diện tích 7.356 ha, sản lượng đạt 4.046 tấn, trong khi diện tích tôm lúa tự nhiên (quãng canh) có diện tích 33.928 ha, sản lượng đạt 14.201 tấn Điều này cho thấy, năng suất sản xuất tôm lúa có cải tiến cao hơn năng suất tôm lúa tự nhiên (quãng canh)
Biểu đồ 4.5: Diện tích và sản lượng tôm lúa
Nguồn: Báo cáo của UBND huyện An Minh năm 2016 Nhìn chung, trong những năm gần đây, tình hình thời tiết nắng mưa thất thường, xâm ngập mặn ăn sâu vào nội đồng, hạn hán kéo dài, từ đó thiếu nước
Trang 37ngọt cho trồng lúa hai vụ, trồng màu, nuôi cá nước ngọt Người dân địa phương
đã chủ động triển khai thực hiện đa dạng các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả thích nghi với biến đổi khí hậu Từ các mô hình thích ứng với điều kiện nước ngọt, người dân đã dần chuyển sang các mô hình sản xuất thích hợp với môi trường nước lợ, nước mặn như mô hình nuôi cua, nuôi sò huyết, nuôi tôm quảng canh, tôm lúa… Trong đó, điển hình là mô hình tôm lúa đang được nhân rộng tại địa phương Chi phí đầu tư nuôi tôm - lúa thấp, ít rủi ro và giá thành sản xuất thấp hơn so với nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, tạo lợi thế tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, chế biến xuất khẩu Sản phẩm của hình thức canh tác này là sản phẩm sạch đang được ưa chuộng trên thị trường Mô hình này đang phát huy được hiệu quả thiết thực khi giúp được nông dân sản xuất nông nghiệp bền vững, ổn định sinh kế, thích ứng với biến đổi khí hậu
4.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TÔM LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN MINH
An Minh là một huyện thuộc vùng U Minh Thượng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp; đặc biệt là nuôi trồng và khai thác thủy sản Huyện An Minh đã xác định sản phẩm nông nghiệp là hàng hóa chủ lực, từ đó xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản; đầu tư nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; tích cực chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất và tập trung huy động mọi nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Do đó, nông nghiệp và nông thôn của huyện đã đạt được những kết quả quan trọng; an ninh lương thực được đảm bảo, sản xuất chuyển dịch theo hướng hàng hóa; đã hình thành một số vùng chuyên canh; một số lĩnh vực tạo được sự phát triển đột phá như mô hình tôm – lúa kết hợp với nuôi xen canh các loài thủy sản; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được một số kết quả nhất định
Khai thác hiệu quả đất nông nghiệp trên cơ sở từng vùng sản xuất để phát triển các loại hình sản xuất phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi nhằm mang lại giá trị sản xuất cao như: nuôi tôm, cua, các loại nhuyễn thể, lúa, rau màu Trước mắt khi chưa có điều kiện kiểm soát mặn, cần tập trung đầu tư chuyển đổi