1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá mức độ tự do hóa và tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam : Luận văn thạc sĩ

64 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào những lý do này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đánh giá mức độ tự do hóa và tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.. 

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HDKH: TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn là TS g y n h c c o Các nội dung nghiên cứu và kết

qu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công b trong bất cứ công trình nào Những s liệ trong các b ng biể phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác gi thu thập từ các ng ồn khác nhau có ghi trong phần tài liệ tham kh o

Nế phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chị trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết q l ận văn của mình

TP HCM, ngày tháng năm 2013

Tác giả

Nguyễn Ngọc Yến Trang

Trang 4

CHƯƠ G 1 – GIỚI THIỆU 1

1.1 Tổng q an 1

1.2 Mục tiê nghiên cứ 2

1.3 ết cấ đề tài 3

CHƯƠ G 2 – TỔ G UA CÁC GHIÊ CỨU 4

2.1 an điểm tích cực về tự do hóa tài chính 4

2.2 Các công trình nghiên cứ về m i q an hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính 5

2.2.1 Công trình nghiên cứ của Min ahad r Shrestha (2005) 5

2.2.2 Công trình nghiên cứ của Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache (1998) 6

2.2.3 Công trình nghiên cứ của một s tác gi khác 9

CHƯƠ G 3 – PHƯƠ G PHÁP GHIÊ CỨU 14

3.1 Phương pháp nghiên cứ 14

3.1.1 Phương pháp đánh giá mức độ tự do hóa tài chính 14

3.1.2 Phương pháp kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính 14

3.2 Mô hình nghiên cứ 15

3.2.1 Mô hình đánh giá mức độ tự do hóa tài chính 15

3.2.2 Mô hình kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt am 15

3.3 g ồn s liệ và phương pháp th thập s liệ 16

CHƯƠ G 4 – ỘI DU G VÀ ẾT UẢ GHIÊ CỨU 17

4.1 Xây dựng các biến dự kiến sẽ đưa vào mô hình 17 4.1.1 iến phụ th ộc – Chỉ s bất ổn tài chính (Financial Instability - FIS) 17

Trang 5

4.2 Tập hợp mẫ nghiên cứ 18

4.3 ết q nghiên cứ 20

4.3.1 Đánh giá mức độ tự do hóa tài chính ở Việt am 20

4.3.2 iểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam 21

4.3.2.1 iểm định tính dừng của ch ỗi s liệ 21

4.3.2.2 iểm định m i q an hệ đồng tích hợp 22

4.3.2.3 iểm định m i q an hệ nhân q Engle-Granger 22

4.3.2.4 Kết q kiểm định mô hình hồi q y 22

CHƯƠ G 5 – ẾT LUẬ 23

5.1 Tóm t t những điểm chính của đề tài 23

5.2 Gợi ý những biện pháp giúp ổn định nền kinh tế tài chính khi hội nhập vào nền kinh tế q c tế 24

5.2.1 Cơ chế giám sát an toàn và hiệ q 24

5.2.2 Lành mạnh hóa nền tài chính q c gia 25

5.2.3 Lành mạnh hóa hệ th ng ngân hàng 26

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứ tiếp theo 28

DA H MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM HẢO 30

PHỤ LỤC 1 – TÍ H TOÁ CHỈ SỐ FLI 32

PHỤ LỤC 2 – Ả G SỐ LIỆU CỦA CÁC IẾ TRO G GIAI ĐOẠ TỪ UÝ 01/1996 ĐẾ UÝ 04/2012 46

PHỤ LỤC 3 – ẾT UẢ IỂM ĐỊ H CỦA MÔ HÌ H 50

Trang 6

ng 4.1 – Th ng kê mô t các biến trong mô hình nghiên cứ 18

ng 4.2 – Ma trận tương q an giữa các biến trong mô hình nghiên cứ 19

ng 4.3 – iến và ký hiệ sử dụng trong mô hình kiểm định 20

ng 4.4 – ết q kiểm định tính dừng của ch ỗi dữ liệ 21

ng PL1.1 – ng chấm điểm các nhân t tự do hóa tài chính ở Việt am từ năm 1996 đến năm 2012 39

ng PL1.2 – Giá trị riêng và véc-tơ riêng của ma trận tương q an các nhân t tự do hóa tài chính ở Việt am 42

ng PL1.3 – Chỉ s FLI của Việt am trong giai đoạn 1996-2012 43

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ iể đồ 4.1: iể đồ chỉ s FLI của Việt am trong giai đoạn 1996 đến 2012 20

Trang 7

CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU

1.1 Tổng quan

Từ thập niên 1970 các quốc gia đang phát triển đã tiến hành cải cách nhằm phát triển nền kinh tế của mình Những cải cách này chủ yếu tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng vì các quốc gia đang phát triển tin rằng cơ sở hạ tầng tốt sẽ thu hút được khu vực tư nhân đầu tư vào đất nước Trái lại với những mong đợi của Chính phủ, sự tham gia của khu vực tư nhân không tăng lên chủ yếu do sự khan hiếm nguồn lực Cho dù nguồn lực có đầy đủ thì vẫn không thể được sử dụng hiệu quả nguyên nhân là do nền kinh tế còn kém phát triển và bị kiểm soát chặt chẽ bởi Chính phủ Vì vậy, các quốc gia đang phát triển đã chuyển từ phát triển cơ sở hạ tầng sang phát triển kinh tế Tuy nhiên do Chính phủ nắm giữ nền kinh tế nên khu vực tư nhân không thể có điều kiện tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế như mong đợi Chính phủ kiểm soát lãi suất và trần tín dụng, sở hữu ngân hàng và các định chế tài chính cũng như điều hành đất nước bằng những luật lệ cứng nhắc Do lãi suất danh nghĩa bị kiểm soát và lãi suất thực hầu như vẫn ở mức âm nên tiết kiệm không thể gia tăng Kết quả là đầu tư không đạt được như mong đợi Điều này làm cho nền kinh tế chậm phát triển McKinnon (1973) và Shaw (1973) đã nhận định đây là hiện tượng áp chế tài chính và đã đề xuất việc tự do hóa hệ thống tài chính cho các quốc gia này Vì vậy từ giữa những năm 1980, Ngân hàng thế giới và

Tổ chức Tiền tệ thế giới đã bắt đầu xem tự do hóa tài chính là công cụ để các quốc gia đang phát triển thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng (Ngân hàng thế giới, 2005) Từ

đó, kỷ nguyên tự do hóa tài chính bắt đầu tại các quốc gia đang phát triển với sự hỗ trợ về công cụ và tài chính của Ngân hàng thế giới và Tổ chức Tiền tệ thế giới Một

số chính sách tự do hóa đầu tiên được vài quốc gia đang phát triển thực hiện từ đầu những năm 1980 đã đem đến những kết quả ấn tượng Điều này là động lực để những quốc gia đang phát triển khác thực hiện tự do hóa nền tài chính của đất nước mình Tuy nhiên tự do hóa tài chính không chỉ đem lại những triển vọng cho các quốc gia đang phát triển mà còn là nguyên nhân của tình trạng bất ổn tài chính

Trang 8

Khủng hoảng tài chính ở Châu Á năm 1997 chính là kết quả của tự do hóa tài chính Tuy nhiên, tự do hóa tài chính vẫn là quá trình đang diễn ra ở những quốc gia đang phát triển

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Việc thực thi các chính sách tự

do hóa tài chính ở Việt Nam chỉ thực sự diễn ra từ năm 1996 Và trải qua thời gian dài thực hiện, quá trình thực thi các chính sách tự do hóa tài chính ở Việt Nam đang ở mức độ nào, đã hoàn toàn tự do hóa chưa hay chỉ là tự do hóa từng phần; nền kinh tế tài chính của Việt Nam có ổn định không? Căn cứ vào những lý do này, tác giả đã lựa

chọn đề tài “Đánh giá mức độ tự do hóa và tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mặc dù, đã có rất nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính Tuy nhiên việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai biến này ở quy mô một quốc gia là rất ít và liệu việc áp dụng vào nghiên cứu ở Việt Nam có phù hợp không? Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây hầu như xem xét quá trình tự do hóa tài chính sau khi quá trình này đã được hoàn thành Việc này vô tình đã bỏ sót việc đánh giá quá trình tự do hóa ngay từ khi quốc gia đó bắt đầu thực thi chính sách Trên cơ sở này, mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài sẽ bao gồm:

 Nghiên cứu các nhân tố tác động đến tính bất ổn tài chính Trong đó bao hàm cả tầm quan trọng của việc xây dựng chỉ số làm công cụ đánh giá mức độ tự do hóa tài chính

 Trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố tác động, tác giả sẽ xây dựng mô hình định lượng để đánh giá tác động của tự do hóa đến bất ổn tài chính ở Việt Nam

 Dựa vào những phân tích và nhận định, tác giả sẽ trình bày về những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài

Trang 9

1.3 Kết cấu đề tài

Đề tài bao gồm 05 chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Giới thiệu Phần này sẽ tập trung trình bày về lý do thực hiện đề

tài và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu Nội dung chính của chương này là

trình bày các kết quả thực nghiệm về tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã được

xác đinh, tác giả sẽ trình bày phương pháp thực hiện, mô hình nghiên cứu cũng như nguồn số liệu và phương pháp thu thập số liệu

Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày chi tiết

các kết quả thực nghiệm dựa trên nguồn số liệu và phương pháp nghiên cứu đã xác định ở chương 3

Chương 5: Kết luận Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chương 4,

tác giả sẽ đưa ra những nhận định, giải pháp cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trong phần này tác giả sẽ trình bày về những mặt hạn chế và hướng phát triển tiếp theo cho đề tài

Trang 10

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

2.1 Quan điểm tích cực về tự do hóa tài chính

Xu hướng thiên về tự do hóa tài chính là một phần của xu hướng lớn hơn hướng tới giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào nền kinh tế Tuy nhiên, tại một số quốc gia đang phát triển, tự do hóa tài chính cũng là một nỗ lực nhằm thoát khỏi “sự áp chế tài chính” Việc đi từ áp chế tài chính đến tự do hóa tài chính được cổ vũ bởi các công trình nghiên cứu có ảnh hưởng của McKinnon và Shaw (1973) Theo McKinnon và Shaw, áp chế tài chính thông qua cơ chế buộc các tổ chức tài chính chi trả lãi suất thực thấp và thường có giá trị âm sẽ làm giảm tiết kiệm tư nhân và qua đó sẽ làm giảm các nguồn lực dành để tích lũy vốn Xét theo góc độ này, tự do hóa tài chính có thể giúp các quốc gia đang phát triển kích thích tiết kiệm trong nước và tăng trưởng, đồng thời giảm sự phụ thuộc quá mức vào các dòng vốn nước ngoài

Nghiên cứu của McKinnon và Shaw đã khơi dậy một dòng nghiên cứu đang lớn mạnh nhằm phân tích tác động tích cực của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế thông qua tăng năng suất thay vì huy động tiết kiệm (Levine 1997) Nghiên cứu này bao gồm một số công trình thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng; hầu hết các nghiên cứu nhận thấy các đại lượng khác nhau đo lường sự phát triển tài chính có tương quan đồng biến với cả tốc độ tăng trưởng GDP hiện tại và tương lai Từ đó cho thấy rằng tự do hóa tài chính, bằng cách tăng cường phát triển tài chính, có thể làm tăng tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế (King và Levine 1993)

Tuy nhiên quan điểm tích cực của tự do hóa tài chính phần nào bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng rõ rệt tình trạng mỏng manh về tài chính mà cả các quốc gia đã phát triển và đang phát triển đều trải qua trong những năm 80 và 90 Phần tiếp theo luận văn sẽ trình bày những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính

Trang 11

2.2 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính

2.2.1 Công trình nghiên cứu của Min Bahadur Shrestha (2005)

Nghiên cứu có thể đánh giá là có mối tương quan nhiều với Việt Nam là công trình nghiên cứu thực nghiệm của Min Bahadur Shrestha (2005) về “Mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính của Nepal” Nghiên cứu này sử dụng phương pháp bình phương bé nhất dựa trên mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) để xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 2003 tại Nepal Để phục vụ cho việc kiểm định mối quan hệ này, Shrestha đã xây dựng chỉ số tự do hóa tài chính (financial liberalization index – FLI) cho Nepal bằng phương pháp thành phần chính Chỉ số này còn thể hiện mức độ tự do hóa tài chính tại một thời điểm, là công cụ để xem xét tình trạng tự do hóa tài chính và đánh giá ảnh hưởng của chính sách đối với các khía cạnh của nền kinh tế

Shrestha sử dụng hàm logit đa biến để kiểm định xem liệu tự do hóa tài chính

có gây ra bất ổn tài chính cho Nepal không Tập hợp các biến trong mô hình hồi quy bao gồm: Tỷ lệ giữa các khoản vốn huy động và cho vay của ngân hàng – LnCDR (đại diện cho tính bất ổn tài chính), lãi suất thực – LnLRR, chỉ số tự do hóa tài chính – FLI

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

 Mặc dù Nepal đã tiến hành tự do hóa tài chính từ năm 1970 nhưng giai đoạn từ năm 1984 đến 1994 là thời kỳ Nepal sử dụng nhiều chính sách tự

do hóa tài chính nhất

 Kiểm định ARDL cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa chỉ số tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính Mối quan hệ này được xác định với mức ý nghĩa 1% Kết quả này cho thấy một sự gia tăng trong chỉ số tự do hóa tài chính có liên quan đến một sự gia tăng của tỷ lệ giữa các khoản vốn huy động và cho vay của ngân hàng Tỷ lệ giữa các khoản vốn huy động và cho vay của ngân hàng cao hơn có liên quan đến các khoản nợ

Trang 12

xấu cao hơn, và điều này có thể gây ảnh hưởng ngược đối với sự ổn định trong lĩnh vực tài chính Từ quan điểm này, kết quả trên cho thấy tổng hợp các chính sách tự do hóa tài chính có thể gây ra tính bất ổn trong lĩnh vực tài chính

2.2.2 Công trình nghiên cứu của Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache (1998)

Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache (1998) đã thiết lập một biến giả cho tự do hóa tài chính của một số lớn các quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1980-1995 Để xác định tự do hóa, Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache chọn một thay đổi chính sách có thể quan sát được, đó là việc bãi bỏ quy định về lãi suất ngân hàng, vì các trường hợp nghiên cứu cho thấy rằng chính sách thường là trung tâm của quá trình tự do hóa chung Hệ thống số liệu nghiên cứu bao gồm những quốc gia đã tự do hóa các thị trường tài chính trước thập niên

80 cũng như những quốc gia đã tự do hóa ở những thời điểm khác nhau trong khoảng thời gian nói trên

Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache đã dùng hàm logit đa biến để kiểm định xem các cuộc khủng hoảng ngân hàng có khả năng xảy ra nhiều hơn trong các hệ thống tài chính tự do hơn hay không khi các yếu tố khác có thể làm tăng xác suất xảy ra khủng hoảng đều đã được kiểm soát Tập hợp các biến kiểm soát bao gồm các biến kinh tế vĩ mô, các đặc điểm của khu vực ngân hàng và các biến về thể chế Hai tác giả cũng kiểm định xem liệu các cuộc khủng hoảng có khả năng xảy ra nhiều hơn trong quá trình chuyển đổi sang một hệ thống tài chính ít được kiểm soát hơn, hay thực ra thì tình trạng mỏng manh về tài chính là một đặc điểm luôn tồn tại của tự do hóa tài chính

Một vấn đề khác thường phát sinh trong tranh luận về tự do hóa tài chính là liệu có phải những mối nguy hiểm của tự do hóa cao hơn tại những nước mà các thể chế cần thiết để hỗ trợ sự vận hành hiệu quả của các hệ thống tài chính không được phát triển đầy đủ Những thể chế này bao gồm quy định kinh doanh cẩn trọng, giám sát các trung gian tài chính và các thị trường chứng khoán có tổ chức và một cơ chế

Trang 13

vận hành tốt để cưỡng chế thi hành các hợp đồng và các quy định điều tiết Hai tác giả đã khảo sát vấn đề này thông qua việc kiểm định xem mối quan hệ giữa khủng hoảng ngân hàng và tự do hóa tài chính có mạnh hơn tại những nước có môi trường thể chế yếu kém hơn hay không Thước đo được sử dụng là GDP đầu người và các chỉ số khác nhau đại diện cho chất lượng thể chế Hai tác giả sử dụng các phương pháp kiểm tra để chứng minh tính vững mạnh của kết quả

Kết quả chung là: khủng hoảng ngân hàng quả thật có khả năng xảy ra nhiều hơn tại những nước có khu vực tài chính tự do hóa, ngay cả khi các yếu tố khác (bao gồm lãi suất thực) đã được kiểm soát; ngoài ra, tình trạng mỏng manh của hệ thống ngân hàng gia tăng không phải là một đặc trưng của kết quả tức thời của việc

tự do hóa; mà đúng hơn, nó có xu hướng xuất hiện một vài năm sau khi quá trình tự

do hóa bắt đầu Số liệu cũng ủng hộ cho sự phỏng đoán là một môi trường thể chế yếu kém sẽ làm cho việc tự do hóa có khả năng dẫn đến khủng hoảng ngân hàng nhiều hơn; đặc biệt, tại những quốc gia có thể chế luật pháp yếu kém, tham nhũng lan tràn, hoạt động quản lý nhà nước không hiệu quả và cơ chế cưỡng chế thi hành hợp đồng không hữu hiệu, tự do hóa tài chính có xu hướng gây ra một tác động đặc biệt lớn đối với xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng Như vậy, có những bằng chứng rõ ràng rằng tự do hóa tài chính làm tăng tình trạng mỏng manh về tài chính tại những quốc gia đang phát triển, nơi mà những thể chế cần thiết để hỗ trợ cho một hệ thống tài chính vận hành trôi chảy vẫn chưa được thiết lập hoàn chỉnh

Để tìm hiểu một kênh khả dĩ qua đó tự do hóa có thể ảnh hưởng đến tình trạng mỏng manh của ngân hàng, hai tác giả sử dụng số liệu ở cấp độ ngân hàng để xem xét mối tương quan giữa các biến đại diện cho giá trị giấy phép hoạt động ngân hàng và biến giả về tự do hóa tài chính Họ tìm thấy bằng chứng rằng giá trị giấy phép hoạt động đặc quyền của ngân hàng (franchise value) có xu hướng thấp hơn khi các thị trường tài chính được tự do hóa, có lẽ bởi vì sức mạnh độc quyền của ngân hàng bị xói mòn Điều này cho thấy rằng những lý thuyết giải thích tâm lý ỷ lại gia tăng là do giá trị đặc quyền ngân hàng thấp có thể giúp chúng ta giải thích lý

do tại sao tự do hóa tài chính có xu hướng làm cho khủng hoảng ngân hàng có khả

Trang 14

năng xảy ra nhiều hơn (Caprio và Summers, 1993 và Hellman, Murdoch và Stiglitz, 1994)

Những phát hiện này làm phát sinh câu hỏi: phải chăng những lợi ích của tự do hóa tài chính như vẫn được chứng minh trong tư liệu sẽ không đủ để bù đắp cho cái giá phải trả của tình trạng dễ bị tổn thương trước các cuộc khủng hoảng ngân hàng? Mặc dù câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi phức tạp này vượt ra ngoài phạm vi nghiên cứu của hai tác giả Tuy nhiên, sử dụng tập hợp số liệu của mình, hai tác giả cũng đã cố gắng làm sáng tỏ đôi chút một khía cạnh cụ thể của vấn đề, đó là ảnh hưởng của tự do hóa tài chính và khủng hoảng ngân hàng đối với phát triển tài chính và tăng trưởng Thứ nhất, họ chứng minh rằng phát triển tài chính có tương quan đồng biến với tăng trưởng sản lượng trong mẫu của chúng tôi, khẳng định các kết quả của King và Levine (1993) Thứ hai, họ nhận thấy rằng, dựa trên điều kiện

là không có khủng hoảng ngân hàng, những quốc gia (hay những thời đoạn) mà ở

đó các thị trường tài chính được tự do hóa sẽ có sự phát triển tài chính cao hơn so với những quốc gia (hay những thời đoạn) mà thị trường bị kiểm soát Tuy nhiên, những quốc gia (hay những thời đoạn) vừa có tự do hóa tài chính vừa có khủng hoảng ngân hàng thì sẽ có mức độ phát triển tài chính gần như không khác với những quốc gia (hay những thời đoạn) không tự do hóa tài chính đồng thời cũng không có khủng hoảng ngân hàng Như vậy, ảnh hưởng ròng đối với tăng trưởng thông qua phát triển tài chính trong trường hợp trên sẽ không khác 0 về mặt ý nghĩa thống kê

Để tìm hiểu vấn đề này một cách sâu hơn, hai tác giả chia mẫu phân tích ra thành những nước bị áp chế tài chính mạnh vào thời điểm tự do hóa và những nước

bị áp chế tài chính yếu Trong đó, tình trạng áp chế tài chính mạnh được nhận diện bởi lãi suất thực âm, còn tình trạng áp chế tài chính yếu được nhận diện bởi lãi suất thực dương trong giai đoạn trước khi tự do hóa Sau đó hai tác giả thực hiện những kiểm định giống như mô tả trên đây cho hai mẫu này Đối với nhóm nước bị áp chế tài chính yếu, kết quả tương tự như kết quả của nguyên mẫu trước khi chia làm hai Ngược lại, đối với những nước bị áp chế tài chính mạnh, tự do hóa tài chính sẽ đi

Trang 15

kèm với phát triển tài chính cao hơn ngay cả khi có một cuộc khủng hoảng ngân hàng diễn ra Những phát hiện này cho thấy rằng tự do hóa tài chính có thể có một ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng thông qua phát triển tài chính tại những nước được đặc trưng bởi sự áp chế tài chính mạnh, ngay cả khi nó làm tăng tình trạng mỏng manh về tài chính

2.2.3 Công trình nghiên cứu của một số tác giả khác

Weller (1999) cho rằng các quốc gia mới nổi đang trở nên dễ tổn thương đối với khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ sau tự do hóa tài chính Bà đã sử dụng số liệu của 27 nền kinh tế mới nổi từ năm 1973 đến 1998 Nghiên cứu của bà chỉ ra rằng tính hợp lý của khủng hoảng tiền tệ có thể làm gia tăng các phản ứng mạnh mẽ đối với các biến tài chính hơn là các biến thương mại thực hoặc biến thương mại nội bộ Tương tự, do tự do hóa tài chính tạo ra áp lực cạnh tranh đối với ngân hàng trong nước thì tính dễ đổ vỡ của tài chính có thể là kết quả của việc gia tăng cạnh tranh tài chính quốc tế Điều này có thể tạo ra một cái nhìn lạc quan đối với “trạng thái phởn phơ loại bỏ” mà chính điều này làm gia tăng quy mô tín dụng đối với các dự án kém chất lượng (trang 69) Weller (1999) kiến nghị rằng các nền kinh tế tự do hóa nên tập trung vào xây dựng các định chế ổn định cần thiết trước khi mở cửa kinh tế vì

họ dường như đã trải qua một sự gia tăng trong khả năng khủng hoảng tiền tệ và ngân hàng mà không có những biện pháp phản ứng lại (trang 76)

Arphasil (2001) xác nhận rằng tự do hóa tài chính làm lộ rõ đe dọa đối với sự

ổn định tài chính thông qua việc di chuyển dòng vốn Tự do hóa tài chính cho phép các trung gian tài chính dễ dãi hơn đối với đầu tư nguy cơ và sự phân bổ sai nguồn lực Tự do hóa lãi suất và các giao dịch tài khoản vốn dẫn đến sự đổ vỡ tín dụng, hầu hết được tài trợ bởi các khoản cho vay ngắn hạn ở nước ngoài Bùng nổ này tạo

ra nền tảng không ổn định làm cho khủng hoảng tài chính xảy ra, thể hiện qua cuộc khủng hoảng ở các nước Đông Nam Á giai đoạn 1997-1998

Arestis và Demetriades (1999) cho rằng gia tăng dòng chảy vốn ngắn hạn có

vô số các hệ quả mất ổn định Thứ nhất, đây chính là nguồn ảnh hưởng trực tiếp đối với sự bất ổn kinh tế vĩ mô bằng việc tạo ra áp lực đối với tỷ giá ở các quốc gia này

Trang 16

Thứ hai, dòng chảy vốn thổi phồng giá trị tài sản và do đó tạo ra những ảnh hưởng giàu có tích cực, điều này đã đóng góp vào sự gia tăng của xuất khẩu và lạm phát (trang 450)

Chin và Jomo (2001) và Arestis và Demetriades (1999) ủng hộ quan điểm rằng

tự do hóa tài chính làm gia tăng tính dễ đổ vỡ của tài chính ngay cả khi tự do hóa tài chính được thực hiện sau khi ổn định kinh tế vĩ mô Khủng hoảng ở các nước Đông Nam Á, mà trước đó điều kiện kinh tế vĩ mô rất thuận lợi, vẫn cho thấy một điều rằng ngay cả trong điều kiện tốt nhất, tự do hóa tài chính vẫn gây ra nguy hiểm cho các chính sách Tự do hóa tài chính làm suy yếu các tổ chức tài chính, ở cấp độ quốc tế và quốc nội, làm gia tăng tính bất ổn của hệ thống là nguyên nhân gây ra khủng hoảng

Wyplosz (2002) sử dụng số liệu của 27 quốc gia đã và đang phát triển trong giai đoạn 1977-1999 để kiểm định liệu tự do hóa tài chính có mạo hiểm không? Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy rằng tự do hóa tài chính gây ra sự mất ổn định ở các quốc gia đang phát triển nhiều hơn ở các quốc gia đã phát triển Theo sau tự do hóa tài chính, các quốc gia đang phát triển có xu hướng đi vào chu kỳ tăng trưởng –

đổ vỡ (trang 3) Wyplosz xem tự do hóa tài chính là nguyên nhân gây ra mất ổn định kinh tế vĩ mô vì nó làm gia tăng tính bất ổn của tỷ giá Ông cho rằng nhiều quốc gia ở Châu Âu và Châu Á đã tăng trưởng nhanh hơn qua nhiều thập niên trong khi vẫn duy trì sự kiềm chế tài chính còn nặng về chỉ đạo Điều này cho thấy rằng không cấp bách trong việc thực hiện tự do hóa tài chính Và khi thực hiện, thì cần phải thực thi với sự cẩn trọng (trang 22)

Mishkin (1999) cho rằng tự do hóa tài chính thường gây ra đổ vỡ trong cho vay, nguyên nhân là do sự gia tăng cơ hội cho vay của ngân hàng và do độ sâu tài chính khiến cho nhiều nguồn ngân quỹ đổ vào hệ thống ngân hàng Mặc dù tự do hóa và độ sâu tài chính là những phát triển tích cực đối với nền kinh tế trong dài hạn, thì trong ngắn hạn, khủng hoảng cho vay có thể bỏ xa thông tin nguồn lực có sẵn trong hệ thống ngân hàng, điều này làm gia tăng sự đổ vỡ tài chính trong tương

Trang 17

lai Khủng hoảng cho vay là đặc trưng của tự do hóa tài chính ở nhiều quốc gia và thường tiếp theo sau đó là khủng hoảng ngân hàng (trang 1530-31)

Crotty và Lee (2002) cho rằng nhận thức sai lầm về tự do hóa tài chính gần như là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á vào năm

1997 Hệ thống tài chính truyền thống trên cơ sở ngân hàng có sự điều tiết của nhà nước, vốn cách ly khỏi thị trường tài chính quốc tế thông qua việc quản lý vốn chặt chẽ, dường như các định chế tài chính hầu hết chịu trách nhiệm đối với “phép màu” kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á Tái cấu trúc tài chính, lao động và thị trường sản phẩm đã thất bại trong việc tạo ra điều kiện tiên quyết đối với việc làm mới tăng trưởng theo chủ nghĩa quân bình dài hạn Do đó, tự do hóa tài chính nên loại bỏ vì lợi ích của “mô hình tăng trưởng có sự chỉ đạo của nhà nước theo chủ nghĩa dân chủ

và chủ nghĩa hiện đại” (trang 328)

Bascom (1994) cho rằng lãi suất cao và không ổn định có liên quan đến cải cách tài chính có thể gây ra những ảnh hưởng thanh khoản và khả năng thanh toán đối với các công ty quen với việc tài trợ cho hoạt động và tạo vốn từ vay ngân hàng Việc ứng dụng các chính sách cải cách tài chính trở nên khó khăn khi hệ thống ngân hàng trong tình trạng khủng hoảng Việc tự do hóa lãi suất và loại bỏ những rào cản đối với các ngân hàng mới, vốn được mong đợi ở những điều kiện bình thường, có thể không phù hợp khi hệ thống ngân hàng đang ở tình trạng kiệt quệ tài chính Kết quả của các chính sách tự do hóa tài chính đó là người sáng lập các định chế tài chính mới có thể

bị thúc đẩy bởi sự cần thiết của việc tiếp cận đầu tư dễ dàng cho công việc làm ăn của

họ Điều này có thể tạo ra sự tập trung tín dụng nhiều hơn trong hệ thống ngân hàng

và làm trầm trọng thêm khủng hoảng tài chính (trang 174)

McLeod (1998) cho rằng thế giới đã tiến vào kỷ nguyên mới của tình trạng mỏng manh tài chính Kỷ nguyên mới này đã được mở ra bởi vốn chung lớn của nguồn vốn tài chính lưu động cao – bao gồm các quỹ được huy động bởi sự gia tăng nhanh chóng của những hệ thống tài chính và ngân hàng ở các quốc gia đang phát triển – và bởi xu hướng toàn cầu trong việc mở cửa cho dòng chảy vốn (trang 348-49)

Trang 18

Jackson (1999) gọi việc chuyển đổi tài khoản vốn, tỷ giá cố định, gia tăng quá mức của cho vay nội địa kèm theo sự phân bổ đầu tư thuần sai của khu vực tư nhân,

và sự thiếu vắng khả năng điều hành và giám sát để kiểm soát sự quá mức trong lĩnh vực tài chính chính là những nhân tố chính của khủng hoảng tài chính ở Đông Nam

Á năm 1997 Việc cho vay nước ngoài quá mức, phần lớn ở khu vực tư nhân, là nguyên nhân của khủng hoảng này Năm năm trước khủng hoảng, việc cho vay của ngân hàng và phi ngân hàng ở những quốc gia bị khủng hoảng tài chính gia tăng rất nhanh Cụ thể, ngân hàng ở từng quốc gia gia tăng tài sản ròng ở nước ngoài với tỷ

lệ lớn trong suốt bốn năm trước khi xảy ra khủng hoảng Tại thời điểm khủng hoảng xảy ra vào giữ tháng 07/1997, tổng số nợ nước ngoài đã đạt tỷ lệ lớn, chiếm 50% GDP ở các quốc gia như Thái Lan, Indonesia và Philippine (trang 3)

Mặc dù các khía cạnh bên ngoài (tỷ giá cố định, lãi suất cao, và gia tăng quá mức các khoản cho vay ở nước ngoài) thuộc những nhân tố quan trọng gây ra khủng hoảng, thì khủng hoảng cũng sẽ không xảy ra nếu không có sự yếu kém ở bên trong như: các tổ chức giám sát không phù hợp, ngân hàng hoạt động theo phương thức truyền thống, và trên tất cả, các quyết định đầu tư sai của khu vực tư nhân ở các quốc gia này (Jackson 1999, trang 5)

Wade (2001) cho rằng tự do hóa lĩnh vực tài chính và mở cửa tài khoản vốn là nguy hiểm khi các ngân hàng có rất ít kinh nghiệm đối với thị trường tài chính quốc

tế, và khi các tổ chức phi ngân hàng cũng vay mượn ở nước ngoài Điều này là nguy hiểm gấp hai lần trong bối cảnh hệ thống tài chính dựa trên cơ sở ngân hàng và khu vực doanh nghiệp có tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu cao Và là nguy hiểm gấp ba lần trong cơ chế neo tỷ giá Ngoài ra, khi các ngân hàng và phi ngân hàng không cần thiết bị giám sát, khủng hoảng tiền tệ - ngân hàng chỉ chờ đợi để xảy ra (trang 67)

Tự do hóa tài chính được xem là nguồn gốc của khủng hoảng tài chính Tuy nhiên, điều quan trọng là phải điều hành thị trường tài chính hiệu quả để thị trường

có thể chuyển vốn đến những cơ hội đầu tư hiệu quả nhất Chuyển vốn đến những

cơ hội đầu tư hiệu quả nhất đặc biệt quan trọng đối với các thị trường mới nổi vì những đầu tư này có thể có suất sinh lợi cao, do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì

Trang 19

vậy, những nguy cơ có liên quan đến tự do hóa tài chính không có nghĩa là các quốc gia không nên theo đuổi chiến lược tự do hóa Tuy nhiên, những biện pháp mạnh có thể áp dụng để ngăn chặn hệ thống tài chính rơi vào khủng hoảng Những biện pháp này bao gồm các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định và điều hành kinh tế vĩ mô tốt, điều hành các chính sách khôn ngoan và khung giám sát mạnh

Trang 20

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Như đã trình bày ở trên mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá mức độ

tự do hóa và tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam Do

đó, phương pháp nghiên cứu sẽ bao gồm hai phần như sau:

3.1.1 Phương pháp đánh giá mức độ tự do hóa tài chính

Để đánh giá mức độ tự do hóa tài chính, tác giả sẽ xây dựng chỉ số FLI bằng phương pháp thành phần chính (Principal Component Analysis) của Bandiera Caprio et al (2000) và Laeven (2003) Phương pháp này dựa trên tiêu chí chấm điểm cho các chính sách tự do hóa tài chính1 Các chính sách tự do hóa được tập hợp để tính toán chỉ số FLI bao gồm:

(1) Tự do hóa lãi suất – IRD

(2) Gỡ bỏ rào cản đối với hoạt động ngân hàng – REB

(3) Giảm dự trữ bắt buộc – RRR

(4) Xóa bỏ kiểm soát tín dụng – ECC

(5) Ban hành các quy tắc thận trọng – IPR

(6) Cải cách thị trường chứng khoán – SMR

(7) Tư nhân hóa các ngân hàng do Nhà nước sở hữu – PSB

(8) Tự do hóa tài khoản vốn nước ngoài – EAL

Căn cứ kết quả tính toán chỉ số FLI, tác giả sẽ sử dụng đồ thị để đánh giá mức

độ tự do hóa tài chính ở Việt Nam

3.1.2 Phương pháp kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính

Trong đề tài này tác giả sẽ sử dụng mô hình VAR hoặc VECM (véc-tơ hiệu chỉnh sai số) để kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính Các bước thực hiện như sau:

1

Xin xem chi tiết tại Phụ lục 1

Trang 21

Bước 1: Kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) để xác định tính dừng của

các chuỗi dữ liệu Mục đích của kiểm định nghiệm đơn vị nhằm xác định chuỗi dữ liệu có hoặc không có xu hướng; nếu các chuỗi dữ liệu trong cùng mô hình có cùng một xu hướng thì có thể dẫn đến hồi quy giả mạo làm mất ý nghĩa và tính giải thích của mô hình Trong bài này, luận văn sẽ sử dụng kiểm định ADF để xác định tính dừng của chuỗi dữ liệu Nếu các chuỗi dữ liệu này là không dừng thì tác giả sẽ tiến hành lấy sai phân cho tới khi nó có tính dừng trước khi đưa vào mô hình

Bước 2: Nếu chuỗi dữ liệu không dừng thì sử dụng kiểm định đồng liên kết để

xác định khả năng tồn tại các mối quan hệ trong dài hạn nhằm hạn chế sự hồi quy giả mạo giữa các biến Điều này có nghĩa là nếu các chuỗi thời gian trong mô hình không dừng nhưng rất có thể tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa chúng nếu các chuỗi thời gian đó đồng liên kết – nghĩa là phần dư từ mô hình hồi quy của các chuỗi thời gian là không dừng là một chuỗi dừng

Bước 3: Kiểm định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến bằng mô hình

kiểm định nhân quả Engle-Granger (1987)

Bước 4: Kiểm định mối quan hệ tác động giữa tự do hóa tài chính và bất ổn tài

chính thông qua mô hình VAR hoặc VECM (nếu các chuỗi dữ liệu có mối quan hệ đồng tích hợp)

3.2 Mô hình nghiên cứu

3.2.1 Mô hình đánh giá mức độ tự do hóa tài chính

Phương trình tính toán chỉ số FLI tại một thời điểm:

FLIt = w1IRDt + w2REBt + w3RRRt + w4ECCt + w5IPRt + w6SMRt + w7PSBt +

Trong đó:

FLIt : chỉ số tự do hóa tài chính tại thời điểm t

wi : là giá trị của vector riêng trong ma trận các chính sách

3.2.2 Mô hình kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam

Trang 22

FISt = α1 + α2FLIt + α3LRRt + et (3.2) Phương trình này có thể viết ở dạng log như sau:

LnFISt = α1 + α2FLIt + α3LnLRRt + et (3.3)

Trong đó:

FISt: chỉ số bất ổn tài chính (Financial Instability)

LRRt: lãi suất cho vay thực (Real Lending Rate)

Do năm 2008 là năm xảy ra khủng hoảng tài chính ở Mỹ và điều này đã có tác động không nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam nên tác giả sẽ sử dụng biến giả (dummy) để kiểm định liệu cuộc khủng hoảng này có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng bất ổn tài chính ở Việt Nam Theo đó giai đoạn từ quý 01/1996 đến quý 04/2007 sẽ mang giá trị D = 0 và giai đoạn từ quý 01/2008 đến quý 04/2012 sẽ mang giá trị D = 1

3.3 Nguồn số liệu và phương pháp thu thập số liệu

Để phục vụ cho công tác định lượng, tác giả sẽ thu thập dữ liệu trong thời gian

từ quý 01 năm 1996 đến quý 04 năm 2012

Nguồn số liệu chủ yếu được lấy từ IMF (chuyên mục International Financial Statistics), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), Tổng Cục Thống kê (GSO)

Trang 23

CHƯƠNG 4 – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Xây dựng các biến dự kiến sẽ đưa vào mô hình

Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng nền kinh tế Việt Nam và các lý luận về mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính, tác giả đã xây dựng các nhân tố thể hiện mối liên quan giữa hai biến trên như sau:

4.1.1 Biến phụ thuộc – Chỉ số bất ổn tài chính (Financial Instability - FIS)

Như chúng ta đã biết ổn định tài chính được phản ánh trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là ở lĩnh vực cho vay vốn

Để đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng, chỉ số tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) thường được sử dụng Khả năng sinh lời hay khả năng tạo lợi nhuận được xem là một chỉ tiêu đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của quá trình kinh doanh, do đó, đây là phần lợi ích được phân phối cho các chủ nợ và chủ sở hữu của công ty

Ngoài ra một chỉ tiêu nữa để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động ngân hàng đó

là tỷ lệ nợ xấu (non-performing loan) Theo tiêu chí đánh giá của Việt Nam2 thì những khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 là những khoản nợ xấu Đây chính là khoản nợ gây ra cản trở lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Sự tồn tại của nợ xấu chỉ thực

sự nguy hiểm khi nó vọt lên ngưỡng cao, tình hình tài chính hiện tại của các chủ thể trong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên mức nguy hiểm trong tương lai Tuy ở Việt Nam tình hình nợ xấu chưa tới mức báo động nhưng vẫn rất cần xử lý quyết liệt để không gây ra hậu quả nghiêm trọng Như vậy, khi nền tài chính được tự do hóa, hoạt động tín dụng được mở rộng thì tỷ lệ nợ xấu có tăng lên không? Đó chính là nguyên nhân tác giả lựa chọn chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để tính toán chỉ số bất ổn tài chính

2 Căn cứ tiêu chí phân loại tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt

Trang 24

Tóm lại, để đo lường tính bất ổn tài chính, tác giả sẽ sử dụng tỷ lệ giữa tỷ suất sinh lợi trên tài sản và tỷ lệ nợ xấu là biến phụ thuộc để đưa vào kiểm định mối tương quan giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính

4.1.2 Biến độc lập – Chỉ số tự do hóa tài chính (Financial Liberalization Index - FLI)

Chỉ số FLI được xây dựng trên cơ sở tập hợp 08 chính sách tự do hóa theo phương pháp phân tích thành phần chính của Bandiera Caprio et al (2000) và Laeven (2003) FLI sẽ là chỉ số đại diện cho hiện trạng thực thi chính sách tự do hóa

ở từng thời điểm vì vậy tác giả chọn chỉ số này là biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính

4.1.3 Biến độc lập – Lãi suất cho vay thực (Real Lending Rate – LRR)

Các nghiên cứu thực nghiệm về tự do hóa tài chính thường sử dụng công cụ lãi suất thực như là chỉ số đại diện cho tự do hóa tài chính (Fry 1997; Bandiera và những người khác 1997) Mặc dù chỉ số FLI được tính toán cũng đã bao hàm chính sách tự

do hóa lãi suất, việc đưa biến LRR vào mô hình sẽ mang tính chất kiểm định liệu có tác động riêng lẻ của việc điều chỉnh lãi suất đến tình trạng bất ổn tài chính không

4.2 Tập hợp mẫu nghiên cứu

Trong phần nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng nguồn số liệu theo quý trong thời gian từ năm 1996 đến năm 2012 Nguồn số liệu3 chủ yếu được lấy từ IMF (công cụ International Financial Statistics), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), Tổng Cục Thống kê (GSO)

Bảng 4.1 – Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

Trang 25

(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào dữ liệu được trình bày ở Phụ lục 2)

Bảng mô tả cho thấy về trung bình, chỉ số tính bất ổn tài chính đạt mức 11.01264, là chỉ số có giá trị trung bình cao nhất trong ba chỉ số Độ biến thiên hay

độ lệch chuẩn của chỉ số tính bất ổn tài chính là 24.27630

Độ biến thiên của chỉ số tự do hóa tài chính ở mức 0.239114 Độ biến thiên nhỏ nhất là của lãi suất ở mức 0.042234

Bảng 4.2 – Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu

FIS 1.000000 FLI -0.443317 1.000000 LRR -0.797160 0.497501 1.000000

(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào dữ liệu được trình bày ở Phụ lục 2)

Bảng ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu cho thấy hệ

số tương quan của các biến độc lập rất nhỏ, không có cặp biến độc lập nào có hệ số

Trang 26

tương quan lớn hơn 0,8 do đó các biến độc lập không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến Vì vậy, ta hoàn toàn có thể đưa các biến độc lập vào mô hình hồi quy

Bảng 4.3 – Biến và ký hiệu sử dụng trong mô hình kiểm định

Chỉ số tình trạng bất ổn tài chính FIS SBV LnFIS Chỉ số tự do hóa tài chính FLI Tính toán của tác giả4

Lãi suất cho vay thực LRR IFS, GSO LnLRR

4.3 Kết quả nghiên cứu

4.3.1 Đánh giá mức độ tự do hóa tài chính ở Việt Nam

Tác giả sử dụng đồ thị có được từ số liệu tính toán của phương trình (3.1) để đánh giá mức độ tự do hóa tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2012

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ chỉ số FLI của Việt Nam trong giai đoạn 1996 đến 2012

(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào kết quả tính toán được trình bày ở Phụ lục 1)

Biểu đồ trên cho thấy giai đoạn từ năm 2001 đến 2007 là thời kỳ Việt Nam thực thi nhiều chính sách tự do hóa tài chính nhất Giai đoạn từ năm 2008 đến 2012

4 Kết quả tính toán được trình bày tại Phụ lục 1

Trang 27

đường biểu diễn chỉ số tự do hóa tài chính có xu hướng đi xuống và nằm ngang Điều này có nghĩa là khủng hoảng tài chính xảy ra ở Mỹ đã có tác động đến quá trình thực thi các chính sách tự do hóa ở Việt Nam Khi khủng hoảng tài chính xảy

ra, Việt Nam đã thực hiện một số biện pháp5 nhằm thắt chặt hơn các chính sách để kiềm chế lạm phát cũng như ổn định nền kinh tế vĩ mô

4.3.2 Kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến bất ổn tài chính ở Việt Nam 6

4.3.2.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi số liệu

Để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian, tác giả dựa vào kiểm định Augmented Dickey-Fuller (ADF)

Giả thuyết:

H0: chuỗi thời gian kiểm định là một chuỗi không dừng

H1: chuỗi thời gian kiểm định là một chuỗi dừng

Kết quả như sau:

Bảng 4.4 – Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu

(Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào kết quả tính toán ở Phụ lục 4)

Căn cứ kết quả của bảng 4.4, giá trị kiểm định ADF của các biến đều nhỏ hơn giá trị tới hạn ở cả 3 mức ý nghĩa lần lượt là 1%, 5%, 10% Tức là chúng ta không thể bác bỏ giả thuyết H0 Điều này đồng nghĩa tất cả các biến trong kiểm định ADF

5 Các biện pháp được trình bày tại Phụ lục 1 (phần giới thiệu các chính sách tự do hóa tài chính được thực thi tại Việt Nam)

Trang 28

đều là những chuỗi không dừng ở chuỗi gốc Vì vậy ta tiến hành lấy sai phân để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu Kết quả cho thấy tất cả chuỗi dữ liệu đều dừng ở sai phân bậc 1

4.3.2.2 Kiểm định mối quan hệ đồng tích hợp

Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp giữa biến FLI, LnLRR và LnFIS do giá trị trace statistic < giá trị tới hạn ở mức ý nghĩa 5% Vì vậy

ta tiến hành kiểm định mối quan hệ trong dài hạn bằng kiểm định nhân quả Granger

4.3.2.3 Kiểm định mối quan hệ nhân quả Engle – Granger

Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa biến FLI và FIS, biến FIS và biến LRR, biến LRR và biến FLI

4.3.2.4 Kết quả kiểm định mô hình hồi quy

Do các chuỗi dữ liệu có mối quan hệ đồng tích hợp nên tác giả sử dụng mô hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) để kiểm định mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tính bất ổn tài chính

Kết quả kiểm định cho thấy tự do hóa tài chính có tác động đến tính bất ổn tài chính theo mối quan hệ thuận sau một độ trễ, tức là 1% mở rộng chính sách tự do hóa sẽ làm gia tăng 1% tính bất ổn tài chính Ngoài ra, biến giả cho thấy có một tác động nghịch chiều đối với tính bất ổn tài chính nghĩa là khi khủng hoảng kinh tế tài chính ở Mỹ xảy ra, Việt Nam đã thực hiện các biện pháp “siết chặt” đối với tự do hóa tài chính, điều này làm cho tính bất ổn tài chính giảm đi Mức độ giải thích của

mô hình là 53.19% nghĩa là mối quan hệ này khá bền chặt

Trang 29

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN

5.1 Tóm tắt những điểm chính của đề tài

Tự do hóa tài chính đã được đề cập đến lần đầu tiên bởi hai nhà kinh tế học là McKinnon (1973) và Shaw (1973) Hai ông cho rằng tự do hóa tài chính thúc đẩy tăng trưởng vì khi trần lãi suất được xóa bỏ, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc được giảm xuống

và vấn đề chia cắt thị trường tài chính được giảm nhẹ thì tiết kiệm gia tăng, hiệu quả phân bổ vốn đầu tư của các tổ chức và thị trường tài chính cũng được cải thiện Tuy nhiên mặt trái của tự do hóa tài chính đó là tự do hóa tài chính tạo ra tình trạng bất

ổn về tài chính Điều này càng được củng cố thêm khi khủng hoảng tài chính ở Châu Á xảy ra vào năm 1997 Các bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy khủng hoảng ngân hàng quả thật có khả năng xảy ra nhiều hơn tại những nước có khu vực tài chính tự do hóa, ngay cả khi các yếu tố khác (bao gồm lãi suất thực) đã được kiểm soát; ngoài ra, tình trạng mỏng manh của hệ thống ngân hàng gia tăng không phải là một đặc trưng của kết quả tức thời của việc tự do hóa; mà đúng hơn, nó có

xu hướng xuất hiện một vài năm sau khi quá trình tự do hóa bắt đầu (Asli Demirgüç-Kunt and Enrica Detragiache, 1998)

Và mặc dù các khía cạnh bên ngoài (tỷ giá cố định, lãi suất cao, và gia tăng quá mức các khoản cho vay ở nước ngoài) thuộc những nhân tố quan trọng gây ra khủng hoảng, thì khủng hoảng cũng sẽ không xảy ra nếu không có sự yếu kém ở bên trong như: các tổ chức giám sát không phù hợp, ngân hàng hoạt động theo phương thức truyền thống, và trên tất cả, các quyết định đầu tư sai của khu vực tư nhân ở các quốc gia này (Jackson 1999, trang 5)

Tất cả điều này có nghĩa là tự do hóa tài chính phải kết hợp với sự giám sát và quy định chặt chẽ các tổ chức ngân hàng và phi ngân hàng Thiếu quy định, ngân hàng và công ty tài chính sẽ cho vay rủi ro trong giai đoạn bùng nổ kinh tế và do đó rơi vào khó khăn thanh khoản hay thậm chí mất khả năng thanh toán trong giai đoạn suy thoái

Trang 30

Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tự do hóa tài chính có tác động đến tính bất ổn tài chính theo mối quan hệ thuận sau một độ trễ, tức là 1% mở rộng chính sách tự do hóa sẽ làm gia tăng 1% tính bất ổn tài chính Ngoài ra, biến giả cho thấy có một tác động nghịch chiều đối với tính bất ổn tài chính nghĩa là khi khủng hoảng kinh tế tài chính ở Mỹ xảy ra, Việt Nam đã thực hiện các biện pháp “siết chặt” đối với tự do hóa tài chính, điều này làm cho tính bất ổn tài chính giảm đi Phần tiếp theo tác giả sẽ trình bày một số biện pháp nhằm ổn định nền kinh tế tài chính khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu

5.2 Gợi ý những biện pháp giúp ổn định nền kinh tế tài chính khi hội nhập vào nền kinh tế quốc tế

5.2.1 Cơ chế giám sát an toàn và hiệu quả

Sau hơn hai thập kỷ cải cách tuy có nhiều tiến bộ ghi nhận nhưng vẫn tồn tại nhiều rủi ro, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, là tiềm ẩn các rủi ro chéo giữa khu vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các rủi ro mang tính hệ thống từ sự bất

ổn của môi trường kinh tế vĩ mô cũng như từ các cú sốc ở bên ngoài Hiện tại giám sát tài chính ở Việt Nam đang bộc lộ nhiều điểm hạn chế:

Thứ nhất: Hiện tại cơ chế giám sát hầu như chỉ dừng lại ở giám sát tuân thủ

do đó để đáp ứng các yêu cầu phát sinh từ quá trình hội nhập và mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư với bên ngoài thì cần phải sớm hoàn thiện hai cơ chế giám sát hiệu quả và giám sát cảnh báo sớm

Thứ hai: hệ thống các chỉ tiêu giám sát tài chính công vẫn chưa bao quát hết

các loại hình rủi ro liên quan Hệ thống thông tin phục vụ cho công tác giám sát vẫn chưa đầy đủ, phân tán và chưa được cập nhật thường xuyên Công tác thống kê, hạch toán trong một số trường hợp chưa theo đúng chuẩn mực quốc tế nên khó so sánh khi đánh giá mức độ rủi ro

Thứ ba: công tác giám sát tuân thủ pháp luật trên thị trường chứng khoán

trong một số nội dung còn chưa bao quát hết các vấn đề mới phát sinh trên thực

Trang 31

tiễn Hoạt động giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn những điểm cần tiếp tục cải thiện

Thứ tư: việc chia sẻ thông tin trong nội bộ từng ngành cũng như giữa các cơ

quan chức năng còn nhiều điểm hạn chế Cơ cấu hệ thống giám sát tương đối hoàn chỉnh nhưng còn thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các bộ phận, nhất là tầm vĩ

mô, liên ngành

Do đó để đảm bảo việc giám sát có hiệu quả thì cần thiết phải:

 Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho giám sát tài chính vĩ mô đầy đủ và hoàn thiện

 Đảm bảo có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, bộ ngành liên quan trong thực hiện giám sát

 Có sự hiện diện của một hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu giám sát tài chính vĩ

mô bao quát được các nội dung và chủ thể cần giám sát

 Hình thành được hệ thống dữ liệu thông tin phục vụ công tác giám sát tài chính vĩ mô một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời

 Đảm bảo tính minh bạch, công khai trong việc thực hiện giám sát tài chính

vĩ mô

5.2.2 Lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia

Lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia một trong những mục tiêu chiến lược hàng đầu phát triển tài chính-tiền tệ giai đoạn 2010-2015 Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định phải “tạo lập môi trường tài chính lành mạnh, thông thoáng nhằm giải phóng và phát triển các nguồn lực tài chính và tiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư; bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của thị trường tài chính- tiền tệ trong toàn bộ nền kinh tế” Chính vì vậy thực hiện một số biện pháp sau nhằm hướng đến lành mạnh hóa nền tài chính nước nhà:

 Để đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước lành mạnh thì trước hết cần phải thực hiện chống thất thu ngân sách, sau đó là phải có cơ cấu chi phí hợp lý và hiệu quả để đảm bảo chi ngân sách được lành mạnh

Trang 32

 Một nền tài chính lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn trong nước, vào việc phát huy nội lực chứ không thể phụ thuộc quá nhiều vào các nguồn vốn bên ngoài, tuy các nguồn vốn này là rất quan trọng Do vậy chính sách vay nợ quốc gia cần phải hết sức thận trọng, giữ các tỷ lệ nợ so với GDP, với kim ngạch xuất khẩu ở mức an toàn, và phải có các khoản

dự trữ ngoại tệ sẵn sàng đối phó với những biến động của các dòng vốn

 Phải duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế: sự thâm hụt quá mức của các cán cân thương mại, tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và cán cân thanh toán làm suy giảm tính lành mạnh của nền tài chính quốc gia Biện pháp đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế là thúc đẩy xuất khẩu, giảm nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu hàng tiêu dùng, khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh ngoại tệ, chuyển ngoại tệ về nước, hạn chế chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, kiểm soát chặt chẽ các luồng vốn nhằm ngăn chặn tình trạng rút vốn ồ ạt, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài cả trực tiếp lẫn gián tiếp…mục tiêu là giảm thâm hụt, tiến tới cân bằng và thặng

dư nếu có điều kiện

5.2.3 Lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng

5.2.3.1 Giải quyết vấn đề nợ xấu:

Thứ nhất: Các ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ

xấu, chấp nhận giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ Việc làm này, sẽ giúp ngân hàng thương mại nhanh chóng bù đắp tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp Đồng thời, có thể giảm quỹ lương nhưng làm tăng khả năng tài chính nội tại của ngân hàng

Thứ hai: Nhà nước cần chứng khoán hóa các khoản nợ khó đòi theo 3 phương

pháp Nếu doanh nghiệp có lịch sử quản trị kinh doanh tốt, đang gặp khó khăn về nghĩa vụ trả nợ gốc hoặc do các dự án đầu tư đang triển khai chưa đi vào hoạt động… có thể chuyển một phần nợ gốc thành trái phiếu trung hạn Điều này nhằm

hỗ trợ thanh khoản và giúp doanh nghiệp tồn tại, phát triển Phương pháp thứ hai là chuyển nợ quá hạn, nợ xấu thành cổ phần Đồng thời, chuyển vị thế các ngân hàng

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w