Để phân tán rủi ro cũng như góp phần ổn định nguồn thu nhập, đòi hỏi các NHTM cần có sự quan tâm xứng đáng đến các hoạt động dịch vụ khác trong đó đáng chú ý là họat động thanh toán quốc
Trang 1TR ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
TRƯƠNG THỊ HẠNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIÊUẠ QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TNHH INDOVINA
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TP H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2013
Trang 2MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Dữ liệu nghiên cứu: 4
6 Cấu trúc bài nghiên cứu: 4
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Hoạt động thanh toán quốc tế: 6
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế: 6
1.1.2 Đặc điểm thanh toán quốc tế: 6
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh tóan quốc tế 7
1.1.4 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu: 9
1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ : 11
Trang 31.2.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngoại tệ: 12 1.2.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ 12 1.2.3 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ: 13
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ: 17
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế: 17 1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ: 19
1.4 Rủi ro thường gặp trong hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ 21 1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ 24
Kết luận chương 1: 29
Chương 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN INDOVINA 30 2.1 Hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng Indovina: 30 2.2 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Indovina 51
2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Indovina 62
2.3.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT 62 2.3.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT 65
2.4 Những hạn chế của hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Indovina 66
Trang 42.4.1 Một số mặt tồn tại trong hoạt động TTQT tại IVB 66
2.4.2 Một số mặt tồn tại trong hoạt động KDNT tại IVB: 67
2.5 Nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Indovina 69
Kết luận chương 2: 75
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG INDOVINA 76
3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho ngân hàng Indovina: 76
3.1.1 Giải pháp chung: 76
3.1.2 Giải pháp riêng: 81
3.1.2.1 Giải pháp cho hoạt động thanh toán quốc tế: 81
3.1.2.2 Giải pháp cho hoạt động kinh doanh ngọai tệ: 85
3.2 Kiến nghị với ngân hàng Nhà Nước 88
Kết luận chương 3 92
KÊT LUẬN CHUNG 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI
TỆ TẠI NGÂN HÀNG TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
INDOVINA
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu:
Việt Nam gia nhập WTO, hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới Điều đó đã mang lại nhiều thuận lợi cũng như khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam Những năm gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và luôn bất ổn thì kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi tình trạng tăng trưởng thấp cùng với lạm phát cao Và ngành ngân hàng cũng đã trải qua thời gian đầy khó khăn Qua các báo cáo của ngân hàng nhà nước cho thấy tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của ngành đã chậm lại và tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng giảm đáng kể (từ năm 2007 đến năm 2012 tăng trưởng tín dụng đã giảm từ mức 51.54% xuống mức 5.5%) Đáng chú ý là trong cơ cấu hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam thì hoạt động tín dụng là chủ yếu (chiếm đến 60%-80% tổng doanh số của ngân hàng) Do vậy khi hoạt động tín dụng không hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu, lợi nhuận và đặt các ngân hàng thương mại (NHTM) vào tình trạng rủi ro cao
Để phân tán rủi ro cũng như góp phần ổn định nguồn thu nhập, đòi hỏi các NHTM cần có sự quan tâm xứng đáng đến các hoạt động dịch vụ khác trong đó đáng chú ý là họat động thanh toán quốc tế (TTQT) và kinh doanh ngoại tệ (KDNT)- một hoạt động kinh doanh an toàn cho các ngân hàng thương mại bởi nó mang lại nguồn thu nhập ổn định và giúp đa dạng hóa rủi ro Hoạt động TTQT và KDNT không chỉ là một hoạt động độc lập đơn thuần, mà sự phát triển của nó sẽ góp phần mở rộng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu (XNK), bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác
Trang 6Phát triển hoạt động TTQT, KDNT giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng
Bên cạnh vai trò rất quan trọng đối với các NHTM thì hoạt động TTQT, KDNT cũng đóng vai trò là hoạt động tất yếu của nền kinh tế phát triển hiện đại Khi mà trong bối cảnh hội nhập, các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu , xem
đó là con đường chiến lược để phát triển đất nước thì vai trò của hoạt động TTQT, KDNT càng được khẳng định Hoạt động TTQT, KDNT là một mắt xích quan trọng trong quá trình lưu thông tiền hàng, hoạt động này phát triển góp phần đẩy mạnh hoạt động giao thương giữa các quốc gia, giảm chi phí, nhanh chóng và an toàn cho các bên tham gia mua bán trong thanh toán, mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế
Trước tình hình kinh tế thế giới bất ổn, các chính sách tỷ giá, lạm phát trong nước liên tục được điều chỉnh, các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước với nhau và với các ngân hàng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày càng gây gắt, càng đòi hỏi các ngân hàng phải vạch cho mình một hướng đi đúng đắn
Chính vì những điều trên mà học viên chọn đề tài “GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN INDOVINA” nhằm mục đích giúp các NHTM trong nước nói chung, ngân hàng INDOVINA nói riêng nhìn nhận và đánh giá lại vai trò hoạt động TTQT và KDNT một cách đúng mức hơn nhằm mang lại lợi nhuận và hiệu quả hoạt động cao hơn cho ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển xa hơn trong tương lai
2 Mục tiêu nghiên cứu:
o Gia tăng hiểu biết về hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại
Trang 7o Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng thương mại INDOVINA
o Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng INDOVINA
o Đề xuất giải pháp hạn chế những khó khăn và thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng INDOVINA
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:
o Đối tượng nghiên cứu: hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng INDOVINA
o Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng INDOVINA
o Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 đến năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm:
o Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng: phân tích, xem xét sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ trong mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài (các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội…), các yếu tố bên trong (các yếu tố nội tại bên trong ngân hàng) và mối quan hệ trong sự phát triển cùng với các hoạt động ngân hàng khác
o Phương pháp lịch sử: Xem xét hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ trong quá khứ, hiện tại để rút ra các mặt thành công và hạn chế, từ
đó đề ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các nghiệp vụ này
o Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh để đánh giá tình hình thực tế, kết hợp các bảng biểu để chứng minh và rút ra kết luận
Trang 85 Dữ liệu nghiên cứu:
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu có được từ việc tổng hợp các thông tin, tài liệu đáng tin cậy của ngân hàng INDOVINA, ngân hàng nhà nước Việt Nam, các sách báo tạp chí liên quan
6 Cấu trúc bài nghiên cứu:
Ngoài phần mở bài và kết luận thì phần chính của bài nghiên cứu là phần phân tích đánh giá, phần này được chia thành ba chương lớn:
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương này đề cập đến lý thuyết tổng quát về hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại: khái niệm, vai trò, đặc điểm, chỉ tiêu đo lường hiệu quả, nhân tố ảnh hưởng, các rủi ro thường gặp…
Chương 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TNHH INDOVINA
Dựa vào các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT, KDNT kết hợp với các bảng số liệu báo cáo của ngân hàng INDOVINA qua các năm 2009-2013, học viên sẽ phân tích, so sánh, đánh giá đưa ra các kết luận về hiệu quả động TTQT, KDNT tại ngân hàng INDOVINA Đồng thời cũng xác định các yếu tố chính ảnh hường đến hiệu quả hoạt động này
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TNHH INDOVINA
Sau khi đã có đánh giá về hiệu quả hoạt động TTQT, KDNT tại ngân hàng, học viên sẽ đề xuất các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT, KDNT cho ngân hàng Các giải pháp được đề ra trên cơ sở khắc phục các tồn tại
Trang 9hạn chế và phát huy điểm mạnh nhằm giúp ngân hàng vượt qua những khó khăn cũng như tận dụng được những cơ hội phát triển trong lĩnh vực TTQT, KDNT tại Việt Nam
Trang 10Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động thanh toán quốc tế:
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế:
Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau
TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế, người ta phân hoạt động TTQT thành thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch)
và thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch)
1.1.2 Đặc điểm thanh toán quốc tế:
Trước hết, thanh toán quốc tế khác với thanh toán trong nước là nó được thực hiện trên phạm vi toàn cầu, và liên quan đến việc trao đổi đồng tiền của quốc gia này lấy đồng tiền của quốc gia khác
Thứ hai, hầu hết việc thanh toán đều được tiến hành thông qua ngân hàng (NH)
và tiền tệ trong thanh toán quốc tế thường không phải là tiền mặt mà nó tồn tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán như thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ Do vậy thanh toán quốc tế về bản chất chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Chúng được hình thành và phát triển trên
cơ sở các hợp đồng ngoại thương và các trao đổi tiền tệ quốc tế
Thứ ba, một giao dịch thanh toán quốc tế không chỉ bị chi phối bởi pháp luật ngoại hối của nước sở tại mà còn bị chi phối bởi pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán
Trang 11Thứ tư, TTQT thường gặp rủi ro nhiều hơn so với thanh toán trong nước Sự bất
ổn về chính trị, khác biệt về luật pháp, cơ chế chính sách, khoảng cách địa lý của các bên tham gia thanh toán làm hạn chế khả năng tìm hiểu, giám sát thanh toán Do vậy, trong một vài trường hợp nhất định đã gây thiệt hại cho các bên tham gia thanh toán
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh tóan quốc tế
o Đối với nền kinh tế:
Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước Đó là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân TTQT là khâu quan trọng trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các
cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau, góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế
TTQT làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia Bên cạnh đó, hoạt động TTQT làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam
o Đối với khách hàng
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có đủ khả năng tài chính thì NH có thể tài trợ Qua việc thực hiện thanh toán, NH còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng
Trang 12o Đối với bản thân ngân hàng
Hoạt động TTQT giúp NH đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng Trên cơ sở đó giúp NH tăng doanh thu, nâng cao uy tín và tạo dựng niềm tin cho khách hàng Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động mà còn
là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường Hoạt động TTQT không chỉ là một hoạt động đơn thuần mà còn là hoạt động hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như mở rộng cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác
Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán
Hoạt động TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ NH Các NH sẽ áp dụng công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời
và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô và mạng lưới NH
Hoạt động TTQT cũng làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại của NH, tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở
đó khai thác nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng
Trong một nền kinh tế hiện đại, khi mà các quốc gia đều chọn con đường đối ngoại để phát triển thì tồn tại hoạt động TTQT là điều hiển nhiên, đó là hoạt động không thể thay thế, hoạt động TTQT chỉ mất đi khi quốc gia đó thực hiện chính sách tự cung tự cấp, không thực hiện giao thương, hợp tác, đối ngoại với bât kì quốc gia nào khác Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa chú trọng phát triển kinh
tế đối ngoại và thị trường ngân hàng Việt Nam còn trong giai đoạn phát triển Do đó
Trang 13đây là lĩnh vực hoạt động đang rất thu hút sự đầu tư của các NHTM trong và ngoài nước
1.1.4 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu:
Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu điểm và nhược điểm, phù hợp với những quan hệ xuất nhập khẩu khác nhau Vì vậy việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên bàn bạc thống nhất, ghi trong hợp đồng ngoại thương Đến nay, các phương thức thanh toán cơ bản và phổ biến thường được sử dụng là:
o Phương thức chuyển tiền (Remittance): Chuyển tiền là phương thức TTQT, trong đó khách hàng (người có yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi ở một địa điểm nhất định
NH chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình ở nước người hưởng lợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền
Người ta thường sử dụng phương thức chuyển tiền để thanh toán các khoản chi tiêu phi thương mại và các chi phí liên quan đến XNK hàng hóa trị giá hợp đồng nhỏ; Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư; Chuyển tiền kiều hối; thanh toán hàng hoá XNK (khi hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hoặc khi trị giá hợp đồng không lớn) vì khâu thanh toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, nếu bên mua cố tình dây dưa, kéo dài việc thanh toán
o Phương thức nhờ thu (Collection): Nhờ thu là một phương thức thanh toán, trong đó, nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác cho NH phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ đến
NH phục vụ nhà nhập khẩu để được thanh toán, hay chấp nhận thanh toán
o Phương thức giao chứng từ trả tiền (Cash Against Documents-CAD): Là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu NH mở tài khoản tín thác (Trust account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu Trong phuơng thức này người nhập khẩu phải kí quỹ 100%,
Trang 14và số tiền kí quỹ này không được sử dụng cho bất kì mục đích nào khác ngoài việc thanh toán cho thương vụ đó
o Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit): Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận Trong đó, một NH (NH phát hành thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba kí phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình cho NH một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng
Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng đơn thuần chỉ thực hiện chức năng chuyển tiền trên danh nghĩa người mua và nhận tiền trên danh nghĩa người bán.Trong phương thức nhờ thu, CAD các NH tham gia xử lý chứng từ do bên bán gửi đến và hành động với vai trò là đại lý của người bán Ngoại trừ vai trò là đại lý
và chức năng giám sát, trong các phương thức thanh toán nêu trên, các NH không
có bất kỳ cam kết, trách nhiệm hay nghĩa vụ thanh toán nào Tuy nhiên, trong phương thức tín dụng chứng từ, các NH đã tham gia chủ động và tích cực hơn nhiều, theo đó các NH thực hiện trả tiền theo cam kết của mình
Khi sử dụng phương thức thanh toán này, khách hàng nhập khẩu còn được NH
tư vấn để lựa chọn các điều khoản thanh toán có lợi cho mình Ngoài ra, trong trường hợp ký quỹ dưới 100% trị giá L/C, khách hàng nhập khẩu đã được ngân hàng cấp cho một khoản tín dụng Khách hàng xuất khẩu có thể được NH tài trợ bằng cách xin chiết khấu bộ chứng từ (đối với L/C trả ngay) hoặc bán trước hạn các hối phiếu đã được chấp nhận (đối với L/C trả chậm), do đó có thể nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư tái sản xuất Ngoài ra, khi sử dụng phương thức này, người xuất khẩu còn có thể tránh rủi ro về quản lý ngoại hối của nước người nhập khẩu, vì khi L/C đã được mở thì người nhập khẩu đã phải có giấy phép chuyển ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối Đối với các phương thức thanh toán chuyển tiền, nhờ thu, tại thời điểm thanh toán nếu nước người nhập khẩu có sự thay đổi về quản lý ngoại hối liên quan đến loại ngoại tệ hai bên đã thoả thuận thanh toán thì rủi ro này sẽ
Trang 15hoàn toàn thuộc về phía người xuất khẩu Đây là một trong những ưu việt mà chỉ có được khi áp dụng phương thức tín dụng chứng từ
Trong từng trường hợp, người ta có thể sử dụng các loại thư tín dụng sau:
Phân theo loại hình (Types):
Thư tín dụng có thể hủy ngang
Thư tín dụng không thể hủy ngang
Phân theo phương thức sử dụng (Uses):
Thư tín dụng không hủy ngang có giá trị trực tiếp (Straight L/C)
Thư tín dụng không hủy ngang có giá trị chiết khấu (Negotiation L/C)
Thư tín dụng không hủy ngang không xác nhận (Unconfirmed L/C)
Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (Confirmed L/C)
Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)
Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C)
Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C)
Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)
Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)…
1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ :
Theo sự phát triển vượt bậc của ngoại thương, yêu cầu chuyển đổi tiền gia tăng không ngừng và đã trở thành một nghề thực thụ: nghề kinh doanh ngoại tệ (KDNT), nghiệp vụ không thể thiếu trong một NHTM Một quốc gia độc lập tự chủ phát hành
Trang 16đồng tiền pháp định để lưu hành trong nước nhưng có nhu cầu sử dụng rất nhiều đồng tiền của các nước khác để phục vụ phát triển ngoại thương cùng các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng có hoạt động quốc tế, NH phải KDNT vừa cho bản thân mình vừa cho khách hàng như là một hệ luận của quốc tế hóa thương mại và quốc gia hóa tiền tệ
1.2.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
Theo nghĩa rộng:Kinh doanh ngoại tệ bao gồm việc mua, bán, gửi, vay cho vay các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau
Theo nghĩa hẹp: KDNT đơn thuần là các hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng khi tham gia trên thị trường hối đoái trong và ngoài nước nhằm đảm bảocác nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng, thu lời qua chênh lệch tỷ giá, kinh doanh cho khách hàng và cho chính NH Hoạt động KDNT theo phạm vi không gian được tiến hành vừa trong nước vừa trên thị trường quốc tế
1.2.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Đem lại cho NH một khoản lợi nhuận đáng kể, đặc biệt đối với các NH có hoạt động KDNT được đa dạng hóa
Là một công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá khi NH thực hiện các nghiệp vụ kỳ hạn, hoán đổi, tương lai, quyền chọn
Là một nghiệp vụ có vai trò quan trọng đối với các nghiệp vụ khác của NH như TTQT, bảo lãnh, vay và cho vay ngoại tệ, tạo điều kiện cho việc đa dạng hóa nghiệp vụ NH
Nhờ có hoạt động KDNT mà NH có thể dễ dàng giao dịch với NH nước ngoài, từ đó nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế qua chất lượng các giao dịch quốc tế
Trang 171.2.3 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ:
o Nghiệp vụ giao ngay (SPOT):
Là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán Nghiệp vụ này thực hiện trên cơ sở tỷ giá giao ngay (Spot rate) tức là tỷ giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch Nghiệp vụ giao ngay rất đơn giản về kỹ thuật, song lại là nghiệp vụ cơ bản cho phép thực hiện các nghiệp vụ phức tạp hơn
Tỷ giá hối đoái: là giá cả của đơn vị tiền tệ một nước được đo bằng số lượng tiền tệ của nước khác Do đó, để xác định tỷ giá hối đoái cần xem xét sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp đơn vị tiền tệ đó
Theo thời hạn thực hiện giao dịch có tỷ giá giao ngay (spot) và tỷ giá kỳ hạn (forward) Tỷ giá giao ngay được niêm yết trên các báo cáo kinh tế hàng ngày ở quốc gia Thực tế hiện nay, tỷ giá của hầu hết các loại ngoại tệ được trao đổi ở nước
ta đều được tính toán so với USD Đồng USD được sử dụng như một ngoại tệ trung chuyển (transport) Tỷ giá kỳ hạn đề cập đến một tỷ giá được báo giá và trao đổi hôm nay nhưng cho giao hàng và thanh toán vào một ngày cụ thể trong tương lai Trên thị trường ngoại hối, người ta yết giá mua và giá bán.Giá mua thường thấp hơn giá bán, khoảng cách (spread) giữa giá mua và giá bán hình thành thu nhập cho ngân hàng trong KDNT Tại các thị trường khác nhau, tùy theo quan hệ cung cầu ngoại tệ, tùy theo chính sách kinh tế tài chính của nước sở tại, sẽ yết những tỷ giá hối đoái khác nhau Các NH có thể lợi dụng những khoảng cách này để kiếm lời đồng thời cũng có thể gánh chịu những rủi ro hối đoái (exchange risks) tiềm tàng
Kết quả KDNT phụ thuộc vào sự thay đổi tỷ giá hối đoái có lợi hay bất lợi Các
NH chỉ nên đứng trung gian chuyển đổi các lệnh mua bán, không nên lao sâu vào hoạt động đầu cơ Khoảng cách mua bán là rất thấp và chỉ thể hiện rõ ở ngạch số
Trang 18giao dịch lớn.Tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao, tỷ giá hối đoái cực kỳ nhạy cảm, một biến cố bất kỳ, xảy ra ở bất cứ nơi đâu trên trái đất, trước tiên ảnh hưởng ngay đến tỷ giá hối đoái tại nước sở tại, sau đó lan tỏa rất nhanh đến các nước có thị trường hối đoái nối mạng quốc tế
o Nghiệp vụ kỳ hạn (Forward)
Là giao dịch mua hoặc bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện sau một thời hạn nhất định kể từ khi thỏa thuận hợp đồng Đây là công cụ phòng chống rủi ro do biến động tỷ giá Hợp đồng kỳ hạn được sử dụng để cố định các khoản thu nhập hay chi trả theo một tỷ giá đã biết trước, bất chấp sự biến động
tỷ giá trên thị trường
Ở Việt Nam, hợp đồng kỳ hạn được chính thức thực hiện từ năm 1998, nhưng nhu cầu giao dịch vẫn chưa nhiều Lý do, một mặt là khách hàng chưa am hiểu về giao dịch này Mặt khác, do cơ chế điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) trong suốt thời gian qua khá ổn định theo hướng VND giảm giá dần so với các ngoại tệ để khuyến khích xuất khẩu nhưng vẫn đảm bảo ổn định nhập khẩu Tuy nhiên khi NHNN dần bớt can thiệp vào thị trường ngoại hối, khi ấy rủi ro tỷ giá
là đáng lo ngại, giao dịch kỳ hạn sẽ gia tăng, các NHTM và khách hàng cần làm quen với loại giao dịch này càng sớm càng tốt
o Nghiệp vụ giao sau (Future)
Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo
tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai Tỷ giá trong các hợp đồng giao sau là tỷ giá giao ngay dự đoán tại thời điểm hợp đồng đáo hạn Thị trường ngoại tệ giao sau là thị trường giao dịch các hợp đồng mua bán ngoại tệ giao sau Thị trường giao sau thực chất chính là thị trường kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa về ngoại tệ giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch và ngày chuyển giao ngoại tệ Khác biệt nổi bật giữa giao dịch giao sau và kỳ hạn là giao dịch giao sau được thực hiện tập trung thông qua mô
Trang 19giới tại sàn giao dịch, trong khi giao dịch kỳ hạn là giao dịch thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên không cần tập trung hay thông qua mô giới
Các hợp đồng giao sau thường có tính thanh khoản cao hơn hợp đồng kỳ hạn vì phòng giao hoán đã sẵn sàng đứng ra “đảo hợp đồng” bất cứ khi nào có một bên yêu cầu Khi đảo hợp đồng thì hợp đồng cũ bị xóa và hai bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá trị tại thời điểm đó
o Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (Swap)
Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ là tổng hợp của hai nghiệp vụ giao ngay và kỳ hạn Swap tiền tệ là việc mua bán đồng thời cùng một số lượng ngoại tệ này với một ngoại tệ khác nhưng với thời hạn khác nhau, mỗi đồng tiền đều tham gia giao dịch mua và bán, tuy nhiên kỳ hạn của mỗi đầu giao dịch lại khác nhau, một đầu là giá giao ngay, còn đầu kia là giá kỳ hạn Một giao dịch swap tương ứng có hai giao dịch đi vay và cho vay Nó không tạo ra trạng thái ngoại hối mới nhưng tạo ra trạng thái vốn không cân bằng trong suốt thời gian thực hiện giao dịch Luồng tiền di chuyển giống như là cho vay và đi vay, do vậy giá của giao dịch swap phản ánh lãi suất đi vay và cho vay
Tỷ lệ Swap phản ánh chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay Tỷ lệ Swap mua là phần chênh lệch mà NH chào giá sẵn sàng mua kỳ hạn đồng tiền yết giá Tỷ lệ Swap bán là phần chênh lệch mà NH chào giá sẵn sàng bán kỳ hạn đồng tiền yết giá Tỷ lệ Swap phản ánh chênh lệch lãi suất (interest differential) giữa hai đồng tiền, là yếu tố xác định lợi ích hoặc chi phí của giao dịch Swap
Dù giao dịch Swap tương đương với hai nghiệp vụ vừa đi vay vừa cho vay nhưng nó không phải là tín dụng nên không gặp rủi ro tín dụng, không phải tính đến
dự trữ bắt buộc, không cần hạn mức tín dụng Swap là công cụ hữu hiệu để tạo ra trạng thái vốn của hai đồng tiền mà không tạo ra trạng thái ngoại hối mới
Trang 20Nghiệp vụ hoán đổi được sử dụng để cân đối nguồn vốn thanh toán tức thời Nghiệp
vụ hoán đổi có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phòng ngừa và rủi ro
o Nghiệp vụ hối đoái theo quyền chọn (Option)
Nghiệp vụ hối đoái theo quyền chọn là một sự thỏa thuận bằng hợp đồng giữa người mua và người bán về quyền chọn mua (call- option) hoặc quyền chọn bán (put- option) một loại ngoại tệ nhất định, với số lượng cụ thể, theo một tỷ giá cố định và vào một thời điểm cụ thể Với quyền lựa chọn, nhà kinh doanh vừa bảo hiểm được rủi ro tỷ giá,vừa được cơ hội kiếm lời nếu tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi cho họ
Trong hợp đồng này, người mua quyền lựa chọn phải trả cho người bán một khoản tiền gọi là phí quyền chọn để bù đắp phần rủi ro mà người bán phải chịu Thông qua đó, người mua dành được quyền chọn mua hoặc bán một loại ngoại tệ nào đó Mặt khác, anh ta có thể từ bỏ quyền chọn của mình khi thấy bất lợi Rủi ro của người mua quyền chọn chỉ giới hạn ở số tiền phải trả cho quyền đó Ngược lại, ngân hàng là người bán quyền chọn thu được một khoản tiền từ việc bán quyền nhưng bị bắt buộc thực hiện đến cùng hợp đồng đã ký với khách hàng
Tỷ giá thực hiện trong hợp đồng quyền chọn không được hình thành theo quan
hệ cung cầu trên thị trường như trong các hợp đồng giao ngay, kỳ hạn, giao sau, mà còn phụ thuộc vào mức phí quyền chọn cao hay thấp Như vậy tỷ giá quyền chọn có thể ở bất cứ mức nào miễn là người mua và bán chấp nhận vì giữa tỷ giá quyền chọn và phí mua quyền chọn luôn có quan hệ với nhau
Trang 211.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ:
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế:
Hiệu quả hoạt động TTQT của NHTM không chỉ đơn thuần là hiệu số giữa doanh thu TTQT và chi phí TTQT mà nó được đánh giá qua nhiều góc độ khác nhau như:
Về góc độ nền kinh tế thì hiệu quả được đánh giá thông qua việc đẩy mạnh hoạt động thanh toán XNK của nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài phát triển, thúc đẩy mở rộng các hoạt động du lịch, hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác , thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, ổn định nền kinh tế
Về góc độ khách hàng, hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá thông qua việc tăng trưởng kim ngạch XNK cuả doanh nghiệp trong nền kinh tế, tăng nhanh vòng quay của đồng vốn và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, góp phần thiết thực trong việc mang lại hiệu quả kinh doanh XNK của doanh nghiệp
Và về góc độ của NHTM thì hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá thông qua việc phát triển các hoạt động kinh doanh khác của NH như tài trợ XNK, bảo lãnh NH, kinh doanh ngoại hối, thúc đẩy hoạt động đối ngoại phát triển, mở rộng thị trường hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam, nâng cao uy tín và tính cạnh tranh cho
NH trên thị trường trong và ngoài nước
Ở đây, bài nghiên cứu chỉ đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT dưới góc độ NH
Các chỉ tiêu định lượng:
Trang 22 Doanh thu phí dịch vụ TTQT: khi cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, NHTM thu về một khoản phí dịch vụ theo biểu phí của ngân hàng, khoản phí thu về càng lớn càng góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Lợi nhuận ròng từ hoạt động TTQT
Lợi nhuận TTQT=Doanh thu TTQT-Chi phí TTQT
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả hoạt động, nhưng do đặc thù của lĩnh vực ngân hàng là ngành cung cấp dịch vụ cho nền kinh tế, trong cơ cấu tổ chức hoạt động của NH thì các bộ phận phòng ban như nhân sự, hành chính, phòng công nghệ thông tin, phòng ngân quỹ, phòng nguồn vốn… luôn có quan hệ chăt chẽ với nhau nên thật khó để xác định chi phí riêng cho hoạt động thanh toán quốc tế Do vậy, chỉ tiêu lợi nhuận ròng gần như không xác định được
Tỷ lệ Doanh thu TTQT/Tổng doanh thu: phản ánh tỷ trọng của doanh thu TTQT trong tổng doanh thu từ các hoạt động kinh doanh của NH
Lượng sự cố phát sinh cần bộ phận cấp cao sữa chữa điều chỉnh: có thể căn
cứ vào chỉ tiêu này để đánh giá xem hoạt động TTQT có thường xuyên gây ra sự cố hay không, các sự cố có nghiêm trọng hay không, chúng cho thấy hiệu quả hoạt động TTQT cao hay không
Thời gian trung bình để xử lý một giao dịch, một khiếu nại hay một thắc mắc của một khách hàng: chỉ tiêu này thể hiện năng suất làm việc và mức độ chuyên nghiệp của cán bộ hoạt động TTQT, khó có thể đưa ra một con số cụ thể cho chỉ tiêu này bởi mức độ phức tạp của mỗi giao dịch, mỗi vần đề của khách hàng là không giống nhau Nhưng về cơ bản, nếu có thể xử lý một giao dịch hay một vấn đề của khách hàng một cách thỏa mãn trong một khoảng thời gian ngắn hơn thì sẽ mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn
Các chỉ tiêu định tính:
Trang 23 Việc tăng cường và củng cố nguồn vốn ngoại tệ cho ngân hàng: Khi thực hiện hoạt động TTQT, đặc biệt nếu thanh toán hàng xuất càng nhiều thì lượng ngoại
tệ thu về sẽ càng nhiều
Việc tăng cường và hỗ trợ cho hoạt động tín dụng tài trợ XNK: hoạt động TTQT hiệu quả thu hút được đông đảo khách hàng đến giao dịch, trong đó có cả những khách hàng cần sự hỗ trợ tài chính của NH để thực hiện thanh toán cho các giao dịch kinh tế của mình, khi đấy các hoạt động tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu của
NH cũng sẽ tăng theo, do vậy thông qua chỉ tiêu tăng trưởng tài trợ thương mại có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động TTQT
Việc tăng cường và hỗ trợ cho nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ: Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT, NH bán ngoại tệ cho khách hàng có nhu cầu mua,
và mua lại ngoại tệ của khách hàng có nhu cầu bán, nghiệp vụ TTQT hiệu quả cũng
sẽ tạo điều kiện cho nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ phát triển, vì vậy nhìn vào chỉ tiêu tăng trưởng doanh thu kinh doanh ngoại tệ của NH với khách hàng có thể đánh giá hiệu quả của hoạt động TTQT
Việc phát triển mạng lưới các ngân hàng đại lý, phát triển quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế Để việc TTQT được thực hiện nhanh chóng, an toàn và hiệu quả thì các NHTM cần thiết lập quan
hệ đại lý với các NH trong và ngoài nước, thực hiện quá trình thiết lập mối quan hệ này đồng nghĩa với việc NH đang xây dựng và nâng cao hình ảnh và uy tín của mình trên thị trường tài chính trong nước và quốc tế Sự công nhận của các tổ chức tài chính này phần nào thể hiện thành công và uy tín của NH trên thị trường tài chính trong và ngoài nước, mà có được điều này một phần do hoạt đông TTQT mang lại Do vậy, có thể thông qua các quan hệ đại lý của NH mà đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ:
Trạng thái ngoại tệ: là khoản chênh lệch giữa số lượng ngoại tệ mua vào và
số lượng ngoại tệ bán ra trong tất cả các loại ngoại tệ được ngân hàng đang sử dụng Khi xem xét trạng thái ngoại tệ cần lưu ý rằng mọi giao dịch được tính vào trạng
Trang 24thái ngoại tệ ngay khi phát sinh giao dịch Nếu trạng thái ngoại tệ lớn hơn 0 thì ta gọi là trạng thái trường hay trạng thái dương, còn nếu nhỏ hơn 0 thì gọi là trạng thái đoản hay trạng thái âm Trường hợp trạng thái ngoại tệ bằng 0 thì gọi là trạng thái ngoại tệ cân bằng
Khi kinh doanh ngoại tệ, căn cứ vào kế hoạch kinh doanh, khả năng nguồn vốn, mỗi NH tự xác định mức tồn quỹ cần thiết tối thiểu bằng một số loại ngoại tệ mạnh thông dụng NH phải cân nhắc bốn yều tố khi xác định mức tồn quỹ: nhu cầu ngoại
tệ cần đáp ứng hay lượng ngoại tệ cần bán ra trong thời gian sắp đến; khả năng dành một phần nguồn vốn để chuyển đổi ra ngoại tệ dự trữ; khả năng hỗ trợ của thị trường ngoại hối trong nước và quốc tế; phân bổ lượng dự trữ này cho nhiều loại ngoại tệ
Dự trữ nhiều hay ít đều không mang lại hiệu quả cho NH Dự trữ ít sẽ không đủ phục vụ yêu cầu của khách hàng Dự trữ nhiều thì NH sẽ phải gánh chịu nhiều khoản chi phí như chi phí huy động là lãi phải trả cho quyền sử dụng tiền tệ; chi phí
cơ hội là thu nhập mất đi nếu đưa vốn vào hoạt động kinh doanh khác; chi phí chuyển đổi…cùng với sự nhạy cảm của tỷ giá, rủi ro giao động rất lớn, NH sẽ rất khó trở tay với lượng dự trữ lớn khi một ngoại tệ nào đó bị mất giá
Đảm bảo trạng thái ngoại tệ cân bằng là đảm bảo mức đã tính ra, vượt mức đó là trạng thái trường tức là dư thừa, cần phải bán bớt ngay, dưới mức đó là trạng thái đoản tức là thiếu hụt, cần phải mua về để bù đắp vào Khi trạng thái ngoại tệ ở thế cân bằng, cho thấy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NH đang được kiểm soát theo như kế hoạch đặt ra, nói cách khác là hoạt động kinh doanh ngoại tệ có hiệu quả
Doanh số mua bán ngoại tệ: Doanh số mua bán ngoại tệ tăng trưởng cho thấy hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã ngày một phát triển Có thể do NH kinh doanh có hiệu quả nên doanh số tăng cũng có thể là do tình hình chung của thị trường tiền tệ Nhưng về cơ bản khi doanh số tăng thì doanh thu cũng sẽ tăng, và do đó NH đã đạt được một hiệu quả kinh doanh ngoại tệ nhất định
Trang 25 Doanh thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Doanh thu kinh doanh ngoại tệ của NH có thể đến từ chênh lệch tỷ giá mua bán, lãi suất cho vay ngoại tệ, thu phí dịch vụ từ khách hàng Doanh thu tăng cho thấy kinh doanh ngoại tệ có hiệu quả
Tỷ số doanh thu kinh doanh ngoại tệ/tổng doanh thu: tỷ số này cho thấy tỷ trọng doanh thu kinh doanh ngoại tệ trong tổng doanh thu của NH
1.4 Rủi ro thường gặp trong hoạt động thanh toán quốc tế và kinh
doanh ngoại tệ
Đặc thù của hoạt động TTQT và KDNT là nó có tác động qua lại, quan hệ mật thiết với kinh tế quốc tế Là những dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng ngoài phạm vi quốc gia, nó không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia mà còn phải tuân thủ luật pháp quốc tế, thông lệ quốc tế Thứ nữa là nó có quan hệ mật thiết với thị trường ngoại hối và chiụ sự tác động mạnh mẽ của yếu tố tỷ giá, dự trữ ngoại tệ của mỗi quốc gia Do đó, hoạt động TTQT và KDNT của NHTM luôn phải đương đầu với rủi ro cao, tiềm ẩn, phức tạp khó kiểm soát phát sinh cả trong và ngoài nước
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM được chia làm bốn nhóm chính: Rủi ro tài chính: rủi ro thị trường (rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá…), rủi ro tín dụng, rủi
ro thanh khoản Rủi ro hoạt động : lừa dối nội bộ, hành vi của nhân viên, rủi ro công nghệ, rủi ro quản lý Rủi ro kinh tế: chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính, hệ thống luật pháp Rủi ro sự cố: sự kiện chính trị, bệnh dịch, khủng hoảng tài chính
Sự phân chia trên chỉ có tính chất tương đối, trên thực tế các loại rủi ro có thể chuyển hóa cho nhau và có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong hoạt động TTQT và KDNT luôn có thể xảy ra các loại rủi ro trên nhưng đặc biệt là các dạng sau:
o Rủi ro tỷ giá:
Là rủi ro đặc thù, bất kể sự tăng hay giảm tỷ giá một cách đột ngột đều ảnh hưởng đến hoạt động TTQT và KDNT của NHTM Trong thanh toán L/C ngay khi
Trang 26người nhập khẩu đã kí quỹ 100% giá trị L/C cũng không bù đắp được tỷ lệ trượt giá của đồng nội tệ và như vậy NH đã gặp rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NH trên thị trường ngoại hối NH tham gia thị trường ngọai hối với hai mục đích chính là dịch vụ khách hàng (dịch vụ mua hộ bán hộ) và kinh doanh mua bán cho chính mình Rủi ro tỷ giá chỉ phát sinh khi NH tham gia mua bán cho chính mình, tức tạo ra trạng thái ngoại hối mở để đầu cơ kiếm lời khi
tỷ giá thay đổi Rủi ro tỷ giá tăng lên theo thời gian tồn tại của trạng thái ngoại hối Rủi ro tỷ giá cũng phát sinh ngay khi NH duy trì trạng thái ngoại hối cân bằng Mỗi biến động nhỏ của tỷ giá sẽ là sự biến động lớn về giá trị tài sản nếu lượng kinh doanh ngoại tệ lớn
o Rủi ro pháp lý:
Rủi ro pháp lý là những rủi ro do thực hiện các giao dịch không đúng luật gây nên tổn thất và tranh chấp cho các bên tham gia Rủi ro pháp lý bao gồm rủi ro về chính sách, rủi ro trong quá trình áp dụng và thực thi những qui định trong nước và quốc tế liên quan đến hoạt động TTQT và KDNT Cụ thể:
Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TTQT và KDNT:Chẳng hạn chính sách thương mại của quốc gia hướng vào xuất khẩu hạn chế nhập khẩu, khi đó tỷ giá được điều chỉnh có lợi cho hoạt động xuất khẩu của quốc gia này Khi tỷ giá được đẩy lên cao không kiểm soát được ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại tệ của NH Ngoài ra chính phủ cũng có thể sử dụng hàng loạt các biện pháp khác như chính sách quản lý ngoại hối, hạn chế xuất nhập khẩu một số mặt hàng, chính sách cấm vận kinh tế…các biện pháp này đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp cũng như hoạt động TTQT và KDNT của NH
Thông lệ quốc tế: phòng thương mại quốc tế là tổ chức phi chính phủ hoạt động độc lập đã ban hành nhiều bản qui tắc điều chỉnh như UCP, URC, URR, URDG, Incoterms… Những quy tắc này mang tính chất pháp lý tùy ý, vì vậy khi áp dụng
Trang 27các bên được quyền thỏa thuận những nội dung khác thậm chí trái với quy định của bản quy tắc Vì vậy nếu không am hiểu những nội dung của các bản quy tắc này thì rất dễ dẫn đến những tranh chấp trong quá trình áp dụng
o Rủi ro đạo đức:
Rủi ro đạo đức là rủi ro xảy ra khi một bên tham gia giao dịch cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình gây thiệt hại cho người khác Trong hoạt động KDNT khi tỷ giá thay đổi mạnh, khách hàng hoặc NH có thể sẽ không thực hiện mua bán ngoại tệ như cam kết của mình và gây thiệt hại cho bên kia Trong hoạt
Trang 28động TTQT, rủi ro đạo đức có thể xảy ra từ phía khách hàng Từ nhà nhập khẩu nếu
họ không có thiện chí thanh toán thì họ có thể dựa vào sai sót dù rất nhỏ của bộ chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian thanh toán và chiếm dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán đẩy ngân hàng vào tình thế khó khăn Từ nhà xuất khẩu nếu họ không xuất hàng theo đúng yêu cầu nhưng vẫn xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo, theo phương thức thanh toán L/C thì ngân hàng phát hành vẫn phải thanh toán cho người xuất khẩu, trong tình huống này sẽ gây thiệt hại cho nhà nhập khẩu
Và rủi ro này cũng có thể đến từ phía các NH trong trường hợp thanh toán theo phương thức L/C, NH phát hành trì hoãn hoặc từ chối thanh toán cho người xuất khẩu, hoặc đối với sự thiếu trung thực của NH chiết khấu, NH phát hành tin tưởng thanh toán sẽ gặp rủi ro Trong cả hai trường hợp, dù NH là người gây ra rủi ro đạo đức hay là người gánh chịu rủi ro đạo đức thì nguyên nhân gây ra nó là do thông tin không đầy đủ, không cân xứng, sự tách biệt giữa thanh toán và hàng hóa thực tế theo phương thức thanh toán L/C
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế
và kinh doanh ngoại tệ
o Nhân tố bên ngoài:
Một trong những yếu tố của môi trường bên ngoài có tác động đến sự sống còn của NH đó là yếu tố khách hàng Nếu ngân hàng có thể thu hút một lượng lớn khách hàng có năng lực kinh doanh và thường xuyên có hoạt động XNK thì sẽ tạo điều kiện rất tốt để hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ phát triển Nhưng khách hàng có những đặc điểm và nhu cầu rất khác nhau nên NH cần nhận biết đúng đối tượng khách hàng của mình, tìm hiểu những nhu cầu chưa thỏa mãn của nhóm khách hàng này, từ đó phát triển thêm các sản phẩm dịch vụ đáp ứng các nhu cầu đó, có như vậy thì NH mới có hể thu hút và giữ chân được khách hàng Yếu tố quan trọng thứ hai đó là đối thủ cạnh tranh Số lượng, tầm vóc, chiến lược và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
Trang 29của ngân hàng, trong đó có hoạt động TTQT và KDNT Thị trường có quá nhiều đối thủ cạnh tranh thì sẽ thật khó cho NH trong việc tìm kiếm thị phần và sẽ đặc biệt khó khi đó là các đối thủ lớn về qui mô và mạnh về vốn Chiến lược và sản phẩm của đối thủ cũng ảnh hưởng nhiều đến chiến lược và sản phẩm của NH Nếu đối thủ không có chú trọng phát triển hoạt động TTQT, KDNT thì sẽ ít đầu tư vào con người, công nghệ, không đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ phục vụ cho hoạt động này Ngân hàng có thể khai thác điểm này để thu hút khách hàng, đẩy mạnh doanh số, doanh thu, nâng cao hiệu quả TTQT và KDNT Vì lý do này, NH cần thiết phải phân tích đối thủ cạnh tranh để có nhận thức thấu đáo về thị trường từ đó xây dựng một lợi thế chiến lược lâu dài
Kế đến là các yếu tố thể chế chính trị, chính sách kinh tế trong nước và trên thế giới Đây là nhân tố quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như NH Mỗi sự biến động về chế độ kinh tế, chính trị của quốc gia cũng như quốc tế sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết đã thoả thuận giữa các bên Hoạt động trong một nền kinh tế, chính trị ổn định, sẽ an toàn và hiệu quả hơn, NH sẽ yên tâm đầu tư, phát triển sản phẩm nên chất lượng dịch vụ NH nói chung, TTQT và KDNT nói riêng cũng sẽ tốt hơn Các chính sách kinh tế ảnh hưởng nhiều đến hoạt động TTQT, KDNT là:
Chính sách kinh tế đối ngoại hay cụ thể hơn là chính sách ngoại thương mang tính bảo hộ mậu dịch hay tự do hóa mậu dịch của Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến sự sôi động hay trầm lắng của hoạt động TTQT và KDNT Một lựa chọn chính sách đối ngoại thiên về bảo hộ sẽ gây khó khăn cho hoạt động ngoại thương, ngược lại tự do hóa mậu dịch sẽ làm cho ngoại thương phát triển Và sự phát triển của hoạt động ngoại thương là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động TTQT và KDNT
Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia là những quy định pháp lý, những thể
lệ của Nhà nước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, cũng như việc trao đổi, sử dụng, mua bán ngoại tệ trên thị trường nội địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồng
Trang 30vận động của ngoại hối từ nước ngoài vào và từ trong nước ra, có liên quan đến quan hệ ngoại thương và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ Đồng thời, chính sách quản lý ngoại hối cũng quản lý và kiểm soát lưu thông ngoại hối trong phạm vi quốc gia Như vậy, một chính sách quản lý ngoại hối đúng đắn sẽ góp phần khuyến khích ngoại thương, hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài… từ
đó sẽ thúc đẩy hoạt động TTQT, KDNT của ngân hàng phát triển Căn cứ vào sự biến động của thị trường, Nhà nước sẽ có các áp dụng chính sách ngoại hối thắt chặt hay tự do nhằm hướng sự vận động của hoạt động ngoại hối đi vào ổn định theo chủ trương của Nhà nước Hoạt động TTQT, KDNT liên quan đến sự vận động luồng tiền ra vào quốc gia, do đó tất yếu chịu sự quản lý ngoại hối của Chính phủ
Chính sách thuế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu Với các mức thuế XNK cao hay thấp
sẽ có tác động hạn chế hay khuyến khích hoạt động XNK, từ đó cũng sẽ góp phần ảnh hưởng đến hoạt động TTQT và KDNT
Tình hình kinh tế trong nước và thế giới cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động TTQT và KDNT của NH Tốc độ tăng trưởng, mức độ lạm phát, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp… cho thấy một cái nhìn tổng quát về một nền kinh tế phát triển, đang phát triển hay suy thoái Với nền kinh tế phát triển và đang phát triển sẽ thu hút đươc sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp Điều này đồng nghĩa với việc sẽ có lưu lượng ngoại tệ vào và ra rất mạnh, như vậy hoat động TTQT và KDNT của NH sẽ trở nên sôi động Ở những nền kinh tế phát triển và đang phát triển thì các hoạt động ngoại thương, dịch vụ quốc tế, chuyển giao công nghệ kỹ thuật quốc tế và nhiều hoạt động kinh tế khác cũng diễn ra mạnh mẽ và chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau Chẳng hạn như kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng, đầu tư ra nước ngoài và đầu tư của nước ngoài vào trong nước tăng thì nhu cầu về mua bán ngoại tệ, nhu cầu về tài trợ ngoại thương, nhu cầu tự bảo vệ trước những rủi ro đặc biệt là rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn Nó đòi hỏi hoạt động TTQT và KDNT phát triển để đáp ứng Ngoài ra, giá trị hợp đồng bản tệ rõ ràng được hậu thuẫn bởi sự phát triển kinh tế của quốc gia Một
Trang 31nước có nền kinh tế phát triển ổn định thì đồng tiền của nó có uy tín, có khả năng chuyển đổi cao trên thị trường thế giới Với đồng bản tệ mạnh, thị trường hối đoái ở nước đó sẽ hoàn thiện và là cơ sở cho hoạt động TTQT và KDNT phát triển
Cuối cùng là môi trường luật pháp, các thông lệ, tập quán thương mại Đây là cơ
sở pháp lý để hạn chế rủi ro, giải quyết tranh chấp trong TTQT và KDNT của NHTM Đặc thù của hoạt động TTQT và KDNT là hoạt động kinh doanh liên quan đến nhiều quốc gia nên chịu sự chi phối của cơ chế chính sách luật pháp của nước
sở tại cũng như các nước có liên quan Môi trường pháp lý hoàn thiện là nền tảng để NHTM thực hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình
o Nhân tố bên trong:
Hình ảnh, uy tín của ngân hàng: Một ngân hàng có uy tín lớn là ngân hàng có các hoạt động đa dạng và phong phú cả về quy mô lẫn chất lượng, điều này sẽ thu hút một số lượng lớn khách hàng đến với ngân hàng Không những thế, một ngân hàng có uy tín sẽ dễ dàng mở rộng được thị trường trong nước và quốc tế Ngân hàng có uy tín trên trường quốc tế, sẽ rất thuận lợi khi thực hiện các nghiệp vụ mang tính bảo lãnh thanh toán cho khách hàng trong nước, đồng thời các ngân hàng
và đối tác nước ngoài sẽ tin tưởng lựa chọn ngân hàng để giao dịch
Cơ cấu tổ chức, quy trình hoạt động: NH với hệ thống các mối quan hệ vừa độc lập vừa phụ thuộc, thể hiện những nhiệm vụ rõ ràng, do ai làm, làm cái gì và liên kết với các bộ phận khác như thế nào, tạo ra sự hợp tác nhịp nhàng, quy trình thủ tục đơn giản, ổn định đồng nhất sẽ góp phần làm cho hoạt động TTQT và KDNT được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả
Hoạt động Marketing: Marketing ngân hàng được hiểu là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu doanh số, doanh thu của ngân hàng đối với một hay nhiều nhóm khách hàng mục tiêu đã được lựa chọn thông qua các chính sách nhằm hướng tới mục tiêu marketing cuối cùng và cao nhất là lợi nhuận
Về cơ bản Marketing liên quan đến bốn yếu tố là sản phẩm, giá cả, phân phối,
Trang 32truyền thông, riêng trong lĩnh vực dịch vụ như NH còn có thêm các yếu tố con người, quy trình và yếu tố minh chứng thực tế (trụ sở, chi nhánh, văn phòng giao dịch…) Tùy vào tình hình cụ thể mà NH có thể sử dụng một hay nhiều yếu tố để thực hiện chiến lược của mình Thực hiện marketing thành công đồng nghĩa với việc NH đã đưa được hình ảnh thương hiệu của mình đến với khách hàng và đối tác Điều này sẽ tạo một nền tảng tốt để hoạt động TTQT và KDNT phát triển hiệu quả Chất lượng nguồn nhân lực: Để thực hiện công việc trôi chảy, tránh hiểu lầm và gây thiệt hại đáng tiếc cho ngân hàng, đòi hỏi cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ làm nghiệp vụ TTQT, KDNT nói riêng phải có chuyên môn cao, am hiểu các quy tắc, thông lệ quốc tế, có trình độ ngoại ngữ giỏi để tiếp cận với những tài liệu của nước ngoài, tích luỹ thêm kiến thức nghiệp vụ
Qui mô, mạng lưới các chi nhánh của NH: Một NH với hệ thống chi nhánh rộng lớn sẽ giúp cho các ngân hàng đó có nhiều cơ hội để thu hút các khách hàng XNK tiềm năng, mở rộng hoạt động thanh toán XNK từ đó gia tăng được thị phần Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới chi nhánh này phải được cân nhắc để đầu tư đúng hướng, đúng các thị trường tiềm năng tránh việc đầu tư dàn trải gây lãng phí vốn
Đặc biệt trong hoat động TTQT, ngân hàng cần chú trọng xây dựng cho mình một hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp tại các quốc gia Bởi vì bất kỳ NH nào cũng bị hạn chế khi tham gia vào thị trường tài chính nhất định Đó là những hạn chế về không gian, thời gian, tập quán kinh doanh, năng lực kết nối thông tin và mối liên hệ với khách hàng, thị trường, tập quán giao dịch, luật lệ địa phương, … Do vậy, các NH phải sử dụng các dịch vụ của tổ chức tài chính khác để có thể thực hiện các giao dịch thanh toán nhanh chóng, an toàn đạt được hiệu quả cao Xây dựng, duy trì mối quan hệ thân thiết với ngân hàng đại lý sẽ gúp cho các NHTM đáp ứng được mọi nhu cầu thanh thanh toán của khách hàng, giúp khách hàng tiết giảm chi phí nâng cao kết quả kinh doanh, từ đó tăng cường hợp tác sử dụng dịch vụ của NHTM, thúc đẩy hoạt động TTQT, KDNT cũng như các dịch vụ khác của NH cùng phát triển
Trang 33Hệ thống công nghệ thông tin:Trong thời đại ngày nay, công nghệ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của một NH Vì vậy, mỗi NHTM cần tạo dựng cho mình một hệ thống công nghệ hiện đại, phù hợp và phải quan tâm tới đổi mới công nghệ để đáp ứng tiêu chí hoạt động là nhanh chóng, kịp thời, chính xác, an tòan và bảo mật
Kết luận chương 1:
Trong quá trình hội nhập, các NHTM phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong hệ thống ngân hàng về hoạt động TTQT và KDNT để chiếm lĩnh thị phần cho ngân hàng mình Để có thể đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả hoạt động TTQT và KDNT, đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận từ cơ sở lý luận Khái quát những vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại, hoạt động TTQT và kinh doanh ngoại tệ của NHTM: Khái niệm, vai trò và các nghiệp vụ kinh doanh Đồng thời cũng đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tạo cơ sở cho công tác đo lường đánh giá hiệu quả các hoạt động
Trang 34Chương 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN INDOVINA
2.1 Hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng Indovina:
o Khái quát quy trình hoạt động thanh toán quốc tế:
Quy trình về hoạt động TTQT của ngân hàng Indovina, bao gồm tất cả những dịch vụ TTQT hiện có như chuyển tiền bằng điện, thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ và nhờ thu chứng từ, đã được NH xây dựng và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn từng giai đoạn Quy trình này đã được xem xét tiêu chuẩn hóa và làm cơ sở cho các bộ phận tác nghiệp, hướng đến mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng
Khi khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ TTQT của ngân hàng thì có thể đến bất kì phòng giao dịch (PGD) hay chi nhánh nào của ngân hàng IVB để được phục
vụ Sau khi tiếp nhận hồ sơ của khách hàng thì nhân viên TTQT sẽ xem khách hàng
đó thuộc chi nhánh nào quản lý và có trách nhiệm thông báo cho chi nhánh đó về giao dịch bằng cách fax bộ hồ sơ về cho chi nhánh quản lý xử lý sau khi đã kiểm tra chữ ký khách hàng, số dư tài khoàn giao dịch cũng như kiểm tra sự hợp lệ của bộ hồ
sơ Khi các giao dịch đã được chi nhánh quản lý chấp nhận, nhân viên TTQT sẽ thông báo cho khách hàng biết trạng thái, kết quả của giao dịch Trưởng hay phó phòng TTQT của chi nhánh quản lý sẽ kiểm tra tất cả giao dịch trong ngày, lập bảng
kê điện Swift cần gửi ký tên kèm với mã khóa và fax về phòng TTQT hội sở phê duyệt, chuyển điện Nếu khách hàng đến PGD hay phòng TTQT trực thuộc hội sở thi hồ sơ cũng sẽ được xử lý tương tự nhưng điện Swift sẽ được chuyển đi thẳng mà không cần phải lập bảng kê và mã khóa như tại các chi nhánh khác Điện Swift sẽ
Trang 35được chuyển đến ngân hàng người hưởng để thông báo cho người hưởng thông qua
hệ thống NH đại lý của IVB
o Thực trạng hoạt động TTQT tại ngân hàng IVB:
Thị phần hoạt động TTQT:
Kể từ khi ngân hàng Indovina được cấp giấy phép hoạt động tính đến nay đã được 23 năm, đó cũng là thời gian hoạt động TTQT diễn ra tại NH Có thể nói từ những ngày đầu được cấp phép và trở thành NH liên doanh đầu tiên tại Việt Nam, với đầy đủ chức năng hoạt động ngoại hối như nhận và trả tiền gửi ngoại tệ, nhận tiền vay và cho vay ngoại tệ, mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài, thanh toán bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ Indovina đã nhận được sự quan tâm chú ý và
là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp, nhiều nhà đầu tư cũng như các thành phần kinh tế khác Lượng khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT của NH là khá đông Nhưng trong quá trình hoạt động của mình, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, Indovina đã không có sự phát triển lớn mạnh như sự kỳ vọng của khách hàng Lượng khách hàng chẳng những không được mở rộng mà còn bị thu hẹp Thị phần hoạt động TTQT hay thị phần thanh toán XNK của IVB chiếm tỷ lệ rất thấp trong kim ngạch XNK cả nước
Trang 36Bảng 2.1.1: Thị phần thanh toán XNK của IVB so với kim ngạch XNK cả nước giai đoạn 2009-2013 (Đơn vị tính: tỷ USD và %)
Giá trị
Thị phần
Giá trị
Thị phần
Giá trị
Thị phần
Giá trị
Thị phần Thanh toán
XNK tại IVB 1.22 0.97 1.66 1.07 1.86 0.92 1.89 0.75 1.72 0.65 Kim ngạch
XNK cả nước 125.6 100 155 100 202.1 100 253.2 100 263.5 100 (Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT của IVB giai đoạn 2009-2013)
Từ năm 2009 đến năm 2013, kim ngạch XNK cả nước luôn đạt mức tăng trưởng cao trên 20%, kim ngạch năm 2013 so với năm 2009 tăng hơn 2 lần Năm 2011 được dự báo là năm khó khăn cho tăng trưởng XNK cả nước vì với chính sách kìm chế lạm phát thắt chặt tiền tệ, thu hẹp tín dụng sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn duy trì mở rộng hoạt động Tuy nhiên, kim ngạch XNK năm 2011 lại rất khả quan, đạt mức tăng trưởng cao nhất khoảng 30%, tốc độ tăng xuất khẩu vượt trội (35%), cao nhất kể từ năm 1995 Nhập siêu giảm mạnh so với 4 năm trước đó và tỷ trọng nhập siêu/xuất khẩu đạt gần 11%, thấp nhất kể từ năm 2002 Hòa vào cùng tình hình chung cả nước, giá trị thanh toán XNK tại ngân hàng Indovina cũng tăng liên tục qua các năm, tăng mạnh nhất vào năm 2010 đạt 36%, riêng trong năm 2013 tốc đô tăng bị âm gần 9%, tăng trưởng thanh toán XNK của IVB rất không đều Thị phần thanh toán XNK của IVB đạt cao nhất là 1.07% vào năm 2010 và thấp nhất là 0.65% vào năm 2013 Từ năm 2009-2013, có thể nói thị phần đã giảm 33% Giá trị thanh toán XNK tăng nhưng thị phần lại giảm, cho thấy tốc độ tăng giá trị thanh toán XNK của IVB không bằng tốc độ tăng kim ngạch XNK cả nước, sự phát triển chậm của IVB trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế
đã dẫn đến kết quả là thị phần bị thu hẹp trong một nền kinh tế đang phình ra
Trang 37Bảng 2.1.2: Cơ cấu thanh toán xuất khẩu (XK) –nhập khầu (NK) của IVB giai đoạn 2009-2013 (Đơn vị tính: Tỷ USD, %)
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
XK 0.52 42.5 0.75 45.3 0.85 45.6 0.98 51.9 0.96 55.8
NK 0.70 57.5 0.91 54.7 1.01 54.4 0.91 48.1 0.76 44.2 Tổng 1.22 100 1.66 100 1.86 100 1.89 100 1.72 100 (Nguồn: Báo cáo TTQT của IVB giai đoạn 2009-2013)
Biểu đồ 2.1.1: Tỷ trọng thanh toán XNK giai đoạn 2009-2013: (Đơn vị tính : %)
Tỷ trọng thanh toán XNK giai đoạn 2009-2013
Nước ta trong nhiều năm qua luôn nằm trong tình trạng nhập siêu, đây là vấn
đề phức tạp kéo dài của nền kinh tế Về cân đối tổng thể của nền kinh tế, nhập siêu chính là một biểu hiện của huy động nguồn lực bên ngoài vào tăng trưởng và phát triển kinh tế Nhập siêu có thể là một kênh hỗ trợ việc tạo năng lực mới và hiện đại hóa nền kinh tế, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, tăng khả năng cạnh tranh Nhưng nhập siêu ở mức cao, kéo dài sẽ gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế và điều hành chính sách tiền tệ, gây áp lực cung cầu ngoại tệ, tỷ giá Sau khi gia nhập WTO, giá trị nhập siêu ở nước ta đã tăng mạnh, cao nhất là vào năm 2008 và mãi đến năm 2012 lần đầu tiên Việt Nam xuất siêu hàng hóa sau g’ần 20 năm nhập siêu,
Trang 38xuất siêu tập trung tại các mặt hàng gia công lắp ráp và tập trung tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Nhìn vào biểu đồ cơ cấu thanh toán XNK của IVB, ta thấy từ năm 2009 đến năm
2011, tỷ trọng thanh toán hàng NK cao hơn tỷ trọng thanh toán hàng XK Nhưng sang năm 2012, 2013 thì tỷ trọng thanh toán xuất khẩu cao hơn tỷ trọng thanh toán nhập khẩu Doanh số thanh toán hàng XK tăng mạnh qua các năm, tăng mạnh nhất vào năm 2010 đến 45%, sau đó tốc độ tăng chậm lại và bị âm 2% vào năm 2013 Trong khi đó, hoạt động thanh toán hàng NK từ năm 2009 đến năm 2011có tốc độ tăng mạnh, cao nhất vào năm 2010 đạt 29% nhưng sang năm 2012, 2013 thì tốc độ tăng đã chuyển sang con số âm 10% và 16%, và chiếm tỷ trọng thấp hơn so với thanh toán hàng xuất Nguyên nhân của kết quả này, một phần do năm 2012 IVB đánh giá lai tình hình hoạt động của các doanh nghiệp và đã hạn chế cấp tín dụng, bảo lãnh cho một số khách hàng nhập khẩu hàng hóa nên đã làm giảm lượng khách hàng thanh toán hàng nhập qua IVB Một phần vì chịu sự ảnh hưởng chung của nền kinh tế, cả nước xuất siêu, và lượng khách hàng chính tại IVB là các doanh nghiệp
có vốn đầu tư từ Đài Loan kinh doanh trong lĩnh vực gia công may mặc, lắp ráp, do
đó lượng thanh toán hàng xuất qua IVB cũng tăng theo Khách hàng giao dịch với IVB phần lớn là khách hàng lâu năm có được nhiều ưu đãi, còn khách hàng mới thì rất ít và cũng chỉ giao dịch ở mức thấp, giới hạn Tóm lại với thị phần thanh toán XNK thấp, cơ cấu thanh toán nghiên nhiều về nhập khẩu, tuy có cải thiện nhưng chủ yếu do ảnh hưởng chung của nền kinh tế, về phía NH chưa có sự chủ động điều chỉnh phù hợp Điều nay sẽ ảnh hưởng trước hết đến doanh thu TTQT và sau đó là cân đối cung cầu ngoại tệ của NH
Doanh thu hoạt động TTQT
Cơ cấu thu nhập của IVB gồm có thu từ hoạt động tín dụng, thu từ hoạt động đầu tư, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thu từ việc cung cấp các dịch vụ khác như dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thẻ, ….Trong đó
Trang 39thu từ hoạt động tín dụng là cao nhất tiếp đến là các hoạt động còn lại, trong đó có phần đóng góp khá lớn của hoạt động TTQT
Bảng 2.1.3: Doanh thu hoạt động TTQT giai đoạn 2009-2013 (Đvt: Triệu USD, %)
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Hội sở
1.43 35.54 1.58 34.14 1.51 36.19 0.52 28.24 0.65 33.53
Hà Nội
0.46 11.36 0.55 11.96 0.55 13.05 0.15 8.24 0.22 11.15 PGD-TL
0.00 0.00 0.07 1.47 0.12 2.96 0.06 2.98 0.04 1.85 PGD-MĐ
0.00 0.00 0.10 2.08 0.08 1.93 0.03 1.53 0.03 1.38 Đống Đa
0.04 1.07 0.13 2.79 0.09 2.26 0.02 1.33 0.04 1.86 Hải Phòng
0.78 19.34 0.64 13.91 0.43 10.32 0.25 13.27 0.28 14.21
Đà Nẵng
0.05 1.18 0.06 1.33 0.06 1.54 0.05 2.57 0.03 1.66 Cần Thơ
0.06 1.56 0.08 1.76 0.06 1.50 0.03 1.74 0.03 1.64 Đồng Nai
0.22 5.46 0.23 4.97 0.27 6.35 0.21 11.36 0.14 7.04 PGD-NT
0.10 2.41 0.07 1.60 0.09 2.14 0.07 3.67 0.05 2.45 Bình Dương
0.60 14.89 0.47 10.24 0.47 11.21 0.26 14.31 0.25 12.66 Chợ Lớn
0.10 2.51 0.24 5.17 0.22 5.16 0.08 4.46 0.08 4.32 Tân Bình
0.19 4.68 0.40 8.58 0.23 5.41 0.12 6.30 0.12 6.24
Tổng cộng 4.01 100.00 4.63 100.00 4.18 100.00 1.85 100.00 1.95 100.00 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT của IVB giai đoạn 2009-2013 )
Trang 40Bảng 2.1.4: Tốc độ tăng trưởng thu nhập của hoạt động TTQT giai đoạn 2009-2013 (Đvt: %)
2011 và thấp nhất là 28.24% năm 2012 Kế đến là các chi nhánh Hải Phòng, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai Phòng giao dịch (PGD) Thiên Long (TL), Mỹ Đình (MĐ) trực thuộc chi nhánh Hà Nội đi vào hoạt động từ năm 2010, PGD Nhơn Trạch (NT) trực thuộc chi nhánh Đồng Nai, các PGD này tuy chưa có giấy phép thành lập