Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh nhưng lại có ảnh hưởng tiêu cực và đáng
Trang 1Nguyễn Vũ Khánh Linh
PHÂN TÍCH CẠNH TRANH NGÀNH
VÀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG LÊN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2NGUYỄN VŨ KHÁNH LINH
PHÂN TÍCH CẠNH TRANH NGÀNH VÀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG LÊN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Đạt Chí
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 3đòn bẩy tài chính tác động lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp” là công trình
nghiên cứu của riêng tác giả dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đạt Chí Các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không sao chép bất cứ nguồn dữ liệu nào
Nguyễn Vũ Khánh Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp luận 3
1.5 Kết cấu bài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
2.1 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 5
2.1.1 Lý thuyết chi phí đại diện 5
2.1.2 Lý thuyết cấu trúc vốn (Mô hình MM) 5
2.1.3 Lý thuyết đánh đổi 6
2.1.4 Lý thuyết trật tự phân hạng 7
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 7
2.2.1 Đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 7
2.2.2 Đòn bẩy tài chính, chiến lược giá, mức độ cạnh tranh, hiệu quả doanh nghiệp……….10
Trang 53.1 Giả thuyết nghiên cứu 22
3.2 Nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 23
3.2.1 Nguồn dữ liệu 23
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3 Biến số nghiên cứu 27
3.3.1 Biến phụ thuộc 27
3.3.2 Biến độc lập 28
3.3.3 Biến công cụ 30
3.4 Mô hình thực nghiệm 32
3.5 Thống kê mô tả 34
3.6 Các vấn đề nội sinh 39
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính 40
4.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính tương đối 42
4.3 Phân tích tác động biên 45
4.4 Kết quả GMM 47
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Đòn bẩy Đòn bẩy tài chính
Hiệu suất Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Trang 7Bảng 3.2 Bảng mô tả biến 31
Bảng 3.3 Giá trị trung bình của các biến theo từng ngành 36
Bảng 3.4 Bảng mô tả dữ liệu 37
Bảng 3.5 Ma trận tương quan 38
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 38
Bảng 4.1 Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và đòn bẩy tài chính 41
Bảng 4.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và đòn bẩy tài chính tương đối 44
Bảng 4.3 Tác động biên của đòn bẩy tài chính 46
Bảng 4.4 Mối quan hệ đòn bẩy tài chính - hiệu quả hoạt động - Phương pháp GMM 49
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
Bài nghiên cứu hướng đến sự phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt chú ý đến mức độ cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Bài nghiên cứu sử dụng một lý thuyết cạnh tranh mới, chỉ báo Boone, đo lường mức độ cạnh tranh trên thị trường Bằng việc sử dụng dữ liệu bảng của 212 doanh nghiệp Việt Nam trong suốt giai đoạn 2011 - 2016 bài nghiên cứu xem xét chi tiết hiệu quả của cấu trúc vốn lên hoạt động của doanh nghiệp và nghiên cứu mở rộng liệu rằng mối quan hệ đó có phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh nhưng lại
có ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể trong thị trường sản phẩm tập trung Kết quả cũng cho thấy rằng mức độ cạnh tranh ngành thích hợp làm tăng cường hiệu quả này.Bài nghiên cứu gồm có năm phần: phần một giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu Phần hai đưa ra cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, mối quan hệ trên khi có sự xuất hiện của mức độ cạnh tranh thị trường, được đúc kết từ các bài nghiên cứu trước đây bên cạnh đó trình bày chi tiết hơn về vấn đề này qua mỗi bài nghiên cứu Tiếp theo, phần ba nêu lên giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu sử dụng trong bài Phần bốn đưa ra kết quả bài nghiên cứu Cuối cùng, phần năm đúc kết lại những nội dung quan trọng đã trình bày xuyên suốt trong bài nghiên cứu, đồng thời đưa ra những nhận định cho tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, đưa ra định hướng phát triển cho bài nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế các quốc gia và khu vực trên thế giới đầy biến động, đang dần đạt đến mức độ bão hòa, đối với Việt Nam, năm 2017 vừa qua có thể nói rằng là một năm vô cùng đặc biệt khi lần đầu tiên đất nước ta hoàn thành nhiệm vụ một cách toàn diện, vượt mức 13 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tăng trưởng GDP đạt 6,81%, mức cao nhất trong gần 10 năm qua, vượt chỉ tiêu 6,7% Quốc hội đề ra vào đầu năm Niềm tin, sự hứng khởi và tinh thần đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đang lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội Số doanh nghiệp thành lập mới năm
2017 đạt mức kỷ lục 126.859 doanh nghiệp với số vốn đăng ký mới và bổ sung trên 3,16 triệu tỷ đồng, đồng thời có 26.448 doanh nghiệp hoạt động trở lại
Bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn một số mặt tồn đọng như nợ công cao, xử lý nợ xấu còn gặp nhiều khó khăn Theo nguồn tin từ Vnexpress, đến cuối tháng 9/2017, tỷ lệ nợ xấu là 2,34% Nếu tính thận trọng bao gồm cả một số khoản
nợ tiềm ẩn, nợ VAMC đã mua cùng với nợ xấu nội bảng tại ngân hàng thì tổng mức
nợ xấu đến cuối tháng 9/2017 là khoảng 566.000 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ 8,61% Mặc dù vậy, theo Uỷ ban Giám sát, quá trình xử lý nợ xấu đã được đẩy nhanh hơn, đặc biệt trong những tháng cuối năm nhờ tác động Nghị quyết 42 Tính cả năm, ngành ngân hàng đã xử lý được 70.000 tỷ đồng Từ đó ta thấy được việc sử dụng nợ trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều điều bất cập Câu hỏi đặt ra là:
“Cấu trúc vốn như thế nào là hiệu quả, tỷ lệ đòn bẩy tài chính như thế nào là phù hợp cho từng tính chất thị trường kinh tế khác nhau?”
Mặc dù đã trải qua nhiều thập kỷ nghiên cứu, chúng ta vẫn chưa có một kết luận nào chung nhất về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các bài viết khoa học của Modigliani and Miller (1958, 1963) cho thấy, dù
có những lợi thế về thuế cho những khoản nợ, cấu trúc vốn không liên quan đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động đã thu hút nhiều cuộc tranh luận và có những kết quả thực nghiệm tổng hợp
Trang 10Chi phí cơ hội trong việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu (Jensen & Meckling, 1976)
và hiệu quả xử lý nợ (Grossman & Hart, 1983; Jensen, 1986) là những ý tưởng cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của đòn bẩy lên hiệu quả hoạt động Phần mở rộng của các lý thuyết (Bolton & Scharfstein, 1990; Chevalier & Scharfstein, 1996; Dasgupta
& Titman, 1998) gợi ý rằng đòn bẩy tài chính sẽ mở ra một cơ hội ganh đua trong thị trường sản phẩm tập trung, do đó cần điều chỉnh ảnh hưởng đòn bẩy tài chính lên hiệu quả doanh nghiệp trong từng mức độ cạnh tranh của thị trường
Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy tác động tích cực đáng kể của đòn bẩy đến hiệu quả hoạt động công ty Bài nghiên cứu cũng tìm thấy được rằng hiệu ứng tương tác của đòn bẩy và mức độ cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động công ty là tích cực Những phát hiện này ngụ ý sự cạnh tranh tăng cường lợi ích của đòn bẩy Những phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu của Opler và Titman (1994) và Kovenock và Phillips (1997) đối với các bất lợi tương tác của đòn bẩy và thị trường sản phẩm tập trung Tuy nhiên, các tác giả chỉ tìm thấy kết quả tiêu cực không có ý nghĩa thống kê của đòn bẩy và hoạt động công ty, trái với những tác động tích cực trực tiếp trong bài báo này
Bài viết này đóng góp và xây dựng thêm vào các tài liệu hiện có như sau:
Thứ nhất, bằng cách tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam, bài nghiên cứu cung cấp trực tiếp bằng chứng sự ảnh hưởng tương tác của đòn bẩy và cạnh tranh về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ở các nước đang phát triển
Thứ hai, ngoài chỉ số Herfindahl-Hirschman Index, nghiên cứu này sử dụng một phương pháp đo lường mức độ cạnh tranh mới, chỉ báo Boone – Boone Indicator (Boone, Griffith, & Harrison, 2005; Boone, van Ours, & van der Wiel, 2007; Boone, 2008) Chỉ báo Boone khắc phục những lỗi tiềm ẩn trong chỉ số đo lường mức độ tập trung sử dụng trong tất cả các nghiên cứu trước đây (Campello, 2003, 2006; Chevalier, 1995a, 1995b; Kovenock & Phillips, 1997; Opler & Titman, 1994) Ví dụ,
Trang 11mức độ tập trung thị trường sản phẩm cao chỉ đơn giản là kết quả của việc các công
ty hoạt động không hiệu quả rút khỏi thị trường do cạnh tranh khốc liệt (Demsetz, 1973), trong trường hợp này, lợi nhuận của công ty hoạt động hiệu quả sẽ tăng (Boone
et al., 2005, 2007, Boone, 2008)
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu định lượng xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ đòn bẩy, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh, tác giả hy vọng bài nghiên cứu có thể đáp ứng được các mục tiêu sau đây:
Thứ nhất, đưa ra bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp dựa trên hai yếu tố: tỷ lệ đòn bẩy tài chính và mức độ cạnh tranh thị trường
Thứ hai, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng những ngành có mức độ tập
trung càng cao (thị trường độc quyền) nếu sử dụng nợ càng nhiều (tỷ lệ đòn bẩy tài chính lớn) thì có xu hướng hoạt động kém hiệu quả và ngược lại Liệu rằng điều đó
có đúng với tình hình kinh tế của Việt Nam Đó là điều mà tác giả muốn kiểm chứng thực nghiệm từ bài nghiên cứu này
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đưa ra hai câu hỏi nghiên cứu chính:
Đòn bẩy tài chính có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp?
Tác động của đòn bẩy tài chính lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp sẽ thay đổi như thế nào với mức độ cạnh tranh ngành khác nhau?
Trang 12 Tỷ lệ đòn bẩy tài chính, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh
Từ đó xác định được mức độ sử dụng nợ phù hợp cho từng ngành nghề ứng với các cấu trúc thị trường khác nhau của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011-2016
1.5 Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm có 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Trang 13CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
2.1.1 Lý thuyết chi phí đại diện
Lý thuyết này lần đầu được đưa ra bởi Jensen và Meckling (1976), cho rằng cấu
trúc vốn tối ưu được xác định bởi chi phí đại diện Chi phí đại diện được hiểu là mâu thuẫn giữa người quản lý công ty và cổ đông của công ty Cụ thể, các nhà quản lý không phải là chủ sở hữu doanh nghiệp thường hành động vì mục tiêu riêng của họ hơn là tối đa hóa giá trị cho cổ đông Lý thuyết này góp phần giải thích rằng các tại công ty có quy mô nhỏ, hầu hết các nhà quản lý cũng là cổ đông của công ty nên chi phí đại diện ít xảy ra Khi chi phí đại diện càng giảm thì tỷ lệ đòn bẩy trong doanh nghiệp càng giảm Ngược lại, các công ty có quy mô lớn sẽ sử dụng tỷ lệ nợ vay nhiều hơn nhằm mục đích giảm thiểu vấn đề chi phí đại diện
2.1.2 Lý thuyết cấu trúc vốn (Mô hình MM)
Lý thuyết MM về cấu trúc vốn của doanh nghiệp được hai tác giả Modigliani và
Miller (MM) đưa ra vào năm 1958 Lý thuyết MM dựa trên 5 giả định quan trọng về
thị trường hoàn hảo như sau: không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập
cá nhân; không có chi phí giao dịch; không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính; cá nhân và doanh nghiệp đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau; thị trường vốn là thị trường hoàn hảo Modigliani và Miller (1958) cho rằng giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có sử dụng
nợ vay hay không thì cũng không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Dựa vào những trên giả định trên, tác giả cho rằng tài trợ bằng nguồn nội bộ và từ bên ngoài có thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo Lý thuyết MM được kết luận bằng 2 mệnh đề sau:
Thứ nhất, mệnh đề MM số I trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay
nợ (VL) bằng giá trị của công ty không có vay nợ (VU), nghĩa là VU = VL
Trang 14Thứ hai, mệnh đề MM số II phát biểu rằng lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ Modigliani
và Miler (1958) chỉ ra việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất sinh lợi cao hơn, nhưng tỷ suất sinh lợi cao hơn lại bù đắp cho rủi ro tăng lên từ tỷ lệ nợ vay tăng lên Cuối cùng, thì tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ Tuy nhiên, vì lý thuyết MM chủ yếu dựa vào thị trường hoàn hảo nhưng thị trường hoàn hảo hiếm xảy ra trong thực tế do rất khó tồn tại những giả định trên, từ đó tạo điều kiện cho những lý thuyết khác ra đời nhằm khắc phục nhược điểm của lý thuyết MM
2.1.3 Lý thuyết đánh đổi
Để khắc phục nhược điểm thị trường hoàn hảo không tồn tại trong thực tế như lý
thuyết cấu trúc vốn MM, lý thuyết đánh đổi đưa ra bởi Kraus và Litzenberger (1973)
cho rằng doanh nghiệp cần lựa chọn một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Lý thuyết này phát biểu rằng giá trị của doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính bằng giá trị doanh nghiệp trong trường hợp được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần cộng với hiện giá tấm chắn thuế và trừ cho hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính Lý thuyết giải thích doanh nghiệp thường tài trợ một phần bằng nợ vay và một phần tài trợ bằng vốn cổ phần Lợi ích của việc tài trợ từ nợ là lợi ích tấm chắn thuế từ lãi vay Tuy nhiên, rủi ro của việc tài trợ từ nợ là chi phí kiệt quệ tài chính như chi phí phá sản như chi phí cho luật sư, nhân viên trong quá trình chờ phá sản,
Lý thuyết đánh đổi giải thích mỗi doanh nghiệp có cấu trúc vốn khác nhau từ đặc thù của ngành nghề mà doanh nghiệp đó đang hoạt động Lý thuyết này có ưu điểm là giúp giải thích được sự khác biệt cấu trúc vốn của các ngành khác nhau Ví dụ những ngành có tỷ lệ tài sản cố định hữu hình cao như ngành hàng không thường vay nợ nhiều hơn ngành có tài sản hữu hình thấp như ngành dược phẩm Các doanh nghiệp
sẽ vay nợ để tối ưu lợi ích cấu trúc vốn của mình khi tỷ lệ nợ vay thêm đủ bù đắp cho chi phí kiệt quệ tài chính với điều kiện các nhân tố khác không đổi như kế hoạch đầu
tư, tổng tài sản của doanh nghiệp Như vậy, lý thuyết đánh đổi đã giải thích rõ ràng
về chi phí kiệt quệ tài chính khi lý thuyết MM chưa nêu rõ Tuy nhiên, điểm hạn chế
Trang 15của lý thuyết đánh đổi là chưa giải thích được lý do tại sao một số công ty phát triển nhanh và có lợi nhuận cao thường ít sử dụng nợ Lý thuyết trật tự phân hạng ra đời tiếp tục trả lời cho những câu hỏi này
2.1.4 Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết này được phát hiện đầu tiên từ nghiên cứu của Myers và Majluf (1984)
Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài do thông tin bất cân xứng nên sẽ
dễ dàng hơn thực hiện quyết định đầu tư và quyết định tài trợ Điều này tác động đến việc lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ bên ngoài thông qua việc phát hành chứng khoán nợ và vốn cổ phần Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng lựa chọn nghịch bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng sẽ tác động đến quyết định tài chính của doanh nghiệp Từ đó, dẫn đến một trật tự phân hạng trong việc ưu tiên lựa chọn nguồn tài trợ Các doanh nghiệp thích sử dụng lợi nhuận giữ lại để tài trợ, tiếp đến là tài trợ bằng nợ và phát hành vốn cổ phần là lựa chọn cuối cùng Như vậy, lý thuyết trật tự phân hạng đã giải thích tại sao các công ty khả năng sinh lợi cao thường ít sử dụng đòn bẩy vì họ ưa thích nguồn tài trợ nội bộ như là lợi nhuận giữ lại hơn Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được sự khác biệt tỷ lệ nợ giữa các ngành
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
2.2.1 Đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Theo các bài viết khoa học Modigliani and Miller (1958), việc nghiên cứu cấu
trúc vốn đã thu hút nhiều sự chú ý cùng với các giả thuyết khác nhau Modigliani and Miller (1958) giả thuyết rằng, trong một thị trường hoàn hảo, thì cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị của công ty, việc có sử dụng hay không sử dụng nợ không ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, Kjellman & Hansén, 1995; Myers, 1984 cho rằng giả định về một thị trường hoàn hảo trong thực tế là không xảy ra, vì thế cấu trúc vốn có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 16Jensen and Meckling (1976) đã xác định được 2 loại chi phí đại diện Thứ nhất,
chi phí đại diện của các cổ đông bên ngoài, phát sinh từ các xung đột lợi ích từ các
cổ đông – nhà quản lý và các cổ đông bên ngoài Khi mà các cổ đông trở thành nhà quản lý và phải chia sẻ lợi nhuận của mình cho các nhà đầu tư bên ngoài, thì sẽ có xu hướng dẫn đến hành vi rủi ro đạo đức khi muốn tối đa hóa lợi ích cá nhân của mình Điều này làm phát sinh chi phí đại diện cao hơn khi mà số lượng nhà đầu tư ngoài tham gia sở hữu cổ phần tăng lên Do đó, sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn sẽ có khả năng làm giảm chi phí đại diện và tăng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Jensen, 1986), mối đe dọa vỡ nợ (Grossman & Hart, 1983), và nguồn dữ liệu thông tin tín dụng (Harris & Raviv, 1990) Loại chi phí đại diện thứ hai xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và chủ nợ Các cổ đông – chủ sở hữu doanh nghiệp nhận thấy rằng việc chấp nhận đầu tư vào các dự án rủi ro bằng nguồn vốn tài trợ nợ sẽ mang lại lợi nhuận cho họ nếu dự án thành công, còn khi dự án thất bại thì khoản lỗ lại được chia
sẻ cho cả chủ nợ và chủ sở hữu doanh nghiệp Các chủ nợ sẽ lường trước hành vi như vậy nên thường yêu cầu những điều khoản ràng buộc khắt khe hơn, mức lãi suất cho vay cao hơn dẫn đến chi phí cho vay của công ty tăng cao Điều này cho thấy rằng đòn bẩy tài chính cũng có thể có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động công ty, đặc biệt là các công ty đang sử dụng đòn bẩy cao Myers (1997) mở rộng phân tích này đến trường hợp những doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy có thể dẫn đến việc đầu tư không tối ưu Đó là khi doanh nghiệp này thường phải chấp nhận những điều khoản pháp lí khó khăn từ các chủ nợ khiến doanh nghiệp phải từ chối thực hiện các dự án đầu tư có thể sinh lời từ đó làm giảm giá trị thị trường của doanh nghiệp Trong một bài phân tích khác của Stulz (1990) cho thấy rằng sử dụng vốn vay có thể dẫn đến vấn đề đầu tư dưới mức “the underinvestment problems” Vấn đề đại diện xảy ra khi nhà quản lý từ chối đầu tư vào tài sản có mức độ rủi ro thấp để tối đa hóa lợi nhuận của họ tại chi phí vay nợ Dự án đầu tư rủi ro thấp cung cấp một sự đảm bảo cho các khoản vay nợ của các doanh nghiệp, từ đó dòng tiền ổn định từ các dự án này sẽ tạo
ra dòng tiền để thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên dòng tiền an toàn này lại không
Trang 17tạo ra được nhiều lợi nhuận cho các cổ đông Kết quả là, dự án đầu tư sẽ bị từ chối, mặc dù tăng giá trị tổng thể cho doanh nghiệp
Bài viết mở rộng vấn đề chi phí đại diện của các chủ nợ làm dẫn đến mâu thuẫn
lợi ích giữa công ty và các cổ đông của mình Titman (1984) lập luận rằng đòn bẩy
ảnh hưởng đến khả năng thanh lý tài sản của một công ty, có thể gây tốn kém chi phí thanh lý cho cả khách hàng và chủ nợ của nó, điều này phụ thuộc vào chính sách thanh lý của công ty Vì thế, khách hàng chỉ đồng ý mua những công ty có tỷ lệ đòn bẩy cao khi và chỉ khi mức giá thanh lý thấp Ngoài ra, chủ nợ sẽ muốn áp đặt nhiều điều khoản hạn chế hơn Maksimovic và Titman (1991) lập luận rằng khách hàng, trong một số trường hợp, có thể cảm nhận được chất lượng sản phẩm của một công
ty sử dụng đòn bẩy cao dễ bị xâm phạm, khiến họ bất đắc dĩ giao dịch với công ty đó
Do đó, mức độ cao của đòn bẩy có thể gây bất lợi cho hoạt động công ty
Dựa trên những lý thuyết, kết luận thực nghiệm đã được ghi nhận Một số nghiên cứu báo cáo tác động tiêu cực của đòn bẩy đến hiệu suất công ty (Bhagat & Bolton, 2008; Ghosh, 2008; King & SANTOR, 2008), trong khi những nghiên cứu khác báo cáo tác động tích cực (Berger & Bonaccorsi di Patti, 2006; Margaritis & Psillaki, 2010; Weill, 2008) hoặc không có tác động đáng kể (Phillips & Sipahioglu, 2004) Một vài nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ đòn bẩy tài chính - hiệu quả hoạt động còn tùy vào mức độ của các vấn đề liên quan nội tại của doanh nghiệp (Ruland & Zhou, 2005; Schoubben & Văn Hulle, 2006) Ví dụ, Schoubben và Van Hulle (2006) cho thấy đòn bẩy có tác dụng tích cực đối với các công ty niêm yết nhưng ảnh hưởng tiêu cực đến công ty không niêm yết Tương tự như vậy, Ruland và Zhou (2005) tìm thấy rằng, sử dụng đòn bẩy giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty đa ngành nghề, đặc biệt là các công ty đa ngành có quy mô nhỏ, có liên quan đến chi phí đại diện cao hơn
Mở rộng gần đây của các nghiên cứu (Bolton & Scharfstein, 1990; Chevalier, 1995a, 1995b; Chevalier & Scharfstein, 1996; Dasgupta & Titman, 1998) nêu lên ý nghĩa to lớn về mức độ cạnh tranh thị trường trong mối quan hệ đòn bẩy tài chính -
Trang 18hiệu quả hoạt động, kể từ khi nó mang lại một dấu hiệu cho thấy phản ứng của công
ty đối thủ khi doanh nghiệp sử dụng mức độ đòn bẩy cao hơn
2.2.2 Đòn bẩy tài chính, chiến lược giá, mức độ cạnh tranh, hiệu quả doanh nghiệp
Đòn bẩy có mối quan hệ tác động phức tạp với mức độ cạnh tranh trên thị trường
sản phẩm Brander và Lewis (1986) cho rằng đòn bẩy giúp các công ty cạnh tranh
tích cực hơn trên thị trường do giới hạn pháp lý, từ đó bù đắp những vấn đề chi phí đại diện liên quan Tuy nhiên, theo Wanzenried (2003), vấn đề giới hạn pháp lý phụ thuộc vào tính chất đặc điểm cạnh tranh và sản phẩm Điều này cho thấy rằng giới hạn pháp lý các khoản nợ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của các công ty có sử dụng đòn bẩy tài chính Nguyên nhân là do ảnh hưởng của sự giới hạn này thúc đẩy việc tăng gia sản xuất, dẫn đến giảm giá thành thực tế Lợi nhuận giảm, sản phẩm dễ dàng bị thay thế Sản phẩm của doanh nghiệp dễ dàng bị tấn công bởi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong cùng ngành, dẫn đến khả năng bị thâu tóm Ngoài ra, lý thuyết cạnh tranh và nghiên cứu có liên quan (Bolton & Scharfstein, 1990; Chevalier & Scharfstein, 1996; Dasgupta & Titman, 1998; Fudenberg & Tirole, 1986) cho thấy rằng các công ty sử dụng đòn bẩy cao khó mà cạnh tranh lại các đối thủ trong cùng một thị trường sản phẩm
Công ty sử dụng đòn bẩy có thể dễ bị cạnh tranh trong thị trường sản phẩm tập
trung Fudenberg và Tirole (1986) cho rằng lợi nhuận giai đoạn hiện nay là một tín
hiệu cho triển vọng trong tương lai, các doanh nghiệp trong ngành có động lực để đánh bạicông ty đối thủ tiềm ẩn Như các công ty sử dụng đòn bẩy có thể bị hạn chế
về tài chính hơn so với các đối thủ ít sử dụng đòn bẩy trong thị trường sản phẩm tập trung, độ nhạy cảm của họ với các tín hiệu thị trường tương đối cao Bên cạnh đó, trong thị trường sản phẩm tập trung, doanh nghiệp sử dụng tài trợ nợ nhiều sẽ bị ràng buộc về mặt pháp lý nhiều hơn so với các đối thủ ít sử dụng tài trợ từ nợ Vì vậy, các doanh nghiệp trong thị trường sản phẩm tập trung có mức độ đòn bẩy tài chính cao
có thể gây ra tác động xấu đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Tuy nhiên, ở một
Trang 19góc nhìn khác, tính tập trung cao, cạnh tranh thấp, doanh nghiệp có cơ hội đầu tư với
tỷ suất sinh lời cao hơn, hơn nữa số lượng doanh nghiệp đối thủ trong ngành ít, tạo lợi thế cho việc quản lý của cả chủ nợ và chủ sở hữu Điều này vừa làm giảm chi phí đại diện vừa làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Aiken, Dewatripont, & Rey, 1997; Hart, 1983 nhấn mạnh rằng, bên cạnh lợi ích
của đối thủ cạnh tranh, quy luật đi kèm với sự cạnh tranh củng cố ảnh hưởng của đòn
bẩy hoặc giảm nhẹ những vấn đề chi phí đại diện của nợ Bài nghiên cứu này đặt ra câu hỏi “Thị trường cạnh tranh sản phẩm là tốt hay xấu cho sự tăng trưởng kinh tế?” Nhà nghiên cứu Schumpeteriau đã đưa ra câu trả lời tuy nhiên chỉ mang khía cạnh một chiều: “Những sản phẩm độc quyền mới đưa đến sự đổi mới, đó mới là lý do chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế, sản phẩm trên thị trường cạnh tranh chỉ mang lại bất lợi cho sự tăng trường” Bên cạnh đó, trong “lý thuyết của sự đổi mới” Schumpeter nhấn mạnh công nghệ như một yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Ở khía cạnh khác, nghiên cứu thực nghiệm gần đây (ví dụ bằng cách Nickell, 1996; hoặc Blundell et al., 1995) cho thấy một mối tương quan tích cực giữa sự cạnh tranh thị trường sản phẩm (như đo lường số lượng các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành hoặc do chỉ số lợi nhuận) và hiệu quả hoạt động trong một công ty hay ngành công nghiệp Bằng chứng này dường như phù hợp hơn với quan điểm cho rằng cạnh tranh
là mang lại kết quả tốt cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Làm thế nào để dung hòa kết quả từ bằng chứng thực nghiêm trên và quan điểm của Schumpeteriau? Trong trường hợp này tác giả cho rằng, thị trường cạnh tranh sản phẩm tạo môi trường thúc đẩy việc áp dụng công nghệ, từ đó dẫn đến tăng trường Tác giả hy vọng rằng bài nghiên cứu thử nghiệm những cách tiếp cận khác nhau để kết hợp lý thuyết tăng trưởng Schumpeterian với bằng chứng thực nghiệm, nhằm làm rõ những hiểu biết của chúng ta về ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh đến mức độ tăng trưởng hay hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Chevalier và Scharfstein (1996) mở rộng mô hình trên thông qua chuyển đổi mô
hình chi phí Họ lưu ý rằng đòn bẩy làm hạn chế khả năng của một công ty đầu tư
Trang 20vào thị trường cổ phiếu, bài viết cho thấy rằng các công ty có tỷ lệ đòn bẩy tài chính
có mức giá sản phẩm trên thị trường cao hơn các công ty có tỷ lệ đòn bẩy tài chính thấp, xét trong giai đoạn suy thoái Điều này có nghĩa là các công ty sử dụng đòn bẩy cao sẽ chịu bất lợi cạnh tranh trong ngành công nghiệp tập trung hoặc ít cạnh tranh, cho rằng các sản phẩm của các công ty này bị mất đi tính cạnh tranh trong suy thoái kinh tế Ảnh hưởng quan trọng của bất lợi trên là làm giảm mức độ cạnh tranh trong thị trường sản phẩm
Chevalier (1995a) cung cấp bằng chứng về các bất lợi cạnh tranh liên quan đến
đòn bẩy Trong nghiên cứu của tác giả về ngành công nghiệp bán lẻ, tác giả đã phát hiện ra rằng sự gia tăng đòn bẩy dẫn đến giá trị thị trường của đối thủ cạnh tranh tăng Ngoài ra, khi các doanh nghiệp trong ngành dùng đòn bẩy cao, thì sự xâm nhập và phát triển của các công ty đối thủ tiềm năng càng lớn Kết quả cho thấy rằng đòn bẩy làm dịu đi tính cạnh tranh của thị trường Một lần nữa, (Chevalier, 1995b) cho thấy giá cả thị trường tăng sau sự gia tăng đòn bẩy nếu công ty đối thủ cũng có đòn bẩy cao Các công ty có đòn bẩy cao được tìm thấy có giá trị cao hơn so với đối thủ cạnh tranh sử dụng ít đòn bẩy hơn Điều ngược lại cũng đúng khi đối thủ sử dụng ít đòn bẩy và trong thị trường đang tập trung: giá trị giảm khi công ty sử dụng đòn bẩy cao rời khỏi thị trường Những phát hiện này cho thấy rằng các công ty sử dụng đòn bẩy cao dễ bị tấn công trong thị trường có ít cạnh tranh so với các đối thủ sử dụng ít đòn bẩy
Có lẽ hầu hết những dẫn chứng trực tiếp về tác động của mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và cạnh tranh được cung cấp bởi Opler và Titman (1994) Họ nhận thấy rằng các công ty có đòn bẩy cao rất dễ mất thị phần vào tay các đối tác có mức đòn bẩy thấp trong suốt thời kỳ suy thoái ngành công nghiệp Đặc biệt, ở các thị trường tập trung, việc đánh mất thị phần diễn ra khốc liệt hơn Trong một diễn biến khác, Kovenock và Phillips (1997) tìm thấy khi đòn bẩy đang có tác động tiêu cực đến các nhà đầu tư của công ty dẫn đến thúc đẩy việc đóng cửa nhà máy Điều thú vị là, họ thấy tầm quan trọng của những hiệu ứng này phụ thuộc cao vào cấu trúc vốn và mức
Trang 21độ tập trung, cho thấy vấn đề nghiêm trọng ở thị trường kinh tế tập trung Thực tế rằng các bằng chứng được trình bày trong các nghiên cứu này cho thấy rõ tỷ lệ đòn bẩy cao dễ gây tổn hại đến các doanh nghiệp trong thị trường kinh tế tập trung (ít cạnh tranh)
Campello (2003) nghiên cứu tác động của đòn bẩy lên tăng trưởng doanh thu của
các công ty trên thị trường sản phẩm Ông thấy rằng đòn bẩy có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp mà sử dụng
ít đòn bẩy trong suy thoái kinh tế, nhưng không phải trong thời kỳ bùng nổ Phát hiện này có thể là do giảm sức cạnh tranh liên quan đến suy thoái kinh tế vĩ mô Phát hiện còn chỉ ra rằng những tác động của đòn bẩy phụ thuộc đáng kể vào mức độ nghiêm trọng của các vấn đề đại diện trong ngành Quan điểm này phát hiện ra rằng, khi doanh nghiệp sử dụng nợ vừa phải thường mang lại hiệu quả cao trong hoạt động, trong khi đó, nếu sử dụng nợ quá nhiều có thể dẫn đến hiệu quả kém hơn Đặc biệt, tác giả tìm thấy tác động tích cực đáng kể cho các công ty tại các thị trường tập trung
so với các đối tác của họ trong thị trường cạnh tranh Bài viết đưa ra các tiếp cận dựa trên việc xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và mức độ cạnh tranh để thiết lập một mối liên hệ giữa chiến lược tài chính công ty và kết quả hoạt động kinh doanh Giả sử điều kiện lý tưởng, cường độ, và hậu quả của những cú sốc kinh tế vĩ mô không thể được dự đoán hoàn toàn bởi những người tham gia thị trường sản phẩm, tác giả kiểm tra sự nhạy cảm của sự tăng giá (gồm chi phí và lợi nhuận) và tăng trưởng doanh thu đến đòn bẩy tài chính sau những cú sốc trên Trọng tâm chủ yếu của bài nghiên cứu là sự khác biệt trong độ nhạy cảm giữa các ngành, trong đó có các doanh nghiệp có cấu trúc tài trợ nợ và các doanh nghiệp ít sử dụng tài trợ nợ Đặc biệt, sau khi xem xét trong giai đoạn của chu kỳ kinh doanh và giá trị đòn bẩy tài chính của đối thủ cạnh tranh, bài nghiên cứu cho thấy rằng kiểm tra việc vay nợ của doanh nghiệp dẫn đến sự kém hiệu quả trong bán hàng ở một số ngành công nghiệp ở một
số đối tượng được nghiên cứu, trong khi ở những chu kỳ kinh doanh của những công
ty khác, tổn thất mà nợ gây ra là không tồn tại hoặc mang hiệu ứng đảo ngược ( mang lợi ích cho công ty) Phát hiện này là phù hợp với lý thuyết còn tồn tại về ảnh hưởng
Trang 22của cơ trúc vốn trên hiệu quả cạnh tranh Campello trình bày hai bộ kết quả đặc trưng tương tác giữa cơ cấu vốn và kết quả hoạt động kinh doanh Kết quả dẫn đến một giả thuyết ngành công nghiệp “chỉ sử dụng nợ” tăng giá khoảng 42% nhiều hơn ngành công nghiệp “không sử dụng nợ” để đáp ứng với sự sụt giảm 1% trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Kết luận: nợ làm sự tăng giá diễn ra mạnh mẽ hơn Bài nghiên cứu của Campello (2003) sử dụng dữ liệu bảng bao gồm các công ty thuộc 71 ngành công nghiệp trong hai thập kỷ để nghiên cứu tác động của vốn vay vào hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Chiến lược nghiên cứu của tác giả tập trung vào sự khác biệt trong phản ứng của các công ty khi sử dụng độ nhạy cảm của đòn bẩy tài chính sau những
cú sốc kinh tế vĩ mô trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nợ và ít nợ Bài nghiên cứu cho thấy sự phụ thuộc vào vốn vay Scharfstein (1996) Cụ thể, những phát hiện của tác giả đồng ý với dự đoán rằng nếu công ty mà dựa vào nguồn tài trợ bên ngoài có nhiều khả năng làm giảm thị phần đầu tư trong thời kỳ suy thoái và cạnh tranh, kết quả phát sinh từ sự gia nhập và cấu trúc vốn của các đối thủ cạnh tranh khác Nghiên cứu này làm tăng thêm bằng chứng về sự tương tác giữa cấu trúc tài chính và thị trường sản phẩm được trình bày trong các công trình tiên phong của Chevalier (1995a, b), Phillips (1995), và Kovenock và Phillips (1997) Nghiên cứu thực nghiệm này cũng có kết quả tương tự như hầu hết các bài nghiên cứu của Chevalier và Scharfstein (1996), Zingales (1998), và Khanna và TICE (2000), những nghiên cứu trên được đặt trong môi trường cạnh tranh bị ảnh hưởng bởi sự kiện ngoại sinh (ví dụ, dầu những cú sốc, bãi bỏ quy định trên thị trường, nhập cảnh) Trong khi những nghiên cứu này báo cáo kết quả thời gian và môi trường kinh tế lý tưởng, vẫn cho thấy rằng cấu trúc tài chính của một công ty ảnh hưởng đáng kể và có ý nghĩa về mặt kinh tế đến hiệu quả cạnh tranh hơn so với suy nghĩ trước đây Đây là nghiên cứu đầu tiên để trình bày bằng chứng về mối liên hệ giữa cấu trúc vốn, thị trường sản phẩm, và chu kỳ kinh doanh, ở cấp độ doanh nghiệp và cấp độ vĩ mô
Aghion, P., Braun, M., & Fedderke, J (2008) đưa ra khám phá ba bộ dữ liệu
bảng thay thế cho giá trị đầu tiên của mức độ cạnh tranh thị trường sản phẩm trong ngành công nghiệp sản xuất ở Nam Phi, và sau đó để ước tính ảnh hưởng của mức độ
Trang 23cạnh tranh thị trường sản phẩm trên tăng trưởng Trong suốt ba dữ liệu đã được tập hợp, tác giả thấy rằng: (i) sự tăng giá (gồm chi phí và lợi nhuận) vẫn cao hơn đáng kể trong ngành công nghiệp Nam Phi hơn là các ngành tương ứng trên toàn thế giới; (ii) việc giảm sự tăng giá này (có nghĩa là, có sự tăng lên trong mức độ cạnh tranh thị trường) có tác động lớn mang tính tích cực lớn đến tăng trưởng năng suất ở Nam Phi Các phân tích trong bài viết này có thể mở rộng theo nhiều hướng thú vị khác nhau Phần mở rộng đầu tiên là thúc đẩy hơn nữa việc tìm kiếm các công cụ tốt cho thị trường cạnh tranh sản phẩm Phần mở rộng thứ hai là tìm kiếm dữ liệu nghiên cứu và thực hiện cùng một loại phân tích và so sánh các biện pháp nghiên cứu và phân tích hồi quy và phát triển nó như tác giả đã làm Phần mở rộng thứ ba là khám phá và làm
rõ mối liên hệ giữa tự do hóa thương mại và tác động của nó lên áp lực cạnh tranh, từ
đó giúp tăng trưởng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Nickell et al (1996) làm sáng tỏ một mối quan hệ tích cực giữa mức độ cạnh
tranh và hiệu quả hoạt động bằng cách đo lường tổng năng suất nhân tố tăng trưởng (TFP) Tác giả cho thấy tác động tích cực của cạnh tranh đối với tăng trưởng năng suất có xu hướng giảm đối các công ty với cổ đông bên ngoài chiếm ưu thế (sử dụng nguồn tại trợ bằng vốn cổ phần) hơn là các công ty có cấu trúc vốn ít bị chi phối bởi các cổ đông (tài trợ nợ) Phát hiện trên tạo tiền đề phát triển và mở rộng lý thuyết cho bài nghiên cứu này
Beiner, Schmid, và Wanzenried (2011) đưa ra bài nghiên cứu gần đây đối với
200 công ty Thụy Sĩ cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa mức độ cạnh tranh thị trường (tính theo HHI) và hiệu suất công ty Tác giả đặt những câu hỏi như ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm lên cơ chế khuyến khích nhà quản lý như thế nào? Có nên khuyến khích nhà quản lý làm việc chăm chỉ hơn khi môi trường của công ty có tính cạnh tranh hơn, ví dụ như thị trường cạnh tranh và có nhiều sản phẩm thay thế? Và các tác động ảnh hưởng gì đến giá trị công ty? Mục đích của bài nghiên cứu là góp phần vào việc nghiên cứu thực nghiệm vẫn còn rất hiếm hoi về mối quan hệ giữa cạnh tranh thị trường sản phẩm và khuyến khích nhà quản lý Dựa trên
Trang 24những dự đoán từ một mô hình lý thuyết kết hợp cả hai chiến lược về sự tương tác giữa doanh nghiệp và nhà quản lý, nhóm tác giả kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh thị trường sản phẩm, cơ chế khuyến khích nhà quản lý, và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Để kiểm tra những giả thuyết của mô hình, tác giả đã sử dụng nguồn dữ liệu bao gồm hơn 600 quan sát trên 200 công ty Thụy Sĩ trong giai đoạn 2002-2005 Biến chính của bài nghiên cứu này là để đo mức độ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm là một ngành công nghiệp cụ thể doanh thu dựa trên Herfindahl-Hirschman Index (HHI) của các công ty Thụy Sĩ niêm yết và chưa niêm yết trên sàn giao dịch Kết quả thực nghiệm cho thấy mức độ cạnh tranh thị trường sản phẩm cao gắn liền với các cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn cho các nhà quản
lý, nơi sức mạnh của động lực được đo bằng phần của cổ phiếu dựa trên khoản hoa hồng bằng tiền mặt hoặc trả lương theo vị trí công việc Ảnh hưởng của cạnh tranh lên các cơ chế khuyến khích nhà quản lý và giá trị doanh nghiệp ty không chỉ được nhắc đến trên phương diện lý thuyết mà còn được nghiên cứu để hoạch định chính sách công Trong thập kỷ qua, những ảnh hưởng của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ lên quản trị doanh nghiệp ngày càng tăng, đặc biệt là tập trung vào các doanh nghiệp và các quy định bảo vệ quyền cổ đông và chi phối việc thực hiện quản
lý Tuy nhiên, trong môi trường kinh doanh đó, mức độ cạnh tranh giữa các công ty, quy tắc xuất nhập khẩu, và sự mở cửa của nền kinh tế, đòi hỏi phải được xem xét chặt chẽ Cạnh tranh chính là tiềm năng để tạo điều kiện phát triển hiệu quả cho một nền văn hóa quản trị doanh nghiệp tốt Hơn nữa, chính sách cạnh tranh có thể giúp tăng hiệu quả, giảm bớt sai lệch giá, làm giảm nguy cơ quyết định đầu tư kém, thúc đẩy trách nhiệm và minh bạch hơn trong các quyết định kinh doanh, từ đó quản trị doanh nghiệp tốt hơn Vì vậy, việc thiết kế các quy tắc quản trị doanh nghiệp hiệu quả nhất thiết phải nhấn mạnh tính cạnh tranh của thị trường Bài nghiên cứu của Beiner là một công trình đóng góp to lớn để hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của sự cạnh tranh trên chế độ lương và đãi ngộ cho các nhà quản lý và định giá công ty Trong khi các
lý thuyết chuyên ngành chỉ cung cấp một số hiểu biết về vấn đề này, bức tranh tổng quan sẽ mất một thời gian dài mới được hoàn tất, vì thế việc nghiên cứu thêm rõ ràng
Trang 25trong lĩnh vực này là điều rất cần thiết Chủ đề này đã trở nên phù hợp hơn với sự ảnh hưởng ngày càng tăng của các tổ chức công lên các quy tắc quản trị doanh nghiệp và
có một cái nhìn sâu sắc rằng cạnh tranh là cần thiết cho một nền văn hóa quản trị doanh nghiệp tốt Cuối cùng, gia tăng sự can thiệp của chính phủ về các vấn đề quản trị trong doanh nghiệp là một cách giúp các doanh nghiệp có thêm hiểu biết về vai trò của chính sách công Tác giả tìm thấy một tác động tiêu cực và mang ý nghĩa thống
kê của mức độ cạnh tranh thị trường sản phẩm lên giá trị công ty, chỉ ra rằng một thị trường sản phẩm có mức độ cạnh tranh cao hơn gắn liền với việc công ty có giá trị thấp hơn Như vậy, tác động tiêu cực của việc giảm tiền thuê kinh tế dường như lớn hơn những tác động tích cực của việc quản lý chặt chẽ hơn và việc tăng nỗ lực của các nhà quản lý
Việc xem xét các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm được trình bày trong phần này là để chỉ ra mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc vốn, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Trong phần tiếp theo, các mô hình và vấn đề liên quan đến mức
độ cạnh tranh sẽ được thảo luận
2.2.3 Đòn bẩy tài chính và cạnh tranh trên thị trường sản phẩm: Phương pháp
đo lường
Trong một vài nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng về sự tương tác giữa đòn bẩy, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, giá trị đại diện cho đối thủ cạnh tranh trước đây đã sử dụng nhiều phương pháp đo lường khác nhau Trong những phương pháp đó thì hai phương pháp rộng rãi và phổ biến nhất là chỉ số HHI và BI
Chỉ số Herfindahl Hirschman Index (HHI) là một phương pháp đo lường sự
tập trung của doanh nghiệp trong thị trường hoặc ngành công nghiệp, cũng như đưa
ra một dấu hiệu về cách thức phân phối thị phần của các công ty trong một ngành Tìm hiểu về mức độ cạnh tranh trên thị trường rất quan trọng cho kế hoạch chiến lược cũng như khi cố gắng thiết lập giá cho sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty Việc tính toán HHI khác với hệ số tập trung tiêu chuẩn (The standard Concentration Ratio – CR) ở chỗ nó bình phương giá trị cổ phiếu của từng thị trường nơi mà các công ty
Trang 26hàng đầu có thị phần lớn sẽ có vị thế quan trọng hơn Công thức để xác định HHI là như sau:
HHI = ∑𝑁𝑖=1𝑆𝑖2(trong đó Si là thị phần doanh nghiệp i trên thị trường, N là số lượng doanh nghiệp) Chỉ số HHI có thể có những giá trị lý thuyết khác nhau, từ gần bằng không đến 10.000 Nếu có chỉ tồn tại một người tham gia thị trường duy nhất trong đó có 100% thị phần HHI sẽ là 10.000 Nếu có một số lượng lớn người tham gia thị trường với mỗi công ty có thị phần gần như 0% thì HHI có thể là gần bằng không
o Khi giá trị HHI là nhỏ hơn 0.01 (hoặc 100), thị trường là cạnh tranh cao
o Khi giá trị HHI là từ 0.01 đến 0.15 (hoặc từ 100 đến 1500), thị trường được cho là không tập trung
o Khi giá trị HHI là giữa 0.15 và 0.25 (hoặc ở giữa 1500 và 2500), thị trường được cho là tập trung vừa phải
o Khi giá trị HHI là trên 0.25 (hoặc là trên 2500), thị trường được cho là tập trung cao độ
Những giá trị này được cơ quan chính phủ sử dụng khi đánh giá xem có nên cho phép sáp nhập hai công ty lại với nhau hay không Sử dụng HHI, chúng ta có thể nhanh chóng đạt được cái nhìn sâu sắc vào sự phân bố thị phần trong một ngành công nghiệp
Các công thức đo lường cạnh tranh từ các mức độ của thị trường sản phẩm tập trung, đặc biệt là Herfindahl-Hirschman Index (HHI) đã được sử dụng trong Campello (2006) hay mức độ tập trung top 4 như trong Opler và Titman (1994), Chevalier (1995a 1995b,), Kovenock và Phillips (1997) và Campello (2003) Thị trường kinh tế tập trung cao gắn liền với sự cạnh tranh thấp và ngược lại Các phương pháp đo lường không theo cấu trúc, mặt khác, có nguồn gốc của mức độ cạnh tranh
là từ hành vi thị trường Ưu điểm của biện pháp không cấu trúc là mức độ cạnh tranh tập trung cao hơn không nhất thiết phải bao hàm sự cạnh tranh thấp hơn Trong thực
Trang 27tế, giả thuyết hiệu quả cấu trúc lưu ý rằng sự tập trung thị trường sản phẩm cao chỉ đơn giản là kết quả của hiệu quả rõ rệt (Demsetz, 1973) Về vấn đề này, sự tác động khác nhau dẫn đến việc một số công ty phát triển tương đối nhanh trong khi các công
ty khác hiệu quả ít hơn Tương tự như vậy, Boone et al (2005, 2007) cho rằng một mức độ tập trung cao có thể phát sinh từ sự cạnh tranh mạnh mẽ buộc các công ty không hiệu quả ra khỏi thị trường Trong trường hợp này, mức độ tập trung có thể gây nên sai lệch trong việc dự đoán chính xác mức độ cạnh tranh
Có vô vàn các khái niệm về cạnh tranh trong phân tích kinh tế tuy nhiên trong thực tế, lại có rất ít phương pháp để đo lường mức độ cạnh tranh trong một thị trường Phương pháp phổ biến được sử dụng bởi các cơ quan chống độc quyền và các nhà nghiên cứu thực nghiệm bao gồm thị trường cổ phiếu, chỉ số tập trung, chỉ số Herfindahl và mức chênh lệch giá – chi phí Tuy nhiên, theo Boone (2000) và các thảo luận dưới đây, các phương pháp trên đôi khi có thể cung cấp cho một cái nhìn không chính xác về mức độ cạnh tranh trong một thị trường Những phương pháp đó
có thể hiển thị sự gia tăng cạnh tranh, trong khi thực tế mức độ cạnh tranh đã giảm,
và ngược lại Boone (2000) cho thấy một phương pháp thay thế mới, dựa trên lợi nhuận tương đối, có ý nghĩa vững hơn những phương pháp khác Ý tưởng đằng sau việc sử dụng lợi nhuận tương đối để đo lường là trong một ngành công nghiệp cạnh tranh hơn, các doanh nghiệp phải chịu mức lợi nhuận thấp hơn nếu sử dụng chi phí kém hiệu quả Nói cách khác, so sánh hai công ty trong cùng một ngành công nghiệp, trong đó có một công ty hoạt động hiệu quả hơn so với công ty còn lại, công ty hiệu quả hơn sẽ có lợi nhuận cao hơn so với các công ty kém hiệu quả Khi ngành công nghiệp trở nên cạnh tranh hơn, cho các mức độ hiệu quả nhất định của các công ty, lợi nhuận của công ty hiệu quả hơn đi lên so với lợi nhuận của công ty kém hiệu quả Điều này có thể xảy ra vì lợi nhuận của công ty hiệu quả hơn trên thực tế tăng lên, hoặc nếu lợi nhuận của công ty hiệu quả hơn giảm sút thì lợi nhuận của công ty kém hiệu quả còn bị giảm sút nhiều hơn nữa Trong khi về mặt lý thuyết lợi nhuận tương đối là có ý nghĩa mạnh mẽ hơn trong việc nắm bắt những thay đổi trong mức độ cạnh tranh, điều này chưa được chứng minh thực nghiệm Nghiên cứu của Boone et al
Trang 28(2005, 2007) cung cấp một sự so sánh thực nghiệm các phương pháp thường được sử dụng với phương pháp được đề xuất là lợi nhuận tương đối Boone, sử dụng cả hai mô phỏng và số liệu kế toán thực tế Tác giả đã thấy được rằng phương pháp lợi nhuận tương đối hoạt động tốt Nó có ý nghĩa đáng kể về mặt tương quan tích cực thuận chiều với mức chênh lệch giá – chi phí trong khoảng một nửa số lượng các ngành công nghiệp mà tác giả kiểm tra Chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) nói chung là không tương quan với cả hai giá trị mức chênh lệch giá – chi phí và lợi nhuận đo lường tương đối Thực tế là phương pháp lợi nhuận tương đối tương quan với mức chênh lệch giá – chi phí, nhưng thể hiện khác nhau trong một số trường hợp, cho thấy mối quan tâm của lý thuyết về mức chênh lệch giá – chi phí như một phương pháp cạnh tranh có thể có tầm quan trọng thực tiễn Boone cũng tìm thấy một số bằng chứng cho thấy phương pháp lợi nhuận tương đối ít bị ảnh hưởng bởi những thay đổi
có tính chu kỳ hơn phương pháp mức chênh lệch giá – chi phí
Từ những quan điểm khó khăn đó, Boone et al (2005, 2007) và Boone (2008) đề xuất một phương pháp mới để đo lường cạnh tranh, chỉ báo Boone (BI) BI đo độ nhạy của lợi nhuận doanh nghiệp (hoặc thị trường cổ phiếu) đến mức độ phi hiệu quả của doanh nghiệp trên thị trường Nó được dựa trên giả định rằng những doanh nghiệp hoạt động thị trường càng cạnh tranh sẽ bị thiệt hại nhiều hơn nếu kinh doanh không
có lãi hoặc không giành được thị phần Nó giả định rằng lợi nhuận tăng có hoạt động hiệu quả và điều này càng tăng cao trong các ngành có mức độ cạnh tranh cao Vì vậy, không giống như các biện pháp đo lường mức độ cạnh tranh theo mức độ tập trung, chỉ báo BI không bị tác động tái phân bổ trong thị trường sản phẩm
Ngoài tính chất lý thuyết hấp dẫn của nó, yêu cầu dữ liệu tính toán chỉ báo BI đơn giản hơn Sau ứng dụng tiên phong của mình bởi van Leuvensteijn, Bikker, van Rixtel, và Kok Sørensen (2007) cho ngành công nghiệp ngân hàng châu Âu, chỉ báo
BI đã phổ biến hơn trong nghiên cứu lý thuyết về ngân hàng Một biện pháp đo lường cạnh tranh tương tự dựa trên độ nhạy của lợi nhuận của một công ty để đấu tranh với các quyết định chiến lược của các công ty được đề xuất bởi Kedia (2006) Tuy nhiên,
Trang 29xác định không đúng các quyết định chiến lược làm cho biện pháp đo lường này hữu ích trong việc xác định bản chất chứ không phải là mức độ cạnh tranh Do đó, BI là thước đo phù hợp nhất của mức độ cạnh tranh trong bài nghiên cứu này
Nói tóm lại, bằng chứng về sự tương tác của đòn bẩy và cạnh tranh đến hiệu quả doanh nghiệp thường được giới hạn và đặc biệt là thiếu sót cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Bài nghiên cứu này hy vọng có thể lấp đầy những lổ hổng đó Bài viết cũng đưa ra bằng chứng rõ ràng về các mối quan hệ giữa đòn bẩy - cạnh tranh, sử dụng phương pháp đo lường cạnh tranh dựa trên mức độ tập trung Đây là lần đầu tiên, có một bài nghiên cứu sử dụng trực tiếp phương pháp đo lường của cạnh tranh để xem xét mối quan hệ đòn bẩy - hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Trang 30CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên các lý thuyết dự đoán cũng như các bằng chứng thực nghiệm, trên bối cảnh tình hình của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam, ba giả thuyết kiểm chứng chính được xây dựng Sự cân bằng giữa chi phí đại diện của vốn chủ sở hữu và nợ, được nhấn mạnh bởi Jensen và Meckling (1976), đưa ra những vấn đề về vốn chủ sở hữu và chi phí đại diện, cũng như môi trường pháp lý mà các công ty này hoạt động Hơn nữa, tăng cường giám sát được yêu cầu bởi tài trợ nợ Jensen và Meckling (1976), dù gây ra chi phí, thì vẫn có thể được mong đợi hơn khi sử dụng đòn bẩy, (Grossman & Hart, 1983; Harris & Raviv, 1990; Jensen, 1986) Hơn nữa môi trường pháp lý tương đối tối ưu sẽ củng cố lợi thế chiến lược (ảnh hưởng trách nhiệm hữu hạn) của đòn bẩy được đề xuất bởi Brander and Lewis (1986) Do đó đòn bẩy sẽ mang lại hiệu ứng tích cực cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Kỳ vọng này dẫn đến giả thuyết đầu tiên:
H1: Đòn bẩy tài chính có tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Đòn bẩy làm cho doanh nghiệp dễ bị tấn công bởi các đối thủ cạnh tranh khác trong thị trường tập trung hoặc thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đã được nói tới trong các tài liệu trước đây (Bolton & Scharfstein, 1990; Campello, 2003, 2006, Chevalier, 1995a, 1995b, Chevalier & Scharfstein, 1996; Kovenock & Phillips, 1997; Opler & Titman, 1994), Những bất lợi cạnh tranh trong chiến lược đòn bẩy có thể được bù đắp một phần từ những lợi ích chiến lược, đã được nhấn mạnh trong Brander and Lewis (1986) Hy vọng rằng những lợi ích này cải thiện được (hay làm giảm) những bất lợi gây ra bởi các đối thủ cạnh tranh trong thị trường (hay thị trường độc quyền) Một giả thuyết thứ hai được xây dựng như sau:
H2: Tỷ lệ đòn bẩy tài chính tăng lên trong thị trường cạnh tranh và giảm đi trong thị trường tập trung
Trang 31Cuối cùng, mức độ cạnh tranh có thể được đánh giá thông qua tỷ lệ sử dụng đòn bẩy của công ty đối thủ (Campello, 2003, 2006; Chevalier, 1995b; Chevalier & Scharfstein, 1996) Một giả thuyết liên quan đến sự ảnh hưởng của đòn bẩy có thể được hiệu chỉnh bởi các đối thủ cạnh tranh:
H3: Những đối thủ cạnh tranh có tỷ lệ đòn bẩy cao giúp tăng hiệu quả hoạt động trong môi trường cạnh tranh và giảm hiệu quả trong môi trường tập trung 3.2 Nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Nguồn dữ liệu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân bằng bao gồm 212 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội trong giai đoạn từ 2011-2016, số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ nguồn dữ liệu của Thomson Reuters
Các công ty mẫu được phân thành 21 ngành công nghiệp khác nhau sử dụng các chuẩn phân ngành của sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam Các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính và dịch vụ đã bị loại bỏ Các lĩnh vực đó bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư chứng khoán, bất động sản và ủy thác đầu tư Việc loại trừ này là do sự khác biệt trong quy trình hoạt động và để có kết quả dễ so sánh hơn
Bảng 3.1 Danh sách các ngành trong dữ liệu nghiên cứu.
6 Khai khoáng (ngoại trừ dầu mỏ và khí đốt)
8 Phát, truyền tải và phân phối điện năng
Trang 329 Sản xuất các sản phẩm kim loại cơ bản
11 Sản xuất các sản phẩm nhựa và cao su
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để xác định mối tương quan giữa đòn bẩy tài chính, mức độ cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam, bài nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (Data Pannel) theo mô hình hồi quy tác động cố định ( Fixed-effects ) Đây là phương pháp nghiên cứu được
sử dụng rất nhiều trong các bài nghiên cứu trước đây
Dữ liệu bảng là sự kết hợp của dữ liệu chéo (cross-section) và dữ liệu thời gian (time series) Để thu thập dữ liệu bảng, cần phải thu thập nhiều đối tượng (units) giống nhau trong cùng một hoặc nhiều thời điểm
Sử dụng dữ liệu bảng có hai ưu điểm lớn như:
- Dữ liệu bảng cho các kết quả ước lượng các tham số trong mô hình đáng tin cậy hơn
Trang 33- Dữ liệu bảng cho phép chúng ta xác định và đo lường tác động mà những tác động này không thể được xác định và đo lường khi sử dụng chéo hoặc dữ liệu thời gian
Một trong những kỹ thuật nổi bật để xử lý dữ liệu bảng là mô hình các tác động cố định (FEM) Với giả định mỗi đơn vị đều có những đặc điểm riêng biệt có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích, FEM phân tích mối tương quan này giữa phần dư của mỗi đơn vị với các biến giải thích qua đó kiểm soát và tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) ra khỏi các biến giải thích để chúng ta có thể ước lượng những ảnh hưởng thực (net effects) của biến giải thích lên biến phụ thuộc Bên cạnh đó, xem xét với mô hình Pooled OLS, với giả định khắt khe rằng biến độc lập phải là các biến ngoại sinh chặt (strictly exogenous: một biến gọi là ngoại sinh chặt nếu nó không phụ thuộc vào các giá trị quá khứ, hiện tại, và thương lai của sai số ngẫu nhiên), thì mô hình FEM đã khắc phục được những nhược điểm trên Theo kết quả hồi quy phụ lục 8, hệ số R2 của mô hình ở mức cao, 68,28% Điều này
có nghĩa là 68,28% biến thiên của ROA được giải thích bởi các biến độc lập Bên cạnh đó, kiểm định F với giá trị p dưới 0,05 cũng cho thấy mô hình sử dụng là phù hợp
Hausman (1978) kiểm tra đặc điểm kỹ thuật được thực hiện nhằm đánh giá sự phù hợp của mô hình ảnh hưởng ổn định chống lại mô hình tác động ngẫu nhiên Cuối cùng, nghiên cứu này sử dụng nhóm phương sai vững (cluster-robust standard error)
để kiểm soát tốt sự tương quan trong doanh nghiệp
Trong nghiên cứu dữ liệu mảng (panel data), với cách truyền thống các nhà khoa học hay dùng fixed effect hoặc random effect trong việc ước lượng mô hình nghiên cứu Trong trường hợp phát hiện các hiện tượng không tốt dẫn tới việc ước lượng không còn chính xác (khuyết tật của mô hình), nguyên nhân của các khuyết tật thường là: Sai dạng hàm hay do bỏ xót các biến quan trọng
Trong trường hợp sai dạng hàm thì phải thay đổi dạng hàm để cho phù hợp Trường hợp còn lại nếu rơi vào tình trạng bỏ xót biến quan trọng (thiếu biến ngoại
Trang 34sinh hoặc biến nội sinh), biến độc lập trong mô hình cũ là biến nội sinh (được miêu
tả qua biến khác) mà biến chưa đưa vào này có quan hệ với phần dư dẫn tới khuyết tật Do vậy, để giải quyết các vấn đề gặp phải khi gặp khuyết tật này, Hansen (1982)
đã phát triển mô hình đưa thêm biến công cụ có tên gọi là Generalized method of moments (GMM)
Một trong những ưu điểm của mô hình GMM đó là mô hình này dễ dàng chọn các biến công cụ hơn bởi vì sử dụng các biến ngoại sinh ở khoảng thời gian khác hoặc lấy độ trễ của các biến có thể sử dụng như biến công cụ cho các biến nội sinh tại thời điểm hiện tại Do đó, GMM đã đưa ra nhiều biến công cụ để có thể dễ dàng đạt được điều kiện của một biến công cụ chuẩn (Overidentification of Estimators) Trong nghiên cứu này, dữ liệu bảng với thời gian ngắn chỉ 6 năm nhưng số doanh nghiệp nhiều; do đó, phương pháp GMM được giới thiệu bởi Arellano và Bond (1991) sẽ dược sử dụng Bên cạnh đó, Arellano và Bond (1991) đã đề nghị hai kiểm định chủ chốt để kiểm tra tính hiệu lực của mô hình GMM Kiểm định đầu tiên đó là kiểm định Sargan hoặc kiểm định Hansen cho tính hiệu lực (Overidentification) của mô hình Kiểm định thứ hai được sử dụng đó là kiểm định Arellano-Bond nhằm kiểm định cho
sự tự tương quan
Các ước lượng của phương pháp GMM sẽ thích hợp sử dụng trong các trường hợp sau:
Dữ liệu bảng có t nhỏ, N lớn (rất nhiều quan sát với ít mốc thời gian)
Tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc với các biến giải thích
Mô hình động với một hoặc hai vế của phương trình có chứa biến trễ
Các biến độc lập không phải là một biến ngoại sinh ngặt (strictly exogenous), nghĩa là chúng có thể tương quan với các phần dư (hiện tại hoặc trước đó) hoặc tồn tại biến nội sinh (endogenous variables) trong mô hình
Tồn tại vấn đề phương sai thay đổi hoặc tự tương quan ở các sai số đo lường (idiosyncratic disturbances)
Trang 35 Tồn tại các tác động cố định riêng rẽ (fixed individual effects)
Tồn tại phương sai thay đổi và tự tương quan trong mỗi đối tượng (nhưng không tồn tại giữa các đối tượng)
3.3 Biến số nghiên cứu
3.3.1 Biến phụ thuộc
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản ROA là phương pháp đo lường hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp Tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) được tính bằng cách lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) chia cho tổng tài sản EBITDA: thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao (earnings before interest, taxes, depreciation and amortization) là một chỉ tiêu đánh giá tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp, bằng thu nhập trừ các chi phí, nhưng chưa trừ tiền trả lãi, thuế và khấu hao EBITDA có thể được sử dụng để phân tích và so sánh mức lãi giữa các công ty hoặc các ngành bởi chỉ số này đã loại bỏ được ảnh hưởng do các quyết định về mặt kế toán và tài chính gây ra EBITDA thường được sử dụng phổ biến trong các ngành có tài sản giá trị lớn, cần chiết khấu trong thời gian dài Lý do chính EBITDA được sử dụng phổ biến là chỉ số này cho thấy mức lợi nhuận cao hơn thông thường Công ty sẽ khiến cho bức tranh tài chính của mình thêm sáng sủa bằng cách đưa thêm chỉ số EBITDA, đánh lạc hướng sự chú ý của nhà đầu tư khỏi tỷ lệ nợ và chi phí hoạt động cao Tuy nhiên, đôi khi doanh nghiệp bị thiệt hại lợi nhuận quá nhiều do chi phí khấu hao quá lớn, lúc đó EBITDA lại có thể là tiêu chí tốt để đánh giá thực lực của doanh nghiệp.Theo quan điểm này, ROA là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản trong khi nguồn hình thành tài sản bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn vay Theo cách tính này, các chi phí về vốn vay (chi phí lãi vay), khấu hao và thuế thu nhập doanh nghiệp cũng phải được cộng vào để tính hiệu quả của doanh nghiệp chứ không chỉ bao gồm phần
mà chủ doanh nghiệp thu về ROA đem đến cho nhà đầu tư các thông tin về khoản lãi sinh ra trên lượng vốn đầu tư (hay tài sản) Nói theo một cách đơn giản, ROA cho ta biết hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn tài sản để kiếm lời Tài sản của một công ty được xuất phát từ vốn chủ sở hữu và vốn vay Các hoạt động của công ty được tài trợ từ hai nguồn vốn này Hiệu quả của việc biến nguồn