1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán tại một số trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh

90 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu của Volker 1985 cho rằng không có sự khác nhau về độ nhạy đạo đức giữa người đi làm và sinh viên – người chưa có kinh nghiệm Volker 1985 Sinh viên kế toán có khuynh hướng chứn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

PHẠM VIỆT HOÀI LINH

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH ĐẾN ĐỘ NHẠY ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN KẾ TOÁN TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

PHẠM VIỆT HOÀI LINH

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH ĐẾN ĐỘ NHẠY ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN KẾ TOÁN TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI

Trang 3

sinh viên kế toán tại một số trường đại học ở TP HCM” này là bài nghiên cứu của

chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng,

toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử

dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có nghiên cứu, luận văn, tài liệu nào của người khác được sử dụng trong luận

văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại

học hoặc cơ sở đào tạo khác

Dữ liệu phân tích trong luận văn là thông tin sơ cấp được thu thập từ các sinh viên kế

toán đang học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh Quá trình xử lý, phân tích dữ liệu và ghi

lại kết quả nghiên cứu trong luận văn này cũng do chính tôi thực hiện, không sao chép

của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình

nghiên cứu nào khác trước đây

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

PHẠM VIỆT HOÀI LINH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ ĐỘ NHẠY ĐẠO ĐỨC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH ĐẾN ĐỘ NHẠY ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN KẾ TOÁN 6

1.1.1 Các nghiên cứu trong nước 6

1.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài 6

1.2 XÁC ĐỊNH KHE HỔNG NGHIÊN CỨU 10

Kết luận chương 1 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14

2.1 KHÁI NIỆM 14

2.1.1 Giới tính 14

2.1.2 Độ nhạy đạo đức 15

2.1.3 Kế toán viên tương lai 16

2.2 ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN KIỂM TOÁN 17

2.3 LÝ THUYẾT NỀN 17

2.3.1 Lý thuyết tâm lý (Psychological theory): 17

Trang 5

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 23

3.1.1 Nghiên cứu định tính 23

3.1.2 Nghiên cứu định lượng 23

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 26

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 26

3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 26

3.3 MẪU 27

3.4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 30

3.5 THANG ĐO 30

3.6 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 31

3.6.1 Phương pháp thống kê mô tả 31

3.6.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 31

3.6.3 Phân tích nhân tố khám phá 32

3.6.4 Phân tích hồi quy 32

3.6.5 Kiểm định ANOVA 34

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 THÔNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 36

4.2 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO 37

4.2.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối vối thang đo 37

4.2.2 Phân tích nhân tồ khám phá EFA với thang đo độ nhạy đạo đức 39

4.2.3 Kiểm độ tin cậy của thang đo 41

4.3 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT 42

4.3.1 Phân tích biến quan sát 42

4.3.2 Phân tích tương quan 44

4.3.3 Phân tích hồi quy 45

4.3.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu 49

Kết luận chương 4 51

Trang 6

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 53

5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 53

5.3.1 Hạn chế của đề tài 54

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 1.1: Tóm tắt các nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức của sinh viên

chuyên ngành kế toán 11

Bảng 3.1: Mẫu tham gia của các trường 29

Bảng 3.2: Tóm tắt các biến 31

Bảng 4.1: Kết qua chung về mẫu (Mẫu = 127) 36

Bảng 4.2 Cronbach’s Alpha của thang đo độ nhạy cảm đạo đức 38

Bảng 4.3 KMO và Bartlett's Test 40

Bảng 4.4 Component Matrixa 40

Bảng 4.5: Phân tích Biến quan sát 42

Bảng 4.6: Ma trân tương quan giữa các biến 44

Bảng 4.7: Đánh giá độ phù hợp của mô hình 46

Bảng 4.8: Kết quả phân tích kiểm định F 46

Bảng 4.9: Kết quả phân tích hồi quy 47

Bảng 4.10: Thống kê mô tả 48

Bảng 4.11: Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 48

Bảng 4.12: Kết quả ANOVA 49

Trang 8

Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu 25

Hình 3.1 Tỷ lệ nam/nữ trong mẫu nghiên cứu 29

Mô hình 3.1: Mô hình nghiên cứu chính thức 26

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trên thế giới, các vụ bê bối doanh nghiệp và kế toán nổi tiếng như Enron và

WorldCom đã đặt ra những câu hỏi về đạo đức của kế toán viên Các cáo buộc về

hành vi vi phạm tín dụng công của người kế toán đã dẫn đến sự can thiệp của

chính phủ (Chan và Leung 2006) Ponemon và Gabhart (1993) cho rằng việc mất

lòng tin của công chúng và sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ có thể ảnh hưởng

đến nghề kế toán Để đối phó với tình hình hiện tại, Trường Kinh doanh

Collegiate và Ủy ban Quốc gia về Báo cáo Tài chính Gian lận (1987) đã kêu gọi

nhấn mạnh hơn về các vấn đề đạo đức trong lớp học Các tổ chức này tin rằng

điều quan trọng là sinh viên và các nhà quản lý cần ý thức hơn với các vấn đề đạo

đức (Ameen, Guffey và cộng sự 1996)

Ở Việt Nam, Bộ tài chính đã ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế

toán kiểm toán theo quyết định 87/2005QĐ-BTC ngày 1/12/2005 bao gồm những

tiêu chí về đạo đức mà người làm nghề kế toán phải có và là thước đo đánh giá

nhận xét về đạo đức nghề nghiệp của họ Tuy nhiên, vẫn có những câu chuyện về

hành vi vi phạm đạo đức của người làm nghề kế toán Ví dụ như vụ gian lận của

Công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành vừa công bố BCTC quý

2/2016 và giáng một đòn choáng váng vào các cổ đông của doanh nghiệp với

khoản lỗ bất ngờ lên đến cả nghìn tỷ đồng và rất nhiều vụ gian lận lớn nhỏ khác

được báo chí nhắc đến Theo số liệu điều tra của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận

Mỹ với cuộc điều tra được thực hiện trên 114 quốc gia trong đó có Việt Nam cho

thấy, tình trạng gian lận đã tác động xấu đến chất lượng báo cáo tài chính và tạo

thông tin thiếu chính xác cho nhà đầu tư Báo cáo cũng cho thấy rằng nguyên nhân

của gian lận là do sự thiếu đạo đức nghề nghiệp trong chính đội ngũ lao động,

quản lý hay chủ doanh nghiệp và trong số đó có những người am hiểu và được đào

Trang 10

tạo về kế toán Vì vậy, sự suy giảm về hành vi đạo đức trong nghề kế toán là vấn

đề đáng lo ngại, cần được quan tâm

Để khắc phục thì ngay từ đầu, chúng ta cần nhấn mạnh các vấn đề đạo đức

trong lớp học cho sinh viên đang học tại các trường đại học thay vì để gian lận xảy

rồi đi phòng ngừa, ngăn chặn Sinh viên phải có ý thức về vấn đề đạo đức

(Ameen, Guffey và cộng sự 1996) Sierles và cộng sự (1980) cho rằng hành vi

gian lận trong đại học là một yếu tố dự đoán hành vi phi đạo đức trong các môi

trường chuyên môn sau này

Trong lĩnh vực kế toán, phát hiện ra rằng sinh viên kế toán có khuynh hướng

chứng minh mức độ phát triển đạo đức thấp hơn các sinh viên của ngành khác

(Armstrong 1987; Ponemon và Glazer 1990, St Pierre và cộng sự 1990) Việc

điều tra tác động giới tính của sinh viên kế toán nam và nữ là rất quan trọng bởi vì

nghiên cứu cho thấy rằng hành vi đạo đức của một người có thể liên quan đến giới

tính Tại Việt Nam, theo thống kê thì nữ giới làm trong lĩnh vực kế toán ngày càng

nhiều hơn Sự hiện diện ngày càng tăng của phụ nữ trong kế toán cho thấy rằng

cần có sự hiểu biết lớn hơn về mối quan hệ giới tính với hành vi vi phạm đạo đức

(Ameen, Guffey và cộng sự 1996) Tuy nhiên, Chan và Leung (2006) cho rằng

Sinh viên kế toán nam và nữ ở đây phản ứng tương tự nhau đối với các tình huống

nhạy cảm về mặt đạo đức trong một ngữ cảnh chuyên nghiệp

Vì vậy, luận văn này hướng đến nghiên cứu: “Ảnh hưởng của giới tính

đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán tại một số trường đại học ở TP

HCM”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định mối quan hệ giữa giới tính và hành vi phi đạo đức của sinh viên

ngành kế toán

- Đo lường phản ứng của nữ, nam sinh viên ngành kế toán đối với hành vi đạo

đức trong học tập

Trang 11

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Giới tính của sinh viên kế toán có ảnh hưởng đến độ nhạy đạo đức

- Có phản ứng khác biệt giữa nam và nữ sinh viên kế toán đối với hành vi vi

phạm đạo đức trong học tập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức của

sinh viên kế toán tại một số trường đại học ở TP HCM

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện tại một số trường đại học có

ngành kế toán ở TP.HCM bao gồm ba trường đại học chính là Đại học Kinh

Tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH), Đại học Công Nghiệp TP.HCM (IUH),

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông – Cơ sở TP.HCM (PTIT) và một

số trường đại học khác như: Đại học Sài Gòn, Đại học Tài Chính Marketing,

và Đại học Hutech

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp định tính: Nhằm khám phá ra các tập biến đo lường các khái

niệm giới tính, độ nhạy của đạo đức Tập biến này phù hợp với đặc điểm và

môi trường học tập của sinh viên kế toán đang học tại các trường đại học tại

thành phố Hồ Chí Minh

Thảo luận nhóm với các chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm để xác định

và hiệu chỉnh các biến đo lường trong mô hình nghiên cứu đề xuất, các phát

biểu sau khi hiệu chỉnh được đưa vào bảng câu hỏi khảo sát, bảng câu hỏi

này là công cụ thu thập dữ liệu trong nghiên cứu chính thức

- Phương pháp định lượng: Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp

nghiên cứu định lượng Dữ liệu phân tích thu thập thông qua bảng câu hỏi

khảo sát với các đối tượng là sinh viên chuyên ngành kế toán tại các trường

đại học thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện

Trang 12

Phương pháp này được sử dụng vì nghiên cứu mang ý nghĩa khám phá và

đối tượng nghiên cứu tương đối dễ tiếp cận

Dữ liệu thu thập sẽ được làm sạch và xử lý bằng phần mền SPSS để kiểm

định sơ bộ thang đo thông qua công cụ hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và

phân tích yếu tố khám phá EFA, phân tích hồi quy để kiểm định giả thuyết

của mô hình lý thuyết và kiểm định ANOVA một chiều

6 Kết cấu luận văn

Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 5 chương sau:

- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm lý thuyết

và lý thuyết nền

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này nói về phương pháp

nghiên cứu được sử dụng trong đề tài

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả phân tích dữ

liệu bao gồm mô tả mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích

nhân tố, phân tích hồi quy, kiểm định giả thuyết nghiên cứu và phân tích

ANOVA một chiều

- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày các kết quả

chính, một số hạn chế đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

7 Ý nghĩa của đề tài

Kiểm định thang đo độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán tại trường đại học

Thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu này nhằm mục đích nhận thức rõ hơn về mối quan hệ giữa giới tính

và độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán Là thông tin cần thiết đối với các trường

đại học cũng như các nhà tuyển dụng trong tương lai, là cơ hội để nâng cao nhận thức

về đạo đức cho sinh viên chuyên ngành kế toán

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây của trong và ngoài

nước đã thực hiện liên quan đến độ nhạy đạo đức và ảnh hưởng của giới tính đến độ

nhạy đạo đức, đồng thời xác những kết quả đạt được cũng như là khe hỏng nghiên cứu

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ ĐỘ NHẠY ĐẠO ĐỨC VÀ ẢNH

HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH ĐẾN ĐỘ NHẠY ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN

KẾ TOÁN

1.1.1 Các nghiên cứu trong nước

Hiện nay tại Việt Nan vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về độ nhạy đạo đức cũng

như là về sự ảnh hưởng của giới tính đến những vấn đề về đạo đức

Qua tìm hiểu, một nghiên cứu của Đinh Ngọc Tú (2016) “Ảnh hưởng của giới

tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận:

Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM” Kết

quả nghiên cứu của Đinh Ngọc Tú cho rằng có sự ảnh hưởng của giới tính nữ đến hành

vi điều chỉnh lợi nhuận, một công ty có ít nhất 3 thành viên nữ trở lên thì làm giảm

hành vi điều chỉnh lợi nhuận Từ kết quả nghiên cứu của Đinh Ngọc Tú (2016) cho

thấy được cái nhìn sơ bộ về ảnh hướng của giới tính đến hành vi vi phạm đạo đức

1.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Độ nhạy đạo đức được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm vì nó thể hiện

mức độ nhận biết đạo đức của mỗi người, một người có thể thể xem hành vi đó là xấu

nhưng người khác lại xem đó là hành vi tốt, điều đó tùy thuộc vào độ nhạy đạo đức của

mỗi người (mức độ nhận biết đạo đức) Trong đó có khá nhiều nghiên cứu chứng minh

sự ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức

Nghiên cứu về độ nhạy đạo đức

Trang 15

Rest (1983) đã xây dựng một khuôn khổ gồm bốn thành phần để kiểm tra sự phát

triển đạo đức của mỗi các nhân thông qua hành vi đạo đức Ông cho rằng một hành vi

đạo đức, một cá nhân phải trải qua ít nhất bốn quy trình tâm lý cơ bản sau:

(1) Độ nhạy đạo đức (MS)

(2) Đánh giá đạo đức (MJ)

(3) Động lực đạo đức (MM)

(4) Tính cách đạo đức (MC) (Bebeau, Rest và cộng sự 1985)

Rest (1983) cho rằng hành vi đạo đức là kết quả của một quá trình phức tạp và đa

dạng Tất cả bốn thành phần (MS, MJ, MM và MC) là yếu tố quyết định hành động đạo

đức và chúng tương tác với nhau (Rest 1983)

Như vậy, theo nghiên cứu của Rest (1983) thì độ nhạy đạo đức là một trong bốn

quy trình tâm lý cơ bản của hành vi đạo đức.Độ nhạy đạo đức đề cập đến nhận thức về

cách hành động của một người ảnh hưởng đến người khác Nó liên quan đến nhận thức

về các hành động có thể khác nhau và cách hành động đó có thể ảnh hưởng đến các bên

liên quan

Theo nghiên cứu Bebeau, Rest và cộng sự (1985) độ nhạy cảm đạo đức là một

thành phần quan trọng của hành vi đạo đức Độ nhạy đạo đức trong bối cảnh cuộc sống

thực cũng cho thấy rằng các đối tượng phản ứng khác nhau trong các tình huống khác

nhau

Nghiên cứu về độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán

Nhiều nghiên cứu tập trung vào giáo dục đạo đức và đạo đức để tăng cường đạo

đức kế toán, các nhà nghiên cứu cũng hướng sự chú ý và nỗ lực của họ vào việc nâng

cao độ nhạy đạo đức của kế toán

Trang 16

Nghiên cứu của Volker (1985) cho rằng không có sự khác nhau về độ nhạy đạo

đức giữa người đi làm và sinh viên – người chưa có kinh nghiệm (Volker 1985)

Sinh viên kế toán có khuynh hướng chứng minh mức độ phát triển đạo đức thấp

hơn các sinh viên của ngành khác (Armstrong 1987)

Nghiên cứu của Tom và Borin (1988) cho rằng độ nhạy đạo đức của sinh viên kế

toán được đo lường bằng cách xếp hạng mức độ nhận thức của sinh viên về 23 hoạt

động có vấn đề (liên quan đến gian lận) Một sinh viên càng khoan dung, sẵn lòng tham

gia và xem đó hoạt động là bình thường (không gian lận), không gây ảnh hưởng đến

người khác (nghĩa là nhận thức mà mức độ nghiêm trọng thấp), thì sinh viên đó ít nhạy

cảm với các vấn đề đạo đức và sinh viên đó có khả năng tham gia vào các hành vi gian

lận (Chan và Leung 2006)

Kết quả nghiên cứu của Chan và Leung (2006) cũng chỉ ra rằng việc can thiệp vào

đạo đức kế toán có thể có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển nhạy cảm về đạo đức

của sinh viên kế toán Do đó, một cá nhân sở hữu khả năng xác định cái gì là đúng hay

sai (tư duy đạo đức cao) có thể không hành xử theo đạo đức do thiếu hụt trong việc xác

định các vấn đề đạo đức (độ nhạy đạo đức thấp) trong một tình huống

Nghiên cứu về ảnh hưởng giới tính đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán

Nghiên cứu của Broadbent và Kirkham (2008), giới tính vẫn là một vấn đề quan

trọng cần được quan tâm đối với cộng đồng kế toán nói chung và cộng đồng học thuật

kế toán cụ thể hơn Giới tính là một yếu tố cần được đưa vào nghiên cứu trong kế toán

Vì vậy, giới tính được các nhà nghiên cứu quan tâm trong mối quan hệ với độ nhạy đạo

đức

Kết quả nghiên cứu của Ricklefs (1983) đã khẳng định niềm tin rằng có thể có sự

khác biệt đáng kể về độ nhạy đạo đức giữa giới tính và nữ giới có thể đạo đức hơn nam

giới

Trang 17

Tiếp theo đó vào năm 1989, Nghiên cứu của Betz và cộng sự (1989) cho rằng

nam giới và nữ giới mang lại các giá trị và đặc điểm khác nhau cho nơi làm việc

Những giá trị và đặc điểm khác nhau dựa trên giới tính khiến nam giới và nữ giới phát

triển các mối quan tâm, quyết định và thực hành khác nhau liên quan đến giới tính Do

đó, nam giới và nữ giới phản ứng khác nhau với cùng một bộ phần thưởng và chi phí

nghề nghiệp Nam giới sẽ tìm kiếm thành công cạnh tranh và có nhiều khả năng vi

phạm quy tắc hơn vì họ xem thành tích là cạnh tranh Nữ giới quan tâm nhiều hơn đến

việc làm tốt công việc và thúc đẩy mối quan hệ công việc hài hòa Do đó, nữ giới có

nhiều khả năng tuân thủ các quy tắc và ít khoan dung hơn đối với những cá nhân vi

phạm các quy tắc

Betz, O'Connell và cộng sự (1989) cho rằng Nữ giới và nam giới vốn có các giá

trị khác nhau ảnh hưởng rõ ràng đến hành vi của họ (mức độ nhận biết đạo đức) Betz,

O'Connell và cộng sự (1989) đã có 213 sinh viên trường kinh doanh đưa ra đánh giá

liên quan đến hành vi phi đạo đức trong vai trò của các sinh viên trong tương lai Họ

phát hiện ra rằng các sinh viên nam sẵn sàng tham gia vào các hành động phi đạo đức

hơn là những sinh viên nữ (Ruegger và King 1992) (Betz, O'Connell và cộng sự 1989)

Nghiên cứu của Ruegger và King (1992) đã khảo sát 2.196 sinh viên theo học các

khóa học để xác định xem nhận thức của một cá nhân về hành vi đạo đức phù hợp có bị

ảnh hưởng bởi tuổi tác hay giới tính hay không Kết quả cho thấy sinh viên nữ năm

cuối có đạo đức hơn trong nhận thức của họ về các tình huống đạo đức

Ameen, Guffey và cộng sự (1996) cho rằng Các nữ sinh viên kế toán thấy nhạy

cảm hơn và ít khoan dung về hành vi phi đạo đức, ít hoài nghi và ít có khả năng tham

gia vào các hoạt động học thuật phi đạo đức hơn là sinh viên kế toán nam

Có sự khác biệt đáng kể trong phản hồi theo giới tính về mức độ nhạy cảm đạo

đức (Radtke 2000)

Trang 18

Sự nhạy cảm về đạo đức cũng bị ảnh hưởng giới tính của người ra quyết định

(Simga-Mugan, Daly và cộng sự 2005)

Từ các nghiên trên cho thấy có sự ảnh hưởng giữa giới tính đến độ nhạy đạo đức

Từ đây có nhìn nhận tổng quan về sự ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức

Tuy nhiên, một vài nghiên cứu khác lại cho rằng, không có sự ảnh hưởng của giới

tính đến độ nhạy đạo đức Như nghiên cứu của Harris (1989); McNichols và Zimmerer

(1985); Tsalikis và OrtizBuonfina (1990) không tìm thấy sự khác biệt giữa hành vi đạo

đức của sinh viên nam và nữ

Theo kết quả nghiên cứu của (Stanga và Turpen 1991) không có sự khác biệt giới

tính về mức độ nhận biết đạo đức của sinh viên kế toán

Nghiên cứu của (Chan và Leung 2006) kiểm tra độ nhạy đạo đức của sinh viên kế

toán và ảnh hưởng của giới tính, tuổi tác và thành tích học tập đến độ nhạy đạo đức

Kết quả nghiên cứu cho rằng sinh viên kế toán nam và nữ ở đây phản ứng tương tự như

các tình huống nhạy cảm về mặt đạo đức trong một ngữ cảnh chuyên nghiệp

1.2 XÁC ĐỊNH KHE HỔNG NGHIÊN CỨU

Trong phần tổng quan nghiên cứu đã trình bày ở trên cho thấy rằng trên thế giới có

rất nhiều nghiên cứu xoay quanh về độ nhạy cảm đạo đức và giới tính được trình bày

tóm tắt ở Bảng 1.1 Những nghiên cứu này đều xem xét trong môi trường chuyên

nghiệp, chỉ có một số ít nghiên cứu trong môi trường học thuật Tại Việt Nam, trong

phạm vi hiểu biết và tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu về nhận thức đạo đức hoặc

tính nhạy cảm chưa được thực hiện và ít được quan tâm và chưa có nghiên cứu cụ thể

nào về ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán Do vậy tác

giả chọn đề tài này để làm luận văn thạc sĩ nhằm thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của

giới tính đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán, qua đó xem xét nhận thức của

những sinh viên nam nữ đối với những vấn đề đạo đức (gian lận trong học thuật) như

Trang 19

thế nào Từ đó, kết quả nghiên cứu này sẽ hỗ trợ cho những nghiên cứu chuyên sâu sau

này

Bảng 1.1: Tóm tắt các nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo

đức của sinh viên chuyên ngành kế toán

STT Tác giả Tên công trình Kết quả nghiên cứu

A Nhóm nghiên cứu có sự ảnh hưởng giới tính đến độ nhạy đạo đức

1

Ricklefs (1983)

Giám đốc điều hành

và công chúng nói chung cho rằng hành

vi đạo đức đang giảm tại Mỹ

Có sự khác biệt đáng kể về

độ nhạy đạo đức giữa giới tính và nữ giới có thể đạo đức hơn nam giới

2

Betz et al (1989)

Sự khác biệt giới tính trong khuynh hướng cho hành vi phi đạo đức

Họ phát hiện ra rằng các sinh viên nam sẵn sàng tham gia vào các hành động phi đạo đức hơn là những sinh viên nữ

3

Ruegger và King (1992)

Một nghiên cứu về tác động của tuổi tác

và giới tính tới đạo đức của sinh viên

Kết quả cho thấy sinh viên

nữ năm cuối có đạo đức hơn trong nhận thức của họ

về các tình huống đạo đức

4

Ameen, Guffey và cộng sự (1996)

Sự khác biệt giới tính trong việc xác định mức độ nhạy cảm về đạo đức của những

Các nữ sinh viên kế toán trong nghiên cứu này thấy nhạy cảm hơn và ít khoan dung về hành vi phi đạo

Trang 20

STT Tác giả Tên công trình Kết quả nghiên cứu

chuyên gia kế toán tương lại

đức, ít hoài nghi và ít có khả năng tham gia vào các hoạt động học thuật phi đạo đức hơn là sinh viên kế toán nam

5

Mugan, Daly

Simga-và cộng sự (2005)

Ảnh hưởng của quốc tịch và giới tính đến

độ nhạy đạo đức

Độ nhạy cảm đạo đức đã được tìm thấy bị ảnh hưởng bởi giới tính của người ra quyết định

B Nhóm nghiên cứu giới tính không ảnh hưởng đến độ nhạy đạo đức

1

Stanga và Turpen (1991)

Đánh giá đạo đức về các vấn đề kế toán được chọn: Một nghiên cứu thực nghiệm

Không có sự khác biệt giới tính về mức độ nhận biết đạo đức của sinh viên kế toán

2

Chan và Leung (2006)

Ảnh hưởng của lý luận đạo đức và yếu

tố cá nhân của sinh sinh kế toán đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán

Sinh viên kế toán nam và

nữ ở đây phản ứng tương tự như các tình huống nhạy cảm về mặt đạo đức trong một ngữ cảnh chuyên nghiệp

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 21

Kết luận chương 1

Trong chương này đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

liên quan đến ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức cũng như những kết quả

đạt được của các nghiên cứu trước đây Trong số các nghiên cứu về độ nhạy đạo đức

và giới tính, kết quả nghiên cứu khác nhau, có nghiên cứu cho rằng có sự ảnh hưởng

của giới tính đến độ nhạy đạo đức nhưng một vài nghiên cứu khác lại cho rằng là

không có mối quan hệ giữa chúng Từ đó, xác định khe hổng nghiên cứu và vấn đề cần

tiếp tục nghiên cứu trong luận văn

Trang 22

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 sẽ trình bày và giới thiệu những lý thuyết cơ bản có liên quan đến đề

tài như các khái niệm nghiên cứu: giới tính, độ nhạy về đạo đức, sinh viên chuyên

ngành kế toán Trên cơ sở lý thuyết, tác giả sẽ rút ra một số kết luận chung và đề xuất

mô hình nghiên cứu lý thuyết

2.1 KHÁI NIỆM

2.1.1 Giới tính

Theo điều 5 luật Bình đẳng giới, Giới chỉ đặc điểm, đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và

nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội Và giới tính chỉ đặc điểm sinh học của nam và

nữ

Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "phụ nữ", đều chỉ một nhóm đối

tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn Một số từ tiêu biểu hay gặp là

đàn bà, phụ nữ, con gái

- Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là

đã trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập,

hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng

- Đàn bà có một định nghĩa tương tự, nhưng bản thân nó đã không thể hiện sự

trang trọng Nó cho một cái nhìn bao hàm nhìều mặt, cả về khía cạnh xã hội

cũng như bản chất sinh học Thông thường, chỉ nên sử dụng từ "đàn bà" khi

cần một cái nhìn thật sự trung lập, hoặc muốn thể hiện một thái độ thiếu thiện

cảm, một chút kỳ thị đối với nữ giới đó, bởi nó khiến người ta liên tưởng đến

những mặt xấu, hoặc được cho là xấu, mang đặc trưng và thường gặp ở nữ giới

- Con gái chỉ những nữ giới trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên,

những người đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ (nhỏ hơn nữa thì được gọi

là bé gái) nhưng chưa được cho là trưởng thành

- Nam giới, ngược với nữ giới, là những người có giới tính nam

Trang 23

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Phụ_nữ

2.1.2 Độ nhạy đạo đức

Có nhiều khái niệm độ nhạy đạo đức và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Độ

nhạy đạo đức là một thành phần quan trọng của hành vi đạo đức (Rest 1986)

Độ nhạy đạo đức hay mức độ cảm nhận hay còn gọi là nhận thức về đạo đức

(Shaub 1989, Simga-Mugan, Daly và cộng sự 2005)

Theo Chan và Leung 2006, Độ nhạy đạo đức đề cập đến nhận thức về những hành

động ảnh hưởng đến người khác Nó liên quan đến nhận thức về hành động khác nhau

và cách hành động có thể ảnh hưởng đến các bên liên quan Nó liên quan đến việc

tưởng tượng xây dựng các kịch bản có thể biết chuỗi quan hệ nhân-quả của sự kiện, sự

đồng cảm và kỹ năng “nhập vai” tham gia Vì vậy, một cá nhân trước hết phải nhận

thức về tình huống có ý nghĩa đạo đức Sau đó, các nhân đó xác định vai trò và ảnh

hưởng của tình huống trên tất cả các bên bị ảnh hưởng Cuối cùng, các hành động thay

thế được xác định và kết quả tiềm năng được đánh giá (Chan và Leung 2006)

Một quan điểm về độ nhạy đạo đức cho rằng độ nhạy đạo đức hoàn toàn là khả

năng nhận ra các vấn đề đạo đức Một quan điểm khác cho rằng độ nhạy đạo đức đòi

hỏi sự công nhận các vấn đề đạo đức và mô tả sự quan tâm đến chúng (Sparks và Hunt

1998):

- Khái niệm 1: Độ nhạy đạo đức là khả năng nhận thức một tình huống có

nội dung đạo đức

- Khái niệm 2: Độ nhạy đạo đức là khả năng nhận thức một tình huống có

nội dung đạo đức và tầm quan trọng đối với các vấn đề đó

Nhìn chung, các định nghĩa độ nhạy đạo đức trên có sự thống nhất khi cho rằng

độ nhạy đạo đức là mức độ nhận thức các vấn đề đạo đức của một cá nhân

Trang 24

Các ngành nghề nói chung đã bắt đầu điều tra các yếu tố quyết định về độ nhạy

đạo đức Các vấn đề đạo đức được cho là vốn có trong nghề kế toán Và sự nhạy cảm

đạo đức là trách nhiệm nghề nghiệp của kế toán (Shaub 1989)

Khách hàng, người sử dụng lao động, và công chúng nói chung đều được hưởng

lợi từ các dịch vụ của kế toán viên được chứng nhận Trong việc giải phóng trách

nhiệm nghề nghiệp của mình, các thành viên có thể gặp phải những áp lực mâu thuẫn

giữa các nhóm này Để giải quyết những xung đột đó, các thành viên nên hành động

với tính toàn vẹn, được hướng dẫn bởi giới luật rằng khi các thành viên quan sát trách

nhiệm của họ đối với lợi ích của công chúng, khách hàng và nhà tuyển dụng được phục

vụ tốt nhất Theo đó, được hướng dẫn bởi các nguyên tắc cơ bản trong Tiêu chuẩn ứng

xử chuyên nghiệp, các thành viên phải thực hiện các phán đoán chuyên nghiệp và sự

nhạy cảm đạo đức trong tất cả các hoạt động của họ (Aderson và Ellyson, 1986, p, 96)

Thang đo độ nhạy đạo đức

Độ nhạy đạo đức (Moral Sensitive – MS): là biến đại diện cho mức độ nhận thức

đạo đức Thang đo của độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán được thiết kế dựa trên

nghiên cứu của Tom và Borin (1988) và Ameen, Guffey và cộng sự (1996) Khái niệm

độ nhạy đạo đức được đo lường thông qua 23 biến quan sát Hai mươi ba biến quan sát

này được ký hiệu từ MS1 đến MS23 (Phụ lục 1)

2.1.3 Kế toán viên tương lai

Theo wikipedia Kế toán viên là khái niệm chung để chỉ tất cả những người làm kế

toán, bao gồm kế toán trưởng; các nhân viên kế toán như kế toán tài chính, kế toán

quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết Kế toán viên tương lai là những người đang

học ngành kế toán và tương lai sẽ trở thành kế toán viên

Trang 25

Nghiên cứu này tập trung vào sinh viên đang theo học ngành kế toán Khái niệm

sinh viên ngành kế toán sẽ được sử dung trong bài luận văn thay cho khái niệm kế toán

viên tương lại

2.2 ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN KIỂM TOÁN

Các tiêu chuẩn đạo đức được truyền đạt thông qua Chuẩn mực đạo đức nghề

nghiệp kế toán kiểm toán theo quyết định 87/2005/QĐ-BTC ngày 1/12/2005, bao gồm

các quy tắc đạo đức cơ bản sau:

- Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn

Tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cơ bản: Mỗi kiểm toán viên, kế

toán viên cần hiểu rõ và ghi nhớ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của mình trong mọi

trường hợp nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp

Theo Shaub, M K (1989), Giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong trong trường học

là một vấn đề cần thiết và cần có sự quan tâm ngày trong việc phát triển các phương

pháp tiếp cận mới để truyền đạt tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp và trong việc

phát triển các biện pháp sẽ giúp dự đoán về các vấn đề đạo đức trong tương lai, thay vì

xử lý những vi phạm sau khi thiệt hại đã xảy ra

2.3 LÝ THUYẾT NỀN

2.3.1 Lý thuyết tâm lý (Psychological theory):

Lý thuyết tâm lý xã hội trong quản trị, còn gọi là lý thuyết tác phong, là những

quan điểm quản trị nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội

Trang 26

của con người trong công việc Lý thuyết này cho rằng, hiệu quả của quản trị do năng

suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất

quyết định mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người

Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh

bởi các nhà tâm lý học trong thập niên 60, và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại

nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của con

người, một yếu tố quan trọng để quản trị

Trường phái này có các tác giả sau:

- RobertOwen (1771- 1858): là kỹ nghệ gia người Anh, là người đầu tiên nói

đến nhân lực trong tổ chức Ông chỉ trích các nhà công nghiệp bỏ tiền ra

phát triển máy móc nhưng lại không chú ý đến sự phát triển nhân viên của

doanh nghiệp

- HugoMunsterberg (1863- 1916): nghiên cứu tâm lý ứng dụng trong môi

trường tổ chức, ông được coi là cha đẻ của ngành tâm lý học công nghiệp

Trong tác phẩm nhan đề “Tâm lý học và hiệu quả trong công nghiệp” xuất

bản năm 1913, ông nhấn mạnh là phải nghiên cứu một cách khoa học tác

phong của con người để tìm ra những mẫu mực chung và giải thích những

sự khác biệt Ông cho rằng năng suất lao động sẽ cao hơn nếu công việc

giao phó cho họ được nghiên cứu phân tích chu đáo, và hợp với những kỹ

năng cũng như tâm lý của họ

- MaryParkerFollett (1863- 1933): là nhà nghiên cứu quản trị ngay từ những

năm 20 đã chú ý đến tâm lý trong quản trị, bà có nhiều đóng góp có giá trị

về nhóm lao động và quan hệ xã hội trong quản trị

- Abraham Maslow (1908 – 1970): Là nhà tâm lý học đã xây dựng một lý

thuyết về nhu cầu của con người gồm 5 cấp bậc được xếp từ thấp lên cao

Trang 27

theo thứ tự: (1) nhu cầu vật chất, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội,

(4) nhu cầu được tôn trọng và (5) nhu cầu tự hoàn thiện

- D.Mc Gregor (1906- 1964): Mc Gregor cho rằng các nhà quản trị trước

đây đã tiến hành các cách thức quản trị trên những giả thuyết sai lầm về tác

phong và hành vi của con người Những giả thiết đó cho rằng, phần đông

mọi người đều không thích làm việc, thích được chỉ huy hơn là tự chịu

trách nhiệm, và hầu hết mọi người làm việc vì lợi ích vật chất, và như vậy

các nhà quản trị đã xây dựng những bộ máy tổ chức với quyền hành tập

trung đặt ra nhiều quy tắc thủ tục, đồng thời với một hệ thống kiểm tra

giám sát chặt chẽ Gregor gọi những giả thiết đó là X, và đề nghị một giả

thuyết khác mà ông gọi là Y Thuyết Y cho rằng con người sẽ thích thú với

công việc nếu được những thuận lợi và họ có thể đóng góp nhiều điều hơn

cho tổ chức Mc Gregor cho rằng thay vì nhấn mạnh đến cơ chế kiểm tra

thì nhà quản trị nên quan tâm nhiều hơn đến sự phối hợp hoạt động

- Elton Mayo (1880 – 1949): Ông cho rằng sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý

của con người như muốn được người khác quan tâm, kính trọng, muốn có

vai trò quan trọng trong sự nghiệp chung, muốn làm việc trong bầu không

khí thân thiện giữa các đồng sự, v.v… có ảnh hưởng lớn đến năng suất và

thành quả lao động của con người

Quan điểm cơ bản của lý thuyết này cũng giống như quan điểm của lý thuyết

quản trị khoa học Họ cho rằng sự quản trị hữu hiệu tùy thuộc vào năng suất lao động

của con người làm việc trong tập thể Tuy nhiên, khác với ý kiến của lý thuyết quản trị

khoa học, lý thuyết tâm lý xã hội cho rằng, yếu tố tinh thần có ảnh hưởng mạnh đối với

năng suất của lao động

Vận dụng lý thuyết tâm lý

Trang 28

Từ lý thuyết trên, cho thấy rằng yếu tố tinh thần ảnh hưởng đến hành động của

một người Do vậy giới tính nam nữ có những đặc đểm khác nhau, điều này có thề thề

dẫn đến việc đưa ra những nhìn nhận khác nhau trong các trường hợp khác nhau

2.3.2 Lý thuyết hành vi

Theo cách hiểu của lý thuyết hành vi chính thống rất phát triển ở Mỹ, hành vi của

con người chỉ là những phản ứng (máy móc) quan sát được sau các tác nhân và nếu

không quan sát được được những phản ứng thì có thể nói rằng không có hành vi

J Waston – một đại diện tiêu biểu của lý thuyết hành vi trong tâm lý học đã đưa

ra mô hình hành vi gồm một chuỗi kích thích và phản ứng:

S (tác nhân) → R (phản ứng) Theo sơ đồ này thì hành vi chúng ta hoàn toàn máy móc, cơ học mà không có sự

tham gia của ý thức hay một yếu tố nào khác

Trong quá trình phát triển thuyết hành vi, khái niệm hành vi dần được mở rộng và

chứa đựng thêm nhiều yếu tố mới Các nhà hành vi mới (hay còn gọi là các nhà hành vi

xã hội) cho rằng giữa hai yếu tố tác nhân và phản ứng còn có các yếu tố trung gian

được chia làm 2 loại là các nhu cầu sinh lý và các yếu tố nhận thức Nhà xã hội học Mỹ

G Mead đưa ra luận điểm về bản chất xã hội của hành vi con người: “Hành vi xã hội

không thể hiểu được nếu xây dựng nó từ các tác nhân và phản ứng Nó cần được phân

tích như một chỉnh thể linh hoạt, không một bộ phận nào của chỉnh thể được phân tích

hoặc có thể được phân tích độc lập” Điều này có nghĩa, hành vi xã hội là một thể

thống nhất gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Như vậy, hành vi của con người là một tập hợp nhiều hành động (hay việc làm cụ

thể) liên kết với nhau một cách hết sức phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

bên trong (như tính cách, di truyền…) và các yếu tố bên ngoài (như kinh tế, văn hoá,

xã hội, chính trị, môi trường…) dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau Có 4 thành

Trang 29

phần tạo nên mỗi hành vi của con người, đó là: kiến thức, niềm tin, thái độ và thực

hành Mỗi hành vi là sự thể hiện của tất cả 4 thành phần bên trong một loạt các hành

động có thể quan sát được nhằm đáp ứng một kích thích bên ngoài nào đó tác động lên

cơ thể

Vận dụng lý thuyết hành vi

Từ lý thuyết hành vi này, hành vi gian lận của sinh viên ngành kế toán cũng chịu

tác động của nhiều yếu tố Bên cạnh đó, nhận thấy hành vi giân lận cũng là một dạng

của hành vi xã hội, do đó nó là một thể thống nhất gồm các yếu tố bên trong và bên

ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các yếu tố bên trong có thể hiểu đó là các đặc

điểm cá nhân, đặc điểm tâm lý, sở thích của người tiêu dùng, các yếu tố bên ngoài là

môi trường học tập, hoạt động của người đó

Trang 30

Kết luận chương 2

Để chuẩn bị cho việc thiết kế nghiên cứu và các phân tích liên quan trong chương

3, chương 2 giới thiệu các khái niệm độ nhạy đạo đức, giới tính cũng như lý thuyết nền

vận dụng trong nghiên cứu Đồng thời chương 2 cũng định hướng mô hình nghiên cứu

Trang 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trên cở sở mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ở phần mở đầu; tổng quan

nghiên cứu chương 1 và cơ sở lý thuyết cũng như mô hình nghiên cứu ở chương 2,

trong chương này tác giả trình bày rõ hơn chi tiết hơn về phương pháp nghiên cứu và

các thang đo để đo lường các khái niệm nhằm kiểm định mô hình nghiên cứu Cụ thể

gồm có 2 phần chính: (1) Quy trình nghiên cứu và (2) Phương pháp nghiên cứu

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng hai phương pháp là phương pháp nghiên

cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng

3.1.1 Nghiên cứu định tính

Các thang đo trong mô hình nghiên cứu của Ameen, Guffey và cộng sự (1996) đùng để

xác định các khái niệm và thang đo được thiết lập tại nước ngoài do vậy nếu sử dụng

trực tiếp thì không phù hợp với sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên tại thành

phố Hồ Chí Minh nói riêng do có sự khác biệt về môi trường học tập, ngôn ngữ,

chương trình học tập… Thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm nhằm kiểm tra sự phù hợp

của thang đo như mức độ rõ ràng của từ ngữ, mức độ hiểu rõ các phát biểu và sự trùng

lắp các phát biểu trong thang do để chọn ra những phát biểu phù hợp nhất đối với sinh

viên tại các trường đại học thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, thang đo gốc sẽ được điều

chỉnh cho phù hợp sẽ để xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn chính thức

3.1.2 Nghiên cứu định lượng

Sau khi điều chỉnh thang đo cho phù hợp ở nghiên cứu định tính, thì thang đo chính sẽ

dùng cho nghiên cứu định lượng được thực hiên thông qua bảng câu hỏi khảo sát (Phụ

lục 1) Mục đích của nghiên cứu này dùng để đánh giá thang đo và kiểm định lại giả

thuyết Dữ liệu thu thập được phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS để kiểm

định dữ liệu tập hợp từ cuộc khảo sát để kiểm tra lại độ tin cậy của thang đo độ nhạy

Trang 32

cảm đạo đức và đo lường mức độ ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức cũng

như phản ứng của nữ, nam sinh viên ngành kế toán đối với đạo đức trong học tập

Quy trình nghiên cứu được trình bày trong Sơ đồ 3.1 bao gồm các bước được minh họa

như sau:

- Bước 1: Hình thành thang đo

Việc lựa chọn thang đo đã được định hướng trong phần cơ sở lý thuyết Thang

đo được dịch sang tiếng Việt từ những thang đo đã được sử dụng trong các

nghiên cứu trước ở nước ngoài, cụ thể tác giả sử dụng thang đo trong nghiên

cứu của Ameen, Guffey và cộng sự 1996 Do đó để đảm bảo giá trị nội dung của

thang đo, một nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm được thực hiện

nhằm khẳng định hiểu được nội dung ý nghĩa từ ngữ và đánh giá đúng các biến

quan sát của thang đo Sau khi hiệu chỉnh từ ngữ và thống nhất các phát biểu,

thang đo chính thức được hình thành - Bảng câu hỏi khảo sát Bảng câu hỏi

được gửi đi thu thập dữ liệu

- Bước 2: Kiểm định thang đo

Trong nghiên cứu bằng phương pháp định lượng, các thang đo được kiểm định

thông qua 2 công cụ chính: (1) hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và (2) phương

pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

- Bước 3: Phân tích dữ liệu

Các thang đo đạt yêu cầu được đưa vào trong phân tích hồi quy để kiểm định giả

thuyết về sự ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán

Sau khi phân tích hồi quy, thực hiên phân tích ANOVA-oneway để xem mức độ

phản ứng của nam và nữ sinh viên kế toán đến độ nhạy đạo

Trang 33

Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Quy trình nghiên cứu của tác giả

Kiểm định các giả thuyết

Phân tích nhân tố (EFA)

Phân tích hồi quy tuyến tính

Đánh giá độ tin cậy (Cronbach’s Alpha) Kiểm định

thang đo

Mục tiêu

nghiên cứu Cở sở lý thuyết Thang đo sơ bộ

Thang đo đã điều chỉnh

Thảo luận nhóm Điều chỉnh Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định lượng

Trang 34

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3.2.1 Mô hình nghiên cứu

Dựa vào nghiên cứu trước đây đã trình bày ở chương tổng quan, tác giả đưa ra mô ra

mô hình dựa vào mô hình của Ameen, Guffey và cộng sự 1996 gồm một biến độc lập

giới tính ảnh hưởng đến độ nhạy đạo đức như sau: (Ameen, Guffey và cộng sự 1996)

× Biến độc lập: Giới tính của sinh viên (Nam/Nữ)

× Biến phụ thuộc: Độ nhạy đạo đức

Mô hình 3.1: Mô hình nghiên cứu chính thức

Nguồn: Ameen, Guffey và cộng sự (1996)

3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

Các thuộc tính cá nhân thường được các nhà lý thuyết đạo đức đặt ra như là các

biến ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định đạo đức (Bommer và cộng sự, 1987; Hunt

và Vitell, 1992) Các đề xuất của họ trong khía cạnh này thường được hỗ trợ bởi các

nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa các biến nhân khẩu học nhất định và quá trình ra

quyết định đạo đức Biến nhân khẩu, tuổi tác, cho thấy một mối quan với độ nhạy đạo

đức (Shaub, 1989; Karcher, 1996) Biến nhân khẩu học cho thấy mối quan hệ với độ

nhạy cảm đạo đức bao gồm:

- Thành tích học tập (Spickelmier 1983; Shaub 1994)

Trang 35

- Giới tính (Thoma 1984; Shaub 1994; Thorne 1999; Simga-Maugan và

cộng sự 2005) (Collins 2000)

Collins (2000) cung cấp một cái nhìn tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm

trước đây về mối quan hệ giữa giới tính và đạo đức Một số kết quả nghiên cứu cho

rằng phụ nữ, so với nam giới, thận trọng hơn và quan tâm hơn đến các vấn đề đạo đức

nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng Sự nhạy cảm về đạo đức cũng bị ảnh

hưởng bởi quốc tịch và giới tính của người ra quyết định (Simga-Mugan, Daly và cộng

sự 2005) Tuy nhiên, Một vài nghiên cứu khác lại cho rằng không có sự ảnh hưởng của

giới tính đến độ nhạy đạo đức, điển hình là nghiên cứu của Chan và Leung (2006) và

nghiên cứu của Stanga và Turpen (1991) Kết quả nghiên cứu của Chan và Leung

(2006) cho rằng giữa sinh viên kế toán nam và nữ ở đây phản ứng tương tự như các

tình huống nhạy cảm về mặt đạo đức trong một ngữ cảnh Stanga và Turpen (1991)

cũng có kết quả tương tự, không có sự khác biệt giới tính về mức độ nhận biết đạo đức

của sinh viên kế toán Một giải thích tiềm năng cho rằng kết quả dường như mâu thuẫn

của nghiên cứu còn tồn tại là giả thiết rằng sự khác biệt về giới tính có thể hoặc không

thể nảy sinh, tùy thuộc vào các yếu tố ngữ cảnh (Derry, 1987, 1989; Dobbins và Platz,

1986; Trevino, 1992; Weber, 1990) Rest 1986 tóm tắt phát hiện từ độ nhạy đạo đức

như sau: độ nhạy đạo đức dường như bị ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố Nghiên cứu

trong tương lai nên đưa ra các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến độ nhạy cảm đạo đức Vì

vậy, giả thuyết được đưa ra như sau:

H: Giới tính của sinh viên kế toán có ảnh hưởng đến độ nhạy đạo đức

3.3 MẪU

Mẫu của nghiên cứu bao gồm sinh viên kế toán của Đại học Kinh Tế Thành phố

Hồ Chí Minh (UEH), Đại học Công Nghiệp TP.HCM (IUH), Học viện Công nghệ Bưu

chính Viễn thông – Cơ sở TP.HCM (PTIT) và một số trường đại học khác Cả 3 trường

có mức độ kế toán tương tự nhau về các tiêu chuẩn tuyển sinh, cấu trúc chương trình,

Trang 36

chương trình học và phương thức giảng dạy Trong chương trình đào tạo kế toán của

UEH cũng như của IUH và PTIT, có một học về đạo đức nghề nghiệp trong kiểm toán

trong chuyên ngảnh kế toán, được cung cấp như một môn học trong học kỳ thứ hai của

năm thứ hai cho sinh viên kế toán của mình Tuy nhiên, trong chương trình giảng dạy

của các trường này lại không có khóa học chuyên về đạo đức cốt lõi cho sinh viên kế

toán của mình Thay vào đó, sinh viên kế toán sẽ được đưa ra một vài giờ can thiệp đạo

đức tích hợp chúng vào một số môn học kế toán truyền thống như kiểm toán, thuế và

kế toán tài chính

Sự tham gia của sinh viên là tự nguyện và ẩn danh được đảm bảo Dữ liệu nhân

khẩu học được yêu cầu bao gồm giới tính, tuổi tác, năm học và điểm trung bình môn

học Những sinh viên tham gia được yêu cầu đưa ra những đánh giá liên quan đến các

hoạt động mà họ đã trở nên quen thuộc thông qua việc quan sát hoặc tham gia vào các

hoạt động tại trường đại học (Ameen, Guffey và cộng sự 1996) Các câu hỏi được hỏi

có vấn đề liên quan đến các bài kiểm tra, dự án nhóm và bài tập viết bao gồm 23 hoạt

động Những sinh tham tham gia khảo sát sẽ đọc 23 tình huống khó xử về đạo đức có

thể nảy sinh trong học tập và họ sẽ được hỏi về nhận thức hay mức độ nghiêm trọng

đối với mỗi hoạt động trong số 23 hoạt động sử dụng thang điểm sáu, (0) "không gian

lận", (1) "ít gian lận", (2) "" gian lận, (3)" vừa phải ", (4)" khá ", và (5)" gian lận nhất

Những sinh viên tham gia được yêu cầu đưa ra những đánh giá liên quan đến các

hoạt động mà họ đã trở nên quen thuộc thông qua việc quan sát hoặc tham gia vào các

hoạt động tại trường đại học (Ameen, Guffey và cộng sự 1996) Những sinh tham tham

gia khảo sát sẽ đọc 23 tình huống khó xử về đạo đức có thể nảy sinh trong học tập và

họ sẽ được hỏi ý kiến của họ về hành vi trong các trường hợp này

Bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập dữ liệu Các bảng câu hỏi được in đã được

gửi đến các lớp học hoặc gửi link bảng câu hỏi vào các trang web của trường đại học

(công cụ google Docs) Các bảng câu hỏi được thu thập sau hai tuần, kết quả khảo sát

Trang 37

thu về được 137 mẫu Kết quả khảo sát qua mạng (gửi câu hỏi khảo sát qua các trường)

chỉ chiếm tỷ lệ 12.60%

Sau khi loại đi các phiếu câu hỏi trả lời không đạt yêu cầu và lọc dữ liệu (loại 10

sinh viên không thuộc chuyên ngành kế toán cùng với những bảng khảo sát bị thiếu dữ

liệu không cung cấp đủ thông tin cần thiết) Cuối cùng mẫu nghiên cứu còn 127 sinh

viên thuộc ngành kế toán được chọn để thực hiện dữ liệu theo tỷ lệ nam nữ như Hình

3.1 và được thể hiện chi tiết ở Bảng 3.1

Hình 3.1: Tỷ lệ nam/nữ trong mẫu nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu khảo sát

Bảng 3.1: Mẫu tham gia của các trường

Nu61%

GIỚI TÍNH

Trang 38

Total 50 77 127

Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu khảo sát

3.4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Với mô hình nghiên cứu và các đặc tính thang đo của đề tài, mô hình hồi quy được sử

dụng để phân tích ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán

dưới sự hỗ trợ của phần mềm SPPS Theo đó, mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là

độ nhạy đạo đức, biến độc lập là giới tính tương ứng với một giả thuyết nghiên cứu đã

lập luận ở Mục 3.2.2 được biểu diễn như sau

MS = β0 + β1GENDER Trong đó:

× Độ nhạy đạo đức: Biến phụ thuộc - Ký hiệu MS

× Giới tính của sinh viên: Biến độc lập – Ký hiệu GENDER

× β0: Hằng số hồi quy

× β1: Hệ số Hồi quy

3.5 THANG ĐO

Thang đo sử dụng cho các khái niệm nghiên cứu được trình bày ở Bảng 3.2:

- Độ nhạy đạo đức - MS: là biến đại diện cho mức độ nhận thức đạo đức

Thang đo của độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán được thiết kế dựa trên

nghiên cứu của Tom và Borin 1988 và Ameen, Guffey và cộng sự 1996

Khái niệm độ nhạy đạo đức được đo lường thông qua 23 biến quan sát 23

biến quan sát này được ký hiệu từ A1 đến A23 (Phụ lục 1)

- Giới tính - GENDER: là biến thể hiện giới tính của sinh viên kế toán Là

biến định tính, nhận giá trị là 1 nếu là sinh viên nữ và nhận giá trị 0 nếu là

sinh viên nam

Trang 39

GENDER Giới tính Nhận giá trị là 1 nếu là sinh viên nữ

và nhận giá trị 0 nếu là sinh viên nam

Nguồn: Tác giả tổng hợp

3.6 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

3.6.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thông kê mô tả dùng để mô tả những đặc tính cơ bản dữ liệu để có

cái nhìn tổng quát về dữ liệu nghiên cứu được thể hiện qua các chỉ số như số trung bình

(mean), trung vị (median), độ lệch chuẩn (stvàard deviation), giá trị lớn nhất

(maximum), giá trị nhỏ nhất (minimum), …

3.6.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Phương pháp này cho phép người phân tích loại bỏ các biến không phù hợp và

hạn chế các biến rác trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đo

thông qua hệ số Cronbach’s Alpha

Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ của

các biến trong thang đo của mô hình nghiên cứu Nó được dùng để đánh giá độ tin cậy

của thang đo Độ tin cây là mức độ tránh được các sai số ngẫu nhiên Độ tin cậy liên

quan đến tính chính xác, tính nhất quán của kết quả Nó là điều kiện cần để đo lường

có giá trị Hệ số Alpha càng cao thể hiện tính đồng nhất của các biến càng cao tức là

mức độ liên kết của các biến đo lường càng cao Tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có

hệ số tin cậy Cronbach alpha từ 0,6 trở lên Tuy nhiên Cronbach’s Alpha không cho

biết biến đo lường nào cần được bỏ đi và biến đo lường nào cần được giữ lại, chính vì

Trang 40

vậy mà ta xét thêm hệ số tương quan tổng biến của các biến Các biến có hệ số tương

quan tổng biến nhỏ hơn 0,3 được coi là biến “rác” và sẽ loại khỏi thang đo (Hair và

cộng sự 2006) Tất cả các biến quan sát của những thành phần đạt được độ tin cậy sẽ

được tiếp tục phân tích nhân tố khám phá (EFA)

3.6.3 Phân tích nhân tố khám phá

Tác giả tiến hành phân tích nhân tố nhằm mục đích rút gọn dữ liệu và kiểm định các

yếu đại diện trong mô hình nghiên cứu Điều kiện khi kiểm tra thang đo bằng phương

pháp phân tích nhân tố EFA:

- Trong phân tích nhân tố khám phá, trị số KMO (Kaiser – Meyer – Olkin)

là chỉ số duợc dùng dể xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số

KMO phải có giá trị trong khoảng từ 0.5 đến 1 thì phân tích này mới thích

hợp, còn nếu giá trị này nhỏ hơn 0.5 thì phân tích nhân tố có khả năng

không thích hợp với dữ liệu

- Phân tích nhân tố EFA theo phương pháp Principal Component với phép

xoay Varimax Các biến có trọng số (factor loading) nhỏ hon 0.3 sẽ tiếp tục

bị loại Thang đo đuợc chấp nhận khi tổng phuong sai được bằng hoặc lớn

hơn 50%

- Số luợng nhân tố: Số luợng nhân tố được xác dịnh dựa vào chỉ số

eigenvalue dại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố

Theo tiêu chuẩn Kaiser thì những nhân tố có eigenvalue nhỏ hon 1 sẽ bị

loại khỏi mô hình nghiên cứu

3.6.4 Phân tích hồi quy

Trước khi phân tích hồi quy, Phân tích tương quan được sử dụng để xem xét mối

quan hệ giữa các biến độc lập và phụ thuộc bằng cách lập ma trận hệ số tương quan và

dựa vào kết quả phân tích tương quan có thể bước đầu đánh giá được các dự báo của

mô hình Ngoài ra, khi các dấu hiệu hệ thống không giống kỳ vọng, các biến độc lập có

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w