Cũng do quản lý không tốt rủi ro trong hoạt đông tín dụnghay hoạt động kinh doanh ngoại tệ mà một số ngân hàng dù có bề dày hoạt động, vốn chủ sở hữu lớn nhưng vẫn gặp khó khăn trong hoạ
Trang 1PHẠM THỊ KIM ÁNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LẠI TIẾN DĨNH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện.
Tất cả các thông tin, số liệu trích dẫn có nguồn gốc đáng tin cậy.
Tác giả
Phạm Thị Kim Ánh
Trang 4Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các Quý thầy cô của Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao để tôi có kiến thức hoàn thành luận văn này Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy TS Lại Tiến Dĩnh, người đã dành thời gian tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thiện luận văn của mình.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin dành lời cảm ơn đến sự giúp đỡ của các anh chị
em đang công tác tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam trong việc hỗ trợ những ý kiến đóng góp để đề tài của tôi mang tính thực tiễn hơn.
Một lần nữa xin gửi đến Quý thầy cô, các anh chị em lời cảm ơn chân thành nhất Kính chúc Quý thầy cô, các anh chị luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong côn tác.
Tác giả
Phạm Thị Kim Ánh
Trang 5Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 61 Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu của Vietinbank giai đoạn 2006-2010 30
2 Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu của Vietinbank 33
3 Bảng 2.3: Lợi nhuận, Tổng thu nhập, Tổng chi phí năm 2006-2010 35
4 Bảng 2.4: Dư nợ cho vay và đầu tư tại Vietinbank 36
5 Bảng 2.5: Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế 37
6 Bảng 2.6: Cơ cấu cho vay theo khu vực kinh tế 39
7 Bảng 2.7: Cơ cấu cho vay theo thời hạn vay 41
8 Bảng 2.8: Tỷ lệ nợ quá hạn tại Vietinbank từ năm 2006- 2010 43
9 Bảng 2.9: Doanh số mua bán ngoại tệ 46
10 Bảng 2.10: Kế hoạch cân đối vốn kinh doanh năm 2011 48
11 Bảng 2.11: Số dư dự trữ bắt buộc qua các Quý năm 2010 49
12 Bảng 2.12: Xác định nguồn tiền ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn 31/12/2010 50
13 Bảng 2.13: Tính tỷ lệ khả năng chi trả tại Vietinbank 51
14 Bảng 2.14: Biểu lãi suất cho vay thông thường 01/2010-12/2010 52
15 Bảng 2.15: Chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra bằng VNĐ 52
BIỂU ĐỒ 1 Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản Vietinbank qua các năm 2006-2010……… 31
2 Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận sau thuế của Vietinbank năm 2006-2010……… 32
3 Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận, Tổng thu nhập, Tổng chi phí năm 2006-2010 35
4 Biểu đồ 2.4: Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế 38
5 Biểu đồ 2.5: Dư nợ cho vay theo khu vực kinh tế 40
6 Biều đồ 2.6: Dư nợ cho vay theo thời hạn cho vay 41
7 Biểu đồ 2.7: Biểu đồ tình hình dư nợ vay quá hạn 2006-2010 44
8 Biểu đồ 2.8: Biểu đồ tỷ lệ cho vay không đảm bảo bằng tài sản 45
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu luận văn 2
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Quy trình quản trị rủi ro 4
1.1.3 Nguyên tắc Basel II về quản trị rủi ro 5
1.1.4 Các rủi ro trong kinh doanh của NHTM……… 7
1.1.4.1 Rủi ro tín dụng………7
1.1.4.2 Rủi ro tỷ giá 12
1.1.4.3 Rủi ro thanh khoản 14
1.1.4.4 Rủi ro lãi suất 17
1.1.4.5 Rủi ro uy tín 20
1.1.4.6 Rủi ro hoạt động ngân hàng điện tử 21
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản trong việc quản trị rủi ro 21
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 24
Trang 8RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
28
2.1 SƠ LƯỢC VỀ VIETINBANK 28
2.1.1 Sơ lược về Vietinbank 28
2.1.2 Các nghiệp vụ được thực hiện tại Vietinbank 32
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI VIETINBANK GIAI ĐOẠN NĂM 2006 – 2010 33
2.3 THỰC TRẠNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI VIETINBANK 36
2.3.1 Hoạt động tín dụng 36
2.3.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối 46
2.3.3 Rủi ro thanh khoản 47
2.3.4 Quản trị lãi suất 52
2.3.5 Các rủi ro khác mà Vietinbank phải đối mặt trong hoạt động hiện nay 53
2.3.5.1 Rủi ro đối với ngân hàng hoạt động điện tử 53
2.3.5.2 Rủi ro uy tín 54
2.4 NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI VIETINBANK 55
2.4.1 Hoạt động tín dụng 55
2.4.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối 56
2.4.3 Rủi ro thanh khoản 58
2.4.4 Quản trị lãi suất 59
2.5 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIETINBANK TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY 60
2.5.1 Về cơ chế quản lý 60
2.5.2 Về trình độ công nghệ 62
Trang 9Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM 67
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VIETINBANK ĐẾN NĂM 2020……….67
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI VIETINBANK 68
3.2.1 Giải pháp hạn chế rủi ro chung cho các hoạt động kinh doanh tại Vietinbank 68
3.2.2 Giải pháp nâng cao khả năng quản trị rủi ro cho từng loại rủi ro 69
3.2.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh 70
3.2.2.2 Giải pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối 76
3.2.2.3 Giải pháp phòng ngừa rủi ro thanh khoản 81
3.2.2.4 Giải pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất 83
3.3 KIẾN NGHỊ 85
3.3.1 Đối với ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 85
3.3.2 Đối với ngân hàng Nhà nước Việt Nam 87
3.3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý về ngân hàng 87
3.3.2.2 Kiện toàn chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối 87
3.3.2.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ ngân hàng 89
3.3.2.4 Đổi mới cơ chế thanh tra 89
KẾT LUẬN 92
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với quá trình tự do hóa toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, các luồng tài chính đã làmthay đổi căn bản hệ thống ngân hàng Các NHTM Việt Nam đang trong quá trình pháttriển mạnh về cả số lượng và quy mô hoạt động, sức cạnh t ranh trên thị trường tài chínhViệt Nam ngày càng mạnh mẽ tạo ra áp lực rất lớn cho các NHTM trong quá trình kinhdoanh
Có những NHTM đã tận dụng được cơ hội là người đi trước để khẳng định th ươnghiệu, chiếm thị phần lớn và đang từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, khả năng kinhdoanh, phương thức quản trị rủi ro… Trong khi đó không ít các ngân hàng mới trong giaiđoạn bắt đầu và phát triển với quy mô hoạt động được mở rộng nhanh chóng để giành thịphần và khẳng định tên tuổi Đối với tất cả các ngân hàn g dù đang trong quá trình hoànthiện tổ chức hay đang trong giai đoạn tìm cách mở rộng thị phần thì quản lý rủi ro là mộtcông tác cực kỳ quan trọng Cũng do quản lý không tốt rủi ro trong hoạt đông tín dụnghay hoạt động kinh doanh ngoại tệ mà một số ngân hàng dù có bề dày hoạt động, vốn chủ
sở hữu lớn nhưng vẫn gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, làm giảm lợi nhuận vàphải xử lý rất nhiều khoản nợ xấu như Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam hay nhiều chi nhánh của chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho tất cả các mảng nghiệp vụcủa các NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nóiriêng là một hoạt động rất thiết thực nhằm giúp cho ngân hàng có thể phò ng ngừa và hạnchế các rủi ro ngày càng rủi ro và khó lường
Xuất phát từ những thực tế trên, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam ”; với hy vọng những kiến thức nghiên cứu được sẽ có thể ứng dụng cho hoạt
động quản trị rủi ro tại Vietinbank và có thể nhân rộng ra cho toàn hệ thống NHTM ViệtNam
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm tập trung vào các nội dung sau:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại, công tácquản trị kinh doanh ngân hàng và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và công tác quản trị các loại rủi ro tạiNgân hàng TMCP Công thương Việt Nam, đánh giá những mặt đạt được và những tồn tạitrong hoạt động quản trị rủi ro
Qua đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp đối với Ngân hàng TMCP Côngthương Việt Nam nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiềntệ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích và đánh giá hoạt động quảntrị kinh doanh và rủi ro tại Vietinbank trong giai đoạn từ năm 2006 - 2010 Vì đây là lĩnhvực khá rộng lớn, nên phạm vi nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung vào phân tích bốnloại rủi ro chính đó là: rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất vànêu khái quát một vài rủi ro khác đã phát sinh thực tế trong hoạt động kinh doanh ngânhàng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện tác giả có sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên các báo cáo của các cơ quan chứcnăng, của Ngân hàng thương mại, tài liệu trên các phương tiện thông tin đạichúng: trên báo, tạp chí chuyên ngành, Internet…
- Phương pháp so sánh, phân tích, thống kê để xác định bản chất của vấn đề cầnnghiên cứu từ đó có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi rotrong hoạt động kinh doanh ngân hàng
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề chung về nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại Ngân
hàng thương mại
Trang 12Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và công tác quản trị rủi ro tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN
TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro là việc nhận diện và đề ra các biện pháp nhằm hạn chế sự xuất hiệncủa rủi ro và những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định tương quan hợp lýgiữa vốn tự có của ngân hàng với mức độ mạo hiểm có thể trong sử dụng vốn của ngânhàng
1.1.2 Quy trình quản trị rủi ro:
- Nhận dạng rủi ro: là quá trình xác định liên tục và có hệ thống đối với các họat
động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc phân tích khách hàng, môi trườngkinh doanh, đặc thù các sản phẩm, dịch vụ và quy trình nghiệp vụ Nhận dạng rủi
ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường họat động vàtoàn bộ mọi hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các rủi ro Mộttrong những cách phân tích rủi ro cơ bản là phân tích từ nguyên nhân đến tổn thất
theo: “chuỗi rủi ro” với 5 mắt xích như sau: Mối nguy cơ -> môi trường rủi ro ->
Sự tương tác giữa mối nguy cơ và yếu tố môi trường -> Kết quả trực tiếp -> Hậu quả lâu dài.
- Phân tích rủi ro: là xác định được những nguyên nhân gây ra Đây là một công
việc phức tạp, bởi mỗi rủi ro không chỉ do một nguyên nhân duy nhất gây ra màthường do nhiều nguyên nhân gây ra
Trang 14- Đo lường rủi ro: việc thu thập số liệu và phân tích, đánh giá Từ kết quả thu thập
được, nhà quản trị lập ma trận đo lường rủi ro Để đánh giá mức độ quan trọng củarủi ro đối với ngân hàng người ta sử dụng 2 tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro
và biên độ của rủi ro Trong đó tiêu chí thứ 2 đóng vai trò quyết định
- Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro: là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ,
chiến lược, các chương trình họat động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểunhững tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra với ngân hàng
- Tài trợ rủi ro: khi rủi ro đã xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác
những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý Sau đó cần cónhững biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp Các biện pháp này được chia làm hainhóm: tự khắc phục rủi ro và chuyển giao rủi ro
1.1.3 Nguyên tắc Basel II về quản trị rủi ro:
Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn cókhá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế đó là Basel I đã không đề cậpđến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp và với mức độ ngày càng tăng lên,
đó là rủi ro tác nghiệp Chính vì vậy, từ năm 1999, Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra mộtHiệp ước mới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốncủa Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành Với cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột
trụ chính, Basel II đã buộc các ngân hàng quốc tế phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc thứ nhất: Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trảicho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi
ro tác nghiệp (Cột trụ 1) Theo đó, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửađổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi
ro tác nghiệp
Trang 15Nguyên tắc thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về những loạirủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giáđược tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ 2) Với cột trụ này, Basel IInhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:
Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn của
họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trìmức vốn đó
Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn nội
bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng Họ cũng phải có khả năng giám sát
và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu Theo đó, giám sát viên nên thực hiệnmột số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quytrình này
Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểutheo quy định
Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàngkhông giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lậptức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu
Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theonguyên tắc thị trường (Cột trụ 3) Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh sách các yêucầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức
độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng vớirủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàngđối với từng loại rủi ro này
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra,các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạchhơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểuđược rủi ro
Trang 161.1.4 Các rủi ro trong kinh doanh của NHTM
1.1.4.1 Rủi ro tín dụng
Khái niệm:
Ngân hàng nhà nước Việt Nam định nghĩa: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngânhàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng khơng thựchiện hoặc khơng cĩ khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Lượng hĩa và đánh giá rủi ro tín dụng:
Lượng hĩa rủi ro tín dụng
Là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng, từđó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàngcũng như để trích lập dự phòng rủi ro Sau đây là các mô hình được áp dụng tương đốiphổ biến:
a Mô hình chất lượng 6 C:
(1) Tư cách người vay (Character)
(2) Năng lực của người vay (Capacity) :
(3) Thu nhập của người vay (Cash):
(4) Bảo đảm tiền vay (Collateral)
(5) Các điều kiện (Conditions):
(6) Kiểm soát (Control)
Trang 17b Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s:
c Mô hình điểm số Z (Z- Credit scoring model):
Đây là mô hình do E.I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanhnghiệp vay vốn Đại lượng Z phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác xuất vỡ nợ củangười vay trong quá khứ
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5
Trong đó:
X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch toán của nợ
Ba Chất lượng trung bình, mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bìnhCaa Chất lượng kém
Ca Mang tính đầu cơ, cĩ thể vỡ nợ
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
Trang 18X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, khitrị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơvỡ nợ cao
Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao
Đánh giá rủi ro tín dụng
Để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng người ta cĩ thể căn cứ vào tỷ
lệ xấu trên tổng dư nợ
Nợ xấu là khoản nợ thuộc nhĩm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhĩm 4 (nợ nghi ngờ) vànhĩm 5 (nợ cĩ khả năng mất vốn) Theo quy định về phân loại nợ, trích lập dự phịng để
sử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (Quyết định493/2005/QDD-NHNN)
Quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của cácNHTM khơng được vượt quá 5% tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn
Dư nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc tồn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quáhạn
Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng:
Nguyên nhân khách quan:
Trang 19Trong kinh doanh tín dụng, NHTM chịu tác động của các nhân tố khách quan nhưsau:
- Các yếu tố thời tiết, khí hậu: những hiện tượng thời tiết không dự báo và bấtthường cũng làm ngưng trệ việc xây dựng, khai khoáng, hoặc ngừng sản xuất Khí hậutheo mùa đặc biệt ảnh hưởng lớn đối với nghành nông nghiệp và khu vực kinh doanh bánlẻ
- Môi trường kinh tế không thuận lợi: môi trường kinh tế không thuận lợi chịu ảnhhưởng của các nhân tố:
+ Các chính sách của chính phủ bao gồm: những thay đổi về mức thuế,ngân sách hàng năm, những thay đổi của chính sách tiền tệ (định hướng
về lãi suất) và thay đổi trong lĩnh vực ngân hàng
+ Giá trị của đồng bản tệ: đồng bản tệ có giá trị thấp làm tăng giá nhậpkhẩu, từ đó có thể làm cho lãi suất tăng lên và làm giảm sự tự tin củangười tiêu dùng
+ Phản ứng và hành động của người tiêu dung: sự tin tưởng của người tiêudùng giảm sút có thể ảnh hưởng giảm cầu và doanh thu
- Thông tin không cân xứng: quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng là quan
hệ kinh tế, vì vậy phát sinh nhu cầu trao đổi và thu nhập thông tin giữa các bên Tuynhiên trong thực tế do nhiều lý do khác nhau (về tài chính, về khả năng) xảy ra tình trạngthông tin không cân xứng
+ Ngân hàng không có đầy đủ thông tin về nhà quản lý, về các kế hoạchkinh doanh, về quan hệ bạn hàng, quan hệ thanh toán
+ Khách hàng không có đầy đủ thông tin về ngân hàng: quy mô các dịch
vụ đáp ứng, phương thức tài trợ phù hợp, giá cả thực tế
Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
Trang 20- Chính sách tín dụng không hợp lý: những nhược điểm của chính sách cho vay vừa
là nguyên nhân sâu xa, vừa là nguyên nhân trực tiếp gây rủi ro tín dụng, cụ thể như:
+ Chính sách cho vay chưa triệt để theo nguyên tắc thi trường, đã bị cuốntheo các hội chứng kinh tế, theo phong trào, theo khẩu hiệu phát triểnkinh tế, chạy theo chủ nghĩa thành tích, có thể thấy được qua nhiềuchương trình kinh tế mà chính sách cho vay của NHTM hướng theonhưng kết cục lại không hiệu quả như chương trình đánh bắt xa bờ, míađường,…
+ Chưa quản trị rõ ràng về danh mục cho vay theo lĩnh vực sở trường củabản thân mỗi ngân hàng thương mại Cạnh tranh giành giật thị phần ởcác ngành, ở nhóm khách hàng mà chính ngân hàng mình không có sởtrường đã mang đến rủi ro hiện tại và tiềm ẩn ở một số ngân hàng
- Cán bộ ngân hàng: trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, yếu tố cán bộ ảnhhưởng tới chất lượng tín dụng thể hiện qua:
+ Thứ nhất là trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế
+ Thứ hai là đạo đức nghề nghiệp, trong rất nhiều trừơng hợp xảy ra rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng thường có sự kết cấu giữa cán bộ làm côngtác tín dụng và khách hàng đã gây hậu quả rất nghiêm trọng
Nguyên nhân từ phía khách hàng:
- Đối với khách hàng là các doanh nghiệp
+ Thứ nhất là quản lý không hiệu quả: hoạt động kinh doanh khôngđược quản lý tốt sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng, thiếu thông tintài chính, không có kế hoạch kinh doanh được triển khai, các sản phẩmkhông có sự gắn kết, không có khả năng thích ứng với những thay đổicủa thi trường
Trang 21+ Thứ hai là những nguyên nhân trong việc xử lý các vấn đề về thịtrường Các doanh nghiệp đều phải giải quyết hai vấn đề cơ bản là
“mua” và “bán” giải quyết các vấn đề liên quan tới thị trường, các yếu
tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm
+ Thứ ba là do sự hạn chế của nhân viên thuộc doanh nghiệp Sự yếukém của đội ngũ nhân viên của một doanh nghiệp làm cho kế hoạchkinh doanh của doanh nghiệp thực hiện không thành công, kém hiệuquả
- Nguyên nhân từ phía khách hàng là cá nhân: với khách hàng cá nhân nguyênnhân rủi ro có thể là:
+ Hoạt động kinh doanh không thuận lợi, khả năng quản lý yếu kém.+ Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản mất hoặc suy giảm do mấtviệc, chuyển sang công việc kém hơn hoặc không có khả năng lao động.+ Đạo đức cá nhân không tốt: Cố tình lừa ngân hàng, sử dụng tiền vaykhông đúng mục đích
Đánh giá rủi ro tỷ giá:
Trang 22- Trạng thái ngoại hối của mỗi loại ngoại tệ là chênh lệch giữa tổng tài sản có vàtổng tài sản nợ của ngoại tệ đó bao gồm cả tài khoản ngoại bảng tương ứng.
- Trạng thái ngoại hối của từng loại ngoại tệ: được đo lường qua 2 chỉ tiêu sau:
- Trạng thái ngoại hối hiện tại ròng (còn gọi là trạng thái hiện tại)
Trạng thái ngoại hối của ngoại tệ A = Số dư của ngoại tệ A thuộc tài sản Có – Số dư của ngoại tệ A thuộc tài sản Nợ
- Trạng thái ngoại hối tương lai ròng (còn gọi là trạng thái tương lai): Là chênhlệch giữa tổng các giao dịch ngoai tệ kỳ hạn mua vào và tổng các giao dịch ngoại tệ kỳhạn bán ra
Trạng thái ngoại hối tương lai ròng của ngoại tệ A = Tổng các giao dịch ngoại tệ kỳ hạn mua vào của ngoại tệ A – Tổng các giao dịch ngoại tệ kỳ hạn mua vào của ngoại
+ Trạng thái ngoại hối = 0: tỷ giá ngoại tệ A tăng hoặc giảm thì rủi ro tỷ giákhông xuất hiện vì thu nhập và chi phí sẽ tăng và giảm với tốc độ bằng nhau nên lợinhuận không đổi Lúc này tỷ giá xem như = 0
+Trạng thái ngoại hối > 0: tỷ giá ngoại tệ A giảm thì thu nhập giảm nhanh hơntốc độ giảm của chi phí Vì vậy rủi ro tỷ giá xuất hiện khi tỷ giá ngoại tệ A giảm giá
Trang 23+ Trạng thái ngoại hối < 0: tỷ giá ngoại tệ A thì rủi ro tỷ giá sẽ xuất hiện, vì tốc
độ tăng của thu nhập nhỏ hơn tốc độ tăng chi phí nên giảm lãi, ngân hàng sẽ bị lỗ Vìvậy, trong trường hợp này rủi ro tỷ giá xuất hiện khi tỷ giá ngoại tệ A tăng
Trạng thái ngoại hối chung cho các loại ngoại tệ:
Do quản lý rủi ro ngoại hối thông qua trạng thái của từng loại ngoại tệ có nhượcđiểm là chỉ xem xét mối quan hệ tỷ giá trực tiếp giữa hai loại ngoại tệ chứ không đolường sự biến động tương đối của các loại ngoại tệ khác Để khắc phục nhược điểm này,các ngân hàng phải sử dụng tổng trạng thái ngoại hối
Tổng trạng thái ngoại hối của ngân hàng là trạng thái ngoại hối của từng loại ngoại
tệ cộng lại
Mục tiêu của quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ:
Bảo vệ ngân hàng khỏi những thiệt hại không dự tính được trong kinh doanh ngoạitệ
Chuẩn bị cho những thay đổi bất lợi cho ngân hàng kinh doanh ngoại tệ, và tăngcường lợi thế cạnh tranh
1.1.4.3 Rủi ro thanh khoản
Trang 24chúng ta đã thấy trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền củamình ra nhanh hơn việc người đi vay sẵn sàng trả nợ.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một ngân hàng nào là đảm bảokhả năng thanh khoản đầy đủ Điều này có nghĩa là ngân hàng có sẵn lượng vốn khảdụng trong tay, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng với các nguồn vốn vay mượn bên ngoài vớichi phí hợp lý, hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản ở mức giá thỏa đáng
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh khoản:
Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi, quỹ dự trữ từ các cá nhân, sau
đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư có kỳ hạn Do đó, đã xảy ra tình trạngbất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của cácnguồn vốn huy động
Chiến lược và phương pháp quản trị thanh khoản Một ngân hàng có đủ vốn, chấtlượng tín dụng tốt, nhưng nếu không quan tâm đến quản trị thanh khoản hoặc xây dựng
dự trữ ngân quỹ hoặc thanh khoản không hợp lý sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản Một lý
do thường xảy ra nhóm nguyên nhân này là ngân hàng quá chú trọng đến lợi nhuận, nênviệc đầu tư vào tài sản sinh lời quá mức
Xuất hiện các biến cố bất thường Các biến cố bất thường có thể tác động rất lớnđến cầu thanh khoản của ngân hàng Nếu người gửi tiền mất niềm tin về khả năng chi trảcủa ngân hàng, hay những tin đồn thất thiệt, họ sẽ đến rút tiền ra khỏi ngân hàng ngaylập tức Năm 2005, vì một tin đồn thất thiệt là Tổng giám đốc ACB đã bỏ trốn khi ấy dânchúng ồ ạt đến rút tiền ra khỏi các chi nhánh và Hội sở ACB tại Thành phố Hồ ChíMinh Trong trường hợp này nhu cầu thanh khoản tăng đột biến và bản thân ACB khôngthể đáp ứng ngay được, phải nhờ vào ứng cứu của Ngân hàng Nhà nước, các NHTMkhác
Do sự nhạy cảm với sự thay đổi về lãi suất đầu tư, nhất là các khoản tiền gửi Khilãi suất đầu tư tăng, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng
Trang 25vì lãi suất thấp hơn Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng cả khách hàng vay tiền vàtiền gửi, kế đó là hai tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng… Hơn nữa,những xu hướng về thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản
mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnhhưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ
Rủi ro thanh khoản do ảnh hưởng trực tiếp từ các loại rủi ro khác Loại rủi ro ảnhhưởng lớn nhất đến rủi ro thanh khoản là rủi ro tín dụng Nợ quá hạn, tổn thất tín dụngnếu ở mức độ cao sẽ làm giảm nguồn thanh khoản của ngân hàng và tất nhiên việc đápứng nhu cầu rút tiền có thể có thể không thực hiện được Ngoài rủi ro tín dụng, rủi rongoại hối, rủi ro thị trường cũng có tác động đến rủi ro thanh khoản Như khi tỷ giáxuống liên tục trong khi đó giá vàng đang xu hướng tăng người gửi tiền đôla sẽ đến rútnhiều hơn là người gửi vào ngân hàng để đem đi đầu tư vàng có lợi hơn Khi ấy ngânhàng cần phải dự trữ một loại ngoại tệ đủ lớn nhằm đảm bảo nhu cầu thanh khoản củangười dân
Các phương pháp quản trị rủi ro thanh khoản:
Áp dụng một chiến lược quản trị kinh doanh thích hợp với đặc điểm của ngânhàng, duy trì một tỷ lệ hợp lý giữa vốn dùng cho dự trữ và vốn dùng cho kinh doanh.Ngân hàng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ khả năng chi trả đối với từng loạiđồng tiền, vàng như sau:
Tỷ lệ về khả năng chi trả
+ Tỷ lệ về khả năng chi trả tối thiểu phải bằng 1 giữa tài khoản “Có” có thể thanhtoán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tài sản “Nợ” phải thanhtoán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo
Trang 26+ Tỷ lệ về khả năng chi trả tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản có có thể thanhtoán ngay và các tài sản nợ sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian một tháng tiếp theo.
Trạng thái thanh khoản thuần trong một giai đoạn:
Trạng thái thanh khoản ròng (T K ) = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản
+ Tk = 0: tức nguồn thanh khoản của ngân hàng đủ để đáp ứng các nhu cầu vềthanh khoản
+ Tk< 0: tức là thiếu hụt thanh khoản, trong tường hợp này ngân hàng phải có biệnpháp để tăng nguồn cung thanh khoản hoặc giảm bớt nhu cầu thanh khoản đối với cáckhoản mục không có tính chất cấp thiết nhằm tránh rủi ro thanh khoản xảy ra
+ Tk> 0: tức là thặng dư thanh khoản, trong trường hợp này ngân hàng phải cóhướng mở rộng tín dụng và đầu tư vào các tài sản sinh lời, hoặc hạ thấp lãi suất huy động
1.1.4.4 Rủi ro lãi suất
Khái niệm:
Rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặcnhững yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thunhập của ngân hàng
Theo Thomas P Fitch định nghĩa: rủi ro lãi suất là rủi ro khi sự thay đổi của lãisuất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất:
Rủi ro lãi suất gắn liền với cấu trúc thời hạn khác nhau giữa tài sản và nợ (nguồnvốn huy động và sử dụng vốn) và sự biến động lãi suất thị trường Khi lãi suất thị trườngthay đổi, ngân hàng thấy rằng nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tư cũng như
Trang 27chi phí đối với tiền gửi và các nguồn đi vay đều bị tác động Ngoài ra sự thay đổi lãi suấtảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản và nợ, làm thay đổi tác động đến toàn bộbảng cân đối kế hoạch và báo cáo thu nhập của ngân hàng Rủi ro lãi suất xảy ra nhưsau:
+ Rủi ro về giá phát sinh khi lãi suất thị trường tăng làm giảm giá trị của hầu hếttrái phiếu và các khoản cho vay lãi suất cố định mà ngân hàng nắm giữ Nếu ngân hàngmuốn bán những công cụ tài chính này trong giai đoạn lãi suất tăng, nó sẽ phải chấpnhận tổn thất Khi ngân hàng cho vay các khoản vay với thời hạn dài hơn thời hạn nguồnvốn mà nó huy động được để tài trợ cho khoản vay, ngân hàng sẽ gặp rủi ro Khi này,ngân hàng phải huy động lại nguồn vốn để tiếp tục tài trợ khoản vay với lãi suất cao hơnlãi suất huy động ban đầu Vì vậy, ngân hàng có thể bị tổn thất thu nhập, thậm chí có thể
bị lỗ
+ Rủi ro tái đầu tư xuất hiện khi lãi suất thị trường hạ thấp, khiến ngân hàng phảichấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình vào các tài sản có mức sinh lợi thấp hơn, hạthấp thu nhập kỳ vọng trong tương lai của ngân hàng Tương tự như trên, nguồn vốnđược huy động trong thời gian dài với lãi suất cao nhưng lại cho vay với lãi suất thịtrường giảm thấp hơn, đã dẫn đến rủi ro lãi suất cho ngân hàng
Do sự khác biệt về hình thức lãi suất huy động vốn và đi vay đã làm cho NHTM
bị rủi ro lãi suất, khi cho vay áp dụng lãi suất cố định và huy động tiền gửi theo lãi suấtthị trường
Do có sự không phù hợp về khối lượng giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụngnguồn vốn đó để cho vay
Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ tệ lạm phát thực tế, điều này làmcho vốn của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay
Đánh giá rủi ro lãi suất:
Trang 28Mục tiêu của quản trị rủi ro lãi suất là nhằm hạn chế tối đa tổn thất về thu nhập do
sự thay đổi của lãi suất thị trường, hay nói cách khác khi lãi suất thị trường thay đổi sẽkhông ảnh hưởng đến mức chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi và giá trị vốn chủ
sở hữu Chúng ta có thể sử dụng hệ số chênh lệch lãi ròng để đo lường và so sánh sự thayđổi của thu nhập khi có sự biến động của lãi suất thị trường
Hệ số chênh lệch lãi ròng là tỷ lệ thu nhập lãi ròng chia cho tài sản sinh lời hoặctổng tài sản
Hệ số chênh lệch lãi ròng = (Thu nhập lãi – Chi phí lãi) / Tổng tài sản
Quản trị rủi ro lãi suất là phải kiểm soát qui mô của hệ thống thu nhập lãi ròngbằng cách tác động đến cấu trúc danh mục tài sản vả nợ nhảy cảm lãi suất của ngân hàng.Khi lãi suất thị trường thay đổi nếu hệ số chênh lệch lãi giảm xuống thì đó là biểu hiệncủa rủi ro lãi suất Trong trường hợp này đòi hỏi nhà quản trị phải có các giải pháp đểduy trì hệ số này hoặc làm cho hệ số này tăng lên
Cách đo lường thường dùng nhất đối với tình trạng nhảy cảm lãi suất của mộtngân hàng là phân tích độ lệch
Độ lệch nhạy cảm lãi suất (GAP) = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nợ nhạy cảm lãi suất
+ Độ lệch (GAP) = 0: tức là tài sản nhạy cảm lãi suất bằng nợ nhạy cảm lãi suất,trong trường hợp này lãi suất thị trường tăng lên hoặc giảm xuống đều không ảnh hưởngđến hệ số chênh lệch lãi ròng tức là không xuất hiện rủi ro lãi suất
+ Độ lệch (GAP) > 0: tài sản nhạy cảm lãi suất lớn hơn nợ nhạy cảm lãi suất, trongtrường hợp này rủi ro xảy ra khi lãi suất thị trường giảm
+ Độ lệch (GAP) < 0: tài sản nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn nợ nhạy cảm lãi suất thìrủi ro xảy ra khi lãi suất thị trường tăng
Tài sản nhạy cảm với lãi suất bao gồm:
Trang 29+ Các khoản cho vay có lãi suất biến đổi.
+ Các khoản cho cay ngắn hạn
+ Chứng khoán có thời hạn còn lại dưới một năm
+ Tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàngkhác, các khoản đầu tư tài chính có thời hạn còn lại dưới một năm…
Nợ nhạy cảm với lãi suất bao gồm:
+ Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi giao dịch) và tiền tiết kiệmkhông kỳ hạn của khách hàng
+ Tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn còn lại dưới một năm
+ Các khoản vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ với thời hạn dưới một năm…
1.1.4.5 Rủi ro uy tín
Rủi ro uy tín là rủi ro dư luận đánh giá xấu về ngân hàng, gây khó khăn nghiêmtrọng cho ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ ngân hàng.Rủi ro tín dụng có thể là do có những hành động nhằm tạo một hình ảnh xấu về ngânhàng đối với công chúng trong một thời gian dài, cũng có thể phát sinh từ chính cáchành động của ngân hàng hoặc từ cách mà ngân hàng phản ứng trước hành động của bênthứ ba
Rủi ro uy tín có thể phát sinh trong trường hợp khách hàng gặp vấn đề với dịch vụđược cung ứng nhưng không nhận được thông tin cần thiết về sản phẩm sử dụng và cácquy trình giải quyết trục trặc Các nhầm lẫn, hành động phi pháp và lừa đảo của bên thứ
ba có thể khiến cho ngân hàng phải chịu rủi ro uy tín Rủi ro uy tín có thể phát sinh từcác trục trặc lớn ở các mạng lưới giao tiếp khiến khách hàng gặp khó khăn trong việctiếp cận với các quỹ hoặc thông tin tài khoản của họ, nhất là trong trường hợp không cócác phương tiện tiếp cận khác để thay thế Rủi ro uy tín cũng có thể phát sinh từ nhữngcuộc tấn công có chủ ý vào ngân hàng
Trang 301.1.4.6 Rủi ro hoạt động ngân hàng điện tử
Trong thời gian gần đây, hoạt động ngân hàng điện tử ở Việt Nam đã bắt đầu pháttriển rộng rãi, từng bước thay đổi hoạt động ngân hàng và đời sống xã hội Chúng ta ýthức được rằng đây là một bước phát triển tất yếu của hệ thống ngân hàng Việt Namtrong tiến trình hiện đại hoá, phát triển và hội nhập Nhưng chúng ta phải biết rằng bêncạnh những lợi ích mà ngân hàng điện tử mang lại cũng có không ít những rủi ro Tuynhiên điều đáng lo ngại hiện nay là các NHTM ở Việt Nam dường như chưa ý thức đầy
đủ về những rủi ro và tác hại của chúng
Quá trình nhận thức từ biết đến hiểu và nắm vững như quản lý và kiểm soát tốt hoạtđộng ngân hàng điện tử và những rủi ro liên quan là một quá trình lâu dài và không đơngiản Rất nhiều người đã lầm tưởng hoạt động ngân hàng điện tử với hoạt động cung cấpdịch vụ ngân hàng điện tử qua Internet hay điện thoại, nhưng thực tế không chỉ như vậy.Hoạt động ngân hàng điện tử là một khái niệm rộng hơn nhiều và có thể được định nghĩamột cách tổng quát: “Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động cung ứng các sản phẩm
và dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh điện tử” Như vậy, hoạt động ngân hàng điện tử
có thể bao gồm từ những sản phẩm và dịch vụ truyền thống như nhận tiền gửi, cho vay,thanh toán hoá đơn điện, nước… cho đến các việc phát hành, cung ứng và chấp nhậnthanh toán tiền điện tử
Do tính chất phức tạp của việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ và tốc độ phát triểnnhanh chóng của các hoạt động E-Banking (dịch vụ ngân hàng điện tử), mà rủi ro trongkinh doanh, chiến lược phát triển, bảo mật an ninh, uy tín và môi trường pháp lý tronghoạt động ngân hàng cũng ngày càng tăng
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản trong việc quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro ngân hàng dựa trên hàng loạt những nguyên tắc, trong đó bao gồmmột số nguyên tắc cơ bản:
Trang 31Nguyên tắc chấp nhận rủi ro: các nhà quản trị ngân hàng cần phải chấp nhận rủi ro
ở mức cho phép nếu như mong muốn có được thu nhập phù hợp từ những hoạt độngnghiệp vụ của mình Dĩ nhiên, mỗi nghiệp vụ cụ thể sau khi đánh giá mức độ rủi ro cácNHTM cần xây dựng chiến thuật “phòng chống rủi ro”, tuy nhiên, loại bỏ hoàn toàn rủi
ro trong hoạt động ngân hàng là không thể, bởi vì rủi ro ngân hàng - là sự hiện hữukhách quan vốn có trong các nghiệp vụ của ngân hàng Do đó, nguyên tắc đầu tiên trongquản trị rủi ro đối với các nhà quản trị ngân hàng là phải nhận biết những rủi ro chophép Việc chấp nhận mức độ, loại rủi ro ngân hàng nào chính là điều kiện quan trọng đểđiều tiết những tác động tiêu cực của chúng trong quá trình quản trị rủi ro
Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép Nguyên nhân này đòi hỏi phần lớn rủi rotrong “ gói rủi ro cho phép” phải có khả năng điều tiết trong quá trình quản lý, mà khôngphụ thuộc vào những hoàn cảnh khách quan và chủ quan của nó Chỉ những rủi ro nhưvậy thì các nhà quản trị ngân hàng mới có thể sử dụng tất cả “vũ khí” , “nghệ thuật” củamình để điều tiết chúng Ngoài ra, đối với các loại rủi ro không có khả năng “điềuchỉnh” cần phải được chuyển đẩy sang các công ty bảo hiểm bên ngoài
Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt Một trong những nguyên lý cơ bảncủa lý thuyết quản trị rủi ro là các loại rủi ro khá độc lập với nhau và sự thiệt hại do mộtloại nào đó trong “gói rủi ro cho phép” gây nên không nhất thiết sẽ làm tăng xác suấtxảy ra với các loại rủi ro khác Nói cách khác về nguyên tắc sự thiệt hại đối với ngânhàng do các loại rủi ro khác nhau gây nên là khá độc lập với nhau và quá trình quản lýchúng cần phải được điều tiết riêng biệt, không thể gộp các loại rủi ro khác nhau vàomột nhóm để đưa ra cùng một phương pháp điều hành
Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập
Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản trị rủi ro Các ngân hàng trong quátrình hoạt động của mình chỉ được phép chấp nhận các loại, mức độ rủi ro mà thiệt hạikhi chúng xảy ra ở mức không được cao quá mức thu nhập phù hợp Có nghĩa rằng, tất cảcác loại rủi ro có mức độ rủi ro cao hơn mức độ thu nhập mong đợi cần phải được loạibỏ
Trang 32Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính Giá trịthiệt hại mà ngân hàng mong muốn từ những khoản rủi ro phải phù hợp với phần vốn màngân hàng có thể trích dự phòng cho những thiệt hại khi chúng xảy ra Khi rủi ro xảy ra,
nó kéo theo sự thiệt hại thu nhập, giảm tiềm năng lợi nhuận và nhịp độ phát triển củangân hàng trong tương lai Do đó, giá trị thiệt hại phải phù hợp với mức vốn dự phòngcủa ngân hàng và ngân hàng phải xác định được mức độ phù hợp, bao gồm cả nhữngkhoản rủi ro không thể chuyển được sang cho đối tác hay các công ty bảo hiểm bênngoài
Nguyên tắc hiệu quả kinh tế Mục đích cơ bản của việc quản lý rủi ro ngân hàng làđiều tiết những tác động tiêu cực của rủi ro khi xảy ra Cùng với điều này, chi phí cùangân hàng bỏ ra để điều tiết phải thấp hơn giá trị thiệt hại do những rủi ro ngân hàng cókhả năng xảy ra và thậm chí ở mức độ giá trị cao nhất khi chúng xảy ra
Nguyên tắc hợp lý về thời gian Thời gian tồn tại của một nghiệp vụ ngân hàngcàng lâu thì biên độ xảy ra rủi ro càng lớn, khả năng điều tiết những tác động tiêu cực của
nó và tính kinh tế của quản lý rủi ro càng thấp Khi bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụnày thì ngân hàng phải đảm bảo mức độ có thu nhập phụ trội cần thiết không chỉ vì lợinhuận mà còn vì mục đích bù đắp những chi phí để điều tiết tác động của rủi ro trongtrường hợp chúng xảy ra
Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng Hệ thống quản lý rủi rocần phải được dựa trên nền tảng những tiêu chí chung của chiến lược phát triển của ngânhàng cũng như các chính sách điều hành từng hoạt động riêng biệt của ngân hàng
Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép Nguyên tắc này đòi hỏicác loại rủi ro nằm trong “gói rủi ro cho phép” phải có khả năng/ tính chuyển đẩy cao.Các loại rủi ro không tương thích với khả năng của ngân hàng trong việc điều tiết nhữnghậu quả tiêu cực khi chúng xảy ra hay không phù hợp với những yêu cầu cụ thể của chiếnlược và chính sách điều hành hoạt động của ngân hàng cần phải được loại bỏ khỏi “góirủi ro cho phép” Hay nói cách khác, chúng chỉ được cho vào khi có khả năng chuyển đẩycao sang các đối tác hoặc các công ty bảo bên ngoài
Trang 33Trên đây là 9 nguyên tắc cơ bản để từ đó mỗi ngân hàng xây dựng cho mình mộtchính sách quản trị rủi ro ngân hàng riêng biệt Chính sách quản trị rủi ro ngân hàng phảiđược xem là một cấu phần trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng và nó đòi hỏiphải xây dựng được một hệ thống phòng chống từ xa, đưa ra được giải pháp nhằm điềutiết các tác động xấu đến tình hình tài chính của ngân hàng.
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩnnhiều rủi ro như rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản… Bêncạnh đó, những rủi ro trong sản xuất kinh doanh của nền kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếpcũng tác động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Rủi ro xảy ra sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng Những tổn thất thường gặp
là mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trịcủa tài sản, Rủi ro làm giảm uy tín của ngân hàng, sự tín nhiệm của khách hàng và cóthể đánh mất thương hiệu của ngân hàng Một ngân hàng kinh doanh bị lỗ liên tục hoặcthường xuyên không đủ khả năng thanh khoản có thể dẫn đến một cuộc rút tiền quy môlớn và con đường phá sản là tất yếu Rủi ro khiến ngân hàng bị lỗ và bị phá sản, sẽ ảnhhưởng đến hàng ngàn người gửi tiền, hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng vốn làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng cao, sức mua giảm sút, thất nghiệp tăng, gâyrối loạn trật tự xã hội, và hơn nữa sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàngtrong nước và khu vực Ngoài ra, sự phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạncủa hàng loạt ngân hàng khác và ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế
Rủi ro trong hoạt động tín dụng còn ảnh hưởng đến kinh tế thế giới, bởi lẽ trongđiều kiện hội nhập và toàn cầu hoá về kinh tế hiện nay, nền kinh tế của mỗi quốc gia đềuphụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tưgiữa các nước gia tăng rất nhanh nên rủi ro tín dụng ở một nước luôn ảnh hưởng trực tiếp
Trang 34đến nền kinh tế các nước liên quan Thực tiễn đã chứng minh qua cuộc khủng hoảng tiền
tệ Châu Á (1997) và cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002)
Hoạt động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tín và chất lượng dịch vụ để thuhút nguồn vốn và dùng năng lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn vốn hiệu quả và pháttriển dịch vụ Trong hoạt động quản trị kinh doanh ngân hàng thì quản trị rủi ro là nghiệp
vụ vô cùng quan trọng mà các cấp lãnh đạo, các nhà quàn lý, điều hành phải đặc biệtquan tâm Những nhà quản trị NHTM cần được trang bị các kiến thức tốt về quản trị rủi
ro, đưa vào ứng dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro hiện đại, có đội ngũ nhân sự năngđộng và thiết lập hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ hữu hiệu là điều kiện cần thiết đểgiúp ngân hàng ngăn ngừa, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất và tránh khỏi những tổn thấtkhông dự tính trước được
Ngoài ra, nâng cao năng lực quản trị rủi ro là biểu hiện của việc lựa chọn cácphương án kinh doanh Ngân hàng phải tự lựa chọn phương án kinh doanh của mình chophù hợp với trình độ phát triển của ngân hàng Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận,ngân hàng buộc phải sử dụng tối ưu nguồn lực hiện có Nhưng việc sử dụng nguồn lực đóbằng cách nào để có hiệu quả nhất lại là một bài toán mà nhà quản trị phải lựa chọn cáchgiải Chính vì vậy, ta có thể nói rằng việc nâng cao năng lực quản trị không chỉ là công cụhữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị của mình mà còn là thước
đo trình độ của nhà quản trị
Việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro có các vai trò sau:
Thứ nhất, nâng cao năng lực quản trị rủi ro là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của các ngân hàng Sự tồn tại của ngân hàng được xác định bởi sự có mặtcủa ngân hàng trên thị trường, mà năng lực quản trị lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồntại đó, đồng thời mục tiêu của ngân hàng là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc
Do vậy, việc nâng cao năng lực là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các ngânhàng hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay
Thứ hai, nâng cao năng lực quản trị rủi ro là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến
bộ trong kinh doanh Chính việc thúc đẩy cạnh tranh, yêu cầu các ngân hàng phải tự tìm
Trang 35tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận
sự cạnh tranh Song khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các ngân hàngngày càng gay gắt và khốc liệt hơn
Thứ ba, việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro chính là nhân tố cơ bản tạo ra sựthắng lợi cho ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường Muốn tạo
ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng nâng cao nănglực quản trị rủi ro của mình Chính sự nâng cao năng lực quản trị rủi ro là con đườngnâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi ngân hàng
Hiệu quả kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro Trong hoạt độngkinh doanh, ngân hàng có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan mang lại rủi ro, nhiều yếu
tố bất khả kháng nên không tránh khỏi rủi ro Chính vì vậy, hàng năm các NHTM đượcphép và cần phải trích và lập quỹ dự phòng để bù đắp rủi ro và được hạch toán vào chiphí Những ngân hàng với mức độ rủi ro cao thì quỹ dự phòng phải trích ở mức cao dẫnđến lợi nhuận hạch toán của ngân hàng bị giảm sút Nếu rủi ro ở mức độ quá lớn có thểdẫn ngân hàng đến chỗ thua lỗ và thậm chí phá sản Vì thế việc quản trị tốt các rủi ro củangân hàng thương mại giúp hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả, phát triển bền vững, tănglợi thế cạnh tranh
Trang 36Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn trình bày khái quát những vấn đề chung về NHTM vàcác loại rủi ro thường xảy ra trong hoạt động kinh doanh tại các NHTM Việt Nam Luậnvăn đã giới thiệu các phương pháp, chỉ số để đánh giá các rủi ro trong kinh doanh ngânhàng tạo ra cơ sở lý luận cho những phân tích dựa trên thực tế hoạt động kinh doanh tạiVietinbank trong các chương sau Bên cạnh đó, luận văn đã đưa ra những nguyên tắc cơbản cho các NHTM, trên cơ sở đó mà mỗi ngân hàng tự xây dựng cho mình một chínhsách quản trị rủi ro phù hợp và có hiệu quả
Trang 37Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 SƠ LƯỢC VỀ VIETINBANK
2.1.1 Sơ lược về Vietinbank
Vietinbank được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ NHNN Việt Nam, làngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng và trụ cột của ngành ngân hàng ViệtNam Hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 3 Sở Giao dịch, 150 chi nhánh và trên
900 Phòng giao dịch/ Quỹ tiết kiệm, có 6 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuêTài chính, Công ty Chứng khoán Công thương, Công ty TNHH MTV Quản lý Nợ vàKhai thác Tài sản, Công ty TNHH MTV Bảo hiểm, Công ty TNHH MTV Quản lýQuỹ, Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Côngnghệ Thông tin, Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Là sánglập viên và cổ đông chính trong các công ty con:
- Sài Gòn Công thương Ngân hàng
- Indovina Bank (ngân hàng liên doanh đầu tiên tại Việt Nam)
- Công ty cho thuê Tài chính quốc tế Việt Nam (VILC)
- Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu Á (IAI)
- Công ty chuyển mạch tài chính quốc gia Việt Nam
Ngoài ra Vietinbank là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO9001:2000 và còn là thành viên chính thức của:
- Hiệp hội Việt Nam (VNBA)
- Hiệp hội các ngân hàng Châu Á (ABA)
Trang 38- Hiệp hội tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT).
- Hiệp hội thẻ Visa/ Master
- Hiệp hội các Định chế tài chính cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ APEC.Vietinbank thiết lập quan hệ đại lý với hơn 850 ngân hàng trên khắp thế giới, cóthể đi bằng điện SWIFT có gắn mã khóa thẳng trực tiếp tới hơn 18.000 ngân hàng chinhánh và văn phòng của họ trên toàn cầu
Vietinbank không ngừng nghiên cứu, cải tiến các sản phẩm, dịch vụ hiện có vàphát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu của khách hàng
Tình hình hoạt động kinh doanh
Cùng với những tín hiệu khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,hoạt động kinh doanh của Vietinbank đã có những bước phát triển khả quan, đã thực hiệnđạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch về tín dụng, huy động vốn, lợi nhuận, trích lập dựphòng rủi ro Qua 23 năm xây dựng và trưởng thành (1988 – 2011) Vietinbank đã vượtqua nhiều khó khăn, thử thách, đi tiên phong trong cơ chế thị trường, phục vụ và gópphần tích cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; khôngngừng phấn đấu vươn lên, khẳng định được vị trí là một trong những NHTM hàng đầu ởViệt Nam, có bước phát triển và tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều thành tựu to lớn trênmọi mặt hoạt động kinh doanh- dịch vụ ngân hàng; phát triển đồng đều cả kinh doanh đốinội và kinh doanh đối ngoại, công nghệ ngân hàng tiên tiến, có uy tín với khách hàngtrong nước và quốc tế Cụ thể qua số liệu sau:
Trang 39Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu của Vietinbank giai đoạn 2007-2010
Đơn vị: Tỷ đồng
2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Tổng tài sản 138.484 166.112 193.590 243.785 367.712Tổng cho vay và
đẩu tư kinh doanh 125.170 153.860 180.016 231.045 348.204Vốn huy động 123.966 151.459 174.905 220.591 339.699
Lợi nhuận/ vốn chủ
sở hữu (ROE) 13,80% 14,12% 14,71 % 20,61% 22,11%
(Nguồn: báo cáo thường niên của Vietinbank qua các năm)
Trang 40Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản Vietinbank qua các năm 2007-2010