1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam giai đoạn 2005-2015

78 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 429,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2.2 Thực trạng các yếu tố, chính sách pháp luật hình thành môi trường CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 3.1 Quan điểm của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

TRẦN NGÔ MINH QUÂN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005

- 2015

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG LÂM TỊNH

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2004

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

1.1 Cơ sở lý thuyết về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1

1.1.1 Khái niệm về đầu tư quốc tế và các hình thức đầu tư quốc tế 1 1.1.2 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế của các quốc gia 2

1.2 Các chiến lược, chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Quy trình đầu tư và chuổi giá trị của nhà đầu tư nước ngoài 3

1.2.3 Các chính sách và biện pháp khuyến khích FDI 5

1.3 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)của một số nước 7

1.3.1 Những chiến lược chính sách khuyến khích FDI thành công 7

1.4 Các vấn đề cơ bản thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 9

1.4.1 Các vấn đề quốc tế liên quan đến thu hút FDI 9 1.4.2 Các vấn đề cơ bản trong nước liên quan đến thu hút FDI 10

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

2.1 Tổng quan thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến năm 2004 14 2.2 Thực trạng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 15

2.2.1 Thực trạng chiến lược xúc tiến đầu tư 15

Trang 3

2.2.2 Thực trạng các yếu tố, chính sách pháp luật hình thành môi trường

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005

3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế

3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế xã

Phụ lục

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Toàn cần hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu hiện nay và Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài quá trình này Vừa qua, chúng ta đã có các bước hội nhập kinh tế quốc tế qua gia nhập ASEAN, APEC, ký hiệp định thương mại Việt Mỹ, Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt - Nhật … và các hiệp định, hiệp ước song và đa phương với các quốc gia, lãnh thổ và các vùng trên thế giới cũng như chuẩn bị các bước gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) Quá trình hội nhập luôn có những thời cơ và thách thức cho Việt Nam chúng ta trong điều kiện kinh tế nước ta còn nhỏ bé, sức cạnh tranh kém, trình độ nhân lực, khoa học công nghệ lạc hậu và thấp kém Do đó, để có thể đương đầu với những thách thức khi thực hiện quá trình hội nhập, đòi hỏi chúng ta phải đề ra nhiều chiến lược phát triển trong đó chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài nói chung và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói riêng là một trong những chiến lược trọng tâm của quá trình hội nhập

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu của luận văn là (1) nghiên cứu các cơ sở lý thuyết, các kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia; (2) trên cơ sở bảng câu hỏi điều tra, phân tích để tìm các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI tại Việt Nam đến 2004 Tác giả nghiên cứu đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI và đề ra các giải pháp thu hút FDI giai đoạn 2005 -

2015

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng là lĩnh vực FDI và phạm vi nghiên cứu của luận văn là các doanh nhiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lập bảng câu hỏi điều tra khảo sát, thống kê và phân tích tổng hợp, sử dụng phần mềm phân tích thống kê và quản trị hệ thống dữ liệu (SPSS) để thu nhận kết quả

5 Kết cấu của đề tài

Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Nghiên cứu cơ sở lý thuyết; các chiến lược và kinh nghiệm của các quốc gia trong thu hút FDI; các quy trình của nhà đầu tư nước ngoài; điều tra, phân tích tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đến năm

2004

Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đến năm 2004: Trên cơ sở nghiên cứu khảo sát các vấn đề cơ bản của Việt Nam và kết quả điều tra phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong việc thu hút FDI, nghiên cứu đánh giá thực trạng của các yếu tố ảnh hưởng đó đến năm 2004 Đồng thời, tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội, nguy cơ để xác định các giải pháp hoàn thiện thu hút FDI cho giai đoạn 2005 - 2015 tại Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam giai đoạn 2005 -2015: Bản luận văn nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thu hút FDI và các kiến nghị để nâng cao khả năng thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài cho giai đoạn 2005 – 2015 tại Việt Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI (FDI) 1.1 Cơ sở lý thuyết về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1.1.1 Khái niệm về đầu tư quốc tế và các hình thức đầu tư quốc tế

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định Về bản chất, đầu tư quốc tế là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn xuất khẩu hàng hóa

1.1.1.2 Các hình thức đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế có các hình thức sau:

Một là, đầu tư trực tiếp (FDI): là hình thức nhà đầu tư nước ngoài góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ để cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Đây là hình thức đầu tư chủ yếu Hai là, đầu tư gián tiếp (FPI): là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài chỉ được góp số vốn tối đa nào đó dưới hình thức mua cổ phiếu, sao cho bên nước ngoài không tham gia trực tiếp điều hành đối tượng họ bỏ vốn đầu tư

Ba là, tín dụng quốc tế: thực chất đây cũng là hình thức đầu tư gián tiếp, nhưng dưới dạng cho vay và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

1.1.2 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế của các quốc gia

1.1.2.1 Nguyên nhân hình thành đầu tư trực tiếp nước ngoài

Các nguyên nhân hình thành đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm:

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh của quốc gia khác, giảm thiểu chi phí, tăng lợi nhuận do lợi thế so sánh và trình độ phát triển của các nước không giống nhau dẫn tới chi phí sản xuất ra sản phẩm khác nhau;

Trang 7

- Toàn cầu hóa gia tăng tạo điều kiện thuận lợi để các công ty xuyên quốc gia bành trướng mạnh mẽ chiếm lĩnh và chi phối thị trường thế giới.;

- Xu hướng giảm dần tỷ suất lợi nhuận ở các nước công nghiệp phát triển cùng với hiện tượng dư thừa tương đối tư bản nên đầu tư ra nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn;

- Đầu tư ra nước ngoài nhằm nắm được lâu dài và ổn định thị trường, nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu chiến lược với giá rẻ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong nước;

- Cuối cùng, tình hình bất ổn về chính trị an ninh quốc gia, cũng như nạn tham nhũng hoàn hành ở nhiều khu vực trên thế giới, nạn rửa tiền

1.1.2.2 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế của các quốc gia

FDI đã đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế thể hiện qua các mặt:

- Là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế, mang lại cho nước tiếp nhận đầu tư một lượng ngoại tệ rất lớn giúp cho các quốc gia đầu tư vào kết cấu hạ tầng, phát triển các ngành kinh tế góp phần phát triển kinh tế;

- Góp phần tăng thu ngân sách, góp phần cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia;

- Với sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, làm cho kinh tế của các vùng lãnh thổ của quốc gia phát triển theo hướng chuyển dịch sang các ngành

công nghiệp, dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế;

- Các dự án FDI đóng góp quan trọng trong nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ tạo nên sự kích thích các doanh nghiệp nội địa phải đổi mới tư duy quản lý để tạo được những sản phẩm có khả năng cạnh tranh;

- Các dự án FDI góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế các nước hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới

Trang 8

1.1.3 Các nội dung thu hút FDI

Thu hút FDI là nhằm mục đích lôi kéo, kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến điều kiện kinh tế chính trị xã hội, các lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư để nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn lập trụ sở, cơ sở sản xuất, chuyển giao công nghệ và tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược, chính sách đầu tư tại nước tiếp nhận Bên cạnh đó, nước tiếp nhận đầu tư còn nhận được nhiều lợi ích khác như nâng cao trình độ quản lý, trình độ lao động, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế … Nội dung chủ yếu của thu hút FDI là việc đề ra các chiến lược, chính sách, các biện pháp, vạch ra lộ trình tư do hoá thương mại và đầu tư, loại bỏ các hạn chế, rào cản đầu tư, hình thành các khuyến khích đầu tư

1.2 Các chiến lược, chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1.2.1 Quy trình đầu tư và chuỗi giá trị của nhà đầu tư nước ngoài

Để thực hiện đầu tư sản xuất kinh doanh tại một quốc gia nào, đòi hỏi nhà đầu tư thực hiện hàng loạt công việc có liên quan theo một quy trình nhất định (xem sơ đồ 1.1) Quy trình đầu tư đó, nhà đầu tư không chỉ quan tâm giá trị về tính ổn định về kinh tế, chính trị mà còn quan tâm các giá trị như: thông tin phải minh bạch, dễ tiếp cận, thủ tục phải đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém, năng lực cơ quan Nhà nước phải đồng bộ và đơn giản, nhập cảnh, hải quan, thuế, sở

hữu trí tuệ, chính sách đất đai, giá phí, sự đồng bộ của hệ thống pháp luật…

1.2.2 Các chiến lược thu hút FDI

Có hai chiến lược thu hút FDI là chiến lược thu hút FDI về thay thế hàng nhập khẩu và chiến lược thu hút FDI hướng về xuất khẩu Chiến lược FDI về thay thế hàng nhập khẩu nhằm thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn lập trụ sở, cơ sở sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư để tổ chức sản xuất kinh doanh những mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu

Trang 9

Tìm đối tác đầu tư

Hoàn tất hồ sơ xin giấy phép đầu tư

Đăng ký nhập khẩu máy móc, giám định hải quan

Lập thủ tục thiết kế, xin giấy phép xây dựng

Đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa

Lập luận chứng kinh tế kỹ thuật

Xác định, đánh giá cơ hội đầu tư

Đàm phán liên kết dầu tư

Xin thuê đất

Nghiên cứu các chiến lược phát

triển và môi trường đầu tư

Đăng báo, đăng ký kinh

doanh, chứng chỉ hành nghề

Lập Văn phòng, ban điều hành

Hủy ngang, tạm ngừng hoặc kéo giãn tiến độ thực hiện dự án

Thẩm định dự án đầu tư

Ký hợp đồng cung ứng lao động, nguyên nhiên vật liệu …

Xin giấy phép đầu tư hoặc đăng ký

Tái đầu tư, chuyển lơi nhuận về nước

động, thanh lý doanh nghiệp

Nghĩa vụ thuế, kiểm tra

Thay đổi vốn, tổ chức lai doanh nghiệp

Điều chỉnh giấy phép đầu tư, điều chỉnh vốn đầu tư

Đăng ký nhân sự, trụ sở, con dấu,

chế độ kế toán …

Xin phép cho lao động nước ngoài

Đăng ký thủ tục nhập cảnh, lưu trú,

phương tiện điện nước, nhãn hiệu,

Tổ chức SXKD, chuyển giao CN

Trang 10

Ngược lại, chiến lược FDI hướng về xuất khẩu, các nhà đầu tư thành lập trụ sở, cơ sở sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư để tổ chức sản xuất các mặt hàng để xuất khẩu

Cả hai chiến lược trên đều có cùng mục đích là thu hút vốn, công nghệ, năng lực quản lý … cho công cuộc phát triển nền kinh tế nội địa để từng bước có đủ sức hội nhập quốc tế Tuy nhiên, chiến lược thu hút FDI thay thế hàng nhập khẩu còn có thể đáp ứng thị trường nội địa Do đó, nhiều nước hiện nay sử dụng chiến lược thu hút FDI hỗn hợp vừa thay thế nhập khẩu, vừa hướng xuất khẩu

1.2.3 Các chính sách và biện pháp khuyến khích FDI

1.2.3.1 Nguyên tắc thu hút FDI

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, các quốc gia muốn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cần tuân thủ một số nguyên tắc chủ yếu sau:

- Nguyên tắc cùng có lợi: là nguyên tắc vừa không để thiệt hại đến lợi

ích cần có và hợp lý của nước tiếp nhận, vừa phải chấp nhận chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mức độ đóng góp của các bên hợp tác;

- Nguyên tắc tối huệ quốc: Là nguyên tắc chống phân biệt đối xử giữa

các nhà đầu tư khác nhau hoạt động trên cùng lãnh thổ, để tạo ra môi trường đầu

tư bình đẳng giữa các nhà đầu tư;

- Nguyên tắc đối xử quốc gia: là nguyên tắc nước tiếp nhận FDI dành

điều kiện thuận lợi (ưu đãi) cho các nhà đầu tư từ các nước khác đến đầu tư không kém hơn những điều kiện nhà đầu tư nội địa được hưởng;

Bên cạnh đó, các quốc gia còn tuân thủ một số nguyên tắc như nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc công khai - minh bạch, toàn diện, trưng thu và bồi thường, quốc hữu hóa…

Trang 11

1.2.3.2 Các phương pháp thu hút FDI

Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia nhìn chung đều thực hiện phương pháp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh sao cho thật minh bạch, rõ ràng và lành mạnh Bên cạnh đó, để thu hút một số lĩnh vực, ngành đặc biệt cần thiết cho nền kinh tế hoặc tạo ra một môi trường đầu tư cạnh tranh hơn, các quốc gia sử dụng phương pháp sau:

- Phương pháp ưu đãi đầu tư: Là phương pháp mà nước sở tại sử dụng

một số biện pháp ưu đãi về thuế (miễn, giảm), hỗ trợ về tài chính, tín dụng, nhân lực và kỹ thuật … cho nhà đầu tư

- Phương pháp bảo hộ đầu tư: Là phương pháp mà nước sở tại sử dụng

để hạn chế bớt các nhà đầu tư nước ngoài khác tham gia theo các hiệp định, hiệp ước hợp tác được ký kết bởi nước sở tại và một nước hoặc một số nước (như Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nhật)

1.2.3.3 Các chính sách và biện pháp khuyến khích FDI

Không nằm ngoài các chính sách kinh tế vĩ mô, các Chính phủ thực hiện chính sách khuyến khích FDI như: chính sách thương mại, chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách tài khóa chính sách về lao động, môi trường, đất đai ….Bên cạnh đó, Chính phủ còn thu hút đầu tư qua các chính sách vi mô như chọn lọc một số ngành, lĩnh vực hoặc một số vùng để tạo dựng năng lực cạnh tranh trên thị trường góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

Từ những chính sách trên, Chính phủ, lãnh đạo các vùng lãnh thổ vạch ra các biện pháp ưu đãi cụ thể để thực thi chính sách như ưu đãi về thuế, thời gian hưởng ưu đãi, các mức trợ cấp, mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vấn đề sở hữu trí tuệ, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ hoạt động xúc tiến thuơng mại và đầu tư …

Trang 12

1.3 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của một số nước Để đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia thường sử dụng một cách tổng hợp các chính sách khuyến khích và hạn chế đối với FDI Những năm 60 và 70 thế kỷ 20, xu hướng hạn chế đối với FDI nhiều hơn là khuyến khích và nhiều nước đã thất vọng vì kết quả FDI Những năm gần đây, việc áp dụng chính sách khuyến khích uyển chuyển hơn, có nhiều chính sách khuyến khích đã thực hiện để hấp dẫn các nhà đầu tư

1.3.1 Những chiến lược, chính sách khuyến khích FDI thành công

Để tăng cường thu hút FDI, các quốc gia thường sử dụng các chính sách khuyến khích có thể được phân chia thành hai loại: “bảo hộ hàng hóa” làm thay đổi giá cả của những mặt hàng do các công ty đầu tư nước ngoài bán hoặc mua;

“bảo hộ yếu tố” làm thay đổi giá cả đầu vào của quá trình sản xuất (xem phụ lục 1) Thành công tại các nước trên có thể đúc kết những bài học cho Việt Nam: Một là, các chính sách miễn thuế đối với dự án FDI cần phải thực hiện trong thời gian dài để đảm bảo các dự án đạt hiệu quả cao;

Hai là, Chính phủ cần tài trợ cho các ngân hàng để thực hiện chính sách lãi suất ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài để góp phần phát triển thị trường vốn bản địa và tăng hiệu quả các dự án đầu tư do giảm chi phí;

Ba là, cải tổ cơ cấu hành chính, các quy định pháp luật thật cụ thể, rõ ràng, nhất quán và ổn định, có chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế cũng như các ngành, tiêu chuẩn công nghiệp và đo lường, hạn chế thông tin … bài trừ tệ nạn quan liêu tham nhũng vốn dĩ là một trong những chính sách rất nhạy cảm đối với các nhà đầu tư Những quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc đã gặt hái nhiều thành công

Trang 13

1.3.2 Những chiến lược, chính sách hạn chế FDI

Bên cạnh những chính sách khuyến khích FDI, các quốc gia đang phát triển đều áp dụng chính sách hạn chế đầu tư như lập ra danh mục dự án, quy định quyền sở hữu và kiểm soát, tỷ lệ xuất khẩu, tỷ lệ nội địa hóa, các chính sách về an ninh quốc phòng … (xem phụ lục 2) Có thể rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, các hạn chế vì mục đích bảo hộ sản xuất trong nước có thể kích thích các công ty nội địa phát triển và trưởng thành với một số chi phí xã hội do giá cao và chất lượng hàng hóa thấp nhưng phần nào kìm hãm sự phát triển của những ngành công nghiệp, của hai quốc gia nhưng lại bảo vệ các ngành công nghiệp phụ trợ như tại Trung Quốc;

Hai là, quyền sở hữu nước ngoài của các công ty bị giới hạn như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Singapore … có thể dẫn đến sự giảm thiểu FDI vào những ngành công nghiệp công nghệ cao, những ngành đặc biệt quan tâm trong thế kỷ 21

Ba là, hạn chế tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc và tỷ lệ nội địa hoá đều làm tăng chi phí của các nhà đầu tư nước ngoài dẫn đến tình trạng sản xuất không hiệu quả và không có khả năng cạnh tranh nếu không được bảo hộ và cũng có thể nảy sinh sự trả đũa trong thương mại quốc tế;

Bốn là, kinh nghiệm thành công trong thu hút FDI từ các quốc gia cho thấy bên cạnh chính sách khuyến khích về cải tổ hành chính và chế độ một cửa một dấu, các chính sách làm hạn chế về thủ tục đầu tư đang dần được đơn giản hóa như trường hợp Singapore

Năm là, các quốc gia phải xây dựng được chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế, các ngành, phải có cơ sở hạ tầng phềm mềm rõ

Trang 14

ràng, trình độ năng lực các cơ quan quản lý nhà nước phải ngang tầm, cơ sở hạ tầng kinh tế đầy đủ, lực lượng lao động phong phú lành nghề, quy định về tiêu chuẩn công nghiệp và đo lường … thông tin phải được minh bạch

1.4 Các vấn đề cơ bản thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

1.4.1 Các vấn đề quốc tế liên quan đến thu hút FDI

1.4.1.1 Đối thủ cạnh tranh từ Trung Quốc

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 là nguyên nhân nhiều nhà đầu tư vào thị trường Trung Quốc Sâu xa hơn, Trung Quốc chiếm nhiều ưu thế hơn các nước ASEAN về quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng, chi phí sản xuất … Hơn nữa, Trung Quốc được đánh giá có môi trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN đối với các ngành công nghiệp chế tạo, có các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển

… chưa kể đến Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001 Tuy vậy, lý do lớn nhất mà các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ASEAN đặc biệt đối với ngành công nghiệp chế tạo, cơ khí chính xác, điện, điện tử giao thông vận tải, dịch vụ … là

triển vọng mở rộng thị trường

1.4.1.2 Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, hiệp định bảo hộ thúc đẩy tự do đầu

tư giữa Nhật và Việt Nam và vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam

Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA) đề cập đến khả năng môi trường đầu tư của Việt Nam trong tương lai được cải thiện mạnh mẽ hơn nữa Tại điều 2 về “ đối xử bình đẳng và quy chế tối huệ quốc” trong chương 4 về “Đầu tư” của BTA sẽ áp dụng chính sách bình đẳng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư Việt Nam Ngoài ra, theo chương 5 về “Tính minh bạch”, Chính phủ Việt Nam có nghĩa vụ nhanh chóng công khai các thủ tục hành chính, các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư Hơn nữa, BTA còn đề cập đến việc nới lõng các hạn chế về tham gia vào ngành dịch vụ của Việt Nam nếu các doanh nghiệp Việt Nam không thể cung ứng dịch vụ với chất lượng cao, gía thành hạ

Trang 15

Bên cạnh đó, 14/11/2003 Hiệp định Bảo hộ, thúc đẩy và tự do đầu tư giữa Nhật Bản và Việt Nam đã được ký kết, khi hiệp định này có hiệu lực thì hoạt động xây dựng khung pháp lý nhằm thu hút đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư quốc tế sẽ được thực hiện trên quy mô lớn Một chi tiết nữa là Việt Nam muốn gia nhập WTO vào năm 2005 nên các quy định pháp luật về đầu tư có thể sẽ được xem xét một cách toàn diện nhằm xóa bỏ tỷ lệ nội địa hóa vào năm 2005 hoặc sau đó

1.4.2 Các vấn đề cơ bản trong nước liên quan đến thu hút FDI

Dựa vào những kinh nghiệm thành công và những hạn chế trong việc thu hút FDI của các nước trong khu vực, chúng tôi đã tiến hành lập bảng 53 câu hỏi được nhóm thành nhiều 9 lĩnh vực khác nhau và điều tra khảo sát 317 doanh nghiệp FDI để tìm hiểu các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng thu hút FDI vào Việt Nam Kết quả phân tích SPSS cho thấy, với mức ý nghĩa 0.037 và 0.046 đề nhỏ hơn mức ý nghĩa chuẩn 0.05 (độ tin cậy 95%) thì chỉ có hai trong ba yếu tố xem xét có ảnh hưởng đến chiến lược tăng trưởng thu hút FDI, đó là “chiến lược xúc tiến đầu tư” và “môi trường đầu tư” với phương trình hồi quy bội:

Bảng 1.1: Kết quả phân tích ANOVA

1 Chiến lược xúc tiến đầu tư 0.037

Bảng 1.2: Phương trình hồi quy tuyến tính

a Predictors: (Constant), cau b3, cau b2

b Dependent Variable: nganh nghe

Trang 16

Coefficients(a)

Unstandardized Coefficients

Standardized Coefficients

1

a Dependent Variable: nganh nghe

Qua Bảng1.2, ta thấy với biến b2 và biến b3 có mối liên hệ với biến a với sigb2= 0.001 và sigb3= 0.000 Nhìn chung, chiến lược xúc tiến đầu tư và môi trường đầu tư có quan hệ tuyến tính với chiến lược thu hút đầu tư (ngành nghề đầu tư) Do đó, phương trình tuyến tính là:

Y {0:1}: Biến a thể hiện mức độ hài lòng về chiến lược thu hút FDI

X1{0:1}: Biến b2 mức độ hài lòng về chiến lược xúc tiến đầu tư

X2{0:1}: Biến b3 mức độ hài lòng về môi trường đầu tư

Y = 0.283 + 0.311 X 1 + 0.337 X 2

Tương tự, với mức ý nghĩa 0.05, chọn ngẫu nhiên các câu hỏi đại diện cho nhiều nhân tố và sử dụng phương pháp phân tích Chi-quare Test để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hai yếu tố trên, kết quả: có 4 trong 5 nhân tố được xem xét có ảnh hưởng đến yếu tố 1 “chiến lược xúc tiến đầu tư” (Bảng 1.3) và có có

24 nhân tố đại diện ảnh hưởng đến yếu tố 2“các yếu tố, chính sách pháp luật hình thành môi trường đầu tư” (xem Phụ lục 3) được nhóm thành 4 lĩnh vực (Bảng 1.4)

Bảng 1.3: Kết quả Phân tích Chi –Square Test của Yếu tố 1

Quy hoạch phát triển công nghiệp cơ bản 0.049

Chưong trình xúc tiến đầu tư 0.039

Trang 17

Bảng 1.4: Nhóm nhân tố đại diện Yếu tố 2

Nhóm nhân tố đại diện

Cơ sở hạ tầng kinh tế

Cơ sở hạ tầng phần mềm liên quan đến đầu tư Hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến đầu tư Năng lực của các cơ quan thi hành pháp luật

Do đó, chúng tôi cho rằng, để thu hút vốn FDI vào Việt Nam, chúng ta cần phải nghiên cứu thực trạng những nhân tố ảnh hưởng trên để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và từ đó, đề ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói chung, bao gồm “Xây dựng giải pháp xúc tiến đầu tư” và “Cải thiện các yếu tố, chính sách pháp luật hình thành môi trường đầu tư” Nội dung chính của các giải pháp như sau:

1.4.2.1 Xây dựng và thực hiện giải pháp xúc tiến đầu tư nước ngoài:

Trọng tâm của giải pháp xúc tiến đầu tư nhằm xây dựng chế độ ưu đãi cho nhà đầu tư, ngoài ra, việc xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ vốn được coi là điểm yếu trên phương diện thu hút đầu tư của Việt Nam cũng là giải pháp quan trọng trong giai đoạn 2005 – 2015

1.4.2.2 Các giải pháp cải thiện các yếu tố, chính sách pháp luật hình thành

môi trường đầu tư

- Các vấn đề liên quan đến củng cố cơ sở hạ ầng kinh tế như giao thông đô thị, quy hoạch chức năng đô thị; tăng cường hiệu quả trong vận tải lưu thông; điện lực, bưu chính viễn thông, xử lý nước thải và chất thải công nghiệp …;

Trang 18

- Xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, chế độ tư pháp, xây dựng tiêu chuẩn công nghiệp và chế độ quản lý đo lường, thống kê kinh tế… ở Việt Nam có tốc độ tiến triển chậm nên cần phải từng bước cải thiện các vần đề này;

- Các quy định về pháp luật có liên quan mật thiết đến hoạt động kinh doanh sản xuất của khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được cải tiến trong hệ thống pháp luật như liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách đất đai, lao động, chính sách thuế, hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ;

- Năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật: Công cuộc cải thiện môi trường kinh doanh thông qua việc nâng cao năng lực của các cơ quan này sẽ đóng góp to lớn trong hoạt động thu hút FDI vào Việt Nam như hải quan có nhiều vấn đề liên quan đến tính minh bạch và độ tin cậy của nghiệp vụ hải quan,

cơ quan thuế , bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ …

Tóm tắt chương 1:

Trong chương này, chúng tôi đặt trọng tâm là trình bày các cơ sở lý luận có thể ứng dụng trong thu hút FDI Tại Việt Nam

Chương 1 Bản luận văn nêu các khái niệm chung về đầu tư quốc tế, các hình thức đầu tư quốc tế trong đó có phân tích nhấn mạnh đến vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế của các quốc gia Sau đó, đi sâu vào phân tích các chiến lược, chính sách thu hút FDI, nêu ra quy trình đầu tư và chuỗi giá trị của nhà đầu tư, các biện pháp khuyến khích FDI Tiếp theo là khảo sát về kinh nghiệm thu hút FDI của một số quốc gia trong thời gian qua để học hỏi những điểm hay và tránh những sai lầm họ đã mặc phải Cuối cùng và quan trọng nhất là đề xuất các nội dung chính trong việc xây dựng các giải pháp thu hút FDI trong điều kiện của Việt Nam hiện nay của tác giả Trong đó nêu ra các vấn đề

Trang 19

quốc tế, trong nước, các công cụ phân tích, xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính về thu hút FDI, các yếu tố, nhân tố có được từ kết quả phân tích ảnh hưởng đến chiến lược thu hút FDI của Việt Nam

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2004 2.1 Tổng quan thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến năm 2004

Với kết quả thu hút FDI 7 tháng đầu năm 2004, đến nay cả nước có 4.722 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký 42,7 tỷ USD, chiếm 35% giá trị sản lượng công nghiệp của Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, đóng góp đáng kể vào GDP (trung bình giai đoạn 1996 -2004 đạt 13%) và đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu góp phần cải thiện cán cân thanh toán (giai đoạn 1996 – 2000 đạt 10,6 tỷ USD và giai đoạn 2001 – 2004 đạt trên 20 tỷ USD), giả quyết công ăn việc làm cho trên 70 vạn người cũng như đóng góp

quan trọng vào ngân sách Nhà nước (10%) (Nguồn Bộ Kế hoạch và đầu tư)

Bảng 2.1: Kết quả thu hút FDI giai đoạn 1996 – 7/2004 (ĐVT: triệu USD)

Nguồn: Báo Sài Gòn Giải Phóng 30/3/2004, Công anTp HCM 7/8/2004

Tình hình kinh tế chính trị, xã hội ổn định, an ninh trong những năm qua được đảm bảo, môi trường đầu tư - kinh doanh tiếp tục được cải thiện Quan hệ

Trang 20

đối ngoại giữa Việt Nam và các nước tiếp tục được mở rộng, nhiều chuyến thăm và làm việc cấp cao của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã được tiến hành ở nhiều quốc gia, gắn liền với việc quảng bá hình ảnhViệt Nam và vận động xúc

tiến thương mại đầu tư Tuy nhiên, kết quả thu hút FDI trong những năm giai đoạn 2001 - 2004 chưa tương xứng với tiềm năng và đang có chiều hướng giảm sút Một vấn đề bất ổn nữa là số dự án giải thể tăng cao so với số dự án đăng ký

(Nguồn: Báo Sài Gòn Giải Phóng 30/3/2004 và tác giả)

Đồ thị 1.1 biểu diễn kết quả thu hút FDI giai đoạn 1996 - 7/2004

2.2 Thực trạng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

2.2.1 Thực trạng chiến lược xúc tiến đầu tư

Thực trạng chiến lược xúc tiến đầu tư được xem xét trong các lĩnh vực sau:

2.2.1.1 Chiến lược và quy hoạch tổng thể các ngành công nghiệp

Khiếm khuyết lớn nhất hiện nay là xử lý phối hợp, tổng hợp các mối quan hệ đa ngành, liên vùng và xác định nội dung ưu tiên trong chính sách công nghiệp cũng như lợi thế cạnh tranh chủ yếu của quốc gia trong xây dựng chiến lược quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp cơ bản Định hướng phát triển chưa

Trang 21

khớp với cơ cấu kinh tế đã lựa chọn Chỉ tiêu quy hoạch định lượng, hiện vật còn nhiều khiến mục tiêu quy hoạch cứng nhắc, không thực tiễn Các giải pháp chưa toàn diện và khoa học, đa số mang ý tưởng, thiếu hệ thống pháp lý, chính sách, phương thức tổ chức và biện pháp chế tài để đảm bảo thực hiện Công tác dự báo và phân tích còn yếu, bất cập với thực tế đã làm nảy sinh những vấn đề lớn trong quản lý doanh nghiệp

Việc xây dựng chiến lược và quy hoạch trong nhiều trường hợp lại do các tổng công ty thuộc ngành công nghiệp đó tham gia, nhiều vấn đề quản lý doanh nghiệp thường xuyên được ban hành bởi nhiều bộ ngành không phải là chủ quản cho thấy thiếu một chính sách nền tảng nhất quán, minh bạch và không dự đoán trước được Hoặc như không có nội dung cụ thể và chi tiết nào được đưa ra trong chính sách thuế quan trung hạn hướng tới AFTA, hay chính sách trung và dài hạn hướng tới WTO Một thực tế khác là nhiều địa phương, ngành vẫn còn phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước thể hiện ngay từ khâu quy hoạch sản phẩm, phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế

2.2.1.2 Ngành công nghiệp phụ trợ

Dù Chính phủ rất quan tâm đến sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước, nhưng đến nay chỉ quan tâm đến các biện pháp ưu đãi về thuế, chưa có chính sách lâu dài và ổn định trong khi nhu cầu mua trong nước rất lớn và cần thiết, do đó, vốn nước ngoài chảy sang các nước trong khu vực để tận dụng ngành công nghiệp phụ trợ đi trước thay vì tạo điều kiện xây dựng ở Việt Nam Trình độ phần lớn các doanh nghiệp trong nước chỉ dừng lại ở mức tiêu dùng thông thường, rất ít doanh nghiệp (dưới 30%) có khả năng đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp lắp ráp Ngoài ra, Chính phủ chưa thật sự quan tâm nhiều trong việc làm đầu mối đào tạo nhân lực, xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ, liên kết các doanh nghiệp, thực hiện sự

Trang 22

yểm hộ, phát triển nguồn cung cấp, phát triển các vệ tinh… Bên cạnh đó, đối với doanh nghiệp FDI, Chính phủ không áp dụng bất cứ một ưu đãi nào để thu hút công nghiệp phụ trợ phục vụ thị trường trong nước

2.2.1.3 Hoạt động xúc tiến đầu tư

Thời gian qua, mặt dù đã có nhiều nỗ lực nhất định trong hoạt động xúc tiến đầu tư nhưng hoạt động này diễn ra hết sức tản mạn, không hiệu quả và thiếu chính sách nhất quán đồng bộ Công tác xây dựng hình ảnh chỉ tập trung thông qua phái đoàn, thông tin cung cấp lại giới hạn, trùng lắp, không đầy đủ, chưa quan tâm xây dựng hình ảnh qua nhiều kênh và hình thức thu hút khác nhau Mạng lưới văn phòng xúc tiến chưa dàn trải đều, nội dung đơn điệu, ngân sách hoạt động thiếu thốn, không có cơ sở dữ liệu kết nối nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, mạng lưới văn phòng đại diện tại nước ngoài chưa có ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động thu hút Dịch vụ tư vấn đầu tư, hỗ trợ cấp phép, giải quyết vướng mắc … rất yếu và tốn kém, lãng phí thời gian của nhà đầu tư

2.2.1.4 Thủ tục xuất nhập cảnh

Việc quy định nhiều cơ quan đầu mối làm thủ tục xuất nhập cảnh (công

an, lãnh sự của Việt Nam, đại diện ngoại giao …) sẽ tạo những khó khăn khi người lao động nhập cảnh vào Việt Nam và việc quản lý lao động người nước ngoài nói chung còn nhiều bất cập khắc khe từ đối tượng đến cơ quan thụ lý, đặc biệt là sự phối hợp không thống nhất giữa các cơ quan chức năng Thời gian thực hiện thủ tục mất rất nhiều thời gian (01 tuần đến 10 ngày) trong khi có trường hợp thời gian lưu trú chỉ 15 ngày) không phù hợp cho những nhà nghiên cứu thị trường …, bên cạnh đó, mức lệ phí làm thủ tục lại quá cao so với một số nước trong khu vực làm hạn chế việc thu hút lao động nước ngoài cũng như khách du lịch nước ngoài

Trang 23

Bảng 2.2: Lệ phí thủ tục nhập cảnh

Nhiều lần (Tháng) Thẻ tạm trú (Năm)

Thị thực có giá trị 1 lần

<= 6 > 6 1 1 -2 2 -3

Nguồn: Bộ Tài chính

2.2.2 Thực trạng các yếu tố, chính sách pháp luật hình thành môi trường đầu

2.2.2.1 Cơ sở hạ tầng kinh tế

Sau 18 năm mở cửa, Việt Nam có những bước tiến rõ nét được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế thừa nhận, tuy nhiên vấn đề cơ sở hạ tầng kinh tế vẫn bị phàn nàn, đặc biệt các yếu tố sau:

- Hệ thống giao thông và hiệu quả vận tải, lưu thông

Hệ thống giao thông đường bộ của Việt Nam có từ thời Pháp, Mỹ, được quy hoạch quá lạc hậu so với nhu cầu phát triển Hiện nay, chỉ có những đường quốc lộ được đầu tư tương đối đầy đủ còn đối với các đường nội tỉnh, liên tỉnh thì đầu tư chấp vá và không đồng bộ kết hợp với mạng lưới giao thông lại quá mỏng Tại các thành phố lớn lại phát sinh nhiều vấn đề như đường sá chồng chéo, an toàn giao thông thấp, ùn tắc giao thông xảy ra thường xuyên Tình trạng không tuân thủ luật giao thông, ý thức tự giác đã từ lâu bị quên lãng trong người dân và công tác giáo dục, tuyên truyền không thực hiện đầy đủ và thường xuyên

Trong lĩnh vực vận tải hàng hóa, tình trạng thu phí giao thông, nhũng nhiễudiễn ra thường xuyên, việc hạn chế thời gian ra vào nội đô chỉ là giải pháp tình thế nhưng chúng ta chưa xây dựng các cảng, điểm tập kết hàng hóa ở xung quanh thành phố Hơn nữa, do kết cấu đô thị một số thành phố có từ thời Pháp, Mỹ không phù hợp nên cơ sở hạ tầng đô thị không thể đáp ứng nhu cầu hiện

Trang 24

nay Chi phí vận chuyển đường sắt tương đối cao trong khi vận tải đường bộ (xe

tải) không hiệu quả, các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu

vận tải chất lượng cao Trong mậu dịch quốc tế, vận tải biển chiếm trên 80%

lượng hàng hóa vận chuyển nhưng chi phí vận tải biển của Việt Nam rất cao so

với các nước trong khu vực (Bảng 2.3) do hàng hóa phải tập kết và thực hiện

trung chuyển Bên cạnh đó, đội tàu của Việt Nam hầu như không đủ điều kiện

vận tải quốc tế, do đó, góp phần đẩy giá thành sản phẩm, dịch vụ lên cao Trong

khi đó, Việt Nam lại không cho phép doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào lĩnh

vực vận tải

Bảng 2.3: So sánh các chi phí hạ tầng kinh tế của Việt Nam với các nước

Chi phí vận chuyển

Giá thuê văn phòng Việt Nam Thái Kuala

Cước viễn thông từ

Singapore đến Việt Nam Trung Quốc Philipine Nhật

Trang 25

- Hệ thống sản xuất và phân phối điện

Theo khảo sát của tổ chức quốc tế, tỷ lệ gia tăng trung bình năm lượng điện tiêu thụ tại Việt Nam là 13,7% Theo quy hoạch, Việt Nam có kế hoạch xây dựng nhiều nhà máy phát điện, tuy nhiên với quy định hạn chế tỷ lệ vốn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài ở mức 20%, khi đó, Việt Nam sẽ không đủ khả năng tài chính để xây dựng các nhà máy phát điện đáp ứng nhu cầu trong nước

Bên cạnh đó, giá điện Việt Nam vẫn còn cao hơn so với các nước trong khu vực (Bảng 2.3), thậm chí, có doanh nghiệp có mức chi phí điện năng cao ngang với chi phí nhân công Tình trạng mất điện thường xuyên, nguồn điện không ổn định và vẫn tồn tại cơ chế hai giá Trong khi đó, tình hình tài chính của EVN gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư mạng lưới, đầu tư hạ tầng, giảm hao hụt điện năng, kiểm soát gian lận, sử dụng công nghệ mới để tận dụng hiệu quả mạng lưới truyền tải điện, chi phí quản lý duy tu quá cao…

- Hệ thống hạ tầng viễn thông

Hiện nay, lĩnh vực viễn thông do VNPT và các công ty cổ phần Nhà nước ( VNPT chiếm 92% thị phần) chi phối toàn bộ thị trường viễn thông, đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho phép rất hạn chế, do đó, tính cạnh tranh trên thị trường rất kém Bên cạnh đó, VNPT còn được giao xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập mang tính độc quyền cũng như quản lý hạ tầng viễn thông, các doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh buộc phải thuê lại của VNPT với giá rất cao (thường chiếm 60% – 70% giá thành) nên khó khăn trong việc đầu tư mở rộng Nhà đầu tư cho rằng cơ sở hạ tầng viễn thông Việt Nam còn yếu kém, giá phí cao hơn các nước trong khu vực (Bảng 2.3), độ tin cậy của các dịch vụ không cao, phương thức kinh doanh manh mún, mập mờ tốc độ đường truyền, thái độ phục vụ kém và một số dịch vụ vi phạm thoả thuận với khách hàng (Bảng 2.4)

Trang 26

- Hệ thống xử lý nước thải và chất thải công nghiệp

Theo thống kê của Cục môi trường tổng lượng chất thải rắn nguy hại hàng năm của nước ta là 152.000 tấn nhưng chưa có tỉnh nào xử lý toàn bộ chất thải rắn nguy hại phát sinh trên địa bàn Ngay cả trong khu công nghiệp, chế xuất hiện nay vẫn chưa đầu tư hoặc đầu tư mức độ nhỏ trong khi chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải và chất thải công nghiệp rất lớn khiến cho nhiều doanh nghiệp không dám đầu tư Về quản lý Nhà nước, chất thải nguy hại được quản lý bởi 20 loại văn bản nhưng chưa mang tính đồng bộ, cụ thể và cần, hạ tầng xử lý chưa được xây dựng đầy đủ và yếu kém, không có cơ sở xử lý chất độc hại trên quy mô toàn quốc, không đủ trình độ chuyên môn quản lý… Trong khi các doanh nghiệp FDI gây ra các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường thì đó là rào cản thì lại buôn lỏng quản lý doanh nghiệp trong nước

Bảng 2.4 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên 104 quốc gia tại

diễn đàn kinh tế thế giới năm 2004

Chi tiêu ngoài pháp luật trong xuất, nhập khẩu 100

Chi tiêu ngoài pháp luật trong ký hợp đồng có vốn NS 99

Chi tiêu ngoài pháp luật trong sử dụng các dịch vụ công 91

Thiên vị trong các quyết định của quan chức chính phủ 55

Chỉ số sáng tỏ và ổn định của pháp luật 91

Công nghệ

Mức độ sử dụng bằng sáng chế công nghệ nước ngoài 99

Chất lượng cạnh tranh trong dịch vụ cung cấp Internet (ISP) 96

Trang 27

Luật pháp liên quan đến CNTT 94

Hợp tác giữa trường đại học và nghiên cứu công nghiệp 82

2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng phần mềm liên quan đến đầu tư

- Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật,

ý kiến của các doanh nghiệp nhà nước được thu thập trước và bỏ qua đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp tư nhân Điều đáng lo ngại hơn là các chuyên gia, các hiệp hội rất ít được tham khảo trước khi ban hành theo quy định và do đó, một số luật đã gặp sự phản ứng mạnh mẻ (Bảng 2.4) Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có cơ quan chuyên môn kiểm tra sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật (Vụ kiểm tra các văn bản pháp luật chưa hình thành) Ngoài ra, thứ bậc về giá trị pháp lý giữa các văn bản pháp luật bị mâu thuẩn (luật cao hơn không được áp dụng khi mâu thuẫn với văn bản có giá trị thấp hơn) gây tác hại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Công tác thi hành án

Trước hết, việc trao đổi thông tin giữa cơ quan trung ương và địa phương không đầy đủ và bản thân văn bản pháp luật không rõ ràng, không thực hiện như hướng dẫn, mất rất nhiều thời gian để văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành và có hiệu lực đến được địa phương Bên cạnh đó, sự thiếu nhất quán giữa các cơ quan khác nhau trong việc giải thích và xử lý cùng một văn bản pháp luật (Bảng 2.4), một vấn đề và sự chậm trễ trong việc thực hiện pháp luật là một yếu tố cản trở cho đầu tư tại Việt Nam Kế đến, Luật Thương mại quy định quá ít hành vi không phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, một số doanh nghiệp đã thắc mắc và không biết phải thực hiện như thế nào để đúng chuẩn mực Cuối cùng, Pháp lệnh trọng tài thương mại có thể sử dụng trọng tài nước ngoài trong

Trang 28

trường hợp “có yếu tố nước ngoài” nhưng nhà đầu tư vẫn còn hoài nghi Hơn nữa, việc chọn luật nước ngoài với điều kiện không trái với nguyên tắc cơ bản của Pháp luật Việt Nam nhưng chỉ chung chung chưa định nghĩa rõ ràng và cụ thể sẽ dẫn đến việc giải thích rất rộng và tạo ra sự hạn chế về luật áp dụng trong trọng tài

- Thiếu chuyên gia về pháp luật

Đối với doanh nghiệp, việc đưa tranh chấp ra tòa là bất đắc dĩ vì năng lực của các thẩm phán, đặc biệt là thẩm phán tòa án địa phương còn hạn chế, hơn nữa thủ tục tố tụng còn phức tạp và mất nhiều thời gian Ngay cả đối với doanh nghiệp Việt Nam, rất nhiều trường hợp giải quyết vụ tranh chấp bên ngoài tòa án Ngoài ra việc thi hành án vẫn chậm trễ Có nhận định cho rằng phán quyết của tòa án có xu hướng không có lợi cho người nước ngoài

Công tác đào tạo ngành luật ở Việt Nam đã bị gián đoạn trong suốt thời gian, nên có không ít trường hợp thẩm phán, cán bộ điều tra, hay luật sư không có kiến thức phù hợp Hiện nay, các ngành tòa án, viện kiểm sát, công an, các sở tư pháp đều thiến nhân sự trầm trọng cũng chỉ vì do chế độ đãi ngộ cũng như trình độ cán bộ hiện hữu của các tổ chức này một phần lớn cũng chỉ trình độ trung cấp khiến cho chất lượng xử lý vụ việc không cao, án tồn và quá hạn nhiều

- Hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp và đo lường

Nói chung, ngành công nghiệp chế tạo của Việt Nam còn thiếu nhận thức về việc chế tạo sản phẩm có chất lượng tốt do nội dung và phạm vi áp dụng của hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp, cơ chế giám định và chứng nhận của Việt Nam chưa đầy đủ, chưa phát huy hoàn toàn chức năng của nó ngay cả tiêu chuẩn ISO được chứng nhận tại Việt Nam có mức độ khá thấp chưa được kiểm định nghiêm ngặt của cơ quan Nhà nước Trong khi đó, mức độ tiêu chuẩn hóa, quản

Trang 29

lý chất lượng trong nội bộ doanh nghiệp Việt Nam còn thấp Tiêu chuẩn công nghiệp, đo lường, kiểm tra, quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế chưa phổ biến Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều không có các thiết bị thí nghiệm, thiết bị hiệu chỉnh đo lường

- Nguồn nhân lực

Thực trạng giáo dục còn coi nặng lý thuyết, ít các giờ học khoa học đòi hỏi sự suy nghĩ sáng tạo Hơn nữa, Việt Nam lại rất thiếu những chương trình đào tạo kỹ sư tại cơ sở thực nghiệm, cơ sở đào tạo kỹ năng, công tác giáo dục đã nhiều năm thực hiện cải cách nhưng kết quả không khả quan, không tạo ra được sự sáng tạo trong học tập và khoa học trong khi nền giáo dục, số lượng nguồn nhân lực của Việt Nam tuy rất nhiều thuận lợi nhưng chất lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn (Theo diễn đàn kinh tế thế giới năm 2000 Việt Nam xếp 53/59 nước) Trong khi đó, có hiện tượng chất xám bị chảy ra bên ngoài, nhân lực khoa học kỹ thuật chưa được phát huy do cơ chế không rõ ràng, chưa phù hợp và không có chính sách đãi ngộ Việt Nam đang tập trung phát triển ngành công nghệ cao, vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này trở nên vô cùng quan trọng và thị trường lao động của Việt Nam ngày càng khan hiếm

2.2.2.3 Hệ thống các chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư

- Luật đầu tư nước ngoài hiện nay vẫn còn tồn tại hạn chế đối với nhà

đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại dịch vụ … cũng như hình thức đầu tư trong khi năng lực của nhà đầu tư nước ngoài đối với các lĩnh vực trên là rất mạnh, đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy kinh tế tại thị trường Việt Nam (phụ lục 4) Bên cạnh đó, luật còn hạn chế trong các quy định như về tỷ lệ xuất khẩu 80%, nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị (đây là nguyên tắc chưa có tiền lệ ở bất cứ một quốc gia nào), tỷ lệ nội địa hóa, cơ chế 2 giá, đăng ký hạn ngạch

Trang 30

nhập khẩu từng năm, quy định đấu thầu trong liên doanh có vốn góp của Nhà nước, quy định mức tối thiểu của vốn pháp định, định nghĩa không rõ ràng tổng vốn đầu tư trong nhập khẩu thiết bị mở rộng sản xuất bằng giá trị khấu hao … Những quy định hạn chế này là những rào cản đối với hoạt động cũng như tác động đến quá trình quản lý của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nhiều nhà đầu tư mong muốn được đầu tư dưới dạng 100% vốn nước ngoài, nhưng các danh mục khuyến khích, đặc biệt khuyến khích đầu tư, các ngành, lĩnh vực nào được đầu tư lại quy định không rõ ràng, cụ thể làm mất rất nhiều thời gian cho nhà đầu tư Ngoài ra, việc phân cấp đầu tư khi làm thủ tục ở Bộ KH-ĐT thì rất nhanh nhưng lên các bộ ngành khác thì rất lâu Bên cạnh đó, cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ dừng lại thí điểm, do đó, chưa phát huy được nguồn vốn to lớn mà bản chất của việc đổi mới này mang lại

- Chính sách thuế liên quan đến đầu tư

Việc sửa đổi cách tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) không những làm tăng giá thành sản phẩm mà còn làm giảm sức cạnh tranh của các xí nghiệp này tại Việt Nam Việc tăng thuế thu nhập doanh nghiệp, thăng hạng một loạt địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn trước đây, thời gian miễn giảm thuế cũng bị rút ngắn lại đã làm nản lòng nhà đầu tư (phụ lục 5).Việc giới hạn chi phí quảng cáo và tiếp thị là không phù hợp trong kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế vì đó là chi phí thông thường phát sinh Theo quy định hiện hành, chỉ có 14 loại chi phí được chấp nhận để khấu trừ vào thu nhập chịu thuế nhưng định nghĩa không rõ ràng và thường xuyên gây ra cách hiểu khác nhau tại các cơ quan thuế

Sự thay đổi chính sách thuế cách nhanh chóng, không nhất quán, không tham khảo các chuyên gia các bộ ngành, nhà đầu tư liên quan đã và đang dẫn đến hiệu ứng nghịch cho nỗ lực thu hút đầu tư vào Việt Nam về quảng bá hình

Trang 31

ảnh Việt Nam, cải thiện môi trường nâng cao khả năng thu hút đầu tư, làm cho hoạt động đầu tư vào Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro và do đó, không chỉ làm cho các nhà đầu tư cũ suy giảm lòng tin mà còn tác động domino đến tâm lý các nhà đầu tư khác có ý định đầu tư vào Việt Nam và hậu quả là hạn chế phát triển ngành nghề và mất cơ hội thu thuế

- Chính sách đất đai và chính sách lao động

Tình trạng thiếu đất là một trong những yếu tố gây cản trở đất đầu tư của doanh nghiệp Xuất phát từ những nguyên nhân khan hiếm đất, chậm trể trong việc bồi thường đất đai hoặc việc thuê lại rất khó khăn đất của những người đang sử dụng không hiệu quả Vấn đề rắc rối là thủ tục công chứng bao gồm cả tài liệu thế chấp mà việc công chứng là quá trình rất mất thời gian và làm chậm quá trình chuyển giao đất Đến thời điểm này, muốn có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các nhà đầu tư phải đi một vòng qua xã - huyện - tỉnh - sở địa chính - sở xây dựng … để có 15 chữ ký và 15 con dấu Ngoài ra, thời gian cho thuê quá ngắn đối với các nhà phát triển công nghiệp (tối đa 50 năm) và quy định không cho phép nhà đầu tư chuyển nhượng, cho thuê lại …

Việc quy định số lao động nước ngoài tối đa bằng 3% tổng số lao động trong toàn công ty hoặc 50 người là điều không hợp lý và không có cơ sở Điều chắn chắn rằng với năng khiếu, tinh thần ham học hỏi của lao động Việt Nam cũng như số lượng lao động với giá rẻ của Việt Nam là điều thuận lợi trong việc giải quyết công ăn việc làm, tuy nhiên đối với một số ngành nghề đòi hỏi trình độ cao thì việc tuyển lao động nước ngoài vào làm việc là điều bắt buộc đối với doanh nghiệp Mặc khác việc tuyển dụng lao động nước ngoài theo quy định cũng gặp rất nhiều phiền toái về thủ tục

- Hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ

Trang 32

Việt Nam đảm bảo quyền lợi của các bên trong việc chuyển giao công nghệ và khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ nhanh chóng, tuy nhiên việc quy định về chế độ phê duyệt, mức trần của giá trị hợp đồng và thời hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ đã gây nhiều khó khăn, chi phối bởi sự đánh giá chủ quan của người có trách nhiệm của Bộ khoa học công nghệ và mâu thuẩn với tiêu chuẩn toàn cầu (phụ lục 6), vô tình làm ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư FDI của Việt Nam Bên cạnh đó, năng lực cán bộ, thủ tục đăng ký và các thủ tục khác rất phức tạp làm mất nhiều thời gian cho công tác thẩm định, giám định và phê duyệt trong khi tại Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia và Philippines, các bên tự do thỏa thuận mà không bị ràng buộc từ phía Chính phủ

Thực tế, thị trường công nghệ của chúng ta chưa hình hành một cách chuẩn mực, bản thân nhiều doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ rất thấp 0,2% - 0,3% so với 5% Aán Độ và 10% ở Hàn Quốc do các doanh nghiệp thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, thiếu hiểu biết về công nghệ thích hợp, thiếu thị trường vốn trung và dài hạn và cuối cùng là thủ tục đầu tư phiền hà, các cơ quan quản lý Nhà nước can thiệp quá sâu (Bảng 2.4) Song song đó, nguồn cung công nghệ trong nước lại hạn hẹp do bên cung và cầu chưa gặp nhau, ngân sách nghiên cứu công nghệ hẹn hẹp, thiếu các dịch vụ chuyên môn như tiếp thị, nghiên cứu thị trường, môi giới, thông tin kèm theo các quy định về thuế, hải quan, tín dụng …

2.2.2.4 Năng lực của các cơ quan thi hành pháp luật

- Tính minh bạch, độ tin cậy và tình đồng bộ nghiệp vụ hải quan

Chính phủ đã rất tích cực trong công tác cải cách hành chính nghiệp vụ hải quan như tham gia nghiệp vụ hải quan chung cho các nước ASEAN (phụ lục 7), chuẩn bị tham gia phê chuẩn công ước sửa đổi về đơn giản hóa và đồng bộ hóa thủ tục hải quan Tuy nhiên, do các công tác này vừa đa dạng và vừa quyết

Trang 33

liệt nên Việt Nam chưa thể xây dựng khung pháp lý toàn diện và khoa học cho việc thực thi, việc khai báo hải quan qua mạng hiện nay cũng gặp một số khó khăn do việc kết nối giữa các công ty vận tải, các chủ hàng và các ga cảng còn kém, còn nhiều phức tạp từ việc khai báo, kiểm tra, áp thuế và thủ tục vẫn còn đòi hỏi những giấy tờ chính thức, việc trang bị máy tính chỉ thực hiện tương đối đồng bộ ở những trung tâm kinh tế Công tác cán bộ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ để có thể áp dụng thủ tục mới còn rất chậm chạm, khả năng tiếp nhận kiến thức mới cũng như giới hạn về kiến thức chuyên môn và trình độ ngoại ngữ đã hạn chế nhiều đến hiệu quả và năng suất làm việc của đội ngũ hải quan, lực lượng chính quy lại quá mõng, trong khi đội ngũ chuyển ngành qua các lớp ngắn hạn vô kể, xử lý chuyên môn mang tính chủ quan, công tác quản lý cán bộ lại lõng lẻo, tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu, hách dịch là nỗi ám ảnh của doanh nghiệp (Bảng 2.4) Thực tế năng lực phẩm chất của cán bộ thông quan chưa đạt trình độ quốc tế

- Hệ thống quản lý thuế

Hiện nay, tuy công tác thuế vụ được cải tiến rõ rệt, đặc biệt là khâu tự khai và tự nộp thuế được đánh giá cao nhưng hiện chỉ là thí điểm Thời gian làm thủ tục kéo dài và không đồng bộ và đặc biệt là thời gian hoàn thuế, việc chậm hoàn thuế gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh Ngoài ra, việc tuyên truyền quy định của pháp luật cho các nhà đầu tư, người dân cũng như bản thân các cơ quan Nhà nước thẩm quyền được thực hiện rất yếu, xuất hiện nhiều hiện tượng mọi người giải thích khác nhau, có sự chồng chéo giữa các quy định, hướng dẫn và thực hiện không rõ ràng Việc thu thuế đối với doanh nghiệp nước ngoài thông qua các chi cục thuế địa phương nhưng việc giải thích và áp dụng khác nhau giữa những cán bộ thuế phụ thuộc vào mối quan hệ đối với doanh nghiệp (Bảng 2.4) trong khi hướng dẫn của Bộ Tài chính không đến được địa phương đúng hạn, do

Trang 34

đó, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước mà bản thân doanh nghiệp không thể khiếu nại tất cả các trường hợp tới Bộ Tài chính

- Quản lý và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Bảo hộ và quản lý quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề quan trọng để gia nhập WTO, đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường thể chế thực thi Cục sở hữu trí tuệ là cơ quan tiếp nhận và xử ý nhưng dù số đơn yêu cầu đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày càng tăng (phụ lục 8), công tác đăng ký chưa được tự động hóa trong điều kiện thiếu nhân sự chuyên môn nên hiệu quả thấp, dẫn đến thủ tục đăng ký mất nhiều thời gian

Nhận thức chung về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chưa đầy đủ, hiện tượng hàng giả hàng nhái vẫn tràn lan trên thị trường Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam vẫn chưa quan bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa, dẫn đến trường hợp nhiều nhãn hiệu của Việt Nam bị doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng đăng ký

ở nước thứ ba Việc xử lý vi phạm hàng giả hàng nhái bằng biện pháp hành chính chưa mang lại hiệu quả địch thực, tuy có rất nhiều cơ quan chính phủ cùng quản lý bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ song việc phối hợp giải quyết giữa các cơ quan này chưa đồng bộ và phát huy được hiệu quả Bộ Khoa học và Công nghệ chưa chủ động liên kết các cơ quan hữu quan để điều tra đấu tranh và điều quan trọng là chưa xây dựng cơ chế hành động nhanh chóng khi có đề nghị từ phía người có quyền (phụ lục 9)

- Đấu tranh chống tham nhũng

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã xây dựng nhiều Luật để dấu tranh chống tham nhũng cũng như xây dựng các đường dây nóng và chiến dịch chống tham nhũng, tuy nhiên vấn đề đấu tranh chống tham nhũng rất phức tạp và rắc rối, do sự không rõ ràng của luật và quy định, nên thẩm quyền quyết định của

Trang 35

các công chức nhà nước là rất lớn và hệ quả là tham nhũng phát sinh (Bảng 2.4) Vấn đề này vẫn rất nóng hổi trong các cơ quan thừa hành Một thực tế là Luật pháp chưa đủ sức răng đe, các quy chế dân chủ trong các cơ quan xí nghiệp chưa đủ sức phanh phui ngăn chặn tham nhũng và đôi khi mang tính hình thức, việc thiếu phân quyền, phân trách nhiệm, sự thiếu minh bạc và không nhất quán của văn bản pháp luật, sự yếu kém của cơ quan thanh tra, kiểm tra, các cơ quan điều tra …, thiếu trách nhiệm giải trình cũng như sự giám sát của công chúng và các cơ quan ngôn luận là những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng Trong khi, văn bản pháp quy về chống tham những chỉ dừng lại ở pháp lệnh chưa được nâng lên thành luật nên vẫn chưa có những công cụ hữu hiệu để trừng trị

- Gian lận trong nhập khẩu

Dù có cố gắng đấu tranh chống gian lận trong nhập khẩu nhưng vẫn còn số lượng lớn hàng hóa buôn lậu từ bên ngoài vào Việt Nam và trong một số thời điểm, hàng lậu làm điêu đứng hàng hóa sản xuất trong nước Tuy nhiên, khó có thể thu thập được các chứng cứ chắc chắn của các hoạt động gian lận trong nhập khẩu và không ít doanh nghiệp kiếm lợi nhuận bằng hình thức này (Bảng 2.4) Sự cạnh tranh bình đẳng sẽ không thể xây ra trong một thị trường có những hoạt động không bình đẳng Do đó, đã tạo hình ảnh tiêu cực trong môi trường đầu tư tại Việt Nam, đặc biệt, nó đã thực sự trở ngại trong việc thu hút đầu tư mới trong những lĩnh vực thu hút nhiều công nghệ và vốn lớn bởi vì họ cần một môi trường đầu tư lành mạnh

Tóm tắt chương 2

Từ khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, Việt Nam đã thực hiện

nhiều chính sách nhằm tằng cường khả năng thuhút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm định hướng thay đổi cơ cầu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của Việt Nam cũng như từng bước hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực

Trang 36

và thế giới Trong những năm đầu, chúng ta đã thực hiện khá thành công, nhưng sau đó, cùng với sự ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính 1997, các nước trong khu vực đã ban hành các chính sách ưu đãi mới một cách triệt để để thu hút FDI và đa số các nước đã thành công rực rở Tuy nhiên, Việt Nam chúng ta lại chuyển mình một cách chậm chạp từ ý thức, xây dựng chiến lược đến điều kiện hạn chế cơ sở hạ tầng về cơ chế chính sách pháp luật cũng như hạ tầng kinh tế, dẫn đến lúng túng trong quản lý, ban hành chính sách, đầu tư hạn tầng và dần dần Việt Nam đã tự làm giảm khả năng cạnh tranh của mình trong lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 37

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 -2015 3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến 2020

3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến 2020

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX năm 2001 đã nêu rõ quan điểm của Đảng về chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 là đưa nước ta ra khỏi tình trạnh kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế nước

ta trên trường quốc tế được nâng cao

3.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về định hướng thu hút FDI đến 2015

Cũng tại Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần IX năm 2001 và sau đó được thể hiện cụ thể tại Nghị quyết trung ương lần 7 khóa 9 ngày 27/11/2001 nêu rõ quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước trong việc thu hút, sử dụng và quản lý FDI ở Việt Nam là phải dung hòa lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và đất nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, công nghiệp chế biến, hàng hóa và dịch vụ có công nghệ cao, vật liệu mới, điện tử, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và các ngành Việt Nam có lợi thế, gắn với công nghiệp hiện đại và tạo việc làm … Xây dựng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) … phù hợp

Trang 38

yêu cầu phát triển đất nước, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện các hình thức đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài Giảm mạnh, tiến tới xóa bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài…

Để thực hiện mực tiêu trên, dự kiến từ 2005 đến 2015, Việt Nam cần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gấp 3 lần giai đoạn 2001 – 2005, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 2005 – 2015 là 6% - 9,7%, và GDP trung

bình đầu người từ 1.000 USD – 2000 USD (Nguồn: Tác giả)

3.2 Một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2005 – 2015

Cùng với việc hội nhập AFTA, Việt Nam cần phải tạo được vị thế trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với các quốc gia trong ASEAN Trên cơ sở kết quả điều tra, phân tích tại chương 1, đánh giá thực trạng các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI tại chương 2 và trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 nói chung và thu hút FDI nói riêng, trong giới hạn của luận văn, tôi xin đề xuất một số giải pháp thu hút FDI giai đoạn 2005 – 2015 như sau:

3.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược xúc tiến đầu tư

3.2.1.1 Xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể các ngành công nghiệp

Bối cảnh hội nhập tạo ra sức ép phải nâng cao khả năng cạnh tranh trên cả cấp độ ngành và lãnh thổ, do đó cần xây dựng “Chiến lược” và “Quy hoạch tổng thể” mang tính đồng bộ bao gồm chiến lược thu hút FDI, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu Đảm bảo thông tin hai chiều và nhận thức chung giữa chính phủ và các ngành, doanh nghiệp về phát triển công nghiệp, cụ thể:

- Xây dựng chiến lược mang tính thực tế trên cơ sở đánh giá toàn diện, khách quan tiềm năng phát triển công nghiệp và lợi thế Việt Nam, đánh giá

Trang 39

năng lực tổng quát các loại doanh nghiệp Việt Nam trong từng ngành công nghiệp chủ yếu; phân tích động lực phát triển xuất khẩu của Việt Nam Xem xét đầy đủ các yếu tố như cán cân đầu tư và thu hồi vốn đầu tư, các khả năng mở rộng thị trường, tích lủy và phát triển công nghệ

- Chú trọng liên kết các ngành công nghiệp, các vùng, các doanh nghiệp; xác định nội dung ưu tiên phát triển công nghiệp để lựa chọn những ngành trọng tâm, có triển vọng Hình thành mô hình công nghiệp tập trung, phát triển các ngành sử dụng nhiều chất xám; tập trung phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, tăng cường sức cạnh tranh của các nhà sản xuất phụ tùng linh liện

- Tích cực củng cố kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực; ưu tiên phát triển các hoạt động về chế độ chính sách pháp luật để bảo đảm nguyên tắc dự báo trước được, cơ sở hạ tầng kỹ thuật; nâng cao năng lực qủan lý

- Không giao các bộ không phải chủ quản, các tổng công ty đề xuất những chủ trương mang tính độc quyền hạn chế các thành phần kinh tế khác Điều chỉnh quy hoạch ngành xi măng, điện, sắt thép, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, ngành thương mại, dịch vụ theo hướng loại bỏ bớt hạn chế đối với FDI Đặc biệt, nhanh chóng phát triển công nghiệp dầu khí cùng với các ngành liên quan

3.2.1.2 Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ

Trước hết đối với ngành công nghiệp phụ trợ trong nước, cần xây dựng quy hoạch tổng thể; xây dựng các trung tâm đào tạo kinh doanh và công nghệ, các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp Việt Nam trong ngành phụ trợ để kết nối doanh nghiệp FDI; xây dựng khu công nghiệp riêng

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w