1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của cấu trúc hệ thống kế toán chi phí đến chất lượng thông tin chi phí - Nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

185 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn hết, điều này càng củng cố và khẳng định yêu cầu về chất lượng thông tin quản trị phục vụ cho công tác hoạch định, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định trong hoạt động điều hành của n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-  -

LƯU HỒNG THY

ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC

HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHI PHÍ

- NGHIÊN CỨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

LƯU HỒNG THY

ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC

HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHI PHÍ

- NGHIÊN CỨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mã số : 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS HUỲNH LỢI

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Huỳnh Lợi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào, các thông tin trích dẫn

đã được chú thích rõ ràng và ghi nhận trong phần tài liệu tham khảo

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Thầy TS Huỳnh Lợi đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và hỗ trợ tôi hoàn thành bài luận văn thạc sĩ của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 05 năm 2018

Tác giả

Lưu Hồng Thy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu 5

8 Kết cấu bài nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 6

1.1.1 Nghiên cứu công bố ở nước ngoài 6

1.1.2 Nghiên cứu công bố ở trong nước 13

1.2 KHE HỔNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 14

Kết luận Chương 1 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 17

2.1 CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÔNG TIN CHI PHÍ TRONG QUẢN TRỊ CHI PHÍ 17

2.1.1 Chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 17

2.1.2 Tầm quan trọng của thông tin chi phí trong quản trị chi phí 19

2.2 KẾ TOÁN CHI PHÍ TRONG MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH 21

Trang 5

2.2.1 Kế toán chi phí 21

2.2.2 Những thay đổi trọng tâm của kế toán chi phí đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản trị chi phí 24

2.3 CẤU TRÚC HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ 27

2.3.1 Mức độ chi tiết của thông tin kế toán chi phí 28

2.3.2 Khả năng phân loại chi phí theo ứng xử 31

2.3.3 Phạm vi phân tích để kiểm soát, đánh giá những biến động chi phí 34

2.3.4 Tần suất cung cấp thông tin kế toán chi phí cho nhà quản trị 40

2.4 CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHI PHÍ 41

2.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHI PHÍ 44

2.6 LÝ THUYẾT NỀN 48

2.6.1 Lý thuyết bất định 49

2.6.2 Lý thuyết xử lý thông tin 49

Kết luận Chương 2 51

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52

3.1 KHUNG NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 52

3.1.1 Khung nghiên cứu 52

3.1.2 Quy trình nghiên cứu 53

3.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH SƠ BỘ 54

3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 54

3.2.1.1 Giả thuyết nghiên cứu đề xuất 56

3.2.1.2 Thang đo biến nghiên cứu đề xuất 59

3.2.1.3 Mô hình hồi quy 63

3.2.2 Thiết kế nghiên cứu định tính 64

3.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính 65

3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG CHÍNH THỨC 65

3.3.1 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 66

3.3.2 Mẫu nghiên cứu và quy trình thống kê mẫu 66

Trang 6

3.3.3 Quy trình nhập liệu và xử lý dữ liệu 68

3.3.4 Giới thiệu các kỹ thuật kiểm định, định lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật trong kiểm định, định lượng 70

3.3.4.1 Giới thiệu về phân tích thống kê mô tả 70

3.3.4.2 Giới thiệu về kiểm định và đánh giá thang đo 70

3.3.4.3 Giới thiệu phân tích hồi quy bội 73

Kết luận Chương 3 76

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 77

4.1 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ 77

4.1.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu 77

4.1.2 Thống kê mô tả các biến quan sát 79

4.2 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ THANG ĐO 79

4.2.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 79

4.2.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 81

4.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY BỘI 82

4.3.1 Phân tích tương quan Pearson 83

4.3.2 Phân tích hồi quy tuyến tính bội và kiểm định giả thuyết nghiên cứu 84

4.4 BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHI PHÍ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 88

Kết luận Chương 4 92

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

5.1 KẾT LUẬN 93

5.2 KIẾN NGHỊ 95

5.2.1 Vấn đề về nhận thức và điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực 95

5.2.2 Vấn đề về thiết kế hệ thống kế toán chi phí 97

5.2.2.1 Phân tích thông tin kế toán chi phí một cách chi tiết 97

5.2.2.2 Phân loại chi phí theo ứng xử 98

Trang 7

5.2.2.3 Phân tích biến động chi phí 99

5.2.2.4 Tần suất cung cấp thông tin thông qua các báo cáo KTQT 101

5.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 103

5.4 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 105

Kết luận Chương 5 105

KẾT LUẬN CHUNG………106

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 : Thang đo gốc (Cohen and Kaimenaki, 2011)

Phụ lục 2 : Mẫu phiếu phỏng vấn ý kiến chuyên gia

Phụ lục 3 : Danh sách các chuyên gia

Phụ lục 4 : Phiếu khảo sát

Phụ lục 5 : Danh sách các doanh nghiệp được khảo sát

Phụ lục 6 : Thống kê mô tả các biến quan sát

Phụ lục 7 : Kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha Phụ lục 8 : Phân tích nhân tố khám phá EFA

Phụ lục 9 : Phân tích tương quan

Phụ lục 10 : Phân tích hồi quy tuyến tính bội

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 Danh mục chữ viết tắt tiếng Việt

2 Danh mục chữ viết tắt tiếng Anh

ABC (Activity Based Cost) Hệ thống chi phí trên cơ sở hoạt động BSC (Balanced Scorecard) Phương pháp thẻ cân bằng điểm

EFA (Exploratory Factor Analysis) Phân tích nhân tố khám phá

Sig (Observed significane level) Mức ý nghĩa quan sát

SPSS (Statistical package for the social

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Thang đo “cấu trúc hệ thống KTCP” 59

Bảng 3.2: Thang đo “chất lượng thông tin chi phí” 60

Bảng 3.3: Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 66

Bảng 3.4: Hình thức thu thập dữ liệu 69

Bảng 4.1: Thống kê mô tả đặc điểm mẫu doanh nghiệp 78

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 80

Bảng 4.3: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 81

Bảng 4.4: Nhóm nhân tố các biến độc lập 82

Bảng 4.5: Kết quả các giá trị thống kê 8 mô hình con nghiên cứu 85

Bảng 4.6: Các mô hình hồi quy với hệ số chưa chuẩn hóa (B) (Phụ lục 10) 86

Bảng 4.7: Hệ số hồi quy chuẩn hóa (Beta) trong 8 mô hình 87

Bảng 4.8: Các giả thuyết hiệu chỉnh sau nghiên cứu định lượng 88

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Quy trình vận động chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 18

Sơ đồ 2.2: KTCP trong mối quan hệ với KTTC và KTQT 21

Sơ đồ 2.3: Hệ thống kế toán doanh nghiệp sản xuất 22

Sơ đồ 2.4: Hệ thống ABC – Dòng di chuyển của chi phí từ nguồn lực đến đối tượng chịu phí 27

Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu của luận văn 52

Sơ đồ 3.2: Quy trình nghiên cứu 53

Sơ đồ 3.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất 54

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1: Thống kê mô tả chức vụ của người trả lời 77

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với nhiều cơ hội mới mở ra cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, các hoạt động kinh doanh thể hiện tính cạnh tranh ngày càng đa dạng, phức tạp và quyết liệt Trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), các doanh nghiệp muốn tồn tại lâu dài và phát triển bền vững thì đều phải tìm mọi biện pháp để sản xuất sản phẩm với số lượng nhiều nhất, chất lượng cao nhất, chi phí thấp nhất nhằm tăng cường doanh lợi, tăng tích lũy và tái sản xuất mở rộng (Võ Văn Nhị và Bùi Văn Dương, 2001) Như vậy, mục tiêu quan trọng cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận hoạt động, bởi một khi lợi nhuận giảm sẽ làm cho khả năng cạnh tranh giảm

do đơn vị không có nguồn để tái đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động Để thực hiện mục tiêu này, các nhà quản trị phải thực sự hiểu rõ năng lực nội tại của doanh nghiệp và nắm bắt tốc độ, linh hoạt nhu cầu của thị trường để tận dụng hết năng lực sản xuất và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có một cách tốt nhất

Hơn hết, điều này càng củng cố và khẳng định yêu cầu về chất lượng thông tin quản trị phục vụ cho công tác hoạch định, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định trong hoạt động điều hành của nhà quản trị doanh nghiệp trở nên quan trọng và bức thiết, đặc biệt là các thông tin về quản trị chi phí, vì chi phí là một trong những đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, là cơ sở của việc lựa chọn các phương án kinh doanh, lựa chọn các mô hình sản xuất tối ưu, xác định giới hạn của việc trả lương, trả thưởng đến từng bộ phận, từng cá nhân có hiệu quả, và bởi vì quản trị chi phí hiệu quả được xem là công cụ hữu hiệu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp

Từ thực tiễn đó, các nhà quản trị cần phải nhận diện, nắm bắt đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin về chi phí thông qua công cụ đắc lực là kế toán, đặc

Trang 12

biệt là kênh thông tin trong hệ thống kế toán chi phí (KTCP) Theo Phạm Văn Dược

và Huỳnh Lợi (2009): “Kế toán không phải là mục đích cuối cùng, kế toán chỉ là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng của người sử dụng thông tin” Mà mục đích cuối cùng của nhà quản trị là sử dụng thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán để trả lời cho những câu hỏi về kết quả hoạt động từ các quyết định trong quá khứ và điều hành ra các quyết định quản trị doanh nghiệp ở hiện tại và tương lai

Các doanh nghiệp ở các nước phát triển trên thế giới đã xây dựng hệ thống KTCP hiện đại, trong đó cấu trúc hệ thống KTCP được xác định bởi bốn đặc tính: mức độ chi tiết của thông tin KTCP, khả năng phân loại chi phí theo ứng xử, phạm

vi phân tích để kiểm soát, đánh giá những biến động chi phí và tần suất cung cấp thông tin KTCP cho nhà quản trị (Cohen and Kaimenaki, 2011) giúp cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị nội bộ trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch Ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) có quy mô vừa và lớn đã và đang phát triển mạnh mẽ và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, bên cạnh việc mở ra các cơ hội thì các doanh nghiệp này luôn chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ hội nhập liên kết, điều kiện tiềm lực kinh tế vẫn còn rất hạn chế Cấu trúc hệ thống KTCP trong các doanh nghiệp chỉ đáp ứng được thông tin để định giá vốn thực tế của sản phẩm nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện chi phí sản xuất, đánh giá quá trình sản xuất hơn là thông tin phục vụ cho việc chủ động kiểm soát chi phí khi phát sinh, định hướng sản xuất, định hướng hoạt động Điều này dẫn đến tiềm

ẩn nguy cơ sai lệch, kém linh hoạt, không kịp thời và ảnh hưởng đáng kể đến tính hữu ích của thông tin, do các thông tin về chi phí và giá thành chỉ có được khi kết thúc kỳ kế toán Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc hệ thống KTCP và chất lượng thông tin chi phí tại Việt Nam còn khá hạn chế, dạng đề tài này được xem là một hướng đi tương đối mới và cần thiết có sự nghiên cứu Từ những nhận

định trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của cấu trúc hệ thống kế toán chi phí đến chất lượng thông tin chi phí - Nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Thành Phố (TP.) Hồ Chí Minh” làm vấn đề nghiên cứu

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc hệ

thống KTCP và chất lượng thông tin chi phí, làm cơ sở để đề xuất một số kiến nghị nhằm thiết kế cấu trúc hệ thống KTCP giúp nâng cao chất lượng thông tin chi phí cho quản trị chi phí trong các DNSX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

▪ Kiểm chứng ảnh hưởng của cấu trúc hệ thống KTCP đến chất lượng thông tin chi phí tại các DNSX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

▪ Đo lường mức độ ảnh hưởng của các đặc tính của cấu trúc hệ thống KTCP đến từng thuộc tính chất lượng thông tin chi phí tại các DNSX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần phân tích các vấn đề liên quan nhằm trả lời các câu hỏi sau:

- Câu hỏi nghiên cứu 1: Có hay không có tồn tại sự ảnh hưởng của cấu trúc

hệ thống KTCP đến chất lượng thông tin chi phí tại các DNSX trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh?

- Câu hỏi nghiên cứu 2: Mức độ ảnh hưởng của các đặc tính của cấu trúc hệ

thống KTCP đến từng thuộc tính chất lượng thông tin chi phí tại các DNSX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh như thế nào?

4 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: lý luận về hệ thống KTCP và nghiên cứu sâu về ảnh

hưởng của cấu trúc hệ thống KTCP đến chất lượng thông tin chi phí

- Đối tượng khảo sát: ban giám đốc, kế toán trưởng, kế toán tổng hợp và kế

toán viên trực tiếp làm công việc kế toán để có thể đưa ra nhận xét chính xác

và sát với thực tế nhất

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: các DNSX vừa và lớn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Trang 14

- Phạm vi thời gian: khảo sát được thực hiện từ tháng 09/2017 đến 01/2018

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu kế toán quản

trị (KTQT) các chi phí sản xuất gắn liền và hướng đến mục đích phục vụ hoạt động SXKD mà không đề cập đến chi phí tài chính và các chi phí khác; tập trung sâu vào KTCP theo hướng nâng cao tính linh hoạt trong cung cấp thông tin cho những đối tượng khác nhau phục vụ công tác quản trị chi phí

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng, trong đó nghiên cứu định lượng đóng vai trò chủ đạo, cụ thể:

Dạng

nghiên cứu

Phương pháp Kỹ thuật thu thập dữ liệu Mục đích

Sơ bộ Định

tính

- Thu thập và phân tích các nghiên cứu có liên quan đã xuất bản trong các tạp chí khoa học chuyên ngành như Emerald Management, sách điện tử eBrary, ScienceDirect… và tham khảo các luận văn thạc sĩ trên thư viện trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh

- Đề xuất mô hình nghiên cứu

- Thảo luận với người hướng dẫn khoa học và phỏng vấn sâu

5 chuyên gia

- Lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của tác giả

- Tìm hiểu các khái niệm sử dụng trong

mô hình nghiên cứu

- Hiệu chỉnh và bổ sung biến quan sát cho các thang đo, hình thành mô hình và giả thuyết nghiên cứu chính thức

- Xử lý dữ liệu thông qua 200 mẫu thu thập được bằng phần mềm SPSS 22

- Thu thập dữ liệu

- Phân tích định lượng: kiểm định độ tin cậy và giá trị thang

đo, phân tích hồi quy bội và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

- Biện luận kết quả nghiên cứu

Trang 15

7 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm từ các nhà quản trị và những người làm công tác KTQT, đặc biệt là chuyên sâu về KTCP trong các DNSX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh (một thành phố có tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp vượt trội cả nước và mức độ cạnh tranh mạnh mẽ điển hình) nói riêng

về ảnh hưởng của cấu trúc hệ thống KTCP đến chất lượng thông tin chi phí Nghiên cứu mang hàm ý quản trị đối với những DNSX quan tâm đến việc thiết kế và sử dụng hệ thống KTCP bởi sự hiểu biết về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin đầu ra giúp cho doanh nghiệp có cách thức xúc tiến, thúc đẩy các yếu tố tác động này đến việc thiết lập hệ thống KTCP với hiệu quả thông tin chi phí cao nhất cung cấp phục vụ cho quản trị điều hành, lập kế hoạch sản xuất, đưa ra các quyết định phù hợp và tạo được giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp, giảm thiểu tổn thất về chi phí, thời gian và cơ hội kinh doanh Hơn nữa, các thuộc tính chất lượng thông tin được kiểm tra trong nghiên cứu này có thể cung cấp cơ sở cho nhà quản trị

đo lường và đánh giá mức độ hài lòng về hệ thống KTCP hiện tại của công ty

8 Kết cấu bài nghiên cứu

Luận văn được tác giả thực hiện ngoài phần mở đầu và kết luận chung, cấu

trúc bài nghiên cứu gồm có 5 chương với bố cục các chương như sau:

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Ngoài ra, bài nghiên cứu còn có thêm tài liệu tham khảo và các phụ lục nhằm minh họa cho phần trình bày nội dung trong các chương

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề cấu trúc hệ thống KTCP và chất lượng thông tin chi phí đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam Từ đó, tác giả đưa ra những nhận xét và xác định hướng nghiên cứu của đề tài

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.1.1 Nghiên cứu công bố ở nước ngoài

Các công trình nghiên cứu có liên quan công bố ở nước ngoài được tác giả tiếp cận theo tiêu thức chủ đề nghiên cứu như sau:

❖ Các nghiên cứu có liên quan đến thiết kế hệ thống kế toán chi phí:

Chenhall and Morris (1986) nghiên cứu về “The Impact of Structure, Environment, and Interdependence on the Perceived Usefulness of Management Accounting Systems”, xem xét ảnh hưởng của cấu trúc phân cấp,

nhận thức về môi trường không chắc chắn, và sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức vào thiết kế hệ thống KTQT Nghiên cứu xác định mục tiêu chính: thứ nhất, xem xét thiết kế hệ thống KTQT dựa vào tính hữu ích của một số đặc điểm thông tin bao gồm phạm vi, tính kịp thời, mức độ tổng hợp và tích hợp; thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ trực tiếp giữa nhận thức của các nhà quản trị về tính hữu ích của các đặc điểm thông tin KTQT và (1) cơ cấu tổ chức dựa vào mức độ phân cấp, (2) nhận thức của các nhà quản trị về môi trường không chắc chắn và (3) sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức dựa trên mức độ trao đổi giữa các bộ phận trong đơn vị Ngoài việc xem xét tác động trực tiếp của các biến theo ngữ cảnh đối với việc thiết kế hệ thống KTQT, nghiên cứu đã xác định cách thức các biến độc lập tương tác như thế nào, kiểm tra các tác động gián tiếp đối với nhận thức về môi trường không chắc chắn và sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức thông qua cấu trúc phân cấp Các giả thuyết được tạo ra cho cả tác động trực tiếp và gián tiếp của các biến theo ngữ cảnh

và được kiểm tra bằng dữ liệu thu thập từ 68 người quản lý trong các công ty sản xuất tại Sydney Kết quả cho thấy các mối quan hệ: 1) Thông tin được tổng hợp và tích hợp được đánh giá bởi các nhà quản trị phân cấp, đáng chú ý là phạm vi thông

Trang 17

tin rộng và kịp thời không liên quan nhiều đến việc phân cấp; nhận thức về môi trường không chắc chắn có liên quan với phạm vi thông tin rộng và kịp thời; sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức liên quan với phạm vi thông tin rộng, được tổng hợp và tích hợp 2) Tác động của việc nhận thức về môi trường không chắc chắn và sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt tổ chức một phần là do gián tiếp thông qua sự liên kết với quá trình phân cấp Tóm lại, nghiên cứu cho thấy nhận thức về môi trường không chắc chắn có ảnh hưởng gián tiếp thông qua phân cấp giúp các nhà thiết kế hệ thống KTQT nỗ lực cải thiện thời gian phản hồi và thu thập thông tin từ nhiều nguồn trong phạm vi rộng Nghiên cứu này không hướng đến hệ thống KTCP, tuy nhiên cách tiếp cận thông tin và thang đo các biến được Chenhall và Morris tìm ra ở trên vẫn được sử dụng làm nền tảng cho nhiều nghiên cứu sau tại lĩnh vực KTCP nói riêng

Pizzini (2006) nghiên cứu về “The relation between cost-system design, managers’ evaluations of the relevance and usefulness of cost data, and financial performance: an empirical study of US hospitals” thông qua nghiên

cứu thực nghiệm mẫu 277 bệnh viện tại Mỹ, nhằm kiểm định mối quan hệ giữa thiết

kế hệ thống chi phí, đánh giá của các nhà quản trị về sự thích hợp và hữu ích của dữ liệu chi phí và hiệu quả tài chính Bốn thuộc tính quan trọng của thiết kế hệ thống chi phí: mức độ chi tiết của thông tin, khả năng phân loại chi phí theo ứng xử, phân

tích các biến động chi phí và tần suất báo cáo chi phí Đánh giá của nhà quản trị về

dữ liệu hệ thống chi phí và hiệu quả tài chính thực tế giúp xác định xem liệu hệ thống chi phí nhiều chức năng, cung cấp dữ liệu chi phí thích hợp hơn có thể sử dụng để đưa ra các quyết định nâng cao hiệu suất hay không Sự thích hợp của dữ liệu chi phí được đo bằng cách so sánh đánh giá của các nhà quản trị về nhu cầu thông tin chi phí với thông tin thực sự được cung cấp bởi hệ thống chi phí trong việc thực hiện 10 hoạt động quản lý, bao gồm đánh giá hiệu quả hoạt động, đàm phán hợp đồng, lập ngân sách và định giá Tính hữu ích của thông tin được đo bằng một câu hỏi yêu cầu người trả lời đánh giá mức độ người dùng dựa vào dữ liệu

hệ thống chi phí để đưa ra các quyết định (sử dụng) Bằng chứng thực nghiệm cho

Trang 18

thấy hệ thống cung cấp chi tiết và phân loại chi phí tốt hơn, báo cáo thông tin chi phí thường xuyên hơn thì cung cấp dữ liệu chi phí thích hợp và hữu ích hơn sử dụng

để đưa ra các quyết định nâng cao hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, chỉ có khả năng cung cấp chi tiết chi phí là tác động tích cực đến các thước đo về hiệu quả tài chính, bao gồm tỷ suất lợi nhuận cao hơn, tạo ra luồng tiền lớn hơn và có tỷ lệ chi phí quản

lý thấp hơn, ngược lại, các bệnh viện có hệ thống phân tích nhiều biến động đã làm giảm lợi nhuận và tăng chi phí hành chính tương đối cao, đây là mối quan hệ nhân quả tác động âm, vì các bệnh viện hoạt động kém có thể phân tích biến động để xác định và khắc phục các vấn đề Mức độ thích hợp và hữu ích của dữ liệu hệ thống chi phí là rất quan trọng đối với việc khẳng định rằng, việc thiết kế hệ thống chi phí có thể được sử dụng để nâng cao hiệu quả tài chính Theo đó, việc kiểm tra đánh gía của các nhà quản trị về hệ thống chi phí tạo cơ sở cho kỳ vọng rằng các hệ thống chi phí có thể cung cấp chi tiết hơn, phân loại chi phí tốt hơn và phân phối thông tin thường xuyên hơn và rộng rãi hơn có thể dẫn đến việc tăng cường hiệu quả tài chính Pizzini sử dụng lý thuyết bất định làm nền tảng xây dựng các giả thuyết, với các yếu tố khác nhau trong cấu trúc, chiến lược và môi trường của bệnh viện có thể ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống chi phí Và Pizzini cho rằng, hiệu suất hoạt động trong quá khứ không liên quan đến quyết định thay đổi thiết kế hệ thống chi phí, giả thuyết hiệu quả tài chính mạnh mẽ thúc đẩy đầu tư vào các chức năng hệ thống chi phí thì không được ủng hộ Kết quả của Pizzini cung cấp bằng chứng đầu tiên về mối liên hệ giữa chức năng hệ thống chi phí với hiệu quả tài chính thực tế và

do đó giúp giải quyết các yêu cầu về nhu cầu đầu tư lớn hơn vào thiết kế hệ thống chi phí bệnh viện

Omiri and Drury (2007) nghiên cứu về “A survey of factors influencing the choice of product costing systems in UK organizations” nhằm kiểm tra mức

độ mà các yếu tố khác nhau theo ngữ cảnh (tầm quan trọng của thông tin chi phí, tính đa dạng sản phẩm, cấu trúc chi phí, mức độ cạnh tranh, quy mô tổ chức, chất lượng công nghệ thông tin, mức độ sử dụng các kỹ thuật KTQT sáng tạo, mức độ sử dụng kỹ thuật sản xuất (bao gồm kỹ thuật JIT), ngành kinh doanh) ảnh hưởng đến

Trang 19

việc thiết kế hệ thống chi phí sản phẩm Một mẫu ngẫu nhiên bao gồm 1000 công ty sản xuất hoặc dịch vụ của Anh đã được chọn từ cơ sở dữ liệu FYS (FIL) Chỉ những doanh nghiệp có doanh thu hàng năm vượt quá 50 triệu bảng được lựa chọn vì tập trung vào các công ty lớn hơn có thể sẽ có chức năng KTQT Tổng số 384 bảng câu hỏi phản hồi từ mẫu của 1.000 công ty, trong đó 176 bảng câu hỏi đã hoàn thành có thể sử dụng được và 208 bảng chưa hoàn thành Bằng chứng thực nghiệm chấp nhận sáu trong số chín giả thuyết đưa ra Tầm quan trọng của thông tin chi phí và quy mô tổ chức là các nhân số quan trọng, và mức độ cạnh tranh trong ngành tài chính có ý nghĩa Việc sử dụng các kỹ thuật KTQT sáng tạo trong lĩnh vực dịch vụ chỉ có ý nghĩa cho việc phân biệt giữa doanh nghiệp áp dụng hệ thống chi phí trên

cơ sở hoạt động (ABC-Activity Based Cost) và những doanh nghiệp không áp dụng ABC Việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cũng đã có một ảnh hưởng tích cực đáng kể đến việc áp dụng ABC Chất lượng của công nghệ thông tin, sự đa dạng sản phẩm

và cấu trúc chi phí không phải là nhân tố đáng kể Về công nghệ thông tin, chi phí giảm trong những năm gần đây đã dẫn đến sự sẵn có và áp dụng rộng rãi của tất cả các loại hình công ty Do đó, chất lượng của công nghệ thông tin có thể không còn

là rào cản để thực hiện hệ thống chi phí phức tạp hơn Sự thiếu tầm quan trọng của

đa dạng sản phẩm và cơ cấu chi phí là đáng ngạc nhiên mà theo Omiri và Drury có thể là thang đo quá đơn giản không ảnh hưởng đến mức độ phức tạp của hệ thống chi phí

Pavlatos and Paggios (2009) nghiên cứu về “A survey of factors influencing the cost system design in hotels” xem xét mối quan hệ giữa chức năng

hệ thống chi phí và các yếu tố bất định trong ngành khách sạn Một điều tra thực nghiệm qua các bảng câu hỏi đã được tiến hành trên mẫu 100 doanh nghiệp hàng đầu về khách sạn ở Hy Lạp Phân tích dữ liệu cho thấy phần lớn các hệ thống chi phí của khách sạn không cung cấp dữ liệu chi phí chất lượng Các hệ thống chi phí không phân loại chi phí dựa trên hoạt động của khách sạn, chúng cũng không phân tích biến động chi phí và không cung cấp thông tin chi tiết cho mỗi đối tượng chi phí Họ cung cấp cho người dùng báo cáo chi phí hàng năm và dữ liệu chi phí của

Trang 20

họ không được chính xác cao Các hệ thống này cung cấp thông tin về chi phí hữu ích hơn cho việc chuẩn bị báo cáo tài chính (BCTC) hàng năm hơn so với ra quyết định, ngân sách, kiểm soát và đánh giá kết quả hoạt động Chức năng hệ thống chi phí thấp có thể là do các khách sạn chưa điều chỉnh hệ thống chi phí để đáp ứng nhu cầu thông tin gia tăng do những thay đổi môi trường sâu rộng gây ra Và bằng chứng cho thấy mức độ của các chức năng hệ thống chi phí tác động dương với chiến lược chi phí thấp và mức độ sử dụng dữ liệu chi phí để lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định Điều bất ngờ là không có mối liên hệ giữa thiết kế hệ thống chi phí với quy mô, mức độ cạnh tranh, số lượng các biến thể dịch vụ và tình trạng quản lý của khách sạn Pavlatos và Paggios lập luận rằng có thể là thang đo quá đơn giản không chính xác mức độ thiết kế hệ thống chi phí

Schoute (2009) nghiên cứu về “The relationship between cost system complexity, purposes of use, and cost system effectiveness”, sử dụng dữ liệu điều

tra từ 133 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ ở Hà Lan để kiểm tra mối liên hệ giữa tính phức tạp của hệ thống chi phí, mục đích sử dụng và hiệu quả của hệ thống chi phí Câu hỏi đặt ra: do mục đích nào làm chủ yếu sử dụng hệ thống chi phí? Hệ thống chi phí có được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, nhiều hơn (hoặc ít hơn) có hiệu quả? Do hệ thống phức tạp và sử dụng cho các mục đích khác nhau có ảnh hưởng chung về hiệu quả hệ thống chi phí? Schoute đã cung cấp một cái nhìn sâu hơn về những vấn đề này Thứ nhất, phân tích nhân tố xác định hai khía cạnh cơ bản của mục đích sử dụng hệ thống chi phí, bao gồm mục đích sử dụng theo phạm vi rộng để lên kế hoạch sản xuất và quản lý chi phí Tiếp theo, xem xét hiệu quả chung của hệ thống chi phí phức tạp và sử dụng cho kế hoạch sản xuất, quản lý chi phí đối với hiệu quả của hệ thống chi phí theo mức độ sử dụng và mức độ hài lòng Kết quả cho thấy ở mức sử dụng cao hơn cho mục đích lập kế hoạch sản xuất, hệ thống chi phí phức tạp ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ sử dụng, trong khi ở mức sử dụng cao hơn cho mục đích quản lý chi phí, hệ thống chi phí phức tạp ảnh hưởng tích cực đến mức độ sử dụng và sự hài lòng Điều này hàm ý rằng, thiết kế hệ thống chi phí ở

Trang 21

mức độ phức tạp tương thích với mục đích sử dụng thì hệ thống chi phí sẽ hiệu quả hơn

Cohen and Kaimenaki (2011) nghiên cứu về “Cost accounting systems structure and information quality properties: an empirical analysis” thông qua

cuộc khảo sát thu thập dữ liệu từ 119 công ty sản xuất lớn ở Hy Lạp trong thời gian

từ tháng 11/2007 đến tháng 03/2008, đối tượng khảo sát là các Giám đốc tài chính của những công ty trong ngành công nghiệp sản xuất có thiết lập bộ phận KTQT, nhằm mục đích khám phá mối quan hệ giữa cấu trúc hệ thống KTCP (4 thuộc tính quan trọng kế thừa từ Pizzini (2006)) và các đặc tính chất lượng thông tin chi phí (như thích hợp, chính xác, kịp thời, cập nhật, tương thích, tổng hợp, đáng tin cậy và hữu ích cho các mục đích ra quyết định) Kết quả thu được cho thấy rằng, phần lớn các đặc tính cấu trúc hệ thống KTCP có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thông tin chi phí, chỉ có khả năng phân loại chi phí theo ứng xử và khả năng tạo ra các báo cáo chi tiết tùy chỉnh theo yêu cầu người sử dụng không được thấy là có ý nghĩa thống kê liên quan đến chất lượng thông tin

Uyar (2016) nghiên cứu về “Does management accounting mediate the relationship between cost system design and performance?” nhằm mục đích

kiểm tra hiệu quả trung gian của các hoạt động KTQT đối với mối quan hệ giữa thiết kế hệ thống chi phí và hiệu suất Không giống như các nghiên cứu trước đây

về hệ thống chi phí được thực hiện trong các ngành công nghiệp cụ thể như bệnh viện (Pizzini, 2006) và khách sạn (Pavlatos and Paggios, 2009), nghiên cứu này dựa trên một mẫu 553 các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp khác nhau (tỷ lệ cao nhất thuộc các ngành hàng dệt may, đồ dùng gia đình, thực phẩm và kim loại) khu vực Marmara, Thổ Nhĩ Kỳ Uyar đã thông qua các thuộc tính quan trọng của thiết

kế hệ thống chi phí từ Pavlatos and Paggios (2009) và Pizzini (2006) như mức độ chi tiết, phân tích biến động, độ chính xác, tần xuất báo cáo và phân loại chi phí Kết quả chỉ ra rằng, việc thiết kế hệ thống chi phí không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, tuy nhiên, nó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông qua các hoạt động KTQT Hơn nữa, thiết kế hệ thống chi phí có tác động tích cực đến việc sử

Trang 22

dụng các hoạt động KTQT, và hoạt động KTQT đóng góp tích cực vào hiệu quả hoạt động

❖ Các nghiên cứu có liên quan đến chất lượng thông tin chi phí:

Triest and Elshahat (2007) nghiên cứu về “The use of costing information

in Egypt: a research note”, đây là kết quả của một điều tra về việc sử dụng thông

tin kế toán quản lý tại 40 công ty ngành công nghiệp trong bốn lĩnh vực: dược phẩm, thực phẩm, hóa học và bao bì ở Ai Cập Các lĩnh vực được lựa chọn vì sự hiện diện trong nền kinh tế Ai Cập, sự phát triển, tăng trưởng và sự đa dạng trong công nghệ Tất cả là các công ty tư nhân, có nghĩa là không có quyền sở hữu nhà nước Các công ty được yêu cầu đánh giá hệ thống chi phí của họ trên bốn khía cạnh: (1) tính cụ thể: hệ thống chi phí được thiết kế riêng cho hoạt động của công ty thay vì sử dụng hệ thống tiêu chuẩn (2) độ chính xác: các công ty nhận ra hệ thống tính phí không cung cấp thông tin hoàn toàn chính xác (3) sự hài lòng: không có công ty nào cho biết họ không sử dụng số liệu do không chính xác, nghĩa là thông tin không chính xác cũng tốt hơn là không có thông tin (4) kế hoạch phát triển hệ thống thông tin chi phí: 45% muốn phát triển hệ thống chi phí hiện có và hơn 35% muốn điều chỉnh dần dần hoặc trong tương lai, 20% không muốn thực hiện trên hệ thống chi phí Khái niệm về chi phí dựa trên hoạt động gần như không được biết đến ở Ai Cập Việc sử dụng thông tin về chi phí quan trọng nhất là trong các quyết định về giá cả, hàm ý cách tiếp cận chi phí cho việc định giá, nghĩa là được sử dụng nhiều hơn cho các mục đích bên ngoài (giá cả) hơn mục đích nội bộ (hiệu suất)

Michael (2011) nghiên cứu về “Antecedents and consequences of cost information usage in decision making” xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử

dụng thông tin chi phí trong quá trình ra quyết định và những ảnh hưởng của việc sử dụng các loại thông tin chi phí khác nhau đối với các quyết định của người dùng Kết quả của nghiên cứu cho thấy thông tin chi phí dựa trên hoạt động có thể cải thiện kết quả ra quyết định Tuy nhiên, những ảnh hưởng của thông tin về chi phí khi ra quyết định được kiểm soát bởi các yếu tố theo ngữ cảnh bên trong và bên ngoài các tổ chức

Trang 23

1.1.2 Nghiên cứu công bố ở trong nước

Theo các luận văn và đề tài nghiên cứu khoa học tại thư viện Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Mình, các nghiên cứu về hệ thống KTCP đã được nhiều cá nhân

đề cập, chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng hệ thống KTCP hiện đại vào một số công ty

cụ thể, điển hình như:

Võ Văn Nhị và Bùi Văn Dương (2001) với đề tài nghiên cứu khoa học

“Các giải pháp căn bản để phát huy tính hữu ích của hệ thống KTCP sản xuất

và tính giá thành sản phẩm đối với công tác quản trị ở các doanh nghiệp Việt Nam” tập trung một số vấn đề chính: phân loại chi phí sản xuất; xác định đối tượng

và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành theo yêu cầu của kế toán tài chính (KTTC) và KTQT; xây dựng mô hình KTQT trong doanh nghiệp… có ý nghĩa quan trọng để nâng cao tính hữu ích của hệ thống chi phí trong doanh nghiệp

Trịnh Thị Tuyết Nga (2009) nghiên cứu về việc “Hoàn thiện kế toán chi phí tại Công ty cổ phần tư vấn thiết kế giao thông vận tải tư vấn phía nam” cho

thấy TEDI SOUTH đang áp dụng hệ thống KTCP truyền thống và xử lý thông tin

kế toán bằng thủ công, dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ sai lệch và không kịp thời về thông tin chi phí Do vậy mà hoàn thiện hệ thống KTCP sẽ là công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí, đánh giá chính xác trách nhiệm của các bộ phận sản xuất, kịp thời chấn chỉnh sai sót ngay trong quá trình hoạt động

Lâm Thị Trúc Linh (2010) nghiên cứu về việc “Vận dụng hệ thống chi phí dựa trên mức độ hoạt động (ABC) tại công ty ADC” với nhận định ABC là

phương pháp sẽ mang lại hiệu quả tốt trong công tác kiểm soát chi phí và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định, các thông tin sẽ được bộ phận KTQT cung cấp nên công ty cần thiết lập ngay bộ phận KTQT và trước tiên là KTQT chi phí và tính giá thành sản phẩm

Lê Thị Thu Thủy (2013) nghiên cứu về “Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Sơn Dầu Khí Việt Nam” đánh giá thực trạng KTCP

trong doanh nghiệp hiện nay chưa thực sự phù hợp với đặc điểm ngành và khó có

Trang 24

thể đáp ứng được nhu cầu thông tin cho việc ra các quyết định kinh doanh hợp lý, từ

đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống định mức chi phí, hoàn thiện dự toán chi phí, hoàn thiện hệ thống đo lường kết quả chi phí – tính giá thành, hoàn thiện đo lường đánh giá chênh lệch chi phí giữa thực tế với dự toán

Hồ Thùy Dung (2014) nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ thống KTCP tại công ty TNHH Yahon” và Trịnh Phan Thiên Trúc (2014) nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ thống KTCP góp phần nâng cao tính hữu ích thông tin cho quản trị hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH ABRASIVES Việt Nam” tiếp cận theo

góc nhìn mới là các thành phần cấu thành hệ thống KTCP và phát triển theo hướng chi tiết, nâng cao tính hữu ích thông tin cho quản trị hoạt động SXKD

Nguyễn Tú Ngân (2014) với nghiên cứu “Ứng dụng phương pháp KTCP dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty TNHH UNITED INTERNATIONAL PHARMA” nhận định phương pháp ABC được xem xét là có tính ưu việt hơn hẳn

phương pháp truyền thống trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh và tính chi phí chính xác, song không phải doanh nghiệp nào cũng có thể áp dụng được

Nguyễn Thị Thu Hà (2014) với nghiên cứu “Xác lập quy trình phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh khi thực hiện dự án sản xuất tại Công ty cổ phần thương mại xuất nhập khẩu Thiên Nam” cho rằng xác

lập quy trình phân tích chi phí theo mục tiêu cho phép nhà quản trị có thể đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên những thông tin chi phí thích hợp được cung cấp, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong các quyết định liên quan đến việc sản xuất và giới thiệu một sản phẩm mới cho khách hàng trong nền kinh tế thị trường

1.2 KHE HỔNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tương đối đến đề tài luận văn, tác giả đúc kết một số vấn đề mà các nghiên cứu trước đây

đã đạt được và những vấn đề cần tiếp tục giải quyết Các công trình nghiên cứu về KTCP trên thế giới đã có góc nhìn mới về cấu trúc hệ thống KTCP và hướng đến phát huy tính hữu ích của thông tin KTCP cho quản trị chi phí để phù hợp với những thay đổi môi trường kinh doanh Một số đề tài trong nước đã đưa ra những

Trang 25

quan điểm của mình về nội dung KTCP gắn với điều kiện cụ thể của từng lĩnh vực hay đơn vị khảo sát Về cơ bản các công trình tại Việt Nam tiếp cận, xây dựng hệ thống KTCP trên cơ sở truyền thống theo quy trình công việc KTTC, để từ đó hoàn thiện hệ thống KTCP theo những mục đích khác nhau hướng đến thông tin chi phí cho quản trị nhưng chưa chi tiết thông tin chi phí thích hợp cho các công cụ quản trị, chưa đi sâu vào đặc tính cấu trúc hệ thống KTCP với vai trò nâng cao chất lượng thông tin chi phí phục vụ cho quản trị doanh nghiệp Và quan trọng nhất là chưa coi nhu cầu thông tin của nhà quản trị làm tiền đề cho sự hoàn thiện KTCP, chưa đề cập sâu rộng đến mối quan hệ giữa đặc tính cấu trúc hệ thống KTCP và chất lượng thông tin chi phí, điều mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đã thực nghiệm

Đồng thời, trong thực tế việc xây dựng và thực hiện hệ thống KTCP tại doanh nghiệp ở Việt Nam còn khá đơn giản, chủ yếu phục vụ cho cơ quan thuế và một số cơ quan quản lý chức năng, không xem trọng việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị Do đó, dữ liệu đầu vào còn sơ sài vì không kết hợp với các phòng ban khác trong doanh nghiệp để thu thập thông tin đầy đủ, chưa có tính hệ thống trong khâu thực hiện, chưa chú ý đến khai thác các phương tiện, kỹ thuật xử lý thông tin hiện đại Điều này cho thấy rằng doanh nghiệp nên cần có sự quan tâm đúng mức đến việc định hướng, thiết kế hệ thống KTCP nhằm mục đích nâng cao chất lượng thông tin chi phí phục vụ mục tiêu quản trị doanh nghiệp

Và tầm quan trọng của vấn đề, từ chổ số lượng nghiên cứu thực nghiệm kiểm định cụ thể chưa có và cần được bổ sung hoàn thiện trong môi trường các DNSX tại

Việt Nam đã đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Có hay không có sự tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc hệ thống KTCP và chất lượng thông tin chi phí được sử dụng để đưa ra các quyết định kinh doanh? Trong đó, thuật ngữ “ra quyết định” được

sử dụng theo một nghĩa rộng bao gồm các hoạt động như lập kế hoạch và kiểm soát.Đây chính là “khe hổng nghiên cứu” mà luận văn sẽ tập trung đề cập Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu trước đã công bố, tác giả định hướng nghiên cứu của luận văn là xác định ảnh hưởng của cấu trúc hệ thống KTCP đến chất lượng thông tin chi phí Nghiên cứu của Cohen and Kaimenaki (2011) là bao quát nhất và phù hợp với vấn đề

Trang 26

nghiên cứu của tác giả nhất Cohen and Kaimenaki (2011) đã tổng hợp hầu hết các thang đo kết thừa từ các công trình trước đó và đưa ra kỹ thuật định lượng khá rõ ràng Tuy nhiên, khi kế thừa nghiên cứu trên thế giới, một trong những khó khăn là thang đo lường cấu trúc hệ thống KTCP được kiểm định tại Việt Nam, một thang đo phù hợp ở nước này nhưng chưa chắc đã phù hợp cho nước khác với đặc trưng lịch

sử, địa lý và mức độ phát triển kinh tế khác nhau Hơn nữa, những lĩnh vực hoạt động khác nhau có thể áp dụng cấu trúc hệ thống KTCP khác nhau Vì vậy, cần có những nghiên cứu cụ thể theo từng quốc gia, loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh… Dựa trên tầm quan trọng của đề tài đã lập luận ở phần mở đầu cùng với việc đánh giá chung các nghiên cứu có liên quan trước đây, bài nghiên cứu này sẽ tập trung kiểm định lại mô hình của Cohen and Kaimenaki (2011) trong bối cảnh thực nghiệm tại các DNSX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 trên đây, tác giả đã giới thiệu một cách tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài đã được các nhà nghiên cứu ngoài nước và trong nước công bố nhằm giúp cho người đọc có được cái nhìn về bức tranh tổng thể việc thiết

kế hệ thống KTCP và đánh giá chất lượng thông tin trong hệ thống KTCP Từ đó làm cơ sở để tác giả xác định khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu cho

đề tài luận văn Kết quả tổng quát các nghiên cứu là tiền đề cho tác giả trong việc tìm hiểu các khái niệm và cơ sở lý thuyết nền trong Chương 2, hỗ trợ xây dựng nên các giả thuyết nghiên cứu, cũng như đánh giá được các phương pháp nghiên cứu (cách thức xây dựng mô hình nghiên cứu, thang đo các nhân tố và thiết kế bảng câu hỏi) sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề mục tiêu nghiên cứu được tác giả trình bày trong Chương 3 tiếp theo sau đó

Trang 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Mục đích của chương 2 là tác giả cố gắng làm rõ hai khái niệm chính trong nghiên cứu là các đặc tính cấu trúc hệ thống KTCP và các thuộc tính của chất lượng thông tin chi phí; và sử dụng lý thuyết nền ứng dụng trong biện luận mối quan hệ giữa chúng, làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương 3

2.1 CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÔNG TIN CHI PHÍ TRONG QUẢN TRỊ CHI PHÍ 2.1.1 Chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

❖ Quan điểm về chi phí:

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải sử dụng và làm tiêu hao các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, lao động, tài sản cố định… hay còn gọi là nguồn lực kinh tế của một doanh nghiệp Sự tiêu hao các yếu tố đầu vào hình thành nên chi phí Chi phí lại chính là kết quả của các quyết định quản trị nhằm đáp ứng những yêu cầu kinh doanh, và kết quả, hiệu quả hoạt động gắn liền với kết quả, hiệu quả của quản lý và kiểm soát chi phí Việc nhận thức chi phí là tiền đề để kiểm soát

và định hướng hoạt động SXKD

Chi phí được xem là một khái niệm cơ bản nhất của bộ môn kế toán, của việc kinh doanh và trong kinh tế học Theo VAS 01: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi

ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn

chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” Cách

tiếp cận theo quan điểm chi phí của chuẩn mực kế toán cho thấy chi phí là những phí tổn phát sinh làm giảm nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp đang kiểm soát gắn liền với hoạt động SXKD và tác động giảm vốn chủ sở hữu (không phải do hoàn trả vốn) (Huỳnh Lợi, 2009) Tác giả định hướng và nhấn mạnh chi phí trong nghiên cứu này hướng về chi phí trong KTQT, khía cạnh nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Nghĩa là, chi phí có thể là phí tổn thực tế chi ra trong quá trình hoạt động và cũng có thể là chi phí ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án này mà bỏ qua cơ hội kinh doanh khác

Trang 28

❖ Chi phí vận động trong doanh nghiệp sản xuất:

DNSX là một thực thể kinh tế, thực hiện quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ với mục đích thu lợi nhuận Ba hoạt động chính trong DNSX là (1) sản xuất bao gồm các quy trình chế tạo sản phẩm để từ đó tạo ra sản phẩm cung ứng cho nhu cầu thị trường; (2) bán hàng bao gồm các hoạt động cần thiết để tiêu thụ sản phẩm; (3) quản lý hành chính bao gồm các hoạt động liên kết các hoạt động sản xuất với hoạt động bán hàng và các hoạt động khác phát sinh tại doanh nghiệp Quy trình vận động chi phí trong DNSX gắn liền với việc mua nguyên liệu, vật liệu từ các DNSX khác hoặc từ các doanh nghiệp thương mại để đưa vào sản xuất, kết hợp với các yếu

tố khác trong sản xuất để tạo ra thành phẩm cung ứng cho thị trường Quy trình đó, đến cuối kỳ, tạo nên một phần nguyên liệu tồn kho, thành phẩm tồn kho được thể hiện trên bảng cân đối kế toán và một phần thể hiện dưới hình thức giá vốn hàng tiêu thụ được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2014)

Sơ đồ 2.1: Quy trình vận động chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

Nguồn: Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2014)

Trang 29

2.1.2 Tầm quan trọng của thông tin chi phí trong quản trị chi phí

Để xác định tầm quan trọng của thông tin chi phí trong quản trị chi phí, tác giá xuất phát từ nhu cầu thông tin chi phí của nhà quản trị Nhà quản trị cần những thông tin chi phí gì? Chúng được trình bày ở đâu? Cách thức tạo ra các thông tin đó như thế nào?

Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu của

tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao Hoạt động quản trị doanh nghiệp là một quá trình khép kín với các chức năng quan trọng từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến kiểm tra - đánh giá việc thực hiện và ra quyết định kinh doanh

Quản trị chi phí là quá trình tập hợp các phương pháp để lập kế hoạch, kiểm soát hoạt động phát sinh chi phí và ra quyết định quản lý gắn liền với mục tiêu ngắn hạn (đạt được mục tiêu lợi nhuận) và chiến lược dài hạn (duy trì một vị thế cạnh tranh) của doanh nghiệp Theo đó, quản trị chi phí là sự kết hợp của các kỹ thuật tập hợp, tính toán, phân tích và kiểm soát các chi phí nhằm cung cấp thông tin chi phí (bao gồm cả thông tin tài chính, thông tin phi tài chính) cần thiết phục vụ cho quản trị doanh nghiệp

Như vậy, để tồn tại trong môi trường kinh doanh cạnh tranh, doanh nghiệp phải tự cân đối giữa đầu vào và đầu ra, tìm hiểu nhu cầu thị trường và tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm để đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận, nhu cầu thông tin cho quản trị chi phí do vậy mà trở thành một điều tất yếu không thể thiếu được trong tất

cả các quyết định quản trị điều hành doanh nghiệp Michael (2011) đã chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng thông tin chi phí để cải thiện hiệu suất ra quyết định của nhà quản trị Nhà quản trị cần phải nắm được các thông tin về chi phí và cách thức làm sao để có chúng, các thông tin chi phí có thể được cung cấp cho mục tiêu xác định giá phí sản phẩm, dịch vụ hay mục tiêu quản trị chi phí tùy theo nhu cầu của nhà quản trị các cấp

+ Nhà quản trị cấp cơ sở (tổ/ đội trưởng) là cấp sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm hay thực hiện dịch vụ cho khách hàng thì cần thông tin chi phí về kết quả từng lần sản xuất, từng đơn hàng, từng giai đoạn mang tính thực tế, thường

Trang 30

xuyên, cụ thể, chi tiết… để điều phối nguồn lực và phối hợp với các bộ phận khác trong và ngoài đơn vị, giúp nhà quản trị xác định được hoạt động nào tạo ra và không tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp, nhanh chóng phát hiện những yếu kém ở bộ phận trong từng giai đoạn theo khu vực sản xuất, từ đó kịp thời tác nghiệp, điều chỉnh các hoạt động thường xuyên và phân phối lại nguồn lực nhằm đạt hiệu quả tối ưu

+ Nhà quản trị cấp trung (trưởng phòng, ban…) là cấp giám sát công việc và đưa ra các quyết định có tính chiến lược về hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, khách hàng… thì cần thông tin ở mức tổng hợp thông qua báo cáo biến động giữa chi phí thực tế so với dự toán để nhận biết được dấu hiệu cảnh báo tình hình tích cực, tiêu cực và những nguyên nhân ảnh hưởng để đưa ra các phương pháp kiểm soát, các giải pháp điều chỉnh và đánh giá đúng đắn về trách nhiệm của nhà quản trị các cấp, qua đó khuyến khích tạo động lực cho người lao động bằng các chính sách khen thưởng kịp thời

+ Nhà quản trị cấp cao (ban giám đốc, hội đồng quản trị) cần thông tin tổng hợp về hệ thống dự toán chi phí, kết quả thực hiện của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp giúp các nhà quản trị hoạch định chiến lược tổng thể trong từng thời kỳ để khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế, kiểm soát và ngăn ngừa những mất cân đối, rủi ro trong tương lai Thông tin hệ thống KTQT hay KTCP cung cấp cho nhà quản trị cấp cao những thông tin cần thiết để ra quyết định và đánh giá các hoạt động quản lý sao cho doanh nghiệp đạt được hiệu suất tốt nhất (Chenhall, 2003)

Như vậy, có thể thấy rằng chi phí phát sinh gắn liền với các quyết định quản

lý và đồng thời là thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động Thông tin chi phí ngày càng giữ một vai trò quan trọng đối với mọi cấp quản lý trong các doanh nghiệp, đặc biệt là trong các DNSX vừa và lớn, là cơ sở quan trọng phục vụ các chức năng quản trị như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định kinh doanh

Trang 31

2.2 KẾ TOÁN CHI PHÍ TRONG MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH

2.2.1 Kế toán chi phí

❖ Quan điểm về kế toán chi phí:

Chi phí là một nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động cũng như

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tầm quan trọng của thông tin chi phí đối với hoạt động quản trị đã đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ thống có khả năng cung cấp thông tin chi phí phù hợp, kịp thời, đáng tin cậy phục vụ cho lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định, được gọi là hệ thống KTCP

Theo quan điểm của Michael and Cecily (2011), KTCP bao gồm một phần của KTTC và KTQT KTCP cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu của người sử dụng

ở trong và ngoài doanh nghiệp Quan điểm này xem KTCP là phần giao thoa giữa KTTC và KTQT dưới góc độ chi phí, KTCP có thể là một phần linh hoạt trong phân

hệ KTTC hoặc phân hệ KTQT tùy theo mục tiêu, trọng tâm của hệ thống KTCP trong mỗi đơn vị Với thuộc phần KTTC, KTCP có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán Với thuộc phần KTQT, KTCP có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra quyết định kinh doanh

Sơ đồ 2.2: KTCP trong mối quan hệ với KTTC và KTQT

Nguồn: Michael and Cecily (2011) Một quan điểm khác từ Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2014), KTCP được hiểu

là một bộ phận tách ra từ KTTC và KTQT với trọng tâm cung cấp thông tin chuyên sâu về chi phí, một lĩnh vực kế toán có liên quan chủ yếu với việc ghi chép, phân

Trang 32

tích chi phí để tính giá thành, kiểm soát chi phí, đánh giá tình hình thực hiện chi phí,

dự toán trong kỳ kế hoạch Quan điểm này cho rằng KTTC và KTQT thường thể hiện rõ ràng và nổi bật vai trò của nó, tuy nhiên KTCP thường không thể hiện rõ nét như KTTC và KTQT Những doanh nghiệp chú trọng vào thông tin định giá, đánh giá thì KTCP thường gắn liền và chỉ là một bộ phận của KTTC, những doanh nghiệp đề cao thông tin định hướng, ra quyết định quản trị chi phí, KTCP là một phần của KTQT

Sơ đồ 2.3: Hệ thống kế toán doanh nghiệp sản xuất

Nguồn: Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2014) Như vậy, tổng quan do sự phát triển của khoa học quản lý kinh tế nói chung,

hệ thống kế toán doanh nghiệp ngày nay gắn liền với hai phân hệ là KTTC và KTQT Trong đó, KTTC có tính pháp lệnh, bắt buộc các công ty phải mở sổ sách kế toán để theo dõi hoạt động SXKD theo chuẩn mực kế toán chung và KTQT được sử dụng như một công cụ kiểm tra, kiểm soát, thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin nội

bộ phục vụ cho lập kế hoạch, ra quyết định của nhà quản trị Và xuất phát từ thực tế khách quan là thông tin chi phí cho các mục đích quản trị nội bộ ngày càng quan trọng và cần một bộ phận chuyên biệt của KTQT để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp thông tin chuyên sâu về chi phí, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí, dự toán chi phí cho kỳ kế hoạch và ra quyết định quản trị chi phí Trong phạm

vi nội dung nghiên cứu này, tác giả tập trung thuộc phần hệ thống KTCP có trong KTQT và quan điểm về quản trị chi phí chính là nội dung của KTCP

❖ Chức năng của kế toán chi phí:

Kaplan and Cooper (1998) khẳng định rằng hệ thống chi phí thực hiện ba chức năng cho doanh nghiệp: (1) đánh giá hàng tồn kho và tính toán chi phí bán

Trang 33

hàng; (2) ước tính chi phí hoạt động, sản phẩm, dịch vụ và khách hàng; và (3) cung cấp các thông tin kinh tế phản hồi cho các nhà quản trị điều hành kinh doanh hiệu quả hơn Chức năng đầu tiên đáp ứng nhu cầu của các nhà hoạch định chính sách bên ngoài bằng cách cung cấp dữ liệu cho bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập định kỳ, đối với chức năng này, thông tin chi tiết là không cần thiết vì thông tin tổng chi phí là đủ Tuy nhiên, chức năng thứ hai và thứ ba đáp ứng nhu cầu của các nhà hoạch định chính sách nội bộ, đặc biệt là các nhà quản trị, để tạo ra hiệu quả hoạt động tốt hơn và cuối cùng là lợi nhuận chung của công ty

Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2014) cho rằng KTCP cung cấp thông tin hỗ trợ cho một số chức năng như: (1) tính giá thành sản phẩm (đo lường giá trị của các nguồn lực kinh tế sử dụng để sản xuất sản phẩm hay dịch vụ, tiêu thụ và chuyển giao sản phẩm hay dịch vụ đó cho khách hàng); (2) kiểm soát hoạt động (cung cấp thông tin phản hồi về tính hiệu quả và chất lượng của các hoạt động); (3) kiểm soát quản lý (cung cấp thông tin về hiệu quả của các nhà quản trị và các đơn vị kinh doanh); (4) kiểm soát chiến lược (cung cấp thông tin về kết quả tài chính và kết quả

có tính cạnh tranh lâu dài, các điều kiện thị trường, thị hiếu của khách hàng và các cải tiến về mặt kỹ thuật của doanh nghiệp)

Như vậy, xem xét dưới góc độ KTQT, KTCP có chức năng đo lường, phân tích tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động

và các bộ phận nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình hoạt động kinh doanh Nhu cầu của mỗi chức năng khác nhau sẽ phụ thuộc vào tần suất báo cáo, bản chất chi phí, phạm vi hệ thống, mức độ phức tạp của đối tượng chịu phí

+ Đối với chức năng tính giá thành sản phẩm, KTCP cung cấp thông tin chi

phí phản ánh quá khứ các thước đo tổng thể của giá trị hàng tồn kho, giá vốn hàng

đã sản xuất và giá vốn hàng bán ra được báo cáo ra bên ngoài cho các nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng và các đối tượng bên ngoài liên quan đến doanh nghiệp

+ Đối với chức năng kiểm soát hoạt động, hệ thống KTCP cần phải cung cấp

thông tin chi phí, giá thành một cách chính xác, trong thời gian ngắn phục vụ cho việc kiểm soát các hoạt động hàng ngày và phải nhận được thông tin phản hồi về

Trang 34

kết quả hoạt động nhằm phân tích: từng mục chi phí ở từng phòng ban phát sinh có hợp lý với tình hình kinh doanh không? Ví dụ khi sản xuất, bán hàng tăng nhẹ mà chi phí lại tăng mạnh, tại sao? Giá báo nào là phù hợp cho từng sản phẩm để chào hàng cho các khách hàng, các cuộc đấu thầu? Khi công suất máy của doanh nghiệp đang dư, giá bán có cần phải lớn hơn giá thành sản xuất bao gồm cả khấu hao không? Giá nào là hợp lý để có được đơn hàng mà công ty tăng lợi nhuận? Rất nhiều các quyết định quản trị cần thông tin chi phí, giá thành chính xác cho từng sản phẩm, từng khách hàng hay từng kênh bán hàng, từng khu vực bán hàng

+ Đối với chức năng kiểm soát quản lý, hệ thống này phải cung cấp thông tin

phù hợp với từng cấp độ quản lý về trách nhiệm kiểm soát chi phí, mức độ ứng xử của chi phí và tối thiểu hóa phân bổ chi phí Tuần suất báo cáo phụ thuộc vào chu

kỳ sản xuất mà công ty đang thực hiện Hệ thống kiểm soát chi phí nên dựa vào hệ thống dự toán linh hoạt để điều chỉnh các biến động trong ngắn hạn

+ Đối với chức năng kiểm soát chiến lược, hệ thống KTCP cần cung cấp

thông tin chi phí, giá thành từng sản phẩm so với giá bán cho các quyết định quản trị chiến lược và do vậy, nhà quản trị có thể biết được lãi lỗ trực tiếp từng sản phẩm

để có chiến lược phát triển từng sản phẩm, sản phẩm nào nên đẩy mạnh, sản phẩm nào không cần tập trung ưu tiên; quyết định ký kết các hợp đồng; quyết định tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài gia công; chọn lựa nhà cung cấp phù hợp; thiết kế những sản phẩm và dịch vụ đáp ứng những kỳ vọng của khách hàng và đồng thời mang lại lợi nhuận; đưa ra tín hiệu xem các hoạt động cải thiện (liên tục hay gián đoạn – tái cơ cấu) về chất lượng, hiệu quả và tốc độ có cần thiết hay không

2.2.2 Những thay đổi trọng tâm của kế toán chi phí đáp ứng nhu cầu thông tin

cho quản trị chi phí

Khả năng đáp ứng thông tin của hệ thống thông tin kế toán là mức độ thu thập thông tin thích hợp, xử lý, chuyển đổi thông tin nhanh chóng và thành công, truyền đạt lưu trữ thông tin kịp thời, chính xác và không bị sai lệch lượng thông tin cần thiết theo yêu cầu Hiệu quả khả năng đáp ứng thông tin của hệ thống thông tin

kế toán phụ thuộc vào các nhu cầu thông tin đối với hệ thống thông tin kế toán của

Trang 35

người dùng (Galbraith, 1973, 1977) Việc sử dụng KTQT là một phần của hệ thống thông tin chính thức được thiết kế để cung cấp cho nhà quản trị với thông tin phù hợp ra các quyết định hoạt động (Bouwens and Abernethy, 2000)

Có thể nói KTQT là một phần của hệ thống quản trị của một tổ chức (Frezatti et al., 2011) và vai trò của nó trong các tổ chức đã phát triển từ kế toán đơn giản đến sự tham gia nhiều hơn vào việc ra quyết định (Bai and Krishnan, 2012; Walker et al., 2012) Ban đầu, KTQT được sử dụng như một công cụ để theo dõi chi phí sản xuất đầu vào cũng như tính toán chi phí và kiểm soát tài chính Tuy nhiên, môi trường kinh doanh thay đổi đã đặt KTQT trở thành một vị trí chiến lược hơn trong các tổ chức, buộc họ phải có các hệ thống KTQT phức tạp hơn, cho phép tính chi phí chính xác hơn, ví dụ hệ thống chi phí dựa trên hoạt động (ABC-Activity Based Costing), đánh giá thành quả hoạt động dựa trên phương pháp thẻ cân bằng điểm (BSC–Balanced Scorecard), phân tích chuỗi giá trị, cũng như phân tích khách hàng và đối thủ cạnh tranh để nâng cao chất lượng thông tin và kết quả là tăng cường ra quyết định tốt hơn

KTCP chính là một nội dung chủ yếu của KTQT, theo đó, hệ thống KTCP sẽ tổng hợp và kết nối thông tin đầu vào và thông tin đầu ra của chi phí qua một quy trình xử lý nhất định để đáp ứng mục tiêu cung cấp thông tin chi phí cho những mục đích nhất định (Hồ Thùy Nhung, 2014) Sự thay đổi nhu cầu thông tin chi phí phục

vụ cho mục tiêu quản trị trong bối cảnh môi trường kinh doanh cạnh tranh đã đặt mục tiêu trọng tâm thay đổi một hệ thống KTCP linh hoạt hơn theo những phương pháp đo lường khác nhau dựa trên quy chuẩn quản trị nội bộ của mỗi doanh nghiệp, hướng đến đáp ứng tốt nhất yêu cầu thông tin chi phí thường xuyên và hữu ích, không bắt buộc tuân theo những chuẩn mực của chế độ kế toán hiện hành

Hệ thống KTCP dựa trên hoạt động được Johnson and Kaplan (1987) đề cập đến trong cuốn “Relevance lost: The rise and fall of management accounting” như

là một phương pháp cải thiện việc tính toán chi phí của phương pháp tính giá truyền thống, phân bổ một cách chính xác các khoản chi phí gián tiếp khổng lồ cần thiết để thiết kế, sản xuất, tiếp thị, bán, giao sản phẩm và dịch vụ Trong nghiên cứu này, tác

Trang 36

giả tiếp cận hệ thống KTCP theo phương pháp ABC xem như là một trong những

hệ thống KTCP tốt nhất hỗ trợ các quyết định chiến lược như định giá sản phẩm vì giới hạn chính xác hơn chi phí cấu thành của các đối tượng tính phí Hệ thống ABC cung cấp thông tin vượt trội so với hệ thống chi phí truyền thống (TCA - Traditional Costing Accounting), cải thiện hiệu quả tài chính khi được sử dụng với một số chiến lược khác đồng thời trong các điều kiện môi trường cụ thể (Cagwin and Bouwman, 2002)

❖ Phương pháp phân bổ chi phí dựa trên mức độ hoạt động – ABC:

Quan điểm: Việc thiết kế, sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ đòi hỏi

phải thực hiện bởi nhiều hoạt động Để thực hiện hoạt động, cần thiết phải mua và

sử dụng các nguồn lực, do vậy mà phát sinh chi phí Lý thuyết về ABC cho rằng các nguồn lực tiêu hao sinh ra chi phí, các hoạt động tiêu hao nguồn lực và sản phẩm, dịch vụ tiêu tốn các hoạt động Theo quan điểm của hệ thống ABC, nhiều nguồn lực của doanh nghiệp không những chỉ được sử dụng để sản xuất sản phẩm mà còn được sử dụng cho những hoạt động phục vụ sản xuất Mục tiêu của ABC không phải là phân bổ chi phí chung đến sản phẩm mà là đo lường và phân bổ chi phí nguồn lực đến các hoạt động hỗ trợ cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2014)

Cách thức: ABC đi đầu trong việc tính giá thành đơn vị sản phẩm chính xác

và khoa học hơn TCA, bởi vì TCA phân bổ chi phí sản xuất chung (CPSXC) cho từng sản phẩm bằng cách tập hợp chi phí theo từng trung tâm chi phí, sau đó phân

bổ chi phí từng trung tâm chi phí này vào sản phẩm dựa trên một tỷ lệ (phân bổ đều) chi phí chung định trước với tiêu thức phân bổ đơn giản là số giờ lao động trực tiếp,

số giờ máy chạy, tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất… mà không quan tâm đến mức độ tiêu dùng hoạt động để tạo ra sản phẩm dịch vụ đó, đồng thời tự động hóa sản xuất đã dẫn đến CPSXC ngày càng chiếm tỷ trọng lớn nên tiêu thức phân bổ theo chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT) không còn phù hợp Thay vào đó, ABC trước hết phân bổ chi phí của các nguồn lực đến các hoạt động theo từng trung tâm hoạt động, sau đó chi phí các hoạt động được phân bổ đến các đối tượng chịu phí

Trang 37

(từng sản phẩm, dịch vụ, khách hàng, trung tâm chi phí, kênh phân phối) dựa trên các hoạt động mà đối tượng đó đã tiêu dùng (Kaplan and Cooper, 1992), hay nói cách khác là phân bổ chi phí nguồn lực vào các đối tượng chịu phí căn cứ trên mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây ra chi phí và đối tượng tiêu tốn hoạt động đó Như vậy, ABC có thể biến một chi phí gián tiếp thành một chi phí trực tiếp với đối tượng chịu phí là hoạt động Tính ưu việt của ABC đã được thừa nhận trên thế giới

vì nó giúp các nhà quản trị trong việc xác định chính xác chi phí phát sinh cho bộ phận nào, cho hoạt động nào, cho sản phẩm nào, hoặc cho đối tượng khách hàng nào

Sơ đồ 2.4: Hệ thống ABC – Dòng di chuyển của chi phí từ nguồn lực đến đối

tượng chịu phí

Nguồn: Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2014)

2.3 CẤU TRÚC HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ

Tăng chi phí, tăng cường cạnh tranh và giảm lợi nhuận đang khuyến khích các công ty thiết lập một hệ thống chi phí mạnh mẽ, toàn diện và thực hiện hệ thống KTQT tinh vi giúp cho việc ra quyết định quản lý (Uyar, 2016)

Trang 38

Cấu trúc KTCP được định nghĩa bởi bốn đặc tính riêng biệt: mức độ chi tiết của thông tin KTCP, khả năng phân loại chi phí theo ứng xử, phạm vi phân tích để kiểm soát, đánh giá những biến động chi phí và tần suất cung cấp thông tin KTCP cho nhà quản trị (Cohen and Kaimenaki, 2011) Đặc tính đầu tiên, “mức độ chi tiết của thông tin KTCP” đề cập đến khả năng hệ thống cung cấp dữ liệu về các đối tượng chịu phí theo từng sản phẩm, thành phần và dịch vụ (Chenhall and Morris, 1986; Feltham, 1977; Kaplan and Norton, 1992; Karmarkar et al., 1990) Đặc tính thứ hai, “khả năng phân loại chi phí theo ứng xử” (Johnson, 1992; Karmarkar et al., 1990) liên quan chặt chẽ với đặc tính đầu tiên, để cung cấp thông tin chi tiết, hệ thống phải tách riêng và phân loại chi phí theo ứng xử Đặc tính thứ ba, “phạm vi phân tích để kiểm soát đánh giá những biến động chi phí”, nêu rõ sự khác biệt giữa kết quả dự toán và kết quả thực tế, và tìm nguyên nhân cho những chênh lệch (Karmarkar et al., 1990; Simons, 1987) Đặc tính cuối cùng, “tần suất báo cáo chi phí” cho phép các nhà quản trị giải quyết kịp thời các vấn đề và xác định cơ hội cải tiến (Hilton, 1979; Karmarkar et al., 1990; Simons, 1987) Hệ thống chi phí nhiều chức năng là những hệ thống có thể cung cấp thông tin chi tiết hơn, phân loại chi phí tốt hơn theo ứng xử, báo cáo thông tin chi phí thường xuyên hơn, và phân tích biến động nhiều hơn (Pizzini, 2006)

2.3.1 Mức độ chi tiết của thông tin kế toán chi phí

Các nghiên cứu về KTQT thường cho rằng một chức năng quan trọng của hệ thống KTCP là khả năng cung cấp chi tiết và linh hoạt cho phép phân tích chi phí cho các mục đích khác nhau Mức chi tiết đề cập đến khả năng hệ thống cung cấp

dữ liệu chi phí chi tiết về các đối tượng chịu phí từ tổng thể đơn vị đến từng sản phẩm, thành phần và dịch vụ Chenhall and Morris (1986), Kaplan and Norton (1992), và Karmarkar et al (1990) kết hợp mức độ chi tiết trong đặc tính về thiết kế

hệ thống KTCP

Việc quản trị chi phí theo nhiều chiều khác nhau, cho nhiều mục đích quản trị, cần một hệ thống KTCP chi tiết mức độ phân tích chi phí theo từng đối tượng chịu chi phí, quá trình diễn ra trình tự như sau: (1) Cộng dồn chi phí: là việc thu

Trang 39

thập các chi phí theo bản chất của nó như nguyên vật liệu, nhân công hoặc theo các hoạt động được thực hiện như quá trình đặt hàng, quá trình máy hoạt động, sản xuất hay các chi phí marketing, bán hàng; (2) Phân bổ chi phí: là việc truy tìm nguồn gốc

và phân bổ lại cho một hoặc nhiều hơn các đối tượng chi phí như các trung tâm chi phí (nơi diễn ra chi phí và người chịu trách nhiệm quản trị các chi phí này), các khách hàng, sản phẩm, các hoạt động hay kênh phân phối Tùy thuộc vào từng loại quyết định khác nhau mà nhà quản trị sử dụng thông tin về các đối tượng chịu phí khác nhau Ngoài ra, mức độ quan tâm của nhà quản trị trong các doanh nghiệp khác nhau đối với từng đối tượng chịu phí khác nhau cũng khác nhau

❖ Đối tượng chịu chi phí là trung tâm chi phí:

Khái niệm “trung tâm chi phí” xuất phát từ “trung tâm trách nhiệm” được sử dụng trong KTQT theo mô hình kế toán trách nhiệm Trung tâm trách nhiệm là một

bộ phận (phân xưởng, dây chuyền sản xuất; một phòng, ban; một công ty hoặc toàn

bộ công ty) trong một tổ chức mà người quản lý của bộ phận đó có quyền điều hành

và có trách nhiệm đối với số chi phí, thu nhập phát sinh hoặc số vốn đầu tư sử dụng vào hoạt động kinh doanh (Thông tư 53/2006/TT-BTC) Do vậy, trung tâm chi phí

là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị ở bộ phận đó chịu trách nhiệm về những biến động chi phí phát sinh trong kỳ Trung tâm chi phí có thể là bộ phận (phân xưởng, đội, tổ, ) hoặc từng giai đoạn hoạt động (giai đoạn làm thô, giai đoạn cắt gọt, giai đoạn đánh bóng, ) Ví dụ bộ phận sản xuất chịu trách nhiệm kiểm soát chi phí sản xuất, bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm kiểm soát chi phí bán hàng… Một trung tâm chi phí có thể có một hoặc nhiều bộ phận chi phí và nhà quản trị ở bộ phận nào thì sẽ có trách nhiệm kiểm soát chi phí ở bộ phận đó Thành quả của các trung tâm chi phí thường được đánh giá bằng việc so sánh chi phí thực tế với chi phí

dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh Với quan điểm này thì mỗi trung tâm chi phí được giao cho một nhà quản trị phụ trách nhằm giữ cho chi phí không vượt quá định mức, đảm bảo duy trì hoạt động của trung tâm có hiệu quả Trung tâm chi phí thể hiện phạm vi cơ bản của hệ thống xác định chi phí và là điểm xuất phát của các hoạt động lập dự toán chi phí, phân loại chi phí thực tế phát sinh, so sánh chi

Trang 40

phí thực tế với chi phí tiêu chuẩn Việc hình thành các trung tâm chi phí giúp các nhà quản trị tăng cường khả năng kiểm soát chi phí, trao quyền và động viên, khuyến khích sự gắn bó của nhân viên, từ đó cải thiện tốc độ và mức độ hiệu quả của tiến trình ra quyết định bởi tính chất chuyên môn hoá của các trung tâm

❖ Đối tượng chịu chi phí là sản phẩm, khách hàng:

Với thông tin chi tiết phân tích cho từng đối tượng chịu chi phí là sản phẩm, khách hàng, có thể là từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm cùng loại, đơn đặt hàng…Khi đó, thông tin chi phí được phân bổ cho các đối tượng theo nguyên nhân phát sinh không nhằm mục tiêu đánh giá trách nhiệm của nhà quản trị mà nhằm giúp nhà quản trị thấy được chi phí và nguồn gốc phát sinh chi phí, tính giá thành sản phẩm sản xuất (tổng chi phí trực tiếp và một phần của chi phí gián tiếp được phân bổ hay sử dụng) phục vụ định giá bán sản phẩm và lãi lỗ trực tiếp của từng sản phẩm cũng như lợi nhuận trực tiếp cho từng khách hàng riêng biệt để biết sản phẩm nào, khách hàng lớn nào công ty cần phải đặc biệt quan tâm và có chiến lược, chính sách giá phù hợp cho từng sản phẩm và từng khách hàng, hơn nữa, doanh nghiệp có thể tính toán quyết định tự sản xuất hay mua ngoài các đầu vào nguyên vật liệu, lựa chọn cơ cấu mặt hàng, lập kế hoạch lợi nhuận…

❖ Đối tượng chịu chi phí là hoạt động:

Hoạt động là một sự kiện, một hành động, một giao dịch hay một công việc được thực hiện để sản xuất sản phẩm, dịch vụ Khi các hoạt động xảy ra sẽ phát sinh chi phí Chi phí phát sinh để thực hiện hoạt động nào sẽ được tập hợp trực tiếp đến hoạt động đó, do đó, có thể phân bổ chi phí và tính giá thành sản phẩm dựa trên mức độ hoạt động tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm Với việc chuyển trọng tâm xác định đối tượng chịu chi phí từ sản phẩm sang hoạt động đã làm cho thông tin giá thành chính xác hơn, giúp nhà quản trị đánh giá khách quan việc sử dụng nguồn lực và tạo điều kiện áp dụng quản trị dựa trên cơ sở hoạt động

Các cách lập luận trên cho thấy, đối tượng chịu chi phí có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện các nội dung của KTCP, việc xác định đối tượng chịu chi phí phải xuất phát từ nhu cầu thông tin chi phí phục vụ cho nhà quản trị các cấp tùy

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w