1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giải pháp tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đến năm 2015

94 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về khía cạnh quản lý Nhà nước: Ở Việt Nam, theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng TCTD năm 2010, VTC gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi

Trang 1

ĐÀO XUÂN HẠNH

GIẢI PHÁP TĂNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

ĐÀO XUÂN HẠNH

GIẢI PHÁP TĂNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 3

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu, biểu đồ và đồ thị

Phần mở đầu

Trang 4

viết này là trung thực và có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu không đúng sự thật

NGƯỜI CAM ĐOAN

ĐÀO XUÂN HẠNH

Trang 5

1.1 Tổng quan về vốn tự có của các ngân hàng thương mại -

1.1.1 Khái niệm vốn tự có - 1

1.1.2 Đặc điểm vốn tự có - 2

1.1.3 Chức năng vốn tự có - 3

1.1.4 Thành phần vốn tự có - 5

1.1.5 Đo lường quy mô vốn tự có - 24

1.1.6 Vốn ngân hàng và rủi ro - 25

1.2 Sự cần thiết phải tăng vốn của các ngân hàng thương mại -

1.2.1 Các áp lực buộc ngân hàng phải tăng vốn tự có - 27

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp tăng vốn tự có - 28

1.2.3 Hoạch định nhu cầu vốn của Ngân hàng - 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 -

-o0o -

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Quá trình tăng vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam -

2.1.1 Thời kỳ từ năm 1987 đến năm 1997 - 33

2.1.2 Thời kỳ từ năm 1998 đến năm 2006 - 36

2.1.3 Thời kỳ từ năm 2007 đến nay - 38

2.2 Nền kinh tế và nguyên nhân buộc các ngân hàng thương mại phải tăng vốn tự có -

2.2.1 Sơ lược bối cảnh kinh tế năm 2010 - 41

2.2.2 Nguyên nhân buộc các ngân hàng thương mại phải tăng vốn tự có - 43

2.2.3 Tình hình tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại - 47

Trang 6

2.3.2 Những hạn chế - 59

2.4 Những tồn tại trong quá trình tăng vốn tự có trong thời gian qua -

2.4.1 Phương diện Chính phủ - 60

2.4.2 Phương diện Ngân hàng Nhà nước - 60

2.4.3 Phương diện Ngân hàng thương mại - 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 -

-o0o -

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015 3.1 Điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam -

3.1.1 Điểm mạnh - 63

3.1.2 Điểm yếu - 64

3.1.3 Thời cơ - 65

3.1.4 Thách thức - 66

3.2 Những giải pháp tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại cổ phần - 3.2.1 Tăng từ nguồn vốn bên trong - 68

3.2.2 Tăng từ nguồn vốn bên ngoài - 71

3.2.3 Sáp nhập, hợp nhất, mua lại - 73

3.2.4 Bài học từ Malaysia - 74

3.3 Các giải pháp đối với Nhà nước và Chính phủ -

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế - 75

3.3.2 Phát triển thị trường chứng khoán - 76

Trang 7

3.4.2 Đẩy mạnh chương trình cải cách, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng - 77

3.4.3 Từng bước thiết lập cơ chế đánh giá vốn tự có theo chuẩn quốc tế - 77

3.4.4 Tăng cường công tác thanh tra, giám sát - 78

3.5 Giải pháp hỗ trợ khác đối với các ngân hàng thương mại cổ phần -

3.5.1 Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại hoạt động Ngân hàng - 78

3.5.2 Xây dựng chiến lược phát triển nhân sự - 79

3.5.3 Đầu tư phát triển công nghệ thông tin trong lĩnh vực Ngân hàng - 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 -

KẾT LUẬN Tài liệu tham khảo -

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu, viết tắt Tên đầy đủ

2 Eximbank Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam

4 Techcombank Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam

7 Maritime Bank Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam

9 DongA Bank Ngân hàng TMCP Đông Á

13 MD Bank Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông

14 PhuongNam Bank Ngân hàng TMCP Phương Nam

15 Habubank Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội

16 Saigon Bank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương

17 Kiên Long Bank Ngân hàng TMCP Kiên Long

18 VietA bank Ngân hàng TMCP Việt Á

19 Nam A Bank Ngân hàng TMCP Nam Á

20 PG Bank Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex

21 Wester Bank Ngân hàng TMCP Phương Tây

22 GiaDinhBank Ngân hàng TMCP Gia Định

23 Navi Bank Ngân hàng TMCP Nam Việt

24 BaoViet Bank Ngân hàng TMCP Bảo Việt

Trang 9

29 NH Ngân hàng

32 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 10

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Bảng 1.1: Mức vốn pháp định của TCTD

Bảng 1.2: Thực thi Basel II ở một số nước Châu Á

Bảng 2.1: Mức VĐL tối thiểu giai đoạn 1994-1996

Bảng 2.2: Mức VĐL tối thiểu đối với các TCTD thành lập từ năm 1996

Bảng 2.3: Mức VPĐ tối thiểu của các NHTM từ năm 2001

Bảng 2.4: Mức VPĐ áp dụng từ năm 2008 đến nay

Bảng 2.5: Danh mục VPĐ dự kiến

Bảng 2.6: Quy mô VĐL của một số NHTM của các quốc gia trong khu vực

Bảng 2.7: Quá trình tăng vốn của các Ngân hàng

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

Sự cần thiết của đề tài

“Ảo mộng Lehman Brothers” – phá sản vì khoản thua lỗ 660 tỷ USD (vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử thế giới) – Nạn nhân đầu tiên của cơn bão tài chính từ năm 2008 Và là sự khởi đầu đen tối cho sự sụp đổ hàng loạt Ngân hàng ở Mỹ nói riêng và trên thế giới nói chung Lãnh đạo hàng đầu của các nền kinh tế thuộc G20 cho rằng các ngân hàng cần tăng vốn mạnh để có thể ngăn khủng hoảng tài chính lặp lại Ngoài ra các nhà lãnh đạo cũng đưa ra biện pháp linh hoạt hơn để khuyến khích các ngân hàng thay đổi Theo dự thảo đưa ra tại G20, đến cuối năm 2012, các nước cần áp dụng tiêu chuẩn mới và ngân hàng vì thế sẽ có thể tăng vốn trong giai đoạn chuyển dời này Các ngân hàng cần tăng vốn cấp 1 để ứng phó tốt hơn với một cuộc khủng hoảng mới mà không cần đến hỗ trợ từ chính phủ

Hệ thống NHTMCP Việt Nam tuy chưa hội nhập sâu trong hệ thống tài chính thế giới nhưng cũng không sớm để chuẩn bị những biện pháp đảm bảo an toàn cho hệ thống trước cuộc khủng hoảng có quy mô toàn cầu như hiện nay Buộc các Ngân hàng phải đáp ứng mức vốn điều lệ tối thiểu là biện pháp ưu tiên được Chính Phủ đề ra dưới sự giám sát, kiểm tra của NHNN Theo lộ trình thì các ngân hàng phải liên tục tăng vốn đến năm 2015 với tốc độ cao nhằm cải thiện năng lực tài chính để tăng sức chịu đựng trước những rủi ro kinh doanh Đó cũng là một biện pháp nhằm sắp xếp, cải cách từng bước hệ thống ngân hàng phù hợp với quy luật phát triển kinh doanh

Trước thực trạng cấp bách đó, tôi đã chọn đề tài “GIẢI PHÁP TĂNG VỐN

TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015” làm mục tiêu nghiên cứu cho luận văn

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trang 12

Đối tượng nghiên cứu tìm hiểu nguồn vốn tự có, biện pháp tăng vốn trong phạm vi các NHTMCP Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong giai đoạn đến năm 2015

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp được sử dụng là phương pháp phân tích so sánh, thống kê, quy nạp và tham khảo kết quả nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu khác

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Luận văn hướng tới giúp người đọc hiểu được các khái niệm cơ bản về vốn của ngân hàng, vai trò và tầm quan trọng của nó, tính cấp thiết buộc các NHTMCP phải tăng vốn trong giai đoạn đến năm 2015 Nêu ra những thực tiễn và những khó khăn trong quá trình tăng vốn của hệ thống NHTMCP Đồng thời, đóp góp những ý kiến, biện pháp nhằm gia tăng VTC cho các ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng

Kết cấu của Luận văn:

Luận văn có bố cục gồm 3 chương

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương 2: THỰC TRẠNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015

Trang 13

dự trữ khác, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu dài hạn,… Cơ sở để xem xét này thường dựa vào đánh giá mức độ an toàn của nguồn vốn đó với hoạt động ngân hàng Vì vậy, trong luận văn này, khái niệm VTC và VCSH sẽ được tách biệt theo các hiểu nêu vừa nêu trên

1.1.1 Khái niệm vốn tự có

VTC là một khái niệm rộng, tùy góc độ mà người ta có thể đưa ra những định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng đây là nguồn vốn ổn định, an toàn trong một doanh nghiệp Định nghĩa này được áp dụng cho tất cả loại hình doanh nghiệp, kể cả ngân hàng Tuy nhiên, do tính chất đặc trưng của ngành ngân hàng nên người ta còn đưa ra một số khái niệm khác về VTC để có thể kiểm soát hoạt động của ngân hàng

Về khía cạnh kế toán: VTC của một ngân hàng tại thời điểm nhất định là hiệu số giữa giá trị ghi sổ của tài sản có và giá trị ghi sổ của tài sản nợ của ngân hàng tại thời điểm đó Thông qua các số liệu kế toán, người ta xây dựng các chỉ tiêu tương quan giữa VTC với các số liệu tài chính để có thể đánh giá hợp lý vốn của ngân hàng

Về khía cạnh kinh tế: VTC là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và vốn được tạo ra trong quá trình kinh doanh, dưới hình thức lợi nhuận

Trang 14

giữ lại và các hình thức sở hữu khác Theo quan điểm này, VTC là cơ sở để ngân hàng chủ động định hướng các chính sách phân phối tài chính, thực hiện chiến lược thu hút vốn, mở rộng hợp tác, phát triển kinh doanh

Về khía cạnh pháp lý: VTC của ngân hàng là điều kiện căn bản để ngân hàng được thành lập và là yếu tố chủ yếu để đảm bảo trách nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng, tạo niềm tin cho khách hàng về trách nhiệm kinh tế của ngân hàng đồng thời đảm bảo an toàn cho hoạt động của toàn hệ thống

Về khía cạnh quản lý quản trị: dưới quan điểm quan trị, VTC của ngân hàng được phân thành 2 loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2 Cách phân biệt theo cấu trúc vốn làm tăng tính linh hoạt động quản lý, cho phép ngân hàng dễ dàng tìm kiếm thêm các nguồn vốn mới với chi phí hợp lý hơn Vận dụng quan điểm này, ban quản trị ngân hàng có thể xây dựng chính sách quản lý vốn hợp lý hơn, góp phần nâng cao chất lượng tổng nguồn vốn, gia tăng khả năng cạnh tranh, đáp ứng các mục tiêu đề

ra

Về khía cạnh quản lý Nhà nước: Ở Việt Nam, theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010, VTC gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngoài ra, VTC còn là căn cứ để tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng

Như vậy, tùy theo mục đích mà người ta sẽ có quan niệm khác nhau về VTC nhưng tất cả đều thống nhất rằng VTC phải bao gồm trong đó vốn chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại và các phần vốn đảm bảo được tính ổn định, lâu dài Theo quá trình phát triển, người ta mở rộng khái niệm này thông qua việc hình thành các phương pháp kỹ thuật xác định VTC dựa vào quy chế hoạt động đặc thù của ngành ngân hàng nhằm đảm bảo hệ số hoạt động an toàn Trên cơ sở này, luận văn sẽ nghiên cứu VTC theo quan điểm giá trị để có thể xây dựng được những kế hoạch kinh doanh tốt hơn thông qua việc phân chia cụ thể cấu trúc vốn

1.1.2 Đặc điểm vốn tự có

Trang 15

Trong thời gian đầu hoạt động, VTC là cơ sở để tạo nên nguồn lực tài chính của NHTM Vốn tự có được sử dụng cho mục đích đầu tư vào tài sản cố định, đầu

tư dài hạn và ngắn hạn để sinh lời

Là nguồn vốn ổn định và thường tăng trưởng trong quá trình hoạt động đồng thời vốn tự có luôn tham gia vận động và tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng Mọi quyết định tăng thêm vốn luôn gắn liền với yêu cầu phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng hoạt động của ngân hàng

Mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (từ 10 – 15%) nhưng VTC đóng một vai trò vô cùng quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác Giá trị của VTC gắn liền với uy tín, năng lực, vị thế của chủ sở hữu vốn và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường

VTC quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng như các giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay và bảo lãnh,… vì hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) phải chịu sự chi phối của các quy định pháp luật dựa trên căn cứ là quy

mô vốn tự có

Ngoài ra, VTC được hình thành từ những nguồn vốn hợp pháp được phép lưu chuyển trên thị trường tài chính Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, VTC của ngân hàng sẽ mang tính quốc tế gắn liền với môi trường cạnh tranh cao khi mà các NHTM đang mở rộng việc thu hút đầu tư thông qua thị trường tài chính bằng các công cụ tài chính đa dạng

1.1.3 Chức năng vốn tự có

1.1.3.1 Chức năng bảo vệ:

Với chức năng bảo vệ, vốn tự có là lá chắn chống đỡ, bù đắp những tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Các ngân hàng phải có đủ VTC để đảm bảo được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp đồng thời còn phải cung cấp được một khoản vốn dự trữ đủ để duy trì được khả năng trả nợ tránh mọi sự đe dọa do thua lỗ Đây cũng chính là lý do khiến cho NHNN rất quan tâm trong việc đưa ra những quy định giám sát chặt chẽ VTC của các NHTM

Trang 16

Bên cạnh đó, VTC còn làm chức năng chịu trách nhiệm về tài sản đối với người gửi tiền Thông qua VTC, NHTM phải thể hiện được trách nhiệm về tài sản của người kinh doanh đối với những khoản tiền gửi nhằm tạo ra sự tin cậy và an tâm cho khách hàng Điều này thể hiện ở chỗ, hệ số VTC đối với các khoản mục trong bảng tổng kết tài sản được ngụ ý như là mức độ mà ở đó khi các ngân hàng bị thiệt hại, dưới hình thức này hay hình thức khác, mà vẫn đủ vốn để đảm bảo sự an toàn vốn của người ký thác Bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền thực chất là bảo vệ

sự an toàn cho chính ngân hàng vì kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực hoạt động có tính nhạy cảm cao, thường xuyên gắn liền với các rủi ro

Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới Khi một ngân hàng phát triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời những dịch vụ mới và những trang thiết bị mới Hầu hết các ngân hàng đều mở rộng và phát triển cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng Ngoài ra, khi sử dụng VTC vào việc đầu tư các tài sản ngắn hạn và dài hạn như đầu

tư vào cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ,… là để đem lại lợi nhuận cho ngân hàng cũng đồng thời nhằm duy trì mức vốn khả dụng cho ngân hàng

1.1.3.3 Chức năng điều chỉnh

Trang 17

Với chức năng điều chỉnh, VTC xác lập các giới hạn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng Cả cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi rằng vốn ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và những tài sản rủi ro khác Khi thành lập chi nhánh mới hoặc triển khai các hoạt động kinh doanh mới, quyết định đầu tư, cho vay, mua sắm tài sản, hay khi quyết định mua lại, sáp nhập,… để có đủ khả năng thực hiện các quyết định trên và có đủ cơ sở pháp lý để được cấp giấy phép kinh doanh thì vốn tự có của ngân hàng cũng phải được xác định lại sao cho tương ứng với các yêu cầu thực tế có thể phát sinh

Các cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng sử dụng các quy định về tỷ lệ giới hạn VTC như một công cụ vĩ mô để điều tiết các hoạt động của cán NHTM Các giới hạn này được luật hóa bằng các tiêu chuẩn pháp lý cụ thể với hàng loạt các quy định ràng buộc có liên quan, dựa trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của các tài sản đầu tư, mức độ khó khăn, sự khác biệt giữa các ngân hàng,…

1.1.4 Thành phần vốn tự có:

1.1.4.1 Hiệp ước BASEL về an toàn vốn

1.1.4.1.1 Quá trình ra đời của Hiệp ước vốn Basel

Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision

- BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương

và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80 Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm

Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel, gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên

Trang 18

Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước

Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của

Uỷ ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên

Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của nhóm G10 Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho những sáng kiến của Ủy ban Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tài chính Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng Để đạt được mục tiêu đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề này

Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế Đến năm 1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn chế

Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm

Trang 19

lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành

Lịch sử vắn tắt:

 Năm 1974, BCBS được thành lập từ nhóm G10 Ngân hàng Trung ương

 Năm 1988, Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ 1992

 Năm 1996, được sửa đổi bổ sung thêm rủi ro thị trường (có hiệu lực từ 1997)

 Tháng 6/1999, đề xuất một khung mới – chương trình tư vấn lần thứ nhất (First Consultative Package – CP1)

 Tháng 1/2001, chương trình tư vấn lần thứ hai (CP2)

 Tháng 4/2003, chương trình tư vấn lần thứ ba (CP3)

 Quý 4/2003, phiên bản hoàn thiện của Hiệp ước Basel mới

 Tháng 1/2007, Hiệp ước vốn Basel mới (Basel II) có hiệu lực

 2010, chấm dứt quá trình chuyển đổi

1.1.4.1.2 Những điểm cơ bản của Basel I và Basel II:

 Tiêu chuẩn của Basel I:

(1) Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỷ lệ Cook”: tỷ lệ này được phát triển bởi BCBS với mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng

Trang 20

Tỷ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc/Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA)

Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%

(2) Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi

là tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp

2 + Vốn cấp 3

Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill)

Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác

Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn

(3) Vốn tính theo rủi ro gia quyền:

RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối

kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)

Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này

 Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm

1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Basel I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường

Trang 21

Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành) Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa…

b Basel II:

 Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro

Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel I Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ

cơ chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình

 Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:

(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng

(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel

I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối

Trang 22

mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk) Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu

họ không hài lòng với kết quả của quy trình này Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu

(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này

Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro

c Ưu điểm của Basel II so với Basel I:

 Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu” Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và

kỷ luật trên nguyên tắc thị trường Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia

Trang 23

được tăng lên bởi họ cần phải đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó

 Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất

cả các ngân hàng Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa

 Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ Basel II nhạy cảm hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro

 Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 - 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation and Development) Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài

 Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo Basel II thừa nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting)

1.1.4.1.3 Thực tiễn áp dụng Basel II tại Châu Á:

Hầu hết các nhà quản lý ở Châu Á đều ủng hộ các mục tiêu chung của Basel

II và tin tưởng rằng khuôn khổ này sẽ đưa ra những khích lệ hơn nữa để cải thiện công tác quản lý rủi ro, cũng như các thay đổi khác nhằm bổ sung cho các mục tiêu giám sát của họ Việc thực thi Basel II ở một số nước Châu Á cụ thể như sau:

Bảng 1.2: Thực thi Basel II ở một số nước Châu Á

Dự kiến

2010

Không áp dụng Hồng

Không áp dụng

Ấn Độ 31/3/2007 Không áp dụng 01/4/2007 Không áp dụng

Trang 24

Nhật Bản 1/4/2007 1/4/2008 1/4/2007 1/4/2008 Hàn

số cơ bản; AMA là cách tiếp cận đo lường tiên tiến)

Việc tiếp cận Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí khá cao Đối với một nước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới, việc áp dụng Basel II tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại (NHTM)

Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng

cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II Một số thiếu sót cơ bản của Basel II là thiếu yêu cầu về phí vốn thanh khoản, quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng và bản chất có tính chu kỳ của nó

Mới đây, lãnh đạo hàng đầu của các nền kinh tế thuộc G20 đã hối thúc ủy ban Basel đưa ra biện pháp cải thiện chất lượng và số lượng vốn của các ngân hàng

và thắt chặt yêu cầu thanh khoản (Basel III) để các ngân hàng ứng phó tốt hơn với khủng hoảng và ngăn khủng hoảng tài chính lặp lại mà không cần đến hỗ trợ từ chính phủ Theo dự thảo đưa ra tại G20, đến cuối năm 2012, Basel khuyến cáo các

Trang 25

nước cần áp dụng tiêu chuẩn mới về vốn và đưa ra các biện pháp linh hoạt hơn để khuyến khích các ngân hàng thay đổi

1.1.4.2 Thực tiển áp dụng tại Việt Nam

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, NHNN Việt Nam và các TCTD Việt Nam

đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro của các NHTM tiến dần từng bước đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Theo đó, việc từng bước áp dụng các chuẩn mực của Basel II được đặc biệt chú trọng, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thời gian qua

Về phía cơ quan quản lý, NHNN Việt Nam đã ban hành quy định mới về các

tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010) và đang khẩn trương hoàn thiện để ban hành quy định mới về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Đây là bước tiến quan trọng trong việc từng bước áp dụng các chuẩn mực Basel II tại Việt Nam

Về phía các tổ chức tín dụng Việt Nam, Basel II đã có ảnh hưởng lớn trong việc nâng cao năng lực quản trị điều hành, nhất là năng lực quản lý rủi ro Bên cạnh việc tuân thủ các quy định bắt buộc của NHNN, các TCTD cũng đang rất nỗ lực để hoàn thiện hơn nữa hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng mình cho phù hợp với điều kiện hoạt động cụ thể của mỗi ngân hàng và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực của Basel II

Theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010, Thông tư NHNN ngày 27/09/2010 sửa đổi Thông tư 13/2010/TT-NHNN VTC bao gồm:

19/2010/TT-a Vốn cấp 1 (vốn tự có cơ bản):

 Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp);

 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ;

 Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ;

 Lợi nhuận không chia;

Trang 26

 Thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần

dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có)

a1 Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp)

Là nguồn vốn ban đầu ngân hàng có được khi mới hoạt động và được ghi vào bảng điều lệ hoạt động ngân hàng Theo quy định của pháp luật, một TCTD để được phép hoạt động thì vốn điều lệ thực tế ≥ Vốn điều lệ tối thiểu (vốn pháp định)

Căn cứ theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006, Nghị định số 10/2011/NĐ-CP ngày 26/01/2011của Chính Phủ, mức vốn pháp định áp dụng cho các TCTD như sau:

c Ngân hàng liên doanh 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

d NH 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đông

đ CN Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD 15 triệu USD

2 Ngân hàng chính sách 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng

3 Ngân hàng đầu tư 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

4 Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng

5 Ngân hàng hợp tác 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

a Quỹ tín dụng nhân dân TW 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng

b Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng 0,1 tỷ đồng 0,1 tỷ đồng

Trang 27

1 Công ty tài chính 300 tỷ đồng 500 tỷ đồng 500 tỷ đồng

2 Công ty cho thuê tài chính 100 tỷ đồng 150 tỷ đồng 150 tỷ đồng

Trong bản sơ thảo Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, tại Danh mục mức vốn pháp định, theo dự kiến của Ngân hàng Nhà nước, các NHTM đã được cấp phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương 5.000 tỷ đồng chậm nhất vào ngày 31/12/2012 và 10.000 tỷ đồng chậm nhất vào ngày 31/12/2015

Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ có thể được hình thành từ những nguồn khác nhau:

 Đối với NHTM quốc doanh, vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp phát;

 Đối với NHTM liên doanh, vốn điều lệ do các bên liên doanh tham gia đóng góp;

 Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, vốn điều lệ do ngân hàng mẹ nước ngoài bỏ ra để thành lập;

 Đối với NHTMCP, vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp; bao gồm:

- Vốn cổ phần thường: được do bằng mệnh giá của tổng số cổ phiếu thường hiện hành và được tạo lập khi ngân hàng phát hành các cổ phiếu thường (người mua thường là cổ đông sáng lập ngân hàng) Cổ tức của cổ phiếu này cao hay thấp phụ thuộc vào kết quả hoạt động của ngân hàng Do quyền lợi của cổ đông sở hữu cổ phiếu thường gắn liền với quyền lợi của ngân hàng, nên họ được tham gia đại hội cổ đông hàng năm, được quyền bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị của ngân hàng Trong trường hợp rủi ro như ngân hàng bị giải thể, các cổ đông này cũng được phân chia giá trị của tài sản thanh lý, nhưng là người cuối cùng được hưởng

- Vốn cổ phần ưu đãi: được đo bằng mệnh giá của tổng số cổ phiếu ưu đãi hiện hành, được hình thành khi ngân hàng bán ra các cổ phiếu ưu đãi Cổ tức của loại cổ phiếu này thường không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của ngân hàng mà được ấn định bằng một tỷ lệ cổ định trên mệnh giá cổ phiếu Cổ

Trang 28

phiếu ưu đãi có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định Do quyền lợi của cổ đông sở hữu loại cổ phiếu này không gắn với quyền lợi của ngân hàng, nên họ không tham gia đại hội cổ đông, không được bầu cử, ứng cử vào hội đồng quản trị của ngân hàng

Vốn điều lệ được sử dụng như sau:

- Xây dựng trụ sở ngân hàng, chi nhánh, …

- Mua sắm các trang bị phục vụ hoạt động kinh doanh

- Hùn vốn, mua cổ phần, cho vay trung – dài hạn, đầu tư chứng khoán,…

- Thành lập các công ty trực thuộc (Bảo hiểm, cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, bất động sản, …)

a2 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ:

Quỹ này được hình thành nhằm mục đích bổ sung vốn điều lệ của ngân hàng khi cần thiết để đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng Hiện nay, ở Việt Nam các ngân hàng được trích theo tỷ lệ 5% tính trên lãi ròng hàng năm, mức tối đa của quỹ này không được vượt quá mức vốn điều lệ thực có của ngân hàng

a3 Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ:

Dùng để đầu tư mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và đổi mới công nghệ trang thiết bị, điều kiện làm việc của TCTD Mức trích quỹ này bằng 50% lãi ròng hàng năm của ngân hàng

a4 Lợi nhuận không chia (Lợi nhuận giữ lại)

Phản ánh phần thu nhập ròng của ngân hàng có được từ hoạt động kinh doanh, nhưng không chia trả lãi cho cổ đông mà được ngân hàng giữ lại để tăng vốn

a5 Thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ

đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có)

Thặng dư vốn cổ phần được hình thành từ việc phát hành thêm cổ phần và trong tương lai thì khoản thặng dư vốn cổ phần này sẽ được chuyển đổi thành cổ phần và được kết chuyển vào vốn đầu tư của chủ sở hữu Do đó, khoản thặng dư vốn cổ

Trang 29

phần này sẽ không được xem là vốn cổ phần cho đến khi chúng được chuyển đổi thành cổ phần và kết chuyển vào vốn đầu tư chủ sở hữu

Các khoản phải trừ khỏi vốn cấp 1 gồm:

a) Lợi thế thương mại;

b) Khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản lỗ lũy kế;

c) Các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác;

d) Các khoản góp vốn, mua cổ phần của công ty con;

đ) Phần góp vốn, mua cổ phần của một doanh nghiệp, một quỹ đầu tư, một dự án đầu tư vượt mức 10% Vốn cấp 1 sau khi đã trừ các khoản phải trừ quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d

e) Tổng các khoản góp vốn, mua cổ phần sau khi đã trừ phần vượt mức 10% quy định tại Điểm đ vượt mức 40% vốn cấp 1 sau khi đã trừ các khoản phải trừ quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c và Điểm d, phần vượt mức đó sẽ bị trừ

a Vốn cấp 2:

a) 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; b) 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật; c) Quỹ dự phòng tài chính;

d) Trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn các điều kiện sau: (i) Có kỳ hạn ban đầu tối thiểu là 5 năm;

(ii) Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng;

(iii) Tổ chức tín dụng không được mua lại theo đề nghị của người sở hữu hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp, hoặc tổ chức tín dụng chỉ được mua lại sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản với điều kiện việc mua lại không ảnh hưởng đến các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định;

(iv) Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếp theo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ;

(v) Trong trường hợp thanh lý tổ chức tín dụng, người sở hữu trái phiếu chuyển đổi chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán cho tất cả các chủ nợ có bảo đảm và không có bảo đảm khác;

Trang 30

(vi) Việc điều chỉnh tăng lãi suất, kể cả việc điều chỉnh tăng phần lãi suất cộng thêm vào lãi suất tham chiếu chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngày phát hành và được điều chỉnh một (01) lần trong suốt thời hạn trước khi chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông

đ) Các công cụ nợ khác thỏa mãn tất cả những điều kiện sau:

(i) Là khoản nợ mà trong mọi trường hợp, chủ nợ chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán cho tất cả các chủ nợ có bảo đảm và không có bảo đảm khác;

(ii) Có kỳ hạn ban đầu tối thiểu trên 10 năm;

(iii) Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng;

(iv) Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếp theo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ;

(v) Chủ nợ chỉ được tổ chức tín dụng trả nợ trước hạn sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản;

(vi) Việc điều chỉnh tăng lãi suất, kể cả việc điều chỉnh tăng phần lãi suất cộng thêm vào lãi suất tham chiếu chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng và được điều chỉnh một (01) lần trong suốt thời hạn của khoản vay

Giới hạn khi xác định vốn cấp 2:

a) Tổng giá trị các khoản quy định tại Điểm d và Điểm đ Khoản 3.1 Điều 5 Thông

tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 tối đa bằng 50% giá trị vốn cấp 1

b) Quỹ dự phòng tài chính tối đa bằng 1,25% tổng tài sản “Có” rủi ro quy định tại Khoản 5 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010

c) Trong thời gian 5 năm cuối cùng trước khi đến hạn chuyển đổi, thanh toán, sau mỗi năm gần đến hạn chuyển đổi, thanh toán, giá trị các khoản quy định tại Điểm d

và Điểm đ Khoản 3.1 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 phải khấu trừ 20% giá trị ban đầu

d) Tổng giá trị vốn cấp 2 tối đa bằng 100% giá trị vốn cấp 1

Các khoản phải trừ khỏi vốn tự có:

Trang 31

 100% số dư nợ tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật;

 100% số dư nợ tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật

1.1.4.3 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequecy Ratios – CAR):

Theo điều 4 Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010:

“1 Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)

2 Tổ chức tín dụng phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ quy định tại Khoản 1 Điều này, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất).”

Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ được xác định như sau:

Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẽ

(CAR riêng lẽ) =

Vốn tự có

x 100% ≥ 9% Tổng tài sản “Có” rủi ro

Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất được xác định như sau:

Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất

(CAR hợp nhất) =

Vốn tự có hợp nhất

x 100% ≥ 9% Tổng tài sản “Có” rủi ro

hợp nhất

Tham khảo thêm tại Điều 5 và Điều 6 Thông tư 13/2010/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 20/05/2010

Ý nghĩa của hệ số CAR: Mức độ rủi ro mà các ngân hàng được phép mạo hiểm

trong sử dụng vốn cao hay thấp tuỳ thuộc vào độ lớn VTC của ngân hàng, cụ thể: Đối với những ngân hàng có VTC lớn thì nó được phép sử dụng vốn với mức độ

Trang 32

liều lĩnh hơn với hy vọng đạt được lợi nhuận cao nhất, nhưng rủi ro cũng sẽ cao hơn

và ngược lại Khi xác định hệ số CAR có thể xảy ra các trường hợp sau:

 Nếu CAR = 9% ngân hàng này đã có một tỷ lệ hợp lý giữa VTC với mức độ rủi ro trong sử dụng tài sản

 Nếu CAR > 9%: mức độ rủi ro thấp, ngân hàng sử dụng vốn an toàn hơn, nhưng kém hiệu quả hơn, có thể bị giảm sút lợi nhuận Nguyên nhân:

 Ngân hàng dùng vốn cho dự trữ quá nhiều so với vốn đưa ra kinh doanh

 Trong tài sản có sinh lợi thì ngân hàng lại chú trọng vào những tài sản có mức đội rủi ro thấp, nên lợi nhuận mang lại không cao

 Do ngân hàng tăng vốn nhanh trong khi tốc độ đâu tư và cho vay tăng chậm hơn

 Nếu CAR < 9%: mức độ rủi ro lớn, VTC của ngân hàng không đủ sức bảo vệ cho ngân hàng một khi rủi ro xuất hiện Nguyên nhân:

 VTC của ngân hàng thấp so với quy mô sử dụng vốn

 Do ngân hàng dành vốn cho dự trữ ít, còn vốn đưa vào kinh doanh lại chiếm tỷ trọng lớn

 Trong tài sản có sinh lợi thì ngân hàng lại chú trọng đến khoản vay không có đảm bảo Bên cạnh đó, ngân hàng lại đầu tư vào các chứng khoán có mức rủi ro cao hơn mức trung bình

Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ đầu năm 2008 đến nay, cùng với sự sụp đổ của nhiều ngân hàng trên thế giới, đã và đang hình thành một tiêu chuẩn mới cho hệ số CAR (có thể lên đến 16%), dự kiến sẽ được quy định

cụ thể trong BASEL III

1.1.4.4 Các giới hạn liên quan đến vốn tự có

a Giới hạn cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá

Điều 8 Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định:

“1 Dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng bao gồm dư nợ cho vay theo hợp đồng tín dụng; số dư nợ tổ chức tín dụng ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cho vay; số dư

Trang 33

các khoản tổ chức tín dụng đã trả thay do thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khách hàng

Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng

2 Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1 Điều này

3 Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1 Điều này

4 Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 2 Điều này

5 Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài

Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài, trong đó tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn

tự có của ngân hàng nước ngoài

Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài

Trang 34

6 Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát và phải tuân thủ các hạn chế sau đây:

a) Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% vốn tự

7 Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán

8 Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán

9 Tổng dư nợ cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng

10 Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá giới hạn cho vay quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều này, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cấp tín dụng hợp vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước

11 Trong trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà khả năng hợp vốn của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn, thuê tài chính của một khách hàng thì Thủ tướng Chính phủ

có thể quyết định cụ thể mức cho vay, cho thuê tài chính đối với từng trường hợp cụ thể.”

Trang 35

b Giới hạn cho thuê tài chính

Điều 9 Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định:

“1 Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính

2 Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1

Điều này.”

c Giới hạn góp vốn, mua cổ phần

Điều 16 Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định:

“1 Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, quỹ

đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng và các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết của tổ chức tín dụng trong cùng một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó

3 Tổ chức tín dụng góp vốn, mua cổ phần vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng văn bản

và đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

Trang 36

a) Tổ chức tín dụng chấp hành đầy đủ các quy định khác về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu (NPL) từ 3% trở xuống và hoạt động kinh doanh có lãi liên tục trong ba (03) năm liền kề trước đó

b) Là khoản góp vốn, mua cổ phần vào các tổ chức tín dụng khác nhằm hỗ trợ tài chính cho tổ chức tín dụng gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ mất khả năng

thanh toán, ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng”

d Giới hạn Mua, đầu tư vào tài sản cố định

Điều 140 Luật các TCTD năm 2010 hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011:

“Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được mua, đầu tư vào tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho hoạt động không quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ đối với tổ chức tín dụng hoặc không quá 50% vốn được cấp và quỹ

dự trữ bổ sung vốn được cấp đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài.”

1.1.5 Đo lường vốn tự có:

Để xác định VTC của người ta thường sử dụng các phương pháp sau:

1.1.5.1 Xác định vốn tự có theo phương pháp giá trị sổ sách – Chuẩn mực kế

toán đã được chấp nhận phổ biến (Generally Accepted Accounting Pricipale –

GAAP):

Giá trị sổ sách của vốn

Giá trị sổ sách của tài sản có -

Giá trị sổ sách của các khoản nợ

Dự phòng tổn thất từ tín dụng và cho thuê Nên lưu ý rằng, qua thời gian, vào thời kỳ lãi suất thay đổi, giá trị các khoản cho vay và chứng khoán của ngân hàng sụt giảm, phương pháp này sẽ kém chính xác vì có sự khác biệt đáng kể giữa giá trị thực sự của tài sản có, tài sản nợ so với giá trị nguyên thuỷ trên sổ sách của chúng

1.1.5.2 Xác định mức vốn tự có theo Chuẩn mực kế toán quy tắc (Regulatory Accounting Principle – RAP)

Trang 37

Vốn RAP = Vốn cổ phần của các cổ đông (CP thường, thu nhập giữ lại và dự trữ) +

Cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn + Dự phòng tổn thất tín dụng và cho thuê + Giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường + Các khoản khác (như thu nhập

từ công ty con, góp vốn vào doanh nghiệp khác)

Ở phương pháp này, VTC bao gồm cả các chứng khoán nợ, cổ phiếu mà ngân hàng đang nắm giữ từ các công ty khác, dự phòng tổn thất từ các khoản tín dụng xấu, đã làm cho quy mô của các ngân hàng dường như lớn hơn với sự an toàn cao hơn

1.1.5.3 Xác định mức vốn tự có theo giá thị trường (MVC – Market Value

MVC = Giá trị thị trường hiện tại của

mỗi cổ phiếu x Số lượng cổ phiếu đã phát hành Thực chất, phương pháp này gây ra sự bất ổn định trong vốn ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn bởi vì cổ phiếu của chúng được mua bán không ngừng trên thị trường Đồng thời, MVC lại khó có thể được áp dụng đối với các ngân hàng nhỏ bởi vì cổ phiếu của họ không được mua bán đủ tích cực để thiết lập nên giá cả thị trường Điều này đã hạn chế sự hữu dụng của MVC Tuy vậy, giá trị thị trường của vốn ngân hàng phản ánh khả năng tự vệ thực sự của mỗi ngân hàng Nếu như giá trị tài sản và các khoản nợ của một ngân hàng được xác định đúng theo giá trị thị trường, những người gửi tiền có thể đánh giá chính xác hơn về trạng thái tài chính và do đó có thể lựa chọn gửi tiền vào tổ chức ngân hàng an toàn nhất

1.1.6 Vốn ngân hàng và rủi ro:

VTC của ngân hàng và rủi ro có liên quan mật thiết với nhau Bản thân VTC chủ yếu là tiền do những người chủ ngân hàng đóng góp, những người đã chấp nhận

Trang 38

rủi ro và khả năng ngân hàng sẽ chỉ kiếm được một khoản lãi không làm họ thỏa mãn hoặc thậm chí thua lỗ và do đó phần thu nhập trả cho cổ đông sẽ rất ít ỏi Có rất nhiều rủi ro mà người chủ ngân hàng phải đối mặt Chúng bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro hối đoái và rủi ro tội phạm

1.1.6.1 Rủi ro tín dụng:

Đây là rủi ro cần được đề cập trước tiên đối với ngân hàng Ngân hàng cho vay và đầu tư chứng khoán, những tài sản mà không khác gì hơn một cam kết thanh toán Khi người vay tiền không thể thanh toán được vốn và lãi, những khoản cho vay, đầu tư không thể thu hồi này cuối cùng sẽ ăn mòn hết vốn của ngân hàng Bởi

vì VTC của ngân hàng thường thấp hơn 10% các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán nên chỉ cần một lượng nhỏ các khoản cho vay và đầu tư trở nên không thể thu hồi được thì vốn ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm, không đủ để gánh chịu thêm bất cứ khoản thua lỗ nào khác Trong tình trạng này ngân hàng sẽ phải tuyên bố phá sản và đóng cửa trừ khi những nhà chức trách đồng ý duy trì nó ở trạng thái “lơ lững” cho đến khi tìm được tổ chức đồng ý mua lại ngân hàng

1.1.6.2 Rủi ro thanh khoản:

Ngân hàng cũng đồng thời phải chịu rủi ro lớn về thanh khoản, rủi ro về việc không còn tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và cho vay vốn đối với những khách hàng chất lượng tốt Nếu ngân hàng không thể tăng nguồn tiền mặt kịp thời, nó có thể sẽ mất rất nhiều khách hàng và dẫn tới sự sụt giảm về lợi nhuận Nếu không được giải quyết kịp thời, tình trạng thiếu hụt tiền mặt có thể dẫn đến việc người gửi tiền không ngừng rút vốn và cuối cùng là ngân hàng sụp đổ Việc ngân hàng không thể đáp ứng những nhu cầu thanh khoản tại một mức chi phí hợp lý thường là dấu hiệu chủ yếu về tình trạng khó khăn nghiêm trọng trong hoạt động của ngân hàng

1.1.6.3 Rủi ro lãi suất:

Ngân hàng phải đương đầu với rủi ro trong mức chênh lệch lãi suất Đây là mối nguy hiểm khi thu lãi từ các tài sản hoặc chi phí trả lãi sẽ tăng đáng kể, thu hẹp

Trang 39

khoảng chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi, làm giảm thu nhập ròng Sự thay đổi trong mức chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của ngân hàng thường liên quan đến những quyết định quản lý danh mục (thay đổi về cấu trúc tài sản và nguồn vốn của ngân hàng) hoặc liên quan đến rủi ro lãi suất Đây là rủi ro về khả năng lãi suất thay đổi sẽ dẫn đến sự tăng hoặc giảm giá trị của tài sản hay của những khoản thu nhập từ tài sản của ngân hàng Dù rằng trong vai trò vài năm gần đây ngân hàng đã tìm ra những phương pháp mới nhằm hạn chế rủi ro lãi suất nhưng những rủi ro này vẫn chưa được và cũng không thể bị loại bỏ hoàn toàn

1.1.6.4 Rủi ro hoạt động:

Ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro đáng kể trong hoạt động do

sự giám sút chất lượng quản lý, do cung cấp những dịch vụ không hiệu quả, do những sai lầm trong công tác quản lý hay do những thay đổi trong nền kinh tế Các vấn đề này có xu hướng làm giảm nhu cầu đối với danh mục dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Ngoài ra, rủi ro còn xuất hiện từ sự cạnh tranh của các đối thủ mới về dịch vụ tài chính trên thị trường của ngân hàng Những thay đổi đáng kể trên có thể tác động tiêu cực tới dòng thu nhập, chi phí hoạt động và giá trị của ngân hàng 1.1.6.5 Rủi ro hối đoái:

Những ngân hàng lớn phải đối mặt với rủi ro về hối đoái trong các giao dịch ngoại tệ Ngày nay những đồng tiền được giao dịch nhiều nhất luôn thay đổi theo điều kiện, tình hình trên thị trường Ngân hàng kinh doanh trên cơ sở những đồng tiền này cho bản thân mình và cho khách hàng luôn phải đối mặt với rủi ro về

sự thay đổi bất lợi trong tỷ giá

1.1.6.6 Rủi ro tội phạm:

Cuối cùng ngân hàng phải đối đầu với rủi ro tội phạm Sự gian lận, biển thủ của nhân viên hoặc của giám đốc ngân hàng, cướp ngân hàng có thể làm suy yếu ngân hàng nhanh chóng và trong một vài trường hợp, điều này dẫn đến sự phá sản

1.2 Sự cần thiết phải tăng vốn của các ngân hàng thương mại:

1.2.1 Các áp lực buộc ngân hàng phải tăng vốn tự có:

Trang 40

 Lạm phát: lạm phát làm tăng giá trị tài sản của ngân hàng nhưng đồng thời cũng làm tăng giá trị của các khoản nợ, làm giảm giá trị vốn bằng tiền của ngân hàng và kết quả là giá trị VTC của ngân hàng có chiều hướng giảm sút

 Nhu cầu duy trì và gia tăng lòng tin của công chúng

 Những biến động kinh tế dẫn đến khả năng làm xuất hiện thêm nhiều loại rủi

ro buộc ngân hàng phải tăng vốn tự có để tăng cường khả năng bảo vệ

 Những giới hạn về cho vay, huy động vốn,… buộc ngân hàng tăng vốn để có thể đáp ứng nhu cầu vay (ngày càng tăng) của các khách hàng lớn

 Chi phí trong hoạt động của ngân hàng gia tăng (chi phí tiền lương, đất đai, trang thiết bị,…) đã làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, mà lợi nhuận lại là nguồn chủ yếu để tăng vốn hàng năm của ngân hàng

 Do hoạt động của ngân hàng ngày càng mở rộng, quy mô ngày càng lớn, ngân hàng thực hiện thêm nghiều nghiệp vụ kinh doanh mới và mở rộng mạng lưới Từ đó, đòi hỏi VTC phải tăng lên tương ứng với hoạt động kinh doanh mới

 Do cơ quan quản lý buộc ngân hàng phải tăng VTC để tăng sức cạnh tranh

và tăng độ an toàn trong kinh doanh của hệ thống

 Hạn chế những tổn thất của Chính phủ do những yêu cầu về bảo hiểm tiền gửi

 Do áp lực của cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng nước ngoài có vốn lớn sẽ xâm nhập vào thị trường Việt Nam

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp tăng vốn tự có:

1.2.2.1 Các quy định của Ngân hàng Nhà nước về quản lý vốn tự có

Ngân hàng chỉ được phép tăng VTC từ các nguồn theo quy định của pháp luật Phải đảm bảo vốn điều lệ lớn hơn vốn pháp định

1.2.2.2 Yếu tố chi phí

Lựa chọn giữa việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu, nếu xét đến yếu tố chi phí thì ta chọn cách phát hành trái phiếu vì chi phí phát hành cổ phiếu lớn (nhưng chi phí trả lãi thì ngược lại)

Ngày đăng: 01/09/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w