Các kết quả thu được từ phân tích PLS_SEM đã giúp trả lời các câu hỏi nghiên cứu bao gồm 1 sự thỏa mãn của người sử dụng nhân viên kế toán có tác động tích cực đến kết quả công việc của
Trang 1- -
PHẠM THỊ PHƯƠNG THÚY
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2- - PHẠM THỊ PHƯƠNG THÚY
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN KẾ TOÁN TRONG MÔI TRƯỜNG ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành: Kế toán (Hướng nghiên cứu)
Trang 3TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT
ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 4
4.1 Phạm vi nghiên cứu 4
4.2 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa của nghiên cứu 5
6.1 Về mặt lý luận 5
6.2 Về mặt thực tiễn 6
7 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 8
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 8
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 19
2.1 Giới thiệu 19
2.2 Các khái niệm trong nghiên cứu 19
2.2.1 Kết quả công việc cá nhân 19
2.2.2 Sự thỏa mãn của người sử dung HTTT 20
2.2.3 Sự ủng hộ của nhà quản lý cấp cao 20
2.2.4 Truyền thông 21
2.2.5 Đào tạo 21
2.2.6 Loại phần mềm ứng dụng 22
2.2.7 Biến kiểm soát: đặc điểm cá nhân của người sử dụng 22
2.3 Lý thuyết nền 23
2.3.1 Giới thiệu 23
2.3.2 Lý thuyết thành công của hệ thống thông tin phiên bản 1992 23
2.3.3 Lý thuyết thành công của hệ thống thông tin phiên bản 2003 24
2.3.4 Mô hình thành công của hệ thống thông tin phiên bản 2013 25
2.4 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 27
2.4.1 Sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao 27
2.4.2 Truyền thông 28
2.4.3 Đào tạo 29
2.4.4 Sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán 29
2.4.5 Loại phần mềm 30
2.4.6 Biến kiểm soát: đặc điểm của người sử dụng 31
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 32
2.5.1 Các biến trong mô hình nghiên cứu 32
2.5.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 33
Trang 53.1 Giới thiệu 35
3.2 Quy trình nghiên cứu 35
3.3 Thang đo các khái niệm nghiên cứu 37
3.3.1 Giới thiệu 37
3.3.2 Thang đo các khái niệm nghiên cứu tiềm ẩn 38
3.3.2.1 Kết quả công việc của nhân viên kế toán 38
3.3.2.2 Sự thỏa mãn của người sử dung 38
3.3.2.3 Sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao 40
3.3.2.4 Truyền thông 41
3.3.2.5 Đào tao 41
3.3.3 Thang đo các khái niệm nghiên cứu trực tiếp 42
3.4 Mẫu nghiên cứu 43
3.5 Kiểm tra mô hình đo lường 44
3.6 Kiểm tra mô hình cấu trúc 45
3.7 Phương pháp đánh gía tác động của biến điều tiết 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Giới thiệu 49
4.2 Thu thập dữ liệu và thống kê mô tả 49
4.3 Kết quả kiểm tra mô hình đo lường 51
4.3.1 Đánh giá tính ổn định nội bộ 51
4.3.2 Đánh giá giá trị hội tụ 52
4.3.3 Đánh giá giá trị phân biệt 55
4.4 Kết quả kiểm tra mô hình cấu trúc 56
4.4.1 Đánh giá hiện tượng cộng tuyến 56
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 60
CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61
5.1 Giới thiệu 61
5.2 Kết luận và bàn luận kết quả nghiên cứu 61
5.3 Hàm ý quản trị 64
5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 67
KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7- -
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế “Các yếu tố tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin” tuân thủ đầy
đủ các chuẩn mực đạo đức chung trong nghiên cứu khoa học:
- Thứ nhất, mọi nội dung được tham chiếu từ các nghiên cứu khác liên quan đã được trích dẫn đầy đủ
- Thứ hai, quy trình thu thập dữ liệu cho nghiên cứu được thực hiện khoa học và người tham gia khảo sát hoàn toàn tự nguyện đồng ý tham gia
- Thứ ba, mọi thông tin cá nhân của người tham gia khảo sát và thông tin về đơn vị đang công tác của người tham gia khảo sát chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu của đề tài, không một thông tin cụ thể nào được tiết lộ vì mục đích khác
- Thứ tư, các số liệu và kết quả xử lý dữ liệu là hoàn toàn trung thực
- Thứ năm, công trình nghiên cứu khoa học này không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố (theo tìm hiểu của tác giả)
- Thứ sáu, công trình nghiên cứu khoa học này hoàn toàn do tác giả thực hiện dưới
sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Học viên
PHẠM THỊ PHƯƠNG THUÝ
Trang 8phương sai (certainly covariance-based SEM) (tạm dịch) HTTTKT Hệ thống thông tin kế toán
PMKT Phần mềm kế toán
CNTT Công nghệ thông tin (Information Technology)
ERP Hệ thống hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise
Resources Planning) HTTT Hệ thống thông tin (Information System)
PLS_SEM Mô hình cấu trúc tuyến tính dựa trên bình phương tối thiểu từng
phần (Partial least squares SEM) (tạm dịch) ICT Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 91 Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu liên quan trước đây
2 Bảng 1.2 Bảng tổng hợp các nghiên cứu không ủng hộ luận văn
3 Bảng 1.3 Bảng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu hay lý thuyết nền của
nghiên cứu
4 Bảng 4.1 Tóm tắt thông tin mẫu chọn
5 Bảng 4.2 Thống kê mô tả các khái niệm nghiên cứu
6 Bảng 4.3 Kết quả đánh giá tính ổn định nội bộ và giá trị hội tụ của thang đo các
khái niệm nghiên cứu ( lần 1)
7 Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra mô hình đo lường điều chỉnh
8 Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra chỉ số HTMT cho mô hình đo lường điều chỉnh
9 Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra chỉ số VIF
10 Bảng 4.7 Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Trang 101 Hình 2.1 Tổng hợp mô hình thành công của hệ thống thông tin
2 Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
3 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
4 Hình 4.1 Kết quả kiểm tra mô hình cấu trúc
Trang 11
hiểu biết về tác động của CNTT đến công tác quản trị doanh nghiệp, trong đó có công tác
kế toán Thông qua việc khảo lược các nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị và kế toán ứng với môi trường ứng dụng CNTT, tác giả nhận thấy hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT ở góc độ nghề nghiệp kế toán và kiểm toán Bởi kết quả công việc cá nhân được xem là một yếu tố đo lường sự thành công của một HTTT (Delone và McLean, 1992), do đó nhằm bổ sung một phần hiểu biết về sự thành công của HTTTKT, nghiên cứu này tập trung kiểm tra một số yếu tố tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu là kiểm tra một số tác động và do mô hình nghiên cứu của nghiên cứu này là tương đối phức tạp, nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng dạng khảo sát với kỹ thuật phân tích dữ liệu là PLS_SEM Quy trình và cách thức phân tích dữ liệu được thực hiện theo đề xuất của Hair và cộng sự (2016) Với dữ liệu thu thập từ 177 nhân viên kế toán tại 114 doanh nghiệp đang sử dụng PMKT/ hệ thống ERP, nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra mô hình đo lường và sau đó là kiểm ra mô hình cấu trúc Các kết quả thu được từ phân tích PLS_SEM đã giúp trả lời các câu hỏi nghiên cứu bao gồm (1) sự thỏa mãn của người sử dụng (nhân viên kế toán) có tác động tích cực đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT, (2) các yếu tố gồm sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao và việc đào tạo cho nhân viên kế toán trong quá trình ứng dụng PMKT/ ERP có tác động tích cực đến sự thỏa mãn của nhân viên kế toán vào quá trình ứng dụng PMKT/ ERP trong doanh nghiệp; và (3) loại phần mềm ứng dụng trong HTTTKT (ERP/ non – ERP) không có đóng vai trò là biến điều tiết trong mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của nhân viên kế toán đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Ngoài ra với kết quả kiểm tra
hệ số xác định R2 là 45.8% cho thấy, khả năng dự báo của việc nhân viên kế toán được thỏa mãn khi tham gia vào quá trình ứng dụng PMKT/ ERP trong doanh nghiệp đến kết quả công việc của họ là có thể chấp nhận được (vì lớn hơn ngưỡng 20%)
Từ khóa: kết quả công việc cá nhân, sự thỏa mãn của người sử dụng, sự ủng hộ của nhà quản trị, sự đào tạo, hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp/ phần mềm kế toán
Trang 12IT’s impacting on corporate governance, including accounting Through literature review
in the field of management and accounting in the IT environment, the author realized that currently there are a few studies that researched about individual performance in IT context, especially from the perspective of accounting and auditing Because individual performance is considered a measure of information system success (Delone and McLean, 1992), it is important to study about individual performance Because of these reasons, this study focuses on examining some factors affecting the accountant’s performance in IT context According to the objectivesare examining some factors that could impact on individual performance and because the research model of this study is relatively complex, this research applied the quantitative method and survey approach as well as using PLS_SEM to analysis data The research process and method of data analysis are accepted from Hair et al (2016) Based on data from 177 accountants in 114 businesses that have implemented accounting software/ ERP systems, the study conducted a measurement model test and then a structural model test The results showed (1) user satisfaction (accountant) had a positive impact on the accountant’s performance
in the IT environment, (2) two factors including the support of senior management and the training of accountants had positive impacts on user satisfaction (accountant) in the process of applying accounting software/ ERP in enterprises; and (3) the type of software applied in the accounting information systems (ERP/ non_ERP) had not a moderator variable in the relationship between user satisfaction and accountant’s performance in IT context Finally, the result indicated that coefficient of determination R2 is 45.8% which was higher than the accepted level (20%) As a result, predictability of model was anormal level
Key words:
Individual performance (accountant’s performance) , user satisfaction, support of senior management, training, ERP/ non_ERP
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và những tác động của nó trong sự phát triển kinh tế, xã hội và con người đã trở thành một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu khoa học trong những thập kỷ gần đây (Tarutė và Gatautis, 2014) Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã chứng minh sự cần thiết phải đạt được các kết quả đầu ra tích cực của việc áp dụng và triển khai công nghệ thông tin (CNTT) trong các tổ chức khác nhau như tốc độ gia tăng năng suất, mở rộng quy mô hoạt động, tăng tính hữu hiệu và hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh, … (Tarutė and Gatautis, 2014) Tại Việt Nam, theo Báo cáo chỉ số Thương mại điện tử 2019 do Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) công bố thì tốc độ tăng trưởng của thương mại điện tử ước tính năm 2018 tăng trên 30% so với năm 2017 Điều này chứng tỏ công nghệ thông tin tại Việt Nam
đã có một bước phát triển ngày càng nhanh và mạnh mẽ Bên cạnh đó, báo cáo này còn cho thấy các chức năng quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản
lý doanh nghiệp tại Việt Nam, cụ thể, hơn 61% doanh nghiệp sử dụng chữ ký điện tử
và hợp đồng điện tử trong việc giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau Trong công tác quản trị doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã đưa vào sử dụng các phần mềm quản lý như phần mềm kế toán tài chính, quản lý khách hàng (CRM), quản lý chuỗi cung ứng (SCM) và quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) Trong đó, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán tài chính là khoảng 80% và doanh nghiệp ứng dụng phần mềm ERP là 18% Các số liệu trên chứng minh rằng, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng quan tâm ứng dụng các tiến bộ của CNTT và truyền thông trong công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra
Trong thời gian qua, đã có một số nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố tác động đến kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT như nghiên cứu của Goodhue và cộng sự (1997), Bradford và Florin (2003), Staples và Seddon (2004),
Trang 14Kositanurit và cộng sự (2006), Park và cộng sự (2007), Sykes và cộng sự (2014), Sykes (2015) và Rajan và Baral (2015) Ngoài ra, theo Kisitanurit và cộng sự, 2006 thì kết quả công việc của cá nhân nếu đạt được ở mức độ thấp sẽ dẫn đến kết quả hoạt động của tổ chức cũng không tốt
Xét ở góc độ kế toán, đã có nhiều nghiên cứu về tác động của ICT đến công tác kế toán cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp như nghiên cứu của Hyvönen (2003), Quattrone và Hopper (2006), Hyvönen (2009), Ghasemi và cộng sự (2011), Taiwo (2016), Ogundana và cộng sự (2017) Trong những tác động của CNTT đến công tác
kế toán thì nhân viên kế toán – với vai trò là người sử dụng CNTT, là một trong những yếu tố bị tác động bởi CNTT Do đó, nhân viên kế toán phải tìm cách thích nghi với môi trường ứng dụng CNTT mới, đồng thời phải hiểu và tìm cách để có thể đạt được những lợi ích mà công nghệ thông tin mang lại cho công việc của họ (Chang và cộng
sự, 2008) Gắn kết với bối cảnh CNTT, nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán về kết quả công việc của nhân viên kế toán đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây như nghiên cứu của Wongpinunwatana và cộng sự (2000), các tác giả này đã nghiên cứu về kết quả công việc của nhân viên kiểm toán trong môi trường ERP hay nghiên cứu của Phạm Trà Lam (2018) tìm các yếu tố tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP
Trong bối cảnh thực tiễn yêu cầu hiểu biết nhiều hơn về tác động của CNTT đến công tác kế toán nhưng các nghiên cứu hiện tại về chủ đề này là chưa có nhiều, đặc biệt tại thị trường mới nổi như Việt Nam Tiếp nối chủ đề nghiên cứu về kết quả công việc của nhân viên kế toán, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu về chủ đề kết quả công việc của nhân viên kế toán Điểm mới của nghiên cứu này là được nghiên cứu trong bối cảnh ứng dụng CNTT nói chung bao gồm hai nhóm doanh nghiệp: doanh nghiệp đang ứng dụng hệ thống ERP và doanh nghiệp đang ứng dụng phần mềm kế toán ( PMKT)(không ứng dụng ERP) Đồng thời, nghiên cứu này cũng khác biệt với các nghiên cứu đi trước ở khía cạnh, tác giả tập trung tìm hiểu một số yếu tố có thể tác
Trang 15động gián tiếp đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc khái quát các nghiên cứu liên quan đến chủ đề yếu tố tác động đến kết quả công việc của người sử dụng CNTT, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu tổng quát là kiểm tra một số yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Cụ thể, các mục tiêu chi tiết của nghiên cứu bao gồm:
Kiểm tra sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán (tức nhân viên kế toán) đến kết quả công việc của nhân viên kế toán
Kiểm tra tác động của các yếu tố gồm sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao, sự truyền thông và việc đào tạo đến sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán cụ thể
là nhân viên kế toán
Kiểm tra tác động điều tiết của loại phần mềm ứng dụng trong hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) (ERP/ non – ERP) trong mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của nhân viên kế toán đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề xuất bên trên, các câu hỏi nghiên cứu được xác định bao gồm:
Sự thỏa mãn của người sử dụngHTTT kế toán (nhân viên kế toán) có tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT hay không?
Trang 16 Các yếu tố gồm sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao, sự truyền thông và việc đào tạo có tác động đến sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán cụ thể là nhân viên
kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT hay không?
Loại phần mềm ứng dụng trong HTTTKT (ERP/ non – ERP) có đóng vai trò là biến điều tiết trong mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT hay không?
4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã nêu trên, nghiên cứu này xác định các doanh nghiệp đang ứng dụng một PMKT hoặc hệ thống ERP tại Việt Nam được xác định là phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu này là kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
- Đơn vị phân tích của nghiên cứu là cá nhân tức là các nhân viên kế toán đang sử dụng PMKT hay hệ thống ERP trong các doanh nghiệp Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này với mục tiêu chính là kiểm định lý thuyết nên phương pháp thích hợp được sử dụng ở đây là phương pháp định lượng nhằm đạt được các mục tiêu mà nghiên cứu đặt ra Theo Nguyễn Đình Thọ (2013) thì phương pháp này được sử dụng dựa vào quy trình suy diễn Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng dạng khảo sát để đạt được các mục tiêu nghiên cứu Bởi nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu chính là kiểm tra một số yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến kết quả công việc
Trang 17của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT, do đó, kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được lựa chọn áp dụng Cụ thể, nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu là PLS_ SEM do mục tiêu của nghiên cứu là kiểm định giả thuyết để dự báo cấu trúc nào quan trọng trong việc tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Kích thước mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này là 177 lớn hơn mức tối thiểu cần có thể sử dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu PLS_SEM (là 110 bởi mô hình cấu trúc trong nghiên cứu này có 11 đường dẫn) Quy trình phân tích dữ liệu được thực hiện theo đề xuất của Hair và cộng sự (2016) đó là kiểm tra mô hình đo lường trước, sau đó sẽ tiến hành kiểm tra mô hình cấu trúc
6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Sau quá trình tổng hợp các lý thuyết và thực hiện nghiên cứu, nghiên cứu này đã đạt được các mục tiêu đề ra Kết quả nghiên cứu này không những mang lại ý nghĩa về mặt
lý thuyết mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn cho các nhân viên kế toán, nhà quản lý hay các nhà nghiên cứu, các giảng viên kế toán, các công ty cung cấp và triển khai ứng dụng phần mềm kế toán và hệ thống ERP Các ý nghĩa cụ thể của nghiên cứu bao gồm:
6.1 Về mặt lý luận:
Nghiên cứu này đã cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm cho việc áp dụng lý thuyết nền đó là lý thuyết thành công của hệ thống thông tin (DeLone và McLean, 1992; DeLone và McLean, 2003; Petter và cộng sự, 2013).Bên cạnh đó, nghiên cứu đã tiết lộ một yếu yếu tố có tác động trực tiếp và gián tiếp đến kết quả công việc của nhân viên
kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Sự thỏa mãn của nhân viên kế toán (người
sử dụng HTTT kế toán) là nhân tố trực tiếp có tác động đáng kể đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Hai yếu tố gồm sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao trong quá trình ứng dụng PMKT/ ERP trong doanh nghiệp và
sự huấn luyện (đào tạo) nhân viên kế toán trong việc sử dụng PMKT/ ERP mới có tác
Trang 18động đáng kể đến sự thỏa mãn của nhân viên kế toán trong quá trình ứng dụng PMKT/ERP Như vậy, có thể khẳng định rằng sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao trong quá trình ứng dụng PMKT/ ERP trong doanh nghiệp và sự huấn luyện (đào tạo) nhân viên kế toán trong việc sử dụng PMKT/ ERP mới có tác động gián tiếp đến kết quả kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
7 Kết cấu luận văn
Luận văn này được trình bày dưới dạng kết cấu gồm 5 chương, cụ thể:
- Chương 1giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm các nội dung lý do chọn
đề tài nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn Bên cạnh đó, nhằm nêu bật lý do thực hiện đề tài, nội dung tiếp theo trong chương 1 giới thiệu tổng quan các nghiên cứu có liên quan
Trang 19trên thế giới và Việt Nam để từ đó đưa ra các nhận xét về các nghiên cứu đi trước và xác định khe hổng nghiên cứu
- Chương 2 trình bày các nội dung làm cơ sở lý thuyết cho việc thực hiện đề tài Nội dung chi tiết của chương 2 bao gồm yếu tố tác động đến kết quả công việc trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin, các lý thuyết nền, các nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Chương 3 trình bày và thảo luận về mô hình nghiên cứu, thang đo các khái niệm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được áp dụng
- Chương 4 được thiết kế để trình bày các các kết quả nghiên cứu đạt được
- Chương 5 đưa ra bàn luận về kết quả nghiên cứu, hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 20CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Thông qua việc tìm kiếm các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT trên công cụ tìm kiếm Google Scholar và thư viện của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, tác giả đã sử dụng các từ khóa để tìm kiếm tài liệu bao gồm “individual performance”, “individual impact”, “IT benefits”, “IT”, “IT context”, “kết quả công việc/ hiệu quả công việc (cá nhân)”, “accounting software” (phần mềm kế toán), “ERP/ Enterprise Resource Planning” (hoạch định nguồn lực doanh nghiệp), tác giả nhận thấy hiện tại đã có nhiều nghiên cứu nghiên cứu về chủ đề kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT
Theo tổng hợp của tác giả, chủ yếu các nghiên cứu này xem kết quả công việc cá nhân
là biến nội sinh, tức là các nghiên cứu chủ yếu tập trung xem xét kết quả công việc của
cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT bị tác động bởi các yếu tố nào? Bên cạnh
đó, có một số ít nhà nghiên cứu đã xem kết quả công việc cá nhân là một biến ngoại sinh hay là biến trung gian tức là họ cho rằng kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT như là một yếu tố có ảnh hưởng đến các yếu tố khác hay giữa hai yếu tố khác nhau.Dưới đây là một số nghiên cứu nổi bật:
- Goodhue và cộng sự (1997): theo Goodhue và cộng sự thì kết quả công việc của
cá nhân vừa được xem là biến nội sinh vừa được xem là biến ngoại sinh
- Các nghiên cứu như Goodhue (1995), Etezadi-Amoli và Farhoomand (1996), Bueno và Salmeron (2008), Guimaraes và cộng sự (2016), Park và cộng sự (2007), Christy (2015), Staples và Seddon (2004) xem kết quả công việc là biến nội sinh Một cách tổng quát, các nghiên cứu này xem kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT là biến phụ thuộc cuối cùng bởi vì để đo lường và đánh giá sự
Trang 21thành công của hệ thống thông tin thì kết quả công việc của cá nhân được xem là một chỉ số đo lường chủ yếu (Delone và McLean, 2003)
Trong nhóm nghiên cứu xem kết quả công việc cá nhân là biến nội sinh thì đã có nhiều yếu tố đã được khám phá là có tác động đáng kể đến kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT Phần bên dưới giới thiệu một số nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về các yếu tố có tác động đáng kể đến kết quả công việc của người sử dụng CNTT
- Nghiên cứu của Goodhue (1995) đề cập đến yếu tố sự phù hợp giữa nhiệm vụ
và công nghệ tác động đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng hệ thống thông tin
- Nghiên cứu của Etezadi-Amoli và Farhoomand (1996)chứng minh rằng các yếu
tố bao gồmtính dễ sử dụng của công nghệ, chất lượng đầu ra của hệ thống, tính bảo mật của hệ thống, sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, các chức năng của công nghệ thông tin và sự thoả mãn của người dùng có tác động đến kết quả công việc cá nhân
- Nghiên cứu của Tesch và cộng sự (1997) đề cập đến việc kỳ vọng về kỹ năng của người sử dụng hệ thống với sự cảm nhận kỹ năng chuyên nghiệp của họ có sự khác biệt là có sự khác biệt và có tác động đến kết quả công việc của họ
- Nghiên cứu của Staples và Seddon (2004) đề cập đến sự phù hợp giữa nhiệm vụ
và công nghệ tác động đến kết quả công việc của cá nhân sử dụng hệ thống thông tin
- Nghiên cứu của Park và cộng sự (2007) đã kiểm tra các yếu tố gồm sự hiểu biết
về hệ thống, chấp nhận sự thay đổi từ hệ thống mang lại, khả năng áp dụng hệ thống và mức độ hỗ trợ của tổ chức đến kết quả công việc cá nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố này đều có tác động đến kết quả công việc của người sử dụng CNTT
- Nghiên cứu của Bueno và Salmeron (2008) chỉ ra rằngsự ủng hộ của nhà quản
lý, truyền thông, đào tạo, hợp tác và độ phức tạp của kỹ thuật có tác động tích cực đến kết quả công việc của người sử dụng CNTT
Trang 22- Nghiên cứu của Christy (2015) đề cập đến các yếu tố gồm đặc điểm các nhân (khả năng sử dụng máy tính hiệu quả), đặc điểm của tổ chức (sự ủng hộ của tổ chức, đào tạo trong tổ chức), đặc điểm kỹ thuật của hệ thống (độ phức tạp, tính tương thích) tác động đến kết quả công việc của người sử dụng hệ thống
- Nghiên cứu của Guimaraes và cộng sự (2016) đề cập đến các yếu tố gồm sự ủng
hộ của nhà quản lý, đặc điểm cá nhân của người sử dụng, sự thỏa mãn của người sử dụng, các kỹ năng của nhà phát triển, đào tạo người sử dụng và truyền thông cho người
sử dụng là các yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả công việc của người sử dụng CNTT Một cách tổng quát, kết quả công việc cá nhân chịu tác động bởi một số yếu tố nhưtính
dễ sử dụng của công nghệ, chất lượng đầu ra của hệ thống, tính bảo mật của hệ thống,
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, các chức năng của công nghệ thông tin, sự thoả mãn của người dùng, sự ủng hộ của nhà quản lý, truyền thông, đào tạo, sự hợp tác, độ phức tạp của kỹ thuật, sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ, đặc điểm cá nhân của người
sử dụng, các kỹ năng của nhà phát triển, sự đào tạo người sử dụng, chấp nhận sự thay đổi từ hệ thống mang lại, khả năng áp dụng hệ thống, đặc điểm các nhân (khả năng sử dụng máy tính hiệu quả), đặc điểm kỹ thuật của hệ thống (độ phức tạp, tính tương
thích)
Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu liên quan trước đây
Vai trò của PER
Nhân tố tác động đến PER/ PER tác động đến nhân tố
cộng sự (1997)
Kết quả đầu ra của người sử dụng chịu tác động của trung tâm thông tin tích hợp
Biến nội sinh
Sự phù hợp giữa nhiệm vụ
và công nghệ
Sự sử dụng Biến ngoại
sinh
Phản hồi về việc phân bổ nguồn lực trong tổ chức Goodhue (1995) Sự phù hợp giữa nhiệm vụ
và công nghệ được dùng để đánh giá người sử dụng HTTT
Biến nội sinh
Sự phù hợp giữa nhiệm vụ
và công nghệ
Trang 23sử dụng
Biến nội sinh
Tài liệu về công nghệ Tính dễ sử dụng của công nghệ
Các chức năng của công nghệ
Chất lượng đầu ra
Sự hỗ trợ sử dụng công nghệ Tính an ninh của công nghệ
Sự thỏa mãn của người sử dụng
Biến nội sinh
Sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao
Sự thỏa mãn của người sử dụng
Sự tham gia của người sử dụng
Phát triển kỹ năng Đào tạo ngưởi sử dụng Truyền thông/giao tiếp giữa người sử dụng và nhà phát triển
Parkvà cộng sự
(2007),
Xem xét cảm nhận của người sử dụng cá nhân trong kết quả công việc khi sử dụng ERP
Biến nội sinh
Khả năng hấp thụ để đồng hóa hệ thống ERP
Khả năng hấp thụ để áp dụng
hệ thống ERP Mức độ hỗ trợ của tổ chức (biến điều tiết)
Staples và
Seddon (2004)
Xem xét khả năng dự báo của mô hình TPC - chuỗi công nghệ đến kết quả, cụ thể: sử dụng hệ thống bắt buộc và sử dụng hệ thống tự nguyện
Biến nội sinh
Các đặc điểm cá nhân không có
Trang 24dụng hộluận văn -
các đặc điểm
cá nhân có tác động đến
sự thành công của HTTT
tác động đáng
kể đến sự thành công của HTTT
Bảng 1.3 Bảng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu hay lý thuyết nền
của nghiên cứu
Nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu/ Lý thuyết nền
Goodhue và cộng sự
(1997)
Lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ
Goodhue (1995) Lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ
Etezadi-Amoli và
Farhoomand (1996)
Lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ
Mô hình thành công của HTTT
Staples và Seddon
(2004)
Lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ
Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)
Mô hình kết hợp TAM và TTF Bueno và Salmeron
Kỹ thuật xử lý dữ liệu: CB_SEM, PLS_SEM
Đánh giá các nghiên cứu liên quan:
Theo những nội dung đã trình bày bên trên, hiện tại có khá nhiều nghiên cứu nghiên cứu về kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT và do đó cần khảng định rằng chủ đề kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTTkhông phải là một chủ đề nghiên cứu mới Chính vì vậy, với hầu hết các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này thì phương pháp định lượng là phương pháp được các nhà nghiên cứu lựa chọn để thực hiện việc nghiên cứu của họ Hầu hết các nghiên cứu trên đều xem kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng công nghệ
Trang 25thông tin là biến nội sinh Từ những phân tích trên cho thấy có một vài điểm cần lưu ý như sau:
- Kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau Nhưng kết quả của những nghiên cứu về vấn đề này lại có sự khác nhau bởi vì nó được nghiên cứu trong các bối cảnh địa lý và bối cảnh CNTT khác nhau
- Các yếu tố tác động đến kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin cũng khác biệt nhau theonhóm đối tượng sử dụng CNTT Theo Tesch và cộng sự (2003) thì các nhóm đối tượng sử dụng CNTT như chuyên gia
về hệ thống thông tin, người sử dụng hệ thống thông tin, người quản trị hệ thống thông tin sẽ chịu những tác động khác biệt từ các yếu tố khác nhau đến kết quả công việc của
họ
- Khảo lược các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, có rất ít nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT được nghiên cứu dưới khía cạnh
kế toán, kiểm toán
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Thông qua việc tìm kiếm các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT trên thư viện của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, tác giả đã sử dụng các từ khóa để tìm kiếm tài liệu bao gồm “phần mềm kế toán”, “ERP/
hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp”, “công nghệ thông tin”, “kết quả công việc”, “kết quả công việc cá nhân” tác giả nhận thấy hiện tại không có nhiều nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân trong lĩnh vực kế toán/ kiểm toán nhưng đã có nhiều nghiên cứu nghiên cứu về các vấn đề xoay quanh việc ứng dụng thành công CNTT trong HTTTKT Tác giả tìm thấy một số nghiên cứu đã kiểm tra những yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn phần mềm kế toán tại doanh nghiệp vừa và nhỏ (Hồ Ngọc Thanh Tâm, 2017; Nguyễn Ngọc Hoàng Khiêm, 2018; Nguyễn Thị Thanh Hoa, 2017; Hoàng Thị Thuỳ Trang, 2016; Võ Thị Ngọc Ánh, 2016); nghiên cứu về mối quan hệ
Trang 26giữa chất lượng phần mềm kế toán với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Bùi Quang Hùng, 2019); nghiên cứu về tính kiểm soát của phần mềm kế toán tại doanh nghiệp vừa và nhỏ (Lương Đức Thuận và Nguyễn Quốc Trung, 2015); các nghiên cứu
có liên quan đến sự thoả mãn công việc (Nguyễn Thanh Tuấn, 2019; Lê Văn Quân, 2016; Trần Phi Hùng, 2017; Mai Thị Ngọc Hương, 2019; Nguyễn Lê Việt Nhân, 2018; Nguyễn Lê Duyên, 2015…) và các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc (Phạm Thị Quyên, 2017; Nguyễn Thị Thanh Định, 2017; Trần Ngọc Công, 2019; Phan Quốc Tấn, 2018;Nguyễn Thị Thanh Thảo, 2019; Hoàng Yến, 2019; Nguyễn Trung Phương, 2017; Nguyễn Thị Hương Giang, 2018; Phạm Trà Lam, 2018…)
Mặc dù nghiên cứu này tìm hiểu chủ đề kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT nhưng tác giả sẽ trình bày sơ lược những nghiên cứu có liên quan đến PMKT/ ERP để thấy rằng công nghệ thông tin đang rất được các doanh nghiệp quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực kế toán, đồng thời thông qua các nghiên cứu này cho thấy các yếu tố được quan tâm khi ứng dụng PMKT/ERP vào thực tế doanh nghiệp Cụ thể như sau:
- Nghiên cứu củaHồ Ngọc Thanh Tâm ( 2017 ) đề cập đến ba yếu tố : “hiệu quả mong đợi, những ảnh hưởng của xã hội và nỗ lực mong đợi” hay theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hoa ( 2017) để cập đến sáu yếu tố : “yêu cầu của người sử dụng, chi phí sử dụng phần mềm, điều kiện hỗ trợ, tính năng của phần mềm, nhà cung cấp phần mềm vàảnh hưởng xã hội”, còn theo nghiên cứu của Hoàng Thị Thuỳ Trang (2016) thì đề cập đến bảy yếu tố : “hiệu quả mong đợi, ảnh hưởng xã hội, tính dễ sử dụng, giá cả, thói quen sử dụng công nghệ, điều kiện hỗ trợ và động lực hưởng thụ”, hay theo nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Ánh ( 2016) thì có năm yếu tố: “yêu cầu của người sử dụng, khả năng hỗ trợ của nhà cung cấp, tính năng của phần mềm, giá phí của phần mềm” tác động đến ý định sử dụng phần mềm kế toán tại các doanh nghiệp vừa
và nhỏ
Trang 27- Nghiên cứu củaNguyễn Ngọc Hoàng Khiêm (2018) để cập đến năm yếu tố:
“tính năng của phần mềm, độ tin cậy của nhà cung cấp, yêu cầu của người dùng, dịch
vụ sau bán hàng và giá phí của phần mềm” tác động đến sự lựa chọn phần mềm tại các doanh nghiệp ở Đông Nam Bộ
- Nghiên cứu của Lương Đức Thuận và Nguyễn Quốc Trung (2015) đề cập đến các vấn đề sau: “tính năng kiểm soát của PMKT giữa các loại PMKT là khác nhau, phần mềm ERP thì tính năng kiểm soát tốt hơn so với PMKT đóng gói và PMKT tự thiết kế”
- Nghiên cứu của Bùi Quang Hùng (2019) đề cập đến các “mối quan hệ giữa chất lượng phần mềm kế toán với lợi ích kế toán, hoạt động kế toán quản trị, năng lực phản ứng và kết quả hoạt động của doanh nghiệp”
Đánh giá
Nhìn chung các nghiên cứu này nêu lên các yếu tố tác động đến việc sử dụng phần mềm kế toán đó là: hiệu quả mong đợi, nhữngảnh hưởng của xã hội và nỗ lực mong đợi, tính dễ sử dụng, giá cả, thói quen sử dụng công nghệ, điều kiện hỗ trợ và động lực hưởng thụ, yêu cầu của người sử dụng, khả năng hỗ trợ của nhà cung cấp, tính năng của phần mềm, giá phí của phần mềm Còn một số nghiên cứu đề cập đến tính năng kiểm soát của phần mềm cũng như mối quan hệ giữa chất lượng phần mềm và lợi ích
kế toán, kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Tiếp theo, tác giả trình bày các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài đang nghiên cứu đó là kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT Các nghiên cứu liên quan đến kết quả công việc được trình bày một cách khái quát như sau:
- Nghiên cứu của Phạm Thị Quyên (2017) đề cập đến “mối quan hệ tích cực giữa hoạt động quản trị nguồn và sự cam kết cảm xúc, mối quan hệ tích cực giữa hoạt động quản trị nguồn và sự hài lòng trong công việc, mối quan hệ tích cực giữa cam kết cảm
Trang 28xúc và kết quả công việc, mối quan hệ tích cực sự hài lòng trong công việc và kết quả công việc”
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Định (2017) đề cập “phong cách lãnh đạo tác động dương đến sự tham gia dự toán ngân sách, việc tham gia vào dự toán ngân sách có tác động tích cực đến kết quả làm việc”
- Nghiên cứu của Trần Ngọc Công (2019) cho thấy: kết quả công việc và sự hài lòng trong công việc của nhân viên sẽ chịu tác động bởi năm đặc điểm tính cách (tính tận tâm, tính hòa đồng, tính hương ngoại, tính ổn định cảm xúc và sẵn sàng trải nghiệm), kết quả công việc cũng chịu tác động mạnh bởi sự hài lòng trong công việc của nhân viên
- Nghiên cứu của Phan Quốc Tuấn (2018) cho thấy: kết quả công việc chịu tác động mạnh bởi năng lực tâm lý
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo (2019) cho thấy: sự hài lòng trong công việc sẽ chịu tác động bởi sự phụng sự công, kết quả công việc chịu tác động bởi
sự cam kết với tổ chức
- Nghiên cứu của Nguyễn Trung Phương (2017) cho thấy kết quả công việc của nhân viên chịu tác động bởi văn hóa doanh nghiệp thông qua năm yếu tố cụ thể: “sự tham gia của nhân viên; lương, khen thưởng; sự giao tiếp giữa các thành viên; sự chăm sóc khách hàng; học hỏi và đổi mới”
- Nghiên cứu của Phạm Trà Lam (2018) cho rằng “cảm nhận về tính hữu ích của
hệ thống ERP, sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ và sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP lần lượt là các nhân tố có tác động theo thứ tự giảm dần đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP”
Trang 29Nhận xét
Theo khảo lược của tác giả, phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán
và nghiên cứu về kết quả công việc hay nghiên cứu về sự thành công của HTTT tại Việt Nam đã được thực hiện tương đối nhiều và chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp định lượng Một cách tổng quát, trong bối cảnh tại Việt Nam, các nghiên cứu về kết quả công việc cá nhân đặc biệt là nhân viên kế toán/ kiểm toán gắn trong môi trường ứng dụng CNTT chưa được thực hiện nhiều Vì vậy, tác giả nhận thấy chủ đề nghiên cứu về kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT cần được nghiên cứu thêm để bổ sung các hiểu biết về chủ đề này – một yếu tố của sự thành công của HTTTKT
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Từ những phân tích và nhận địnhbên trên, tác giả nhận thấy rằng, các nghiên cứu trên thế giới về chủ đề kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT đang tồn tại hai khe hổng nghiên cứu đó là: (i) có rất ít các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến kết quả công việc của cá nhân trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam, (ii) có rất ít các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Nhằm bổ sung các tri thức còn chưa đầy đủ về chủ đề kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT, tác giả lựa chọn thực hiện nghiên cứu về chủ đề này tại Việt Nam
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, kết cấu luận văn, tổng quan các nghiên cứu có liên quan trên thế giới và Việt Nam và khe hổng nghiên cứu Từ việc khái quát các nghiên nước nước ngoài và trong nước về chủ đề kết quả công việc cá nhân trong môi trường ứng dụng CNTT, đề tài được thực hiện với mục tiêu tổng quát
là kiểm tra một số yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT và mục tiêu chi tiết là kiểm tra một số tác động gồm (i) sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán (nhân viên kế toán) đến kết quả công việc của họ; (ii) sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao, sự truyền thông
và việc đào tạo đến sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán; (iii) loại phần mềm ứng dụng trong HTTTKT (ERP/ non – ERP) trong mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của nhân viên kế toán đến kết quả công việc của nhân viên kế toán Để đạt được các mục tiêu trên phương pháp nghiên cứu định lượng đã đựa lựa chọn để nghiên cứu vì nghiên cứu này nhằm kiểm định lý thuyết nền và kỹ thuật phân tích dữ liệu PLS_SEM
Trang 31Từ việc khái quát các cơ sở lý thuyết, nghiên cứu này lựa chọn nghiên cứu bốn yếu tố gồm sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao, truyền thông, đào tạo vàsự thỏa mãn của người
sử dụng HTTT kế toán (nhân viên kế toán) để nghiên cứu về mối quan hệ của chúng với kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT Đây là các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự thành công (CSF- Critical Sucsess Factors) khi ứng dụng CNTT, đã được đề cập khi nói đến hiệu quả cạnh tranh của một tổ chức (Salmeron và Herrero, 2005).Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung một yếu tố liên quan đến “loại CNTT đang được áp dụng trong HTTTKT” đó là khái niệm ERP/ non-ERP (non-ERP được hiểu là các doanh nghiệp đang sử dụng PMKT, không phải là hệ thống ERP trong HTTTKT) để kiểm tra tác động của nó đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
Dựa trên các khái niệm gốc này, phần tiếp theo của chương trình bày các nội dung bao gồm định nghĩa của các khái niệm nghiên cứu, các lý thuyết nền được sử dụng trong nghiên cứu và các cơ sở để hình thành giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.2 Các khái niệm trong nghiên cứu
2.2.1 Kết quả công việc cá nhân
Hiện tại, có một số định nghĩa về khái niệm kết quả công việc cá nhân như Sykes (2015) cho rằng kết quả công việc chính là cách thức mà nhân viên thực hiện tốt công việc của mình.Ở một khía cạnh khác, Goodhue và Thompson (1995) định nghĩa kết
Trang 32quả công việc cá nhân chính là sự kết hợp giữa việc làm tăng tính hiệu quả, làm tăng tính hiệu suất và/ hoặc nâng cao chất lượng trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin Hay theo D’Ambra và Wilson (2004a, 2004b) thì kết quả công việc là việc hoàn thành một danh mục các nhiệm vụ được thực hiện bởi một cá nhân
Xuất phát từ các định nghĩa trên, nghiên cứu này hiểu kết quả công việc của nhân viên
kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT là sự kết hợp giữa việc làm tăng tính hiệu quả, làm tăng tính hiệu suất và/ hoặc nâng cao chất lượng trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc hoàn thành các nhiệm vụ kế toán
2.2.2 Sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT
Hiện tại, có một số khái niệm về sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT như DeLone và McLean (2003) cho rằngsự thỏa mãn của người sử dụng HTTT là mức độ thỏa mãn của người sử dụng khi sử dụng một HTTT Ở một khía cạnh khác thì Jiang và cộng sự (2012) cho rằng sự thỏa mãn đối với HTTT được chia thành hai loại gồm sự thỏa mãn của người sử dụng đối với HTTT và sự thỏa mãn của nhân viên đối với công việc trong HTTT
Nghiên cứu này chấp nhận khái niệm sự thỏa mãn của người sử dụng HTTT kế toán từ nghiên cứu của DeLone và McLean (2003) tức là sự thỏa mãn của nhân viên kế toán là mức độ thỏa mãn của nhân viên kế toán khi sử dụng PMKT hoặc hệ thống ERP trong doanh nghiệp
2.2.3 Sự ủng hộ của nhà quản lý cấp cao
Theo nghiên cứu của Thong và cộng sự (1996), Sharma và Yetton (2003) thì sự ủng hộ của nhà quản lý cấp cao được hiểu là sự tham gia một cách tích cực của các nhà quản
lý cấp cao trong đơn vị đối với các vấn đề có liên quan đến sự thành công của hệ thống thông tin
Trang 33Chấp nhận định nghĩa trên, nghiên cứu này hiểu sự ủng hộ của nhà quản lý cấp cao đó
là sự tham gia tích cực của các nhà quản lý cấp cao trong doanh nghiệp đối với việc thiết lập và sử dụng các phần mềm ứng dụng trong HTTTKT của doanh nghiệp bao gồm việc ứng dụng PMKT và hệ thống ERP
2.2.4 Truyền thông
Trong các nghiên cứu đi trước, tác giả đã tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm truyền thông Theo Gerald Miler (1966) thì truyền thông quan tâm nhất đến việc thực hiện hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ Hay theo “Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của Nguyễn Văn Dững (2018) thì truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội
Truyền thông cung cấp cho nhân viên từ các khu vực chức năng khác nhau phương thức chia sẻ các thông tin quan trọng để thực hiện thành công các dự án (B Debrabander, G Thiers, 1984; J.D Ford, L.W Ford, 1995; M.L Markus và Power, 1983; R.W Zmud, C.P McLaughlin, R.J Might, , 1984) Ngoài ra, theo Littlejohn (1999) thì truyền thông sẽ giúp cải thiện việc chuyển giao kiến thức, làm tăng sự lan toả các ý tưởng, nhất là khi thông tin được truyền tải là đáng tin cậy và nó đến từ các nguồn đáng tin cậy (Soh và cộng sự, 2000)
Trong nghiên cứu này, truyền thông được hiểu là việc truyền tải các thông tin đến người sử dụng CNTT trong suốt quá trình triển khai và ứng dụng CNTT (PMKT và hệ thống ERP) trong HTTTKT của các doanh nghiệp
2.2.5 Đào tạo
Đào tạo là hoạt động không những giúp người dùng có những hiểu biết để có thể sử dụng mà còn giúp giảm thiểu các khó khăn do sự phức tạp về công nghệ mà người
Trang 34dùng gặp phải trong quá trình sử dụng hệ thống thông tin trong đơn vị (Amoako- Gyampah và Salam, 2004) Bên cạnh đó, theo Bolog và Nelson (2003) thì đào tạo nên tâp trung nhiều vào việc hướng dẫn về mặt kỹ thuật trong các quy trình được tạo mới (Bolog và Nelson, 2003) Ngoài ra, đào tạo được khuyên nên diễn ra trước, trong và sau khi thực hiện ứng dụng CNTT (Hong và Kim, 2002)
Trong nghiên cứu này, khái niệm đào tạo được hiểu là các hoạt động hỗ trợ đối với người sử dụng CNTT (PMKT và hệ thống ERP) để có có đủ hiểu biết và kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng CNTT mới được ứng dụng trong HTTTKT của doanh nghiệp
2.2.6 Loại phần mềm ứng dụng
Phần mềm ứng dụng trong HTTTKT được phân thành hai loạigồm low-end và end (Maziyar et al, 2011) Trong đó, low-end là phần mềm kết hợp tất cả các chức năng của hệ thống kế toán, có dữ liệu riêng biệt của riêng hệ thống kế (được hiểu là các PMKT riêng lẻ) và high-end là nhóm phần mềm tích hợp tất cả các hoạt động của doanh nghiệp trong một cơ sở dữ liệu – được hiểu như là nhóm phần mềm ERP (Enterprise Resource Planning) với nhiều chức năng đa dạng
high-Trong nghiên cứu này, tác giả chia phần mềm ứng dụng trong HTTTKT thành hai loại gồm ERP và non_ERP tức là nhóm PMKT
2.2.7 Biến kiểm soát: đặc điểm cá nhân của người sử dụng
Nghiên cứu của Petter và cộng sự (2013) cho thấy đặc điểm cá nhân của người sử dụng
có thể tác động hoặc không đến các kết quả đầu ra của hệ thống thông tin, trong đó các đặc điểm cá nhân được xem xét gồm giới tính, tuổi, trình độ, chuyên môn, chức vụ và kinh nghiệm máy tính của người sử dụng Nghiên cứu này dựa vào nghiên cứu của Petter và cộng sự (2013) xem các đặc điểm cá nhân của nhân viên kế toán là biến kiểm soát để loại bỏ tác động của chúng (nếu có) đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
Trang 352.3 Lý thuyết nền
2.3.1 Giới thiệu
Xuất phát từ định nghĩa kết quả công việc cá nhân được sử dụng trong nghiên cứu này
và đã trình bày tại mục 2.2.1 bên trên, tác giả nhận thấy, khái niệm kết quả công việc của nhân viên kế toán được sử dụng trong nghiên cứu này là tương đồng với khái niệm
“kết quả cá nhân” trong mô hình hay lý thuyết thành công của hệ thống thông tin của DeLone và McLean (1992) Vì vậy, nghiên cứu này lựa chọn phát triển các giả thuyết nghiên cứu dựa vào mô hình thành công của hệ thống thông tin (1992) và các phiên bản cập nhật của nó
Phần tiếp theo giới thiệu cụ thể về từng phiên bản của lý thuyết/ mô hình thành công của hệ thống thông tin và cách thức ứng dụng các lý thuyết này cho nghiên cứu
2.3.2 Lý thuyết thành công của hệ thống thông tin phiên bản 1992
Đây là phiên bản gốc của lý thuyết thành công của hệ thống thông tin, trong nghiên cứu của DeLone và McLean (1992) sự thành công của hệ thống thông tin được đo lường bằng các yếu tố gồm chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, sự thoả mãn của người sử dụng, sự sử dụng, tác động cá nhân và tác động tổ chức DeLone và McLean (1992) đã chỉ ra bốn mối quan hệ giữa các yếu tố này như sau:
- Mối quan hệ giữa sự thoả mãn của người sử dụng và việc sử dụng hệ thống thông tin chịu tác động bởi chất lượng thông tin và chất lượng hệ thống
- Sự thoả mãn của người sử dụng và việc sử dụng hệ thống thông tin có tác động hai chiều với nhau
- Mỗi cá nhân sẽ chịu tác động bởi sự thoả mãn cùa người sử dụng và việc sử dụng hệ thống thông tin
- Mỗi cá nhân bị tác động thì sẽ dẫn đến tổ chức cũng bị tác động
Trang 36Nghiên cứu này của DeLone và McLean (1992) đã có sự kế thừa và phát triển các nghiên cứu đi trước về hệ thống thông tin như nghiên cứu về những khó khăn chủ yếu trong hệ thống thông tin (Keen, 1980); nghiên cứu của Davis và cộng sự (1989) về mô hình chấp nhận công nghệ; các nghiên cứu của Muller và cộng sự (2010), Shang và Seddon (2002)…về khuôn mẫu lợi ích của hệ thống thông tin
2.3.3 Lý thuyết thành công của hệ thống thông tin phiên bản 2003
Phiên bản của lý thuyết thành công của hệ thống thông tin đã được chính hai tác giả DeLone và McLean cập nhật vào năm 2003 nhằm bổ sung, thay đổi các yếu mới cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thông tin trong môi trường thương mại điện tử Theo DeLone và McLean (2003) thì có sáu yếu tố tác động đến sự thành công của hệ thống thông tin bao gồm: chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của người sử dụng, việc sử dụng hay định hướng sử dụng hệ thống thông tin, lợi ích thuần của hệ thống (gồm kết quả cá nhân và kết quả của tổ chức) Trong mô hình này, DeLone và McLean (2003) đã chỉ ra mối quan hệ giữa sáu yếu tố đo lường sự thành công của hệ thống thông tin như sau:
- Chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và chất lượng dịch vụ tác động đến định hướng sử dụng/ việc sử dụng hệ thống thông tin và sự thoả mãn của người sử dụng
- Sự thoả mãn của người sử dụng và việc sử dụng/ định hướng sử dụng hệ thống thông tin có tác động qua lại
- Sự thoả mãn của người sử dụng và việc sử dụng/ định hướng sử dụng hệ thống thông tin là hai yếu tố tác động trực tiếp đến những lợi ích thuần của hệ thống Đồng thời những lợi ích thuần của hệ thống cũng tác động ngược lại đến sự thoả mãn của người sử dụng và việc sử dụng/ định hướng sử dụng hệ thống thông tin
Trang 372.3.4 Mô hình thành công của hệ thống thông tin phiên bản 2013
Được phát triển và kế thừa từ hai phiên bản của mô hình thành công của hệ thống thông tin, năm 2013, Petter và cộng sự đã mở rộng mô hình thành công của hệ thống thông tin sang hướng mới đó là nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự thành công của
hệ thống thông tin Hai phiên bản trước của mô hình thành công của hệ thống thông tin
đo lường các yếu tố của sự thành công đối với một hệ thống thông tin tức là biến phục thuộc Ngược lại, phiên bản 2013 đã cập nhật các biến độc lập có tác động đáng kể đến
sự thành công của một hệ thống thông tin để cung cấp những hiểu biết đầy đủ hơn về cách thức đo lường sự thành công của một hệ thống thông tin (Petter và cộng sự, 2013)
Theo Petter và cộng sự (2013) có 15 yếu tố tác động đến sự thành công của một hệ thống thông tin bao gồm sự thích thú, niềm tin, mong đợi của người sử dụng, động lực
từ bên ngoài, cơ sở hạ tầng CNTT, khó khăn trong công việc, thái độ đối với công nghệ, vai trò trong tổ chức, sự thỏa mãn của người sử dụng, mối quan hệ với nhà phát triển, kiên thức chuyên môn về quy trình, sự hỗ trợ của nhà quản trị, quy trình quản lý
và năng lực tổ chức
Hình 2.1 bên dưới tổng hợp về mô hình thành công của hệ thống thông tin dựa vào nghiên cứu của DeLone và McLean (2003) và Petter và cộng sự (2013)
Trang 38Extrinsic Motivation
Task Compatibility
Task Compatibility
Task Difficulty
Organizational Competence
Management
Processes
IS Success
Hình 2.1 Tổng hợp mô hình thành công của hệ thống thông tin
Nguồn: DeLone và McLean (2003) và Petter và cộng sự (2013)
Ứng dụng lý thuyết
Nghiên cứu này được thực hiện dựa vào lý thuyết thành công của hệ thống thông tin bao gồm ba phiên bản của nó.Trong đó khái niệm kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT (một yếu tố để đo lường sự thành công của HTTT) bị tác động bởi các yếu tố như sự thỏa mãn của người sử dụng (user satisfaction), sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao (management support) Tuy nhiên, những yếu tố này có thể có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các yếu tố đo lường sự thành công của hệ thống thông tin (hình 3.1), vì vậy, nghiên cứu này sẽ xem xét các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của sự thỏa mãn của người sử dụng (user satisfaction), sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao (management support) đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
Trang 39Hai yếu tố gồm truyền thông và đào tạo được lựa chọn nghiên cứu trong luận văn này liên quan và rất gần với khái niệm kiến thức chuyên môn về quy trình (domain expert knowledge) và quy trình quản lý (management processes) (Petter và cộng sự, 2013), vì vậy, nghiên cứu này dựa vào mô hình thành công của hệ thống thông tin để đề xuất về tác động của các yếu tố này đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin Tương tự như trên, các tác động của hai yếu tố gồm truyền thông và đào tạo có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng CNTT
2.4 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Kế thừa các lý thuyết nền và nghiên cứu đi trước, nghiên cứu này đề xuất các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến 5 khái niệm chính bao gồm kết quả công việc của nhân viên kế toán, sự thỏa mãn của nhân viên kế toán (người sử dụng), sự ủng hộ của nhà quản lý cấp cao, đào tạo và truyền thông Ngoài ra để phát triển một mô hình nghiên cứu, nghiên cứu này bổ sung một khái niệm đóng vai trò là biến kiểm soát đó là khái niệm đặc điểm cá nhân của người sử dụng (nhân viên kế toán) và một khái niệm đóng vai trò là biến điều tiết đó là khái niệm ERP/ non-ERP (loại phần mềm ứng dụng đang được sử dụng trong HTTTKT của doanh nghiệp là hệ thống ERP hay PMKT tức non-ERP)
2.4.1 ự tr của n à quản cấp cao
Theo nghiên cứu của các tác giả Dezdar và Ainin (2009), Igbaria (1990) thì sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao gồm hai loại: hỗ trợ người dùng cuối và hỗ trợ quản lý cho dự
án Hỗ trợ người dùng cuối bao gồm: hỗ trợ phát triển hệ thống, hướng dẫn chuyên ngành và hướng dẫn sử dụng ứng dụng máy tính; Hỗ trợ quản lý cho dự án bao gồm: khuyến khích quản lý hàng đầu hỗ trợ (Francoir, Bourgault, & Pellerin, 2009)
Trang 40Theo Petter và cộng sự (2013) đã tổng hợp thì sự hỗ trợ của nhà quản trị cấp cao có tác động đến các yếu tố trong mô hình thành công của hệ thống thông tin của DeLone và McLean (1992, 2003) Vì vậy, nghiên cứu này dựa vào nghiên cứu của Petter và cộng
sự (2013) để đề xuất rằng sự hỗ trợ của nhà quản trị cấp cao có tác động đến sự thỏa mãn của nhân viên kế toán bằng giả thuyết H1
Giả thuyết 1 H1 : ự tr củ n qu n c p c o c tác động t c cực đến sự thỏa
mãn của nhân viên kế toán trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin (PMKT/ ERP)
2.4.2 ru ền t ng
Như chúng ta đã biết hầu như không có một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển mà lại không có truyền thông đơn vị Theo Tyre (1989) thì truyền thông là việc trao đổi thông tin giữa nhà phát triển và người sử dụng hệ thống Bên cạnh đó, theo Daft và Lengel (1984, 1986) thì khi vấn đề truyền thông của đơn vị có được sự đa dạng và phong phú tức là có sự liên lạc một cách thường xuyên giữa người sử dụng và người đổi mới - đưa hệ thống mới vào đơn vị Và theo Lin và Zmud (1991) thì điều này sẽ giúp giảm thiểu những hiểu lầm giữa người sử dụng và người phát triển hệ thống Thêm vào đó, theo các tác giả Al- Mashari và cộng sự (2003) thì cần phải thực hiện công việc truyền thông một cách trung thực, cởi mở với người dùng (chú trọng trong giai đoạn đầu tiên khi bắt đầu triển khai hệ thống thông tin) Đồng thời cần phải có sự kiểm soát mạng truyền thông này và phải xác định được sự khác biệt giữa các nhóm trong tổ chức Điều này đã được nghiên cứu bởi Rogers (1986), Farace và Mc Donal (1974) Bên cạnh đó, theo mô hình thành công của hệ thống thông tin đã giới thiệu bên trên, khái niệm sự truyền thông rất gần với khái niệm quy trình quản lý (management processes), trong khi quy trình quản lý có tác động đến sự thành công của hệ thống thông tin Vì vậy, nghiên cứu này dựa vào các lập luận bên bên để giả định rằng tồn tại