1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vận dụng chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh

122 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ACD Kỹ thuật phân tích chi phí vốn chung BMP Mã cổ phiếu Công ty Cổ Phần Nhựa Bình Minh BCTC Báo cáo tài chính CP Cổ phần CAPM Mô hình định giá tài sản vốn EPS Thu nhập trên cổ phiếu EVA

Trang 1

VÕ THỊ THÚY HẰNG

VẬN DỤNG CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (EVA) TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA

BÌNH MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 2

VÕ THỊ THÚY HẰNG

VẬN DỤNG CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (EVA) TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA

BÌNH MINH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐOÀN NGỌC QUẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 3

Người hướng dẫn khoa học Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ Nội dung của luận văn là trung thực

Tp Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 05 năm 2014

Tác giả luận văn

Võ Thị Thúy Hằng

Trang 4

Trang

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (EVA - ECONOMIC VALUE ADDED) 6

1.1 Tổng quan về chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) 6

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chỉ tiêu EVA 6

1.1.2 Khái niệm 8

1.1.3 Công thức xác định EVA 9

1.1.4 Ý nghĩa của chỉ tiêu EVA 11

1.2 Đo lường thành quả hoạt động và vai trò EVA trong đo lường, đánh giá thành quả hoạt động 13

1.3 Phân biệt EVA trong đánh giá thành quả hoạt động và thành quả quản lý 15

1.4 Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động 16

1.4.1 Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động ở phạm vi toàn doanh nghiệp 16

1.4.1.1 Tính toán NOPAT điều chỉnh 17

1.4.1.2 Tính toán vốn đầu tư điều chỉnh 21

1.4.1.3 Tính WACC 22

1.4.2 Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động cho từng sản phẩm, khách hàng khi kết hợp với ABC 25

1.5 Vận dụng EVA thành công tại một doanh nghiệp 28

Trang 5

CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA BÌNH MINH 33

2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh 33

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển 33

2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty 34

2.1.2.1 Ngành nghề kinh doanh chính 34

2.1.2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh 35

2.1.2.3 Quy trình sản xuất nhựa Bình Minh 40

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của Công ty 41

2.1.3.1 Thuận lợi 41

2.1.3.2 Khó khăn 42

2.1.4 Cơ cấu tổ chức 44

2.1.5 Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng 46

2.2 Đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh 46

2.3 Phân bổ chi phí gián tiếp tại Công ty 52

2.4 Đánh giá 54

2.4.1 Ưu điểm 54

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 55

2.4.2.1 Hạn chế 55

2.4.2.1.1 Về số liệu tính toán các chỉ tiêu 55

2.4.2.1.2 Về ý nghĩa các chỉ tiêu 56

2.4.2.2 Nguyên nhân 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (EVA) TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI NHỰA BÌNH MINH 60

3.1 Quan điểm vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh 60

Trang 6

3.2.1 Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động toàn Công ty 62

3.2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị 62

3.2.1.2 Cơ sở dữ liệu 62

3.2.1.3 Xác định EVA toàn Công ty để đánh giá thành quả hoạt động 63

3.2.2 Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động cho từng nhóm sản phẩm và từng phân khúc khách hàng 71

3.2.2.1 Cơ sở dữ liệu 72

3.2.2.2 Kết hợp với ABC để tính EVA cho từng nhóm sản phẩm và từng phân khúc khách hàng của từng nhóm sản phẩm 73

3.2.2.3 Các giải pháp đề xuất cải thiện EVA tại Nhựa Bình Minh 82

3.2.2.3.1 Quản lý hiệu quả các hoạt động tại Công ty 82

3.2.2.3.2 Lựa chọn chiến lược sản phẩm 83

3.2.2.3.3 Xác định thị phần khách hàng mục tiêu 84

3.2.2.3.4 Quản trị hiệu quả chi phí tại Công ty 86

3.3 Các giải pháp hỗ trợ vận dụng EVA vào Công ty 88

3.3.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ phận tài chính kế toán 89

3.3.2 Nâng cao vai trò của chức năng quản trị tài chính 90

3.3.3 Kế hoạch cho chương trình đào tạo EVA 91

3.3.4 Ứng cụng công nghệ phần mềm quản lý 92

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

ACD Kỹ thuật phân tích chi phí vốn chung

BMP Mã cổ phiếu Công ty Cổ Phần Nhựa Bình Minh

BCTC Báo cáo tài chính

CP Cổ phần

CAPM Mô hình định giá tài sản vốn

EPS Thu nhập trên cổ phiếu

EVA Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added)

HOSE Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh

LN Lợi nhuận

NC Nhân công

NOPAT Lợi nhuận hoạt động sau thuế

NVL Nguyên vật liệu

ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

ROI Tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tƣ

ROS Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần

R&D Chi phí nghiên cứu và phát triển

TNDN Thuế thu nhập doanh nghiệp

TC Vốn đầu tƣ

USD Đô la Mỹ

WACC Lãi suất sử dụng vốn bình quân

Trang 8

Bảng 1.1 Tóm tắt một số điều chỉnh NOPAT và vốn đầu tư khi tính toán EVA 19

Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh Nhựa Bình Minh các năm 2011- 2013 37

Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán Nhựa Bình Minh các năm 2011, 2012, 2013 38

Bảng 2.3 Cấu trúc vốn Nhựa Bình Minh theo giá trị sổ sách kế toán 40

Bảng 2.4 Các chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động tại Nhựa Bình Minh 48

Bảng 2.5 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các nhóm sản phẩm năm 2012 52

Bảng 3.1 Lợi nhuận hoạt động sau thuế điều chỉnh BMP các năm 2011 – 2013 64

Bảng 3.2 Tính toán vốn đầu tư điều chỉnh của BMP (theo giá trị sổ sách) 65

Bảng 3.3 Giá trị thị trường vốn chủ sở hữu BMP 66

Bảng 3.4 Tính toán vốn đầu tư điều chỉnh của BMP (theo giá trị thị trường) 66

Bảng 3.5 Lãi suất cho vay bình quân thị trường cuối năm (giai đoạn 2011-2013) 67 Bảng 3.6 Tính lãi suất sử dụng vốn chủ sở hữu 68

Bảng 3.7 Tính WACC (cơ cấu vốn BMP theo giá trị sổ sách) 68

Bảng 3.8 Tính WACC (cơ cấu vốn BMP theo giá trị thị trường) 69

Bảng 3.9 Tính EVA (cơ cấu vốn BMP theo giá trị sổ sách) 69

Bảng 3.10 Tính EVA (cơ cấu vốn BMP theo giá trị thị trường) 69

Bảng 3.11 Tóm tắt kết quả EVA của BMP sau khi tính toán 69

Bảng 3.12 Tổng chi phí của từng nhóm sản phẩm 76

Bảng 3.13 Kết quả kinh doanh của từng nhóm sản phẩm dựa trên kết quả phân bổ chi phí theo mô hình ABC 77

Bảng 3.14 Tính toán EVA cho từng nhóm sản phẩm dựa trên kết quả phân bổ chi phí theo mô hình ABC 77

Bảng 3.15 Kết quả kinh doanh cho từng phân khúc khách hàng dựa trên kết quả phân bổ chi phí theo mô hình ABC 80

Bảng 3.16 Tính EVA cho từng phân khúc khách hàng của từng nhóm sản phẩm 81

Trang 9

Hình 1.2 Cây điều khiển giá trị EVA 15

Hình 2.1 Một số sản phẩm tiêu biểu của Nhựa Bình Minh 36

Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức công ty Nhựa Bình Minh 45

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ phận tài chính kế toán 89

Biểu đồ 2.1 Xu hướng biến động biên LN gộp, ROS, ROA, ROE tại Nhựa Bình Minh giai đoạn 2011-2013 49

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong quản lý và kinh doanh, việc đánh giá đúng thành quả hoạt động của doanh nghiệp là một vấn đề mang tính sống còn không chỉ đối với doanh nghiệp, đối với nhà quản lý mà còn đối với các nhà đầu tư của công

ty Thời gian qua, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu đánh giá thành quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời như tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập trên cổ phần (EPS) Các nhà đầu tư trong nước cũng đã từng bước làm quen với các khái niệm trên khi tham gia vào thị trường chứng khoán Tuy nhiên, việc đánh giá xem xét chủ yếu dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận cũng bắt đầu bộc lộ những hạn chế trong xem xét đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là khi xem xét theo quan điểm đầu tư giá trị Từ đó, các nhà đầu tư, các nhà quản lý tại Việt Nam bắt đầu phát sinh nhu cầu xem xét, và vận dụng những công cụ, chỉ tiêu mới để đánh giá thành quả hoạt động thực sự của một công ty trước khi đưa ra quyết định Trong bối cảnh đó, tác giả cho rằng việc sử dụng chỉ tiêu EVA có khả năng khắc phục được những hạn chế của các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời và giúp các nhà quản lý, nhà đầu tư nhận biết giá trị thực sự tạo ra từ thành quả hoạt động của công ty Ngoài ra, chỉ tiêu EVA cũng hỗ trợ việc đánh giá từng bộ phận của công ty và là cơ sở để khen thưởng nhằm đẩy mạnh hoạt động thi đua, tăng năng suất, phát huy sáng kiến Trên thế giới, việc nghiên cứu ứng dụng EVA đã áp dụng

từ lâu và là một phần trong những công cụ của các nhà kinh tế học với hơn 200 năm, nhưng ở Việt Nam mới chỉ được nghiên cứu trong những năm gần đây khi đất nước mở cửa và hội nhập hơn vào nền kinh tế thế giới Một số đặc điểm của chỉ tiêu EVA vì thế cũng cần thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và điều kiện phát triển tại nước ta Do đó, tác giả cho rằng việc nghiên cứu vận dụng chỉ tiêu EVA trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty là cần thiết và có ý nghĩa

Trang 11

trong thực tiễn, góp phần củng cố những nghiên cứu trước đây về EVA tại Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại cũng đã có một số công trình nghiên cứu đã được công bố về vấn đề vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động

và hoàn thiện hoạt động quản trị tài chính:

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Bích (2005) xây dựng mô hình EVA cho các doanh nghiệp Việt Nam Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích công cụ quản trị tài chính mới là EVA, từ đó đưa ra mô hình EVA cho các doanh nghiệp Việt Nam

và các biện pháp hỗ trợ cho việc ứng dụng mô hình thông qua phương pháp thống

kê, mô tả, phân tích, so sánh đối chiếu và tổng hợp Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập một cách chi tiết chi phí sử dụng vốn ảnh hưởng như thế nào đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp và cũng chưa nêu được cách thức vận dụng EVA tại một doanh nghiệp cụ thể như thế nào

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Linh (2006) một số giải pháp tài chính nhằm gia tăng giá trị kinh tế của doanh nghiệp Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ khái niệm, vai trò và ứng dụng công cụ tài chính EVA và vận dụng một số lý thuyết kinh tế: người đại diện, thông tin bất đối xứng, thị trường hiệu quả và minh bạch hóa thông tin vào công tác quản trị doanh nghiệp nhằm góp phần làm tăng giá trị của doanh nghiệp Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm gia tăng giá trị kinh tế của doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công cụ tài chính EVA để xác định giá trị kinh tế giá trị kinh tế gia tăng tại một số công ty cổ phần niêm yết giai đoạn 2003-2005 mà chưa cung cấp chi tiết một kỹ thuật để đo lường EVA tại một doanh nghiệp cụ thể

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2009) và nghiên cứu của Lê Thị

Mỹ Tú (2013) vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động tại một doanh nghiệp cụ thể tại thị trường Việt Nam, có kết hợp EVA với ABC trong đánh giá thành quả hoạt động ở phạm vi từng nhóm sản phẩm Để thực hiện nghiên cứu các

Trang 12

tác giả đã sử dụng chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra nghiên cứu còn kết hợp sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết hợp giữa phân tích lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề Tuy nhiên, nghiên cứu chưa nêu được các yếu tố quan trọng để vận dụng EVA thành công tại một doanh nghiệp, cũng chưa đi vào phân tích chi tiết EVA kết hợp với ABC cho từng phân khúc khách hàng của từng nhóm sản phẩm và chưa đề xuất được một số giải pháp cụ thể nhằm cải thiện EVA cũng như các biện pháp hỗ trợ để vận dụng EVA tại doanh nghiệp

Tóm lại, các nghiên cứu trên đã minh chứng rằng việc vận dụng chỉ tiêu EVA giúp chúng ta đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp một cách đầy đủ và chính xác hơn các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời dựa trên lợi nhuận, tài sản hay doanh thu (như ROE, ROA, ROS ) Do đó, tác giả tiếp tục nghiên cứu vận dụng chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) trong đánh giá thành quả hoạt động tại một doanh nghiệp cụ thể tại thị trường Việt Nam, cụ thể là Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh; bên cạnh việc ứng dụng EVA trong đo lường, đánh giá thành quả hoạt động

ở phạm vi chung toàn công ty, ở phạm vi hoạt động cho từng nhóm sản phẩm như các nghiên cứu trước, tác giả còn ứng dụng EVA trong đo lường đánh giá thành quả hoạt động cho từng phân khúc khách hàng của từng nhóm sản phẩm tại Nhựa Bình Minh (có kết hợp với ABC) để từ đó phục vụ cho việc đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện EVA toàn công ty (cụ thể: quản lý hiệu quả các hoạt động tại công

ty, lựa chọn chiến lược sản phẩm, xác định thị phần khách hàng mục tiêu, quản trị hiệu quả chi phí tại công ty) Ngoài ra, tác giả còn đề xuất các giải pháp hỗ trợ vận dụng EVA vào công ty

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tập trung vào việc xác định chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) để ứng dụng trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công

ty Cổ phần Nhựa Bình Minh Vì vậy luận văn tập trung vào các mục tiêu nghiên cứu sau:

Trang 13

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến chỉ tiêu EVA

- Phân tích thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh, từ đó đánh giá những ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty

- Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động toàn Công ty và cho từng nhóm sản phẩm, từng phân khúc khách hàng của từng nhóm sản phẩm, từ đó

đề ra một số biện pháp hỗ trợ cho việc vận dụng EVA tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) cùng các nhân tố cấu thành nên chỉ tiêu tài chính này

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

 Phạm vi về không gian: xác định chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh

 Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong 3 năm từ năm 2011-2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành nghiên cứu, cụ thể:

Tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan đến cơ sở lý thuyết về chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) và các dữ liệu liên quan đến thực trạng về đánh giá thành quả hoạt động hiện nay tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh Trên cơ sở đó tiến hành phân tích các tài liệu để đưa ra những nhận xét về ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong đánh giá thành quả hoạt động hiện nay tại Công ty Từ đó, tác giả trình bày các giải pháp để vận dụng chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh

Trang 14

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về cơ sở lý luận: hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến chỉ tiêu EVA, vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động ở phạm vi chung toàn doanh nghiệp và cho từng sản phẩm, khách hàng kết hợp với hệ thống chi phí dựa trên hoạt động (ABC- Activity based cost)

- Về thực tiễn: vận dụng chỉ tiêu EVA để đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh nhằm xác định xem Công ty có tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông hay không, qua đó đánh giá những sản phẩm hay phân khúc khách hàng nào đang mang lại giá trị tăng thêm cho cổ đông, những sản phẩm hay phân khúc khách hàng nào không tạo ra giá trị tăng thêm để từ đó có các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện EVA toàn Công ty Những kết quả nghiên cứu vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty có giá trị áp dụng cho các công ty cổ phần khác, đặc biệt là các công ty cổ phần đã niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán, đồng thời đưa ra một số giải pháp hỗ trợ vận dụng EVA vào Công ty

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giá trị kinh tế tăng thêm (EVA)

Chương 2: Thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh

Chương 3: Vận dụng chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh

Trang 15

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (EVA - ECONOMIC VALUE ADDED)

1.1 Tổng quan về chỉ tiêu giá trị kinh tế tăng thêm (EVA)

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chỉ tiêu EVA

Ý tưởng “giá trị kinh tế tăng thêm” (Economic Value Added - EVA) không phải là một khám phá mới EVA về cơ bản không thể phân biệt được với khái niệm thu nhập còn lại (lợi nhuận trừ đi một khoản chi phí vốn cổ phần) được phát triển bởi các nhà kinh tế như Alfred Marshall trong những năm 1890 Thu nhập còn lại (RI- Residual Income) cũng đã được sử dụng tại các công ty trong nhiều năm Ví

dụ, General Electric (GE) sử dụng thu nhập còn lại trong những năm 1950 và 1960

để đánh giá thành quả hoạt động Tuy nhiên, khái niệm thu nhập còn lại đã không được quảng bá rộng rãi và cũng không trở thành công cụ đánh giá thành quả hoạt động hoàn hảo tại nhiều công ty

Nguồn gốc lý thuyết của EVA được tìm thấy trong các mô hình kinh tế của giá trị công ty được phát triển bởi Merton H.Miller (Đại học Chicago) và Franco Modigliani (MIT) đã đoạt giải Nobel EVA cũng mang nhiều âm hưởng từ hành vi

tổ chức và chi phí cơ quan bởi Michael C.Jensen (Trường Kinh doanh Harvard) và William H Meckling (Đại học Rochester)

Câu chuyện bắt đầu với nghiên cứu được công bố đoạt giải Nobel của Merton

H Miller (Đại học Chicago) và Franco Modigliani (MIT) vào năm 1958, 1960, và năm 1961 Lần đầu tiên, các lý thuyết cơ bản của kinh tế vi mô được áp dụng trong tài chính doanh nghiệp và đã chỉ ra lý do tại sao các mô hình kinh tế của công ty,

mà không phải khuôn khổ kế toán, được ưa thích hơn Họ đã chỉ ra rằng:

- Điểm then chốt của giá trị là lợi nhuận kinh tế và tỷ suất lợi nhuận mong đợi

tỷ lệ thuận với rủi ro

Trang 16

- Giá trị thị trường của một công ty là kết quả của hành vi ở mức lợi nhuận hợp lý bởi nó điều khiển nhà đầu tư những người chi phối đến quá trình kỳ vọng trong định giá cổ phiếu

- Rủi ro về cơ cấu vốn có thể được tách biệt một cách độc lập với tài sản của một công ty hay rủi ro kinh doanh

Nhưng có một điều mà Miller – Modigliani đã không làm là cung cấp một kỹ thuật để đo lường lợi nhuận kinh tế của một công ty

Năm 1975, một bài báo hội thảo về lý thuyết cơ quan của giáo sư William Meckling (Đại học Rochester) và Michael Jensen (Trường Kinh doanh Harvard), đột phá chính của họ là các nhà quản lý có thể được mong đợi gắn kết lợi ích cổ đông trong công việc của họ; các cổ đông và người cho vay sẽ phải chịu chi phí giám sát để chịu trách nhiệm tổ chức quản lý

Và vào năm 1989, trong một bài báo Harvard Businsess Rewiew nổi tiếng với

tựa đề “Sự suy yếu của các công ty đại chúng”, Jensen đã giải thích lý do các công

ty giao dịch công khai sẽ biến mất vào Kohlberg Kravis Roberts (KKR)- kiểu cấu trúc liên kết chặt chẽ quyền chủ sở hữu và lợi ích nhà quản lý (KKR được hình thành từ bộ ba Henry, Kravis và George Roberts) Lý thuyết của Jensen đã tác động

rõ rệt đến EVA Theo Jensen, cấu trúc KKR là một sự đổi mới thành công: rất nhiều khoản nợ được mua đứt bằng tiền đi vay, cái mà làm cho nhà quản lý sau đó tập trung vào việc trả nợ, và có lẽ họ sẽ lặp đi lặp lại việc điều chỉnh cơ cấu vốn để duy trì mục tiêu tốt trong tương lai Tuy nhiên, Jensen chỉ quan tâm đến các công ty trong ngành công nghiệp trưởng thành (như ngành thép, xi măng, ô tô ) và điều này không phải là một câu chuyện thành công của KKR (Al Ehrbar, 1998)

Sau một thời kỳ dài mang thai, EVA đã được đưa ra bởi Công ty Stern Stewart trong năm 1989, nhưng nó đã không nhận được nhiều sự chú ý cho đến ngày 20 tháng 9 năm 1993, tại bài báo của tạp chí FORTUNE (Tully, 1993) cung cấp mô tả

chi tiết về khái niệm EVA, EVA thực sự là chìa khóa tạo ra sự giàu có, được xây

dựng bởi Công ty Stern Stewart, và việc vận dụng thành công EVA tại các tập đoàn lớn ở Hoa Kỳ Tiếp theo thành công tại Tạp chí Tully, EVA là công cụ mới trong

Trang 17

đánh giá thành quả hoạt động tại nhiều công ty, hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến EVA cũng đã được công bố trên các tạp chí khoa học, tạp chí thông dụng

Là người sáng lập đầu tiên công thức tính và đăng ký nhãn hiệu EVA, Công ty Stern Stewart đã tư vấn hơn 300 công ty trên khắp các châu lục thực hiện khuôn khổ EVA trong quản lý tài chính và xây dựng hệ thống khuyến khích bồi thường EVA lần lượt đã giúp cho các nhà quản lý các Công ty này tạo ra hàng trăm tỷ đô la cho

sự giàu có cổ đông Một số công ty áp dụng EVA như: AT & T, Briggs & Stratton, Coca Cola, Duracell, Eli Lilly, Equifax, Georgia Pacific, Olin, Quaker Oats, Sprint, SPX, và Whirlpool (Al Ehrbar, 1998)

EVA nhanh chóng được quảng bá rộng rãi và trở thành chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động hoàn hảo tại rất nhiều công ty không những tại Hoa Kỳ mà còn lan sang các nước Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ Latinh Ví dụ, Công ty Coca-Cola từ lâu đã giữ được vị trí số 1 trong các công ty nước ngọt nhưng nó đã đưa ra quyết định dứt khoát trong việc tạo giá trị trong các bộ phận vào năm 1983 khi Roberto Goizueta trở thành một trong những giám đốc điều hành đầu tiên thực hiện áp dụng EVA Vào năm 1994 Coke đã trở thành người tạo ra sự giàu có số 1 trên thế giới, và đến cuối năm 1996 sản phẩm của nó đã làm giàu cho cổ đông 125.000.000.000 $ Ngoài ra, SPX, một công ty phụ tùng ôtô sút kém ở Muskegon, Michigan, thực hiện EVA trong năm 1996, và giá cổ phiếu của nó tăng vọt từ giữa thập niên 90 đến $69 một cổ phiếu, chỉ trong hai năm công ty đã tạo ra gần 350 triệu đôla sự giàu có cho

cổ đông trong năm đầu tiên khi thực hiện EVA và thêm 400 triệu đôla cho năm thứ hai (Al Ehrbar, 1998)

1.1.2 Khái niệm

Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added - EVA) là chỉ tiêu phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động sau thuế và chi phí sử dụng vốn (Ehrbar, 1998)

Nói một cách đơn giản, EVA là lợi nhuận còn lại sau khi trừ chi phí sử dụng vốn đầu tư để tạo ra lợi nhuận Như vậy, EVA là một ước tính lợi nhuận kinh tế thực, hay là khoản thu nhập vượt hơn hay thấp hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi tối

Trang 18

thiểu mà các cổ đông hay chủ nợ có thể nhận được nếu đầu tư vào các chứng khoán khác có cùng mức độ rủi ro

Hình 1.1 Mô tả khái niệm giá trị kinh tế tăng thêm (EVA)

(Nguồn: http://www.sternstewart.com/?content=proprietary&p=eva )

Chi phí sử dụng vốn thường được gọi là lợi tức cần thiết Đó là tỷ lệ bù đắp cho rủi ro mà các nhà đầu tư phải gánh chịu (Joel Stern and John Shiely, 2001) Chi phí sử dụng vốn là cái giá mà doanh nghiệp phải trả cho việc sử dụng nguồn tài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh, đó là nợ vay, cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, thu nhập giữ lại

Chi phí sử dụng vốn được tính trên cơ sở lãi suất sử dụng vốn và số vốn sử dụng Lãi suất sử dụng vốn được hiểu là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu mà doanh nghiệp cần đạt được để đảm bảo duy trì tỷ suất lợi nhuận trên vốn và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông Do đó, lãi suất sử dụng vốn thường được tính bằng lãi suất bình quân của tất cả các nguồn tài trợ (WACC)

EVA, có thể xem như là lợi nhuận kinh tế, điều chỉnh những biến dạng do các phương pháp kế toán và đề cập một cách chi tiết về chi phí sử dụng vốn cho cả nợ

và vốn chủ sở hữu vì đây là yêu cầu chính đáng nhằm tính toán nhằm tính toán được khả năng sinh lãi tối thiểu có thể chấp nhận được

1.1.3 Công thức xác định EVA

Công thức tính EVA được trình bày như sau:

EVA = NOPAT điềuchỉnh – (WACC * TC điều chỉnh ) (1.1)

(Nguồn http://www.sternstewart.com)

NOPAT- Lợi nhuận

hoạt động

sau thuế

Chi phí sử dụng vốn (WACC x Vốn đầu tư)

EVA

Trang 19

Trong đó:

NOPAT (Net Operating Profit after tax): Lợi nhuận hoạt động sau thuế

WACC (Weighted Average Cost of Capital): Lãi suất sử dụng vốn bình quân (là chi phí trung bình của cả vốn chủ sở hữu và nợ có tính lãi)

TC (Total capital): Vốn đầu tư

Để tính toán EVA, ta dựa vào số liệu từ Báo cáo tài chính của doanh nghiệp (Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) EVA đại diện cho lợi nhuận công ty sau khi trừ tất cả các chi phí sử dụng vốn

Doanh thu

- Chi phí hoạt động

= Lợi nhuận hoạt động (EBIT, lợi nhuận trước lãi và thuế)

- Thuế

= Lợi nhuận hoạt động sau thuế (NOPAT)

- Chi phí sử dụng vốn (Vốn đầu tư * WACC)

 Thực hiện tất cả các khoản đầu tư mà NOPAT tăng cao hơn so với sự gia tăng chi phí sử dụng vốn (tăng trưởng lợi nhuận) Hay là, đầu tư trong tăng trưởng lợi nhuận bằng cách thực hiện các dự án có giá trị hiện tại ròng tích cực, hứa hẹn tạo

ra lợi nhuận trên vốn vượt quá chi phí sử dụng vốn

 Rút vốn khỏi các hoạt động khi các khoản tiết kiệm từ việc giảm chi phí sử dụng vốn vượt quá khoản giảm NOPAT Có nghĩa là, ngừng đầu tư hoặc thanh lý tài sản và các hoạt động không tạo ra lợi nhuận bằng hoặc lớn hơn chi phí sử dụng vốn Những thay đổi lớn trong lĩnh vực này là bán tài sản có giá trị hơn những thứ khác, nhưng cũng bao gồm các khoản khác chẳng hạn như giảm hàng tồn kho, đẩy nhanh tiến độ thu các khoản phải thu (cả hai đều thể hiện trong vốn đầu tư)

Trang 20

 Cơ cấu lại tài chính của công ty bằng cách giảm thiểu chi phí sử dụng vốn (trách nhiệm thuộc về bộ phận tài chính, Giám đốc điều hành, và Ban tổng giám đốc công ty)

Nhìn chung, EVA phụ thuộc vào 3 nhân tố chính là lợi nhuận hoạt động sau thuế; vốn đầu tư; và lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC)

1.1.4 Ý nghĩa của chỉ tiêu EVA

Về cơ bản, EVA là ứng dụng thực tế của lý thuyết tài chính hiện đại và kinh tế học cổ điển đến các vấn đề của một doanh nghiệp đang hoạt động, một ứng dụng cung cấp một khuôn khổ hiệu quả nhất cho quyết định của công ty trong thời kỳ thay đổi đáng kể của nền kinh tế Trong một số trường hợp, không có gì ngạc nhiên khi EVA, cái mà hướng các nhà quản lý tiếp cận thị trường bằng cách quan tâm đến chi phí sử dụng vốn, đã trở nên nổi bật khi thế giới được chinh phục để doanh nghiệp tự do kinh doanh và tuân thủ quy tắc thị trường EVA là không phải là một hình thức khác của việc mở rộng hoặc thu hẹp hoặc là phiên bản của tái cấu trúc tài chính, cũng không phải là một mốt nhất thời EVA là một cách cơ bản để đo lường

và quản lý thành quả hoạt động doanh nghiệp có nguồn gốc lâu đời Nó xuất phát từ việc khắc phục các nhược điểm của các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời dùng để đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Khi các công ty sử dụng EVA một cách đầy đủ nhất, thì nó sẽ trở thành một công cụ đánh giá thành quả hữu hiệu Nó là (Ehrbar, 1998):

 Chỉ tiêu đo lường thành quả của công ty liên quan trực tiếp nhất, cả về mặt lý thuyết và thực tiễn để tạo ra giá trị cổ đông; như bạn sẽ thấy, quản lý đạt EVA cao hơn, nghĩa là quản lý cho giá cổ phiếu cao hơn

 Chỉ tiêu đo lường thành quả duy nhất luôn luôn đưa ra câu trả lời đúng, theo nghĩa là EVA luôn là một cách rõ ràng hơn cho các cổ đông, cái mà làm cho

nó trở thành công cụ cho sự phát triển bền vững; ngược lại, hành động tăng lợi nhuận, thu nhập trên mỗi cổ phiếu, và thậm chí cả tỷ suất lợi nhuận đôi khi phá hủy giá trị của cổ đông

Trang 21

 Khuôn khổ cơ bản một hệ thống mới toàn diện về quản lý tài chính của công

ty là tác động đến mọi quyết định, từ ngân sách hoạt động hàng năm đến ngân sách vốn, hoạch định chiến lược, mua lại và bán đi

 Một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả cho việc huấn luyện kỹ năng kinh doanh, kể cả những người lao động tinh vi nhất

 Chìa khóa quan trọng trong một hệ thống khuyến khích bồi thường độc đáo, lần đầu tiên, thực sự liên kết lợi ích của các nhà quản lý với lợi ích các cổ đông và là động lực để nhà quản lý suy nghĩ và hành động như chủ sở hữu

 Một khuôn khổ mà các công ty có thể sử dụng để truyền đạt mục tiêu và kết quả cho nhà đầu tư, và các nhà đầu tư có thể sử dụng để nhận định các công

ty có triển vọng hiệu suất cao- những gì Steve Einhorn, Giám đốc nghiên cứu chứng khoán toàn cầu tại Goldman Sachs, gọi là “một công cụ quyền lực trong bộ công cụ của nhà phân tích”

 Quan trọng nhất, một hệ thống của quản trị doanh nghiệp nội bộ thúc đẩy tất

cả các nhà quản lý và nhân viên làm việc hợp tác và nhiệt tình để đạt được thành quả tốt nhất có thể

Tóm lại, EVA có lợi thế là khái niệm đơn giản và dễ dàng để giải thích cho các nhà quản lý phi tài chính, nó khởi đầu với lợi nhuận hoạt động quen thuộc và đơn giản là sẽ khấu trừ một khoản chi phí sử dụng vốn đầu tư trong toàn bộ công ty, hoặc trong một đơn vị kinh doanh, một bộ phận, hoặc thậm chí trong một nhà máy duy nhất, văn phòng, hoặc dây chuyền lắp ráp EVA có thể được sử dụng như một biện pháp thực hiện có hiệu quả bởi vì nó có khả năng đo lường kết quả định kỳ Những người ủng hộ khẳng định rằng việc sử dụng EVA cung cấp một biện pháp giá trị từ năm này qua năm khác mà các doanh nghiệp tạo ra Hơn nữa, EVA là công cụ về “giá trị”, nên nó phải là cơ sở của bất kỳ hệ thống quản lý tài chính được

sử dụng để thiết lập chiến lược công ty, hoặc để đánh giá quyết định tiềm năng vốn đầu tư, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, hoặc đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp

Trang 22

1.2 Đo lường thành quả hoạt động và vai trò EVA trong đo lường, đánh giá thành quả hoạt động

Có nhiều chỉ tiêu đo lường (thước đo) đánh giá kết quả về mặt kinh tế và cả hiệu quả chung gọi là thành quả (performance) của một doanh nghiệp kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Trong đó, kết quả là đại lượng tuyệt đối có được sau một thời kỳ, không cho phép so sánh với chi phí bỏ ra (sản lượng, doanh thu ); còn thành quả là đại lượng tương đối, so sánh giữa kết quả với chi phí bỏ ra để có được kết quả đó

Đo lường thành quả là quá trình đánh giá mức độ thành công của một thực thể báo cáo trong việc đạt được mục tiêu của mình, thông qua việc đạt được các nguồn lực kinh tế và việc triển khai kết quả và hiệu quả của chúng Các thước đo thành quả

có thể dựa vào các thông tin tài chính hay phi tài chính (CIMA, 2005)

Có hai loại thành quả mà một doanh nghiệp cần đánh giá:

- Thành quả hoạt động nói về hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp

- Thành quả quản lý đề cập đến trách nhiệm quản lý kinh tế của bộ phận

Thành quả hoạt động của một công ty được phản ánh trên các thị trường vốn Đánh giá này phản ánh nhận thức và tiềm năng của nhà đầu tư về thành quả hiện tại

và tương lai của công ty (Bhattacharyya & Phani, 2004)

Các nhà đầu tư đo lường thành quả hoạt động tổng thể của một công ty như quyết định có nên đầu tư vào công ty; tiếp tục đầu tư vào công ty hay rút đầu tư ra khỏi công ty đó Số liệu thành quả hoạt động đóng vai trò rất quan trọng không chỉ trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động hiện tại của công ty mà còn trong việc liệu công ty đó có đạt được hiệu suất cao và tăng trưởng trong tương lai Tạo ra giá trị

và tối đa hóa giá trị cho các bên liên quan phụ thuộc vào việc hướng các xung đột lợi ích khác nhau của họ tới một mục tiêu chung (Bhattacharyya & Phani, 2004) Việc lựa chọn thước đo thành quả thích hợp là rất quan trọng cho sự thành công của công ty Hầu hết các chỉ tiêu truyền thống hiện đang được sử dụng chủ yếu dựa trên lợi nhuận, tổng tài sản, doanh thu thuần Chẳng hạn như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay tỷ suất

Trang 23

sinh lời trên vốn đầu tư (ROI) hay lợi nhuận còn lại (RI) , nhưng các chỉ tiêu này

đo lường các khía cạnh khác nhau của hoạt động của công ty và có những hạn chế nhất định (Bhattacharyya & Phani, 2004)

Stern Stewart và các cộng sự (2001) cho rằng EVA là chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động vì nó nắm bắt lợi nhuận kinh tế thực sự của một tổ chức, và là chỉ tiêu liên quan trực tiếp nhất đến việc tạo giá trị cho cổ đông theo thời gian EVA là một sự ước tính số tiền kiếm được vượt quá hoặc thấp hơn tỷ lệ lợi nhuận mong đợi tối thiểu mà cổ đông và chủ nợ có thể nhận được bằng cách đầu tư vào các chứng khoán khác với cùng mức rủi ro có thể so sánh Khi thực hiện một cách đầy đủ, EVA sẽ là trung tâm của một hệ thống quản lý tài chính tích hợp liên quan chặt chẽ đến việc ra quyết định của một tổ chức

EVA gắn liền với phân tích hoạt động dựa trên giá trị sẽ giúp các nhà quản trị hướng đến sự nỗ lực và thực hiện các đầu tư nhằm tối đa hóa giá trị toàn doanh nghiệp EVA là một chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động khác với các chỉ tiêu đo lường thành quả khác: nó giải thích một cách đúng đắn việc cân bằng tất cả các yếu

tố để đạt được sự kết hợp tốt nhất việc tạo ra giá trị thông qua việc nắm bắt đồng thời cả lợi nhuận hoạt động và vốn đầu tư (Jessica Yang và Janet Uy, 2013)

Tối đa hóa lợi nhuận hoạt động theo cách thông thường là tập trung vào việc nâng cao doanh thu và cắt giảm chi phí hoạt động, có thể bỏ qua vốn bổ sung cần thiết để hỗ trợ cải thiện lợi nhuận mà sau đó có thể dẫn đến phá hủy giá trị ở cấp độ toàn doanh nghiệp Ví dụ, sự gia tăng nhỏ trong doanh số bán hàng sẽ không phù hợp nếu nó được tạo ra từ việc gia tăng đáng kể lượng vốn tương ứng (tức là năng năng lực sản xuất) Hay một ví dụ khác, nếu công ty sản xuất hết công suất hơn mức cần thiết để giảm chi phí đơn vị sản phẩm, cách này có thể làm tăng tổng chi phí bằng cách tạo ra hàng tồn kho không cần thiết của hàng hóa, thành phẩm (Jessica Yang và Janet Uy, 2013)

Từ quan điểm EVA, xem xét trên cây điều khiển giá trị ở hình 1.2 bên dưới và

nó đại diện cho một hình ảnh đầy đủ về việc tạo ra giá trị thực sự (Jessica Yang và Janet Uy, 2013)

Trang 24

Hình 1.2 Cây điều khiển giá trị EVA

(Nguồn http://www.sternvaluemanagement.com) Tóm lại, mỗi sáng kiến cải tiến có khả năng ảnh hưởng đến một số trình điều khiển EVA cùng một lúc Vận dụng EVA sẽ cung cấp một ngôn ngữ tài chính chung cho tất cả nhân viên trong một doanh nghiệp – từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất- để hiểu và truyền tải hành động của mình đến những nhân viên khác và toàn

Chi phí

sử dụng vốn

Thuế

Vốn đầu tư

WACC

Tài sản cố định

Vốn lưu động

Doanh thu

Tiền mặt

Hàng tồn kho

Các khoản phải thu

Máy móc

Thiết bị, dụng cụ quản lý

Các khoản phải trả Giá vốn hàng bán

Trang 25

phận công ty mà công thức xác định EVA sẽ được định hướng tính toán khác nhau bởi nó xuất phát từ các nhân tố cấu thành nên chỉ tiêu tài chính này

 Về nhân tố vốn đầu tư:

- Khi vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động, vốn đầu tư được xác định bằng tổng tài sản trừ đi nợ ngắn hạn không tính lãi, nghĩa là tính chi phí hoạt động một cách đầy đủ, vốn đầu tư thể hiện đúng các khoản mục tham gia vào hoạt động có khả năng góp phần tạo ra lợi nhuận

- Khi vận dụng EVA trong đánh giá thành quả quản lý, vốn đầu tư được xác định bằng tổng tài sản trừ đi nợ ngắn hạn, tức là đứng góc nhìn khuyến khích nhà quản trị bộ phận sẽ được đánh giá cao hơn thông qua EVA nếu nỗ lực làm giảm vốn lưu động, tìm cách tài trợ cho các tài sản ngắn hạn bằng các nguồn nợ ngắn hạn để tiết kiệm chi phí sử dụng vốn

 Về lợi nhuận hoạt động sau thuế:

- Khi vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động, lợi nhuận hoạt động sau thuế có thể thay thế bằng chỉ tiêu số dư bộ phận (tính cả doanh thu và chi phí có thể kiểm soát và không kiểm soát được)

- Khi vận dụng EVA trong đánh giá thành quả quản lý của các nhà quản trị bộ phận, lợi nhuận hoạt động sau thuế nên thay thế bằng chỉ tiêu số dư bộ phận

có thể kiểm soát (tính đến doanh thu và chi phí có thể kiểm soát được)

1.4 Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động

1.4.1 Vận dụng EVA trong đánh giá thành quả hoạt động ở phạm vi toàn doanh nghiệp

Trang 26

Để xác định EVA tại một doanh nghiệp, ta thực hiện lần lượt tính toán NOPAT điều chỉnh, vốn đầu tư điểu chỉnh và lãi suất sử dụng vốn đầu tư Từ các kết quả tính toán này, chúng ta sẽ xác định được EVA dựa vào công thức 1.1 tại mục 1.1.3

1.4.1.1 Tính toán NOPAT điều chỉnh

EVA có thể xem như là lợi nhuận kinh tế nên cần thiết phải điều chỉnh lợi nhuận hoạt động sau thuế và vốn đầu tư cho phù hợp

Stern Stewart đã chỉ ra rằng nhìn chung mỗi công ty có thể có hơn 160 điều chỉnh kế toán để tính toán NOPAT và vốn đầu tư Bất kỳ sự thay đổi trong điều chỉnh nào cũng dẫn đến kết quả là EVA khác nhau Nhưng hầu hết các công ty chỉ thực hiện một số điều chỉnh để chuyển NOPAT và vốn đầu tư trên cơ sở số liệu kế toán phù hợp với các quan điểm về tài chính, cụ thể như sau (Al Ehrbar, 1998):

Chi phí nghiên cứu và phát triển: các cổ đông và nhà quản lý xem khoản chi

tiêu cho nghiên cứu và phát triển như là một khoản đầu tư cho sản phẩm và sự phát triển trong tương lai Tuy nhiên, nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích đòi hỏi các công ty phải ghi nhận ngay vào chi phí tất cả các khoản chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển Điều này dẫn tới việc nhà quản lý có thể cắt giảm khoản chi tiêu này trong năm tài chính nhằm tăng lợi nhuận, mặc dù điều này có thể làm mất đi một khoản đầu tư hứa hẹn sẽ mang lại lợi nhuận nhiều hơn chi phí sử dụng vốn của các

cổ đông công ty Do đó, khi tính toán EVA cần phải vốn hóa khoản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển và sau đó phân bổ dần theo thời gian thích hợp Đồng thời, chi phí này cần được cộng trở lại vào NOPAT, và cộng vào vốn đầu tư đối với các chi phí đã phát sinh trong năm

Lợi thế thương mại: Stern Stewart khuyến cáo giữ lại lợi thế thương mại trên

Bảng cân đối kế toán và không giảm giá trị tài sản của nó, vì một số lý do: (1) các nhà quản lý tập trung vào Bảng lưu chuyển tiền tệ hơn là dữ liệu kế toán đơn thuần, (2) lợi thế thương mại đại diện cho các tài sản không xác định được và không được ghi nhận một cách riêng biệt, như là thương hiệu, uy tín, hay vị thế thị trường Trong trường hợp này, ta điều chỉnh bằng cách cộng thêm giá trị phân bổ trong năm

Trang 27

hiện hành của lợi thế thương mại vào NOPAT và đồng thời cộng giá trị đã phân bổ của lợi thế thương mại trong năm trước vào vốn đầu tư

Ghi nhận ghi phí: Trong thực tế, nhiều công ty sẵn sàng gánh chịu các khoản

chi phí tiếp thị để xây dựng thương hiệu mới, thâm nhập thị trường hoặc cạnh tranh

để chiếm lĩnh thị phần Tất cả các khoản chi tiêu này cần được xem như một sự đầu

tư để thu hút khách hàng Tuy nhiên, nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích cho rằng các khoản chi tiêu này phải được ghi nhận ngay vào chi phí trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh Do sự khác biệt trên, khi tính toán EVA cần phải vốn hóa khoản đầu tư cho quảng cáo, tiếp thị, xây dựng thương hiệu và phân

bổ theo thời gian thích hợp Đồng nghĩa với việc cần được cộng trở lại vào NOPAT,

và cộng vào vốn đầu tư đối với các chi phí đã phát sinh trong năm

Chi phí khấu hao: Hầu hết các công ty chọn phương pháp khấu hao tài sản cố

định theo phương pháp đường thẳng Tuy nhiên, phương pháp này không hoàn toàn phù hợp với khấu hao kinh tế thực sự của tài sản cố định hữu hình Do đó, sử dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng để tính toán EVA sẽ tạo ra lực cản trong việc khuyến khích đầu tư cho máy móc, thiết bị mới Nguyên nhân là do chi phí sử dụng vốn trong EVA giảm dần bởi giá trị đã khấu hao của tài sản, do đó các máy móc, thiết bị cũ sẽ ít tốn kém hơn khi xác định kết quả hoạt động kinh doanh (khấu hao ít hơn máy móc, thiết bị mới) Điều này có thể làm cho các nhà quản lý từ chối việc thay thế một thiết bị cũ bằng một thiết bị mới Để giải quyết mâu thuẫn này, chi phí khấu hao cần được cộng lại vào lợi nhuận, và thay vào đó một khoản phí khấu hao kinh tế được thực hiện Khấu hao kinh tế phản ánh sự thay đổi thực sự trong giá trị tài sản trong suốt thời kỳ (không giống như khấu hao kế toán) Nếu không có chi tiết nào được đưa ra về khấu hao kinh tế thì chúng ta sẽ xem như khấu hao kế toán đại diện tương đương cho nó

Thuế: Thuế thu nhập doanh nghiệp được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt

động kinh doanh theo nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích thường không giống tiền thuế các công ty thực sự phải nộp Chênh lệch giữa tiền thuế theo sổ sách và thuế mà công ty thực sự phải nộp được hạch toán vào tài khoản phải trả được gọi là

Trang 28

thuế thu nhập hoãn lại Vì vậy khi tính NOPAT và EVA ở cấp độ doanh nghiệp, các công ty chỉ nên trừ tiền thuế mà họ phải nộp trong thời kỳ được đo lường Đồng thời, thuế thu nhập hoãn lại đã trừ từ lợi nhuận nên được loại khỏi nghĩa vụ phải trả trên Bảng cân đối kế toán và cộng vào các quỹ cổ đông cho mục đích tính toán vốn đầu tư và chi phí sử dụng vốn

Các điều chỉnh Bảng cân đối kế toán: Tất cả các điều chỉnh đã được đề cập

có thể có ảnh hưởng đáng kể đến sự đo lường của vốn đầu tư (chẳng hạn như vốn hóa chi phí nghiên cứu và phát triển ) Ngoài ra, các điều chỉnh khác có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Bảng cân đối kế toán cũng cần phải được đề cập Ví dụ như một

số công ty áp dụng EVA tiến hành trừ các khoản đầu tư thụ động (như khoản tiền

dự trữ lớn mà một số công ty nắm giữ trong thị trường chứng khoán) vì chúng không đại diện cho vốn được sử dụng để tạo ra lợi nhuận hoạt động Và lợi nhuận trên khoản đầu tư này phải được trừ từ NOPAT Hoặc điều chỉnh trên Bảng cân đối

kế toán có thể trừ là tất cả các khoản phi tài chính mà tất cả các công ty sử dụng, chẳng hạn như chi phí phải trả và các khoản nợ không phát sinh lãi (phải trả người bán, phải trả phải nộp khác ) Cuối cùng, các công ty phải chuyển tất cả các khoản mục ngoài Bảng cân đối kế toán, chẳng hạn như tài sản thuê hoạt động và chứng khoán hóa các khoản phải thu, trở lại vào Bảng cân đối kế toán Điều này là cần thiết để tránh nhầm lẫn trước khi đưa ra các quyết định hoạt động và quyết định tài chính

Bảng 1.1 bên dưới thể hiện một số điều chỉnh NOPAT và vốn đầu tư:

Bảng 1.1 Tóm tắt một số điều chỉnh NOPAT và vốn đầu tư khi tính toán EVA

STT Một số khoản mục cần

điều chỉnh Điều chỉnh lợi nhuận Điều chỉnh vốn đầu tư

1

Chi phí nghiên cứu và

phát triển, chi phí quảng

cáo, tiếp thị

(+) Cộng vào lợi nhuận năm

hiện hành

(-) Trừ khấu hao kinh tế trên

điều chỉnh EVA của năm trước

(+) Cộng vốn đầu tư vào cuối

năm

Trang 29

STT Một số khoản mục cần

điều chỉnh Điều chỉnh lợi nhuận Điều chỉnh vốn đầu tư

2

Lợi thế thương mại (+) Cộng giá trị phân bổ lợi

thế thương mại trong năm hiện hành vào lợi nhuận hoạt

4

Thuê hoạt động (+) Cộng khoản thanh toán

hợp đồng thuê vào lợi nhuận

(-) Trừ khấu hao trên tài sản

(+) Cộng giá trị hiện hành của

khoản thanh toán hợp đồng trong tương lai vào vốn đầu

6 Chi phí phải trả (+) Cộng vào lợi nhuận (+) Cộng lợi nhuận giữ lại

cuối năm tài chính

Để tính toán NOPAT điều chỉnh dựa trên cơ sở dữ liệu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, có hai cách tính như sau:

Cách 1: Phương pháp tiếp cận từ dưới lên (James L.Grant, 2003)

Lợi nhuận hoạt động sau khi khấu hao

Cộng: + Tiền lãi hợp đồng thuê hoạt động

+ Tăng dự trữ LIFO

+ Tăng giá trị phân bổ lợi thế thương mại lũy kế

+ Tăng dự trữ nợ xấu

+ Tăng chi phí nghiên cứu và phát triển vốn hóa

+ Tăng một số khoản mục đặc biệt đã xóa bỏ (khoản mục đã bị xóa bỏ được đưa vào kết quả hoạt động kinh doanh thay cho những khoản mục bất thường)

Trang 30

= Lợi nhuận hoạt động trước thuế đã điều chỉnh

Trừ: - Tiền thuế thu nhập doanh nghiệp

= NOPAT điều chỉnh

Cách 2: Phương pháp tiếp cận từ trên xuống (James L.Grant, 2003)

Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Trừ: - Giá vốn hàng bán

- Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp

- Chi phí khấu hao

Cộng: + Tiền lãi hợp đồng thuê hoạt động

+ Tăng dự trữ LIFO

+ Tăng giá trị phân bổ lợi thế thương mại lũy kế

+ Tăng dự trữ nợ xấu

+ Tăng chi phí nghiên cứu và phát triển vốn hóa

+ Tăng một số khoản mục đặc biệt đã xóa bỏ (khoản mục đã bị xóa bỏ được đưa vào kết quả hoạt động kinh doanh thay cho những khoản mục bất thường)

+ Lợi nhuận hoạt động khác

= Lợi nhuận hoạt động trước thuế đã điều chỉnh

Trừ: - Tiền thuế thu nhập doanh nghiệp

= NOPAT điều chỉnh

1.4.1.2 Tính toán vốn đầu tư điều chỉnh

Vốn được sử dụng trong tính toán EVA được xác định là tất cả các khoản đầu

tư vào các hoạt động kinh doanh của công ty

Vốn đầu tư = Tổng tài sản - các khoản nợ không phải trả lãi (1.2)

Vốn đầu tư trong tính toán EVA không phải là vốn được xác định theo sổ sách, mà nó phải thể hiện giá trị kinh tế của tất cả tiền đã đầu tư vào doanh nghiệp

Trang 31

Hay nói cách khác, vốn đầu tư cần thiết phải điều chỉnh (chi tiết một số điều chỉnh tại bảng 1.1)

Ngoài ra, ta có thể xác định vốn đầu tư theo phương pháp tiếp cận tài chính từ

dữ liệu bảng cân đối kế toán như sau:

Xác định vốn đầu tư theo phương pháp tiếp cận tài chính (James L.Grant, 2003)

Giá trị của cổ phiếu phổ thông

Cộng: Các khoản tương đương vốn

+ Cổ phiếu ưu đãi

+ Lợi ích cổ đông thiểu số

+ Lợi nhuận chưa phân phối

+ Khoản dự trữ vốn (là những khoản điều chỉnh cần thiết nêu trên, chẳng hạn: vốn hóa chi phí nghiên cứu và phát triển; giá trị phân bổ lợi thế thương mại những năm trước )

Cộng: Nợ và các khoản tương đương nợ (có tính lãi)

Lãi suất sử Tỷ trọng nợ Lãi suất sử Tỷ trọng vốn Lãi suất sử dụng vốn = trong tổng x dụng nợ vay + chủ sở hữu trong x dụng vốn chủ bình quân vốn đầu tư sau thuế trong tổng vốn đầu tư sở hữu

(WACC)

Trang 32

Hay: WACC = 𝐷

𝐷 +𝐸 * i * (1-t) + 𝐸

Trong đó:

 i là lãi suất sử dụng nợ vay;

 r là lãi suất vốn chủ sở hữu;

 t là thuế suất thuế TNDN;

 rd: Lãi suất sự dụng nợ vay sau thuế;

 Wd: Tỷ trọng nợ vay trong cấu trúc vốn;

 re: Lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường;

 We: Tỷ trọng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn;

 rp : Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi;

 Wp: Tỷ trọng vốn cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn

Chi phí sử dụng vốn là phần cần thiết tối thiểu để bù đắp tất cả các rủi ro đầu

tư của các nhà cung cấp vốn cho công ty (nợ vay, cổ phần phổ thông, vốn cổ phần

ưu đãi, ) Nó phản ánh chi phí của nguồn tài trợ dựa trên những thông tin có sẵn tốt nhất

Để tính lãi suất sử dụng vốn bình quân chúng ta cần phải tính toán lãi suất sau thuế của nợ vay và lãi suất sử dụng vốn chủ sở hữu

Lãi suất sử dụng nợ vay sau thuế tính theo công thức sau:

Trong đó:

 t là thuế suất thuế TNDN;

 b là lãi suất sử dụng nợ vay;

Trang 33

 rd là lãi suất nợ vay sau thuế

Lãi suất sử dụng vốn chủ sở hữu:

 Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi:

Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi (rp) được xác định theo mức cổ tức chi trả hàng năm cho các cổ đông ưu đãi Ta có công thức sau:

Rp =Dp

Trong đó:

 Dp: Cổ tức cổ phần ưu đãi;

 Pp: Mệnh giá cổ phần ưu đãi;

 P’p: Doanh thu thuần từ việc phát hành cổ phần ưu đãi;

 P’p = P x ( 1- % chi phí phát hành cổ phần ưu đãi)

 Lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường:

Lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường (re) là mức tỷ lệ chiết khấu mà nhà đầu

tư chiết khấu các khoản cổ tức thu nhập mong đợi để xác định cổ phần thường của công ty Để tính lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường cho việc tính toán EVA trên thực tế áp dụng dựa vào mô hình định giá tài sản vốn (CAPM- Capital Asset Pricing Model)

 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM

CAPM mô tả mối quan hệ giữa lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường re với rủi

ro hệ thống của doanh nghiệp được đo lường bằng hệ số 𝛽 (beta):

Bằng chữ: Suất sinh lời kỳ vọng = tỷ suất sinh lời phi rủi ro + beta x phần bù rủi ro thị trường (Đỗ Hữu Vinh, 2012)

Trong đó:

- rf: Tỷ suất sinh lời phi rủi ro

- rm: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của thị trường

- (rm– rf): Phần bù rủi ro thị trường

Hệ số beta là hệ số đo lường rủi ro thị trường, nó đo lường sự biến động của một chứng khoán so với một chứng khoán trung bình Giá trị beta của một cổ phiếu

Trang 34

cá biệt có ích trong việc dự đoán xem chứng khoán sẽ tăng hay giảm bao nhiêu, cho biết thị trường sẽ đi theo chiều hướng nào Hệ số beta cao thì rủi ro cao hơn do đó

nó đòi hỏi suất sinh lời cao hơn và ngược lại (Đỗ Hữu Vinh, 2012)

Do đó, công thức cho thấy rằng suất sinh lời yêu cầu (kỳ vọng) trên một chứng khoán cho trước bằng suất sinh lời kỳ vọng đối với các chứng khoán không có rủi

ro, cộng với phần bù rủi ro yêu cầu bởi nhà đầu tư để đổi lại việc chấp nhận một mức rủi ro cho trước Ý tưởng đằng sau công thức này đó là thước đo liên quan của rủi ro chính là rủi ro của từng chứng khoán, hay giá trị beta của nó Beta của một chứng khoán càng cao, suất sinh lời kỳ vọng bởi nhà đầu tư càng lớn (Đỗ Hữu Vinh, 2012)

sản phẩm, khách hàng khi kết hợp với ABC

EVA là công cụ hữu hiệu để đánh giá thành quả hoạt động ở phạm vi toàn doanh nghiệp sau khi đã thực hiện, giúp chúng ta biết được công ty có thực sự tạo ra giá trị kinh tế tăng thêm hay không Bên cạnh đó, EVA cũng chỉ ra cách để cải thiện

và nâng cao thành quả hoạt động cho doanh nghiệp cũng như là mang lại giá trị cho

cổ đông Để cải thiện EVA, doanh nghiệp không chỉ cải thiện ở cấp độ bộ phận hay toàn công ty mà còn phải cải thiện EVA cho từng sản phẩm, khách hàng Và muốn thực hiện điều này đòi hỏi sử dụng EVA phải kết hợp với hệ thống phân bổ chi phí dựa trên hoạt động (ABC- Activity based cost)

Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 20, áp lực từ môi trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến kỹ thuật, đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh Những thay đổi này làm cho kế toán chi phí truyền thống không còn hữu hiệu trong việc tính toán giá thành sản phẩm và kiểm soát chi phí, nguyên nhân là

do (Langfield-Smith, Thorne & Hilton, 2009):

- Tăng tỷ trọng chi phí sản xuất chung, giảm tỷ trọng chi phí nhân công trực tiếp trong tổng chi phí sản xuất

Trang 35

- Tăng sự đa dạng trong nội dung chi phí sản xuất chung nên không thể áp dụng đồng nhất một tiêu thức phân bổ cho tất cả các loại chi phí trong khoản mục chi phí sản xuất chung

- Tăng tỷ trọng chi phí ngoài sản xuất trong tổng chi phí: Trong quá khứ, tỷ trọng chi phí ngoài sản xuất trong tổng chi phí không cao Tuy nhiên, để tồn tại trong môi trường kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệp phải đầu tư khá lớn cho chi phí tiếp thị, quảng cáo và rất nhiều dịch vụ đi kèm với sản phẩm

Vì vậy, nhà quản trị cần phân bổ chính xác những khoản chi phí chung này đến từng loại sản phẩm, từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng giá bán hợp lý nhất cho từng loại sản phẩm

- Tăng sự đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh: Trong môi trường kinh doanh hiện nay, một doanh nghiệp phải sản xuất nhiều loại sản phẩm có mức độ phức tạp khác nhau trong quy trình sản xuất Có những loại sản phẩm đòi hỏi mức độ phức tạp cao trong quy trình sản xuất và cũng có nhiều loại sản phẩm với quy trình sản xuất giản đơn Phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung theo kế toán chi phí truyền thống sẽ tạo ra hiện tượng bù trừ chi phí giữa sản phẩm có độ phức tạp cao và sản phẩm có độ phức tạp thấp, kết quả là giá thành sản phẩm không được phản ánh chính xác

- Mong muốn giảm chi phí hơn là kiểm soát chi phí: Kế toán chi phí truyền thống tập trung vào việc kiểm soát chi phí trên cơ sở định mức chi phí đã xây dựng Ngày nay, các doanh nghiệp không chỉ muốn kiểm soát chi phí, họ còn mong muốn làm sao có thể cắt giảm được chi phí để nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Bởi những hạn chế của hệ thống kế toán chi phí truyền thống và để đáp ứng sự thay đổi của môi trường kinh doanh, vào cuối những năm 1980, Cooper, Kaplan và Johnson đã đề xuất mô hình kế toán chi phí trên cơ sở hoạt động (ABC) với mong muốn khắc phục những khuyết điểm của kế toán chi phí truyền thống trên khía cạnh phân bổ chi phí gián tiếp

Trang 36

Kế toán chi phí theo hoạt động (ABC) là mô hình tập hợp chi phí các nguồn lực để phân bổ đến các hoạt động và phân bổ chi phí từ các hoạt động đến từng đối tượng chịu chi phí theo mức độ sử dụng hoạt động của các đối tượng chịu chi phí đó (CIMA, 2012)

Hệ thống chi phí dựa trên hoạt động cung cấp thông tin chi phí chính xác hơn

về hoạt động kinh doanh, quy trình kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ, và khách hàng

so với kế toán chi phí truyền thống Hệ thống ABC tập trung vào các hoạt động trong doanh nghiệp và xem đó là yếu tố then chốt để phân tích cách ứng xử của chi phí trong doanh nghiệp Điều này được thể hiện bằng cách gắn kết chi phí nguồn lực của doanh nghiệp với các hoạt động thực hiện bởi các nguồn lực đó Những tiêu thức phân bổ chi phí hoạt động, được thu thập từ hệ thống thông tin trong doanh nghiệp, sẽ tính chi phí hoạt động cho các sản phẩm, dịch vụ hay khách hàng Từ

đó cung cấp những thông tin đáng tin cậy về chi phí cho những hoạt động và nguồn lực bị tiêu tốn cho những sản phẩm, dịch vụ và khách hàng (Kaplan và Atkinson, 1998)

Chỉ tiêu tài chính EVA dùng để đánh giá thành quả hoạt động của công ty, giúp xác định mỗi bộ phận của công ty có tạo ra giá trị kinh tế tăng thêm hay không

Để cải thiện EVA, công ty không chỉ cải thiện ở cấp độ bộ phận hay toàn công ty

mà còn phải cải thiện EVA cho từng sản phẩm và khách hàng Muốn thực hiện được điều này đòi hỏi EVA phải kết hợp với hệ thống chi phí dựa trên hoạt động (ABC) Việc kết hợp EVA với ABC là cần thiết, cả EVA và ABC đều được phát triển để giải quyết những hạn chế về việc cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính của công ty ABC điều chỉnh những hạn chế của thông tin trên báo cáo tài chính trong việc phân bổ chi phí gián tiếp đến sản phẩm, khách hàng sao cho chính xác Còn EVA điều chỉnh những hạn chế của thông tin trên báo cáo tài chính bằng cách ghi nhận chi phí sử dụng vốn như là chi phí kinh tế trước khi tính lợi nhuận Kết hợp EVA với ABC giúp các nhà quản lý thấy rõ ràng hơn nguyên nhân về kết quả lãi hay lỗ của đơn vị; từ đó có thể hướng sự chú ý và những hành động cụ thể của

họ thông qua việc điều hành và đưa ra các chiến lược quản trị dựa trên cơ sở hoạt

Trang 37

động đối với những sản phẩm, khách hàng bị lỗ, và duy trì, tập trung, phát triển những sản phẩm, khách hàng mang lại lợi ích kinh tế cho công ty (Kaplan và Atkinson, 1998)

Tóm lại, thay vì phân tích EVA ở mức độ các bộ phận quản lý, công ty EVA tính cho sản phẩm, và khách hàng sẽ giúp nhà quản lý có thể cắt giảm chi phí mà không sợ bị ảnh hưởng đến từng bộ phận đang hoạt động hiệu quả, từ đó cải thiện EVA Kết hợp EVA với ABC cho thấy rõ ràng hơn nguyên nhân dẫn đến kết quả lỗ,

để đưa ra các quyết định đúng đắn nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho đơn vị

1.5 Vận dụng EVA thành công tại một doanh nghiệp

Để thực hiện thành công EVA tại một doanh nghiệp, chúng ta cần phải thực hiện sáu yếu tố quan trọng sau (Joel Stern and John Shiely, 2001):

Thứ nhất, doanh nghiệp phải có một chiến lược kinh doanh khả thi và cơ cấu

tổ chức phù hợp trước khi thực hiện EVA để đánh giá thành quả EVA không thể cứu nguy cho một doanh nghiệp với một chiến lược sai lầm hay kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu thị trường; một doanh nghiệp trước hết phải duy trì hoạt động (giả định hoạt động liên tục), bên cạnh việc mong muốn tạo

ra tiền Chiến lược kinh doanh và cơ cấu tổ chức phải có trước khi vận dụng EVA một cách đầy đủ, mặc dù tính toán EVA có thể hữu ích trong các lựa chọn thay thế

Thứ hai, để đạt được lợi ích của EVA một cách toàn diện, một doanh nghiệp

cần phải thiết lập tất cả các thành phần của EVA – một hệ thống đo lường, một hệ thống quản trị, và một hệ thống khen thưởng Nếu chỉ dùng EVA để đo lường thành quả mà không sử dụng nó để hướng các quyết định quản lý thì cũng không phát huy được hết lợi thế của nó EVA rất khó phát triển trong các trường hợp mà các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình, uy tín và trung thành với thương hiệu trong quá khứ và không tuân thủ nghiêm ngặt việc tính toán EVA

Thứ ba, một kế hoạch tiền thưởng EVA là cần thiết, và nó phải thực hiện

xuống từng bộ phận, phòng ban trong một doanh nghiệp càng tốt Không có sự khuyến khích nào tốt bằng tiền thưởng để hành động Kế hoạch tiền thưởng nên bao gồm các chương trình thanh toán trả chậm nhằm liên kết cùng rủi ro kèm theo các

Trang 38

nhà quản lý, để đảm bảo rằng họ không vì lợi ích hiện tại mà phá hủy giá trị doanh nghiệp trong tương lai

Thứ tư, một chương trình đào tạo cũng không kém phần quan trọng trong quá

trình vận dụng EVA Nó không chỉ giới hạn ở Ban Giám đốc mà còn phải được thâm nhập vào các nhà quản trị ở tất cả các cấp và thậm chí xuống cả các cửa hàng

Thứ năm, chương trình EVA cần phải có sự ủng hộ nhiệt tình của Giám đốc

điều hành, người đóng vai trò hết sức quan trọng để thực hiện EVA Giám đốc điều hành không chỉ xác định việc tạo ra giá trị là sứ mệnh của doanh nghiệp, mà còn phải nắm bắt được tất cả các cơ hội nhằm thuyết phục vận dụng EVA tại doanh nghiệp là cần thiết (chẳng hạn tại các cuộc họp doanh số hàng năm, Đại hội đồng cổ đông thường niên, hay các cuộc họp hàng tháng của doanh nghiệp ) EVA có thể được xem là lợi nhuận kinh tế và điều này khác biệt với lợi nhuận kế toán, lợi nhuận kinh tế điều chỉnh những biến dạng do các phương pháp kế toán và đề cập một cách chi tiết về chi phí sử dụng vốn vì đây là yêu cầu chính đáng nhằm tính toán được khả năng sinh lãi tối thiểu có thể chấp nhận được, và nó là một biện pháp thực hiện giá trị tốt nhất cho cả những nhà quản lý phi tài chính Bằng nhiều cách, sử dụng lợi nhuận kinh tế như là một chỉ tiêu đo lường thành quả trực quan hơn, hữu hiệu hơn

so với các chỉ tiêu tài chính dựa trên lợi nhuận kế toán

Thứ sáu, Giám đốc tài chính hay trưởng ban tài chính phải cam kết thực hiện

EVA tại doanh nghiệp Bởi vì cùng lúc họ phải đối phó với hệ thống kế toán theo quy định, và vấn đề tập trung vào việc tạo ra giá trị cho doanh nghiệp trong việc giới thiệu EVA là một biện pháp mới Họ chính là những người quan trọng để truyền tải khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của EVA Vận dụng EVA phải phù hợp với điều kiện và nhu cầu của doanh nghiệp

Tóm lại, để vận dụng EVA thành công tại một doanh nghiệp không chỉ là khuyến khích, động viên, mà cần phải có sự quyết tâm cam kết thực hiện Các nhà quản trị cấp cao cần phải đẩy mạnh các chương trình đào tạo, cần phải phổ biến, huấn luyện để mọi nhân viên trong doanh nghiệp thấy rõ được lợi ích và sự cần thiết thực hiện EVA và vận dụng EVA nhằm mang lại hiệu quả cao nhất Ngoài ra,

Trang 39

doanh nghiệp phải tạo được động lực khuyến khích họ tham gia bằng những khoản tiền thưởng khi họ thực hiện EVA thành công

1.6 Thành công của các công ty vận dụng EVA trên thế giới

Hơn 300 Công ty trên thế giới (khách hàng của Stern Stewart) hiện đang áp dụng EVA và bằng chứng cho thấy rằng các công ty này rõ ràng làm tốt hơn so với các công ty khác cùng ngành Một số công ty vận dụng EVA vì muốn cải thiện hiệu suất của họ, còn một số là do quá trình kinh doanh của họ đang gặp rắc rối Ví dụ (Joel Stern and John Shiely, 2001):

 Công ty Herman Miller, là nhà sản xuất đồ nội thất nổi tiếng, có trụ sở đặt tại Zeeland, Michigan Công ty đã kinh doanh thua lỗ lần đầu tiên vào năm

1992 Ban quản lý hàng đầu Công ty thay đổi nhanh chóng chỉ trong vòng sáu năm với ba Giám đốc điều hành Vào năm 1995, Mike Volkema đã tiếp nhận công ty trong tình trạng hỗn loạn đáng kể, quá nhiều báo cáo của các Giám đốc điều hành trình bày về việc vốn quá ít trong khi chi phí hoạt động vượt quá kiểm soát Tuy nhiên, khi ký hợp đồng thông qua vận dụng EVA (1996), một năm sau đó công ty đã bắt đầu phát triển thịnh vượng Vào cuối năm 1998, nó đã tự hào với báo cáo doanh số hàng năm đạt kỷ lục 1,7 tỷ đô

la Mỹ, lợi nhuận đạt 128.300.000 đô la Mỹ và EVA đạt 78.400.000 đô la Mỹ- một sự cải thiện gần 70 triệu đô la Mỹ chỉ trong hai năm Giá cổ phiếu của Miller tăng mạnh từ 7,72 $ vào cuối năm 1996 lên 27,69 $ cho hai năm sau đó

 Khi Fred M Bulter trở thành Giám đốc điều hành của Công ty Manitowoc vào cuối năm 1990, ông phải đối mặt với tình trạng bất ổn hiếm thấy của một doanh nghiệp trưởng thành Lợi nhuận giảm và dường như không có khách hàng tiềm năng cho xu hướng đi lên của công ty Sự tăng trưởng dường như chỉ là một giấc mơ vô vọng

Không lâu sau đó, Robert R.Freidl, Giám đốc tài chính của Manitowoc đã nghe nói đến một hệ thống quản lý tài chính mới được gọi là EVA Ông đã bị hấp dẫn bởi nó và ông đã nói chuyện với Bulter, người đang cố gắng tìm

Trang 40

kiếm một cách tiếp cận mới để giải quyết tình trạng bất ổn của Manitowoc Bulter đã xây dựng một chương trình EVA, và sau 6 năm EVA đi từ âm 12 triệu USD vào năm 1993 sang EVA dương vào năm 1995 và đạt 30 triệu USD trong năm 1998 Và dưới sự lãnh đạo của Bulter, EVA của Manitowoc

đã đạt được mức 41 triệu USD vào năm 1999

 Multifoods Quốc Tế, một công ty thực phẩm đa dạng, có trụ sở đặt tại Wayzata, Minnesota Gary E.Costley được bầu làm Giám đốc điều hành vào tháng 01 năm 1997 Costley đã nhận định công ty như mà một mớ hỗn độn Được thành lập trong những năm đầu của thế kỷ XX, nó từng là một xưởng xay bột mỳ lớn, sau đó chuyển sang sản xuất hàng tiêu dùng, và sau đó lại trở thành một nhà phân phối thực phẩm cho một công ty khác Sự lộn xộn trong tài chính cũng như liên tục thay đổi chiến lược kinh doanh là một thảm họa đối với công ty

Costley, người từ lâu được cam kết quản lý dựa trên giá trị, đã thuyết phục Hội đồng quản trị công ty phê duyệt chương trình EVA và họ đã đồng ý Hai tháng sau đó (3/1997) ông đã tham gia cùng với William Trubeck như là một Giám đốc tài chính Trubeck giữ một vị trí trụ cột đến tháng 03/2000 và đã làm nhiều việc để chuyển đổi sang EVA Trong vòng hai năm, cặp đôi này

đã xoay chuyển được tình hình công ty, trước đó giá cổ phiếu dao động xung quanh mức 15$ vào năm 1996, tăng thêm 3$ khi Costley được bổ nhiệm và tiếp tục tăng đếm 21$ khi Trubeck trở thành thành viên Hội đồng quản trị và khi chương trình EVA được công bố, nó đạt đỉnh 32$

Ngày đăng: 01/09/2020, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm