Tóm tắt Bài nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam bằng việc sử dụng số liệu theo quý trong giai đoạn từ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
HỒ THỊ ĐOAN TRANG
“MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN TÍNH GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC VÀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ CƠ BẢN BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, Năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
HỒ THỊ ĐOAN TRANG
“MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN TÍNH GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC VÀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ CƠ BẢN BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM”
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
Tp Hồ Chí Minh, Năm 2014
Trang 3Đề tài nghiên cứu do chính tác giả thực hiện, các kết quả nghiên cứu chính trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tất cả những phần kế thừa, tham khảo đều được trích dẫn và ghi nguồn cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo Dữ liệu sử dụng trong luận văn hoàn toàn được thu thập từ thực tế, đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực và khách quan
Tôi xin cam đoan những lời nêu trên đây hoàn toàn đúng sự thật
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Hồ Thị Đoan Trang
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC ĐỒ THỊ
DANH MỤC PHỤ LỤC
Tóm tắt 1
1 Giới thiệu 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Tổng quan các nội dung chính 4
2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 6
2.1 Tổng quan những nghiên cứu trước đây về các nhân tố kinh tế cơ bản quyết định tỷ giá hối đoái 6
2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản 13
2.2.1 Sự thất bại mô hình tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản 14
2.2.2 Mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản 16
Trang 53.1.1 Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) 22
3.1.2 Chênh lệch năng lực sản xuất (PROD) (-) 24
3.1.3 Tỷ lệ mậu dịch (TOT) (+/-) 24
3.1.4 Chi tiêu chính phủ (GEXP) (+/-) 25
3.1.5 Độ mở của nền kinh tế (OPEN) (+/-) 26
3.1.6 Tài sản nước ngoài ròng (NFA) (-) 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến gốc 31
3.2.1.1 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến gốc 31
3.2.1.2 Kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến gốc 34
3.2.2 Kiểm định đồng liên kết phi tuyến các biến gốc 35
3.2.2.1 Thuật toán ACE - Kỳ vọng có điều kiện luân phiên 35
3.2.2.2 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến chuyển đổi 38
3.2.2.3 Kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến chuyển đổi 38
4 Kết quả nghiên cứu và phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam trong giai đoạn 2000Q1 – 2013Q4 43
4.1 Kết quả kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến gốc 43
4.1.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến gốc 43
4.1.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết ARDL Models - Bounds Tests các biến gốc 44
4.2 Kiểm định đồng liên kết phi tuyến các biến gốc 48
4.2.1 Chuyển đổi các biến gốc bằng thuật toán ACE 48
Trang 64.3 Kiểm định các giả thuyết mô hình 55 4.4 Phương trình đồng liên kết dài hạn 56
5 Kết luận 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7ACE
CUSUMSQ Cumulative sum of squares of
recursive residuals
Kiểm định tổng tích lũy bình phương phần dư
IFS International Financial Statistics Thống kê tài chính quốc tế
NEER Nonimal effective exchange rate Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa
phương
REER Real effective exchange rate Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực
UECM Vector Error Correction Model Mô hình hiệu chỉnh sai số không
giới hạn
Trang 8Bảng 4.1.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến gốc và sai phân bậc 1 43
Bảng 4.1.2a: Kết quả độ trễ được lựa chọn cho mô hình ARDL các biến gốc 44
Bảng 4.1.2b: Kết quả ước lượng mô hình ARDL các biến gốc 45
Bảng 4.1.2c: Kết quả kiểm định WALD các biến gốc 47
Bảng 4.2.2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến chuyển đổi và sai phân bậc 1 51
Bảng 4.2.3a: Kết quả độ trễ lựa chọn cho mô hình ARDL các biến chuyển đổi 51
Bảng 4.2.3b: Kết quả ước lượng mô hình ARDL các biến chuyển đổi 52
Bảng 4.2.3c: Kết quả kiểm định WALD các biến chuyển đổi 54
Bảng 4.3: Tổng hợp các kiểm định giả thuyết mô hình 55
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng mô hình đồng liên kết dài hạn các biến chuyển đổi 56
DANH MỤC ĐỒ THỊ Hình 4.2.1 Đồ thị phân tán các biến gốc và biến chuyển đổi 48
Trang 9Phụ lục 2: Các biến chuyển đổi và kiểm định tính dừng ADF
Phụ lục 3: Mô hình hồi quy với độ trễ tối ưu các biến gốc
Phụ lục 4: Mô hình hồi quy với độ trễ tối ưu các biến chuyển đổi
Phụ lục 5: Bảng giá trị kiểm định đồng liên kết ARDL Models-Bounds Tests trong trường hợp có hệ số chặn và không có biến xu hướng
Phụ lục 6: Các kết quả kiểm định giả thuyết mô hình
Phụ lục 6.1: Kiểm định tự tương quan các biến chuyển đổi trong mô hình bằng Breusch - Godfrey Serial Correlation LM
Phụ lục 6.2: Kết quả kiểm định sự ổn định mô hình bằng Ramsey Reset Test
Phụ lục 6.3: Kiểm định sự ổn định các hệ số ước lượng trong mô hình bằng CUSUM và CUSUMSQ
Phụ lục 6.4: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng White test
Phụ lục 6.5: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn phần dư bằng Jarque-Bera
Trang 10Tóm tắt
Bài nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực
và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam bằng việc sử dụng số liệu theo quý trong giai đoạn từ 2000Q1 tới 2013Q4 Tác giả kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu bao gồm: tổng hợp, thống kê, so sánh và kế thừa có chọn lọc các bài nghiên cứu trước đây Đi từ nền tảng cơ sở lý thuyết đến phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam Tác giả sử dụng các phương pháp thực nghiệm như: kiểm định nghiệm đơn vị ADF để kiểm tra tính dừng của các biến, chuyển đổi các biến từ tham số sang phi tham số bằng thuật toán ACE, kiểm định đồng liên kết bằng ARDL Models-Bounds tests và phân tích mối quan hệ thông qua dữ liệu thực tế tại Việt Nam Kết quả cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam Trong đó, độ mở của nền kinh tế có tác động đồng biến với tỷ giá hối đoái thực, ngược lại tài sản nước ngoài ròng tác động nghịch biến với
tỷ giá hối đoái thực và tác động của các nhân tố còn lại khó xác định do có xu hướng thay đổi theo thời gian
Từ khóa: tỷ giá hối đoái cân bằng, kiểm định nghiệm đơn vị ADF, thuật toán Kỳ
vọng có điều kiện luân phiên ACE, đồng liên kết tuyến tính, đồng liên kết phi tuyến, ARDL Models-Bounds test
Trang 111 Giới thiệu
1.1 Lý do chọn đề tài
Thực tiễn đã cho thấy, sự biến động của tỷ giá hối đoái có quan hệ mật thiết với sự biến động của các nhân tố kinh tế cơ bản Đây là một nhân tố vô cùng nhạy cảm, không những ảnh hưởng mà còn hấp thụ mọi tác động từ các nhân tố kinh tế cơ bản khác, do đó các nhà hoạch định chính sách cần phải rất thận trọng khi điều chỉnh tỷ giá hối đoái, phải cân nhắc tới mọi động thái, mọi nhân tố kinh tế tác động để có thể đạt được mục tiêu hiệu quả trên tổng thể toàn bộ nền kinh tế
Từ trước đến nay, đã có một lượng lớn các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản Mặc dù có nhiều sự bất đồng trong nền tảng
l thuyết và thực nghiệm nhưng các nghiên cứu trước đây vẫn có một đặc điểm chung đó là chủ yếu tập trung vào mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực
và các nhân tố kinh tế cơ bản Tuy nhiên, không có một nghiên cứu nào đảm bảo rằng mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế này phải là tuyến tính Với việc bỏ qua các trường hợp phi tuyến có thể dẫn đến các kết luận sai lầm rằng không có đồng liên kết tồn tại giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản Bên cạnh đó, một hệ quả của mô hình tuyến tính là cho dù giá trị của biến số có thay đổi như thế nào thì độ co giãn của tỷ giá hối đoái thực đối với các nhân tố kinh tế cơ bản là không đổi Điều này mâu thuẫn với hiểu biết thông thường về sự đóng góp biên tế của một nhân tố kinh tế hoặc độ hữu dụng biên khi thêm vào có xu hướng giảm dần Với những điều chưa l giải được từ mô hình tuyến tính, bài nghiên cứu này với đề
tài “Mối quan hệ phi tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế
cơ bản Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam.” hy vọng đem đến những thảo
luận hữu ích trong việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá mối quan hệ phi tuyến giữa
tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam
Trang 121.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu đi sâu điều tra mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam sử dụng dữ liệu theo qu trong giai đoạn 2000Q1 – 2013Q4
Để có một đánh giá tổng thể về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản, tác giả nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) thay vì tỷ giá hối đoái thực song phương (RER)
Các nhân tố kinh tế cơ bản quyết định tỷ giá hối đoái thực hiệu lực được lựa chọn gồm: chênh lệch năng lực sản xuất (PROD), tỷ lệ mậu dịch (TOT), chi tiêu chính phủ (GEXP), độ mở của nền kinh tế (OPEN) và tài sản nước ngoài ròng (NFA) Với 10 đối tác mậu dịch lớn nhất của Việt Nam thay đổi trong từng thời kỳ: Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Úc, Hồng Kông, Đức, Malaysia
Nguồn dữ liệu: dữ liệu được lấy theo qu từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (IFS và DOTS), Bloomberg, Ngân hàng thế giới World Bank, Trading Economics, Tổng cục thống kê Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu được đặt ra là kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản, bài nghiên cứu tập trung trả lời cho các câu hỏi sau:
(1) Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản: đồng
liên kết tuyến tính, đồng liên kết phi tuyến hoặc không tồn tại đồng liên kết? (2) Tác động các nhân tố kinh tế cơ bản đến tỷ giá hối đoái thực diễn ra như thế
nào?
Trang 131.4 Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời cho các câu hỏi trên tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu bao gồm: tổng hợp, thống kê, so sánh và kế thừa có chọn lọc các bài nghiên cứu trước đây Đi
từ nền tảng cơ sở lý thuyết đến phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam
Một khó khăn thực tế mà tất cả các bài nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến này phải đối mặt đó là, trái với các phân tích tuyến tính có dạng hàm xác định thì dạng hàm chính xác của mối quan hệ phi tuyến và các tham số của nó là không xác định
được và có thể có nhiều dạng hàm phi tuyến phù hợp với yêu cầu
Để giải quyết khó khăn này, bài nghiên cứu phải kết hợp sử dụng nhiều phương pháp thực nghiệm như: kiểm định nghiệm đơn vị ADF để kiểm tra tính dừng của các biến, chuyển đổi các biến từ tham số sang phi tham số bằng thuật toán ACE, kiểm định đồng liên kết phi tuyến bằng ARDL Models-Bounds Test Trên cơ sở định lượng, phân tích thực tế hiện trạng của Việt Nam qua các số liệu thu thập được
và đưa ra những hướng nghiên cứu xa hơn cho đề tài
1.5 Tổng quan các nội dung chính
Phần 1 tổng quan các nội dung chính và các vấn đề nghiên cứu Nêu lý do chọn đề
tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Sau đó, tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu hướng đến mục tiêu nghiên cứu và để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi, tác giả đã
sử dụng các phương pháp thực nghiệm nào? Phần này nêu tổng quan các phương pháp nghiên cứu sẽ được kết hợp thực hiện
Phần 2 đi vào phân tích mối quan hệ mật thiết giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố
kinh tế cơ bản bằng cách tổng hợp kết quả nghiên cứu chính được đưa ra từ các bài nghiên cứu trước đây Trong đó tập trung chủ yếu vào 2 vấn đề chính là: (1) Xác định các nhân tố kinh tế cơ bản quyết định tỷ giá hối đoái, (2) Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản
Trang 14Phần 3 tiếp tục đi sâu điều tra mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và
các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam trong giai đoạn 2000Q1-2013Q4 bằng các phương pháp định lượng với dữ liệu thực tiễn tại Việt Nam
Phần 4 trình bày kết quả nghiên cứu và dựa trên kết quả mô hình ước lượng được
để phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế
cơ bản tại Việt Nam trong giai đoạn 2000Q1 – 2013Q4
Cuối cùng, Phần 5 nêu kết luận của bài nghiên cứu cùng những hạn chế và hướng
nghiên xa hơn cho đề tài
Trang 152 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
2.1 Tổng quan những nghiên cứu trước đây về các nhân tố kinh tế cơ bản quyết định tỷ giá hối đoái
Thực tiễn đã cho thấy, sự biến động của tỷ giá hối đoái có quan hệ mật thiết với sự biến động của các nhân tố kinh tế cơ bản Tỷ giá hối đoái là một nhân tố vô cùng nhạy cảm, không những ảnh hưởng mà còn hấp thụ mọi tác động từ các nhân tố kinh tế
cơ bản khác Do đó việc xác định các nhân tố kinh tế cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái thực thật sự quan trọng và cần thiết
Khởi đầu bằng nghiên cứu Balassa (1964) và Samuelson (1964) cho rằng sự gia tăng trong năng lực sản xuất của khu vực hàng hóa mậu dịch lớn hơn hàng hóa phi mậu dịch sẽ dẫn đến đồng nội tệ tăng giá (REER giảm) bởi sự gia tăng nhanh của giá cả hàng hóa phi mậu dịch so với giá cả hàng hóa mậu dịch
Mô hình Balassa-Samuelson gắn với sự dịch chuyển của tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn và giải thích cho sự trệch khỏi l thuyết PPP xét theo khía cạnh các chỉ số giá giữa các nước phát triển Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng năng lực sản xuất của các nước phát triển cao hơn so với các nước đang phát triển Sự khác biệt trong năng lực sản xuất xảy ra phần lớn trong khu vực hàng hoá mậu dịch hơn
là khu vực hàng hoá phi mậu dịch Theo như giả định của mô hình, mức lương trong khu vực hàng hoá mậu dịch và phi mậu dịch là như nhau tại mỗi quốc gia và chúng liên quan mật thiết với năng lực sản xuất Hơn nữa, mức lương tác động đến giá cả và mức lương được xác định bởi năng lực sản xuất Do đó, chênh lệch năng lực sản xuất chính là nhân tố kinh tế cơ bản đầu tiên được xem xét đến trong mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản
Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu tiếp tục ra đời nhằm chứng minh cho mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản, đồng thời xác định các nhân
tố kinh tế cơ bản có vai trò quyết định đối với tỷ giá hối đoái thực Điển hình là nghiên cứu của Edwards (1988), thể hiện mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và
Trang 16các nhân tố kinh tế cơ bản bằng mô hình ước lượng tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong dài hạn tại các nước đang phát triển Theo mô hình Edwards (1988), tỷ giá hối đoái thực cân bằng được định nghĩa là giá tương đối của hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch, có khả năng cùng lúc đảm bảo cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài của nền kinh tế có sự lưu chuyển vốn Theo đó, trong dài hạn, Edwards (1988) cho rằng tỷ giá hối đoái thực cân bằng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố kinh tế cơ bản
như: tỷ lệ mậu dịch (TOT), độ mở của nền kinh tế (OPEN), chi tiêu chính phủ
(GOVEX), phát triển công nghệ (PROD) và lưu chuyển vốn (CAPINF)
Mô hình có dạng như sau:
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ mậu dịch TOT tác động đến REER thông qua hai hiệu ứng ngược nhau là hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập Tùy thuộc vào độ lớn tác động của hai hiệu ứng, REER sẽ giảm hay tăng khi TOT tăng Đồng thời cũng chứng minh được rằng tài sản nước ngoài ròng NFA tăng thì REER sẽ giảm Qua đó, các nhà nghiên cứu khẳng định rõ ràng các nhân tố kinh tế cơ bản quyết định REER
Tiếp đến là hai mô hình nổi tiếng khác trong cách xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng: một là mô hình cân bằng bên trong và bên ngoài FEER và hai là mô hình tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi BEER
Mô hình tỷ giá hối đoái cân bằng (FEER - Fundamental Equilibrium Exchange Rate) được giới thiệu trong GS Williamson (1985) và được phát triển bởi Williamson (1994), MacDonald và Clark (1998, 2000, 2004), Barisone (2006), Simplice Asongu (2014), Trong phương pháp này mức cân bằng của tỷ giá hối đoái được định nghĩa là tỷ giá hối đoái thực hiệu lực trong điều kiện nền kinh tế vĩ
mô cân bằng hay còn thể hiểu là tại trạng thái nền kinh tế hoạt động ở mức toàn dụng và lạm phát thấp (cân bằng bên trong) và tài khoản vãng lai ổn định, phản ánh nguồn vốn ròng tiềm ẩn và kỳ vọng (cân bằng bên ngoài) Với việc loại bỏ các nhân
Trang 17tố chu kỳ và đầu cơ trong ngắn hạn trong thị trường ngoại hối thì FEER được xác định dựa vào các nhân tố kinh tế cơ bản mà được kỳ vọng duy trì trong trung hạn Một phương pháp tiếp cận khác được đề xuất bởi Clark và Macdonald (1998) đó là
mô hình tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi (BEER - Behavioural Equilibrium Exchange Rate) Các nhà nghiên cứu tiếp cận một khuôn khổ mới cho các phân tích thực nghiệm, tức là không xem xét sự cân bằng kinh tế vĩ mô (bên trong và bên ngoài) mà phân tích hành vi của tỷ giá hối đoái bằng cách xem xét nguồn gốc của
sự chuyển động theo chu kỳ và tạm thời của tỷ giá hối đoái và sử dụng các giá trị hiện tại hơn là các giá trị ở mức toàn dụng lao động của các nhân tố kinh tế cơ bản trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng Bằng việc xây dựng một mô hình
cơ bản họ đã cho thấy mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế
cơ bản trong dài hạn, bao gồm: tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP (GOVD), tỷ lệ
mậu dịch (TOT), năng lực sản xuất (TNT) được đại diện bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên chỉ số giá sản xuất (PPI), tài sản nước ngoài ròng trên tổng sản phẩm quốc dân (NFA) và chênh lệch lãi suất thực ngắn hạn (INT) Mặc dù các biến này
vốn được chọn dựa trên cơ sở lý thuyết vững chắc, nhưng chúng thay đổi tùy vào lý thuyết nào được áp dụng Điều này đó khiến cho BEER rất linh hoạt để áp dụng một cách rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm, nơi có những mô hình với đặc điểm kỹ thuật đa dạng và những biến giải thích khác nhau được sử dụng để ước tính
tỷ giá hối đoái thực cân bằng
Mô hình có dạng như sau:
BEER t = α + β 1 INT t + β 2 TOT t + β 3 TNT t + β 4 NFA t + β 5 GOVD t + u t (2)
Đồng thời, các kết quả nghiên cứu trước đây cũng cho thấy phương pháp tiếp cận BEER có những điểm vượt trội hơn so với FEER Theo phương pháp tiếp cận BEER, tổng độ lệch (so với giá trị cân bằng ước lượng theo các giá trị thực tế của các biến kinh tế vĩ mô) của tỷ giá hối đoái tại bất kỳ thời điểm nào có thể được phân tích thành tác động của các nhân tố tạm thời, các biến động ngẫu nhiên và độ lệch của các nhân tố kinh tế cơ bản so với mức cân bằng của chúng Trong khi FEER là
Trang 18một phương thức tiếp cận tập trung riêng vào mối quan hệ trung hạn, phương pháp BEER có tính tổng hợp cao hơn, cho thấy mối quan hệ cả trong ngắn hạn và dài hạn
và vì vậy có thể được áp dụng để giải thích các biến động chu kỳ của tỷ giá hối đoái thực Phương pháp BEER đủ linh hoạt để có thể áp dụng vào các nghiên cứu phức tạp tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng
Sau đó, phương pháp tiếp cận BEER được tiếp tục phát triển trong các nghiên cứu của Frait và các cộng sự (2004), Jongwanich (2009), Các nhân tố kinh tế cơ bản được lựa chọn trong nghiên cứu của Frait và các cộng sự (2004) tương tự như mô hình gốc ban đầu và thêm vào một nhân tố mới là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Tiếp đến, Jongwanich (2009) ngoài việc lựa chọn các nhân tố khá tương đồng với nghiên cứu của Frait và các cộng sự (2004) thì tỷ giá hối đoái thực mà Jongwanich (2009) sử dụng không phải là tỷ giá hối đoái thực song phương mà là tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER)
Montiel (1999) đã phát triển một mô hình tổng hợp các phương pháp tiếp cận trên Trong mô hình này, tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong dài hạn được xác định bởi giá trị ổn định của các biến được xác định trước và giá trị cố định của những biến chính trong mô hình và cả biến ngoại sinh Những biến đóng vai trò như các nhân tố quyết định đối với tỷ giá hối đoái trong dài hạn được chia thành 4 nhóm:
(1) Nhóm đầu tiên bao gồm nhân tố cung nội địa được đặc trưng bởi hiệu ứng Balassa - Samuelson, xuất hiện khi có sự tăng nhanh năng lực sản xuất từ khu vực hàng hóa mậu dịch hơn so với khu vực hàng hóa phi mậu dịch (2) Thứ hai, cấu trúc chính sách tài khóa được đại diện bởi thay đổi trong thành phần chi tiêu chính phủ giữa hàng hóa mậu dịch và hàng hóa phi mậu dịch (3) Thứ ba, những thay đổi trong môi trường kinh tế quốc tế, bao gồm sự thay đổi trong tỷ lệ mậu dịch, dòng vốn chuyển giao từ nước ngoài, lạm phát nước ngoài và chênh lệch lãi suất thực các nước trên thế giới
Trang 19(4) Thứ tư, tự do hóa chính sách ngoại thương, như giảm trợ cấp xuất khẩu có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn, được đại diện bởi trợ cấp xuất khẩu (EXSUB)
Mô hình có dạng như sau:
Các kỹ thuật thực nghiệm được sử dụng trong bài nghiên cứu của Xiaolei Tang và Jizhong Zhou (2012) là một ứng dụng của phương pháp tiếp cận tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi BEER và các nhân tố kinh tế cơ bản được lựa chọn phù hợp với hướng dẫn của Montiel (1999) và chịu sự ràng buộc của dữ liệu sẵn có Những biến động của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) của đồng Nhân dân tệ và đồng Won được
xác định bởi các nhân tố kinh tế cơ bản, bao gồm: chênh lệch năng lực sản xuất
(PROD), tỷ lệ mậu dịch (TOT), chi tiêu chính phủ (GEXP), độ mở của nền kinh tế (OPEN) và tài sản nước ngoài ròng (NFA)
Mô hình có dạng như sau:
Simplice Asongu (2014) trong nghiên cứu “REER imbalances and macroeconomic adjustments in the proposed West African Monetary Union” đã
sử dụng mô hình động của nền kinh tế mở nhỏ để phân tích tác động tỷ giá hối đoái thực (REER) đối với các nhân tố kinh tế cơ bản trong khuôn khổ Liên minh Tiền tệ
Tây Phi Kết quả cho thấy rằng hành vi tỷ giá trong dài hạn được giải thích bởi tỷ lệ
mậu dịch (TOT), năng lực sản xuất (PROD) được đại diện bởi GDP trên đầu người, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), độ mở của nền kinh tế (OPEN)
Trang 20Việt Nam không công bố chính thức một số liệu nào cho tỷ giá hối đoái thực hiệu lực REER cũng như mối quan hệ giữa nó với các nhân tố kinh tế cơ bản Tuy nhiên, một loạt các nghiên cứu xem xét tác động của biến số này đến nền kinh tế để xác
định tỷ giá hối đoái cân bằng Điển hình là nghiên cứu “Chênh lệch tỷ giá hối đoái thực đa phương và tỷ giá hối đoái thực đa phương cân bằng của Việt Nam” của nhóm tác giả Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Bình Minh (2011) Bài nghiên cứu
này nhóm tác giả đã dựa vào mô hình của Edwards (1988), Elbadawi (1998),
Montiel (1999) và phân tích 5 nhân tố kinh tế cơ bản của Việt Nam bao gồm: độ mở
của nền kinh tế (OPEN), tỷ lệ mậu dịch (TOT), chi tiêu chính phủ (GOVEX), năng lực sản xuất (PROD), tài sản nước ngoài ròng (NFA) và thêm biến DC đại diện cho chính sách tiền tệ do tốc độ tăng quy mô tín dụng tương đối cao trong những năm gần đây ở Việt Nam
Mô hình có dạng như sau:
LREER t =α 0 + β 1 LOPEN t + β 2 TOT t + β 3 GOVEX+ β 4 PROD t + β 5 LDC t + β 6 NFA t + ε t
(5) Một nghiên cứu khác tại Việt Nam là “Tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000-2011: Mức
độ sai lệch và tác động đối với xuất khẩu” của nhóm tác giả Vũ Quốc Huy, Nguyễn Thị Thu Hằng và Vũ Phạm Hải Đăng (2011) Bài nghiên cứu xây dựng
mô hình xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng của đồng Việt Nam theo phương pháp tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi BEER Từ đó xác định mức độ sai lệch của tỷ giá hối đoái thực tế so với giá trị cân bằng Trong bài nghiên cứu này, tỷ giá hối đoái cân bằng được xác định dựa trên 5 nhân tố kinh tế cơ bản NFA, PROD, TOT, OPEN, GEXP và thêm 2 nhân tố là chênh lệch lãi suất thực RR và đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Mô hình có dạng như sau:
Trang 21Xác định các nhân tố kinh tế cơ bản quyết định tỷ giá hối đoái thực tại Việt Nam
Dựa trên các nghiên cứu trước đây, bài nghiên cứu này sẽ phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản dựa theo phương pháp
tỷ giá cân bằng hành vi BEER với 5 nhân tố kinh tế cơ bản được lựa chọn là:
(1) Chênh lệch năng lực sản xuất (Difference in productivity – PROD)
(2) Tỷ lệ mậu dịch (Terms of trade - TOT)
(3) Chi tiêu chính phủ (Government expenditure - GEXP)
(4) Độ mở của kinh tế (Openness of economy - OPEN),
(5) Tài sản nước ngoài ròng (Net foreign assets – NFA)
Mô hình có dạng như sau:
Các nghiên cứu đã cho thấy tỷ giá hối đoái thực có mối quan hệ mật thiết và được xác định bởi các nhân tố kinh tế cơ bản Tuy nhiên, không có một mô hình chuẩn cho tất cả mọi nền kinh tế để xác định tỷ giá hối đoái cân bằng Các nhân tố có thể được thay thế, được thêm vào, bị loại bỏ dựa trên các lý thuyết khác nhau cùng tình hình thực tiễn của mỗi quốc gia, để đạt đến một mô hình tối ưu có thể giải thích nhiều nhất cho biến động của tỷ giá hối đoái thực Đồng thời, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản phải được nghiên cứu trong mối quan hệ tổng thể thống nhất và theo hai chiều tác động qua lại trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay
Trang 222.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản
Mặc dù, các nghiên cứu đều khẳng định về mối quan hệ mật thiết giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản, nhưng các nghiên cứu về mối quan hệ này vẫn chưa có được một sự thống nhất Tranh cãi xuất hiện từ việc xác định mối quan
hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản là tuyến tính hay phi tuyến, lựa chọn biến, phương pháp kinh tế lượng Điều này đã chứng minh độ phong phú về lý thuyết cũng như thực nghiệm của các nghiên cứu về tỷ giá hối đoái thực
Về lý thuyết, có ba mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ
bản là: đồng liên kết tuyến tính, đồng liên kết phi tuyến và không tồn tại đồng liên
kết Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây hiếm khi chú ý tới trường hợp phi tuyến
Thực ra, không có học thuyết kinh tế nào đảm bảo rằng mối quan hệ giữa các nhân
tố kinh tế này phải là tuyến tính Với việc bỏ qua các trường hợp phi tuyến có thể dẫn đến các kết luận sai lệch rằng không có đồng liên kết tồn tại giữa tỷ giá hối đoái
và các nhân tố kinh tế cơ bản Do đó, bài nghiên cứu này cố gắng khám phá bằng chứng về mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân
tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam
Có một nền tảng lý thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản Một số nghiên cứu về cách xác định tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các nhân tố kinh tế cơ bản Ngược lại, các nghiên cứu khác xác định tỷ giá hối đoái thực chỉ tập trung vào mối quan hệ tuyến tính Mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản thì hầu như không được thảo luận Bài nghiên cứu của Xiaolie Tang và Jizhong Zhou (2012) đã cố gắng lấp đầy lổ hổng này bằng cách đánh giá các khía cạnh phi tuyến trong cách xác định tỷ giá hối đoái thực
Sau đây tác giả xin trình bày cụ thể các kết quả chính của những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản:
Trang 232.2.1 Sự thất bại mô hình tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế
cơ bản
Vào những năm 1970, các mô hình l thuyết “thế hệ đầu tiên” đã hình thành với nhiều mô hình nổi tiếng như mô hình tiền tệ, mô hình Dornbusch, mô hình danh mục đầu tư cân bằng Các kết quả nghiên cứu đều chứng minh cho mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản như giá cả hàng hóa, tổng sản lượng quốc dân và tài khoản vãng lai
Các kết quả nghiên cứu của Meese và Rogoff (1983), (1988) đã chứng minh sự thất bại của mô hình tuyến tính Theo đó mô hình bước ngẫu nhiên có khả năng dự báo các biến động của tỷ giá hối đoái tốt hơn các mô hình thế hệ đầu tiên, ngay cả khi các mô hình này có được các số liệu dự đoán chính xác của các nhân tố kinh tế cơ bản Tiếp đó, một số nghiên cứu của Flood và Rose (1995) và Rose (1996) cũng cung cấp thêm những bằng chứng về sự thất bại của mô hình tuyến tính trong thực nghiệm Nhóm tác giả này cho rằng, kể từ khi bắt đầu chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi,
sự thay đổi của tỷ giá hối đoái (danh nghĩa và thực tế) đã tăng lên đáng kể Tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy có sự thay đổi đáng kể của các nhân tố kinh tế so với thời kỳ tỷ giá hối đoái cố định Điều này mâu thuẫn với các mô hình thế hệ đầu tiên
Bên cạnh đó, Goodhart (1989) và Goodhart & Figliuoli (1991) cũng đã tìm thấy các bằng chứng chứng minh rằng phần lớn các biến động của tỷ giá hối đoái không được giải thích bằng các biến động của các nhân tố kinh tế cơ bản Một vài nghiên cứu gần đây hơn sử dụng mô hình VARs đã thu được các kết luận tương tự Các biến động bất thường của các nhân tố kinh tế cơ bản chỉ có thể giải thích cho một phần nhỏ những thay đổi của tỷ giá hối đoái Với tầm dự đoán là một năm, các thông tin biến động của các biến kinh tế chỉ giải thích được khoảng 5% tổng độ lệch của tỷ giá hối đoái (De Boeck (2000), Attavilla(2000)) Do đó, các nhà nghiên cứu tìm kiếm một sự thay thế cho mô hình thế hệ đầu tiên, đồng thời kiểm định về mối quan hệ phi tuyến
Trang 24Bài nghiên cứu “Some linear and nonlinear thoughts on exchange rates” của Menzie David Chinn (1991) cũng đã chỉ ra những thất bại trong nghiên cứu mối
quan hệ tuyến tính, sự phá vỡ cấu trúc phi tuyến trong dài hạn và cho thấy một triển vọng sử dụng mô hình phi tuyến xác định tỷ giá hối đoái sẽ tốt hơn so với mô hình tuyến tính như: mô hình ARCH của Diebold (1988) hay những mô hình phi tuyến trong Diebold và Nason (1990), Meese và Ross (1991) và Schinasi và Swamy (1989) Bài nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng một hình thức đặc biệt để kiểm định tính phi tuyến, được gọi là thuật toán Kỳ vọng có điều kiện luân phiên (ACE - Alternating Conditional Expectations), vừa là một công cụ chẩn đoán vừa là một phương pháp dự báo Các kết quả chuẩn đoán trong bài nghiên cứu này là những biến đổi tối ưu hầu hết là phi tuyến Kết quả dự báo các mô hình phi tuyến đều mang lại những hiệu ứng tốt hơn Vì vậy, mô hình phi tuyến giữa các biến số được đánh giá là tốt hơn so với mô hình tuyến tính
Bài nghiên cứu “Real exchange rate levels, productivity and demand shocks: evidence from a panel of 14 countries” của Menzie Chinn & Louis Johnston (1997) đã nghiên cứu mối quan hệ trong dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và các
nhân tố kinh tế cơ bản như năng lực sản xuất, tỷ lệ mậu dịch, chi tiêu chính phủ, giá thực tế của xăng dầu, kiểm định đồng liên kết sử dụng dữ liệu bảng của 14 nước thuộc OECD Kết quả cũng đã cho thấy mối quan hệ đồng liên kết giữa các nhân tố
và mô hình phi tuyến xác định tỷ giá cân bằng trong dài hạn tốt hơn mô hình tuyến tính thông thường
Bài nghiên cứu “Nonlinear relationship between the real exchange rate and economic fundamentals: Evidence from China and Korea” của Xiaolie Tang và Jizhong Zhou (2012) cũng đã lập luận rằng: Một hệ quả của mô hình tuyến tính là
cho dù các biến có thay đổi giá trị như thế nào thì độ co giãn của tỷ giá hối đoái thực đối với các biến giải thích đang được xem xét là không đổi Điều này mâu thuẫn với hiểu biết thông thường rằng sự đóng góp biên của một nhân tố kinh tế, hoặc độ hữu dụng biên thêm vào có xu hướng giảm dần Và các mô hình tuyến tính
về tỷ giá hối đoái thường không còn chính xác khi xem xét ngoài thời kỳ nghiên
Trang 25cứu, hoặc khi có một số biến động trong nền kinh tế Điều này đã gợi ý rằng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với các nhân tố kinh tế cơ bản có thể là quan hệ phi tuyến chứ không phải tuyến tính
2.2.2 Mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản Tập trung hơn với mối quan hệ phi tuyến, bài nghiên cứu “Testing for a nonlinear relationship among fundamentals and exchange rates in the ERM” của Yue Ma
và Angelos Kanas (1999) đã đề xuất hai kiểm định phi tham số để kiểm định tính
phi tuyến trong mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản tại 3 nước Đức, Pháp và Hà Lan: (1) Kiểm định đồng liên kết phi tuyến (Granger và Hallman, 1991; Breiman và Friedman, 1985); (2) Kiểm định quan hệ nhân quả phi tuyến Granger (Baek và Brock, năm 1992; Hiem-Stra và Jones, 1994), (Granger và Joyeux, 1980, Geweke và Porter-Hudak, 1983), Sciacciavillani (1994) sử dụng mô hình ARFIMA Nếu kết quả kiểm định cho thấy có mối quan hệ nhân quả phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản, thì đó là bằng chứng chứng minh chúng có mối quan hệ phi tuyến trong dài hạn
Kiểm định gồm 4 bước, trong đó 3 bước đầu là một chu trình, bao gồm:
Bước 1: Kiểm định nghiệm đơn vị để kiểm tra tính dừng Nếu các biến là không dừng, các tác giả tiếp tục chuyển sang Bước 2 Ngược lại, chuyển sang Bước 4 Bước 2: Kiểm định tham số tuyến tính và đồng liên kết phi tham số sử dụng phương pháp của Johansen (1998) và Bierens (1997a, b) Nếu kết quả cho thấy không có đồng liên kết, thì chuyển sang Bước 3 Ngược lại, chuyển sang Bước 4
Bước 3: Nếu không có đồng liên kết tuyến tính thì kiểm định đồng liên kết phi tuyến, nếu thỏa mãn thì đây là bằng chứng cho mối quan hệ dài hạn Ngược lại, chuyển sang Bước 4
Bước 4: Dựa vào kết quả của ba bước đầu, các tác giả đi ước lượng một mô hình VAR cho các biến Nếu kết quả kiểm định ở Bước 1 cho thấy các biến là dừng tìm thấy quan hệ đồng liên kết tuyến tính tại Bước 2, các tác giả sẽ đi ước lượng một
mô hình VAR với các biến gốc Nếu kết quả của Bước 3 cho thấy không có mối
Trang 26quan hệ đồng liên kết phi tuyến, các tác giả sẽ ước lượng mô hình VAR với các biến sai phân bậc 1
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến tại
Hà Lan và Đức Đối với Pháp và Đức, các kết quả nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng của đồng liên kết phi tuyến Nhưng các kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nhân quả phi tuyến Granger của đồng France đối với tỷ giá hối đoái FFr/DM Những phát hiện này có thể được hiểu như là bằng chứng về một mối quan hệ phi tuyến linh hoạt và phù hợp với giả thuyết về sự chiếm ưu thế của đồng tiền Đức Trên cơ sở các mô hình ước tính phân đoạn ARIMA, Yue Ma, Angelos Kanas bác bỏ những giả thuyết mà mối quan hệ phi tuyến được tạo ra do các bong bóng trên thị trường
Carlo Altavilla và Paul De Grauwe (2006) trong nghiên cứu “Forecasting and combining competing models of exchange rate determination” đã phân tích 7 mô
hình thực nghiệm để xác định tỷ giá hối đoái, bao gồm cả mô hình phi tuyến và mô hình tuyến tính: mô hình Bước ngẫu nhiên (Random walk - RW), mô hình Phân tích quang phổ (Spectral analysis – SP), mô hình Vector hiệu chỉnh sai số - VECM, mô hình Tự hồi quy chuyển tiếp trơn (Smooth transition autoregressive - STAR), mô hình Chuyển đổi Markov đơn (Univariate Markov-switching - MS-AR), mô hình Markov chuyển đổi VECM (Markov switching VECM - MS-VECM), mô hình chuyển tiếp là sự kết hợp nhiêu mô hình dự báo (theo thứ tự: RW, SP, SM-AR, VECM, MS-VECM, STAR) Từ việc so sánh các mô hình dự báo thì hành vi của tỷ giá hối đoái theo từng giai đoạn là không ổn định Vì vậy không thể chỉ sử dụng một mô hình tuyến tính để dự báo biến động của tỷ giá hối đoái mà phải kết hợp nhiều mô hình cho dự báo chính xác hơn Và mô hình tuyến tính cho dự báo tốt hơn trong ngắn hạn và mô hình phi tuyến cho dự báo tốt hơn trong dài hạn
Trong nghiên cứu “Nonlinearities in exchange rate determination in a small open economy: Some evidence for Canada” của Bernd Kempa và Jana Riedel (2012)
đã sử dụng mô hình Chuyển đổi Markov (một là tỷ giá được xác định bằng mô hình tiền tệ và hai là hành vi của tỷ giá được dự đoán theo quy tắc Taylor) để phân tích
Trang 27biến động tỷ giá hối đoái giữa đồng Canada và đồng USD Ngược với các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế
cơ bản, tác giả thiết lập phép chuyển đổi giữa hai mô hình với nhau và tỷ giá hối đoái được xác định bởi cung tiền, mức giá, thu nhập quốc gia và lãi suất danh nghĩa Kết quả cho thấy rằng tỷ giá hối đoái có quan hệ phi tuyến với các nhân tố kinh tế
cơ bản và biến động tỷ giá không được giải thích bằng bằng bất kỳ một mô hình tỷ giá hối đoái cụ thể nào Vì vậy cần kết hợp nhiều mô hình để dự báo được chính xác hơn
Bài nghiên cứu với tựa đề “Nonlinear relationship between the real exchange rate and economic fundamentals: Evidence from China and Korea Xiaolie” của Tang
và Jizhong Zhou (2012) xem xét mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực
của hai loại tiền tệ (đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và đồng Won của Hàn Quốc) với các nhân tố kinh tế cơ bản bằng việc sử dụng số liệu theo qu trong giai đoạn từ 1980Q1 tới 2009Q4 Tác giả sử dụng thuật toán Kỳ vọng có điều kiện luân phiên (ACE) và kiểm định đồng liên kết ARDL để kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa các biến có liên quan Kết quả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản ở Trung Quốc và Hàn Quốc Đồng thời phân tích độ co giãn cho thấy tác động của các nhân tố kinh tế cơ bản đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực thay đổi qua thời gian theo mối quan hệ phi
tuyến ngược lại với mối quan hệ tuyến tính thông thường
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận hành vi BEER để xác định mô hình thực nghiệm cho tỷ giá hối đoái thực bởi tính linh hoạt và tính ứng dụng rộng rãi của phương pháp này Việc lựa chọn các nhân tố kinh tế cơ bản được dựa chính vào nghiên cứu của Montiel (1999) Cụ thể, các nhân tố kinh tế cơ bản được lựa chọn
bao gồm: chênh lệch năng lực sản xuất (PROD), tỷ lệ mậu dịch (TOT), chi tiêu
chính phủ (GEXP), độ mở của nền kinh tế (OPEN) và tài sản nước ngoài ròng (NFA)
Mô hình có dạng sau:
Trang 28Kiểm định thực nghiệm được tiến hành bằng cách sử dụng một thủ tục gồm hai bước Trước tiên, tác giả kiểm định đồng liên kết tuyến tính giữa các biến trong phương trình Nếu không tìm thấy bằng chứng về đồng liên kết tuyến tính, tiếp tục thực hiện bước thứ hai để kiểm định đồng liên kết phi tuyến Nếu kiểm định này không cho thấy bất cứ bằng chứng nào về đồng liên kết phi tuyến, tác giả kết luận rằng tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản không đồng liên kết, hoặc tuyến tính hoặc phi tuyến
Các thủ tục kiểm định được đề xuất bởi Granger và Hallman (1991) và Granger (1991) thông qua hai bước Quy trình kiểm định như sau: đầu tiên sử dụng thuật toán ACE để chuyển đổi mối quan hệ phi tuyến thành một dạng tuyến tính và sau
đó phân tích mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến được chuyển đổi Cuối cùng
sử dụng phương pháp phân tích độ co giãn (tính tại 11 điểm phân vị để so sánh) Kết quả cho thấy rằng, tại Trung Quốc và Hàn Quốc mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản là phi tuyến mang nghĩa rất cao và đem lại nhiều hàm đối với các nhà hoạch định chính sách
Trang 293 Kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân
tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam trong giai đoạn 2000Q1 – 2013Q4
Phần 3 đi sâu điều tra mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân
tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam sử dụng dữ liệu theo qu trong giai đoạn 2000Q1 – 2013Q4, ứng dụng mô hình và phương pháp nghiên cứu mà Xiaolei Tang và Jizhong Zhou (2012) đã đề xuất gồm: kiểm định nghiệm đơn vị ADF, thuật toán chuyển đổi ACE và kiểm định đồng liên kết ARDL Models-Bounds Tests
Các bước tiến hành nghiên cứu, bao gồm:
Bước 1: Thu thập dữ liệu và tính toán các biến để áp dụng mô hình tại Việt Nam Bước 2: Thực hiện chuyển đổi các biến gốc bằng thuật toán ACE
Bước 3: Áp dụng ARDL Models-Bounds Test để kiểm định đồng liên kết các biến gốc và các biến chuyển đổi
Bước 4: Ước lượng phương trình đồng liên kết dài hạn nếu phát hiện đồng liên kết Bước 5: Từ mô hình ước lượng phân tích mối quan hệ giữa các biến và đưa ra kết luận
3.1 Mô tả bộ dữ liệu
Các thông số kỹ thuật thực nghiệm được sử dụng trong bài nghiên cứu này là một ứng dụng của phương pháp tiếp cận BEER Theo đó hành vi của tỷ giá hối đoái thực được xác định bởi các nhân tố kinh tế cơ bản sau:
Các biến từ phía bên phải lần lượt là chênh lệch năng lực sản xuất (PROD), tỷ lệ mậu dịch (TOT), chi tiêu chính phủ (GEXP), độ mở của nền kinh tế (OPEN) và tài sản nước ngoài ròng (NFA) Các biến này được lựa chọn phù hợp với hướng dẫn
của Montiel (1999) và chịu sự ràng buộc của dữ liệu sẵn có
Để giải thích cách xây dựng các biến trong phương trình (9), tương tự như cách xác định tỷ giá hối đoái là giá trị tương đối của một đồng tiền với đồng tiền khác thì
Trang 30cách xác định các nhân tố kinh tế cơ bản cũng được thể hiện ở dạng giá trị tương đối của các biến trong nước so với các đối tác nước ngoài Do đó, chênh lệch giữa các biến trong và ngoài nước có tầm quan trọng tác động đến tỷ giá hối đoái Hơn nữa, để có một đánh giá tổng thể về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản, tác giả sẽ nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) thay vì tỷ giá hối đoái thực song phương (RER) Vì vậy, tương tự như cách tính toán tỷ giá hối đoái thực hiệu lực, tất cả các nhân tố kinh tế cơ bản đều được thể hiện dưới dạng tỷ số hiệu lực, cụ thể là: tỷ lệ giữa biến nước chủ nhà và biến đối tác nước ngoài, lấy bình quân gia quyền các giá trị tương ứng của các đối tác mậu dịch chính của Việt Nam Tỷ trọng thương mại là thị phần mậu dịch của đối tác với nước Việt Nam
Cụ thể là đầu tiên cần xác định 10 đối tác mậu dịch hàng đầu theo tổng khối lượng mậu dịch song phương (xuất khẩu và nhập khẩu) Tỷ trọng của nước đối tác i với nước chủ nhà H trong năm t được xác định như sau:
Trong đó: i = 1,2,…,10, H đại diện cho Việt Nam FTiHt là khối lượng mậu dịch của đối tác i với Việt Nam và TFTHt là tổng mậu dịch của Việt Nam với 10 đối tác mậu dịch hàng đầu của mình Bốn qu trong cùng một năm, các trọng số được giả định không thay đổi Tổng các trọng số bằng 1
Bài nghiên cứu lựa chọn 10 đối tác mậu dịch lớn nhất của Việt Nam thay đổi trong
từng thời kỳ: Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Úc,
Hồng Kông, Đức, Malaysia
Dữ liệu được thu thập theo qu trong giai đoạn 2000Q1-2013Q4 từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IFS – IMF, DOTS – IMF), Bloomberg, Ngân hàng thế giới World Bank, Trading Econmics, Tổng cục thống kê Việt Nam Việc sử dụng số liệu theo quý cho phép có một chuỗi dữ liệu tương đối lớn để có thể đưa ra những kết quả có độ tin cậy về mặt thống kê Nhưng do một số dữ liệu cần thiết theo quý không đầy đủ, nên bài nghiên cứu điều chỉnh chuỗi dữ liệu hàng năm sang quý bằng kỹ thuật chuyển đổi theo phép nội suy tuyến tính (linear interpolation) được hỗ trợ bởi Eview 6.0 để có
Trang 31được một chuỗi thời gian đầy đủ Đồng thời, Việt Nam là một nước có nền kinh tế
mở và nhỏ nên tất cả các giá trị xuất nhập khẩu đều được quy về đơn vị tiền tệ nước ngoài (ở đây sử dụng USD) Do đó để tạo sự thống nhất trong dữ liệu nghiên cứu, tất cả bộ dữ liệu sử dụng đều được đổi sang đơn vị USD
3.1.1 Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER)
REER là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở
để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp Chỉ số này cho phép đánh giá và
dự báo tỷ giá hối đoái thực theo hướng xem xét sức mua đối ngoại thực tế của đồng tiền quốc gia và sự tác động đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của quốc gia đó Chỉ số này dựa vào một năm cơ sở và một rổ đồng tiền của các đối tác mậu dịch Việc lựa chọn phương pháp niêm yết tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến chiều hướng tăng hay giảm của một đồng tiền Để nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, tác giả lựa chọn phương pháp yết giá trực tiếp tức là tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) tăng đồng nghĩa với đồng Việt Nam bị giảm giá và ngược lại
Thu thập dữ liệu:
Chọn rổ tiền tệ đặc trưng: căn cứ vào tỷ trọng mậu dịch của Việt nam và đối tác nước ngoài, chọn ra các đồng tiền tham gia “rổ tiền tệ” để tính tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) theo nguyên tắc ưu tiên chọn đồng tiền của các đối tác có tỷ trọng mậu dịch lớn đối với Việt Nam Theo nguyên tắc này tác giả chọn ra 10 đối tác mậu
dịch lớn nhất của Việt Nam thay đổi trong từng thời kỳ là: Nhật Bản, Singapore,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Úc, Hồng Kông, Đức, Malaysia
Chọn kỳ gốc là 2000Q1 Kỳ gốc này cũng được nhiều nghiên cứu về tỷ giá hối đoái lựa chọn, chẳng hạn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2010, 2011)
Trang 32Các bước tính tỷ giá hối đoái thực hiệu lực REER:
Bước 1: Tính tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương của đồng Việt Nam với ngoại
tệ khác Sử dụng công thức tính tỷ lệ chéo vì tỷ giá hối đoái danh nghĩa của Việt Nam và đối tác mậu dịch đều tính trung gian qua USD (1 ngoại tệ = X VND)
Bước 2: Điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa về kỳ gốc (chỉ số ejt) bằng cách lấy
tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiện tại chia cho tỷ giá kỳ gốc (2000Q1)
Bước 3: Điều chỉnh chỉ số tiêu dùng CPI về kỳ gốc được thực hiện giống như điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Bước 4: Tính tỷ trọng mậu dịch
Trước tiên, cộng tất cả các giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam và các đối tác ở từng thời kỳ (Wt) Lấy giá trị xuất nhập khẩu của từng đối tác chia cho tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của tất cả các đối tác sẽ được tỷ trọng mậu dịch của từng đối tác Các trọng số được giả định là không thay đổi tại bốn qu trong cùng một năm Tổng các trọng số bằng 1
Bước 5: Tính NEER và REER theo công thức trung bình nhân và yết giá theo phương pháp trực tiếp:
t là thời gian theo quý
n = 10 là số nước đối tác mậu dịch chính của Việt Nam
ejt là tỷ giá hối đoái danh nghĩa của đồng tiền nước j so với VND
Pt là chỉ số giá hàng hóa trong nước
Pjt là chỉ số giá hàng hóa nước j
wjt là tỷ trọng của đồng tiền nước j tại thời điểm t
Trang 333.1.2 Chênh lệch năng lực sản xuất (PROD) (-)
Lý thuyết kinh điển Balassa-Samuelson (Balassa, 1964; Samuelson, 1964) phân
tích những tác động của chênh lệch năng lực sản xuất đến tỷ giá hối đoái thực, dự báo rằng một sự gia tăng trong năng lực sản xuất của hàng hóa mậu dịch của nền kinh tế dẫn đến sự nâng giá trị thực đồng tiền của quốc gia đó (REER giảm), bởi sự gia tăng nhanh của giá cả hàng hóa phi mậu dịch so với giá cả hàng hóa mậu dịch
Cụ thể, sự gia tăng của năng lực sản xuất làm tăng cầu về lao động trong nước trong ngành sản xuất hàng mậu dịch Dưới điều kiện về việc làm đầy đủ, lao động
sẽ bị hút từ khu vực hàng mậu dịch sang khu vực hàng phi mậu dịch Do đó, mức lương ở khu vực phi mậu dịch sẽ tăng làm tăng giá hàng phi mậu dịch Kết quả là REER sẽ giảm
Một phương pháp thường được sử dụng của hiệu ứng Balassa–Samuelson là giá cả tương đối của hàng hóa phi mậu dịch trên hàng hóa mậu dịch, được đại diện bởi tỷ
số chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên chỉ số giá sản xuất (PPI) hoặc bởi GDP bình quân đầu người Bài nghiên cứu lựa chọn sử dụng chỉ số GDP bình quân đầu người (PCGDP) đại diện cho chênh lệch năng lực sản xuất, được xác định bằng phương trình sau:
3.1.3 Tỷ lệ mậu dịch (TOT) (+/-)
Tỷ lệ mậu dịch được định nghĩa là giá trị tương đối của hàng xuất khẩu so với nhập khẩu của một quốc gia và được tính bằng tỷ số giữa xuất khẩu so với nhập khẩu Tỷ
lệ này thường được sử dụng để đại diện cho những thay đổi trong môi trường kinh
tế quốc tế song tác động của nó đến tỷ giá hoái đối thực lại mơ hồ bởi vì chịu tác động bởi hai hiệu ứng đối lập nhau:
Trang 34(1) Hiệu ứng thu nhập dự báo rằng khi tỷ lệ mậu dịch được cải thiện, thu nhập
từ xuất khẩu sẽ tăng, nhu cầu đối với hàng hóa phi mậu dịch sẽ tăng lên và
do đó giá cả của hàng hóa phi mậu dịch sẽ tăng lên, dẫn đến nâng giá đồng nội tệ (REER giảm)
(2) Hiệu ứng thay thế dự báo rằng sự cải thiện của tỷ lệ mậu dịch có nghĩa là hàng nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn và ít nhất một phần nhu cầu hàng hóa nội địa phi mậu dịch sẽ được thay thế bởi hàng nhập khẩu, do đó giá cả hàng hóa phi mậu dịch sẽ giảm Điều này dẫn đến kết quả là sự sụt giá của đồng nội tệ (REER tăng) Do đó hiệu ứng nào chiếm ưu thế là một câu hỏi thực nghiệm
Tỷ lệ mậu dịch (TOT) được tính bằng tỷ số giữa xuất khẩu so với nhập khẩu
và được xác định bằng phương trình sau:
Trong đó XV và MV lần lượt là giá trị xuất khẩu và nhập khẩu
3.1.4 Chi tiêu chính phủ (GEXP) (+/-)
Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tỷ giá hối đoái thực từ lâu đã được nghiên cứu về mặt lý thuyết và thực nghiệm (Frenkel and Mussa, 1988; Froot and Rogoff, 1995; Obstfeld and Rogoff, 1996; Fisher, 2004; and Kim and Korhonen, 2005) Chi tiêu chính phủ cũng chịu tác động của hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập: (1) Hiệu ứng thay thế, vì chi tiêu chính phủ chủ yếu bao gồm hàng hóa phi mậu dịch nên hiệu ứng lấn át của chi tiêu chính phủ là thấp, vậy nên khi tăng chi ngân sách sẽ dẫn đến sự gia tăng cầu hàng hóa phi mậu dịch và kéo theo sự tăng giá của các loại hàng hóa này, từ đó có thể dẫn đến tỷ giá hối đoái thực tăng hay nói cách khác là sự đánh giá cao đồng nội tệ (REER giảm)
(2) Hiệu ứng thu nhập, sự gia tăng chi tiêu chính phủ được tài trợ bởi mức thuế cao hơn làm giảm thu nhập khả dụng và cầu của hàng hóa phi mậu dịch, điều này dẫn đến sự mất giá đồng nội tệ (REER tăng)
Trang 35Hơn nữa, trong ngắn hạn và dài hạn, tác động của chi tiêu chính phủ đối với tỷ giá hối đoái thực có sự khác nhau Tăng chi tiêu phi chính phủ không được kỳ vọng sẽ
có tác động mạnh đến tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn Tuy nhiên, kéo dài tình trạng này sẽ làm suy yếu niềm tin vào đồng tiền, vì mức thuế cao sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và tỷ giá hối đoái thực Do đó, chi tiêu chính phủ cao trong dài hạn có thể gây ra sự đánh giá thấp tỷ giá hối đoái thực
Biến số này được tính bằng tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP danh nghĩa, được xác định bằng phương trình sau:
3.1.5 Độ mở của nền kinh tế (OPEN) (+/-)
Về mặt lý thuyết, tác động của độ mở của nền kinh tế đối với tỷ giá hối đoái thực là không chắc chắn và do đó không thể dự báo được Độ mở của nền kinh tế có thể thay đổi bằng việc giảm thuế quan, tăng hạn ngạch, hoặc giảm thuế xuất khẩu Giảm thuế quan hoặc tăng hạn ngạch có thể làm giảm giá cả hàng hóa mậu dịch trong nước dẫn đến cả hiệu ứng thu nhập và thay thế:
(1) Hiệu ứng thay thế, giảm giá hàng mậu dịch sẽ kích thích sự gia tăng của cầu hàng nhập khẩu, dẫn đến sự suy giảm trong cán cân mậu dịch, do đó dẫn đến giảm giá đồng nội tệ (REER tăng)
Trang 36(2) Hiệu ứng thu nhập đối với độ mở của hàng hóa phi mậu dịch còn mơ hồ, tùy thuộc vào xu hướng tiêu dùng nội địa hàng hóa mậu dịch hoặc phi mậu dịch Nếu thu nhập tăng nhờ chi tiêu nhiều đối với hàng hóa phi mậu dịch, dẫn đến nâng giá đồng nội tệ (REER giảm)
Connolly và Devereux (1992) tranh luận rằng hiệu ứng thay thế đối với độ mở của nền kình tế thường chi phối hiệu ứng thu nhập trong những trường hợp này Do vậy, một sự gia tăng mở cửa theo cách này có thể dẫn đến giảm giá đồng nội tệ thông qua sự sụt giảm của cán cân mậu dịch Nếu độ mở của nền kinh tế tăng thông qua giảm thuế xuất khẩu, như lập luận của Connolly và Devereux (1995), hiệu ứng thu nhập và thay thế sẽ có cùng khuynh hướng khi thay đổi xuất khẩu Trong trường hợp này, cán cân mậu dịch sẽ được cải thiện và do đó dẫn đến nâng giá đồng nội tệ
Biến số OPEN đo lường độ mở của nền kinh tế, được tính bằng tỷ số của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP, được xác định bằng phương trình sau:
(14)
Trong đó TFTHt và TFTit là tổng giá trị ngoại thương của nước Việt Nam và đối tác mậu dịch nước ngoài thứ i của nó
3.1.6 Tài sản nước ngoài ròng (NFA) (-)
Tải sản nước ngoài ròng bằng tổng tài sản ở nước ngoài của một quốc gia trừ đi tổng nợ nước ngoài của nó Từ quan điểm của một danh mục đầu tư cân bằng, sự thâm hụt trong tài khoản vãng lai là nguyên nhân gây ra sự gia tăng nợ nước ngoài ròng của một quốc gia được tài trợ bởi dòng vốn quốc tế Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu một lợi tức cao hơn để bắt đầu những điều chỉnh cần thiết các danh mục đầu tư của họ Ở mức lãi suất nhất định, điều này chỉ có thể được thực hiện thông qua sự giảm giá đồng nội tệ Ngoài ra, cán cân thanh toán được giả định bởi sự thâm hụt của tài khoản vãng lai được trả lãi bằng tiền lãi thanh toán, được tài
Trang 37trợ bởi thặng dư mậu dịch Kết quả này đòi hỏi sự giảm giá đồng nội tệ, do đó khả năng cạnh tranh quốc tế của quốc gia có thể được tăng cường và đạt được xuất khẩu ròng cao hơn Do đó, tài sản nước ngoài ròng tăng sẽ dẫn đến sự đánh giá cao đồng nội tệ (REER giảm) và ngược lại
Tài sản ròng nước ngoài (NFA) được xác định bởi phương trình sau đây:
(15)
Trong đó TFA và TFL lần lượt là tổng tài sản nước ngoài và tổng nợ nước ngoài NFA được xử lý tính mùa vụ bằng phương pháp Census X-12 (hỗ trợ bởi Eviews 6.0)
Trang 38Bảng 3.1: Mô tả các nhân tố kinh tế cơ bản được lựa chọn
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Các biến số ghi thường biểu thị lôgarit của các biến tương ứng trong phân tích thực nghiệm, ví dụ reer = ln (REER)
Trang 393.2 Phương pháp nghiên cứu
Kỹ thuật thực nghiệm được tiến hành bằng cách sử dụng một thủ tục kiểm định gồm
hai bước được đề xuất bởi Granger và Hallman (1991) và Granger (1991)
Tổng quan 2 bước thực hiện bao gồm:
Bước 1: Kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến gốc
Kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Fuller tích hợp - Augmented Fuller test) để kiểm định tính dừng các biến gốc (dưới dạng log và được điều chỉnh theo mùa vụ khi cần thiết) Nếu các biến là không dừng chuyển sang
Dickey-Bước 2
Kiểm định ARDL Models - Bounds Test (Mô hình phân bố trễ tự hồi quy – Autoregressive Distributed Lag model) mối quan hệ đồng liên kết tuyến tính các biến gốc Trước khi thực hiện bước này, phải lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình
Có đồng liên kết tuyến tính -> kết luận mối quan hệ tỷ giá hối đoái thực
và các nhân tố kinh tế cơ bản là tuyến tính
Không có đồng liên kết tuyến tính -> tiếp tục kiểm định cho đồng liên kết phi tuyến
Bước 2: Kiểm định đồng liên kết phi tuyến các biến gốc
Chuyển đổi các biến bằng thuật toán ACE (Kỳ vọng có điều kiện luân phiên) Việc thực hiện biến đổi ACE được thực hiện nhờ vào gói giải pháp ACEpackages được viết cho phần mềm thống kê R
Kiểm định nghiệm đơn vị ADF với các biến chuyển đổi
Kiểm định ARDL Models - Bounds Test mối quan hệ đồng liên kết tuyến tính các biến chuyển đổi Nếu như các biến chuyển đổi có mối quan hệ đồng liên kết tuyến tính thì tác giả kết luận các biến gốc có mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến (ứng dụng của thuật toán ACE) Trước khi kiểm định đồng liên kết
tuyến tính giữa các biến chuyển đổi, phải lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình
Trang 40 Nếu xác định được mối quan hệ đồng liên kết tiếp tục ước lượng mô hình đồng liên kết dài hạn giữa các biến
Bên cạnh đó, tác giả thực hiện các kiểm định giả thuyết mô hình để đảm bảo
sự phù hợp và ổn định của mô hình như: kiểm đinh hiện tượng tự tương quan, kiểm định sự phù hợp mô hình, kiểm định sự ổn định của các hệ số trong mô hình đồng liên kết, kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm định phân phối chuẩn phần dư
Nghiên cứu sử dụng phần mềm Eviews 6.0 và phần mềm R3.1 1 hỗ trợ thực hiện
Sau đây, bài nghiên cứu trình bày cụ thể về quy trình thực hiện các bước nêu trên
3.2.1 Kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến gốc
3.2.1.1 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến gốc
Lý thuyết tính dừng
Theo Gujarati (2003), một chuỗi thời gian là dừng khi giá trị trung bình, phương
sai, hiệp phương sai (tại các độ trễ khác nhau) giữ nguyên không đổi cho dù chuỗi được xác định vào thời điểm nào đi nữa Chuỗi dừng có xu hướng trở về giá trị trung bình và những dao động quanh giá trị trung bình sẽ là như nhau Nói cách khác, một chuỗi thời gian không dừng sẽ có giá trị trung bình thay đổi theo thời gian, hoặc giá trị phương sai thay đổi theo thời gian hoặc cả hai
Theo Ramanathan (2002), hầu hết các chuỗi thời gian về kinh tế là không dừng vì
chúng thường có một xu hướng tuyến tính hoặc mũ theo thời gian Tuy nhiên có thể biến đổi chúng về chuỗi dừng thông qua quá trình sai phân Nếu sai phân bậc 1 của một chuỗi có tính dừng thì chuỗi ban đầu gọi là liên kết bậc 1, k hiệu là I(1) Tương tự, nếu sai phân bậc d của một chuỗi có tính dừng thì chuỗi ban đầu gọi là