1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia đang phát triển Đông Nam Á

107 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 895,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tuy nhiên mối quan hệ này là ngược chiều đối với biến cung tiền M2/G

Trang 1

HỒ THỊ YẾN NHI

SỰ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

ĐANG PHÁT TRIỂN ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

HỒ THỊ YẾN NHI

SỰ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

ĐANG PHÁT TRIỂN ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã s ố: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

TP H ồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

và tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia đang phát triển Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Phương pháp nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp của đề tài 3

1.6 Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

2.1 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính 5

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 5

2.1.1.1 Các khái niệm 5

2.1.1.2 Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế 6

2.1.2 Phát triển tài chính 8

2.1.2.1 Các khái niệm 8

2.1.2.2 Đo lường phát triển tài chính 8

2.2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 10

2.2.1 Cơ sở lý thuyết 10

2.2.2 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 12

2.2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 14

2.2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 19

Trang 5

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 20

3.2 Mô hình và các biến nghiên cứu 21

3.2.1 Trình bày mô hình và các biến nghiên cứu 21

3.2.2 Các kiểm định thực hiện trong mô hình 22

3.2.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 23

3.2.2.2 Kiểm định đồng liên kết 24

3.2.2.3 Mô hình hiệu chỉnh sai số 25

3.2.2.4 Kiểm định nhân quả Granger 25

3.2.2.5 Kiểm định tính vững 26

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Thống kê mô tả 27

4.2 Kiểm định tính dừng 29

4.3 Chọn độ trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 30

4.4 Kiểm định đồng liên kết và mối quan hệ dài hạn 31

4.5 Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số 34

4.6 Kiểm định nhân quả Granger 36

4.7 Kiểm định tính vững 37

4.8 Thảo luận kết quả nghiên cứu 38

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Kiến nghị 41 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

ổng lượng tiền mặt do Ngân hàng Trung ương phát hàng đang được lưu thông (Tiền cơ sở, tiền hẹp, tiền có thể chi tiêu ngay lập tức) + Tiền mà các ngân hàng

thương mại gửi tại Ngân hàng trung ương

M2: Tổng các khoản tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng tại ngân hàng trung ương

và tiền giấy cũng như tiền kim loại trong lưu thông, các khoản tiền có thể sử dụng làm phương tiện thanh toán, các khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

ADF: Kiểm định Augmented Dickey – Fuller

ARDL: Mô hình tự hồi quy phân phối trễ (Autoregressive Distributed Lag)

OLS: Phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary least square method)

ECM: Mô hình hiệu chỉnh sai số (Error correction model)

VAR: Mô hình vectơ tự hồi quy (Vector Autoregression)

IFS: Thống kê tài chính quốc tế (International Financial Statistics)

IMF: Qũy tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Các nghiên cứu ủng hộ Supply-leading (F  Y) 15

Bảng 2.2: Các nghiên cứu ủng hộ Demand-following (Y  F) 16

Bảng 2.3: Các nghiên cứu ủng hộ quan hệ nhân quả hai chiều (Y ↔ F) 18

Bảng 2.4: Các nghiên cứu không ủng hộ tồn tại mối quan hệ nhân quả (Y ⇏ F, F ⇏ Y) 18

Bảng 4.1: Thống kê mô tả dữ liệu các biến ở Việt Nam 27

Bảng 4.2: Hệ số tương quan giữa các biến ở Việt Nam 28

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định tính dừng 29

Bảng 4.4: Kết quả lựa chọn độ trễ 30

Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số không giới hạn, trường hợp Việt Nam 31

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định đồng liên kết, trường hợp Việt Nam 32

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định đồng liên kết 33

Bảng 4.8: Kết quả ước lượng dài hạn 33

Bảng 4.9: Kết quả ước lượng ECM, trường hợp Việt Nam 35

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định nhân quả Granger theo phương pháp Toda Yamamoto 36

Bảng 4.11: Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số không giới hạn – MÔ HÌNH 2, trường hợp Việt Nam 37

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định nhân quả Granger theo phương pháp Toda Yamamoto, MÔ HÌNH 2, trường hợp Việt Nam 38

Trang 8

ứu áp dụng mô hình ARDL đồng liên kết do Peseran và Smith (1998), Peseran và cộng sự (2001) phát triển, nhằm tìm hiểu sự tồn tại của mối

tương quan giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở Việt Nam và các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 2005 –

2017 Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp Toda Yamamoto (1995) để kiểm

chứng mối quan hệ nhân quả Granger giữa hai đối tượng nghiên cứu trên

Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tuy nhiên mối quan hệ này là ngược chiều đối với biến cung tiền M2/GDP và cùng chiều đối với biến tỷ lệ tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng/GDP Ngoài ra, quan

hệ nhân quả hai chiều cũng xảy ra ở Indonesia, Malaysia, Philippines, tuy nhiên chỉ

có quan hệ nhân quả một chiều từ phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan Từ đó, tác giả so sánh kết quả nghiên cứu ở Việt Nam với các nước đang phát triển trong khu vực để đưa ra những kiến nghị chính sách quan trọng

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển của lĩnh vực tài chính

và tăng trưởng kinh tế bắt đầu bởi Bagehot (1873) Bagehot (1873) nhấn mạnh khả

năng di chuyển vốn rất quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Levine (1997) đã chứng minh rằng lĩnh vực tài chính có tác động đến tăng trưởng kinh tế bằng cách tích lũy

vốn và phát triển công nghệ bằng mô hình tăng trưởng nội sinh Trong khi đó nhiều nghiên cứu thực nghiệm như Goldsmith (1969) và King and Levine (1993) chỉ ra có

mối tương quan cao giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính Mặt khác, Robinson (1952) và Lucas (1988) mâu thuẫn với Bagehot và Schumpeter Robinson (1952) đã khẳng định tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính Lucas (1988) cho rằng các nhà kinh tế nhấn mạnh ảnh hưởng của phát triển ngành tài chính đến

tăng trưởng kinh tế

Triển vọng phát triển mạnh mẽ về kinh tế của các quốc gia khu vực Đông Nam Á đã nhận được nhiều sự quan tâm trong thời gian gần đây Diễn đàn Kinh tế

Thế giới (WEF) dự báo đến năm 2020, khu vực này sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ

5 thế giới Nhiều nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã

lọt vào top các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất toàn cầu, như Philippines hay

Việt Nam, với tốc độ hơn 6% mỗi năm Hơn hai thập kỷ gần đây, các nước trong

Trang 10

khu vực đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể, lĩnh vực tài chính của họ

cũng đã phát triển trong quá trình mở rộng kinh tế

Trong các thập kỷ gần đây đã có nhiều nghiên cứu đã kiểm tra mối quan hệ

giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cho các nước và các khu vực khác nhau đưa ra các quan điểm khác nhau về tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ cũng như tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh luận Hiểu rõ tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có những định hướng rõ ràng hơn trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia và khu vực Do đó, tác giả thực hiện đề tài: “Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia đang phát triển Đông Nam Á”, bao gồm các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Luận văn này sẽ cung cấp hàm ý chính sách quan trọng đối với các nhà làm chính sách trong khu vực và cho phép họ đánh giá chi phí và lợi ích

gắn liền với tự do hóa và phát triển hệ thống tài chính

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế và sự tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế

Câu hỏi nghiên cứu gồm:

- Có tồn tại quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế không?

- Phát triển tài chính có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế?

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu thu thập dữ liệu chuỗi thời gian, sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL (Autoregressive Distributed Lag) và phương pháp kiểm định nhân quả Toda Yamamoto

Mô tả cụ thể và chi tiết cho phương pháp nghiên cứu được trình bày ở Chương

3

Trang 11

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng

kinh tế; tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á

Phạm vi nghiên cứu: luận văn được tiến hành trên mẫu gồm 5 quốc gia đang

phát triển ở Đông Nam Á, gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn quý 1 năm 2005 đến quý 4 năm 2017 Việc chọn các quốc gia được xác định dựa trên sự tương đồng về tốc độ tăng trưởng kinh tế với Việt Nam

Từ đó, sự so sánh kết quả nghiên cứu của Việt Nam với các nước này mang tính khái quát và hợp lý hơn

1.5 Đóng góp của đề tài

Thứ nhất, luận văn này nghiên cứu trường hợp cụ thể của các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á, trong đó có Việt nam, đây là một khu vực kinh tế ngày càng phát triển và hội nhập vào thị trường toàn cầu Bài nghiên cứu này áp dụng mô hình hồi quy chuỗi thời gian riêng cho từng quốc gia, kiểm định mối quan hệ trên ở

Việt Nam để củng cố thêm cho các nghiên cứu trước, đồng thời kiểm định ở các

nước đang phát triển trong khu vực để chúng ta có cái nhìn khái quát và mang tính

so sánh Từ đó, bài nghiên cứu sẽ cung cấp các bằng chứng hữu ích cho các nhà làm chính sách trong khu vực và giúp họ có những định hướng rõ ràng hơn trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia và khu vực

Thứ hai, ngoài phương pháp đo lường truyền thống của phát triển tài chính là

tỷ lệ cung tiền M2/GDP, tác giả sử dụng phương pháp đo lường khác là tỷ lệ cung

tiền M2 trừ đi lượng tiền mặt lưu thông/GDP để cho phép so sánh kết quả nghiên

cứu nhằm đảm bảo kết quả tin cậy Phương pháp đo lường mới này đã được sử

dụng bởi một số tác giả nước ngoài (Demetriades và Hussein, 1996; Abu-Bader và Abu-Qam, 2008) và cho ra kết quả có ý nghĩa thống kê cao, tuy nhiên chưa được áp

dụng trong nghiên cứu ở Việt Nam

Thứ ba, dữ liệu của các biến số là dữ liệu chuỗi thời gian, được thu thập theo quý trong giai đoạn từ quý 1 năm 2005 đến quý 4 năm 2017 Đối với dữ liệu của

Trang 12

các quý trong năm 2017 chưa được cập nhật trên trang web của IMF, tác giả thu

thập trực tiếp từ trang web của cơ quan thống kê ở mỗi nước Việc mở rộng mẫu quan sát đến năm 2017 có thể giúp bài nghiên cứu cập nhật đầy đủ các thay đổi về kinh tế - tài chính của các quốc gia và đưa ra những nhận định mang tính khái quát

tốt hơn so với những nghiên cứu trước đây

1.6 Bố cục đề tài

Ngoài chương mở đầu giới thiệu và danh mục tài liệu tham khảo, bài nghiên

cứu được kết cấu thàng 4 chương:

Chương 2: Giới thiệu khung phân tích, các nghiên cứu trước đây về mối quan

hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, cùng phương pháp nghiên cứu;

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu;

Chương 4: Các kết quả thực nghiệm và thảo luận;

Chương 5: Nêu ra các kết luận và hàm ý chính sách

Trang 13

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế để làm rõ các cơ chế tác động Tiếp theo, tác giả tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu trước đã nghiên

cứu mối quan hệ này

2.1 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

2.1.1.1 Các khái niệm

Trong kinh tế học, tăng trưởng kinh tế chính là sự tăng lên về thu nhập của

một nước theo thời gian Sự tăng lên theo số tuyệt đối thể hiện quy mô tăng trưởng, còn sự tăng lên theo tỷ lệ thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm qua các mốc

thời gian

Để phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng hai chỉ tiêu là tổng

sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân:

+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là một chỉ tiêu kinh tế đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong thời kỳ nhất định (thường là một năm) Đây là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bên trong lãnh thổ quốc gia, bất kể người sản xuất thuộc quốc tịch nào

GDP được tính như sau:

 =  +  +  +  (1) Trong đó:

C là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế

I là đầu tư của các nhà đầu tư

G là tổng chi tiêu của chính phủ

NX là xuất khẩu ròng của nền kinh tế NX = xuất khẩu – nhập khẩu

+ Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là một chỉ tiêu kinh tế đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà quốc gia đó sản xuất trong một thời kỳ (thường

Trang 14

là một năm) bằng các yếu tố sản xuất của chính mình Đây là tổng giá trị hàng hóa

và dịch vụ do những người có cùng quốc tịch tạo ra, bất kể hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bên trong hay bên ngoài quốc gia đó

Trong luận văn này, tác giả sử dụng tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc

nội để tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế

2.1.1.2 Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế

Trong quá trình phát triển của kinh tế học, các nhà kinh tế học đã dùng các lý thuyết kinh tế để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế:

Quan điểm của trường phái cổ điển:

Hai nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển là Adam Smith và David Ricardo là những nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra những lý luận mang tính hệ thống

về tăng trưởng kinh tế Adam Smith đã đưa ra các học thuyết về “Gía trị lao động”,

“Bàn tay vô hình” Theo ông, nguồn gốc của tăng trưởng là từ lao động Sự tăng về

số lượng đội ngũ người lao động và năng suất của họ chính là yếu tố hình thành nên

sự tăng trưởng

Kế thừa những tư tưởng của A Smith, Ricardo đã hoàn thiện và phát triển

những lý thuyết trên Ông cho rằng ngành quan trọng nhất là sản xuất nông nghiệp,

do đó các yếu tố đầu vào của tăng trưởng kinh tế là vốn, lao động và đất đai Trong

ba yếu tố này, đất đai là yếu tố quan trọng nhất Khi mở rộng sản xuất nông nghiệp,

người ta sẽ phải sản xuất ở những mảnh đất kém màu mỡ hơn, dẫn đến năng suất lao động giảm sút, gây ra sự tăng giá lương thực Khi đó, tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng tăng lên, làm lợi nhuận của nhà tư bản giảm xuống Các nhà tư bản không còn động cơ để sản xuất, làm cho tăng trưởng kinh tế bị hãm lại

Tóm lại, lập luận của Ricardo là đất đai quyết định chi phí sản xuất lương

thực, dẫn đến quyết định lợi nhuận của nhà tư bản, lợi nhuận ảnh hưởng đến tích lũy

tư bản và điều đó tác động đến tăng trưởng Do đó, đất đai là giới hạn của sự tăng

trưởng

Quan điểm của trường phái Tân cố điển:

Trang 15

Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế bác bỏ quan điểm của các nhà kinh

tế học cổ điển cho rằng trong các ngành sản xuất nhất định, những tỷ lệ kết hợp của lao động và vốn là không thay đổi Họ cho rằng các yếu tố đầu vào có thể kết hợp theo nhiều tỷ lệ khác nhau Theo đó, việc lựa chọn công nghệ phù hợp nhằm kết

hợp có hiệu quả nhất các yếu tố đầu vào để cho năng suất cao sẽ tạo ra sự gia tăng

về sản phẩm Hay nói cách khác quan điểm này đề cao vai trò của tiến bộ kỹ thuật trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Quan điểm của Keynes:

Ông cho rằng tiêu dùng là yếu tố quan trọng để xác định sản lượng Theo ông,

sự trì trệ trong hoạt động kinh tế có nguyên nhân từ việc giảm xu hướng tiêu dùng

của hộ gia đình khi thu nhập của họ tăng lên Để đạt được ổn định và tăng trưởng trong dài hạn thì cần phải có sự thúc đẩy đầu tư và tăng hiệu suất của tư bản so với lãi suất

Mặc khác, Keynes đề cao vai trò to lớn của chính phủ trong việc tạo động lực cho nền kinh tế bằng các gói kích cầu đầu tư quy mô lớn, ổn định kinh tế vĩ mô

nhằm tạo môi trường ổn định cho sản xuất, đồng thời thực hiện chính sách tiền tệ

mở rộng, lạm phát cao nhằm mở rộng khối lượng tiền tệ trong lưu thông

• Quan điểm của kinh tế học hiện đại:

Việc áp dụng chính sách của Keynes đã giúp các nước thoát ra khỏi khủng

hoảng Tuy nhiên, quá lạm dụng vao trò của nhà nước đã một phần làm cho nền kinh tế thiếu đi sự linh hoạt của thị trường Do đó, sự xích lại dần nhau của hai

trường phái kinh tế đang là xu hướng chung của các lý thuyết kinh tế hiện đại, với tiêu biểu là mô hình nền kinh tế hỗn hợp

Quan điểm về sự cân bằng của kinh tế học hiện đại là điểm giao nhau của tổng

mức cung và tổng mức cầu hàng hóa Mức cân bằng này thường không đạt mức

tiềm năng, mà ở dưới mức sản lượng tiềm năng, trong điều kiện nền kinh tế hoạt động bình thường, có thất nghiệp và lạm phát

Trang 16

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại có cùng quan điểm với mô hình kinh tế tân cổ điển là các yếu tố đầu vào của sản xuất là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ được dùng để xác định tổng mức cung của nền kinh tế Ngoài ra, lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường chức năng điều tiết hoạt động của nền kinh tế Trên thị trường, tổng cung và tổng cầu tác động

lẫn nhau và giải quyết các vấn đề về thu nhập thực, việc làm – thất nghiệp, giá cả –

lạm phát Mặt khác, chiều hướng phát triển kinh tế của các nước thế giới là nhà

nước ngày càng giữ chức năng quan trọng trong đời sống kinh tế Việc phát triển

nền kinh tế thị trường cần phải có sự tham gia của chính phủ để đảm bảo cơ chế thị

trường được hoạt động tốt và tránh được những khuyết tật vốn có

2.1.2 Phát triển tài chính

2.1.2.1 Các khái niệm

Adnan (2011) chỉ ra rằng phát triển tài chính là các yếu tố, chính sách và thể

chế nhằm tạo ra các thị trường và trung gian tài chính hiệu quả cũng như khả năng

tiếp cận vốn và các dịch vụ tài chính sâu rộng

Theo Levine (2005), chức năng của hệ thống tài chính là giảm thiểu những chi phí giao dịch và chi phí thông tin làm cản trở các hoạt động kinh tế Một hệ thống tài chính phát triển tốt và hiệu quả sẽ có khả năng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực một cách hữu ích và phân bổ chúng một cách

hiệu quả Đồng thời, sự phát triển tài chính thông qua việc tăng tiết kiệm và đầu tư, đẩy mạnh tích lũy vốn, từ đó thúc đẩy tăng trường kinh tế của quốc gia

2.1.2.2 Đo lường phát triển tài chính

Để lượng hóa mức độ phát triển tài chính, World Bank (2014c) đưa ra khoảng

100 chỉ số khác nhau, nhưng được phân loại thành 4 nhóm, bao gồm: Độ sâu tài chính (Financial Depth), Khả năng tiếp cận tài chính (Financial Access), Hiệu quả (Efficiency) và Tính ổn định (Stabilization) Trong thực tế, tỷ số giữa dư nợ tín

dụng, dư nợ huy động hay cung tiền M2 so với GDP là các chỉ tiêu phổ biến để đo

lường phát triển tài chính

Trang 17

Tuy nhiên, phát triển tài chính không nhất thiết phải được đo lường bằng

những chỉ số phức tạp, mà nó thường được đo lường một cách truyền thống bằng các chỉ số định lượng dựa trên cung tiền và tổng tín dụng Mặc dù các chỉ số này không cho phép tiếp cận một cách chính xác sự phát triển tài chính của một quốc gia, đó là những chỉ số duy nhất có thể tiếp cận được trong các nghiên cứu về tiền tệ được sử dụng trong các thống kê của IMF, đặc biệt là cho các nước đang phát triển Tác giả Al-Yousif (2002) trong bài nghiên cứu của mình đã đưa ra các biện pháp đo lường sự phát triển tài chính dựa trên các chỉ số về hoạt động, quy mô và

mức độ phát triển của hệ thống tài chính Các chỉ tiêu này đo lường hoạt động của các trung gian tài chính và hiệu quả của khu vực tài chính Để đo lường hoạt động

của các trung gian tài chính, tác giả đã sử dụng tỷ lệ tiền trong lưu thông chia cho

cơ sở tiền (M1) Tỷ lệ này thấp cho thấy các tổ chức tài chính được đa dạng hóa tốt

và sử dụng tốt các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Để đo lường quy

mô của khu vực tài chính, tác giả sử dụng tỷ lệ cung tiền M2 chia cho GDP, thường được dùng để đo lường mức độ tiền tệ hóa trong nền kinh tế

Tác giả Levine (1997) đã sử dụng tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân (Private Credit ration) để đo lường hoạt động của các tổ chức tín dụng Tín dụng khu vực tư nhân là giá trị các khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khu vực tư nhân, không bao

gồm các khoản tín dụng cấp cho khu vực công (gồm cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, cũng như các doanh nghiệp công) Mặt khác, theo King và Levine (1993b), M1/GDP không có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ tăng trưởng kinh tế

Nhìn chung các nghiên cứu trước đây, các phương pháp đo lường mức độ phát triển tài chính thường bao gồm đo lường quy mô và mức độ phát triển của trung gian tài chính Theo đó, các biện pháp được đưa ra để đo lường thường mang tính

kế thừa các nghiên cứu trước nên khá phù hợp và tương đồng Dựa trên những nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng hai phương pháp đo lường mức độ phát triển tài chính theo truyền thống đó là tỷ lệ cung tiền M2 chia cho GDP để đo lường quy

mô của khu vực tài chính và tỷ lệ tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được

Trang 18

cung cấp bởi ngân hàng chia cho GDP để đo lường sự phát triển của các trung gian tài chính

2.2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Cơ sở lý thuyết

Nhằm tìm hiểu về vai trò của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Schumpeter (1911) đã nhấn mạnh vai trò của các dịch

vụ tài chính trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế McKinnon (1973) và Shaw (1973) cũng đã đề cập đến vai trò quan trọng của các trung gian tài chính trong việc kích thích phát triển kinh tế Trong khi đó, một số tác giả khác (như Adams, 1819; Robinson, 1952; Hicks, 1969, Demetriades và Hussein, 1996) lại không tin rằng tài chính tác động tích cực tăng trưởng kinh tế, mà họ cho là phát triển tài chính theo sau tăng trưởng kinh tế Những tác giả này đã dựa trên lập luận rằng tăng trưởng kinh tế sẽ làm tăng nhu cầu về các công cụ tài chính mới, từ đó làm cho tài chính phát triển

Patrick (1966) đã nêu lên mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Vấn đề ông đưa ra ở đây là phát triển tài chính là kết

quả của tăng trưởng kinh tế (hiện tượng cầu đẩy) hay ngược lại phát triển tài chính

dẫn đến tăng trưởng kinh tế (hiện tượng cung kéo) Theo Patrick, trong thực tế

dường như có sự tác động qua lại giữa hiện tượng cầu đẩy và hiện tượng cung kéo Đây chính là nguyên nhân tạo ra sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính

Mặt khác của Christopoulos và Tsionas (2004) đã tiến hành khảo sát mối quan

hệ dài hạn giữa độ sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế Kết quả ủng hộ cho giả thuyết có một mối quan hệ cân bằng duy nhất giữa độ sâu tài chính, tăng trưởng và các biến phụ thuộc Mối quan hệ đồng liên hết duy nhất này ngụ ý rằng chỉ có quan

hệ nhân quả một chiều từ độ sâu tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên,

một số nhà nghiên cứu khác cho rằng tăng trưởng kinh tế làm phát sinh nhu cầu

Trang 19

ngày càng cao đối với các công cụ tài chính mới, từ đó tạo ra một sự mở rộng và phát triển trong lĩnh vực tài chính, Gurley and Shaw (1967)

Các bài nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng các mô hình tăng trưởng như:

mô hình Harrod – Domar, mô hình Solow, mô hình tăng trưởng nội sinh

• Mô hình Harrod – Domar:

Mô hình Harrod-Domar được xây dựng cho một nền kinh tế khép kín cho thấy vai trò của tiết kiệm trong việc thúc đẩy gia tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP)

Để có đủ vốn cung cấp cho việc mở rộng đầu tư, nền kinh tế cần phải gia tăng tiết

Một đóng góp khác cho mô hình tăng trưởng tân cổ điển là Goldsmith (1969),

chỉ ra cách mà các công cụ tài chính ngắn hạn chuyển hóa thành dài hạn và cách mà các công cụ tài chính dài hạn tác động đến tăng trưởng kinh tế Cách tiếp cận này được phát triển dựa trên mô hình Harrod-Domar Goldsmith (1969) cho rằng tính thanh khoản được hình thành trong hệ thống tài chính nếu có dư thừa người tiết

kiệm (những người tiết kiệm nhiều hơn là đầu tư) và người đi vay (những người đầu

Trang 20

tư nhiều hơn là tiết kiệm), từ đó sự dư thừa sẽ được chuyển đến nhà đầu tư thông qua các công cụ tài chính

• Mô hình tăng trưởng nội sinh

Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988) trình bày tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển trong dài hạn,

mối quan hệ này phát sinh từ các dịch vụ tài chính khu vực như việc tích lũy vốn và

cải tiến công nghệ

Khác với mô hình Solow, mô hình tăng trưởng nội sinh cho rằng yếu tố công nghệ và các yếu tố ngoại sinh khác là nhân tố chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế

Mô hình này khẳng định các trung gian tài chính có khả năng ảnh hưởng đến quá trình tạo lập và phát triển, những cải tiến có được thông qua các hoạt động nghiên

cứu tốn kém chỉ được áp dụng khi có sẵn các nguồn vốn từ bên ngoài thông qua hệ

thống tài chính

Valverde và công sự (2007), bằng mô hình tăng trưởng nội sinh đã chứng minh hiệu quả hoạt động của các định chế tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế như

thế nào Mô hình tăng trưởng mới của Greenwood và Jovanovic (1990) cho rằng

tăng cường tích lũy vốn có thể khuyến khích tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Khi doanh nghiệp và nhà kinh doanh cần vốn, các trung gian tài chính có thể cung cấp

những thông tin quan trọng, từ đó giảm được chi phí xác minh và giám sát những công ty này

Diamond (1984) cũng ủng hộ trung gian tài chính có thể giám sát hiệu quả

những người đi vay và nắm giữ các danh mục đầu tư đa dạng để có thể duy trì sự an toàn cho những người gửi tiền Điều này sẽ giúp giảm thiểu chi phí thông tin bất cân xứng và chi phí giao dịch và tăng tính hiệu quả của đầu tư

Luận văn này dựa vào nền tảng lý thuyết của mô hình tăng trưởng nội sinh để đánh giá sự ảnh hưởng của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và các nước đang phát triển Đông Nam Á

2.2.2 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

Trang 21

Những nghiên cứu về mối tương quan giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đã được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 20 Nhìn chung, những kết quả

trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có thể chia làm 4 xu hướng sau:

Thứ nhất, quan điểm về cung kéo (supply-leading) cho rằng phát triển tài chính có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Theo quan điểm này, các trung gian tài chính ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua hai kênh: một là tăng tính hiệu

quả của tích lũy vốn dẫn đến tăng năng suất biên của vốn, hai là tăng quy mô tiết

kiệm và nâng cao hiệu quả đầu tư Một trung gian tài chính hoạt động tốt sẽ giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả từ nơi dư thừa đến nơi thiếu vốn, từ đó thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế “Phát triển tài chính bao gồm các cải tiến trong việc (i) cung cấp thông tin đầy đủ về các dự án tiềm năng, (ii) giám sát đầu tư và thực hiện quản trị doanh nghiệp, (iii) thương mại, đa dạng hóa và quản trị rủi ro, (iv) huy động tiết

kiệm và (v) trao đổi hàng hóa dịch vụ Mỗi chức năng tài chính trên có thể ảnh

hưởng đến quyết định tiết kiệm và đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.” (Levine, 2004)

Thứ hai, quan điểm về cầu đẩy (demand-following) cho rằng tăng trưởng kinh

tế làm cho tài chính phát triển Theo quan điểm này, khi nền kinh tế thực mở rộng, nhu cầu về các công cụ tài chính mới tăng lên và do đó ngành tài chính phản ứng

hiệu quả với nhu cầu vày

Thứ ba, giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân

quả hai chiều (bidirectional causality hoặc feedback causality) Từ quan điểm này,

một lĩnh vực tài chính hoạt động hiệu quả có thể tạo điều kiện cho kinh tế phát triển thông qua việc tăng cường ứng dụng công nghệ mới và giới thiệu các cải tiến về sản

phẩm dịch vụ, từ đó làm tăng nhu cầu về các dịch vụ tài chính mới Khi trung gian tài chính phản ứng với những yêu cầu này, những thay đổi sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Majid, 2007)

Thứ tư, giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế không tồn tại mối quan hệ nhân quả (independent hypothesis) Giả thuyết này được đưa ra bởi Robert

Trang 22

Lucas (người đoạt giải Nobel kinh tế) vàn năm 1988 Ông cho rằng “các nhà kinh tế

học đã quá đề cao vai trò của các yếu tố tài chính đối với tăng trưởng kinh tế”

2.2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

King and Levine (1993a) đã sử dụng số liệu xuyên quốc gia để phân tích tác động của phát triển hệ thống tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở 80 quốc gia và vùng lãnh thổ từ 1960-1989 Bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất 3 giai đoạn (3SLS), tác giả phát hiện mối quan hệ dương và có ý nghĩa thống kê cao giữa mức

độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và mức độ phát triển tài chính Mối quan

hệ dương này được lý giải là do phát triển tài chính dẫn đến tăng lợi nhuận thông qua việc cung cấp ba dịch vụ: đo lường khả năng sinh lợi của các dự án đầu tư bằng

việc thu thập các thông tin, huy động các nguồn tiền tiết kiệm để cung cấp cho đầu

tư phát triển, đa dạng hóa rủi ro cho danh mục đầu tư

Phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng đã được áp dụng trong nghiên cứu của Levine và các cộng sự (2000) và chứng minh tác động của phát triển trung gian tài chính lên tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu thực nghiệm này tiến hành trên mẫu gồm

71 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1960-1995 sử dụng 2 phương pháp tiếp cận kinh

tế: ước lượng GMM (General Method of Moments) và ước lượng biến công cụ chéo Theo đó, các thành phần ngoại sinh của phát triển trung gian tài chính có mối quan hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế

Hassan và cộng sự (2011) đã nghiên cứu thực nghiệm với mẫu 168 quốc gia trong giai đoạn 1980-2007, đã chỉ ra được vai trò của phát triển tài chính cũng như các yếu tố khác như chi tiêu chính phủ, thương mại, lạm phát… đối với tăng trưởng kinh tế Các tác giả đã thực hiện mô hình chuỗi thời gian nhiều chiều khác nhau trong khung phân tích VAR, phân tách sai số dự báo và kiểm định nhân quả Granger về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế GDP ban đầu thấp liên kết với một tốc độ tăng trưởng cao hơn, sau khi kiểm soát các biến khu vực tài chính và khu vực sản xuất, kết luận này phù hợp với nghiên cứu của Bekaert và cộng sự (2005) và Barro (1997) Tác giả đã chứng minh mối quan hệ dài

Trang 23

hạn giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, tương tự với kết quả nghiên cứu

của King và Levine (1993a); Levine và công sự (2000)

Bittencourt (2011) đã nghiên cứu thực nghiệm để xem phát triển tài chính có

thực sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như lý thuyết Schumpeter đã nêu Tác giả sử

dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng thời gian của bốn quốc gia Mỹ Latinh trong giai đoạn từ 1980 đến 2007 Kết quả nghiên cứu công nhận lý thuyết Schumpeter là đúng Sự phát triển tài chính có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế

Abida và cộng sự (2015) đã xem xét mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở ba nước Bắc Phi (Tunisia, Morocco và Ai Cập) trong giai đoạn 1980-2012 Bằng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình dữ

liệu bảng, bài nghiên cứu đã tìm thấy sự tác động tích cực giữa hai yếu tố này

Bảng 2.1: Các nghiên cứu ủng hộ Supply-leading (F  Y)

Tác giả Quốc gia Giai đoạn Phương pháp Biến số Quan hệ

GDP, Tỷ lệ

tiền gửi, tỷ lệ tín dụng, đầu

GDP, M3, Tín dụng nội địa, tiết

kiệm, chi tiêu CP, lạm phát

F  Y

Trang 24

bằng chứng ủng hộ mối quan hệ nhân quả hai chiều, và một vài bằng chứng cho

thấy tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến phát triển tài chính

Odhiambo (2004) đã xem xét mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính

và tăng trưởng kinh tế bằng các phương pháp: mô hình hiệu chỉnh sai số, kiểm định nhân quả Granger, trên dữ liệu chuỗi thời gian của Nam Phi từ 1968 đến 2000 Kết

quả thực nghiệm đã bác bỏ mối quan hệ nhân quả hai chiều và kết luận chỉ có tăng

trưởng kinh tế dẫn đến sự phát triển của lĩnh vực tài chính

Waqabaca (2004) đã thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa phát triển tài chính

và tăng trưởng kinh tế ở Fiji, sử dụng các biến đại diện cho tài chính như tỷ lệ tài

sản tài chính/GDP, tỷ lệ tín dụng tư nhân/GDP Kết quả thực nghiệm chứng minh

mối quan hệ nhân quả trong ngắn hạn theo hướng từ tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính Bài nghiên cứu ủng hộ luận điểm các hệ thống tài chính ít phức tạp

sẽ có xu hướng thiên về nguồn cầu phụ thuộc

Carby và các công sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu theo quan điểm cung kéo và cầu đẩy của Patrick tại Barbados trong giai đoạn 1946-2011 và 3 giai đoạn

ngắn bằng mô hình VECM Kết quả đã ủng hộ giả thuyết cầu đẩy khi cho thấy tăng

trưởng kinh tế ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển thị trường tài chính trong ngắn

hạn và xảy ra mối quan hệ hai chiều giữa hai biến số này trong dài hạn

Bảng 2.2: Các nghiên cứu ủng hộ Demand-following (Y  F)

Tác giả Quốc gia Giai đoạn Phương

pháp Biến số Quan hệ

Demetrides 16 quốc >=27 quan sát Johansen, GDP, tỷ lệ tiền Y  F

Trang 25

GDP, M2, currency ratio Y  F

Waqabaca

(2004) Fiji 1970-2000 bVAR

Tỷ lệ tài sản tài chính/GDP, tỷ

lệ tín dụng tư nhân/GDP

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Nghiên cứu của Luintel và Khan (1999) thu thập dữ liệu của 10 quốc gia kém phát triển để nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình vector tự hồi quy VAR Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều trong dài hạn ở tất cả 10 quốc gia

Al-Yousif (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng

trưởng kinh tế với dữ liệu 30 quốc gia đang phát triển bằng phương pháp kiểm định nhân quả Granger và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy những bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ nhân quả hai chiều Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm ra một vài bằng chứng ủng hộ cho giả thiết “cung kéo”, “cầu đẩy” và không có mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố Ngoài ra, kết

quả nghiên cứu cũng hàm ý cho rằng mối quan hệ phụ thuộc vào đặc điểm của quốc gia và việc lựa chọn yếu tố phản ánh phát triển tài chính Điều này dẫn đến một thực

tế là các quốc gia có chính sách và hệ thống tài chính khác nhau sẽ có mức độ phát triển tài chính khác nhau Kết quả này cũng phù hợp với World Bank (1993) cho

rằng các chính sách kinh tế là đặc trưng của mỗi quốc gia và hiệu quả của chúng tùy thuộc vào các tổ chức thực thi chính sách đó

Yucel (2009) nghiên cứu mối quan hệ này ở Thổ Nhĩ Kỳ cho giai đoạn

1989-2007 Tác giả sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansen and Juselius và kiểm định nhân quả Granger và tìm thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển tài chính, độ mở thương mại và tăng trưởng kinh tế

Trang 26

Bảng 2.3: Các nghiên cứu ủng hộ quan hệ nhân quả hai chiều (Y ↔ F)

Tác giả Quốc gia Giai đoạn Phương pháp Biến số Quan hệ

1970-1999

Johansen, ECM, Granger

Currency/M1, M2/GDP Y ↔ F Yucel

(2009) Thổ Nhĩ Kỳ 1989-2007 Johansen,

Granger GDP, M2 Y ↔ F Carby và

lệ tổng tín

dụng/GDP

Y  F

Y ↔ F (dài hạn)

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Perera và Paudel (2009) nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính

và tăng trưởng kinh tế tại Sri Lanka bằng dữ liệu chuỗi thời gian từ 1955-2005 Tác

giả sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansen and Juselius và kiểm định nhân quả Granger và đi đến kết luận bài nghiên cứu cho rằng phát triển tài chính không thực

sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Christopoulos và Tsionas (2004) với phạm vi nghiên cứu là 10 quốc gia đang phát triển từ năm 1970-2000, để kiểm định mối quan hệ giữa phát triển tài chính theo chiều sâu và phát triển kinh tế Bài nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liên kết

và hồi quy dữ liệu bảng bằng mô hình VECM Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chỉ

ra rằng phát triển tài chính theo chiều sâu chỉ có tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Ngoài ra, nghiên cứu không có đủ bằng chứng về mối quan hệ trên trong ngắn hạn

Bảng 2.4: Các nghiên cứu không ủng hộ tồn tại mối quan hệ nhân quả (Y ⇏⇏ F,

F ⇏⇏⇏ Y)Y)Y)

Tác giả Quốc gia Giai đoạn Phương pháp Biến số Quan hệ

Perera và Sri Lanka 1955-2005 Johansen, GDP, M1, Không

Trang 27

và Tsionas

(2004)

10 quốc gia đang phát triển

Không (ngắn

hạn)

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

2.2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện tại cũng đã có một số nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Anwar và Nguyen (2011) đã sử dụng dữ liệu bảng của 61 tỉnh thành từ năm 1997-2006, để nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh

tế của Việt Nam Dựa trên phương pháp kiểm định GMM, bài nghiên cứu đã tìm

thấy mối tương quan dương mạnh mẽ giữa phát triển tài chính và tăng trường kinh

tế khi sử dụng các biến số khác nhau phản ánh thước đo tài chính (tỷ lệ tín dụng và

tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GPP, tỷ lệ cung tiền M2 và tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GPP)

Nhìn chung có khá nhiều những ý kiến khác nhau về mối quan hệ nhân quả

giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế - nguyên nhân khách quan có thể đến

từ sự khác biệt về thể chế, chính sách, đặc điểm của từng quốc gia và khu vực, nguyên nhân chủ quan có thể đến từ việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu và các

yếu tố đại diện cho các biến số trong mô hình Bài nghiên cứu này tiếp tục kiểm định bổ sung mối quan hệ trên với số liệu chuỗi thời gian ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á nhằm củng cố các kết quả về mối quan hệ nhân quả, giúp ích cho các nhà hoạch định trong vấn đề chính sách kinh tế - tài chính

Trang 28

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Từ nền tảng khảo lược các nghiên cứu được phân tích ở chương 2, chương này sẽ xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu, trình bày mẫu nghiên cứu và các biến

đo lường, phát triển xây dựng mô hình hồi quy cũng như phương pháp xử lý nhằm đạt được kết quả định lượng tin cậy trả lời câu hỏi nghiên cứu

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Luận văn sử dụng dữ liệu theo quý từ quý 1 năm 2005 đến quý 4 năm 2017 (kích thước mẫu là 52), dựa trên các nguồn sau:

- Nguồn dữ liệu từ International Financial Statistics được đăng tải trên trang web của IMF là http://www.imf.org (International Financial Statistics) Dựa vào

bảng thống kê theo từng chỉ số, tác giả thu thập các dữ liệu bao gồm: GDP danh nghĩa, GDP thực, Cung tiền M2, Tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng

- Dữ liệu từ báo cáo hàng năm và báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hàng quý

của Tổng cục Thống kê được đăng tải trên trang web www.gso.gov.vn, tác giả thu

thập dữ liệu về GDP danh nghĩa hàng quý của Việt Nam

- Ngoài ra, một số website khác cũng được sử dụng để tham khảo tính chuẩn hóa của dữ liệu như: Ngân hàng nhà nước Việt Nam (www.sbv.gov.vn), World Bank (www.worldbank.org), Cơ quan thống kê Indonesia (www.bps.go.id), Cơ quan thống kê Malaysia (www.dosm.gov.my), Cơ quan thống kê Philippines (www.psa.gov.ph), Cơ quan thống kê Thái Lan (www.nso.go.th)

Nghiên cứu của Al-Yousif (2002) và một số nghiên cứu khác đa phần đều sử

dụng chuỗi dữ liệu theo năm, tuy nhiên, do việc thống kê số liệu các biến số vĩ mô theo năm tại các nước Đông Nam Á bị hạn chế nên để đảm bảo kích thước mẫu ở

mức chấp nhận được, bài nghiên cứu thu thập dữ liệu chuỗi thời gian theo quý Đối

với các nước Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan, dữ liệu theo quý của các

biến số có trên trang web IMF khá đầu đủ Tuy nhiên dữ liệu theo quý của GDP

thực của Việt Nam không có sẵn, tác giả đã sử dụng GDP danh nghĩa và chỉ số

Trang 29

GDP deflator để tính được GDP thực, từ đó tính tốc độc tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người

Việc chọn các quốc gia được xác định dựa trên sự tương đồng về tốc độ tăng

trưởng kinh tế với Việt Nam Từ đó, sự so sánh kết quả nghiên cứu của Việt Nam

với các nước này mang tính khái quát và hợp lý hơn

3.2 Mô hình và các biến nghiên cứu

3.2.1 Trình bày mô hình và các biến nghiên cứu

Luận văn áp dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL và phương pháp

kiểm định nhân quả Toda Yamamoto để tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam

Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam) trong giai đoạn quý 1

năm 2005 đến quý 4 năm 2017 Dựa theo nghiên cứu của Al-Yousif (2002), tác giả

tiến hành dựa trên mô hình hồi quy tuyến tính sau:

 = + +  (2)

Trong đó

- Biến phụ thuộc (GP)

• Tăng trưởng kinh tế: được thu thập bằng cách lấy tốc độ tăng GDP

thực BQ đầu người Việc sử dụng GDP thực làm công cụ đo lường giúp phản ánh được thu nhập gia tăng của nền kinh tế tạo ra trong năm

và loại trừ đi yếu tố giá cả qua các năm – tức chỉ tăng thuần túy về

lượng so với năm so sánh

- Biến độc lập (F): là thước đo của sự phát triển tài chính Trong nghiên cứu

này, tác giả sẽ sử dụng hai thước đo tài chính như sau:

• Tỷ lệ cung tiền M2/GDP (M): Cung tiền M2 bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng tại ngân hàng trung ương và tiền giấy cũng

như tiền kim loại trong lưu thông, các khoản tiền có thể sử dụng làm

phương tiện thanh toán, các khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Biến này đo lường chiều sâu tài chính hoặc quy mô của khu vực trung gian tài chính Quy mô của hệ thống tài chính càng lớn thì đóng góp của

Trang 30

nó vào các hoạt động kinh tế càng mạnh mẽ thống qua việc huy động

tiền gửi tiết kiệm và chuyển chúng sang hoạt động sản xuất, từ đó tăng

trưởng kinh tế Dựa trên các lý thuyết và nghiên cứu đã nêu, tỷ lệ cung

tiền M2/GDP được kỳ vọng sẽ có tương quan cùng chiều với tăng trưởng kinh tế

• Tỷ lệ tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng /GDP (DC): là các khoản tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng Bao gồm các khoản vay, chứng khoán phi

cổ phiếu, các khoản tín dụng thương mại và các khoản phải thu khác đi kèm với một yêu cầu trả nợ

Tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng là

mức độ mà khu vực tư được các tổ chức tài chính tài trợ bằng cho vay, đáp ứng các khoản giao dịch thương mại, đầu tư Đây là một chỉ số dùng

để đánh giá khả năng của khu vực tài chính trong việc hỗ trợ nền kinh tế

-  là sai số

Mô hình nghiên cứu với hai biến đại diện cho phát triển tài chính có dạng

như sau:

 = + + +  (3)

3.2.2 Các kiểm định thực hiện trong mô hình

Bài nghiên cứu kiểm chứng mối quan hệ cân bằng dài hạn và quan hệ nhân

quả giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính tại một số quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á thông qua phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL), được giới thiệu bởi Pesaran và Smith (1998), Pesaran và cộng sự (2001) Tác giả sử

dụng phương pháp ARDL bởi những ưu điểm khác biệt so với các phương pháp khác: i) có thể được áp dụng bất kể tính dừng của các biến trong trong mẫu là bậc

gốc I(0), bậc 1 I(1) hay hỗn hợp, chỉ cần đảm bảo bậc dừng tối đa là bậc 1 (Pesaran

và cộng sự, 2001; Acaravci và Ozturk, 2012); ii) mô hình ARDL có thể được sử

dụng đối với bất kỳ mẫu dữ liệu dù lớn hay nhỏ và cho ra kết quả đáng tin cậy (Pesaran và cộng sự, 2001; Ghatak và Siddiki, 2001); iii) có thể cùng lúc ước lượng

Trang 31

hệ số hồi quy ngắn hạn và dài hạn trong cùng một mô hình và mô hình hiệu chỉnh sai số có thể phản ánh sự điều chỉnh ngắn hạn về cân bằng dài hạn mà không phải lo

việc bỏ sót các thông tin dài hạn (Ahmed và Long, 2013) Mô hình hồi quy ARDL được viết như sau:

Trong đó: d là sai phân; t là thời gian; GPt là biến phụ thuộc; Mt, DCt là các

biến độc lập; μ# là sai số; a0 là hệ số chặn; a1; a2; a3 lần lượt là các tham số ngắn

hạn; b1, b2, b3 lần lượt là các tham số dài hạn; i là độ trễ của biến GP, i thay đổi từ 1 đến n1; j là độ trễ của biến M, j thay đổi từ 1 đến n2; k là độ trễ của biến DC, k thay đổi từ 1 đến n3

Để có thể trả lời cho câu hỏi nghiên cứu, luận văn sử dụng một số kiểm định được thực hiện tuần tự như sau:

3.2.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị

Trong nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian, chuỗi dừng đóng vai trò rất quan trọng Nếu một chuỗi không dừng, chúng ta chỉ có thể nghiên

cứu hành vi của nó cho riêng giai đoạn đang xem xét mà không thể khái quát hóa

kết quả phân tích cho các giai đoạn khác Hơn nữa, nếu chúng ta có hai hay nhiều chuỗi không dừng, phân tích hồi quy có thể xảy ra hiện tượng hồi quy giả mạo (spurious regression) và làm cho các kiểm định thống kê thông thường (t, F, DW, R2) không đáng tin cậy, nghiên cứu của Granger & Newbold (1974), Stock & Watson (1986)

Do đó bước đầu tiên khi xây dựng và phân tích mô hình là phải kiểm định xem các chuỗi dữ liệu có dừng hay không Nếu chuỗi dữ liệu là dừng thì sẽ tiến hành ước lượng trên chuỗi dữ liệu này, nếu chuỗi dữ liệu không dừng thì sẽ lấy sai phân và xem xét tính dừng của các chuỗi sai phân trước khi đưa vào mô hình

Có nhiều cách có thể xác định một chuỗi thời gian là dừng hay không dừng Trong đó, phương pháp phổ biến thường được sử dụng là kiểm định nghiệm đơn vị

Trang 32

Dickey và Fuller mở rộng (augmented Dickey-Fuller test - ADF) (Dickey và Fuller, 1981) Để kết quả của kiểm định ADF được chính xác, ta phải chọn được độ trễ k

tối ưu, bằng cách sử dụng tiêu chuẩn thông tin AIC (Akaike’s Information Criterion) Cụ thể, tại giá trị AIC nhỏ nhất sẽ là độ trễ k tối ưu của mô hình ARDL

Phần mềm Eviews sẽ hỗ trợ tìm ra giá trị này để thực hiện kiểm định nghiệm đơn

vị

3.2.2.2 Kiểm định đồng liên kết

Kết quả hồi quy có thể là giả mạo khi chúng ta tiến hành trên các chuỗi thời gian không dừng với nhau Tuy nhiên, Engle và Granger (1987) cho rằng trong một

số trường hợp khi kết hợp các chuỗi thời gian không dừng lại cho ra một chuỗi

dừng Khi đó kết quả hồi quy là thực và các chuỗi thời gian không dừng trên có mối quan hệ cân bằng trong dài hạn

Mục đích của kiểm định đồng liên kết này là kiểm tra xem giữa các biến trong mô hình có mối quan hệ cân bằng trong dài hạn hay không Để thực hiện điều này, tác giả sử dụng kiểm định đường bao (bound test)

Các kiểm định đồng liên kết rất nhạy cảm với sự lựa chọn độ trễ Độ trễ tối

ưu được xác định dựa trên các tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC), Schwars (SC) và Hannan Qiunn (HQ) Độ trễ nào làm cho các chỉ số thống kê nói trên có giá trị nhỏ

nhất thì đó được xem là độ trễ tốt nhất cho mô hình

Tiếp đó, tác giả ước lượng phương trình (4) bằng phương pháp bình phương

bé nhất (OLS) Kết quả phương pháp Bounds Test đưa ra là kiểm định thống kê statistic sẽ được so sánh với giá trị giới hạn trên và giới hạn dưới của 2 đường bao ứng với từng mức ý nghĩa xác định (đường bao dưới ứng với I(0), đường bao trên ứng với I(1)):

F-+ Nếu giá trị của thống kê F nhỏ hơn giá trị giới hạn của đường bao dưới thì không thể bác bỏ giả thiết H0 Nghĩa là ủng hộ giả thiết không tồn tại mối quan hệ đồng liên kết

+ Nếu giá trị của thống kê F lớn hơn giá trị giới hạn của đường bao trên thì bác bỏ giả thiết H0 Nghĩa là khẳng định sự tồn tại mối quan hệ đồng liên kết

Trang 33

+ Nếu giá trị của thống kê F nằm giữa hai đường bao thì không thể đưa ra được kết luận

3.2.2.3 Mô hình hiệu chỉnh sai số

Bước thứ ba, mô hình hiệu chỉnh sai số được dùng để đo lường mối quan hệ

năng động trong ngắn hạn giữa các biến Phương trình tổng quát có dạng như sau:

Số hạng hiệu chỉnh sai số $ (%) thể hiện tốc độ điều chỉnh để trở về

trạng thái cân bằng sau một cú sốc ngắn hạn, dấu của hệ số điều chỉnh sai số ECM

phải âm và có ý nghĩa thống kê Các kiểm định bổ sung được thực hiện để củng cố tính thích hợp của mô hình ARDL, bao gồm tự tương quan và phương sai sai số thay đổi

3.2.2.4 Kiểm định nhân quả Granger

Tác giả tiếp tục xem xét tác động nhân quả giữa các biến số trong mô hình thông qua kiểm định Toda Yamamoto

Toda và Yamamoto (1995) đề xuất phương pháp xác định mối quan hệ nhân

quả dựa trên kiểm định Wald hiệu chỉnh (MWALD) Phương pháp này có thể khắc

phục được các khuyết điểm của phương pháp nhân quả Granger truyền thống, chẳng

hạn như vấn đề lựa chọn độ trễ (Guajarati, 1995) cũng như vấn đề hồi quy giả mạo (Huang và cộng sự, 2008)

Phương pháp kiểm định Toda Yamamoto sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy (VAR), trong đó các biến số là bậc nhất sẽ giúp giảm thiểu rủi ro do việc xác định sai bậc liên kết của chuỗi dữ liệu (Mavrotas và Kelly, 2001) Xét mô hình VAR cho

ba biến số GPt, Mt và DCt

GP#= a+  a)

* )

M#)+  a2)

+,-.

/*0

M#)

Trang 34

+  a3)

* )

GP#)+  b2)

+,-.

/*0

GP#)+  a3)

* )

GP#)+  :2)

+,-.

/*0

GP#)+  c3)

* )

Xét phương trình (6), Mt tác động nhân quả Granger lên GPt hay Mt  GPt

nếu a3i≠ 0 với mọi i

2 Robustness check: Phương pháp đo lường

khác của phát triển tài chính

GP, MC, DC

Mô hình 2 cũng được thực hiện tuần tự các bước kiểm định và phân tích như

mô hình 1 cho trường hợp ở Việt Nam Sau đó, tác giả sẽ so sánh kết quả từ mô hình 1 và mô hình 2 để xác định kết quả tin cậy

Trang 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thống kê mô tả

Phương pháp này được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập nhằm có cái nhìn tổng quát nhất về mẫu nghiên cứu Bảng 4.1 cho thấy kết

quả thống kê mô tả các biến ở Việt Nam trong giai đoạn từ quý 1 năm 2005 đến quý

4 năm 2017 Kết quả thống kê mô tả cho các biến ở Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan được trình bày trong phần Phụ lục

Bảng 4.1: Thống kê mô tả dữ liệu các biến ở Việt Nam

Nguồn: kết quả tính toán của tác giả từ Eviews 10

Trong giai đoạn này, các quốc gia trong mẫu có tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người trung bình hàng quý khoảng từ 0,85% đến 9,62% Thấp nhất là

ở Việt Nam vào quý 1 năm 2008: -55,3%, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh

tế đến từ nước Mỹ, tiềm ẩn từ năm 2007 và bùng phát vào năm 2008, đã lan sang các nước trên thế giới Cuộc khủng hoảng xảy ra trong điều kiện Việt Nam mới gia

nhập WTO từ đầu năm 2007 Nhờ vào sự linh hoạt ứng phó, áp dụng các biện pháp phù hợp, đưa ra các giải pháp xử lý kịp thời, nên Việt Nam đã không bị rơi vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế thế giới, đã đạt được những kết

quả tích cực từ giữa năm 2009 đến nay Tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người cao nhất là ở Việt Nam vào quý 4 năm 2012 là 76,7%

Trang 36

Đối với chỉ số đại diện cho phát triển tài chính: tỷ lệ cung tiền M2/GDP trung bình khoảng từ 149% đến 511%, trong đó tỷ lệ cao nhất thuộc về Việt Nam trong quý 1 năm 2017 là 755% Tỷ số này của Việt Nam có xu hướng tăng lên từ

mức 314% vào quý 1 năm 2005 đến 463% vào quý 4 năm 2017, đạt mức cao nhất vào quý 1 năm 2017 ở mức 755%, cùng xu hướng với các nước trong khu vực So

với các quốc gia trong mẫu nghiên cứu, độ sâu tài chính của Việt Nam ở mức cao,

tương đồng với các nước Malaysia, Thái Lan, cao hơn hẳn so với các nước Indonesia và Philippines

Tỷ lệ tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng/GDP cao nhất là 624% cũng ở Việt Nam quý 1 năm 2017 Tỷ lệ này của Việt Nam đã tăng lên đáng kể tính từ quý 1 năm 2005, 277% đến 390% quý 4 năm 2017

Việt Nam nằm ở nhóm các nước có tỷ lệ vốn tín dụng ngân hàng trên GDP cao cùng với các nước Malaysia, Thái Lan, gấp đôi so với các nước còn lại Điều này có

thể đến từ lý do: năm 2017, NHNN Việt Nam đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín

dụng từ mức 18% lên 21% Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng, NHNN cần có sự

thận trọng trong điều hành cung tiền M2, bởi vì khi phần tăng thêm của tăng trưởng tín dụng thấp hơn phần tăng thêm của M2 sẽ dẫn đến rủi ro lạm phát Tỷ lệ cung

tiền M2/GDP của Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực, cho thấy Việt Nam đang kém hiệu quả về tác động của cung tiền đối với tăng

Nguồn: kết quả tính toán của tác giả từ Eviews 10

Bảng 4.2 cho thấy một cái nhìn sơ lược về mối tương quan giữa các biến trong mô hình ở Việt Nam Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ nghịch với hai thước đo

Trang 37

tài chính Hệ số tương quan giữa hai biến số tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đều mang dấu âm, nghĩa là trái với kỳ vọng ban đầu rằng phát triển tài chính

sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, đây mới chỉ là quan sát thống kê ban đầu, kết quả của phân tích định lượng sẽ được thảo luận ở phần tiếp theo

4.2 Kiểm định tính dừng

Bước đầu tiên cần phải kiểm định tính dừng để xác định các biến số chỉ dừng

tại I(0) hoặc I(1) để đảm bảo kiểm định đường bao Tác giả thực hiện kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình bằng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị Dickey-Fuller mở rộng (augmented Dickey-Fuller test) với giả thiết H0: chuỗi thời gian có nghiệm đơn vị (chuỗi thời gian không dừng) và giả thiết H1: chuỗi thời gian không có nghiệm đơn vị (chuỗi thời gian dừng) Kết quả kiểm định được trình bày trong bảng 4.3:

M -1,78 -5,14*** I(1)

DC -0,75 -2,86* I(1) Philippines GP -2,99** I(0)

M 0,73 -4,09*** I(1)

DC 1,92 -3,12** I(1) Thailand GP -6,56*** I(0)

M -1,45 -8,21*** I(1)

DC -1,15 -2,78* I(1) Vietnam GP -3,38** I(0)

M -0,40 -3,17** I(1)

Trang 38

DC -1,24 -2,99** I(1)

Ghi chú: các dấu *, **, *** cho biết ý nghĩa thống kê ở các mức 10%,

5%, 1%

Nguồn: kết quả tính toán của tác giả từ Eviews 10

Theo bảng kết quả 4.5 nhận thấy, biến tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người đã dừng ở chuỗi dữ liệu gốc Tuy nhiên, hai biến đại diện cho phát triển tài chính là tỷ lệ cung tiền M2/GDP và tỷ lệ tín dụng trong nước tới khu vực tư nhân được cung cấp bởi ngân hàng/GDP không dừng ở chuỗi dữ liệu gốc mà dừng

ở chuỗi sai phân cấp 1

4.3 Chọn độ trễ tối ưu cho các biến trong mô hình

Tiếp đó, tác giả thực hiện chọn độ trễ cho các biến trong mô hình bằng cách ứng dụng mô hình tự hồi quy vector không hạn chế (unrestricted VAR) Mô hình VAR sẽ tự động lựa chọn độ trễ tối ưu dựa trên một số tiêu chuẩn: tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC), tiêu chuẩn thông tin Schwarz (SC) và tiêu chuẩn thông tin Hannan-Quinn…

Bài nghiên cứu này dựa tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC) để lựa chọn độ trễ

tối ưu cho mô hình Cụ thể, độ trễ k được lựa chọn sao cho giá trị AIC nhỏ nhất

Bảng 4.4 thống kê lại kết quả lựa chọn độ trễ tốt nhất:

Nguồn: kết quả tính toán của tác giả từ Eviews 10

Như vậy, dựa theo các tiêu chí AIC, ta có thể thấy độ trễ tối ưu của các biến trong mô hình là 3 quý

Trang 39

4.4 Kiểm định đồng liên kết và mối quan hệ dài hạn

Sau khi xác định được độ trễ tối ưu, tác giả tiến hành ước lượng mô hình

hiệu chỉnh sai số không giới hạn (unrestricted ECM) với độ trễ đã chọn Kết quả ghi

nhận ở Việt Nam như sau:

Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số không giới hạn, trường hợp Việt Nam

Biến số Hệ số Độ lệch chuẩn Thống kê t Xác suất

R-squared 0.989461 Mean dependent var -0.005477

Adjusted R-squared 0.985848 S.D dependent var 0.689332

S.E of regression 0.082006 Akaike info criterion -1.938243

Sum squared resid 0.235373 Schwarz criterion -1.431459

Log likelihood 59.51782 Hannan-Quinn criter -1.746728

Kiểm định tự tương quan

Breusch-Godfrey Serial Correlation LM Test:

F-statistic 1.388878 Prob F(3,32) 0.2640

Obs*R-squared 5.529916 Prob Chi-Square(3) 0.1369

Kiểm định phương sai sai số thay đổi

Breusch-Godfrey Serial Correlation LM Test:

F-statistic 1.388878 Prob F(3,32) 0.2640

Obs*R-squared 5.529916 Prob Chi-Square(3) 0.1369

Nguồn: kết quả tính toán của tác giả từ Eviews 10

Trang 40

Dựa trên kết quả hồi quy bảng 4.5 ta thấy, giá trị R2 và R2 hiệu chỉnh đều là 0,98 Đồng thời giá trị thống kê F của các kiểm định tự tương quan và phương sai sai số thay đổi đều có giá trị xác suất lớn hơn mức ý nghĩa 1% Do đó, mô hình ước

lượng trên là phù hợp và sẽ được dùng để kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa các

biến số trong bài

Vì các chuỗi thời gian trong mô hình là hỗn hợp chuỗi gốc và chuỗi dừng

bậc 1, nên cần phải kiểm định mối quan hệ đồng liên kết giữa các chuỗi này Tác

giả sử dụng phương pháp Bounds Test thông qua hai giả thiết: H0: là giữa các biến

hỗn hợp I(0) và I(1) không có mối quan hệ đồng liên kết và giả thiết H1: là có mối quan hệ đồng liên kết

Kết quả kiểm định của Việt Nam thể hiện trong bảng 4.6:

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định đồng liên kết, trường hợp Việt Nam

2 7,43* 3,17 4,14 3,79 4,85 4,41 5,52 5,15 6,36

Nguồn: kết quả tính toán của tác giả từ Eviews 10

Ghi chú: dấu * bác bỏ giả thuyết H0 về việc không tồn tại mối quan hệ đồng

liên kết giữa các biến số tại mức ý nghĩa 1%

Kết quả kiểm định đường bao ở Việt Nam cho thấy giá trị thống kê F lớn hơn giá trị giới hạn của đường bao trên ứng với mức ý nghĩa 1% Như vậy có thể bác bỏ

giả thiết H0, chấp nhận giả thiết H1: tồn tại mối quan hệ đồng liên kết, hay nói cách khác là tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình ở Việt Nam

Kết quả kiểm định đồng liên kết cho các biến trong mô hình của các nước còn lại được trình bày trong phần phục lục Bảng 4.7 thống kê lại kết quả kiểm định Bounds như sau:

Ngày đăng: 01/09/2020, 15:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm