DNVVN được ưu tiên phát triển trong một ngành có lợi thế cho sự phát triển kinh tế như: các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thay thế hàng nhập khẩu, có tính cạnh tranh cao, sản xuất
Trang 1GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỚI DNVVN TẠI
TECHCOMBANK.
3.1 Định hướng cho vay đối với DNVVN tại Techcombank
3.1.1 Định hướng phát triển DNVVN ở nước ta.
Các chuyên gia kinh tế đã nhận định rằng DNVVN có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia nói chung, đặc biệt là với những nước có nền kinh tế phát triển như Việt Nam nói riêng Lực lượng các DNVVN vừa khai thác được tiềm năng vốn có trong dân, mở rộng ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giúp xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội lại vừa giúp tăng ngân sách nhà nước Chính vì vậy, từ năm 1986 khi Nhà nước chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần cho đến nay việc phát triển DNVVN luôn là vấn đề được Nhà nước quan tâm Và Nhà nước coi đó là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế WTO thì vấn đề cạnh tranh của DNVVN là vấn đề thực sự cấp bách, cần được sự quan tâm nhiều hơn của Nhà nước và Chính Phủ
Trong những năm trở lại đây Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, tạo hành lang pháp lý cho các DNVVN hoạt động Đó là một số văn bản như Luật DN, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật thuế thu nhập DN… DNVVN được hưởng một số ưu đãi theo những Luật này như sau:
Theo Luật khuyến khích đầu tư: “DNVVN được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất với mức từ miễn tiền thuê đất trong 3 năm đến miễn tiền thuê đất trong suốt thời gian thực hiện dự án.”
Theo Luật thuế thu nhập DN: “ Các DNVVN được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập DN từ miễn thuế thu nhập DN trong 2 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhập DN phải nộp trong 2 năm tiếp theo đến miễn thuế thu nhập DN trong 4 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và
Trang 2giảm 50% số thuế thu nhập DN phải nộp trong 9 năm tiếp theo tuỳ ngành nghề, địa bàn đầu tư và số lượng lao động sử dụng “
Ngoài ra các DNVVN còn được ưu đãi miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nhập khẩu
DNVVN được ưu tiên phát triển trong một ngành có lợi thế cho sự phát triển kinh tế như: các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thay thế hàng nhập khẩu,
có tính cạnh tranh cao, sản xuất nguyên liệu đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho các DN lớn…
Bên cạnh những văn bản pháp luật thể hiện sự ưu đãi của Nhà nước với DNVVN thì Chính Phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động cho vay DNVVN như: Nghị định số 178/199/NĐ-CP về đảm bảo tiền vay của tổ chức tín dụng và đã được sửa đổi bằng Nghị định số 85/2002/NĐ-CP, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN Theo quy định tại Nghị định về trợ giúp phát triển DNVVN, Chính Phủ đã chỉ đạo chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN tiếp cận thông tin về thị trường, giá cả hàng hoá; trợ giúp các DNVVN mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm
Để hỗ trợ vốn cho các DNVVN, Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/2/2001 về quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng DNVVN DNVVN có dự án đầ tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả vốn vay; có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật tối thiểu bằng 30% giá trị khoản vay; không có các khoản nợ thuế, nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức kinh tế khác sẽ được Quỹ bảo lãnh tín dụng các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương cấp bảo lãnh tín dụng tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng tại tổ chức tín dụng
Ngoài những quy định của Nhà nước và Chính Phủ thì cơ quan có tác động trực tiếp đến hệ thống NHTM là NHNN cũng đã ban hành một loạt các văn bản qui
Trang 3định hoạt động cho vay đối với các DN trong đó có DNVVN bao gồm: Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Quyết định này đã được sửa đổi bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN và Quyết định số 783/2005/QĐ-127/2005/QĐ-NHNN; Quyết định số 992/2001/QĐ-NHNN về mức cho vay không có bảo đảm của NHTM Cổ phần và Ngân hàng liên doanh; Quyết định số 993/2001/QĐ-NHNN về mức cho vay không có bảo đảm của NHTM Nhà nước, Quyết định 456/2002/QĐ-NHNN về cơ chế lãi suất thoả thuận…
Quyết định 456 về cơ chế lãi suất thoả thuận đã cho phép các NHTM tự quyết định mức lãi suất cho vay trên cơ sở tự thoả thuận với khách hàng theo quy định của NHNN Đây là một quyết định khá quan trọng, giúp các ngân hàng chủ động hơn trong việc cho vay, chủ động trong việc xây dựng chính sách lãi suất hợp lí với nhiều đối tượng DN trong đó có DNVVN, từ đó có thể mở rộng cho vay đối với DNVVN
Ngoài ra NHNN còn ban hành chỉ thị 03/CT-NHNN ngày 21/5/2003 trong đó yêu cầu các tổ chức tín dụng tạo mọi điều kiện cho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Những văn bản qui phạm pháp luật được Nhà nước, Chính Phủ và NHNN ban hành ra cho thấy một điều DNVVN ngày càng được chú trọng phát triển Để có thể phát triển hiệu quả thì DNVVN cần một hành lang pháp lý qui định cho những hoạt động của mình Định hướng phát triển DNVVN trong giai đoạn tới cũng là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam phải hội nhập đầy đủ với nền kinh tế thế giới, do đó DNVVN phải thực hiện đổi mới mạnh mẽ, toàn diện từ cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ, đến trình độ cán bộ quản lý và nhân viên
3.1.2 Định hướng mở rộng hoạt động cho vay với DNVVN tại Techcombank
Mục tiêu của Techcombank đến năm 2010 là thuộc nhóm ngân hàng đô thị hàng đầu về độ tin cậy, chất lượng và hiệu quả Để đạt được mục tiêu đề ra
Trang 4Techcombank đã có những kế hoạch, định hướng cụ thể trong thời gian tới Định hướng đối với hoạt động tín dụng nói chung trong đó có định hướng tín dụng đối với DNVVN là một phần rất quan trọng trong định hướng chung của ngân hàng Định hướng hoạt động tín dụng được TGĐ ban hành trong từng giai đoạn trên cơ sở chiến lược kinh doanh chung của Techcombank và được thể hiện bằng các mục tiêu cụ thể cho phù hợp với tình hình thị trường và tình hình hoạt động thực tế của Techcombank Trong giai đoạn 2005-2010, các nội dung chính trong định hướng phát triển kinh doanh của Ngân hàng gồm:
* Sản phẩm hiện tại, thị trường hiện tại
Tiếp tục đẩy mạnh việc phát triển khách hàng tại các khu vực thị trường mục tiêu hiện tại của Ngân hàng thông qua việc tiếp thị các sản phẩm hiện có
- Đối với tín dụng tiêu dùng
Tiếp tục phát triển các nhóm khách hàng dân cư tại các đô thị, đặc biệt là nhóm khách hàng có thu nhập từ trung bình trở lên, trẻ tuổi và thành đạt
Thúc đẩy việc bán các sản phẩm tín dụng tiêu dùng hiện có, trong đó chú trọng đặc biệt vào các sản phẩm thẻ và tài trợ mua nhà và nua ô tô trả góp
- Đối với tín dụng đầu tư cá nhân
Phát triển các nhóm khách hàng dân cư tại các đô thị lớn, đặc biệt là nhóm khách hàng có thu nhập cao, trẻ tuổi và thành đạt
Thúc đẩy việc cho vay đầu tư chứng khoán niêm yết và cổ phần của các DN cổ phần hoá
- Đối với tín dụng hộ cá thể
Phát triển các nhóm khách hàng là các hộ kinh doanh cá thể tại các đô thị
lớn, đặc biệt là nhóm khách hàng có hoạt động ổn định, kinh nghiệm kinh doanh lâu đời
Thúc đẩy việc cho vay bằng sản phẩm ứng tiền nhanh
- Đối với tín dụng doanh nghiệp
Phát triển các nhóm khách hàng hoạt động trong các ngành nghề có tiềm năng phát triển tốt Trong đó đặc biệt chú trọng đến:
Trang 5• Các DN tư nhân vừa và nhỏ có hoạt động xuất nhập khẩu
• Các DN tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các khu Công nghiệp
• Các tổng công ty 90, 91 và các công ty tài chính trực thuộc các tổng công ty này
• Các DN nhà nước nhỏ và vừa đã thực hiện cổ phần hoá
• Các DN nhỏ và vừa hoạt động hiệu quả có tổng doanh thu từ 0,5 đến 100 tỷ, vốn chủ sở hữu nhỏ hơn hoặc bằng 30 tỷ
Thúc đẩy việc cung cấp tín dụng để tài trợ xuất nhập khẩu, các hoạt động sản xuất, chế biến tạo giá trị gia tăng lớn thông qua các sản phẩm tín dụng hiện có như: tín dụng vốn lưu động theo món hoặc theo hạn mức, thấu chi DN và các hình thức cấp tín dụng trung dài hạn
* Sản phẩm hiện tại, thị trường mới
Mở rộng thị trường hoạt động thông qua việc mở rộng mạng lưới hoạt động của Ngân hàng tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước trong đó chú trọng vào các thành phố lớn và các vùng phụ cận
* Hoàn thiện và mở rộng tuyến sản phẩm hiện tại
Hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ và quy trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ hiện
có thông qua việc tăng cường ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin nhằm đơn giản hoá thủ tục xử lý công việc, từ đó đáp ứng một cách nhanh nhất yêu cầu của khách hàng
Tiếp tục mở rộng tuyến sản phẩm hiện có nhằm củng cố vị trí của Ngân hàng trong các thị trường mục tiêu hiện tại, đáp ứng tốt hơn với điều kiện cạnh tranh trên thị trường và tạo điều kiện để Ngân hàng mở rộng thị trường mục tiêu
* Tăng cường đào tạo
Tăng cường đào taộ chuyên viên khách hàng và các cá nhân tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ để bồi dưỡng kỹ năng tiếp thị, bán hàng, các kiến thức liên quan đến các sản phẩm/dịch vụ hiện có và các sản phẩm/dịch vụ mới
Trang 6Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý trung gian nhằm nâng cấp các kỹ năng lập kế hoạch phát triển kinh doanh, đánh giá và phân tích tính cạnh tranh, quản trị rủi ro và quản trị nhân sự
Định hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng cho thấy trong giai đoạn tới Techcombank vẫn đặc biệt chú trọng đến các DNVVN, thúc đẩy cấp tín dụng cho DNVVN thông qua các sản phẩm tín dụng đa dạng Khi ngân hàng mở rộng thị trường, đưa sản phẩm của mình ra thị trường mới cũng sẽ thu hút thêm nhiều DNVVN đến vay vốn ngân hàng hay việc hoàn thiện sản phẩm, mang đến nhiều tiện ích cho cả khách hàng và ngân hàng cũng giúp cho Techcombank mở rộng thị phần đối với các DNVVN
3.2 Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay với DNVVN tại Techcombank 3.2.1 Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng.
Marketing ngân hàng là hoạt động nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng về chất lượng, chủng loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đồng thời có các biện pháp kích cầu để khách hàng sử dụng sản phẩm ngân hàng nhiều hơn Marketing ngân hàng không chỉ tác động vào môi trường vật chất mà còn tác động cả vào môi trường tinh thần của con người Hoạt động này luôn phải nhanh chóng thay đổi theo sự thay đổi của thị trường và đảm bảo được mục tiêu cuối cùng là tăng khả năng sinh lợi, tăng sức mạnh trong cạnh tranh, an toàn trong kinh doanh Có thể nói đây là mục tiêu mà tất cả các ngân hàng nói chung
và Techcombank nói riêng đều hướng tới
Trong định hướng phát triển thời gian tới, Techcombank đã chú trọng đặc biệt đến đối tượng khách hàng là DNVVN, vì vậy hoạt động Marketing cũng cần tập trung vào đối tượng này
Để có thể thực hiện tốt hoạt động Marketing thì ban đầu phải xác định được những loại sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cung ứng cho DNVVN, ví dụ như Techcombank cung cấp các sản phẩm về thấu chi DN, cho vay vốn lưư động, cho vay trung-dài hạn Những loại sản phẩm, dịch vụ này được xác định thông qua hình thức nghiên cứu thị trường: từ việc nghiên cứu tập tính, thói quen, nhu
Trang 7cầu, đặc điểm của các DNVVN, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của DNVVN như môi trường kinh tế, văn hoá, môi trường tự nhiên đến khả năng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng mình và của các ngân hàng khác Từ đó ngân hàng sẽ tìm hiểu được từng loại sản phẩm phù hợp với từng loại hình DNVVN hoặc phù họp trong từng thời kì Đối với từng loại sản phẩm ngân hàng sẽ phải xây dựng chính sách lãi suất và chính sách cung ứng sản phẩm đến người tiêu dùng- DNVVN
Marketing ngân hàng còn phải thể hiện tính sáng tạo nhất là trong việc tuyên truyền quảng cáo về sản phẩm, đưa các sản phẩm và dịch vụ đến với DNVVN Thường chỉ những DNBVVN ở những thành phố lớn mới có những hiểu biết nhất định và hiểu rõ hơn về sản phẩm và dịch vụ ngân hàng mà mình sử dụng Những điều này đối với DNVVN ở các vùng xa thì khó khăn hơn do điều kiện cập nhật thông tin khó hơn Vì vậy Marketing ngân hàng vừa tạo ra tính độc đáo, khác lạ của ngân hàng lại vừa tạo ra sự tin tưởng, an toàn về ngân hàng mình Hơn thế nữa, Marketing ngân hàng còn cần đưa sản phẩm đến DNVVN ở tất cả những nơi Techcombank mở chi nhánh, tuyên truyền cho DNVVN hiểu
về ngân hàng mình, về các sản phẩm và dịch vụ mà DNVVN có thể sử dụng Như vậy cho vay với DNVVN sẽ được mở rộng hơn
3.2.2 Cải tiến quy trình cho vay đối với các DNVVN.
Một khó khăn đối với các DNVVN ở nước ta hiện nay khi vay vốn ngân hàng là thủ tục rườm rà, phức tạp, nhiều DN vay vốn không hiểu rõ được quy trình cho vay, chính vì thế mà các DN cũng khó tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, Techcombank không chỉ cần một mức lãi suất có thể cạnh tranh với các ngân hàng hay tổ chức tài chính khác mà còn cần cung cấp cho khách hàng nói chung, các DNVVN nói riêng một cách tốt nhất về những sản phẩm, dịch vụ của Techcombank Vừa để tạo thuận lợi cho DVVVN
có thể vay vốn nhiều hơn, vừa để tăng thu lãi từ hoạt động cho vay của ngân hàng thì Techcombank cần cải tiến quy trình cho vay phù hợp hơn với đặc điểm DNVVN
Trang 8Các bước trong quy trình nên đơn giản, dế hiểu để tránh tình trạng DN vay vốn hiểu sai, vận dụng sai Thủ tục vay vốn cũng nên được điều chỉnh không quá phức tạp, hạn chế một cách thấp nhất thời gian chờ đợi của khách hàng Ví dụ như với những khoản chi nhánh ngân hàng cho vay mà phải trình duyệt lên Hội
sở hay những khoản cho vay Hội sở cần thẩm định lại thì nên thực hiện một cách nhanh nhất để tiết kiệm thời gian cho khách hàng
Dựa vào những thông tin thu thập được từ phòng Marketing ngân hàng để nắm được nhu cầu thực tế, cùng với những văn bản liên quan đến quy chế cho vay của ngân hàng đưa ra những điều chỉnh hợp lí, kịp thời trong quy trình tín dụng Việc đổi mới quy trình còn cần cả sự kết hợp của công nghệ hiện đại, trình độ nhân viên để hướng dẫn, tư vấn cho khách hàng lập hồ sơ vay vốn chính xác, tránh sai sót làm mất thời gian của cả hai bên
3.2.3 Đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ với DNVVN
Số lượng các DNVVN chiếm khoảng 97% trên tổng số DN trong cả nước, tham gia vào rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh khác nhau Mỗi lĩnh vực kinh doanh lại có những đặc điểm khác nhau như khác nhau về chu kì sản xuất, về tính thời vụ, về thị trường sản phẩm, thời gian thu hồi vốn…Vì vậy nhu cầu về vốn của DNVVN không chỉ là rất lớn mà nhu cầu còn khác nhau tuỳ theo từng DNVV Các sản phẩm cho vay của ngân hàng vì thế mà cũng cần đa dạng hơn Các sản phẩm và dịch vụ Techcombank phục vụ cho đối tượng là khách hàng
DN cũng có nhiều loại khác nhau Tuy nhiên để đáp ứng hơn nữa nhu cầu vay vốn của DN đồng thời mở rộng hoạt động cho vay của mình thì Techcombank nên nghiên cứu và đưa ra thêm một số sản phẩm nữa Bằng việc nghiên cứu thị trường mà ngân hàng có thể hướng tới những DN thuộc ngành nghề nào hay có quy mô vốn như thế nào, có tiềm năng phát triển trong lĩnh vực nào… Các sản phẩm cho vay đơn điệu cũng gây khó khăn cho DN khi sử dụng hình thức vay vốn không phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, còn ngân hàng thì gặp khó khăn khi quản lý tiền vay Do vậy việc đa dạng các sản phẩm cho vay cũng góp phần giảm bớt rủi ro cho ngân hàng
Trang 93.2.4 Chính sách khách hàng
Ngân hàng đóng vai trò thủ quỹ của nền kinh tế, đối tượng đến giao dịch với ngân hàng gồm cả cá nhân, DN và các tổ chức tài chính Vì khối lượng khách hàng nhiều và đa dạng như vậy nên ngân hàng cùng một lúc không thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của tất cả khách hàng Trong từng giai đoạn, Techcombank phải xác định đúng đối tượng khách hàng mà mình hướng tới, đặc biệt trong hoạt động tín dụng thì việc này vô cùng quan trọng
Khi đã xác định đúng đối tượng khách hàng là các DNVVN thì ngân hàng phải tăng cường các hoạt động tuyên truyền, quảng bá về sản phẩm, giúp khách hàng hiều rõ sản phẩm, những tiện ích mà sản phẩm mang lại để có sự lựa chọn đúng đắn cho DN mình Ngân hàng còn phải đi thực tế xuống từng DN vay vốn Đi thực tế giúp cho cán bộ tín dụng nắm được tình hình làm ăn kinh doanh, kết hợp với cả những báo cáo tài chính của DN mà ngân hàng quyết định việc cho vay với DN
Ngoài ra ngân hàng nên có một chính sách lãi suất ưu đãi với DNVVN Lãi suất
là giá cả của khoản vay, lãi suất cao sẽ làm cho chi phí vốn lớn, làm giảm lợi nhuận của DN nhưng nếu lãi suất thấp sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Lãi suất của ngân hàng còn phải theo khung của NHNN, vì vậy lãi suất ưu đãi đối với DNVVN nhưng cũng phải hợp lí và linh hoạt
Thông thường mức lãi suất áp dụng với các DN quốc doanh thường cao hơn với những DN ngoài quốc doanh do tâm lý nhiều ngân nghĩ rằng DN quốc doanh rủi ro thấp hơn Tuy nhiên đối với một số DN có tình hình làm ăn tốt, ngành nghề kinh doanh triển vọng, kế hoạch kinh doanh khả thi, quan hệ lâu dài với ngân hàng thì khả năng xảy ra rủi ro sẽ thấp hơn, như vậy có thể cho những DN này vay với lãi suất ưu đãi Vay với lãi suất thấp sẽ làm tăng lợi nhuận của DN nên sẽ thu hút được nhiều DN đến vay vốn ngân hàng Hơn nữa, trong một số dịp mang tính chất kỉ niệm nội bộ ngân hàng có thể đưa ra một số hình thức ưu đãi ngắn hạn cho DNVVN, như vậy vừa tăng thêm hình ảnh ngân hàng, vừa mở
Trang 10rộng được cho vay.
3.2.5 Đào tạo trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng
Trong mọi hoạt động, lĩnh vực, ngành nghề kỹ năng con người luôn là một yếu
tố rất quan trọng Đặc biệt đối ngành dịch vụ như ngân hàng thì kỹ năng con người lại càng quan trọng Các chuyên viên khách hàng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng , hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ, thẩm định khách hàng, theo dõi, giám sát khách hàng… nên hình ảnh của ngân hàng đến với khách hàng cũng phụ thuộc không nhỏ vào các cán bộ ngân hàng Những cán bộ ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, làm nghiệp vụ thì trình độ của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngân hàng Vì vậy trong bất cứ thời kỳ nào trình độ cán bộ ngân hàng cũng phải được chú trọng đào tạo Ngân hàng nên thường xuyên tổ chức một số lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn để nâng cao trình độ cho các cán bộ Ngoài việc đào tạo về trình độ nghiệp vụ ngân hàng cũng nên đào tạo về tin học, ngoại ngữ, hướng dẫn cách sử dụng các phần mềm máy tính
Thêm vào đó, ngân hàng cần có những chính sách về lương , thưởng, phụ cấp, bảo hiểm… đối với cán bộ ngân hàng, giúp cho họ yên tâm và thoải mái hơn khi công tác, gắn lợi ích của bản thân họ với lợi ích của ngân hàng