1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu tại tỉnh Tây Ninh

132 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Tình hình xuất khẩu chuối trên thế giới 22 Bảng 2.2 Bảng phân tích tỷ lệ chi phí sản xuất chuối % 29 Bảng 2.5 Thang độ Độ linh hoạt của chuỗi cung ứng 33 Bảng

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐINH THỊ THU OANH

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 3

Đinh Thị Thu Oanh hướng dẫn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Phạm Minh Trí

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài 4

1.6 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6

2.1 Cơ sở lý thuyết 6

2.1.1 Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 6

2.1.1.1 Chuỗi cung ứng 6

2.1.1.2 Quản trị chuỗi cung ứng 7

2.1.1.3 Các thành phần cơ bản trong cấu trúc chuỗi cung ứng 8

2.1.2 Đánh giá kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng 10

2.1.2.1 Tổng quan về đánh giá kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng 10

2.1.2.2 Sự cần thiết của việc đánh giá chuỗi cung ứng 10

2.1.2.3 Đạt lợi thế cạnh tranh 11

2.1.3 Các mô hình nghiên cứu trước đây 11

2.1.3.1 Mô hình nghiên cứu của Ernita Obeth (2016) 11

Trang 5

2.1.3.2 Mô hình nhân tố của Henry và cộng sự (2012) 13

2.1.3.3 Mô hình nghiên cứu của Nabila và cộng sự (2013) 14

2.1.3.4 Mô hình nghiên cứu của Ramayah và cộng sự (2008) 15

2.1.3.5 Mô hình nghiên cứu của Robert và Christian (2002) 16

2.1.3.6 Mô hình nghiên cứu của Sunil và cộng sự (2008) 17

2.2 Cơ sở thực tiễn về chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu 19

2.2.1 Đặc thù chuỗi cung ứng nông sản tươi 19

- Đặc điểm về tính mùa vụ và bảo quản 19

- Đặc điểm về tác động của thời tiết, bệnh dịch và an toàn thực phẩm 20

- Đặc điểm về tổ chức sản xuất nông nghiệp 21

2.2.1.1 Đặc điểm về chế biến và lưu giữ sản phẩm 21

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối ở Việt Nam và trên thế giới 22

2.2.2.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng chuối 22

2.2.3 Chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu 24

Hình 2.5 Các giai đoạn sản xuất và phân phối chuối 24

Hình 2.6 Chuỗi cung ứng chuối truyền thống 25

2.2.3.1 Đặc điểm của từng thành phần 26

2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu 29

2.3.1 Phân tích các nhân tố tác động đến chuỗi cung ứng chuối tươi trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 29

- Chi phí sản xuất 29

- Quản trị chất lượng 30

- Độ linh hoạt của chuỗi cung ứng 32

- Mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên 33

- Môi trường bên ngoài 35

- Kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng 36

2.3.2 Các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu 40

Trang 6

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Quy trình nghiên cứu 43

3.2 Thiết kế nghiên cứu 45

3.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu 48

3.4 Thiết kế bảng câu hỏi 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 49

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 50

4.1.1 Đặc trưng của các thành viên trong chuỗi cung ứng được khảo sát 50

4.1.1.1 Đặc trưng của nhà vườn và trang trại trồng chuối 50

4.1.1.2 Đặc trưng của thương lái, nhà đóng gói và công ty xuất khẩu 53

4.2 Phân tích độ tin cậy của các thang đo (Cronbach’s Alpha) 55

4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 58

4.4 Phân tích tương quan – hồi qui 62

4.4.1 Phân tích tương quan 62

4.4.2 Phân tích hồi quy 64

4.4.2.1 Sự phù hợp của mô hình 64

4.4.2.2 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 64

4.4.2.3 Hệ số hồi qui 66

4.4.2.4 Kiểm định các giả thuyết của mô hình 66

4.4.2.5 Kiểm định sự khác biệt 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 69

CHƯƠNG 5: HÀM Ý QUẢN TRỊ 70

5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 70

5.2 Hàm ý quản trị 70

5.2.1 Hàm ý quản trị về nhân tố Mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi 70

5.2.2 Hàm ý quản trị về nhân tố Môi trường bên ngoài 72

Trang 7

5.2.3 Hàm ý quản trị về nhân tố Chi phí sản xuất 73

5.2.4 Hàm ý quản trị về nhân tố Độ linh hoạt của chuỗi cung ứng 73

5.2.5 Hàm ý quản trị về nhân tố Quản trị chất lượng 74

5.2.6 Kiến nghị dành cho chính phủ 75

5.3 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 75

KẾT LUẬN 77

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Số thứ tự Viết tắt Nội dung

1 ANOVA Analysis of variance (Phân tích phương sai)

2 CCU Chuỗi cung ứng

3 EFA Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá)

4 FAO Food and Agriculture Organization

5 GAP Good Agricultural Practice (Thực hành sản xuất nông

nghiệp tốt)

6 HACCP Hazard Analysis and Critical Control Points (Phân tích mối

nguy và điểm kiểm soát tới hạn)

7 ISO International Organization for Standardization (Tổ chức

tiêu chuẩn hóa quốc tế)

8 MAP Modified Atmosphere Packaging ( Đóng gói môi trường

biến đổi)

9 SCC Supply Chain Council (Hội đồng Chuỗi cung ứng)

10 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình xuất khẩu chuối trên thế giới 22 Bảng 2.2 Bảng phân tích tỷ lệ chi phí sản xuất chuối (%) 29

Bảng 2.5 Thang độ Độ linh hoạt của chuỗi cung ứng 33 Bảng 2.6 Thang độ Mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên 35

Bảng 2.8 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng

Bảng 2.9 Thang đo Kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng 40

Bảng 3.2 Thang đo các thành phần trong nghiên cứu 46 Bảng 3.3 Thước đo kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng 47 Bảng 4.1 Thống kê mô tả tần số đặc trưng của các thành viên trong chuỗi 50 Bảng 4.2 Thống kê mô tả quy mô của nhà vườn và trang trại 52 Bảng 4.3 Thống kê mô tả nguồn cung và tiêu thụ của Nhà vườn/Trang trại 53 Bảng 4.4 Thống kê mô tả đặc trưng của thành phần sản xuất và phân phối chuối

Bảng 4.5 Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha 56 Bảng 4.6 Kết quả phân tích nhân tố khám phá Varimax 60 Bảng 4.7 Kết quả phân tích tương quan Correlations 62

Trang 10

Bảng 4.8 Hệ số xác định R2 64

Bảng 4.12 Bảng kết quả kiểm định Levene, phân tích ANOVA 68

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.2 Các thành phần trong chuỗi cung ứng 8 Hình 2.2 Mô hình giả thuyết nghiên cứu của Ernita Obeth 12 Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Henry và cộng sự 14 Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Nabila và cộng sự 15 Hình 2.5 Các giai đoạn sản xuất và phân phối chuối 24

Hình 2.7 Chuỗi cung ứng chuối xuất khẩu chuối tươi tại Tây Ninh 25

Trang 12

TÓM TẮT NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHUỖI CUNG ỨNG CHUỐI TƯƠI XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH

Nghiên cứu tập trung phân tích các nhân tố, xây dựng và kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu nhằm phân tích hiện trạng hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị đối với các thành phần trong chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu tỉnh Tây Ninh nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của chuỗi, đồng thời phát triển ngành công nghiệp chuối tươi, ổn định chất lượng, giá bán và gia tăng thu nhập của các tác nhân trong chuỗi, đặc biệt là người nông dân Các nhân tố bao gồm: Chi phí sản xuất; Quản trị chất lượng; Tính linh hoạt của chuỗi cung ứng; Mối quan hệ hợp tác giữa các thành phần trong chuỗi và Môi trường bên ngoài

Để làm rõ sự ảnh hưởng của năm nhân tố trên đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính thông qua kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy Dữ liệu định lượng được thu thập từ các thành phần trong chuỗi cung ứng chuối tươi tại tỉnh Tây Ninh (nhà vườn, trang trại trồng chuối, thương lái, nhà đóng gói, công ty xuất khẩu, công ty nhập khẩu) và được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2018

Từ khóa: Chuỗi cung ứng; Chuối tươi; Xuất khẩu; Nông sản

Trang 13

ABSTRACT FACTORS AFFECTING THE OPERATION RESULTS OF FRESH BANANA –

EXPORT SUPPLY CHAIN IN TAY NINH PROVINCE

The purpose of this study is to identify the factors affecting the operation results of fresh banana-export Supply chain in Tay Ninh province to propose management implications for components in the supply chain Recommendations are provided related

to the affecting factors to improve competitive advantage of banana chain, stable quality and price; improve the income of components in the chain, especially for farmers This study found that five factors such as Production; Quality Management; Supply chain agility; Business relationship and External environment that affect banana-export supply

chain performance

A likert scale of five options was used to capture the responses In the analysis, Cronbach’s Alpha and EFA have used to evaluate the reliability and the significance of the study SPSS statistical software was used for the analysis A questionnaire survey was conducted to collect primary data in Tay Ninh Province with the participation of components (farmers, farms, collectors, packing house, exporter) from april to december, 2018

Key words: Supply chain; Fresh banana; Export; Agricultural products

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài

Chuối là một trong những loại trái cây được yêu thích nhất trên toàn thế giới Xuất khẩu chuối tươi toàn cầu đạt 18,1 triệu tấn tăng 6% so với năm 2016 Năm 2017, Việt Nam đã xuất khẩu 28,6 ngàn tấn tăng gần 18 lần so với 10 năm trước (FAO, 2017) Chuối được trồng tập trung tại một số tỉnh Đông Nam Bộ như Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh Tuy nhiên, hiện nay hiện tượng dư thừa nguồn cung chuối , sản phẩm không

có đầu ra tiêu thụ, vẫn diễn ra một cách phức tạp, gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý cũng như gây thiệt hại cho người nông dân, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu chuối Nhìn chung, kỹ thuật canh tác cây chuối còn theo kiểu thủ công, giản đơn, chưa áp dụng các quy trình canh tác đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nên chất lượng trái thấp, chưa tiết kiệm được chi phí tối đa dẫn đến khả năng cạnh tranh của trái chuối còn thấp; nông dân chưa liên kết với nhau để thành lập các hợp tác

xã nhằm bảo vệ lợi ích mình khi giá và sản lượng chuối trên thị trường biến động; khâu thu hoạch, vận chuyển, bảo quản chuối của thương lái, nhà bán sỉ còn thô sơ dẫn đến tỷ

lệ hao hụt cao, chất lượng trái giảm đáng kể; việc thiếu sự hợp tác, liên kết giữa nhà nông, thương lái, người bán sỉ, doanh nghiệp làm cho thông tin giữa các thành phần không liên tục, dẫn đến hiệu quả hoạt động của mỗi thành phần chưa cao Bên cạnh đó, tỉnh Tây Ninh đang nổi lên là một “đầu tàu” của cả nước về lĩnh vực nông nghiệp với tiềm năng và sự quan tâm của các cấp, ban ngành của tỉnh qua các đề án tái cơ cấu nông nghiệp hướng đến nền nông nghiệp sạch, bền vững Theo đó, những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh đã chuyển đổi cơ cấu theo hướng tập trung, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh gắn với thị trường và công nghiệp chế biến, phát huy thế mạnh của từng vùng gắn với chuyển đổi cây trồng phù hợp với nhu cầu thị trường, giúp tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao giá trị gia tăng Trong đó nổi bật lên là sản phẩm chuối đem lại giá trị tăng thêm từ 3 đến 4 lần so với cây truyền thống

Trang 15

Để góp phần khắc phục những hạn chế trên cùng với sự đồng ý của Giảng viên hướng dẫn Tiến sĩ Đinh Thị Thu Oanh, tác giả chọn đề tài “NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHUỖI CUNG ỨNG CHUỐI TƯƠI XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH” để nghiên cứu nhằm phân tích thêm về thực trạng, hiệu quả hiện tại của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu của tỉnh Tây Ninh, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển, cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng chuối tươi và là cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp đang và sẽ kinh doanh trong ngành chuối Việt Nam, giúp họ có thể tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi toàn cầu hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của luận văn là tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu tại địa bàn Tỉnh Tây Ninh Chính vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào:

 Phân tích thực trạng chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu;

 Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của chúng đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng tại địa bàn nghiên cứu;

 Lập luận và đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn tình hình nghiên cứu nhằm giúp các thành viên trong chuỗi (nhà vườn, thương lái, công ty xuất nhập khẩu) tham khảo và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất kinh doanh;

Để nghiên cứu này giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu, cần phải làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau: (i) Chuỗi cung ứng là gì? Các nhân tố nào có ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu trên địa bàn nghiên cứu? (ii) Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu nào để xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu trên địa bàn nghiên cứu? (iii) Những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu

Trang 16

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

o Các thành phần hoạt động trong chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

o Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu Đối tượng khảo sát của đề tài là các thành viên trong chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu bao gồm nhà vườn, trang trại trồng chuối, thương lái, nhà đóng gói, công ty xuất khẩu

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong thời gian từ tháng 4/2018 đến tháng 12/2018

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định tính: xuất phát từ cơ sở lý thuyết, khung khái niệm, để xây dựng

mô hình từ đó tham khảo ý kiến chuyên gia để điều chỉnh thang đo cho phù hợp với thực tiễn chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu tại địa bàn nghiên cứu

Phương pháp định lượng: tác giả sử dụng phương pháp thu thập mẫu thuận tiện

đối với các đối tượng là nhà vườn, trang trại trồng chuối, thương lái, nhà đóng gói, công

ty xuất khẩu (hiện đang sản xuất và có hoạt động kinh doanh tại địa bàn nghiên cứu) Bảng khảo sát dưới dạng Google form được gửi qua email đáp viên hoặc thông qua bản

in và phỏng vấn trực tiếp với từng đáp viên

Phương pháp và công cụ xử lý thông tin: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để kiểm

định thang đó bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy để cho ra kết quả thống kê, dùng trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu

Trang 17

1.5 Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng ở cấp độ ngành hoặc cấp độ công ty Cụ thể theo Henry và cộng sự (2012) thì quy trình tạo ra giá trị gia tăng trong sản xuất, mối quan hệ trong chuỗi cung ứng, công nghệ thông tin, môi trường không chắc chắn có ảnh hưởng đồng biến đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng Theo Nabila và cộng sự (2013) khi nghiên cứu về chuỗi cung ứng ngành dệt may tại Pakistan chỉ ra rằng các biến kế hoạch, chất lượng, thời gian giao hàng, nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng đến sự hiệu quả của quản trị chuỗi cung ứng Nghiên cứu của đề tài xin được giới thiệu một số công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng chuối nói riêng và chuỗi cung ứng nông sản nói chung của các tác giả sau đây:

- De los Reyes, J.H & Pelepussy, W (2009) nghiên cứu về “Cải cách nông nghiệp trong chuỗi cung chuối Phillipine- CARP”, trong đó tác giả trình bày về tác động của cải cách nông nghiệp đến hoạt động của chuỗi cung chuối ở Phillipine Cụ thể, mục tiêu nghiên cứu là: (i) so sánh hiệu quả kinh tế đối với từng hộ trồng nhỏ sản xuất cho thị trường trong nước với các hộ trồng hợp tác xuất khẩu hợp tác là đối tượng hưởng lợi CARP; (ii) để ước tính hiệu quả tạo thu nhập và tạo việc làm của cả thị trường trong nước và xuất khẩu dọc theo toàn bộ chuỗi; và (iii) đề xuất các biện pháp để cải thiện vị trí của những người trồng nhỏ và những người không phải là người hưởng lợi trong chuỗi chuối

- Nghiên cứu của Ernita Obeth (2016) về “Quản trị mối quan hệ kinh doanh không chắc chắn: Trường hợp Chuỗi cung ứng chuối truyền thống Ấn Độ”, theo đó chuỗi cung ứng chuối ở Indonesia hoạt động trong nền kinh tế phi chính thức, không chắc chắn kèm theo đó là các yếu tố bất ổn đến từ đặc điểm của chuỗi cung ứng nông sản và môi trường bên ngoài Trong việc giải quyết những bất ổn này, chuỗi cung ứng chuối cần phải linh hoạt bằng cách cải thiện sự phối hợp, công nghệ thông tin, tập trung vào khách hàng và thích ứng với biến động của môi trường Những chiến lược này được tạo điều kiện bởi

sự gắn kết của các mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi

Trang 18

1.6 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm 05 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 5: Hàm ý quản trị

Trang 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguyên vật liệu được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng và giao cho khách hàng thông qua hệ thống phân phối, bán lẻ hoặc

cả hai (Beamon, 1999)

Một khái niệm khác về chuỗi cung ứng được phát biểu như sau: “Một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên và liên kết dưới bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch

vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng” (Christopher, 1992)

Như vậy, theo các định nghĩa đã trích dẫn, về cơ bản một chuỗi cung ứng bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm:

- Cung cấp: tập trung vào các hoạt động mua nguyên liệu: nguồn cung và tiến độ cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất

- Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng

- Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể kết luận rằng chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách hàng cuối cùng Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được

Trang 20

hai mục tiêu cơ bản, đó là: tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng; hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống

2.1.1.2 Quản trị chuỗi cung ứng

Dựa theo cách tiếp cận nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã đề cập, để các hoạt động trong chuỗi diễn ra nhịp nhàng và hiệu quả, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng rất cần thiết trong bất kỳ công đoạn nào trong chuỗi Nghiên cứu này trích lược một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng, gồm:

Dựa trên những khái niệm về chuỗi cung ứng, Handfield và Nichols (1999) đã phát biểu: “Quản lý chuỗi cung ứng là sự tích hợp của tất cả các hoạt động sản xuất một sản phẩm, được sử dụng để tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng cách tăng cường mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi”

Theo Mentzer và cộng sự (2001) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược kết hợp trong các chức năng kinh doanh trong phạm vi một doanh nghiệp

cụ thể, xuyên suốt hoạt động kinh doanh trong phạm vi chuỗi cung ứng nhằm cải thiện việc thực hiện mang tính dài hạn của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ chuỗi cung ứng nói chung

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát về quản trị chuỗi cung ứng là tập trung quản lý các mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng

*Tóm lại: Dựa vào việc nghiên cứu một số quan điểm của các chuyên gia về quản trị chuỗi cung ứng cho thấy đây là một phần nội dung không thể thiếu của chuỗi cung ứng Để chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp hay một ngành hiệu quả, bền vững và thể hiện tính liên kết chặt chẽ thì chuỗi cung ứng ấy phải được tổ chức quản lý một cách khoa học, linh hoạt, trong đó điều kiện tối cần thiết là các thành viên trong chuỗi phải liên kết, tương tác, hợp tác chặt chẽ với nhau

Trang 21

Dưới quan điểm tác giả thì quản trị chuỗi cung ứng là một tập hợp giải pháp nhằm tác động đến hoạt động của tất cả các thành viên tham gia chuỗi như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà kho, các công ty cung cấp dịch vụ, và các cửa hàng bán lẻ, … để sản phẩm được sản xuất và phân phối đúng như mong muốn của khách hàng và tổ chức

Hình 1.1 Chuỗi cung ứng đơn giản

(Nguồn: Michael H ,2010)

2.1.1.3 Các thành phần cơ bản trong cấu trúc chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng đơn giản bao gồm một công ty, nhà cung cấp và các khách hàng của công ty đó Những chuỗi cung ứng mở rộng chứa ba nhóm thành viên: nhà cung cấp trong giai đoạn cuối ở đầu chuỗi, khách hàng cuối cùng nhất trong giai đoạn cuối của chuỗi và toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ giao nhận, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin cho những công ty khác trong chuỗi cung ứng

Hình 1.2 Các thành phần trong chuỗi cung ứng

(Nguồn: Bhagwat, R and Sharma , 2007)

Khách hàng

Nhà cung cấp dịch vụ

Nhà cung cấp

Nhà

cung cấp

Nhà sản xuất

Nhà pphân phối

Nhà bán lẻ

Khách hàng

Dòng sản phẩm và dịch vụ

Dòng nhu cầu thông tin và tài chính

Trang 22

Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và cuối cùng đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Song song đó các dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối, chính vì vậy đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới (network) Trong sơ đồ trên cho thấy trong một chuỗi cung ứng có thể phân tích thành các thành phần cơ bản sau đây, gồm:

- Nhà cung cấp: Nhà cung cấp được xem như một thành viên bên ngoài - có năng lực sản xuất không giới hạn cung cấp vật tư và nguyên liệu thô cho quá trình sản xuất Tuy nhiên, bởi vì những nhân tố không chắc chắn trong quá trình chuyển phát, nhà cung cấp có thể sẽ không cung cấp nguyên liệu thô cho nhà sản xuất kịp thời và đầy đủ

- Nhà sản xuất: Nhà chế biến sử dụng vật tư và nguyên liệu tạo ra thành phẩm; sử dụng nguyên liệu và các sản phẩm gia công của các nhà sản xuất khác để làm nên sản phẩm

- Nhà phân phối: Là các doanh nghiệp mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất

và phân phối sỉ các dòng sản phẩm đến khách hàng, còn được gọi là các nhà bán sỉ Chức năng chính của nhà bán sỉ là điều phối các dao động về cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng cách trữ hàng tồn và thực hiện nhiều họat động kinh doanh để tìm kiếm và phục vụ khách hàng Nhà phân phối có thể tham gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất

để bán cho khách hàng, đôi khi họ chỉ là nhà môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng Bên cạnh đó chức năng của nhà phân phối là thực hiện quản lý tồn kho, vận hành kho, vận chuyển sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và dịch vụ hậu mãi

- Nhà bán lẻ: Họ là những người chuyên trữ hàng và bán với số lượng nhỏ hơn đến khách hàng Họ luôn theo dõi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng

- Khách hàng/người tiêu dùng: Những khách hàng hay người tiêu dùng là những người mua và sử dụng sản phẩm Khách hàng có thể mua sản phẩm để sử dụng hoặc mua sản phẩm kết hợp với sản phẩm khác rồi bán cho khách hàng khác

Trang 23

2.1.2 Đánh giá kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng

2.1.2.1 Tổng quan về đánh giá kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng

Nghiên cứu của Clark và Scarf (1960) đã đặt nền tảng cho các nghiên cứu về thiết

kế chuỗi cung ứng trong đó các tiêu chí đánh giá liên quan đến chi phí tồn kho trong toàn chuỗi cung ứng

Một nghiên cứu tổng hợp của Beamon (1998) đã chỉ ra hai nhóm thang đo định tính và định lượng với các chỉ số xoay quanh hai vấn đề chi phí và dịch vụ khách hàng khi đánh giá chuỗi cung ứng

Khi môi trường trở nên cạnh tranh, nguồn lực sản xuất hạn chế, yêu cầu chuỗi cung ứng phải linh hoạt trước sự thay đổi của môi trường để duy trì lợi thế cạnh tranh Trong

xu hướng toàn cầu hóa, sản phẩm và hoạt động của công ty đã vượt qua biên giới của một quốc gia Khi đó, đòi hỏi một phương pháp đánh giá toàn diện cho doanh nghiệp

Mô hình “Thẻ điểm cân bằng” (BSC) của Kaplan và Norton được giới thiệu năm 1992

đã nhằm đáp ứng nhu cầu trên của doanh nghiệp

Sau BSC, nhiều mô hình đánh giá khác đã được giới thiệu như: SCOR của Hội đồng Quản lý chuỗi cung ứng (1996), ROF của Beamon (1998) …

Chi tiết về khung khái niệm đánh giá kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng sẽ được trình bày chi tiết ở mục 2.3.1

2.1.2.2 Sự cần thiết của việc đánh giá chuỗi cung ứng

Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những cải tiến trong chuỗi cung ứng sẽ đem lại một lợi nhuận đáng kể trong việc tiết kiệm chi phí, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ khách hàng

Một hệ thống đánh giá chuỗi cung ứng sẽ cung cấp khung chuẩn để đánh giá năng lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp

- Thang đo năng lực bên trong, giúp loại bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị, giảm biến động đơn đặt hàng, cải thiện dòng chảy nguyên vật liệu và sản phẩm, gia tăng hiệu quả thời gian và nguồn lực

Trang 24

- Thang đo năng lực bên ngoài tập trung vào sự hài lòng của khách hàng thông qua việc tích hợp các hoạt động và thông tin dọc các thành viên trong chuỗi

Cuối cùng đánh giá chuỗi cung ứng sẽ giúp doanh nghiệp thấy được cấu trúc chi phí của các thành viên trong chuỗi Từ đó đề ra các cơ hội cải tiến và kiểm soát mức dịch vụ khách hàng nhằm gia tăng hiệu quả

2.1.2.3 Đạt lợi thế cạnh tranh

Sự năng động trong thị trường ngày nay đã khiến thị trường trở nên cạnh tranh hơn khi các công ty bị thách thức tìm kiếm lợi thế kinh doanh Lợi thế cạnh tranh đề cập đến khả năng sử dụng các nguồn lực để thực hiện tốt hơn các nguồn lực khác trong cùng ngành hoặc thị trường (Porter, 1985) Để có được lợi thế cạnh tranh, các công ty cần phát triển và nuôi dưỡng các mối quan hệ với các đối tác của mình vì một công ty duy nhất không thể tự cạnh tranh hoặc giành được lợi thế cạnh tranh Các học giả đã xác định rằng bản chất của kinh doanh đã chuyển từ cạnh tranh của các công ty cá nhân sang cạnh tranh giữa các mạng lưới chuỗi cung ứng đã làm tăng nhu cầu hiểu rõ hơn về các yếu tố quyết định dẫn đến kết quả thành công cho toàn bộ chuỗi cung ứng chứ không chỉ các thành viên riêng lẻ (Boehlje, 1999)

2.1.3 Các mô hình nghiên cứu trước đây

2.1.3.1 Mô hình nghiên cứu của Ernita Obeth (2016)

Trang 25

Yếu tố kích thích sự linh hoạt

- Sự cạnh tranh

- Công nghệ

- Sở thích của người tiêu dùng thay đổi

- Chuỗi cung ứng điện tử

- Tập trung vào khách hàng

- Thích nghi

- Phối hợp và hợp tác

Lợi thế cạnh tranh chuỗi cung ứng

Hình 2.2 Mô hình giả thuyết nghiên cứu của Ernita Obeth

(Nguồn: Ernita Obeth, 2016) Theo nghiên cứu của Ernita Obeth (2016) về việc quản lý quan hệ kinh doanh không ổn định trong trường hợp Chuỗi cung ứng chuối truyền thống Indonesia Từ mô hình giả thuyết nghiên cứu các nhân tố gây nên sự không ổn định ở chuỗi cung ứng và tác động đến lợi thế cạnh tranh của chuỗi cung ứng, Ernita Obeth (2016) đã đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến lợi thế cạnh tranh chuỗi cung ứng, gồm các nhân tố: Nền kinh tế phi chính thức (Informal Economy), Quản lý Marketing mối quan hệ (Relationship Marketing Management), Cấu trúc mạng lưới (Network structures) và Vị thế (Power Relationship), Sự thiếu ổn định trong chuỗi cung ứng ( Supply chain

Trang 26

uncertainty), Sự linh hoạt của chuỗi (Agility in supply chains) tác động đến Lợi thế cạnh tranh của chuỗi cung ứng (Supply chain competitive advantage)

Ernita Obeth (2016) cho rằng các động lực có thể xuất hiện từ những thay đổi trong môi trường kinh doanh như cạnh tranh, thay đổi công nghệ, thay đổi sở thích của người tiêu dùng và xu hướng thực phẩm khiến chuỗi cung ứng trở nên linh hoạt Động lực môi trường kinh doanh cũng có thể bị tác động bởi sự không ổn định vốn có trong chuỗi cung ứng Điều này có thể được gây ra bởi các đặc điểm của ngành và chính chuỗi cung ứng bao gồm cấu trúc chuỗi cung ứng, hoạt động và bản chất của mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) của các thành viên trong chuỗi cung ứng

Để giải quyết những điều không chắc chắn này, một chuỗi cung ứng cần phải linh hoạt bằng cách cải thiện sự phối hợp, công nghệ thông tin, tập trung vào khách hàng và thích ứng Những chiến lược này được tạo điều kiện bởi sự gần gũi của các mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi Trong khi đó, sự gần gũi của các mối quan hệ được củng cố bởi các yếu tố quan hệ như sự tin tưởng, sự hài lòng và cam kết Từ quan điểm

về cấu trúc mạng lưới, quyền lực của tổ chức thể hiện bằng khả năng truy cập các tài nguyên khan hiếm và thông tin có giá trị, có liên quan đến vị thế của nó trong mạng lưới

Quyền lực như vậy cho phép công ty bắt đầu sự phối hợp của các bên tham gia khác hoặc cùng khai thác tài nguyên Do đó, một cách ngắn gọn, có thể nói rằng lợi thế cạnh tranh của chuỗi cung ứng được xác định bởi khả năng linh hoạt, được củng cố bởi

sự quản lý mối quan hệ và cấu trúc mạng lưới, trong việc giải quyết các bất ổn của chuỗi cung ứng

2.1.3.2 Mô hình nhân tố của Henry và cộng sự (2012)

Theo Henry và cộng sự (2012), đối với trường hợp nghiên cứu 1.500 nhà sản xuất

kệ chứa hàng (pallet) gỗ ở Mỹ, Hoạt động sản xuất, mối quan hệ trong chuỗi cung ứng, hoạt động quản trị kinh doanh, môi trường không ổn định có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng Theo đó, biến phụ thuộc Kết quả của quản trị chuỗi cung ứng

Trang 27

Môi trường không ổn định

Hoạt động sản xuất

Mối quan hệ trong chuỗi

Quản trị kinh doanh

Kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng

H1 (+) H2 (+) H3 (+) H4 (-)

được đo lường qua hoạt động logistics, thị trường nhà cung cấp, biểu hiện nhà cung cấp, nguồn nguyên liệu Còn các biến độc lập được đo lường như sau:

- Hoạt động sản xuất được đo lường thông qua chi phí (cost), chất lượng (quality),

độ linh hoạt (Flexibility), và hệ thống sản xuất (Production system)

- Hoạt động quản trị kinh doanh bao gồm chiến lược, lập kế hoạch hoạt động, marketing, đầu tư và quản lý đổi mới

- Mối quan hệ trong chuỗi cung ứng bao gồm mối quan hệ với nhà cung cấp, mối quan hệ với khách hàng

- Môi trường không ổn định được nghiên cứu bao gồm môi trường công ty, sự hỗ trợ của chính phủ, khía cạnh không chắc chắn từ bên ngoài

Môi trường không ổn định có ảnh hưởng tiêu cực còn ba nhân tố còn lại đều có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Henry và cộng sự

(Nguồn: Henry, 2012)

2.1.3.3 Mô hình nghiên cứu của Nabila và cộng sự (2013)

Kết quả nghiên cứu của Nabila và cộng sự (2013) về chuỗi cung ứng ngành dệt may tại Pakistan với quy mô mẫu là 100 công ty đề xuất mô hình nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quản trị chuỗi cung ứng, bao gồm các biến: (1) kế hoạch, (2) chất lượng,

Trang 28

Nguồn nguyên liệu

Kế hoạch

Chất lượng Thời gian giao hàng

Kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng

H1 (+)

H2 (+) H3 (+) H4 (+)

(3) thời gian giao hàng, (4) nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng đến sự hiệu quả của quản trị chuỗi cung ứng (Supply chain management – SCM)

- Kế hoạch gồm các thành tố về thị trường, ngành, so sánh giá có ảnh hưởng tích cực quan trọng đến SCM

- Thời gian giao hàng cũng có một ảnh hưởng tích cực đáng kể đến SCM đó là các yếu tố mối quan hệ nhà cung cấp, thời gian giao hàng, thời gian hoàn thành đơn hàng, liên hệ nhà cung cấp nhanh chóng, phản hồi nhà cung cấp

- Chất lượng bao gồm chất lượng nguyên vật liệu, kỹ năng công nhân, kiểm soát chất lượng

- Nguồn nguyên liệu bao gồm nguồn nguyên liệu nước ngoài, quy định của chính phủ liên quan đến vận chuyển, chi phí vận chuyển thấp

Sự hiệu quả của quản trị chuỗi cung ứng được đo lường bằng các yếu tố khả năng lấp đầy đơn hàng, sự hài lòng, thời gian sản xuất và chu kỳ thời gian Cả bốn nhân tố đều ảnh hưởng tích cực đến sự hiêu quả của quản trị chuỗi cung ứng

Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Nabila và cộng sự

(Nguồn: Nabila và cộng sự ,2013)

2.1.3.4 Mô hình nghiên cứu của Ramayah và cộng sự (2008)

Công trình nghiên cứu của Ramayah và cộng sự (2008) khi khảo sát 250 công ty sản xuất ở Penang, Malaysia cho thấy yếu tố công nghệ thông tin không có ảnh hưởng

Trang 29

đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng Tuy nhiên yếu tố về mối quan hệ giữa các bên bao gồm sự tin cậy và cam kết thì có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng Sự tin cậy là niềm tin của một bên về độ tin cậy và trung thực của đối tác Sự cam kết được định nghĩa là một bên đối tác tin rằng một mối quan hệ tiếp diễn với đối tác còn lại thì quan trọng nên phải nỗ lực hết sức duy trì nó, do đó, bên được cam kết tin vào mối quan hệ đáng để làm việc và kéo dài không thời hạn

Sự tin cậy bao gồm các yếu tố là nhà cung cấp đáng tin cậy, nhận được thương lượng công bằng từ nhà cung cấp, nhà cung cấp cởi mở và thành thật khi thương lượng, nhà cung cấp tôn trọng bảo mật thông tin được cung cấp, mối quan hệ được xây dựng trên cấp độ cao của sự thân thiện, các giao dịch không cần phải giám sát kỹ lưỡng

Sự cam kết được mô tả thông qua sự tuân thủ cam kết của nhà cung cấp, hai bên cùng giữ lời hứa, nhà cung cấp đầu tư nhiều nỗ lực để xây dựng mối quan hệ, tin tưởng

sẽ tiếp tục hợp tác với nhà cung cấp trong tương lai

Kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng được đo lường dựa trên bốn thành phần (độ tin cậy; sự phản hồi; sự linh hoạt và tính chi phí) trong tổng số năm thành phần của mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng (SCOR) Đo lường tài sản không được áp dụng do đây là tiêu chí đánh giá kết quả nội bộ trong khi vấn đề nghiên cứu là mối quan

hệ liên tổ chức Kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng được xác định bằng cách đánh giá biểu hiện của đối tượng khảo sát với trung bình ngành

2.1.3.5 Mô hình nghiên cứu của Robert và Christian (2002)

Theo Robert và Christian (2002), khi khảo sát 500 giám đốc mua hàng của các doanh nghiệp tự động hóa, máy tính, hóa chất, sản phẩm tiêu dùng, điện tử, thiết bị công nghiệp, dược phẩm và thép cho thấy (1) sự tin cậy, (2) tài sản chuyên dụng và (3) độ cảm nhận của người mua về sự phụ thuộc là ba biến có ảnh hưởng đến sự phản hồi của chuỗi cung ứng

Yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng đến sự phản hồi của chuỗi cung ứng là sự tin cậy, khi

mà dạng hợp đồng không chính thức được tôn trọng và sự tin cậy là chắc chắn thì nhà

Trang 30

cung cấp thường sẵn lòng đẩy nhanh đơn hàng cho những người mua mà họ biết tiếp tục trung thành với họ và tin cậy cao với họ Từ đó sự phản hồi của chuỗi cung ứng được cải thiện

Bên cạnh đó, yếu tố nhà cung cấp đầu tư tài sản chuyên dụng liên quan địa điểm và tài sản đặc thù liên quan vốn con người cũng có ảnh hưởng tích cực đến mức độ phản hồi của chuỗi cung ứng Tính đặc thù của tài sản có thể liên quan đến địa điểm cụ thể (là dạng đầu tư cố định, đặt gần bên nhau để đạt được kinh tế về tồn kho và chi phí vận chuyển), tài sản vật chất (máy móc chuyên dụng), vốn con người (nhân lực có kỹ năng đặc biệt) Những đầu tư này không thể chuyển nhượng và có lợi ích nếu mối quan hệ bị chấm dứt Nhưng nếu được áp dụng đúng cách những khoản đầu tư từ nhà cung cấp cho phép khả năng tích hợp chặt chẽ hơn, cải thiện dòng chảy thông tin và liên kết giữa các bên trong chuỗi cung ứng nhờ đó tính phản hồi được nâng cao

Yếu tố cuối cùng ảnh hưởng đến sự phản hồi của chuỗi cung ứng là độ cảm nhận của người mua về sự phụ thuộc Nếu gia tăng sự phụ thuộc này làm cho độ phản hồi của chuỗi cung ứng giảm đi Ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ cảm nhận sự phụ thuộc là mức độ quan trọng của nguồn cung, sự mở rộng nhóm lợi ích có toàn quyền và

sự gia tăng không có sự lựa chọn thay thế Trong nghiên cứu đề cập đến trường hợp gia tăng sự phụ thuộc của người mua là khi người mua ít có lựa chọn thay thế, chỉ có ít nhà cung cấp của một hàng hóa quan trọng trong địa phương và nhà cung cấp là bên duy nhất có đủ khả năng cung cấp hàng hóa hay dịch vụ Do đó nhà cung cấp có thể khai thác năng lực đàm phán để áp đặt người mua có nhưng điều khoản có lợi hơn cho họ Chính vì vậy nhà cung cấp có thể không phản ứng nhanh đối với đơn hàng của người mua và thực sự trở nên tự mãn

2.1.3.6 Mô hình nghiên cứu của Sunil và cộng sự (2008)

Theo Sunil và cộng sự (2008), sự hiệu quả của chuỗi cung ứng chịu ảnh hưởng bởi các nhóm yếu tố sau: mức độ quản trị cấp cao phù hợp với nhu cầu của chuỗi cung ứng, cam kết của mạng lưới và độ tập trung của quyết định điều hành

Trang 31

Yếu tố đầu tiên là các chiến lược của tổ chức ảnh hưởng tới quản trị chuỗi cung ứng và nhấn mạnh mức độ quan trọng của việc ưu tiên cạnh tranh trong quyết định quản trị cấp cao ví dụ như chiến lược mua hàng từ đó ảnh hưởng mạnh đến kết quả hoạt động của công ty

Yếu tố thứ hai là sự cam kết của mạng lưới chuỗi cung ứng, ở đây sự cam kết là một biến toàn diện đề cập đến các thành viên cam kết công việc hiệu quả và mỗi mắt xích trong chuỗi cung ứng đảm bảo thực hiện tốt vị trí của mình và cam kết điều đó với tác nhân khác Một chuỗi cung ứng hiệu quả đòi hỏi một mức độ cao của sự cam kết của các mắt xích trên toàn mạng lưới Hơn thế nữa, đảm bảo cam kết với các tổ chức phía trên và phía dưới chuỗi cho phép các tác nhân cùng chia sẻ và hợp tác chặt chẽ để thực hiện mục tiêu chung Từ đó sự hợp tác liên tổ chức sẽ giúp gặt hái được những kết quả tốt của chuỗi cung ứng

Yếu tố thứ ba là độ tập trung của quyết định điều hành, việc ra quyết định liên quan đến hoạt động của chuỗi càng phân quyền thì chuỗi cung ứng càng hiệu quả Sự phân quyền trong tổ chức được khuyến khích sự tham gia quyết định của các cấp quản lý thấp, cấp quản lý trung để gia tăng sự linh hoạt Điều nay rất cần thiết ứng phó những bất ổn liên quan đến sản xuất và dòng chảy của nguyên vật liệu Đối với các mắt xích trong chuỗi thì sự tham gia của các tác nhân khác trong việc quyết định giúp cho mỗi mắt xích kiểm soát được hành vi chỉ vì lợi ích riêng mà tổn hại đến hiệu quả của chuỗi Cuối cùng biến phụ thuộc sự hiệu quả của chuỗi cung ứng trong bài nghiên cứu được đánh giá qua một bộ bảy tiêu chí chọn lọc là khả năng thâm nhập thị trường, khả năng giao hàng (thời gian chờ (leadtime), yêu cầu giao hàng, giao hàng tại thời điểm cụ thể), hệ thống sản phẩm cung cấp, sự linh động đáp ứng yêu cầu của khách hàng, chất lượng, chi phí, lợi nhuận Bằng phương pháp tổng hợp các nghiên cứu trước đó Sunil (2008) phát triển một khung nghiên cứu có ích, thiết lập giả thuyết nghiên cứu và cung cấp những kiến thức quản trị quan trọng cho các công ty đa quốc gia trong việc quản trị chuỗi cung ứng ở các nước đang phát triển

Trang 32

2.2 Cơ sở thực tiễn về chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu

2.2.1 Đặc thù chuỗi cung ứng nông sản tươi

Chuỗi cung ứng nông sản tươi có những đặc thù rất riêng của sản xuất hàng hóa nông sản từ khâu canh tác trên đồng ruộng tới chế biến và tiêu thụ mà chuỗi cung ứng hàng phi nông sản không có Vì vậy để tham gia thành công và có hiệu quả vào các chuỗi nông sản các thành viên trong chuỗi cần lưu ý những đặc thù và tính chất riêng biệt này Những đặc điểm riêng của chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu được khái quát như sau:

- Đặc điểm về tính mùa vụ và bảo quản

Do đối tượng của chuỗi là cây trồng và vật nuôi của hoạt động sản xuất nông nghiệp luôn mang tính mùa vụ nên hàng hóa nông sản làm ra cũng mang tính mùa vụ tương ứng, làm cho chuỗi cung ứng sản phẩm nông sản thường mang tính không liên tục

và có sự thay đổi rất nhanh về khối lượng và chất lượng trong quá trình cung ứng ra thị trường Đặc điểm của thị trường nông sản như “được mùa mất giá” thể hiện như vào vụ thu hoạch, khối lượng hàng hóa nông sản tăng nhanh, chất lượng cao và nhu cầu bán ra thị trường rất lớn, làm cho giá nông sản trên thị trường hạ, ngược lại khi hết vụ thu hoạch thì hàng hóa giảm rất nhanh, chất lượng thấp, nhưng giá bán trên thị trường lại cao Đặc điểm này làm cho việc dự báo và phân phối hàng hóa trở nên rất khó khăn và giá cả bán ra luôn không ổn định

Nông sản tươi là hàng hóa tươi sống, dễ bị hỏng, nhanh giảm phẩm chất sau khi thu hoạch, việc vận chuyển đi xa khó khăn nếu không được chế biến, bảo quản tốt trước khi vận chuyển, điều này đồng nghĩa với giá thành sản xuất sẽ tăng lên nếu sản phẩm được trải qua các công đoạn chế biến, chọn lọc và bảo quản đúng yêu cầu kỹ thuật Đặc điểm này gây ra nhiều khó khăn cho người sản xuất và hạn chế sự phát triển mở rộng của chuỗi cung ứng, đặc biệt đối với những sản phẩm được tiêu dùng dưới trạng thái tươi sống như rau xanh, hoa tươi, động vật sau giết mổ, sữa nước…Và cũng vì vậy, tính toàn cầu hóa các hàng hóa nông sản trở nên rất hạn chế, muốn phát triển được các chuỗi

Trang 33

cung ứng toàn cầu các sản phẩm này tới nhiều quốc gia và với không gian mở rộng, đòi hỏi các nhà sản xuất, kinh doanh phải có công nghệ công nghệ cao, thích hợp về chế biến và bảo quản đồng thời giá cả tiêu thụ phải tăng lên nhiều lần so với giá bán sản phẩm tại nơi sản xuất

Công nghệ được sử dụng để kéo dài chuỗi cung ứng các sản phẩm này thường là nhiệt độ, bảo quản bằng hóa chất hoặc chân không Nói chung chi phí để bảo quản là rất lớn và thời gian bảo quản không được lâu Ngoài các hình thức chế biến, bảo quản nói trên, để kéo dài chuỗi cung ứng người ta thường sử dụng các cộng nghệ chế biến khác như: nấu chín và đóng hộp hoặc làm khô và bảo quản trong những thiết bị không quá tốn kém, nhưng chất lượng sản phẩm thường bị thay đổi và thích ứng kém với nhu cầu tiêu dùng của đa số dân cư các nước, do vậy cũng dẫn đến khó kéo dài chuỗi cung ứng

- Đặc điểm về tác động của thời tiết, bệnh dịch và an toàn thực phẩm

Sản xuất nông nghiệp chịu tác động mạnh bởi các nhân tố khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng và các nguồn lực khác như đất đai, nguồn nước Sự thay đổi những nhân tố này theo bất kỳ chiều hướng nào cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến kết quả sản xuất, có thể là tích cực có thể là tiêu cực và làm cho tính ổn định của chuỗi cung ứng trở nên không bền vững và biến động mạnh theo thời gian

Vấn đề dịch bệnh, đòi hỏi về an toàn vệ sinh thực phẩm cũng là những cản trở lớn đến sự phát triển chuỗi cung ứng hàng nông sản trên phạm vi toàn cầu bởi những hàng hóa này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đời sống người tiêu dùng Chính phủ các nước thường đặt ra những hàng rào kiểm soát chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng nông sản nhập khẩu và không cho phép nhập khẩu những lô hàng kém phẩm chất, có mầm bệnh hoặc có chứa hóa chất độc hại quá mức cho phép Những biện pháp này là chính đáng và cần thiết, nhưng ảnh hưởng xấu tới thương mại nông nghiệp toàn cầu vốn đã rất khó khăn do những đặc điểm nói trên, gây ra nhiều rủi ro cho người sản xuất nông nghiệp, mà ta thường gọi là rào cản của thị trường, từ đó ảnh hưởng không thuận lợi tới sự phát triển và lan tỏa của chuỗi cung ứng nông sản

Trang 34

- Đặc điểm về tổ chức sản xuất nông nghiệp

Sự khác biệt lớn nhất của chuỗi cung ứng nông sản so với các chuỗi cung ứng phi nông sản là quá trình sản xuất nông nghiệp thường có sự tham gia của số lượng rất đông các hộ nông dân với trình độ sản xuất, ý thức kinh doanh và nhận biết về thị trường nông nghiệp rất khác nhau Điều này làm cho chuỗi trở nên phức tạp và rất khó điều chỉnh để

có thể tạo ra khối lượng lớn sản phẩm đồng nhất về chất lượng, đặc biệt là khả năng tự điều chỉnh quy mô sản xuất theo tín hiệu của thị trường, nhất là đối với những sản phẩm được sản xuất ở những quốc gia có số lượng nông dân đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia

Đặc điểm số lượng nông dân đông trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp để thu hút hữu hiệu nông dân cùng sản xuất ra sản phẩm cùng chất lượng, cùng mẫu mã và đưa ra thị trường khối lượng sản phẩm theo đúng nhu cầu thị trường, giảm thiểu tình trạng bất cập giữa cung và cầu trên thị trường

về sản phẩm nông sản nào đó

Đây là vấn đề nan giải của chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu và đang là những thách thức lớn đối với các nhà sản xuất, chế biến trong các chuỗi cung ứng nông sản nói chung và chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu nói riêng

2.2.1.1 Đặc điểm về chế biến và lưu giữ sản phẩm

Trong chuỗi cung ứng nông sản, hàng hóa muốn vận chuyển đi xa đến những thị trường nằm cách xa nơi sản xuất thì hàng hóa đó không thể vận chuyển dưới trạng thái tươi sống, mà phải thông qua chế biến thành hàng hóa khô hoặc đóng hộp bảo quản, nếu

là tươi sống thì cũng phải thông qua các thiết bị bảo quản tốn kém như đã trình bày Chính vì vậy mà công nghiệp chế biến nông sản đã phát triển đa dạng với nhiều thành tựu to lớn về kỹ thuật và các bí quyết công nghệ cao trong những năm vừa qua, nhưng vẫn chưa tháo gỡ hết mọi vấn đề của chuối cung ứng nông sản toàn cầu

Thường những công nghệ chế biến cao cấp thì chí phí đầu tư sẽ rất lớn và từ đó giá thành sản phẩm nông sản đã qua chế biến sẽ rất cao, làm cho hiệu quả của chuỗi cung

Trang 35

ứng có thể giảm, lợi ích của các tác nhân, nhất là những nông dân tham gia chuỗi bị ảnh hưởng tiêu cực và động lực tham gia có thể sẽ mất đi Khi đó chuỗi cung ứng có thể sẽ

bị phá sản Đặc điểm này thường là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu thừa lẫn lộn trên thị trường nông sản toàn cầu, tạo ra sự chênh lệnh về giá tiêu thụ rất lớn giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ tùy theo khoảng cách và điều kiện vận chuyển và hiện là thách thức lớn đối với các biện pháp mở rộng các chuỗi cung ứng nông sản nói chung và chuỗi cung ứng những nông sản mau hỏng, khó bảo quản…Những người nông dân tham gia sản xuất ở những chuỗi nông sản này thường chịu rủi ro và thu thiệt lớn khi thị trường biến động

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối ở Việt Nam và trên thế giới

2.2.2.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng chuối

- Tình hình sản xuất chuối trên thế giới

Theo báo cáo về thị trường chuối 2017 của FAO, sản lượng xuất khẩu chuối toàn cầu đạt 18,1 triệu tấn trong năm 2017, tăng 6% so với năm 2016

Bảng 2.1 Tình hình xuất khẩu chuối trên thế giới

(ngàn tấn)

2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Ecuador 5565 5009 5391 5012 5195 5715 6039 5974 6415 Trung Quốc 13.2 8.6 10.2 7.9 11.0 4.3 7.6 8.6 15.8

Mã Lai 20.0 21.5 22.9 18.3 18.8 20.9 22.3 25.1 27.5 Phi-líp-pin 1664 1588 2046 2648 3292 3680 1852 1397 1663 Thái Lan 25.6 22.8 24.9 21.9 22.6 31.5 33.8 24.8 29.2 Việt Nam 1.7 3.5 8.4 3.2 7.7 21.9 19.7 24.5 24.5

(Nguồn: FAO, 2017)

- Các nước nhập khẩu

Chuối không những là loại quả được ưa chuộng trên thế giới mà còn là mặt hàng

có đóng góp lớn vào thương mại quốc tế Một trong những nước tiêu dùng chuối lớn

Trang 36

nhất phải kể đến là Anh Năm 2010, thị trường Anh tiêu thụ khoảng 954 nghìn tấn chuối Anh là nước tiêu dùng lớn thứ hai Châu Âu, chiếm 19% tổng lượng tiêu dùng của Châu

Âu (dựa trên số liệu thống kê năm 2009), đứng sau Đức (21%) và trước Italia (13%) Từ năm 2005 đến năm 2009, tổng lượng tiêu dùng chuối tăng 1,7%/năm Trong khi đó, lượng tiêu thụ chuối của EU tăng 2% Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, lượng tiêu thụ chuối của Anh giảm vào năm 2008 (giảm 2,2%) và năm

2009 (giảm 2,8%) Tuy nhiên, năm 2010, lượng tiêu dùng chuối của nước này phục hồi (tăng 7,4%) Từ năm 2005 đến năm 2010, kim ngạch nhập khẩu chuối tăng trung bình 3,2%/năm Thông thường kim ngạch nhập khẩu có sự tăng giảm tương tự với sự tăng giảm của mức tiêu dùng, năm 2008 giảm 2,6%, năm 2009 giảm 1,0% và phục hồi vào năm 2010 (tăng 3,9%) (FAO, 2017)

- Các nước xuất khẩu

Xuất khẩu chuối trên thế giới tập trung cao ở các nước đang phát triển Chuối được trồng ở những vùng nhiệt đới, nguồn cung chuối toàn cầu có thể chia làm 3 khu vực chính là Mỹ Latinh (Ecuador, Brazil, Colombia…), châu Phi (Cameroon, Bờ Biển Ngà…) chiếm đến 70% tổng số chuối xuất khẩu của cả thế giới và châu Á (Philippines) Mặc dù các thị trường nhập khẩu chuối ngày một đa dạng, các nhà xuất khẩu vẫn tập trung chủ yếu vào các thị trường tiêu thụ chính là Bắc Mỹ, châu Âu và một vài nước châu Á

Xuất khẩu chuối là “nguồn sống” của một lượng lớn nông dân các nước Mỹ Latinh Chẳng hạn như xuất khẩu chuối của Ecuador chiếm tới 60% doanh số xuất khẩu nông sản và 16% tổng doanh số xuất khẩu hàng hóa của quốc gia này Kể từ đầu những năm 2000 đến nay, thị phần các nhà cung cấp có nhiều thay đổi, có thêm nhiều quốc gia tham gia xuất khẩu chuối, cũng có nhiều quốc gia không còn chú trọng mặt hàng này Tuy nhiên, các nước Mỹ Latinh vẫn chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường xuất khẩu chuối thế giới Thực tế, các nước châu Á mới là nơi sản xuất chuối lớn nhất thế giới, thay vì Mỹ Latinh Trong đó, Ấn Độ là nước sản xuất lớn nhất với sản lượng chiếm 20%

Trang 37

tổng sản lượng chuối toàn cầu vào năm 2011 Philippines và Trung Quốc cũng nằm trong tốp các nước sản xuất chuối lớn nhất thế giới

Tuy vậy, Ecuador mới là nơi xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới với thị phần tới 30%, dù chỉ đứng thứ 5 thế giới về sản lượng (khoảng 6% tổng sản lượng thế giới) Chuối xuất khẩu phải đảm bảo tính cảm quan và thẩm mỹ Chuối phải đều quả, vỏ chuối phải được đảm bảo không sứt sẹo, không bị thâm, đồng thời phải đảm bảo không có bất

kỳ dấu vết của loại côn trùng nào Các nhà xuất khẩu cũng phải tính toán thời gian thu hoạch sao cho những nải chuối phải đảm bảo độ tươi ngon cho đến khi chúng đến được các kệ hàng siêu thị các nước nhập khẩu (FAO, 2017)

2.2.3 Chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu

Các giai đoạn của hoạt động sản xuất và phân phối chuối tươi

Chuối được đặt trong các tàu hoặc container lạnh

Chuối được vận chuyển trên biển

từ 7 – 20 ngày tùy thị trường nhập khẩu

Khi chuối đến cảng đến, chúng sẽ được thông quan và kiểm dịch

Sau đó, chuối được đưa vào các phòng ủ chín

Khi chín, chuối vàng

sẽ được giao tới nhà bán buôn, nhà bán lẻ

Hình 2.5 Các giai đoạn sản xuất và phân phối chuối

(Nguồn: Basic, 2015)

Trang 38

Chuỗi cung ứng chuối truyền thống trên thế giới được mô tả như trong hình 2.6

Hình 2.6 Chuỗi cung ứng chuối truyền thống

(Nguồn: Basic, 2015) Ngoài các thành viên chủ yếu trong chuỗi như Nhà sản xuất, Nhà xuất khẩu, Nhà nhập khẩu và Nhà bán lẻ qua các công đoạn như sản xuất (trồng trọt), đóng gói, xuất nhập khẩu, làm chín và bán lẻ tới người tiêu dùng Chuỗi cung ứng chuối tươi truyền thống còn có các thành viên khác như nhà cung ứng vật tư nông nghiệp, doanh nghiệp Logistics, Trung tâm phân phối và các cơ sở ủ chín

Trong nghiên cứu này, thông qua quá trình khảo sát tại địa bàn tỉnh Tây Ninh và kế thừa các nghiên cứu trước về chuỗi cung ứng chuối cũng như do hạn chế về thời gian và kinh phí, tác giả lựa chọn nghiên cứu về 2 thành phần chủ yếu trong chuỗi cung ứng chuối tươi xuất khẩu tại tỉnh Tây Ninh, được trình bày theo sơ đồ 2.8 như sau:

Hình 2.7 Chuỗi cung ứng chuối xuất khẩu chuối tươi tại Tây Ninh

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 2019)

Làm chín Bán lẻ

Xuất khẩu

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Làm chín Bán lẻ

Thành phần phân phối

Thương lái

Nhà đóng gói

Nhà xuất khẩu

Trang 39

2.2.3.1 Đặc điểm của từng thành phần

2.2.3.1.1 Đặc điểm:

a) Nông dân và trang trại trồng chuối

- Nông dân trồng chuối

Sau khi thu hoạch, thông thường người nông dân bán thẳng cho nhà đóng gói, hoặc thông qua thương lái để tiêu thụ sản phẩm

Công đoạn sau thu hoạch do người nông dân đảm nhiệm có tóm tắt như sau:

a Vận chuyển đến thương lái lớn/HTX hoặc nhà đóng gói

b Tồn trữ -> đóng gói -> vận chuyển

Hai hình thức trên phụ thuộc nhiều vào độ lớn của mỗi hộ nông dân, như sau:

Nông dân nhỏ: Chiếm khoảng 95 % Hộ trồng thấp nhất cũng được từ 1 – 3 hecta

Đây là những nông dân không có khả năng cung cấp số lượng lớn, chịu ảnh hưởng nhiều bởi thương lái, hoặc nhà đóng gói/xuất khẩu về giá cả, và phương thức vận chuyển, thu hoạch v.v… Họ không có điểm sơ chế, nếu không bán mão, họ tự thu hoạch sản phẩm bằng cách chặt từng buồng sau đó chuyển đến điểm tiếp nhận của thương lái

- Trang trại trồng chuối

Trang trại trồng chuối lớn thường cung cấp chuối số lượng lớn cho thương lái, nhà đóng gói Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, họ thường tự đóng vai trò nhà đóng gói và cung cấp chuối thành phẩm cho nhà xuất khẩu

Các trang trại lớn thường đóng vai trò như nhà đóng gói bằng việc thu gom chuối

từ các vườn xung quanh

Trang trại trồng chuối quy mô vừa, lớn có thể đóng vai trò nhà đóng gói khi xây dựng thêm các khu vực đóng gói, kho lạnh để sơ chế, đóng gói và bảo quản thành phẩm nhằm giúp chuối đạt chất lượng tốt nhất khi giao tới nhà xuất khẩu

b) Thương lái và nhà đóng gói

- Thương lái (Collector – Người thu gom)

Từ “thương lái” được sử dụng phổ biến ở miền Nam, trong khi miền Bắc gọi những cá nhân này là “dân buôn” Nhìn chung, thương lái địa phương có vai trò rất quan

Trang 40

trọng trong việc thu gom chuối của những người nông dân sản xuất nhỏ lẻ để phân phối lại thị trường Thông thường, thương lái thu mua trực tiếp từ nông dân hoặc bản thân thương lái hợp tác trồng trọt với nông dân Từ thương lái, sản phẩm được xuất khẩu hoặc được tiêu thụ nội địa tại chợ đầu mối Số lượng lao động làm việc cho từng thương lái rất khác nhau Một vài thương lái chỉ có 3 – 5 nhân công (thương lái nhỏ) nhưng có thương lái lại có đến hàng trăm nhân công (thương lái lớn) Những thương lái nhỏ được

bố trí tại khắp những nơi có nguồn chuối để bán lại cho những thương lái lớn Trong chuỗi cung ứng chuối, một số thương lái lớn có thể kiêm vai trò của nhà đóng gói bằng cách xây dựng đội ngũ nhân công đóng gói “dã chiến” – thực hiện hoạt động thu hoạch,

sơ chế và đóng gói chuối thành phẩm tại vườn - sau đó vận chuyển trực tiếp đến kho người mua hoặc đóng trực tiếp lên container lạnh dưới sự giám sát của người mua (công

ty xuất khẩu)

- Nhà đóng gói – Packing house

Nhà đóng gói có tiền thân là những thương lái và các trang trại chuối lớn tại địa phương Họ thu gom chuối từ các vườn xung quanh hoặc mua trực tiếp từ các thương lái

để bắt đầu sơ chế, đóng gói và bảo quản chuối thành phẩm Họ có cơ sở vật chất khá đầy

đủ và hiện đại với đội ngũ nhân công thu hoạch, đóng gói chuyên nghiệp Chuối sau khi thu hoạch, được vận chuyển đến nhà đóng gói thông qua hệ thống cáp, xe tải lót mút xốp được đưa vào bể nước diệt khuẩn và tiến hành các công đoạn sơ chế phù hợp, sau đó được đóng gói và đưa vào kho lạnh bảo quản

Thành phẩm chuối được đóng gói theo dây chuyền và bảo quản ở kho lạnh để đảm bảo chất lượng cho chuối thành phẩm Các nhà đóng gói hiện nay còn áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc theo mã vạch, mã số và có hệ thống quản lý chất lượng đạt chuẩn xuất khẩu theo yêu cầu từ các nhà nhập khẩu trên thế giới

 Nhìn chung, hoạt động sơ chế và bảo quản chuối thông qua nhà đóng gói đang là

xu hướng chung trên toàn bộ chuỗi cung ứng trái cây, rau quả tươi tại Việt Nam để đảm

Ngày đăng: 01/09/2020, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w