Bảng 3.2: Tiêu chí đo lường mức độ MBTT trên BCTC khu vực công Đã hiệu chỉnh Bảng 3.3: Cấp độ thang đo sử dụng cho nghiên cứu định lượng Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả kết quả khảo sát the
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THƯƠNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THƯƠNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS Mai Thị Hoàng Minh
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 8340301
Trang 3Tác giả cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của bản thân với sự hướng dẫn của Giảng viên là PGS.TS Mai Thị Hoàng Minh – Khoa Kế toán – Đại học Kinh tế TP.HCM Nội dung luận văn là kết quả quá trình nghiên cứu của tác giả và không sao chép các nghiên cứu khác dưới bất kì hình thức nào
Tác giả cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào về luận văn của mình trước Hội đồng
TP.HCM, ngày 04 tháng 04 năm 2018
TÁC GIẢ
NGUYỄN THỊ THƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC CÁC BẢNG 9
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 11
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
a) Đối tượng nghiên cứu 3
b) Phạm vi nghiên cứu 3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Bố cục của luận văn 5
KẾT LUẬN PHẦN MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Tổng quan về Khu vực công, Đơn vị sự nghiệp có thu, Kế toán công, Chuẩn mực kế toán công và BCTC khu vực công 7
1.1.1 Tổng quan về khu vực công 7
1.1.2 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu 8
1.1.3 Tổng quan về kế toán công 10
1.1.4 Tổng quan về chuẩn mực kế toán công 10
1.1.5 Tổng quan về BCTC khu vực công 11
Trang 51.2 Một số vấn đề tổng quan về tính MBTT trên BCTC khu vực công 16
1.3 Các lý thuyết nền liên quan 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 34
2.1 Các nghiên cứu liên quan 34
2.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 34
2.1.2 Các nghiên cứu trong nước 37
2.1.3 Xác định khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn 41
2.2 Giới thiệu thang đo tính MBTT trên BCTC khu vực công 43
2.3 Thiết lập mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ MBTT BCTC của khu vực công Việt Nam 44
2.3.1 Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) 44
2.3.2 Mô hình nghiên cứu của một số tác giả Việt Nam 45
2.3.3 Một số nghiên cứu lý thuyết định hướng về mức độ quan tâm của các đối tượng lên BCTC của đơn vị 46
2.3.4 Một số nghiên cứu lý thuyết định hướng về CNTT 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52
3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 52
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 52
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 53
3.2 Thực hiện nghiên cứu định tính để xác định mô hình nghiên cứu 56
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 56
3.2.2 Nội dung nghiên cứu định tính 58
3.2.3 Những điều chỉnh rút ra từ nghiên cứu định tính 59
Trang 63.3 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 64
3.4 Thiết kế thang đo và bảng câu hỏi khảo sát 66
3.4.1 Thiết kế thang đo 66
3.4.2 Thiết kế bảng câu hỏi 67
3.5 Chọn mẫu nghiên cứu 68
3.5.1 Xác định đám đông nghiên cứu 68
3.5.2 Khung mẫu 68
3.5.3 Kích thước mẫu nghiên cứu 68
3.5.4 Phương pháp chọn mẫu 69
3.6 Thiết kế quy trình khảo sát 69
3.6.1 Phạm vi và đối tượng khảo sát 69
3.6.2 Nội dung khảo sát 69
3.6.3 Phương thức khảo sát 70
3.6.4 Kết quả khảo sát 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 73
4.1 Phần thống kê mô tả 73
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng Crobach alpha 74
4.2.1 Crobach alpha cho thang đo khái niệm mức độ MBTT trên BCTC của đơn vị sự nghiệp có thu 74
4.2.2 Crobach alpha cho thang đo khái niệm các biến độc lập 75
4.3 Kiểm định giá trị thang đo – phân tích nhân tố khám phá (EFA) 77
4.3.1 Nội dung phân tích nhân tố khám phá EFA 77
4.3.2 Kiểm định điều kiện để phân tích EFA 78
4.3.3 Phân tích EFA cho thang đo biến phụ thuộc 79
Trang 74.3.4 Phân tích EFA cho thang đo các biến độc lập 87
4.4 Phân tích tương quan và hồi qui 88
4.4.1 Phân tích tương quan 89
4.4.2 Phân tích hồi qui 90
4.5 Nhận định chung và bàn luận về kết quả phân tích 97
4.5.1 Bàn luận về các giả thuyết được ủng hộ 97
4.5.2 Bàn luận về các giả thuyết bị loại bỏ 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 101
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
5.1 Kết luận chung 102
5.2 Kiến nghị một số vấn đề liên quan đến MBTT trên BCTC khu vực công 104
5.2.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 105
5.2.2 Đối với ban lãnh đạo đơn vị 108
5.2.3 Đối với người sử dụng thông tin trên BCTC 109
5.2.4 Đối với những nhà phân tích tài chính 110
5.2.5 Đối với nhà nghiên cứu khoa học 110
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 111
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 113
LỜI KẾT 114
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 124
Trang 8BCTC Báo cáo tài chính
CTNY Công ty niêm yết
DN Doanh nghiệp
HĐQT Hội đồng quản trị
IPSASB International Public Sector Accounting Standards Board
IT, CNTT Công nghệ thông tin
MBTT Minh bạch thông tin
MBTTTC Minh bạch thông tin tài chính
Trang 9Bảng 3.2: Tiêu chí đo lường mức độ MBTT trên BCTC khu vực công (Đã hiệu chỉnh) Bảng 3.3: Cấp độ thang đo sử dụng cho nghiên cứu định lượng
Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả kết quả khảo sát theo các biến định danh
Bảng 4.2: Trích lọc kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo khái niệm mức độ MBTT trên BCTC của đơn vị sự nghiệp có thu
Bảng 4.3: Trích lọc kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến độc lập
Bảng 4.4: Kiểm định Bartlett và KMO cho thang đo mức độ MBTT trên BCTC
Bảng 4.5: Kiểm định Bartlett và KMO cho thang đo các nhân tố tác động đến mức độ MBTT trên BCT
Bảng 4.6: Nhân tố và phương sai trích của thang đo đo lường mức độ MBTT trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp có thu – Lần 1
Bảng 4.7: Ma trận trọng số nhân tố của thang đo đo lường mức độ MBTT trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp có thu – Lần 1
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định KMO – điều kiện thực hiện EFA – thang đo lường mức độ
MB – Lần 2`
Trang 10Bảng 4.9: Nhân tố và phương sai trích của thang đo đo lường mức độ MBTT trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp có thu – Lần 2
Bảng 4.10: Kết quả đánh giá giá trị của thang đo đo lường mức độ MBTT trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp có thu – Ma trận các nhân tố - Lần 2
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định KMO – điều kiện thực hiện EFA – thang đo lường MĐMB – Lần 3
Bảng 4.12: Nhân tố và phương sai trích của thang đo đo lường mức độ MBTT trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp có thu – Lần 3
Bảng 4.13: Kết quả đánh giá giá trị của thang đo đo lường mức độ MBTT trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp có thu – Ma trận các nhân tố - Lần 3
Bảng 4.14: Tiêu chí đo lường mức độ MBTT trên BCTC của các đơn vị sự nghiệp có thu (Hiệu chỉnh lần 2)
Bảng 4.15: Nhân tố và phương sai trích của thang đo các nhân tố tác động đến mức độ MBTT trên BCTC
Bảng 4.16: Ma trận trọng số nhân tố của thang đo các nhân tố tác động đến mức độ MBTT trên BCTC
Bảng 4.17: Ma trận tương quan
Bảng 4.18: Đánh giá độ phù hợp của mô hình
Bảng 4.19: Kiểm định độ phù hợp của mô hình
Bảng 4.20: Các thông số thống kê của từng biến trong phương trình
Bảng 4.21: Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết
Trang 11Hình 3.1: Khung lý thuyết của luận văn
Hình 3.2: Quy trình nghiên cứu của luận văn
Hình 3.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 4.1: Mô hình các biến ảnh hưởng đến mức độ minh bạch
Trang 131
PHẦN MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948 đã khẳng định rằng tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, đây là quyền của mọi công dân được tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan,
tổ chức công quyền Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (tên viết tắt tiếng anh là ICCPR), tại khoản 2 Điều 19 của Công ước này quy định: “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi TT, ý kiến, bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩn dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ” Nó càng đặc biệt trở nên quan trọng trong đời sống ngày nay – ngày càng phát triển theo xu hướng hiện đại hóa, nhiều lúc thông tin trở thành một hàng hóa đặc biệt quyết định sự thành bại của một giao dịch, một sự kiện Vì vậy, minh bạch, công khai TT, đặc biệt là các thông tin tài chính (TTTC) chính thống thông qua BCTC là nhu cầu chính đáng của người dân và ngày càng trở nên cấp thiết
Đặc biệt hơn là với các TTTC khu vực công nói chung và các đơn vị có thu nói riêng – gồm các TTTC các đối tượng này tạo ra và nắm giữ, thì yêu cầu về tính minh bạch càng cao, trên lý thuyết là mang tính bắt buộc để nguồn tài chính được quản lý hiệu quả
và ngân sách nhà nước được sử dụng hợp lý Trên tinh thần đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2010) đưa ra khái niệm: “Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định” (Điều 2, khoản 2) Như vậy, có thể hiểu công khai, minh bạch trong khu vực công là việc làm cho mọi người dân có thể biết và hiểu đơn vị khu vực công có chức năng, nhiệm vụ gì, hoạt động như thế nào trong khuôn khổ phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật Nói một cách khác nữa, để chứng
tỏ nhà nước là của dân, do dân và vì dân thì dân có quyền được biết tiền của họ có bao
Trang 142
nhiêu, gồm những ai góp vào, góp vào lúc nào, dùng vào việc gì, bao nhiêu, kết quả mang lại ra sao…, có như vậy các đơn vị này mới làm tròn trách nhiện của mình với dân
và tạo thuận lợi cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người sử dụng BCTC
Và riêng với các đơn vị sự nghiệp có thu, xuất phát từ đặc điểm của loại hình đơn vị này
là có thu, có thực hiện sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ ra bên ngoài cho các đối tượng khác sử dụng cho nên mức độ tương tác với người dân là rất lớn, chính vì vậy các đối tượng có liên quan càng quan tâm đến tính MBTT trên BCTC của đơn vị, cũng như tính minh bạch của đơn vị ảnh hưởng rất lớn đến các đối tượng liên quan, có nhu cầu sử dụng BCTC của đơn vị cho việc ra quyết định
Tuy nhiên vấn đề minh bạch thông tin tài chính (MBTTTC) cuả khu vực công ở Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu nặng về trách nhiệm giải trình và quyết toán hơn là cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng BCTC Mặc dù nhà nước
và các đơn vị đang dần có những bước tiến trong vấn đề này thì việc công khai TTTC theo quy trình, thủ tục về cung cấp TTTC theo yêu cầu tại các đơn vị có thu vẫn còn nhiều bất cập, chưa làm thoả mãn người sử dụng BCTC trong vấn đề yêu cầu MBTTTC Vậy nguyên nhân là do đâu, những nhân tố nào là vật cản gây khó khăn cho khu vực công trong quá trình công bố các TTTC một cách minh bạch? Tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu tình hình công khai TTTC khu vực công nói chung, các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam nói riêng và tính MBTTTC đã nhận thấy các nhân tố - một số được nghiên cứu chính thống nhưng một số vẫn chưa được nghiên cứu mà chỉ qua đánh giá sơ bộ, có khả năng ảnh hưởng đến tính MBTTTC khu vực công ở Việt Nam, các nhân tố này cần được thực hiện nghiên cứu cụ thể trong môi trường ở Việt Nam Chính
vì vậy tác giả chọn đề tài cho luận văn của mình là: “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính
minh bạch thông tin trên Báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam: Trường hợp đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn TP.HCM”
Trang 153
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính MBTT trên BCTC khu vực công, cụ thể là các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)
Để đạt được mục tiêu của đề tài, nội dung nghiên cứu phải trả lời được câu hỏi sau: Các nhân tố nào có ảnh hưởng đến tính MBTT trên BCTC khu vực công Việt Nam,
cụ thể là các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn TP.HCM, chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố?
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về tính MBTT trên BCTC và các nhân tố có tác động đến tính MBTT trên BCTC khu vực công
b) Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ giới hạn phạm vi nghiên cứu là các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn TP.HCM vì khu vực công Việt Nam khá rộng, bao gồm nhiều bộ phận với nhiều đặc điểm, tính chất hoạt động khác nhau nên để thực hiện trên tất cả các loại hình đơn vị là tương đối phức tạp và cần có nhiều thời gian cũng như các cơ sở khoa học khác Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này cũng chính là một cơ sở để mở rộng thực hiện nghiên cứu về sau Tác giả chọn phạm vi nghiên cứu cho đề tài là các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn TP.HCM xuất phát từ đặc điểm của loại hình đơn vị này là có thu, có thực hiện sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho nên mức độ tương tác với người dân là rất lớn, chính vì vậy các đối tượng có liên quan càng quan tâm đến tính MBTT trên BCTC của đơn vị, cũng như tính minh bạch của đơn vị ảnh hưởng rất lớn đến các đối tượng liên quan, có nhu cầu sử dụng BCTC của đơn vị cho việc ra quyết định Thêm vào
Trang 164
đó, khu vực TP.HCM là thành phố hiện đại, phát triển bậc nhất nước ta, hội tụ nhiều và đầy đủ các đơn vị sự nghiệp có thu với đa dạng các tính chất, cũng là nơi các đơn vị được quản lý chặt chẽ, đúng với quy định của pháp luật
Nghiên cứu thực hiện dựa trên việc thu thập các tài liệu sơ cấp là các TTTC và phi tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn TP.HCM thông qua phỏng vấn các đối tượng liên quan và chuyên gia
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thông qua nghiên cứu, đề tài sẽ cung cấp được kiến thức tổng quan về khu vực công, TTTC và BCTC khu vực công, các đối tượng quan tâm sẽ được hiểu rõ hơn về việc thế nào là MBTTTC khu vực công
Nghiên cứu sau khi tìm được những nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến tính MBTTTC khu vực công Việt Nam nói chung và các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn TP.HCM nói riêng sẽ tiến hành kiểm định mối liên hệ đó nhằm xác định chiều hướng cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố sẽ cho người đọc hiểu rõ hơn về mỗi nhân
tố có tác động như thế nào đến tính MBTT Đồng thời nghiên cứu cũng sẽ đưa ra các đề xuất nhằm sử dụng, tác động lên các nhân tố này nhằm nâng cao tính MBTTTC khu vực công, điều này sẽ mang lại ý nghĩa thực tiễn cho các bên liên quan (các cơ quan, tổ chức nhà nước, các đơn vị công, các nhà hành pháp, lập pháp và người dân…) trong việc cung cấp, công bố và tiếp cận các thông tài chính khu vực công sao cho minh bạch, chính xác, đầy đủ và kịp thời, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Từ đó mối liên hệ giữa các đối tượng này ngày càng chặt chẽ, bền vững, các phản hồi qua lại về các thông tin sẽ giúp nhà nước cũng như các đơn vị công có sự xem xét, điều chỉnh hợp lý, kịp thời, đảm bảo tài chính nhà nước minh bạch, tạo lòng tin cho người dân, người sử dụng
có thể dùng các TTTC này để đưa ra các quyết định Thông tin minh bạch cũng sẽ là điều kiện bắt buộc để chúng ta có thể hội nhập, phát triển và được thế giới công nhận,
Trang 175
được đánh giá công bằng,
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau khi muốn thực hiện các nghiên cứu liên quan đến minh bạch và công bố TTTC khu vực công ở Việt Nam Đặc biệt Việt Nam cũng đang trong tiến trình vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế trong điều kiện Việt Nam chưa có hệ thống chuẩn mực kế toán công chính thức, các phân tích trong luận văn sẽ giúp ích cho tiến trình này cũng như việc xây dựng
hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam
Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, luận văn được chia làm 5 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Các nghiên cứu liên quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Lời kết
Danh mục công trình của tác giả
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 186
KẾT LUẬN PHẦN MỞ ĐẦU
Như vậy phần mở đầu đã giới thiệu sơ bộ về luận văn Đã cung cấp cho người đọc cái nhìn ban đầu về vấn đề nghiên cứu khi phân tích tính cấp thiết, lý do chọn đề tài, cũng cho thấy rõ mục tiêu chung của đề tài là gì, và để đạt được mục tiêu đó luận văn cần có những mục tiêu cụ thể nào cũng như trả lời được những câu hỏi nghiên cứu là gì Đồng thời phần mở đầu đã giới thiệu về đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Và để nhấn mạnh vai trò cũng như sự đóng góp của đề tài nghiên cứu trong lý thuyết và thực tiễn, người viết cũng đã rút ra ý nghĩa của đề tài
Trang 197
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan về Khu vực công, Đơn vị sự nghiệp có thu, Kế toán công, Chuẩn mực kế toán công và BCTC khu vực công
1.1.1 Tổng quan về khu vực công
Định nghĩa về Khu vực công: Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về khu vực công
dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo Broadbent and Guthrie (1992), khu vực công bao gồm các tổ chức do nhà nước làm chủ, tài trợ và điều hành để sản xuất và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng Tuy nhiên, khái niệm này không còn đầy đủ vì ngày nay có sự tham gia của khu vực tư nhân dưới sự điều hành của nhà nước trong việc sản xuất và cung cấp các dịch vụ Vì vậy trong một tranh luận, Broadbent and Guthrie (2008) cho rằng nên đổi tên “khu vực công” là “dịch vụ công” để phù hợp và chính xác về phạm vi hoạt động của khu vực công hiện nay Còn theo Cẩm nang thống kê tài chính Chính phủ Việt Nam (2001) thì cho rằng: “Khu vực công hợp thành bởi Khu vực Chính phủ/ Chính phủ và các đơn vị công” Và mới đây, Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) cho rằng khu vực công là các cơ quan trung ương, địa phương và các đơn vị, tổ chức cung cấp dịch vụ công chịu sự kiểm soát của nhà nước hoặc do công quỹ tài trợ hoặc do nhà nước chỉ đạo
và điều hành
Vai trò của Khu vực công: Bàn về vai trò của khu vực công, nhà kinh tế học Jay
K.Rosengrad – Trường Quản lý Nhà nước John F Kennedy Đại học Harvard viết trong Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (2005-2006) rằng khu vực công có vai trò chủ đạo và tạo điều kiện cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tế Cụ thể, có thể nêu ra là: Cơ
sở kinh tế cho những can thiệp của khu vực công; Định nghĩa và các điều kiện để có hiệu quả thị trường; Định nghĩa và các nguyên nhân dẫn đến thất bại thị trường; Các ví dụ về thất bại thị trường
Trang 208
1.1.2 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu
Định nghĩa về đơn vị sự nghiệp có thu: Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số
16/2015/NĐ-CP có giải thích: “ Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” Và Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 10/2002/NĐ-
CP đề cập: “Đơn vị sự nghiệp hoạt động có thu do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định thành lập (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp có thu).” Như vậy có thể hiểu: Đơn vị
sự nghiệp có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán
Cũng theo Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, các đơn vị sự nghiệp có thu được phân loại thành: Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên và Đơn vị sự nghiệp cóthu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên
Nguồn tài chính và nội dung chi của đơn vị sự nghiệp có thu: theo Điều 8, Điều 9
Nghị định số 10/2002/NĐ-CP đề cập:
- Nguồn tài chính:
(1)Ngân sách nhà nước cấp:
a) Kinh phí hoạt động thường xuyên đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí
b) Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm quyền giao
c) Kinh phí thanh toán cho đơn vị theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát ) theo giá hoặc khung giá do Nhà
Trang 21(2)Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị:
a) Phần được để lại từ số phí, lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước do đơn vị thu theo quy định Mức thu phí, lệ phí và tỷ lệ nguồn thu được để lại đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước
b) Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ Mức thu các hoạt động này do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ
c) Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có)
(3)Nguồn khác theo quy định pháp luật như viện trợ, vay nợ, quà biếu, tặng (nếu có)
- Nội dung chi:
(1)Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ cấp có thẩm quyền giao (2)Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ
(3)Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành và cấp cơ sở; chương trình mục tiêu quốc gia; chi thực hiện đơn đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát ); chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định (4)Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định
Trang 2210
(5)Chi đầu tư phát triển, gồm: Chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết
bị, chi thực hiện các dự án đầu tư theo quy định
(6)Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao
(7)Các khoản chi khác
1.1.3 Tổng quan về kế toán công
Định nghĩa về Kế toán công: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Kế toán công là công
cụ và phương tiện quản lý tài sản, các quỹ và thực hiện các giao dịch của Chính phủ”
Vai trò của Kế toán công: Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Đăng (2005), kế toán
công có vai trò là một công cụ phục vụ cho quá trình quản lý NSNN; phục vụ cho các quyết định của đơn vị sử dụng ngân sách; công cụ để kiểm tra, giám sát hoạt động kinh
tế - tài chính của Nhà nước; công cụ chứng minh việc chấp hành ngân sách của đơn vị
sử dụng NSNN
1.1.4 Tổng quan về chuẩn mực kế toán công
Định nghĩa về Chuẩn mực kế toán công: Theo Bùi Văn Mai (2007), “Chuẩn mực kế
toán công là những quy định và hướng dẫn về những nguyên tắc, nội dung, phương pháp
và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, đầy đủ, làm cơ sở ghi chép kế toán và lập BCTC nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý khách quan về thực trạng tài chính và kết
quả hoạt động của các đơn vị kế toán”
Vai trò của Chuẩn mực kế toán công: Cung cấp thông tin kế toán theo một chuẩn
mực cho các quyết định về tài chính của Nhà nước trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô; đáp ứng yêu cầu quản lý thống nhất về tài chính Nhà nước và tổng hợp thông tin cho toàn bộ khu vực công; góp phần tăng cường tính minh bạch về tài chính và xác định trách nhiệm giải trình của các đơn vị thuộc khu vực công; tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kế toán khu vực công; tạo nên một hệ thống thông tin có tính chuẩn mực, có khả
Trang 2311
năng so sánh đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
1.1.5 Tổng quan về BCTC khu vực công
Định nghĩa về BCTC khu vực công: Theo IPSASB (2016) thì BCTC khu vực công là
các báo cáo được trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ về tình hình tài chính của đơn vị
và các giao dịch được thực hiện bởi một đơn vị thuộc khu vực công Mục đích của BCTC
là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động và các luồng tiền của một đơn vị thuộc khu vực công cho một loạt người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định và đánh giá phân bổ nguồn lực
Cũng theo IPSASB (2016), mục đích chính của BCTC của các tổ chức khu vực công
là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng cho mục đích giải trình và mục đích ra quyết định, minh bạch, giải trình
Theo IPSASB (2006), mục đích BCTC khu vực công là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và để chứng minh trách nhiệm của đơn vị trong các nguồn lực được giao phó
IPSASs phân biệt hai loại BCTC khác nhau cho khu vực công đó là: BCTC cho mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt
Về BCTC cho mục đích chung:
Mục đích chính: là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng cho các mục
đích giải trình trách nhiệm và cho các mục đích ra quyết định
Đặc tính thông tin trình bày: Tính dễ hiểu, Tính thích hợp và đáng tin cậy, Tính
trọng yếu, Tính trung thực, Tính trung lập, Tính so sánh được, Tính kiểm chứng được
- Tính dễ hiểu (Có thể hiểu được): thông tin được phân loại và trình bày đặc trưng một cách rõ ràng và chính xác Lúc này người đọc được giả thiết là có một kiến thức
Trang 2412
nhất định về kinh tế, kinh doanh, kế toán và thiện chí, nổ lực để đọc BCTC Tuy nhiên, thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừ khỏi BCTC chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng
- Tính thích hợp: TTTC thích hợp là thông tin có thể tạo ra sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng BCTC, ngay cả khi một số người sử dụng BCTC không tận dụng lợi thế hoặc đã nắm được thông tin đó từ các nguồn khác Thông tin hữu ích khi nó thích hợp với nhu cầu đưa ra quyết định của người sử dụng Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giá trước đó
Tính thích hợp bao gồm tính dự đoán và tính xác nhận, hai đặc điểm này quan trọng với nhau Tính thích hợp của thông tin phụ thuộc vào nội dung và tính trọng yếu
- Đáng tin cậy: Đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót trọng yếu và không bị thiên lệch, đồng thời phản ánh trung thực vấn đề cần trình bày Thông tin có thể thích hợp nhưng không đáng tin cậy Đáng tin cậy bao gồm các yêu cầu: trình bày trung thực, nội dung quan trọng hơn hình thức, không thiên lệch, thận trọng và đầy đủ:
• Phản ánh trung thực: thông tin đáng tin cậy khi nó phản ánh trung thực các sự kiện và nghiệp vụ cần hoặc có thể trình bày
• Nội dung quan trọng hơn hình thức: để phản ánh trung thực, các thông tin phải trình bày phù hợp với bản chất kinh tế chứ không chỉ căn cứ vào hình thức pháp lý
• Không thiên lệch: Để đáng tin cậy, thông tin không bị thiên lệch Thông tin bị thiện lệch nếu việc lựa chọn và trình bày BCTC nhằm tác động đến việc ra quyết định theo một kết quả định trước
• Thận trọng: Là việc tăng thêm mức chú ý khi thực hiện một sự xét đoán khi ước tính trong các điều kiện chưa rõ ràng, sao cho tài sản và thu nhập không bị thổi phồng,
nợ phải trả không bị giấu bớt Tuy nhiên, thận trọng không phải là việc tạo ra các khoản
dự phòng giả hoặc quá mức, cố tình khai thấp tài sản và thu nhập, hoặc khai khống nợ
Trang 2513
phải trả và chi phí
• Đầy đủ: Để đáng tin cậy, thông tin phải đầy đủ trong phạm vi của trọng yếu và chi phí Một sự bỏ sót có thể làm cho thông tin bị hiểu lầm hay sai lệch và do đó sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy
- Tính trọng yếu: thông tin được coi là trọng yếu khi sự sai lệch hay bỏ sót nó có thể gây ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào số tiền và thông tin hoặc sai sót hay sự đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Trọng yếu không phải là một tiêu chuẩn chất lượng mà là một ngưỡng phân cách
- Trung thực: Các BCTC phản ánh giao dịch kinh tế bằng số liệu và bằng chữ TTTC hữu ích là TTTC không chỉ mô tả giao dịch kinh tế liên quan, mà còn phải trình bày một cách trung thực các giao dịch đó đúng mục đích Để đảm bảo sự trung thực, thông tin phải có 3 tính chất là đầy đủ, khách quan, không có sai sót
- Trung lập: là không nhằm đạt được một kết quả mong muốn hay chịu ảnh hưởng của một quan điểm, thái độ cá biệt Chú ý là trung lập không có nghĩa là người cung cấp thông tin không có chủ đích riêng mà là chủ đích đó không ảnh hưởng đến kết quả
- Có thể so sánh được: người sử dụng thông tin có thể so sánh các thông tin tương
tự với đơn vị khác hoặc các thông tin tương tự của đơn vị giữa các kỳ và các ngày khác nhau Khả năng so sánh không liên quan đến một khoản mục đơn lẻ mà yêu cầu ít nhất
là hai khoản mục BCTC chỉ hữu ích khi có thể so sánh với năm trước, với doanh nghiệp (DN) khác Để có thể so sánh được, BCTC phải :
• Áp dụng các nguyên tắc kế toán nhất quán
• Khai báo về chính sách kế toán sử dụng trên BCTC
Các nguyên tắc lập và trình bày: Hoạt động liên tục, Trình bày nhất quán, Trọng
yếu và tổng hợp, Bù trừ
- Hoạt động liên tục: khi lập BCTC thì cần thiết phải xem xét về khả năng hoạt
động liên tục của đơn vị, trừ trường hợp đặc biệt, tức là đơn vị sắp giải thể hoặc ngưng hoạt động Các BCTC được lập dựa trên giả định đơn vị sẽ hoạt động liên tục và tiếp tục
Trang 2614
hoạt động bình thường trong tương lai Vì vậy, người lập BCTC phải xem xét các điều kiện cũng như các sự kiện mang dấu hiệu bất ổn ảnh hưởng đến khả năng hoạt động liên tục của đơn vị
- Trình bày nhất quán: Việc trình bày BCTC phải đảm bảo có sự nhất quán từ kỳ
này qua kỳ khác, trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chất của hoạt động đơn vị, vì cần trình bày hợp lý hơn các sự kiện, giao dịch phát sinh, hay vì yêu cầu thay đổi của chuẩn mực kế toán công
- Trọng yếu và tổng hợp: Những khoản mục trọng yếu cần được trình bày riêng biệt
trên BCTC và được tập hợp lại theo cùng tính chất Những khoản mục không trọng yếu cần được tập hợp lại với những khoản mục có cùng tính chất Những thông tin trọng yếu
là những thông tin cần thiết và ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá và ra quyết định của người sử dụng BCTC về hoạt động của đơn vị và phân bổ nguồn lực Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của khoản mục đó Nếu thông tin không trọng yếu thì không cần thiết phải tuân theo các yêu cầu của Chuẩn mực kế toán công quốc tế
- Bù trừ: Tài sản và nợ phải trả không được bù trừ với nhau, trừ khi có quy định
khác Các khoản thu nhập và chi phí không được bù trừ với nhau, trừ khi có quy định khác hoặc khoản thu nhập và chi phí đó liên quan đến các sự kiện cùng tính chất và không thể tách riêng Các khoản mục tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí phải được trình bày riêng biệt trên BCTC, để người sử dụng thông tin có thể đánh giá đúng đắn sự kiện, giao dịch phát sinh cũng như đánh giá được dòng tiền của đơn vị
Số lượng, nội dung và kết cấu :
- Số lượng BCTC:
Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị, Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần (vốn chủ sở hữu), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Chính sách kế toán
và giải trình BCTC (Bảng thuyết minh BCTC)
- Nội dung và kết cấu BCTC
Trang 2715
(1) Báo cáo tình hình tài chính:
Ít nhất trong báo cáo tình hình tài chính phải trình bày được các khoản mục sau: Tài
sản: Tài sản được chia thành Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn; Nợ phải trả: Nợ phải
trả được chia thành Nợ ngắn hạn và Nợ dài hạn; Tài sản thuần (Vốn chủ sở hữu)
(2) Báo cáo kết quả hoạt động:
Ngoài phần tiêu đề, ít nhất trong báo cáo kết quả hoạt động phải có các khoản mục sau: Thặng dư hoặc thâm hụt từ các hoạt động của đơn vị; Chi phí tài chính; Phần thặng
dư hoặc thâm hụt thuần của các đơn vị liên doanh, liên kết tính theo phương pháp vốn chủ sở hữu; Thặng dư hoặc thâm hụt từ các hoạt động thông thường; Các khoản mục bất thường; Phần lợi ích của cổ đông thiểu số trong thặng dư hoặc thâm hụt thuần; Tổng thặng dư hoặc thâm hụt thuần của đơn vị trong kỳ kế toán
(3) Báo cáo thay đổi về tài sản thuần (vốn chủ sở hữu):
Đơn vị cần phải chỉ rõ sự thay đổi của tài sản thuần trong kỳ báo cáo theo từng nội dung: Thặng dư hoặc thâm hụt thuần trong kỳ kế toán; Mỗi khoản mục thu nhập và chi phí liên quan trực tiếp đến tài sản thuần cũng như tổng của các khoản mục đó (do các chuẩn mực khác yêu cầu); Những tác động của sự thay đổi chính sách kế toán và việc sửa chữa những ai sót cơ bản theo yêu cầu của phương pháp chuẩn trong IPSAS 3
(4) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Các thông tin trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ giúp cho việc đánh giá khả năng của đơn vị trong việc tạo ra tiền và các khoản tương đương tiền cũng như việc đáp ứng nhu cầu sử dụng luồng tiền của đơn vị Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần phải báo cáo các luồng tiền trong kỳ được phân loại theo các hoạt động chính (hoạt động thông thường đúng mục đích của đơn vị công), hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính
Trang 2816
(5) Giải trình BCTC (Bảng thuyết minh BCTC)
Giải trình BCTC của đơn vị phải trình bày các thông tin sau: Nêu được những thông tin là cơ sở để lập BCTC và chính sách kế toán áp dụng và các sự kiện khác trong đơn vị; Đưa ra các thông tin theo yêu cầu
1.2 Một số vấn đề tổng quan về tính MBTT trên BCTC khu vực công
a) Định nghĩa về minh bạch: được hiểu là cởi mở, thẳng thắn, trung thực trong tất cả
giao tiếp, giao dịch và hoạt động (Renee Kuriyan và các cộng sự, 2012) Minh bạch là một khái niệm khá trừu tượng Để đo lường tính minh bạch là một công việc hết sức khó khăn Nhiều người vẫn thường hiểu minh bạch đồng nghĩa với công khai Thực ra, khái niệm minh bạch là khái niệm rộng hơn, nó bao gồm cả cơ hội, tính bình đẳng trong tiếp cận TT, tính tin cậy, nhất quán của TT, tính dự đoán trước được và sự cởi mở của cơ quan cung cấp thông tin (Đậu Anh Tuấn, 2016)
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước , minh bạch được hiểu là các thông tin phù hợp, tin cậy, kịp thời về các hoạt động của chính phủ và các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước phải có sẵn, dễ tiếp cận cho công dân, tổ chức (Erna Scholtes, 2012)
b) Vai trò của minh bạch:
Đối với xã hội, minh bạch sẽ giúp phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả Khi
minh bạch, về nguyên tắc, tài sản và nguồn lực của xã hội sẽ có cơ hội tìm đến người sử dụng nó hiệu quả nhất Chắc chắn rằng, việc đấu giá đất công khai sẽ chọn ra được ông chủ sử dụng một cách hiệu quả hơn nhiều so với cơ chế giao đất, phân đất “trong bóng
tối”
Đối với nhà đầu tư, sự minh bạch có ý nghĩa quan trọng đối với việc giảm thiểu chi
phí, giảm rủi ro cho DN và nhà đầu tư Khi nhà đầu tư dễ dàng trong tiếp cận TT, nhanh
Trang 2917
chóng trong thực hiện các thủ tục hành chính, tiên liệu được các thay đổi về chính sách
thì rõ ràng có động lực để quyết định đầu tư lớn và lâu dài
Đối với bộ máy nhà nước, như ánh sáng mặt trời đối với vi trùng, minh bạch có vai
trò rất quan trọng trong giảm thiểu tham nhũng Đòi hỏi về minh bạch còn tạo ra được sức ép để bộ máy nhà nước vận hành tốt hơn Như ý kiến của giáo sư Stiglitz (người đoạt giải Nobel về kinh tế), việc quan chức muốn che giấu thông tin không chỉ là che giấu chuyện tham nhũng mà cả sự bất lực của mình
Như vậy, các khái niệm trên đều chỉ ra rằng, MBTTTC liên quan đến sự công khai thông tin một cách đầy đủ, tin cậy và kịp thời; đồng thời khả năng tiếp cận TTTC của các đối tượng là thuận tiện Từ đây, tác giả tiếp tục tiếp cận các khái niệm trên quan điểm của các nghiên cứu trước về tính minhbạch TTBCTC
Theo Robert Bushman và cộng sự (2001), MBTTTC là sự sẵn có của thông tin cụ thể về công ty cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài Đồng thời Bushman và nhóm tác giả đã đo lường cơ chế cung cấp thông tin theo 3 nhóm:
(1) Những quy định trong BCTC của công ty gồm: mức độ, nguyên tắc và tính kịp thời của BCTC, chất lượng kiểm toán và mức độ công khai thông tin quản trị (Ví dụ như:
có thể xác định được thông tin về mức thù lao, số lượng cổ phần nắm giữ của nhân viên
và ban giám đốc cũng như các cổ đông lớn,…);
Trang 3018
(2) Mức độ đáp ứng được các thông tin riêng biệt của doanh nghiệp;
(3) Mức độ phổ biến của thông tin gồm khả năng tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông
Trên quan điểm của người sử dụng TT, nghiên cứu của nhóm tác giả Blanchet (2002), Prickett (2002) trích từ Kulzick (2004) cho rằng MBTT là việc cung cấp thông tin phải đảm bảo các đặc điểm như: thông tin phải chính xác, nhất quán, thích hợp, đầy đủ, rõ ràng, kịp thời và thuận tiện Các đặc điểm đó được diễn giải như sau:
Sự chính xác (Accuracy): thông tin phản ánh chính xác dữ liệu tổng hợp từ những
tế của người sử dụng;
Sự đầy đủ (Completeness): thông tin phản ánh đầy đủ các sự kiện đã phát sinh và các đối tượng có liên quan;
Sự rõ ràng (Clarity): thông tin truyền đạt được thông điệp và dễ hiểu;
Sự kịp thời (Timeliness): thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin giảm khả năng ảnh hưởng đến các quyết định;
Sự thuận tiện (Convenience): thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng
Quản trị và thực thi (Governance and enforcement): cần xây dựng các chính sách phù hợp để đảm bảo đạt được các mức độ minh bạch
OECD (2004), liên quan đến vấn đề CBTT và tính minh bạch cho rằng: “Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc CBTT kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng
Trang 3119
liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty” Những vấn đề mà OECD đặt ra có những ý nghĩa lý luận quan trọng trong việc xem xét tính minh bạch của thông tin nói chung và TTTC nói riêng
Theo Bert J Zarb, (2006), dưới góc độ nghề nghiệp của kế toán viên công chứng, để TTTC được hữu ích và kịp thời, thì TTTC được công bố phải đáng tin cậy, so sánh được, nhất quát và minh bạch Để đạt được sự minh bạch trong BCTC thì thông tin phải được thiết lập với một chất lượng cao và tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP)
Theo IPSASB (2013), tính MBTT BCTC là một đặc tính quan trọng và cần thiết, nó gắn liền với các đặc tính đáng tin cậy, trung thực và hợp lý, chứ không phải là một đặc tính nằm đơn lẻ duy nhất
Theo Trần Minh Dạ Hạnh (2014), tính MBTT BCTC được thể hiện thông qua việc cung cấp đầy đủ và trình bày trung thực về những thông tin hữu ích cho người sử dụng
để ra quyết định; cùng với mức độ công bố thông tin ra bên ngoài và mức độ dễ dàng tiếp cận TT Và thông tin trên BCTC được coi là hữu ích cho người dùng khi đạt được các tính chất phù hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh, dễ hiểu, kịp thời trong mối quan hệ lợi ích chi phí, đạt được sự cân bằng các đặc tính chất lượng
Các khái niệm về MBTT như đã nêu ở trên không chỉ đòi hỏi chất lượng của thông tin công bố, nội dung của các thông tin cũng như mối quan hệ với công chúng và cách thức CBTT mà MBTT còn đòi hỏi các điều kiện cần thiết về khung pháp lý, về quản lý
vĩ mô của nhà nước, về chức năng hoạt động của các công ty kiểm toán, xếp hạng tín nhiệm, về việc CBTT của các doanh nghiệp phát hành Có thể nói, MBTT trên TTCK đặt ra yêu cầu cho cả hệ thống các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi CBTT trên TTCK
Từ những phân tích cũng như những ghi nhận thông qua các khái niệm trên, theo quan điểm của tác giả:
Trang 3220
“MBTTTC là việc cung cấp các TTTC một cách tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ
và nhất quán theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận một cách thuận tiện và sử dụng thông tin đó để ra quyết định”
d) Tiêu chuẩn đánh giá tính MBTTTC thông qua tiêu chuẩn chất lượng BCTC
Hiện nay, chưa có một tiêu chuẩn cụ thể hay một kết quả nghiên cứu được công nhận rộng rãi về tiêu chuẩn đánh giá mức độ MBTTTC Tuy nhiên, để có thể đưa ra tiêu chuẩn đánh giá mức độ MBTTTC, luận văn sẽ xem xét ở góc độ các đặc điểm của thông tin hữu ích làm thước đo đánh giá chất lượng TTTC công bố và khả năng tiếp cận thông tin của người sử dụng
Về chất lượng TTTC công bố
Chất lượng TTTC công bố chính là chất lượng của sản phẩm do công tác kế toán – tài chính tạo ra thông qua quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp TTTC Chất lượng này cùng với một số nhân tố khác là tiêu chuẩn và thước đo đo lường mức độ MBTTTC Để có cơ
sở đánh giá chất lượng của TTTC, luận văn sẽ xem xét về yêu cầu chất lượng TTTC qua cách tiếp cận quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán công quốc tế (International Public Sector Accounting Standars Board) (IPSASB) IPSAS 1 quy định, BCTC khu vực công phải đạt được những đặc tính chất lượng làm cho các thông tin được cung cấp trong BCTC hữu ích cho người sử dụng, gồm 4 đặc tính chính (tiếng Anh là understandability, relevance, reliability and comparability), cụ thể như sau:
Dễ hiểu: thông tin trên BCTC cần được phân loại rõ ràng, chính xác, đồng thời các
thông tin phức tạp cần được giải thích trên bảng thuyết minh BCTC Thông tin được xem
là dễ hiểu khi người sử dụng có thể hiểu được bản chất và ý nghĩa chung của thông tin
đó Để đạt được mục đích này, người sử dụng cần có hiểu biết về các hoạt động của đơn
vị cũng như môi trường mà đơn vị hoạt động và trong trạng thái sẵn sàng nghiên cứu
TT Thông tin về các vấn đề phức tạp không cần phải loại trừ khỏi BCTC chỉ vì có thể
Trang 3321
làm cho người sử dụng thông tin không thể hiểu được
Phù hợp: thông tin được xem là phù hợp nếu nó có thể được sử dụng để hỗ trợ trong
việc đánh giá các sự kiện trong quá khứ, hiện tại, tương lai hoặc được dùng để xác nhận, điều chỉnh Để có tính phù hợp, thông tin cũng phải đảm bảo tính kịp thời Sự phù hợp của thông tin được quyết định bởi bản chất và tính trọng yếu của nó Thông tin được coi
là trọng yếu nếu việc thiếu sót hoặc sai sót của thông tin có thể ảnh hưởng đến quyết định hoặc đánh giá của người sử dụng TTBCTC
Đáng tin cậy: thông tin đáng tin cậy là thông tin không có sai sót trọng yếu và khách
quan, được trình bày trung thực và hợp lý, thận trọng và đầy đủ
(1) Trình bày trung thực và hợp lý: Các thông tin được trình bày trung thực các giao dịch và các sự kiện khác, nó cần được thể hiện phù hợp với thực chất các giao dịch, sự kiện một cách hợp lý và không chỉ phản ánh đơn thuần theo hình thức hợp pháp của chúng (nội dung quan trọng hơn hình thức trình bày)
(2) Khách quan: để có thông tin khách quan phản ánh các nghiệp vụ và sự kiện khác thì thông tin đó phải được trình bày phù hợp với bản chất của các nghiệp vụ và sự kiện
đó, không phục vụ cho mục đích xác định hay kết quả được định trước nào đó
(3) Thận trọng: là mức độ cẩn trọng khi xem xét ảnh hưởng trong việc thực hiện các điều chỉnh cần thiết khi tiến hành những tính toán trong điều kiện không ổn định Tức là tài sản, doanh thu không được phóng đại và các khoản nợ phải trả, chi phí không được cắt bớt Tuy nhiên, việc thận trọng không cho phép đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản, doanh thu, hay đánh giá thấp hơn các khoản nợ hay chi phí, bởi vì BCTC sẽ không khách quan, do đó, không đảm bảo độ tin cậy
(4) Đầy đủ: các thông tin trên BCTC cần phải được cung cấp đầy đủ để người sử dụng hiểu và đánh giá được bản chất của các sự kiện xảy ra trong đơn vị
Có thể so sánh: thông tin trên BCTC có thể so sánh được khi người sử dụng thông
Trang 3422
tin có thể nhận biết được những điểm giống và khác nhau giữa các thông tin đó với thông tin trên báo cáo khác Sự so sánh được áp dụng để:
- So sánh các BCTC của các đơn vị khác nhau; và
- So sánh các BCTC của đơn vị vào các thời điểm khác nhau
Một ý nghĩa quan trọng của các đặc tính so sánh này là người sử dụng TTBCTC cần phải biết được chính sách sử dụng trong quá trình lập BCTC, sự thay đổi các chính sách
đó và những tác động của việc thay đổi Bởi vì người sử dụng thông tin muốn so sánh kết quả hoạt động của đơn vị qua các kỳ, nên BCTC phải đưa ra được thông tin tương ứng của các kỳ trước
Như vậy, tiêu chuẩn đánh giá tính MBTTBCTC của đề tài thông qua bốn tiêu chuẩn chất lượng BCTC theo IPSAS 1, cụ thể như sau:
- TT trên BCTC khu vực công phải rõ ràng, dễ hiểu
- TT trên BCTC khu vực công phải phù hợp, đảm bảo tính trọng yếu và cung cấp thông tin kịp thời
- TT trên BCTC khu vực công phải phản ánh đúng thực tế, có đầy đủ chứng từ, đáng tin cậy
- TT trên BCTC khu vực công phải đáp ứng yêu cầu có thể so sánh được giữa các
kỳ và áp dụng nhất quán các chính sách kế toán trong kỳ
Về khả năng tiếp cận thông tin của người sử dụng
Khả năng tiếp cận là một tiêu chí quan trọng vì kể cả khi các thông tin được nộp cho
cơ quan quản lý đúng hạn thì tính hữu ích của thông tin cũng bị hạn chế nếu chỉ có một
số lượng hạn chế nhà đầu tư tiếp cận được thông tin này Thông thường có 3 cách để công bố thông tin (CBTT) ra công chúng: (1) CBTT bằng văn bản, báo chí; (2) CBTT bằng hệ thống điện tử; (3) CBTT bằng hệ thống Inernet
Trang 3523
Hầu hết các nước đều chấp nhận nhiều phương thức CBTT đồng thời Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT), phương thức CBTT bằng Internet đã trở nên phổ biến và là một kênh thông tin được nhiều nhà đầu tư tin cậy Tuy vậy, xét về mặt luật pháp, Internet vẫn chưa được nhiều quốc gia thừa nhận là kênh thông tin hợp pháp nếu các đơn vị không công bố bằng văn bản
Để đánh giá mức độ tiếp cận thông tin của công chúng, thông thường người ta quan tâm đến các tiêu chí sau đây:
- Công chúng nắm được thông tin công bố của đơn vị từ những phương tiện CBTT nào? Các phương tiện CBTT càng phổ biến thì công chúng càng dễ tiếp cận Nói cách khác, chi phí liên quan đến tiếp cận thông tin phải được giảm thiểu với công chúng
- Đơn vị có hệ thống CBTT hay không? CBTT là việc công khai những thông tin về đơn vị tới công chúng thông qua hệ thống thông tin trên các kênh thông tin chính thống
Hệ thống CBTT sẽ là nhân tố giúp công chúng tiếp cận được với các thông tin trong đơn
vị
Thông qua các tiêu chí trên ta có thể đánh giá được phần nào việc đơn vị có CBTT kịp thời, chính xác và đầy đủ cho công chúng và toàn thị trường hay không, trách nhiệm của đơn vị trong việc công bố và giải trình TT, từ đó đánh giá được mức độ minh bạch hóa thông tin trên BCTC của đơn vị
e) Đo lường mức độ MBTTTC
Dựa trên quan điểm và các cơ sở khoa học khác nhau, việc đo lường mức độ MBTT nói chung, mức độ MBTTTC nói riêng có nhiều cách thức khác nhau:
Theo tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Standard and Poors (S&P), để
đo lường mức độ MBTT, tổ chức này xây dựng chỉ số: “Minh bạch và CBTT (T&D Index)” T&D Index được xây dựng dựa trên việc điều tra các CTNY về việc thực hiện
Trang 3624
CBTT về 2 nội dung chính là thông tin về cơ cấu sở hữu, quyền của cổ đông và TTTC, hoạt động của công ty (thông qua báo cáo thường niên, thông tin về kinh doanh, thông tin về HĐQT và Ban điều hành, chế độ đãi ngộ đối với HĐQT và ban điều hành) S&P
đã xây dựng bảng hỏi gồm 109 tiêu chí Các công ty được điều tra sẽ trả lời các câu hỏi dưới dạng Có/Không về các nội dung thông tin mà công ty công bố Trong đó liên quan đến MBTTTC gồm 30 khoản mục là chính sách kế toán, các chuẩn mực kế toán và áp dụng cho các khoản mục trên các BCTC, các khoản mục tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia, BCTC năm tuân thủ theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổ biến: Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), nguyên tắc kế toán Mỹ (U.S GAAP),…
Tuy nhiên, chỉ số T&D chỉ dừng lại ở việc đánh giá xem các CTNY có công bố các thông tin liên quan hay không mà chưa đánh giá toàn diện được chất lượng của thông tin
đã được công bố chính thức
Một số nghiên cứu trước đây thì sử dụng chỉ số CIFAR để đo lường mức độ MBTT (Nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự, 2001; Jeffrey J và Marie E.Archambault, 2003) Trong đó, chỉ số CIFAR là chỉ số được Trung tâm phân tích và nghiên cứu tài chính quốc tế (IAAT – International Accounting and Auditing Trends) xây dựng năm 1995, chỉ số này gồm 90 khoản mục TTTC và phi tài chính được công bố trên các báo cáo thường niên của các CTNY Các nghiên cứu trước thường sử dụng chỉ
số CIFAR để đo lường các thông tin chung, các khoản mục trên báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, các chuẩn mực kế toán, thông tin các loại chứng khoán đầu tư, tình hình quản trị công ty và các khoản mục đặc biệt khác
Nhóm tác giả Chueng và cộng sự (2005), sử dụng bảng khảo sát được thiết kế dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD do Hiệp hội các giám đốc Viện Thai Institute of Director (IOD)’s thực hiện đánh giá mức độ MBTT của các CTNY Hoặc trong các chương trình tư vấn của World Bank tại Châu Á, để đánh giá thẻ điểm quản trị công ty,
Trang 3725
trong đó có phần đánh giá mức độ công bố và MBTT của các công ty cổ phần đại chúng,
Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) cũng sử dụng bảng câu hỏi xây dựng từ nguyên tắc quản trị của OECD
Đối với nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng sự (Năm 2007), đã dựa trên chỉ số “hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và CBTT - ITDRS” để đánh giá mức độ MBTT của các CTNY Đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về sự minh bạch và CBTT của các CTNY được xây dựng ở Đài Loan Chỉ số này gồm 88 khoản mục công bố được phân chia thành 5 nội dung:
(1) Sự tuân thủ với các quy định về công bố
(2) Sự kịp thời của các báo cáo
(3) Sự công bố các dự báo tài chính
(4) Sự công bố báo cáo thường niên
(5) Sự CBTT trên website của công ty
Ngoài việc đo lường mức độ MBTTTC qua các chỉ số của các tổ chức, một số nghiên cứu dựa trên các khái niệm về tính minh bạch để làm thước đo đo lường tính minh bạch Chẳng hạn, theo Tara Vishwanath & Daniel Kaufmann (1999), tính MBTT nói chung, TTTC nói riêng bao gồm các thuộc tính như: khả năng tiếp cận, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy của TT Để đo lường các thuộc tính này, phương thức tiến hành được thực hiện qua các nội dung sau:
• Đối với khả năng tiếp cận: Trên quan điểm cho rằng thông tin phải sẵn có để cung cấp đến tất cả những người có quan tâm, và thông tin cũng phải có khả năng được tiếp cận dễ dàng Điều này được thực hiện một phần nhờ vào các tổ chức và các phương tiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận luồng thông tin đó Chúng bao gồm những phương tiện truyền thông như: báo chí, phát thanh, truyền hình, bảng CBTT, Internet,
Trang 38về tình hình kinh tế hiện tại, chính sách tiền tệ của quốc gia Thứ hai, sự phát triển nhanh chóng của Internet dẫn đến sự tràn ngập TT, dẫn đến nghịch lý là chính sự quá tải thông tin có thể làm loãng tính liên quan của TT
• Đối với chất lượng và tính tin cậy của TT: thông tin phải có chất lượng, đáng tin cậy, kịp thời, đầy đủ, không thiên vị, nhất quán, được trình bày bằng những thuật ngữ rõ ràng và đơn giản Những chuẩn mực đốivới chất lượng thông tin phải được đảm bảo, có thể thẩm tra bởi những tổ chức trung gian hoặc kiểm toán bên ngoài hoặc những tổ chức tạo lập chuẩn mực
Tóm lại, để đánh giá và đo lường sự MBTTTC, các nghiên cứu trước đây thường dựa vào các tiêu chí được đưa ra thông qua các chỉ số đo lường do các tổ chức quốc tế có uy tín xây dựng Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng dựa vào các yêu cầu về đặc điểm chất lượng TTTC do các tổ chức quốc tế ban hành làm cơ sở xây dựng các biến để đo lường các thông tin được công bố trên BCTC nhằm đánh giá mức độ minh bạch của TTTC Do các điều kiện về văn hóa, kinh tế, chính trị, hoàn cảnh và mục tiêu xem xét khác nhau nên việc đo lường vẫn chưa đầy đủ và còn một số hạn chế nhất định Tuy nhiên, mỗi cách thức lựa chọn đều đáp ứng phần nào đó mục tiêu nghiên cứu mà các công trình nghiên cứu đề ra
1.3 Các lý thuyết nền liên quan
Các lý thuyết nền được nghiên cứu và trình bày dưới đây nhằm giải thích hướng tiếp cận của luận văn khi giải quyết các mục tiêu nghiên cứu, mà trọng tâm là làm như thế
Trang 3927
nào để đảm bảo tính MBTT trên BCTC khu vực công, để làm thỏa mãn yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin trong nền kinh tế ở mức cao nhất
a) Lý thuyết thông tin hữu ích
Lý thuyết thông tin hữu ích ra đời vào những năm 1960 đã mở đầu giai đoạn định hướng vào việc sử dụng thông tin kế toán hữu ích để phục vụ ra quyết định phù hợp Vào năm 1973, lý thuyết này được xem xét một cách rộng rãi tại Mỹ với mục tiêu của BCTC
là cung cấp thông tin hữu ích để ra quyết định Mặt khác, lý thuyết hướng đến tính hữu ích thông tin cho người sử dụng hơn là đáp ứng theo yêu cầu của luật pháp Thông qua định hướng ra quyết định phù hợp, trọng tâm đã dịch chuyển từ các nguyên tắc sang kết quả của quá trình kế toán mà ở đó thông tin được cung cấp Giả thiết cho việc chấp nhận cách tiếp cận ra quyết định trên cơ sở thông tin hữu ích của kế toán là về mặt lý thuyết, các BCTC không được lập chuẩn xác mà yêu cầu đặt ra là chúng hữu ích hơn Cũng trong năm 2006, nghiên cứu của Deegan và Unerman đã đặt ra câu hỏi là liệu thông tin cung cấp trên cơ sở giá phí lịch sử có hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế không Cách tiếp cận này bắt đầu với câu hỏi các BCTC được lập như thế nào trên cơ sở giá phí lịch
sử sẽ có thể tạo nên sự hữu ích hơn; do vậy, ra quyết định phù hợp là khởi nguồn của tranh luận về giá trị hợp lý và các phương pháp định giá khác sẽ được kết hợp như thế nào trong BCTC và tranh luận đó vẫn đang tiếp diễn đến ngày hôm nay (Nguyễn Hữu Ánh, 2013)
Cụ thể trong đề tài nghiên cứu này, có thể thấy rằng MBTTTC khu vực công được xây dựng trên nền tảng tính hữu ích của TTTC đối với các đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị: cơ quan chủ quản, nhà đầu tư, kiểm toán, công chúng, Áp dụng lý thuyết thông tin hữu ích có ý nghĩa trong việc đánh giá tính minh bạch tài chính khu vực công, việc công khai TTTC không chỉ bắt nguồn từ ý thức cung cấp thông tin của đơn vị mà trước hết cần phải xuất phát từ nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài Lý thuyết thông tin hữu ích được sử dụng để giải thích về các quy định pháp lý làm tăng
Trang 4028
chất lượng cũng như tính minh bạch của thông tin BCTC như bắt buộc kiểm toán độc lập, tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ, mục tiêu BCTC hướng tới đối tượng sử dụng
là công chúng và trách nhiệm giải trình,… để khẳng định rằng thông tin trên BCTC cung
cấp là hữu ích cho việc ra quyết định
b) Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Có nhiều nghiên cứu liên quan đến lý thuyết thông tin bất cân xứng G.A Akerlof là
người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng vào những năm 1970 Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn
có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch
Hai hệ quả phổ biến do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại
Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng trong kinh doanh hay
tham gia vào quan hệ pháp luật nào đó bên có nhiều thông tin có thể gây tổn hại cho bên
ít thông tin hơn
Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết
hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn
Theo Yang Jing (2008), trong thị trường chứng khoán, thông tin bất cân xứng biểu hiện dưới ba hình thức: (a) bất cân xứng về thời gian TT, (b) bất cân xứng khối lượng thông tin và (c) bất cân xứng về chất lượng TT
Lý thuyết cũng đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng, chủ yếu tập trung vào ba nội dung: cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàng lọc và cơ chế giám