HỒ CHÍ MINH ------ NGUYỄN THỊ YẾN THANH GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TNHH MTV SHINHAN VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
NGUYỄN THỊ YẾN THANH
GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TNHH MTV SHINHAN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
NGUYỄN THỊ YẾN THANH
GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TNHH MTV SHINHAN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng Ứng Dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VÕ XUÂN VINH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam” là nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Võ Xuân Vinh Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong đề tài là trung thực, chính xác và đáng tin cậy Các nội dung trích dẫn đều được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ nguồn gốc trong phần tài liệu tham khảo
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Yến Thanh
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG
DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa đề tài 4
1.6 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TNHH MTV SHINHAN VIỆT NAM 5
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam 5
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam 7 2.2.1 Tình hình huy động vốn 7
2.2.2 Tình hình cho vay 8
2.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 9
Tóm tắt Chương 2 13
Trang 5CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 14
3.1 Tổng quan về nợ xấu 14
3.1.1 Khái niệm 14
3.1.2 Phân loại nợ xấu 15
3.1.3 Đo lường nợ xấu 17
3.1.4 Nguyên nhân nợ xấu 19
3.1.4.1 Từ phía Ngân hàng 19
3.1.4.2 Từ phía khách hàng 19
3.1.4.3 Các nguyên nhân khác 19
3.1.5 Tác động của nợ xấu 20
3.1.5.1 Đối với nền kinh tế 20
3.1.5.2 Đối với ngân hàng 22
3.1.5.3 Đối với khách hàng 22
3.2 Tổng quan nhân tố ảnh hưởng tới nợ xấu qua các nghiên cứu thực nghiệm 22 3.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia 24
3.3.1 Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc 24
3.3.2 Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan 27
3.3.3 Bài học kinh nghiệm từ Malaysia 32
3.3.4 Bài học kinh nghiệm từ Indonesia 36
3.3.5 Tổng quan kinh nghiệm xử lý nợ xấu các nước 38
Tóm tắt Chương 3 44
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TNHH MTV SHINHAN VIỆT NAM 45
4.1 Thực trạng tình hình nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam 45
4.2 Đánh giá công tác xử lý và hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam 51
4.2.1 Hệ thống cảnh báo sớm 51
Trang 64.2.2 Xử lý nợ thông qua thu hồi nợ trực tiếp 53
4.2.3 Xử lý nợ bằng quỹ dự phòng rủi ro 53
4.2.4 Xử lý nợ xấu bằng biện pháp miễn/giảm lãi 55
4.2.5 Xử lý nợ xấu qua bên thứ ba 55
Tóm tắt Chương 4 58
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TNHH MTV SHINHAN VIỆT NAM 59
5.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam 59
5.2 Giải pháp nhằm tăng cường xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam 60
5.2.1 Giải pháp ngăn ngừa nợ xấu phát sinh 60
5.2.1.1 Hoàn thiện cơ cấu, hệ thống chấm điểm và quản lý rủi ro các khoản vay cá nhân 60
5.2.1.2 Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra khoản vay 61
5.2.1.3 Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng 62
5.2.2 Giải pháp tăng cường hiệu quả xử lý nợ xấu 63
5.2.2.1 Xây dựng, hoàn thiện bộ máy xử lý nợ, quy trình xử lý nợ 63
5.2.2.2 Hợp tác chặt chẽ với các đối tác thu nợ 63
5.2.3 Mô hình xử lý nợ kiến nghị 64
5.3 Một số kiến nghị 64
Tóm tắt Chương 5 67
KẾT LUẬN CHUNG 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG
AMC Asset Management Company Công ty quản lý tài sản
BI Bank of Indonesia Ngân hàng trung ương Indonesia
BNM Bank Negara Malaysia Ngân hàng trung ương Malaysia
Trang 8ROE Return on equity Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu
VietNam Asset Management
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG
Bảng 2.1 : Tổng tài sản của SHBVN giai đoạn 2013-2018 9
Bảng 2.2 : Kết quả hoạt động kinh doanh của SHBVN giai đoạn 2013-2018 11
Bảng 3.1 : Sắp xếp thể chế của việc cơ cấu tài chính tại Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Indonesia giai đoạn xử lý nợ xấu 39
Bảng 3.2 : Sự thay đổi cấu trúc trong hệ thống tài chính tại Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Indonesia giai đoạn xử lý nợ xấu 40
Bảng 3.3 : Kết quả mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt 2013-2016 của VAMC 41
Bảng 3.4 : Kết quả xử lý nợ từ 2013-2016 của VAMC 42
Bảng 4.1 : Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ trên từng loại sản phẩm 47
Bảng 4.2 : Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân ủy quyền cho đối tác thu nợ vào tháng 7.2018 55
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Tiền gửi khách hàng tại SHBVN giai đoạn 2013-2018 8
Biểu đồ 2.2 : Cho vay khách hàng tại SHBVN giai đoạn 2013-2018 8
Biểu đồ 2.3 : Lợi nhuận sau thuế SHBVN giai đoạn 2013-2018 10
Biểu đồ 2.4 : Tỷ lệ tăng trưởng ROA, ROE của SHBVN giai đoạn 2013-2018 11
Biểu đồ 3.1 : Tổng tỷ lệ NPL đối với danh mục vay khác nhau dựa trên các biến số kinh tế 21
Biểu đồ 3.2 : Nợ xấu của ngành tài chính tại Hàn Quốc từ năm 1997-2002 27
Biểu đồ 3.3 : Nợ xấu và chuyển khoản vay tại Thái Lan từ năm 1998-2006 31
Biểu đồ 3.4 : Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn tại Thái Lan giai đoạn 2007-2011 31
Biểu đồ 3.5 : Tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ tại Malaysia và Thái Lan từ năm 1995-2007 35
Biểu đồ 3.6 : Nợ xấu và chuyển khoản vay tại Malaysia từ năm 1995-2002 35
Biểu đồ 4.1 : Tỷ lệ nợ xấu tại SHBVN 45
Biểu đồ 4.2 : Tỷ lệ nợ xấu tiêu dùng cá nhân trên tổng dư nợ giai đoạn 2016-2018 50
Biểu đồ 4.3 : Tỷ lệ nợ xấu tiêu dùng cá nhân trên tổng dư nợ năm 2018 51
Biểu đồ 4.4 : Dự phòng rủi ro cho khoản vay của khách hàng giai đoạn 2013-2018 54
Biểu đồ 4.5 : Kết quả xử lý nợ xấu qua bên thứ ba đến tháng 12.2018 tại SHBVN 56
Biểu đồ 5.1: Mô hình cơ cấu phòng quản lý và thu hồi nợ kiến nghị 64
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam 6
Sơ đồ 3.1 : Sơ đồ tái cấu trúc ngân hàng tại Indonesia giai đoạn xử lý nợ xấu 37
Trang 12
có một vấn đề quan trọng mà các ngân hàng luôn quan tâm và khắc phục là tình hình
nợ xấu của chính ngân hàng mình Nợ xấu gây mất an toàn hệ thống ngân hàng và phản ánh tình trạng của khách hàng hay hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó Hiện nay, các vấn đề về rủi ro hay nợ xấu luôn được các Ngân hàng quan tâm và hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế sau hàng loạt những rủi ro xảy ra quanh vấn
đề tín dụng và vấn đề giải quyết nợ xấu luôn là một bài toán cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng Trong sự cạnh tranh tăng trưởng hiện tại cùng phát tiển thị trường bán lẻ, là một ngân hàng ngoại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam (SHBVN) cũng không nằm ngoài Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam” để nghiên cứu và mong muốn đóng góp một phần nhỏ nhằm hạn chế nợ xấu tại SHBVN Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, thống kê mô tả, tổng hợp, so sánh dựa trên các số liệu lịch sử để thực hiện nhận xét, đánh giá, nghiên cứu tổng quan
về nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại SHBVN Từ đó, đưa ra những giải pháp, kiến nghị xử lý nợ xấu tại SHBVN
Từ khóa: SHBVN, Nợ xấu, Cho vay tiêu dùng
Trang 13Therefore, as an integral part of credit growth and business development in general, banks always have proper concentration on status of debts, measures of control and settlement nonperforming loan (NPL) as well Which could be explained by the fact that NPL could deteriorate safety in banks’ operating system and reflect unhealthy financial status and business activities of the banks’ customers Currently, banks have paid enough attention to NPL-related risks and issues and efforts to reach towards global standardizations in bad debts controlling due to several crisis concerning credit activities, eventhough bad debts settlement resolutions are challenging the banks in general The recent high competition level in Vietnam retail banking market excludes nothing, even a foreign bank as Shinhan Bank Vietnam Limited (SHBVN) Therefore, the author has chosen the topic: “Measures of nonperforming loan settlement for consumer loans to individual customers at Shinhan Bank Vietnam Limited” for the purpose of researching and desire to contribute a fraction to bad debts controlling at Shinhan Bank Vietnam Limited Methods of qualitative, statistic description, consolidation, comparition of historical records has been used for the researching process, from that comments, assessment, researching summarization of bad debts in consumer loans at SHBVN has been given in this thesis Finally, feasible measures and
suggestions for bad debts controlling at SHBVN has been proposed
Key: SHBVN, Nonperforming loan (NPL), Consumer loans
Trang 14CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Hệ thống các tổ chức tài chính là kênh dẫn truyền vốn trong nền kinh tế Đặc biệt hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng có một vai trò quan trọng Tuy vậy, đi kèm với lợi nhuận hoạt động tín dụng của Ngân hàng cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro Trong thời gian qua nền kinh tế đã chứng kiến những cuộc khủng hoảng xảy ra do những rủi ro từ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tiên phải kể tới là cuộc khủng hoảng tín dụng năm 1772 khởi đầu từ London rồi lan nhanh ra toàn Châu Âu, cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ việc các ngân hàng ở Anh phóng khoáng hơn trong việc cho vay tín dụng nhưng sau đó một trong những đối tác lớn của các ngân hàng ở Anh bỏ trốn với khoản nợ chưa thanh toán Kế tới là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 - 2009 với sự phá sản của ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới Lehman Brothers (Bảo Quốc, 2016) kéo theo sự khủng hoảng kinh tế Mỹ nền kinh tế đứng đầu thế giới rồi lan nhanh sang các quốc gia khác Toàn bộ những hoạt động của ngân hàng có thể gây ra những rủi ro nhưng với những mức độ khác nhau như ảnh hưởng lợi nhuận hay có thể dẫn tới phá sản như nghiên cứu
về nợ xấu và các lỗ hổng kinh tế vi mô trong nền kinh tế tiên tiến (Nkusu, 2011) đã cho thấy những khủng hoảng ngân hàng có thể dẫn tới sự sụt giảm GDP, tăng tỷ lệ thất nghiệp
và lạm phát Cùng với sự phát triển của các tổ chức tín dụng, tăng trưởng tín dụng nhanh chóng kèm theo đó luôn có một vấn đề quan trọng mà các ngân hàng luôn quan tâm và khắc phục là tình hình nợ xấu của chính ngân hàng mình Nợ xấu của ngân hàng gây mất
an toàn hệ thống ngân hàng và phản ánh tình trạng của khách hàng hay hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó
Gần đây thị trường tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, ngoài các công ty tài chính như FE Credit, Home credit, HD Saison, Prudential Các ngân hàng cũng cố gắng mở rộng thị phần của mình Theo Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2017, mức tăng bình quân của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là 10%/năm Đi vào cơ cấu dân số Việt Nam, Theo kết quả điều tra Dân số - Lao động của
Trang 15Tổng Cục Thống kê năm 2016 đã cho biết dân số trung bình năm 2016 của Việt Nam đạt 92,70 triệu người Năm 2016, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đạt 54,45 triệu người, tăng 461,1 nghìn người so với năm 2015, trong đó lực lượng lao động
ở khu vực thành thị chiếm 32.1%; lực lượng lao động ở nông thôn chiếm 67.9% Điều này đã cho thấy cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động trẻ Việt Nam cao và dân cư ở nông thôn trong độ tuổi lao động đang chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng lao động của nền kinh
tế Đó cũng là nguyên do, tiềm năng phát triển tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam những năm qua Nhưng đi kèm theo đó luôn là những rủi ro từ hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính, áp lực tăng trưởng tín dụng và từ những thói quen hay đặc điểm của cá nhân người đi vay
Hiện nay, các vấn đề về rủi ro luôn được Ngân hàng Nhà nước cùng các Ngân hàng thương mại quan tâm và hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế sau hàng loạt những rủi ro xảy
ra quanh vấn đề tín dụng và vấn đề giải quyết nợ xấu luôn là một bài toán cho toàn bộ
hệ thống Ngân hàng Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước ba năm gần đây nợ xấu có xu hướng giảm dần, cụ thể năm 2015 tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD Việt Nam là 2.55%, năm 2016 giảm xuống còn 2.46% và năm 2017 là 2.34% Trong khi nợ xấu giảm thì dự phòng rủi ro của các ngân hàng lại tăng nhanh do trích lập dự phòng Vậy nên bản chất thì nợ xấu liệu đã được giải quyết triệt để Trong sự cạnh tranh tăng trưởng hiện tại, là một ngân hàng ngoại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam (SHBVN) cũng không nằm ngoài cộng thêm sự kiện SHBVN mới mua lại thành công mảng bán lẻ của Ngân hàng TNHH MTV ANZ Việt Nam (ANZVN) và công ty tài chính Prudential cho thấy mục tiêu tăng trưởng bán lẻ của chính SHBVN nói riêng và tập đoàn tài chính Shinhan nói chung Năm 2017 nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng của SHBVN được kiểm soát ở mức 0.60% thấp hơn năm 2016 (0.78%) Với con số như trên so với các Ngân hàng thương mại trong nước là một mức an toàn nhưng bên cạnh đó vẫn có những vấn đề liên quan có thể ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trường tín dụng bền vững nhất là với mục tiêu phát triển thị trường bán lẻ, tiềm năng nhưng cũng nhiều rủi ro như hiện nay Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “ Giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động cho
Trang 16vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam” để nghiên cứu và mong muốn đóng góp một phần nhỏ nhằm xử lý và hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu nhằm nắm bắt tình hình nợ xấu và đề xuất các giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam Cụ thể:
- Phân tích thực trạng nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại SHBVN
- Tình hình xử lý nợ cũng như các phương án xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại SHBVN
- Gợi ý các giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại SHBVN
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Tình hình nợ xấu và thực trạng xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân của tại SHBVN trong những năm gần đây như thế nào?
- Giải pháp nào xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại SHBVN?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nợ xấu phát sinh trong hoạt động cho vay tiêu dùng đối
với khách hàng cá nhân tại SHBVN
- Phạm vi nghiên cứu: thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu phát sinh trong hoạt động
cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân tại SHBVN Dữ liệu được thu thập
từ các báo cáo tài chính của SHBVN giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018 và từ
các báo cáo nội bộ của SHBVN từ năm 2016 đến năm 2018
Trang 171.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, thống kê mô tả, tổng hợp, so sánh dựa trên các số liệu lịch sử để thực hiện nhận xét, đánh giá, nghiên cứu tổng quan
về nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại SHBVN
1.5 Ý nghĩa đề tài
Nghiên cứu đã tổng hợp lại các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trước đây liên quan đến nợ xấu tại các ngân hàng, một số giải pháp xử lý nợ xấu Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã phân tích thực trạng tình hình nợ xấu tại SHBVN cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu tại SHBVN hiện tại Kết quả nghiên cứu về nợ xấu của ngân hàng từ
đó ngân hàng cần thường xuyên đánh giá thực trạng tình hình để kịp thời có biện pháp điều chỉnh và can thiệp cần thiết, qua đó có thể ngăn chặn/giảm thiểu và đưa ra hướng
xử lý nợ xấu phù hợp
1.6 Kết cấu đề tài
Đề tài này được thiết kế gồm năm (05) chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu;
Chương 2: Giới thiệu về Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam;
Chương 3: Cơ sở lý thuyết về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại;
Chương 4: Thực trạng nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam;
Chương 5: Giải pháp xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TNHH MTV
SHINHAN VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam
Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam thành lập văn phòng đại diện tại HCM năm
1993, vào thời điểm đó Ngân hàng Shinhan được xem như doanh nghiệp tiên phong thúc đẩy quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc Sau 2 năm, vào năm 1995 thành lập chi nhánh đầu tiên chi nhánh Ngân hàng Shinhan tại TP.Hồ Chí Minh Đến năm 2008 SHBVN được phép và trở thành một trong năm ngân hàng có 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đến năm 2011, cùng với vịêc hợp nhất với Ngân hàng Shinhan Vina, SHBVN chính thức trở thành ngân hàng nước ngoài có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam tại thời điểm đó
Chiến lược của SHBVN tại thị trường Việt Nam không chỉ là mở rộng thị phần mà còn đồng hành và tăng trưởng với ngành ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam Vốn có nhiều kinh nghiệm trên thị trường quốc tế cùng mạng lưới hoạt động rộng rãi cả Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ nên SHBVN cũng đánh giá Việt Nam là mảnh đất màu mỡ đối với dịch vụ tiêu dùng, bán lẻ
Tháng 4/2017, SHBVN đã vượt qua 4 đối thủ để trở thành đối tác mua lại mảng bán lẻ của ANZ tại Việt Nam Tháng 12/2017, Ngân hàng Shinhan đã chính thức tiếp nhận từ ANZ toàn bộ khối kinh doanh ngân hàng bán lẻ Thương vụ này giúp SHBVN trở thành ngân hàng ngoại lớn nhất tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại Đến cuối năm 2018 SHBVN
đã có 30 chi nhánh và Phòng Giao dịch (PGD) tại các tỉnh, thành lớn và được cấp phép
mở thêm 5 chi nhánh và PGD trong năm 2019 Điều này cũng thể hiện rõ mục tiêu của SHBVN, tập trung vào lĩnh vực tài chính tiêu dùng tại Việt Nam cũng như Ngân hàng nước ngoài số 1 Việt Nam
Trang 19Cơ cấu tổ chức hiện tại của SHBVN hiện tại như sau:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam
Khối kế hoạch điều hành
Hội đồng xử lý rủi
ro Hội đồng tín dụng
Ủy ban quản lý tài sản
công nợ
Ủy ban nhân sự
Ban kiểm soát
Kiểm toán nội bộ
Ủy ban Quản lý rủi
ro Tổng giám đốc
Trang 202.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam
Trước những thay đổi đáng kể ngoài cơ cấu tổ chức - thêm khối CCPL chuyên kinh doanh và quản lý các sản phẩm bán lẻ như thẻ tín dụng và cho vay cá nhân Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam đã có những bước chuẩn bị trước cho mình để đủ sức tiếp nhận thêm toàn bộ bộ máy, cấu trúc, sản phẩm liên quan từ ANZ chuyển qua Tác giả sẽ tổng quát lại tình hình hoạt động kinh doanh của SHBVN trong thời gian vừa qua
2.2.1 Tình hình huy động vốn
Nhìn sơ lược ban đầu về khối lượng tiền gửi ta thấy SHBVN trong 6 năm gần đây qua Biểu đồ 2.1 tăng trưởng khá tốt Năm 2013 nguồn vốn huy động từ khách hàng của SHBVN là 18,232,250 triệu đồng, tăng thêm 9,265,120 triệu đồng vào năm 2016, đến năm 2015 giảm nhẹ Trong giai đoạn 2014-2015 tiền gửi của khách hàng giảm do trong giai đoạn này lãi suất huy động và cho vay VNĐ đều giảm nhẹ để tạo điều kiện thúc đẩy tăng trường kinh tế Trong năm 2015 trần lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức 5.5% được NHNN duy trì trong cả năm Cùng với đó lãi suất huy động USD cũng được điều chỉnh xuống mức 0% với mục tiêu của NHNN là ngăn chặn tình trạng giữ ngoại tệ, thực hiện giải pháp đồng bộ nhằm chống đô la hóa của Chính phủ và chuyển từ huy động – cho vay sang mua-bán bằng ngoại tệ
Đến năm 2016, lãi suất huy động VNĐ có sự điều chỉnh tăng nhẹ So với năm 2015 lãi suất huy động tăng khoảng 0.5-1% ở các kỳ hạn dài trên 12 tháng do các ngân hàng cạnh tranh về nguồn vốn trung dài hạn để đáp ứng Thông tư 06 yêu cầu tỷ lệ vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn hạ từ mức 60% trong năm 2016 xuống còn 50% trong năm 2017 Điều này cũng cho thấy kết quả lượng tiền gửi tại SHBVN đã tăng mạnh tới 55.44% so với năm 2015 đạt con số 41,954,349 triệu đồng Và không dừng lại, SHBVN tiếp tục mở rộng, tăng lượng huy động đạt 58,731,435 triệu đồng (tăng gần 40%) vào năm 2017, tiếp tục đạt 67,107,117 triệu đồng vào năm 2018 tức tương đương tăng 14% so với năm 2017
Trang 21Biểu đồ 2.1 : Tiền gửi khách hàng tại SHBVN giai đoạn 2013-2018
Nguồn: Báo cáo tài chính SHBVN
2.1.1 Tình hình cho vay
Cùng với hoạt động huy động vốn thì hoạt động cho vay khách hàng của Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam cũng tăng trong 6 năm vừa qua giai đoạn từ 2013-2018 Thể hiện cụ thể ở Biểu đồ 2.2 sau đây
Biểu đồ 2.2 : Cho vay khách hàng tại SHBVN giai đoạn 2013-2018
Nguồn: Báo cáo tài chính SHBVN
Trang 22Biểu đồ 2.2 cho thấy mức độ tăng của hoạt động sử dụng vốn hay cho vay tại SHBVN
Sự tăng trưởng tín dụng của SHBVN đã thể hiện rất rõ rệt khi liên tục tăng trong 6 năm qua Giai đoạn năm 2014-2015, lãi suất huy động giảm cũng tạo điều kiện cho lãi suất cho vay giảm theo hỗ trợ hoạt động sản suất kinh doanh đồng thời cũng tăng trưởng tín dụng Nhưng SHBVN vẫn tăng rõ rệt với mức tăng đạt trong năm 2015 là 11.20% so với năm 2014 Năm 2017 SHBVN đã cho vay khách hàng tới 40,091,902 triệu đồng, tương ứng tăng 47.82% so với năm 2016 Việc tăng trưởng mạnh trong năm 2017 cuả SHBVN trong hoạt động cho vay một phần lớn xuất phát từ thương vụ mua lại mảng bán lẻ của ANZ cũng như mục tiêu phát triển bán lẻ của chính SHBVN Theo đó SHBVN đã mở rộng thêm 8 Chi nhánh/PGD cho mình tại Hà Nội và TP.HCM cũng như toàn bộ nhân viên khối dịch vụ ngân hàng bán lẻ này Và đà tăng trưởng tín dụng đạt 45,194,633 triệu đồng vào năm 2018, tương đương tăng 12.73% so với năm 2017
2.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh
Những năm qua SHBVN nhìn chung phát triển khá mạnh mẽ Tổng tài sản của SHBVN qua các năm luôn tăng Qua bảng 2.1 Tổng tài sản của SHBVN bên dưới ta thấy vào năm
2017 SHBVN đã tăng nhanh tổng tài sản của mình đạt con số 75,708,931 triệu đồng Tương ứng tăng tới 37.76% so với kì báo cáo tài chính trước tức năm 2016 và tiếp tục tăng 10.70% vào năm 2018 đạt 83,808,578 triệu đồng
Bảng 2.1 : Tổng tài sản của SHBVN giai đoạn 2013-2018
Trang 23Cùng với sự phát triển của mình thì lợi nhuận của SHBVN cũng tăng lên qua các năm Qua báo cáo tài chính từ năm 2013-2018 của SHBVN ta có Biểu đồ 2.3 dưới đây Năm năm gần đây lợi nhuận sau thuế của SHBVN liên tục tăng đều qua các năm Giai đoạn 2014-2015 mặc dù giảm lượng tiền gửi khách hàng nhưng SHBVN vẫn tăng trường cùng với đó cũng là sự tăng đều lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng Năm 2016 lợi nhuận sau thuế SHBVN đạt 1,036,972 triệu đồng, tới năm 2017 đã đạt 1,290,514 triệu đồng tăng tương ứng 24.45% Chỉ trong 5 năm từ 2013 đến 2017 lợi nhuận sau thuế của SHBVN
đã tăng hơn gấp đôi, năm 2017 so với năm 2013 đã tăng tới 102.70% Lợi nhuận sau thuế của SHBVN vẫn tiếp tục tăng 30.61% vào năm 2018 so với năm 2017
Biểu đồ 2.3 : Lợi nhuận sau thuế SHBVN giai đoạn 2013-2018
Nguồn: Báo cáo tài chính SHBVN
Trang 24Bảng 2.2 : Kết quả hoạt động kinh doanh của SHBVN giai đoạn 2013-2018
8,197,262
9,108,676 10,145,648 11,436,162 13,121,758
Lợi nhuận sau
thuế
636,649
784,948
911,414
1,036,972
1,290,514 1,685,596
Nguồn: Báo cáo tài chính SHBVN và tính toán của tác giả
Biểu đồ 2.4 : Tỷ lệ tăng trưởng ROA, ROE của SHBVN giai đoạn 2013-2018
Đơn vị: %
Nguồn: Báo cáo tài chính SHBVN và tính toán của tác giả
Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của việc quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Chỉ tiêu ROE thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của ngân
Trang 25hàng Và trong ngành ngân hàng chỉ tiêu ROE luôn cao hơn ROA do bản chất ngành ngân hàng là sử dụng nguồn tiền gửi để cho vay hoặc đầu tư kinh doanh Tại SHBVN kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện rõ điều này ROE cũng tăng qua các năm từ năm 2013-2018 điều này cho thấy ngân hàng đã sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu cũng như
sự tăng trường đều và liên tục qua các năm
Theo thông báo của Ngân hàng Nhà Nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng tương đương năm 2018 tức dự kiến 14% trong cuộc họp sáng ngày 07.01.2019 họp báo về kết quả hoạt động năm 2018 và triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2019 (Lan Hương, 2019) Ta nhận định được định hướng tăng trưởng kinh tế, hạn chế lạm phát Việc hạn chế tăng trưởng tín dụng từ cuối năm 2018 đến 2019 cho thấy mục tiêu tăng trưởng nhưng kèm theo đó là yêu cầu về chất lượng tín dụng của NHNN Vậy việc huy động vốn và cho vay của ngân hàng liệu có được thắt chặt hơn Theo tác giả để ổn định mức tăng trưởng tín dụng trên kèm theo vẫn đảm bảo về lợi nhuận cộng hưởng với nhu cầu,
xu thế của thị trường dẫn tới việc phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng
Trang 26Tóm tắt Chương 2
Chương 2 đưa ra cái nhìn tổng quan về lịch sử, quá trình hoạt động cũng như thực trạng cho vay tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam cùng mục tiêu năm 2019 của SHBVN là tăng trưởng tín dụng đối với đối tượng khách hàng cá nhân cho các khoản vay tiêu dùng đặc biệt như các sản phẩm: Consumer Loan, Loyal Employee Loan, đối tượng khách hàng với thu nhập trung bình - thấp trở lên từ đó vấn đề về hạn chế nợ xấu, cách thức xử lý khi có các vấn đề về nợ tiêu dùng xảy ra càng phải chú trọng, làm rõ và lên kế hoạch xử lý tốt nhất từ tất cả các khâu tín dụng như đối tượng, thẩm định, quản lý sau vay, quy trình xử lý khi phát sinh nợ xấu ngoài phương án hạ nhóm nợ sớm, trích lập dự phòng cao hay đưa ra ngoại bảng làm ảnh hưởng năng lực thực sự của Ngân hàng Qua đó nghiên cứu sẽ đưa ra những cơ sơ lý thuyết, các nghiên cứu của các tác giả trước
ở chương tiếp theo để học hỏi cũng như xem xét mức độ phù hợp với thực trạng ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam - Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam
Trang 27CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3.1 Tổng quan về nợ xấu
3.1.1 Khái niệm
Theo Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia của Quỹ tiền
tệ IMF (International Monetary Fund) đã đưa ra rằng một khoản vay là nợ xấu (NPL) khi việc thanh toán tiền lãi và/hoặc gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến hạn đến 90 ngày hoặc nhiều hơn đã được vốn hóa, tái cơ cấu, hoặc gia hạn nợ, khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ không được thực hiện đầy đủ ví dụ như người vay phá sản
Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng xác định việc khoản nợ bị coi là không trả được nợ phát sinh với một người vay riêng lẻ khi một trong hai điều sau xảy ra:
(i) Ngân hàng cho rằng người vay hầu như sẽ không thực hiện nghĩa vụ tín dụng cho Ngân hàng một cách đầy đủ, mà không có các hành động truy đòi của Ngân hàng như là bán tài sản đảm bảo
(ii) Người vay đã quá hạn 90 ngày với bất kể nghĩa vụ tín dụng theo tài liệu nào với Ngân hàng Thấu chi sẽ được cân nhắc là quá hạn khi mà khách hàng vi phạm giới hạn đã được thông báo hoặc đã được thông báo một hạn mức thấp hơn mức thấu chi hiện tại
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có định nghĩa nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5
Trang 28Theo điều 11 Thông tư 02/2013/TT-NHNN phân loại nợ theo phương pháp định tính như sau:
❖ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gốm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất
❖ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao
❖ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
3.1.2 Phân loại nợ xấu
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ được phân theo 05 nhóm dựa theo phương pháp định lượng, trong đó những khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 là nợ xấu Cụ thể:
❖ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
(ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu;
(iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
(iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
Trang 29- Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của
tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
- Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
- Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;
- Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
- Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các
tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
(v) Nợ đang thu hồi theo kết quả thanh tra;
(vi) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
❖ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
(iv) Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
(vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
Trang 30❖ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn trên 360 ngày;
(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
(iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
(v) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
(vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;
(viii) Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này
3.1.3 Đo lường nợ xấu
Trang 31❖ Tỷ lệ nợ khó đòi: Tổng dư nợ và Nợ khó đòi/ Nợ xấu:
Tỷ lệ này cho biết chỉ tiêu tương đối của nợ khó đòi Chỉ tiêu này phản ánh khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi
ro mất vốn của ngân hàng càng cao (Phạm Thái Hà, 2016)
❖ Tỷ lệ giữa các khoản xóa nợ trong năm so với tổng dư nợ cho vay:
𝐷ư 𝑛ợ 𝑐á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 đượ𝑐 𝑥ó𝑎 𝑛ợ 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑛ă𝑚
Các khoản xóa nợ là khoản vay được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi vốn và được phân vào nhóm 5 Các khoản vay này được ngân hàng dùng quỹ dự phòng
cụ thể để xử lý rủi ro và theo dõi ở ngoại bảng
❖ Tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng dư nợ cho vay kỳ báo cáo:
❖ Tỷ lệ dự phòng RRTD trên nợ xấu:
Tỷ lệ này cho biết khả năng bù đắp nợ xấu của quỹ dự phòng rủi ro Tùy theo cấp độ rủi
ro của từng khoản vay mà ngân hàng phải trích lập mức dự phòng từ 0 – 100% giá trị khoản vay (Nguyễn Văn Tiến, 2012) Tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi
ro đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn và ngược lại
Trang 323.1.4 Nguyên nhân nợ xấu
3.1.4.1 Từ phía Ngân hàng
- Do mục tiêu phát triển tín dụng của chính Ngân hàng muốn đẩy nhanh hơn làm tác động tới việc tìm kiếm lượng khách hàng cũng như chất lượng khách hàng của các cán bộ tín dụng và sau đó là quy trình phê duyệt
- Do trình độ chuyên môn còn yếu kém của cán bộ tín dụng dẫn tới hiệu quả của việc nhận diện mức độ rủi ro của các khách hàng
- Do vấn đề đạo đức của cán bộ tín dụng khi phớt lờ hay vì lý do cá nhân/tư lợi cá nhân, mà cung cấp thông tin khách hàng sai đến bộ phận thẩm định sau
3.1.4.2 Từ phía khách hàng
- Khách hàng cố ý cung cấp thông tin sai hay không đầy đủ cho nhân viên ngân hàng
- Trình độ của bản thân khách hàng cũng như việc sử dụng khoản vay không đúng mục đích đã đưa ra
- Khách hàng không có thiện chí thanh toán khoản vay
3.1.4.3 Các nguyên nhân khác
- Vấn đề do thiên tai, dịch bệnh, … gây ra làm ảnh hưởng tới bản thân khách hàng, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng
- Doanh nghiệp vay vốn hoặc doanh nghiệp khách hàng vay vốn làm việc gặp các rủi
ro do sự thay đổi về chính sách của Nhà nước, tỷ giá, lạm phát, gây ra làm ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp, thu nhập của cá nhân Từ đó ảnh hưởng tới việc thanh toán khoản vay của khách hàng Ví dụ như vấn đề biểu tình tại các công
ty Đài Loan, Trung Quốc có trụ sở tại Bình Dương, Việt Nam Do sự thiếu hiểu biết hoặc bị kích động, quá khích dẫn tới ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp Có những doanh nghiệp đóng cửa đặc biệt làm ảnh hưởng đến việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của khách hàng
Trang 333.1.5 Tác động của nợ xấu
Một số ngân hàng trên thế giới bao gồm cả nước phát triển và đang phát triển đã trải qua những mất mát nghiêm trọng trong việc đầu tư tín dụng dẫn đễn sự thất bại của ngân hàng và nỗi sợ hãi toàn cầu về một cuộc khủng hoảng hệ thống Trong hơn thập kỷ qua, các nhà quản lý quốc tế (IMF, Ngân hàng Thế Giới và BIS) đã tham gia một số cuộc cải cách và các chương trình nhằm tăng cường hệ thống tài chính ngân hàng Bất chấp những
nỗ lực liên tục để kiểm soát hoạt động cho vay của ngân hàng, nợ xấu vẫn là một vấn đề lớn, mối quan tâm cho cả cơ quan quản lý quốc tế và địa phương (Boudriga, 2009)
3.1.5.1 Đối với nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính, là cầu nối cung và cầu tiền tệ trong nền kinh tế vì vậy, một ngân hàng có vấn đề hay sự biến động đặc biệt nào cũng
có thể ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Nợ xấu làm ảnh hưởng tới chi phí của ngân hàng đồng thời làm ảnh hưởng tới quá trình chu chuyển vốn Nợ xấu làm giảm việc tăng trưởng tín dụng hay phát triển của ngân hàng Đồng thời làm ảnh hưởng tới chất lượng, dịch vụ của ngân hàng cho nền kinh tế Và ảnh hưởng tới nguồn vốn cho vay, tài trợ cho các dự án kinh tế xã hội
Trong một nghiên cứu của Louzis et al (2012) đã kiểm tra các yếu tố quyết định của các khoản nợ xấu (NPL) trong ngành ngân hàng ở Hy Lạp, riêng cho từng loại cho vay (cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh và thế chấp) Biểu đồ 3.1 thể hiện kết quả nghiên cứu
về tổng tỷ lệ NPL đối với danh mục vay khác nhau dựa trên các biến số kinh tế như bài nghiên cứu đưa ra
Trang 34Biểu đồ 3.1 : Tổng tỷ lệ NPL đối với danh mục vay khác nhau dựa trên các biến số
kinh tế
Kết quả cho thấy, đối với tất cả các hạng mục cho vay, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
Hy Lạp có thể được giải thích chủ yếu bằng các biến số kinh tế vĩ mô (GDP, thất nghiệp, lãi suất, nợ công) và chất lượng quản lý Cụ thể, cho vay tiêu dùng là nhạy cảm nhất với những thay đổi về lãi suất cho vay và cho vay kinh doanh so với tốc độ tăng trưởng GDP thực tế, trong khi các khoản vay thế chấp ít nhạy cảm hơn với các điều kiện kinh tế vĩ
mô Và tỷ lệ nợ xấu phát sinh khi tăng trưởng kinh tế chậm, lãi suất tăng
Trong bài nghiên cứu khác về việc xác định các yếu tố vi mô và vĩ mô của các khoản nợ xấu (Messai và Jouini, 2013) đã nghiên cứu các biến có thể ảnh hưởng đến các khoản nợ nghi ngờ tại một số tổ chức tín dụng Châu Âu Kết quả cho thấy tăng trưởng GDP và lợi nhuận trên tổng tài sản của các tổ chức tín dụng có tác động tiêu cực đến các khoản nợ xấu Một số nghiên cứu thực nghiệm đã tìm thấy mối liên hệ tiêu cực giữa NPL và tăng trưởng GDP thực tế (Salas và Saurina 2002; Fofack, 2005; Jimenez và Saurina, 2006; Khemraj và Pasha, 2009; Dash và Kabra, 2010) Mức tăng trưởng GDP thực tế cao hơn đòi hỏi mức thu nhập cao hơn Điều này giúp cải thiện khả năng trả nợ của người vay và góp phần giảm nợ xấu Khi có sự suy thoái trong nền kinh tế (tăng trưởng chậm hoặc âm của GDP), mức độ nợ xấu sẽ tăng lên Tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất thực tế ảnh hưởng tích cực hay cùng chiều với nợ xấu
Trang 353.1.5.2 Đối với ngân hàng
Nợ xấu làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như tài sản của ngân hàng, khiến ngân hàng sử dụng vốn kém hiệu quả cũng như tăng trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ này, tăng thêm các chi phí quản lý, xử lý nợ, nguồn vốn bù đắp Từ đó, làm giảm lợi nhuận và ảnh hưởng uy tín của ngân hàng Trong trường hợp xấu nhất nợ xấu cũng có thể khiến phá sản ngân hàng Điều này đã được nhiều nghiên cứu thực nghiệm
và đưa ra kết luận, như nghiên cứu về Vấn đề cho vay và hiệu quả chi phí trong ngân hàng thương mại (Berger, 1997) đã phân tích mối quan hệ giữa chất lượng khoản vay và hiệu quả của chi phí Theo đó, khi tăng các khoản nợ xấu có xu hướng kéo theo giảm việc sử dụng hiệu quả chi phí, cho thấy các khoản vay có vấn đề ở mức càng cao khiến các ngân hàng tăng chi tiêu cho việc theo dõi, xử lý và/hoặc bán các khoản vay này, và
có thể làm tăng việc quản lý phần danh mục cho vay hiện tại đang thực hiện
3.1.5.3 Đối với khách hàng
Nợ xấu làm ảnh hưởng tới uy tín của khách hàng đồng thời làm tăng chi phí cho khoản
nợ xấu đó – khách hàng phải trả mức lãi suất phạt cao hơn lãi suất thường Đối với những khách hàng đã có nợ xấu điều này làm ảnh hưởng tới lịch sử tín dụng cũng như cơ hội
để tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng bị hạn chế hơn so với các cá nhân khác
3.2 Tổng quan nhân tố ảnh hưởng tới nợ xấu qua các nghiên cứu thực nghiệm
Một ngân hàng cùng với sự phát triển, tăng trưởng và mang về lợi nhuận luôn đối diện với những rủi ro đi kèm Trong đó, nợ xấu luôn là vấn đề Đã có nhiều nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng tới nợ xấu của các ngân hàng từ việc phân tích tại ngân hàng
ở các nước Tác giả xin đưa ra những nghiên cứu thực nghiệm để cho thấy mối quan hệ giữa những điều kiện kinh tế vĩ mô hay sự phát triển, mở rộng của chính ngân hàng đó
và nợ xấu
Rajan and Dhal (2003), phân tích nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến nợ xấu, tăng trưởng
Trang 36GDP cao phản ảnh điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi và môi trường kinh doanh tốt thì nợ xấu có xu hướng giảm
Berge và Boue (2007), nghiên cứu về hệ thống Ngân hàng Bắc Âu trong giai đoạn
1993-2005 kết luận rằng các khoản cho vay có vấn đề có liên quan đến mức lãi suất thực và tỷ
lệ thất nghiệp
Khemraj và Pasha (2009), nghiên cứu các yếu tố quyết định đến nợ xấu ở Guyna giai đoạn từ 1994-2004, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực đến nợ xấu, tăng trưởng GDP tỷ lệ nghịch với nợ xấu, sự cải thiện, phát triển trong nền kinh tế sẽ làm nợ xấu thấp hơn Các ngân hàng tính lãi suất tương đối cao hơn
và cho vay quá mức có thể phải chịu nợ xấu cao hơn
Festic et al (2011) nghiên cứu dữ liệu bảng cho 5 nước thành viên mới của EU (Bulgaria, Romania, Estonia, Latvia cà Lithuania) Nghiên cứu phân tích các mối quan hệ giữa tỷ
lệ của các khoản nợ xấu và các biến kinh tế vĩ mô Họ nhận ra rằng sự suy giảm trong hoạt động kinh tế, tăng trưởng tín dụng và tài chính hay tăng trưởng kinh tế quá nóng,
và thiếu sụ giám sát gây ra sự suy giảm trong việc xử lý nợ xấu
Chaibi và Ftiti (2015) qua việc sử dụng các biến kinh tế vĩ mô trong giai đoạn từ
2005-2011 tại Đức và Pháp cho ra kết quả nghiên cứu ngoại trừ tỷ lệ lạm phát, tập hợp các biến như tăng trưởng GDP, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá,… đều ảnh hưởng đến nợ xấu
Mwanza Nkusu (2011) trong nghiên cứu về nợ xấu và các lỗ hổng kinh tế vi mô trong nền kinh tế tiên tiến đã chỉ ra mối quan hệ giữa NPL và GDP, tỷ lệ thất nghiệp Trong
đó, tăng trưởng GDP và việc làm có liên quan tiêu cực đến nợ xấu Ngược lại, thất nghiệp
có mối liên quan tích cực đến nợ xấu tương tự như tỷ lệ lãi suất cũng vậy
Nguyễn Thị Thùy Dương (2015) sử dụng cơ sở dữ liệu của 20 NHTM trong vòng 5 năm
từ 2010-2014 để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng để nợ xấu kết quả cho thấy kết quả
Trang 37kinh doanh ROE và tăng trưởng tín dụng cùng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có mối quan
hệ ngược chiều với nợ xấu Quy mô ngân hàng tỷ lệ thuận với tỷ lệ nợ xấu NHTM Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều (2015), nghiên cứu xác định nhóm yếu tố đặc điểm ngân hàng ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) Với việc sử dụng dữ liệu được thu thập từ số liệu trong báo cáo tài chính của 32 NHTM Việt Nam từ năm 2010 đến 2013 Nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố như tăng trưởng tín dụng, quy mô dư nợ, và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động cho vay tác động đến RRTD cũng như có ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu NHTM
3.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia
Vào năm 1997 và 1998, Châu Á đã gặp phải một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng Hầu hết các quốc gia trong khu vực đã phải đối mặt với biến động tiền tệ lớn, khủng hoảng ngân hàng và thị trường chứng khoán lao dốc Với những kinh nghiệm trong quá khứ ở Châu Á về những khó khăn tài chính lớn cùng với biến động chính trị ở Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia và Malaysia đã tác động lớn tới nền kinh tế tài chính đặc biệt ngành ngân hàng cùng với đó để đưa ra kinh nghiệm tổng thể về xử lý nợ xấu của toàn ngành ngân hàng cũng như tại SHBVN cụ thể
3.3.1 Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc
Nợ xấu là trung tâm của cuộc khủng hoảng tài chính nhấm chìm nền kinh tế Hàn Quốc trong suốt những năm 1997-1998 Sự phục hồi của nền kinh tế được đặc trưng bởi sự giảm nhanh chóng và quyết liệt mức độ nợ xấu trong hệ thống tài chính Chính phủ Hàn Quốc đóng vai trò hàng đầu trong việc tái cấu trúc tài chính và doanh nghiệp bao gồm tăng cường khung pháp lý và quy định, bơm vốn và thành lập các tổ chức mới để quản
lý khủng hoảng, như là Tập đoàn quản lý tài sản Hàn Quốc - Korea Asset Management Corporation (KAMCO)
Trang 38KAMCO được mô tả như công ty quản lý tài sản, được thành lập vào tháng 4 năm 1962 với tư cách là một công ty con của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc - Korea Development Bank (KDB) Nhiệm vụ chính của tập đoàn đầu tiên là để thanh lý tài sản rủi ro của KDB Năm 1966, phạm vi hoạt động của KAMCO được mở rộng sang các tổ chức tài chính khác và dần thành lập một công ty quản lý bất động sản chuyên biệt Trong những năm 1980-1990 KAMCO được chính phủ ủy quyền quản lý và bán các tài sản bị nhà nước tịch thu trong bối cảnh điều tra thuế và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước khác KAMCO đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và giúp để phát trển thị trường tài chính Đầu tiên, KAMCO đã mua những tài sản rủi ro từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, cho phép cho vay tại thời điểm tính thanh khoản khó Mục tiêu này đã được thực hiện bằng việc tăng cường giám sát để chắc chắn cá ngân hàng hoạt động dựa trên các nguyên tắc thương mại hợp lý Thứ hai, giải quyết nợ xấu của KAMCO góp phần sự tiến bộ của Hàn Quốc trong việc thu hồi vốn công được chính phủ bơm vào để tái cấu trúc ngành tài chính Ngoài ra, KAMCO đã xử lý nhiều tài sản rủi ro qua một số phương án cải tiến bao gồm việc phát hành chứng khoán bảo đảm bằng tài sản (ABS) Sự phát triển tài sản rủi ro quyết định đến sự thành công của Hàn Quốc trong việc giải quyết nợ xấu
Trong nghiên cứu của Dong He (2004), KAMCO đã đóng một vai trò tạo thị trường bằng cách khắc phục và phối hợp các vấn đề thông tin Các hoạt động tiếp thị tích cực của nó
đã kết hợp và làm trung gian giữa người bán và người mua nợ xấu KAMCO đã thuyết phục thành công các công ty quốc tế đang tìm kiếm tài sản rủi ro để quan tâm đến thị trường Hàn Quốc Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài lần lượt cũng khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư trong nước Sự đồng thuận chính trị về sự cần thiết giảm nợ công đã giúp KAMCO tăng cường tập trung vào việc xử lý nhanh chóng các tài sản mua lại và thu hồi vốn công thay vì chỉ lưu trữ tài sản
Trang 39Theo chương trình do IMF hỗ trợ, chiến lược của chính quyền trong quản lý khủng hoảng
và tái cấu trúc ngành tài chính bao gồm 4 yếu tố chính:
- Đo lường khẩn cấp để nhanh chóng khôi phục sự ổn định cho hệ thống tài chính thông qua hỗ trợ thanh khoản, bảo lãnh tiền gửi và can thiệp vào các tổ chức không khả thi
- Tái cấu trúc các biện pháp để khôi phục khả năng thanh toán của hệ thống tài chính bằng cách can thiệp vào các tổ chức không có khả năng, mua bán nợ xấu và tái cấp vốn
- Các biện pháp điều tiết để tăng cường khuôn khổ hiện có bằng cách đưa ra các quy định và giám sát thận trọng phù hợp vơi thông lệ quốc tế
- Các biện pháp tái cấu trúc doanh nghiệp để giảm bớt sự khó khan của doanh nghiệp
và tính dễ tổn thương của các tỏ chức tài chính tiếp xúc với ngành có tỷ lệ nợ cao Tính cấp bách nền kinh tế Hàn Quốc bấy giờ hình thành KAMCO như đã nói ở trên KAMCO phân các tài sản mua từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác thành 2 loại: khoản vay thông thường và khoản vay đặc biệt Các khoản vay này được phân thành các khoản vay có đảm bảo và không có đảm bảo Lượng nợ xấu KAMCO mua lại tăng lên qua các năm và tỷ lệ nợ xấu ngày càng giảm thể hiện ở biểu đồ 4.1 bên dưới (Dong He,2004) điều này đã cho thấy vai trò tích cực của KAMCO trong việc xử
lý nợ xấu
Trang 40Biểu đồ 3.2 : Nợ xấu của ngành tài chính tại Hàn Quốc từ năm 1997-2002
Ngoài ra chính phủ Hàn Quốc cũng đưa ra những chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích khả năng bán các khoản nợ xấu như:
- Giảm thuế trên thặng dư vốn: Thặng dư vốn thu được từ việc chuyển đổi các tài sản
sở hữu bởi các tổ chức tài chính như KAMCO đều được giảm 50% thuế
- Tính vào chi phí: Khi các TCTD có số nợ xấu nhiều hơn mức dự phòng mất vốn các TCTD được phép bù phần nhiều hơn đó vào dự phòng định giá lại tài sản Phần bù
đó được tính vào chi phí khi tính thu nhập chịu thuế của TCTD
- Miễn giảm thuế giao dịch chứng khoán: Khi KAMCO hay TCTD nào mua cổ phiếu của các TCTD mất khả năng thanh toán để tổ chức lại tổ chức này và chuyển đối lượng cổ phiếu đó cho bên thứ ba sẽ được miễn giảm thuế
Hàn Quốc đã rất kịp thời, toàn diện và thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái
cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu khu vực tài chính để ổn định và phát triển kinh tế
3.3.2 Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan
Thái Lan đã trải qua thời kỳ bong bóng tài sản bị vỡ vào năm 1994 Khối lượng giao dịch bị đình trệ, thiếu thanh khoản thị trường, Dòng vốn vào Thái Lan cũng chậm lại