LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong công tác kế toán tại doanh nghiệp, các nhà kế toán phải tuân thủ chặt chẽ các quy định cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính đã được Bộ Tài chính ban hành,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS TS VŨ HỮU ĐỨC
TP Hồ Chí Minh – Năm 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Luận văn này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Học viên Đặng Thị Kim Thúy
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đến Thầy PGS TS Vũ Hữu Đức – người trực tiếp hướng dẫn luận văn – đã tận tình hướng dẫn và đóng góp cho tôi rất nhiều ý kiến bổ ích có giá trị trong việc lựa chọn đề tài cũng như trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn của mình
Kế tiếp, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô của khoa Sau Đại Học và khoa Kế toán – Kiểm toán trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt những kiến thức mới cho tôi trong suốt thời gian của khóa học
Cuối cùng, trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ gia đình và đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ này
Trân trọng kính chào
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07 tháng 12 năm 2010
Học viên Đặng Thị Kim Thúy
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong công tác kế toán tại doanh nghiệp, các nhà kế toán phải tuân thủ chặt chẽ các quy định cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính đã được Bộ Tài chính ban hành, bao gồm hệ thống các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam Tuy nhiên, các nhà kế toán đã gặp nhiều khó khăn khi xử lý nhiều vấn đề kế toán, xuất phát từ sự khác biệt giữa quy định trong chuẩn mực và quy định trong chế độ kế toán Việt Nam Hơn nữa, khi đứng trước các vấn đề kế toán mới chưa được Bộ Tài chính quy định phương pháp xử lý kế toán cụ thể, các nhà kế toán Việt Nam càng cảm thấy lúng túng hơn
Đứng trước thực trạng đó, khi được học tập và nghiên cứu sâu hơn về chuyên nghành
Kế toán, môn học Lý thuyết kế toán đã tác động rất lớn đến suy nghĩ của tôi, bởi vì nó
mở ra phương hướng giải quyết các vấn đề kế toán nói trên Nhất là khi tiếp cận các tài liệu nghiên cứu về Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Hoa Kỳ, quốc tế và một số quốc gia khác trên thế giới Tôi hiểu được vị trí, vai trò của Khuôn mẫu lý thuyết trong hệ thống kế toán của mỗi quốc gia Vì vậy, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề
tài : “Vận dụng Khuôn mẫu lý thuyết kế toán để hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế của mình
Hệ thống hóa các vấn đề của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam và một số hạn chế trong hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán hiện nay, đồng thời nghiên cứu thêm một số thông lệ xử lý kế toán quốc tế cho những vấn đề mới Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam
Trong khuôn khổ của luận văn, đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn ở các chuẩn mực và chế độ quy định đối với doanh nghiệp thông thường, không bao gồm các chuẩn mực hoặc chế độ quy định đối với nhóm công ty (công ty mẹ, con, liên doanh, liên kết, hợp nhất,…); đặc thù ngành (ngân hàng, bảo hiểm,…)
Trang 5IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, nghiên cứu các vấn đề trong mối quan hệ phổ biến và trong sự vận động, phát triển Đồng thời, kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể như : phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu và tổng hợp nhằm giúp luận văn đạt được mục tiêu đã đề ra
Trên cơ sở hệ thống hóa và đánh giá các vấn đề hiện nay của Khuôn mẫu lý thuyết trong việc phát triển các chuẩn mực kế toán trên thế giới, phân tích thực trạng Khuôn mẫu lý thuyết kế toán đối với hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam Đề xuất các giải pháp vận dụng Khuôn mẫu lý thuyết để hoàn thiện hệ thống chuẩn mực
và chế độ kế toán Việt Nam
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương :
Chương 1 : Những vấn đề chung về Khuôn mẫu lý thuyết kế toán
Chương 2 : Thực trạng Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam
Chương 3 : Vận dụng Khuôn mẫu lý thuyết kế toán để hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN 8
1.1 GIỚI THIỆU KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN 8
1.1.1 Tổng quan về Khuôn mẫu lý thuyết 8
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của khuôn mẫu lý thuyết cho lĩnh vực kế toán 9
1.2 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN 12
1.2.1 Cấu trúc của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán 12
1.2.2 So sánh nội dung Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của quốc tế và Hoa Kỳ 12
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUANH VAI TRÒ KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN 16
1.3.1 Các tranh luận về sự cần thiết của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán 16
1.3.2 Các kết quả đạt được của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán 18
1.3.3 Những tồn tại và thách thức của khuôn mẫu lý thuyết kế toán 18
1.3.4 Dự án hội tụ FASB-IASB về Khuôn mẫu lý thuyết kế toán 19
1.4 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT CỦA CÁC NƯỚC 23
1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết của Úc 23
1.4.2 Kinh nghiệm xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết của Trung Quốc 27
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN VIỆT NAM 32
2.1 HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA VIỆT NAM TRƯỚC KHI CÓ KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT 32
2.1.1 Đặc điểm của hệ thống kế toán Việt nam từ khi ra đời đến năm 1990 32
2.1.2 Đặc điểm của hệ thống kế toán Việt nam từ năm 1990 đến 1995 32
2.1.3 Đặc điểm của hệ thống kế toán Việt nam từ năm 1995 đến khi ra đời Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam năm 2002 33
2.2 KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN CỦA VIỆT NAM 34
2.2.1 Mục tiêu xây dựng khuôn mẫu lý thuyết cho Việt Nam 34
2.2.2 Nội dung cơ bản của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam 35
2.2.3 So sánh Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam và Khuôn mẫu lý thuyết kế toán quốc tế 41
2.2.4 Những hạn chế của khuôn mẫu lý thuyết Việt Nam so với quốc tế trên khía cạnh lý thuyết 43
2.3 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN VIỆT NAM ĐẾN CÁC CHUẨN MỰC VÀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VIỆT NAM 46
2.3.1 Mục tiêu và phương pháp khảo sát hệ thống kế toán Việt Nam 46
Trang 72.3.2 Kết quả khảo sát hệ thống kế toán Việt Nam 46
2.4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG BAN HÀNH MỘT SỐ CHUẨN MỰC VIỆT NAM CHƯA CÓ TRÊN NỀN TẢNG CỦA KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT HIỆN CÓ Ở VIỆT NAM 57
2.4.1 Danh sách các chuẩn mực Việt Nam chưa có 57
2.4.2 Nội dung cơ bản của các chuẩn mực Việt Nam chưa có 58
2.4.3 Các vấn đề cơ bản trong các chuẩn mực Việt Nam chưa có 61
2.4.4 Đánh giá khả năng ban hành các chuẩn mực Việt Nam chưa có trên nền tảng KMLT kế toán Việt Nam 62
Kết luận chương 2 63
CHƯƠNG 3 : VẬN DỤNG KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM 65
3.1 MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG SỬ DỤNG KMLT ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHUẨN MỰC VÀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VIỆT NAM 65
3.1.1 Mục đích sử dụng KMLT để hoàn thiện hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam 65
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam trên nền tảng khuôn mẫu lý thuyết kế toán 65
3.2 CÁC ĐỀ XUẤT VỀ ĐIỀU CHỈNH CHUẨN MỰC VÀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ PHÙ HỢP VỚI KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM 66
3.2.1 Điều chỉnh lại các vấn đề mà chế độ kế toán không thống nhất với chuẩn mực kế toán Việt Nam 66
3.2.2 Điều chỉnh lại các vấn đề chưa thống nhất giữa chuẩn mực/chế độ với khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam 71
3.3 CÁC ĐỀ XUẤT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM ĐỂ CÓ THỂ LÀM NỀN TẢNG CHO CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN MỚI Ở VIỆT NAM 81
3.3.1 Mục tiêu của báo cáo tài chính 81
3.3.2 Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính 82
3.3.3 Cân đối các đặc điểm chất lượng trong mối quan hệ lợi ích – chi phí 83
3.3.4 Vấn đề định giá 83
Kết luận chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89
Trang 8CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN
1.1 GIỚI THIỆU KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN
1.1.1 Tổng quan về Khuôn mẫu lý thuyết
Lý thuyết và cấu trúc lý thuyết
Lý thuyết được định nghĩa là “một hệ thống chặt chẽ các nguyên tắc từ giả định, lý luận cho đến vận dụng tạo thành một cơ sở tham chiếu tổng thể cho lĩnh vực nghiên cứu.”1
Cấu trúc của lý thuyết bao gồm quan hệ logic, quan hệ thực tiễn và quan hệ ứng dụng
- Quan hệ logic đề cập đến mối liên hệ giữa các khái niệm cơ bản Trong lý
thuyết, quan hệ logic được sử dụng để đưa ra các kết luận (conclusion) từ các tiền đề (promise)
- Quan hệ thực tiễn là mối quan hệ giữa các khái niệm lý thuyết và các đối tượng
trong thế giới thực Các kết luận rút ra từ các tiên đề có thể đảm bảo quan hệ logic nhưng chưa chắc đã là một điều đúng trong thực tế nếu các tiền đề sai Ngược lại, một kết luận không logic nhưng vẫn có thể phù hợp với thế giới thực
- Quan hệ ứng dụng thể hiện ảnh hưởng của các khái niệm hoặc đối tượng đến
con người, biểu hiện qua hai mặt : lý thuyết phục vụ cho hoạt động của con người và thái độ của con người trước các vấn đề 2
Khi đánh giá một lý thuyết về phương diện khoa học, hai tiêu chuẩn cơ bản là tính logic và tính thực tiễn Nghĩa là một lý thuyết được thừa nhận là khoa học khi nó được phát triển một cách logic và kết quả của nó phải phù hợp với thực tiễn Riêng tính ứng dụng thường không sử dụng vì việc ứng dụng một lý thuyết vào thực tế thường phải đòi hỏi những điều kiện nhất định
Khuôn mẫu lý thuyết cho các lĩnh vực khoa học
Trang 9Các lĩnh vực khoa học khác nhau đều dựa trên một khuôn mẫu lý thuyết, tức là một tài liệu liên quan đến lĩnh vực, xác định trước các điều khoản chính và mục tiêu cũng như yêu cầu của lĩnh vực đó Khái niệm về khuôn mẫu lý thuyết trong tiếng Pháp gọi
là “cadre”, từ này có nguồn gốc theo tiếng Ý là “quado” có nghĩa là hình vuông, được định nghĩa trong từ điển tiếng Pháp là “phạm vi mà trong đó một hành vi được thực hiện”
Khuôn mẫu lý thuyết bao trùm tất cả các khái niệm, định nghĩa và mục tiêu, từ đó phân định lĩnh vực hoạt động và đối tượng nghiên cứu Khuôn mẫu lý thuyết cũng được coi là một khuôn khổ khi đề cập đến lý thuyết, khuôn khổ đó cung cấp một lý giải khoa học cho các ứng dụng thực tế đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực đó
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của khuôn mẫu lý thuyết cho lĩnh vực kế toán
Giai đoạn chuẩn bị tiền đề
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán được ra đời đầu tiên tại Hoa Kỳ qua một quá trình lâu dài cùng với sự phát triển của các chuẩn mực kế toán Trước cuộc khủng hoảng kinh
tế năm 1929 thì việc thực hành kế toán trong các công ty không tuân thủ theo một quy định rõ ràng và thống nhất Đến năm 1933 khi Ủy Ban Chứng Khoán Hoa Kỳ (Security Exchange Commmittee viết tắt là SEC) ra đời, tổ chức này được giao nhiệm
vụ giám sát thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, trong đó bao gồm cả chức năng quy định hình thức và nội dung thông tin tài chính phải công bố của các công ty niêm yết Ngay
từ đầu, SEC chủ trương để cho tổ chức nghề nghiệp ban hành các nguyên tắc kế toán
và chỉ can thiệp vào quá trình này khi cần thiết
Trong 40 năm sau đó, các tổ chức lập quy khác nhau được hình thành để ban hành các nguyên tắc kế toán mà sau này được gọi là chuẩn mực kế toán :
- Ủy ban Thông lệ Kế toán (Committee on Accounting Procedures – viết tắt CAP) được Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) thành lập từ năm 1936 ban hành các Nghiên cứu Kế toán (Accounting Research Bulletin – ARB)
- Hội đồng Nguyên tắc Kế toán (Accounting Principle Board – viết tắt là APB)
ra đời năm 1959 thay thế vị trí của CAP APB đã ban hành 31 Ý kiến của APB (APB
Trang 10Opinion), 15 Nghiên cứu Kế toán (Accounting Research Studies – ARS) và 4 Công
Năm 1973, APB được thay thế bởi Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa Kỳ (Financial Accounting Standard Board - viết tắt là FASB) là một tổ chức tư nhân độc lập được ủng hộ mạnh mẽ của SEC Ngay sau khi thành lập FASB lập tức xem xét các vấn đề và quyết định làm việc để phát triển một Khuôn mẫu lý thuyết kế toán làm nền tảng cho việc xây dựng các chuẩn mực
Giai đoạn hình thành và phát triển
Kế thừa nhiều nghiên cứu từ năm 1961 đến 1973 của APB FASB tiến hành xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết kế toán dưới dạng Công bố về các Khái niệm của Kế toán tài chính (Statements of Financial Accounting Concepts – viết tắt SFAC), kết quả là SFAC đầu tiên được Hội đồng ban hành vào năm 1978 Từ năm 1978 đến năm 2000, các SFAC liên tiếp được ban hành Bảng 1 trình bày các SFAC đã được công bố của Hoa Kỳ
Như vậy, trong suốt 50 năm, nhiều nỗ lực xây dựng cái mà Paton và Littleton4
Trang 11Bảng 1 : CÁC CÔNG BỐ VỀ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
SFAC 1 Mục tiêu của báo cáo tài chính (BCTC) doanh nghiệp 1978 SFAC 2 Các đặc điểm chất lượng của thông tin kế toán 1980 SFAC 3 Các yếu tố của BCTC (sau này thay bằng SFAC 6) 1980 SFAC 4 Mục tiêu của BCTC cho tổ chức phi lợi nhuận 1980 SFAC 5 Ghi nhận và đo lường trên BCTC doanh nghiệp 1984
SFAC 7 Sử dụng các dòng tiền và hiện giá để đánh giá trong
Kế toán
2000
Sau Hoa Kỳ, các quốc gia Anglo-Saxon cũng lần lượt ban hành Khuôn mẫu lý thuyết
kế toán cho quốc gia của họ như :
- Úc : Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Úc ban hành Công bố về các Khái niệm Kế toán bắt đầu từ năm 1985
- Canada : Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Canada ban hành các Khái niệm Cơ bản của Báo cáo Tài chính bắt đầu từ năm 1988
- New Zealand : Hội đồng Chuẩn mực Kế toán New Zealand ban hành Công bố
về các Khái niệm của Báo cáo Tài chính cho Mục đích chung từ năm 1993
- Anh : Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Anh ban hành công bố về các Nguyên tắc Báo cáo Tài chính từ năm 1999
Giai đoạn hội tụ
Năm 1989, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC – nay là IASB5
) ban hành Khuôn mẫu lý thuyết về việc lập và trình bày báo cáo tài chính6 Khác với FASB, khuôn mẫu của IASB được ban hành toàn bộ một lần, trong đó tập trung vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Trang 12Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở các nước, nhiều quốc gia trên thế giới đã
áp dụng những chuẩn mực kế toán quốc tế Do đó, một số quốc gia đã sở hữu Khuôn mẫu lý thuyết kế toán riêng phải làm cho Khuôn mẫu lý thuyết của họ phát triển phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB và FASB đã đặt ra mục tiêu chung là hội tụ các chuẩn mực kế toán của hai bên
Cả hai cùng theo đuổi các dự án nhằm đạt được sự hội tụ các vấn đề cụ thể trong ngắn hạn bên cạnh một số dự án lớn mang tính dài hạn Hai bên đã đi đến một thỏa thuận trong năm 2002 (thường được gọi là Thỏa thuận Norwalk) trong đó cam kết về sự phát triển các chuẩn mực kế toán có chất lượng cao và tương thích, có thể được sử dụng cho các báo cáo tài chính cả trong Hoa Kỳ và toàn thế giới Hai bên dự kiến sẽ gặp phải những khó khăn khi hội tụ các chuẩn mực của họ nếu dựa vào các Khuôn mẫu lý thuyết kế toán khác nhau Do đó Dự án hội tụ về Khuôn mẫu lý thuyết giữa IASB và FASB được hình thành
1.2 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN
1.2.1 Cấu trúc của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán
Khuôn mẫu lý thuyết của mỗi hệ thống kế toán (quốc gia hoặc quốc tế) có cách trình bày khác nhau và có những điểm khác biệt nhất định, tuy nhiên nó thường bao gồm các nội dung cơ bản sau :
- Xác định người sử dụng báo cáo tài chính và mục đích của báo cáo tài chính
- Xác định các tiêu chuẩn chất lượng hoặc các nguyên tắc cơ bản của báo cáo tài chính, kể cả các hạn chế có thể có trong việc thực hiện các tiêu chuẩn/ nguyên tắc này
- Xác định các yếu tố của báo cáo tài chính, bao gồm cả vấn đề ghi nhận và đánh giá các yếu tố này
1.2.2 So sánh nội dung Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của quốc tế và Hoa
Kỳ
Trang 13Người sử dụng và mục đích của báo cáo tài chính
Cả hai khuôn mẫu đều xác định người sử dụng thông tin là những người ra các quyết định kinh tế và mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin để người sử dụng
ra các quyết định đó Tuy nhiên, theo FASB thì người sử dụng thông tin chủ yếu là nhà đầu tư và chủ nợ hiện hữu/tiềm tàng, cả chủ sở hữu và chủ nợ đều quan trọng; còn theo IASB thì các đối tượng sử dụng thông tin gồm nhà đầu tư và nhà tư vấn của họ, chủ nợ và nhà cung cấp, nhân viên và đại diện của họ, khách hàng, nhà nước và các
cơ quan hữu quan, công chúng IASB xác định phạm vi người sử dụng rộng hơn nhưng khi xác định đối tượng chủ yếu thì lại nghiêng về phía nhà đầu tư – chủ sở hữu của doanh nghiệp nhiều hơn
Các giả định và đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính
tế và kế toán, sẵn sàng nghiên cứu các thông tin với sự tích cực hợp lý
Tuy nhiên, trong khi IASB đề cập đến khái niệm này như một trong bốn đặc điểm chất lượng thì FASB coi đây là một đây là một yêu cầu chất lượng riêng liên quan đến người sử dụng (user-specific quality)
Thích hợp
Cả hai khuôn mẫu đều giải thích rằng thông tin kế toán thích hợp nếu nó có khả năng thực hiện một sự khác biệt trong việc ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính thông qua việc giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại hoặc tương lai; cũng như khẳng định hay điều chỉnh những đánh giá trước đây của họ Tuy nhiên có những khác biệt chi tiết là FASB cho rằng thông tin thích hợp thì phải được kịp thời,
Trang 14nếu không thì có thể mất đi tính thích hợp Trong khi đó, IASB lại chú ý đến khái niệm trọng yếu như là một “ngưỡng” để xem xét tính thích hợp của thông tin
Đáng tin cậy
Cả hai khuôn mẫu đều nói rằng thông tin chỉ hữu ích khi chúng đáng tin cậy và nhấn mạnh sự trung thực và tính trung lập trong đặc điểm đáng tin cậy Tuy nhiên khác biệt chi tiết khi giải thích khái niệm đáng tin cậy là FASB cho rằng thông tin đáng tin cậy trong phạm vi chúng có thể kiểm chứng, trong khi IASB đưa ra yêu cầu nội dung quan trọng hơn hình thức và thận trọng Bên cạnh đó, khái niệm “thận trọng” giữa hai khuôn mẫu có sự khác biệt đáng kể
o IASB cho rằng thận trọng là việc tăng thêm mức chú ý khi thực hiện một xét đoán khi ước tính trong các điều kiện chưa rõ ràng, sao cho tài sản và thu nhập không bị thổi phồng, nợ phải trả không bị giấu bớt Tuy nhiên, thận trọng không phải
là việc tạo ra các khoản dự phòng giả hoặc quá mức, cố tình khai thấp tài sản hoặc thu nhập, hoặc khai khống nợ phải trả hoặc chi phí Điều này thể hiện quan điểm bảo vệ nhà đầu tư (hoặc chủ nợ) của IASB
o Ngược lại, FASB đã phê phán sự mất trung lập nói trên, FASB nhấn mạnh
sự phản đối khái niệm thận trọng truyền thống là “chấp nhận một sai sót tiềm ẩn không đo lường dẫn đến khai thấp tài sản thuần/ lợi nhuận thuần còn hơn là khai cao hơn chúng” Theo FASB thì thận trọng là khi tồn tại một tình huống chưa rõ ràng, cần
cố gắng xem xét một cách đầy đủ những vấn đề không chắc chắn Nếu hai phương pháp ước tính có khả năng ngang nhau, thận trọng là lựa chọn phương pháp ít lạc quan hơn Theo FASB thận trọng được xem là một giới hạn vì nó liên quan đến một vấn đề quan trọng trong báo cáo tài chính là những tình huống không chắc chắn Nó phản ánh cách thức người kế toán xử lý trong tình huống này
Trung thực hợp lý
IASB có đề cập đến vấn đề BCTC cần trình bày trung thực và hợp lý về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc áp dụng các đặc điểm chất lượng và các chuẩn mực thích hợp sẽ được xem là mang lại
Trang 15sự trình bày trung thực và hợp lý cho báo cáo tài chính FASB không đề cập khái niệm này.
Các yếu tố của báo cáo tài chính, tiêu chuẩn ghi nhận và định giá
Cả FASB và IASB đều dựa trên quan điểm tiếp cận “Bảng cân đối kế toán”, phương pháp này tiếp cận dựa trên tài sản/nợ phải trả, trong đó doanh thu và chi phí trước hết được xác định trên sự thay đổi tài sản/nợ phải trả
IASB đưa ra các yếu tố cơ bản của báo cáo tài chính bao gồm : tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí Trong khi đó, FASB có thêm ba yếu tố là : đầu
tư của chủ sở hữu, phân phối cho chủ sở hữu và lợi nhuận tổng hợp Đồng thời tách rời các bộ phận thu nhập (gồm doanh thu và thu nhập khác) và chi phí (gồm chi phí và chi phí khác)
Về định giá, IASB cho rằng vấn đề đo lường là chọn lựa giữa các cơ sở đo lường và đưa ra các sơ sở đo lường như sau :
- Giá gốc (historical cost): Là số tiền hoặc tương đương tiền đã trả hoặc phải trả tại thời điểm ghi nhận tài sản
- Giá hiện hành (current cost): Là số tiền hoặc tương đương tiền phải trả để có được tài sản tương tự tại thời điểm hiện hành
- Giá trị có thể thực hiện (realizable/seatlement value) : Là số tiền mà có thể thu được từ việc bán tài sản tại thời điểm hiện hành
- Hiện giá (present value): Là giá trị quy về thời điểm hiện tại của những chuỗi tiền phải trả trong tương lai
Giá trị hợp lý cũng được đề xuất như là một phương án thay thế (alternative treatment) cho một số trường hợp đặc biệt Giá trị hợp lý thường được hiểu như là một phương án thay thế đo lường cho giá cơ sở là giá gốc
Trong khi đó, FASB cho rằng định giá bao gồm vấn đề thuộc tính (atribute) là đặc điểm về đo lường; các yếu tố của BCTC được định giá bằng những thuộc tính khác
Trang 16nhau của chúng, bao gồm giá gốc, giá hiện hành, giá trị có thể thực hiện, hiện giá và giá thị trường
Cả hai khuôn mẫu đều không đưa ra một cơ sở lý thuyết cho việc định giá mà dừng lại ở mức độ mô tả các loại giá (thuộc tính/ cơ sở tính giá) đang được sử dụng Cả hai cũng chưa đề cập đến giá trị hợp lý ngoại trừ IASB có nhắc đến như một cách thay thế giá gốc trong định giá ban đầu
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUANH VAI TRÕ KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN
1.3.1 Các tranh luận về sự cần thiết của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán
Trong suốt quá trình ban hành và áp dụng Khuôn mẫu lý thuyết (viết tắt là KMLT), các tạp chí kế toán của Hoa kỳ, tiêu biểu là hai tạp chí Journal of Accountancy của Viện kế toán viên công chứng Hoa Kỳ và tạp chí Accouting Horizons của Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ đã có các bài viết đánh giá và phê bình công khai về KMLT kế toán, rất nhiều ý kiến đưa ra quan điểm ủng hộ cho KMLT kế toán, nhưng cũng không thiếu những ý kiến không đồng tình với việc ban hành KMLT kế toán
Các lập luận ủng hộ KMLT kế toán
- KMLT tạo một cơ sở lý thuyết vững chắc cho quá trình soạn thảo chuẩn mực kế toán Trong đó, KMLT thể hiện những điều khoản cơ bản được sử dụng khi thực hành
kế toán Với nghĩa này KMLT cũng giống như một hiến pháp để thiết lập nguyên tắc
cơ bản (Paul B W Miller, 1985)7
Báo cáo tài chính bị chi phối bởi chuẩn mực hoặc các nguyên tắc chung được chấp nhận phổ biến, và những cái đó được bắt nguồn từ KMLT Kế toán cần phải có KMLT để hướng dẫn, cũng giống như cần phải có hiến pháp trong sự phát triển của pháp luật Nếu không có KMLT, các cuộc tranh luận sa vào sự cãi vã mà không có cơ
sở chung để phân tích (Robert N.Anthony, 1987)8
Trang 17- KMLT giúp giảm thiểu các ảnh hưởng chính trị trong quá trình soạn thảo và ban hành chuẩn mực Để giảm được các kẽ hở của các quy định kế toán trước các áp lực chính trị thì không có cách nào tốt hơn là chứng minh những ưu thế của việc xây dựng chuẩn mực trên nền tảng của khuôn mẫu (David Solomons, 1986) 9
- KMLT cung cấp thông tin cho các bên hiểu biết về những yêu cầu cơ bản để lập, hiểu và đánh giá các báo cáo tài chính Điều này thể hiện qua việc khuôn mẫu giúp cho giao tiếp đạt hiệu quả hơn, đem lại lợi ích cho những người làm kế toán và các tổ chức tài chính trên thế giới
- KMLT giải quyết vấn đề quá tải các chuẩn mực, KMLT là cơ sở vận dụng để giải quyết những vấn đề mới phát sinh mà các chuẩn mực kế toán chưa đề cập đến Miller cho rằng phải thừa nhận vấn đề các quá tải các chuẩn mực, KMLT sẽ loại bỏ được
vấn đề quá tải đó
Các ý kiến không đồng ý
- Các định nghĩa dựa trên các thông lệ chưa được giải thích rõ ràng và không giúp giải quyết được các vấn đề thực tiễn Một số tác giả cho rằng các định nghĩa là không
đủ chính xác để đẩy lùi các cuộc tranh luận về ý nghĩa và các ứng dụng của chúng
- KMLT không giúp giải quyết những vấn đề thực tế của kế toán; chẳng hạn KMLT không mô tả được đầy đủ những tồn tại thực tế, cũng không đưa ra các quy định có tính cụ thể cao cho việc thực hành kế toán trong tương lai (Paul B W Miller, 1985)10
- Bản thân quá trình soạn thảo KMLT cũng chịu ảnh hưởng của chính trị Mặc dù những người ủng hộ cho rằng KMLT loại bỏ ảnh hưởng chính trị đến quá trình soạn thảo chuẩn mực, nhiều ý kiến cho rằng KMLT vẫn là một văn bản mang màu sắc chính trị hơn là văn bản thuần túy để nỗ lực xây dựng lý thuyết Các Công bố đã ra đời từ các cuộc xúc tiến chính trị - cùng với sự thỏa hiệp cần thiết (Paul B W Miller, 1985)
- Nội dung của KMLT không khoa học và mâu thuẫn Một số định nghĩa nêu trong KMLT của FASB bị phê phán là ngớ ngẩn hoặc vô nghĩa, thí dụ goodwill (lợi thế
Trang 18thương mại) được ghi lại như là một tài sản trong khi doanh nghiệp không có khả năng kiểm soát toàn bộ các yếu tố tạo ra goodwill (Booth, 2003)11
Kế toán mang tính chất luật định hơn là khoa học Phê phán về việc hình thành KMLT kế toán, Seider cho rằng kế toán là lĩnh vực khoa học xã hội nhưng không có KMLT trong lĩnh vực khoa học xã hội Cho nên phát triển KMLT là một trong những
bằng chứng của sự thiếu hiểu biết và là sự kiêu ngạo của FASB (Seidler, 1984)12
1.3.2 Các kết quả đạt được của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán
Mặc dù phê phán KMLT ở nhiều góc độ cụ thể, nhìn chung KMLT được xem là đã đặt nền tảng lý thuyết cho quá trình lập quy Nó đặt nền tảng trên hệ thống lý thuyết
“thông tin hữu ích cho việc ra quyết định” và kế thừa các kết quả nghiên cứu của hai lĩnh vực học thuật và nghề nghiệp Việc các nước khác nhau liên tiếp thừa nhận KMLT sau Hoa-Kỳ vào những năm 1985 và 1999 có thể được hiểu như là một bằng chứng về sự hữu ích và tác dụng của KMLT (Françoise Pierrot)13
KMLT kế toán đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển các chuẩn mực kế toán trong những năm cuối thế kỷ 20 Khi thực tiễn kế toán phát triển không ngừng, các KMLT bộc lộ những tồn tại và việc hoàn thiện KMLT là một yêu cầu được đặt ra
1.3.3 Những tồn tại và thách thức của khuôn mẫu lý thuyết kế toán
Trước hết, nhiều ý kiến phê phán như đã trình bày trên cho thấy các khái niệm, lập luận và nguyên tắc của KMLT hiện hành có những hạn chế nhất định cả về tính logic
11
The Conceptual Framework as a Coherent System for the Development of Accouting Standars
12 No Accouting for the FASB‟s Draft on Recognitionband Measurement
13
Pierrot Françoise, The Anglo-Saxon Conceptual Framework, Research Center ERFI - ISEM – Université Montpellier 1
Trang 19phát triển của giá trị hợp lý bên cạnh các phương pháp định giá truyền thống Giá trị hợp lý không được đề cập đến như một loại giá độc lập trong KMLT nhưng nó trở thành một xu hướng quan trọng và gây nhiều tranh luận trong những năm gần đây Giá trị hợp lý phát triển mạnh trong kế toán, nhất là trong các hoạt động liên quan đến công cụ tài chính
1.3.4 Dự án hội tụ FASB-IASB về Khuôn mẫu lý thuyết kế toán
Đứng trước những tồn tại và thách thức nói trên, năm 2004, dự án hội tụ kế toán IASB – FASB (IASB – FASB Convergence Project) được tiến hành, trong đó có một
dự án về KMLT kế toán (như đã đề cập trong phần 1.1.2)
Trong dự án này, cả hai cùng tìm kiếm một Khuôn mẫu lý thuyết kế toán đầy đủ hơn làm nền tảng cho việc hướng đến một hệ thống chuẩn mực kế toán chất lượng cao mang tính toàn cầu Dự án này gồm 8 phần hành
A Mục tiêu và các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính
B Các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính
C Đo lường các yếu tố của báo cáo tài chính
D Đơn vị báo cáo
E Trình bày và công bố báo cáo tài chính
F Mục tiêu và trạng thái
G Ứng dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận
H Các vấn đề còn lại
Hiện nay, một số phần hành của dự án đã công bố dự thảo Tính đến tháng 03 năm
2010, đã có hai dự thảo được ban hành, một về mục đích và các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính và một về đơn vị báo cáo
Người sử dụng báo cáo tài chính
Dự án hội tụ IASB-FASB xem xét vấn đề người sử dụng BCTC dựa trên các lý thuyết góc nhìn Có nhiều vị trí khác nhau để tiếp cận vấn đề về kế toán Thí dụ, dưới góc độ chủ sở hữu, điều cần quan tâm nhất là phần tài sản thuần của mình đã thay đổi thế nào trong một quá trình kinh doanh Trong khi đó nếu nhìn từ góc độ toàn đơn vị, chủ sở
Trang 20hữu hay chủ nợ cũng đều là những người cung cấp tài chính cho công ty; vấn đề cần quan tâm là doanh nghiệp đã hoạt động và phát triển như thế nào
Do đó, việc lựa chọn một lý thuyết về góc nhìn làm nền tảng không những giúp giải quyết sự khác biệt quan điểm của cả hai KMLT hiện hành mà còn giúp đi đến một nguyên tắc xử lý nhất quán trong các chuẩn mực cụ thể Kết luận đưa ra của Dự án là
lựa chọn quan điểm đơn vị (entity perspective) thay vì quan điểm chủ sở hữu
(proprietary perspective)
Lập luận của Dự án là quan điểm chủ sở hữu hiện nay không còn phù hợp với hiện thực, quan điểm đơn vị sẽ phù hợp hơn, theo đó đơn vị có tài sản của riêng mình, tách biệt với tài sản của chủ sở hữu Những người cung cấp nguồn lực khác nhau có quyền lợi và có thứ tự ưu tiên khác nhau, nhưng tất cả đều có quyền đối với nguồn lực kinh
tế của đơn vị BCTC theo quan điểm đơn vị, phản ảnh các nguồn lực kinh tế của đơn
vị và các quyền của các bên cung cấp vốn cho đơn vị
Dựa trên sự lựa chọn quan điểm đơn vị, Dự án đưa ra mục đích của BCTC như sau : Mục đích của BCTC cho mục đích chung là cung cấp thông tin tài chính về doanh nghiệp báo cáo, các thông tin này hữu ích cho các nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác (hiện tại và tiềm tàng) trong việc đưa ra quyết định trong khả năng của mình như một người cung cấp vốn Các thông tin hữu ích cho việc ra quyết định của người cung cấp vốn cũng có thể hữu ích cho các đối tượng sử dụng khác của BCTC không phải là người cung cấp vốn
Tuy nhiên, Dự án khẳng định điều này không có nghĩa là các thông tin cần thiết cho các cổ đông hiện tại của đơn vị sẽ bị loại bỏ
Đơn vị báo cáo
Trong các khuôn mẫu hiện hành của IASB và FASB, các khái niệm về đơn vị kinh tế
hay BCTC hợp nhất chưa được đề cập Trong khi đó, thực tiễn về BCTC hợp nhất vẫn
tiếp tục phát triển Vì vậy, Dự án hội tụ đã đưa ra khái niệm đơn vị kinh tế thành một
nội dung của dự án với tên gọi “đơn vị báo cáo” và kết quả một dự thảo đã được ban hành, bao gồm việc định nghĩa khái niệm đơn vị báo cáo, giải thích phạm vi của BCTC hợp nhất trong mối quan hệ với các loại báo cáo khác
Trang 21Mục đích của BCTC
Dự án hội tụ IASB-FASB xác định mục đích của BCTC là : cung cấp thông tin tài chính về doanh nghiệp báo cáo, các thông tin này hữu ích cho các nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác (hiện tại và tiềm tàng) trong việc đưa ra quyết định trong khả năng của mình như một người cung cấp vốn
Với quan điểm cung cấp thông tin hữu ích cho các quyết định liên quan đến việc cung cấp vốn (bao gồm cả đầu tư và cho vay), Dự án cho rằng BCTC phải cung cấp thông tin để đánh giá về :
- Viễn cảnh của dòng tiền, giúp người đọc đánh giá số tiền, thời gian và tính không chắc chắn của các dòng tiền vào/ra trong tương lai từ cổ tức, lãi suất và việc bán đi, thực hiện hay đáo hạn của các chứng khoán và các khoản vay
- Khả năng quản lý của doanh nghiệp trong việc bảo vệ các nguồn lực kinh tế của các bên cung cấp vốn, sử dụng chúng hiệu quả để mang lại lợi nhuận và tránh các ảnh hưởng tiêu cực làm suy giảm giá trị của chúng
Cuối cùng, Dự án yêu cầu cần có những giải thích của người quản lý để người sử dụng hiểu được thông tin trên BCTC
Các đặc điểm chất lượng
Căn cứ trên các mục tiêu của BCTC được xác lập lại, dự án hội tụ đưa ra hai đặc điểm chất lượng cơ bản, bốn đặc điểm chất lượng bổ sung và hai hạn chế
Các đặc điểm chất lượng cơ bản là : thích hợp và trình bày trung thực
Thích hợp Thông tin thích hợp là thông tin có khả năng làm thay đổi quyết định của người sử dụng như một người cung cấp vốn, thông qua việc giúp họ : cung cấp đầu vào cho quá trình dự đoán về những triển vọng tương lai (chức năng dự đoán); xác nhận hoặc điều chỉnh các đánh giá trước đó (chức năng xác nhận)
Trình bày trung thực Để hữu ích, thông tin trên báo cáo tài chính phải trình bày trung thực về các hiện tượng kinh tế muốn trình bày Để trình bày trung thực, thông tin phải đầy đủ, trung lập và không có sai lệch trọng yếu
Trang 22o Đầy đủ, nghĩa là BCTC phải bao gồm mọi thông tin cần thiết để trình bày trung thực về hiện tượng kinh tế muốn trình bày
o Trung lập, nghĩa là không bị lệch lạc một cách có chủ đích để đạt đến một kết quả dự định trước hoặc dẫn dắt đến một phản ứng đặc biệt
Các đặc điểm chất lượng bổ sung là : Có thể so sánh, có thể kiểm chứng, tính kịp thời và có thể hiểu được
Có thể so sánh Thông tin có thể so sánh giúp cho người đọc có thể nhận ra sự tương
tự hoặc khác biệt giữa hai hiện tượng kinh tế Để đảm bảo khả năng có thể so sánh, các thông tin phải nhất quán, nghĩa là sử dụng cùng phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ cũng như trong một kỳ trong toàn doanh nghiệp
Có thể kiểm chứng Thông tin có thể kiểm chứng khi các quan sát viên độc lập và có
đủ kiến thức có thể nhất trí rằng : Thông tin trình bày trung thực về hiện tượng kinh tế muốn trình bày mà không có sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu; hoặc các phương pháp ghi nhận/ đánh giá đã chọn được áp dụng không có sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu
Tính kịp thời, nghĩa là thông tin có được cho người ra quyết định trước khi nó mất khả năng ảnh hưởng đến quyết định
Có thể hiểu được, liên quan đến việc phân loại, diễn giải và trình bày một cách rõ ràng
và súc tích Người đọc được yêu cầu có kiến thức hợp lý về hoạt động kinh doanh và kinh tế, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, có thể hiểu được Trong một số ít trường hợp rất phức tạp, một số ít người đọc có thể cần sử dụng tư vấn để hiểu được Các thông tin thích hợp không được loại trừ khỏi BCTC chỉ vì chúng quá phức tạp hoặc khó hiểu đối với một số người sử dụng mà không có sự trợ giúp
Trang 23Chí phí Lợi ích của BCTC phải biện minh được cho chí phí của người sử dụng và người lập BCTC, trên cả hai phương diện định lượng và định tính Các tổ chức lập quy sẽ thu thập thông tin định tính và định lượng của lợi ích và chi phí của các bên để nghiên cứu kỹ trước khi ban hành các chuẩn mực
Nhìn chung, Dự án đã sắp xếp lại các khái niệm cấu thành đặc điểm chất lượng và
quan trọng hơn, làm rõ một số khái niệm còn có sự nhận thức khác nhau
Thứ nhất, Dự án đã thay khái niệm “đáng tin cậy” bằng “trình bày trung thực” Các thuộc tính của “trình bày trung thực” cũng được làm rõ là đầy đủ, trung lập và không
có sai lệch trọng yếu Khái niệm “nội dung quan trọng hơn hình thức” không được đề cập đến vì nó đã được bao hàm trong “trình bày trung thực” Khái niệm “có thể kiểm chứng” được đưa ra ngoài thành một đặc điểm bổ sung vì không phải thông tin “trình bày trung thực” nào cũng có thể kiểm chứng độc lập
Thứ hai, khái niệm “thận trọng” cuối cùng đã được loại bỏ ra khỏi một yêu cầu chất lượng mong đợi của BCTC Lý do là nó mâu thuẫn với yêu cầu “trung lập”
Ngoài vấn đề mục tiêu của BCTC và các đặc điểm chất lượng đã được ban hành dự thảo thì vấn đề định giá vẫn là một nội dung đang được giải quyết trong Dự án hội tụ
1.4 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT CỦA CÁC NƯỚC
1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết của Öc
KMLT được hình thành từ rất sớm ở Úc kể từ năm 1985 (chỉ sau Hoa Kỳ) Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc (Australian Accounting Standards Board viết tắt là AASB) đã được thành lập theo Luật Chứng khoán và đầu tư do Ủy ban Chứng khoán và Đầu tư
Úc ban hành (còn gọi là Đạo luật ASIC 1989) Theo Đạo luật ASIC 2001 thì : chức năng của AASB là phát triển KMLT với mục đích đánh giá các chuẩn mực kế toán của Úc và của quốc tế
Cũng giống như Hoa Kỳ, KMLT của AASB được ban hành dưới các Công bố về lý thuyết kế toán (Statements of Accounting Concepts viết tắt là SAC) áp dụng cho cả khu vực tư và công, cho đến năm 2001 KMLT của Úc bao gồm :
Trang 24SAC 1 : Định nghĩa về đơn vị báo cáo
SAC 2 : Mục tiêu cho mục đích chung của BCTC
SAC 3 : Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính
SAC 4 : Định nghĩa và ghi nhận các yếu tố của BCTC
Sau khi ban hành SAC 4, AASB cũng ban hành Lý thuyết về đo lường
Một số khó khăn khi ban hành Khuôn mẫu lý thuyết của Öc
Khi ban hành SAC 4 : Định nghĩa và ghi nhận các yếu tố của BCTC, các phản ứng dữ dội của công ty đối với SAC 4 làm cho AASB lúc đó hoàn toàn bất ngờ, trước đây khi
ra bản thảo về : Định nghĩa và ghi nhận các yếu tố báo cáo tài chính thì không có phản ứng đáng kể thậm chí không có nhận xét nào
Các bất mãn về SAC 4 chỉ thể hiện rõ ràng khi Công bố này được ban hành chính thức Đã có 108 đệ trình và hàng loạt các mối quan tâm từ : các công ty, các cơ quan,
sở nghành, các nhóm quyền lợi, Viện Giám Đốc của Úc, Tập đoàn Thương Gia Úc, Hiệp hội Ngân hàng,…Họ phản ứng rằng : Định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận đã được xem xét quá mơ hồ, không chắc chắn và khó áp dụng trong thực tế; một thực tế khác nữa là SAC4 về cơ bản không phù hợp với các chuẩn mực kế toán hiện hành.14
So sánh của Khuôn mẫu lý thuyết của Öc và Khuôn mẫu lý thuyết của IASB
Xét về hình thức chung thì có sự nhất quán giữa hai KMLT Tuy nhiên, có một số khác biệt về nội dung:
- SAC 4 : Định nghĩa và ghi nhận các yếu tố, giải thích chi tiết hơn
- SAC 2 : Xác định mục đích của BCTC, đầy đủ hơn
Trang 25KMLT của Úc áp dụng cho cả khu vực công và tư, KMLT của IASB chỉ áp dụng cho khu vực tư
- Đo lường : KMLT của IASB đo lường chủ yếu theo giá gốc Trong khi đó KMLT của Úc cho phép sử dụng các loại giá :
o Giá hiện hành khi đánh giá lại tài sản phi tiền tệ
o Giá trị thị trường đối với các quỹ hưu trí
o Giá trị thị trường thuần cho các khoản bảo hiểm
o Giá trị hiện tại cho tài sản, nợ phải trả, các khoản phải trả cho nhân viên, tiền tệ và tài sản phi tiền tệ
o Giá thị trường đối với công cụ tài chính
o Giá trị thay thế đối với tài sản cơ sở hạ tầng và tài sản di sản 15
Thực trạng của Khuôn mẫu lý thuyết của Öc
Vào tháng 09 năm 2002 Úc đã ban hành Chương trình cải cách luật kinh tế của công
ty số 9 (Corporate Law Economic Reform Program viết tắt là CLERP 9) yêu cầu AASB thông qua các chuẩn mực kế toán quốc tế, xem như các chuẩn mực trong nước
kể từ tháng 01 năm 2005 Hai vấn đề được đưa ra tranh luận là : Úc sẽ tuân thủ hầu hết các chuẩn mực kế toán quốc tế mà không sửa đổi; hoặc Úc sẽ xây dựng các chuẩn mực kế toán riêng Như vậy, sẽ xảy ra một trong hai trường hợp : Úc sẽ lấy luôn KMLT của quốc tế để thay thế cho KMLT của mình; hoặc Úc sẽ vẫn sử dụng KMLT của Úc
Các nhà chuyên môn đã phân tích hai trường hợp trên như sau:
- Úc chấp nhận KMLT của quốc tế
15
Jones, S., and K Love, „Recent Evidence on Australian Current Value Accounting Practices: Is the Phoenix Rising from the
Ashes?‟, Accounting and Business Research Autumn 1995 và Walker, R G., and S Jones, „Measurement: A Way Forward‟, Abacus,
October 2003 Trích lại theo Stewart Jones and Peter W.Wolnizer, Harmonization and the Conceptual Framework: An International
Perspective, Abacus, Vol 39, No 3, 2003.
Trang 26Vì có những khác biệt giữa KMLT của Úc và quốc tế (như đã nói trong phần so sánh) cho nên rất khó để áp dụng KMLT quốc tế để thay thế cho KMLT của Úc Đồng thời nếu áp dụng KMLT quốc tế thì các chuẩn mực kế toán sẽ xuất phát từ quốc tế chứ không phải xuất phát từ Úc Điều đó ảnh hưởng đến sự đổi mới của Úc và làm hạn chế sự chủ động của Úc khi phát triển các chuẩn mực
Nói cách khác, khi Úc đánh mất KMLT của riêng mình thì Úc sẽ không còn quyền hạn của mình trong quá trình thiết lập các chuẩn mực, trong khi từ lâu Úc đã có tiếng
là đi tiên phong về phương pháp tiếp cận dựa trên các nguyên tắc để thiết lập các chuẩn mực 16
- Úc vẫn sử dụng KMLT riêng của mình
Nếu Úc vẫn giữ lại KMLT riêng của mình, thì KMLT đó sẽ được sử dụng để hỗ trợ cho việc thiết lập các chuẩn mực, mặc dầu các chuẩn mực được phiên dịch từ các chuẩn mực quốc tế nhưng Úc sẽ lựa chọn một trong những lựa chọn thay thế mà quốc
tế đã đưa ra nhằm thích hợp với điều kiện của Úc
Như vậy, qua phân tích của các nhà chuyên môn thì Úc nên giữ lại KMLT của mình chứ không lấy KMLT của quốc tế để thay thế cho KMLT của mình Do đó cuối cùng
Úc đã giữ lại KMLT của mình
Kinh nghiệm xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết của Öc
- Các quốc gia không thể rập khuôn hoàn toàn hoặc lấy luôn KMLT Quốc tế để làm KMLT cho nước mình Bởi vì làm như vậy thì sẽ không còn quyền tự chủ và quyền hạn của mình trong quá trình thiết lập các chuẩn mực
- Khi ban hành SAC 4, Úc đã gặp phải nhiều sự phản kháng, điều đó cho thấy rất khó khăn trong việc đạt được một sự đồng thuận chung, thậm chí chỉ trong vòng biên giới riêng của Úc mà thôi Đó là một lời nhắc nhở cho IASB rằng : sẽ khó khăn như thế nào để đạt được một KMLT được chấp nhận chung trên toàn cầu (Stewart Jones and Peter W Wolnizer) 17
16 Trích lại từ trang 377, theo Sir David Tweedie, Harmonization and the Conceptual Framework: An International Perspective,
Abacus, Vol 39, No 3, 2003.
17
Harmonization and the Conceptual Framework : An International Perspective, ABACUS, Vol 39, No 3, 2003
Trang 271.4.2 Kinh nghiệm xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết của Trung Quốc
Kế toán Trung Quốc trước khi xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết
Trước khi có KMLT, kế toán Trung Quốc được kế thừa từ Liên Xô, một hệ thống kế toán cung cấp thông tin để chính quyền trung ương lập kế hoạch và kiểm soát Năm
1970, Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế, thay đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế theo định hướng thị trường và Trung Quốc đã ban hành các chuẩn mực kế toán gần giống các nước phát triển trong nền kinh tế thị trường
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Trung Quốc
Bộ Tài chính Trung Quốc ban hành chuẩn mực kế toán đầu tiên được gọi là “Chuẩn mực kế toán cơ bản” (Viết tắt là Chuẩn mực cơ bản) tương tự như KMLT của IASB
và FASB ở một mức độ nhất định Mục đích của Chuẩn mực cơ bản là nó được sử dụng làm cơ sở để phát triển các chuẩn mực kế toán trong tương lai
- Người sử dụng
Chuẩn mực cơ bản của Trung Quốc xác định ba nhóm người sử dụng : Chính phủ; các nhà đầu tư, các chủ nợ; nhà quản lý doanh nghiệp và các bên liên quan
- Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính
Trong nhiều đặc điểm chất lượng được đề cập thì có tính thích hợp và đáng tin cậy, trong đó đáng tin cậy được đặt nặng hơn
- Định giá
Chuẩn mực cơ bản của Trung Quốc tuân thủ nghiêm chỉnh giá gốc và bất kỳ sai biệt nào so với giá gốc đều bị cấm Cụ thể như sau:
o Tài sản được ghi nhận theo giá gốc tại thời điểm mua Số tiền ghi trong sổ
kế toán không được điều chỉnh, ngay cả khi có sự biến động giá cả bất thường, trừ khi pháp luật Nhà nước hoặc các quy định khác quy định cụ thể về việc điều chỉnh (Điều 19)
o Đầu tư chứng khoán : được hạch toán theo giá trị thích hợp giữa giá gốc và
Trang 28có thể thực hiện
o Hàng tồn kho : được hạch toán theo giá gốc và được trình bày theo giá gốc trên BCTC
- Khái niệm bảo toàn vốn
Chuẩn mực cơ bản không có khái niệm bảo toàn vốn
Thực hành kế toán tại Trung Quốc
Vấn đề 1 : Khó khăn khi thiết lập các chuẩn mực kế toán
Mặc dù Chuẩn mực cơ bản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các chuẩn mực kế toán, nhưng Trung Quốc đã gặp phải một số khó khăn
o Đầu tiên, nhiều nhà kế toán ở Trung Quốc đã không hiểu biết tường tận về
lý luận của KMLT đã được phát triển ở các nước khác
o Thứ hai, nhiều nhà kế toán tại Trung Quốc đã không biết cách thay đổi thực
hành kế toán để phù hợp với Chuẩn mực cơ bản
o Ngoài ra, nhiều người không hiểu tại sao điều rất quan trọng đối với kế
toán khi thay đổi theo một nền kinh tế dựa trên thị trường thì tại sao hệ thống kế toán
cũ không thể tiếp tục phục vụ nhu cầu của người sử dụng BCTC
Vấn đề 2 : Tiếp nhận thực hành kế toán quốc tế
Người lập BCTC miễn cưỡng chấp nhận các chuẩn mực kế toán mới với các lý do khác nhau Hầu hết các kế toán viên không thích ứng với phương pháp tiếp cận mới Việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý, nhà đầu tư bên ngoài và công chúng vẫn còn là điều mới Chi tiết và công khai minh bạch được coi là phiền hà hơn là có lợi Trong giai đoạn đầu thực hiện, một số nhà quản lý cảm thấy rằng chi phí chuẩn bị và kiểm toán cao hơn lợi ích
Vấn đề 3 : Nghề nghiệp kế toán chưa sẵn sàng
Trang 29Các kỳ thi CPA mới bắt đầu vào cuối năm 1991 Hàng ngàn công ty tư vấn về kế toán
đã ra đời và cả hàng trăm ngàn người hành nghề cung cấp dịch vụ kế toán Tuy nhiên hiệu quả hoạt động của nghề nghiệp kế toán chưa cao Có một số tồn tại như : sự độc lập của các công ty kiểm toán tại Trung Quốc còn rất kém, năng lực nghề nghiệp của các CPA cũng chưa đạt yêu cầu, đạo đức nghề nghiệp của CPA còn là vấn đề đáng quan tâm.18
Vấn đề 4 : Học thuật cần đóng góp nhiều hơn trong việc phát triển kế toán
o Việc học hỏi kế toán có chất xúc tác của phong trào hiện đại và quốc tế hóa
kế toán tại Trung Quốc Tuy nhiên, sự đóng góp của các học giả cho sự phát triển của
lý thuyết và thực hành kế toán còn những hạn chế do những yếu kém nhất định trong
hệ thống học thuật của Trung Quốc
o Một trở ngại của nghiên cứu kế toán tại Trung Quốc là tầm nhìn của các nhà nghiên cứu Trong thời kỳ của nền kinh tế kế hoạch, kế toán được quy định bởi một hệ thống kế toán thống nhất, nó quy định từng chi tiết của hành nghề kế toán, từ các hình thức báo cáo kế toán đến các thủ tục và sổ sách kế toán, ngay cả các bài viết trên tạp chí cũng được chuẩn hóa Trong môi trường đó thì điều duy nhất người ta có thể làm là biện minh cho thủ tục kế toán, phải còn mất nhiều năm nữa thì các thái độ
18
Yunwei Tang, Bumpy Road Leading to Internationalization : A Review of Accounting Development in China, Accounting Horizons, March 2000
Trang 30Tang)19
- Đặc điểm chất lượng
Chuẩn mực cơ bản đặt nặng tính đáng tin cậy hơn tính thích hợp, cho nên trong định giá thì giá gốc được tuân thủ hết sức nghiêm ngặt, hạn chế này sẽ được đề cập ở phần sau
sẽ sớm phải thay đổi chuẩn mực kế toán cơ bản và theo xu hướng chung là loại bỏ nguyên tắc giá gốc trong kế toán.”
- Thực hành kế toán
Trong việc thiết lập các chuẩn mực kế toán, thực sự thì Trung Quốc đã bắt đầu với một KMLT chung Tuy nhiên, rất khó hoàn hảo khi không có tích lũy các kinh nghiệm thực tiễn và không có sự hỗ trợ từ giáo dục, bởi vì trong một đất nước có lịch
sử lâu dài của nền kinh tế kế hoạch, truyền thống tư tưởng đã ăn sâu trong gốc rễ thì việc thay đổi là rất khó Nghề nghiệp kế toán của Trung Quốc còn khá trẻ, đại đa số người học được trang bị kiến thức kế toán không đầy đủ Đạo đức nghề nghiệp là một vấn đề đáng quan tâm và chủ nghĩa nghề nghiệp cần phải có thời gian để hình thành
Kết luận chương 1
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán đã ra đời từ hơn ba thập kỷ qua, ngày càng phát triển và hiện nay vẫn trong giai đoạn hoàn thiện Trong xu thế hội nhập kinh tế và quốc tế hóa hiện nay, các quốc gia không thể phủ nhận vị trí và vai trò của KMLT kế toán trong việc thiết lập và phát triển các chuẩn mực kế toán Tuy nhiên, không thể lấy toàn bộ Khuôn mẫu lý thuyết của IASB để làm khuôn mẫu cho quốc gia của mình mà phải tự
19
Yunwei Tang, Bumpy Road Leading to Internationalization : A Review of Accounting Development in China, Accounting Horizons, March 2000.
Trang 31xây dựng một khuôn mẫu phù hợp
Khi xây dựng khuôn mẫu thì các quốc gia cần phải quan tâm đến hai yếu tố : chính trị
và kỹ thuật Yếu tố chính trị vừa gây ra áp lực nhưng đồng thời cũng tạo ra động lực trong quá trình xây dựng và vận dụng KMLT kế toán; trong khi đó yếu tố kỹ thuật đòi hỏi các quốc gia cần phải có bề dày của một nền tảng kiến thức và kinh nghiệm để giải quyết một vấn đề mang tính lý luận cao của nền kinh tế thị trường
Ngoài ra, khi xây dựng Khuôn mẫu lý thuyết các quốc gia cũng phải chú ý đến đặc điểm của hệ thống pháp lý, kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia mình thì mới có thể đạt được những thành công nhất định
Trang 32CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT
KẾ TOÁN VIỆT NAM
2.1 HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA VIỆT NAM TRƯỚC KHI CÓ KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT
2.1.1 Đặc điểm của hệ thống kế toán Việt nam từ khi ra đời đến năm 1990
Hệ thống kế toán Việt Nam đã hình thành trong thập niên 1950 và phát triển theo hướng dựa trên một hệ thống tài khoản kế toán và báo cáo tài chính thống nhất 20
Nền kinh tế Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1986 là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung Nhà nước thực hiện việc quản lý các doanh nghiệp trên cơ
sở quy định và giao nhiệm vụ kế hoạch sản xuất bằng các chỉ tiêu pháp lệnh Hệ thống
kế toán trong giai đoạn này được xây dựng nhằm cung cấp thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa của các đơn vị Năm 1970, Bộ Tài chính ban hành hệ thống tài khoản kế toán thống nhất áp dụng cho các xí nghiệp quốc doanh ở miền Bắc (Quyết định 425- TC/CĐKT ngày 14/12/1970) Sau ngày miền Nam giải phóng (30/4/1975), hệ thống kế toán nói trên được thống nhất áp dụng cho cả nước, hệ thống tài khoản kế toán lúc đó gồm 68 tài khoản
Thông qua số liệu kế toán, nhà nước thiết lập một sự kiểm tra và kiểm soát đối với hoạt động kinh tế của đơn vị Nhà nước với tư cách là người lãnh đạo và quản lý toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, các cơ quan chủ quản và các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước chính là các đối tượng sử dụng thông tin kế toán Cơ chế quản lý kinh tế này không phát huy tính năng động sáng tạo của từng đơn vị Để khắc phục nhược điểm nói trên thì cần phải có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Do đó, cần phải xây dựng một cơ chế mới về quản lý kinh tế, đi liền với cơ chế đó là một sự đổi mới về hệ thống kế toán và cơ chế tài chính
2.1.2 Đặc điểm của hệ thống kế toán Việt nam từ năm 1990 đến 1995
20 Vũ Hữu Đức, Trần Thị Giang Tân, Nguyễn Thế Lộc; Tìm hiểu chuẩn mực kế toán Việt Nam, NXB Thống kê năm 2010
Trang 33Bắt đầu từ năm 1986, Nhà nước thực hiện việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới về quản lý kinh tế đó là : cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Trong thời kỳ nay, các doanh nghiệp được giao quyền tự chủ về mặt tài chính, thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Thay vì can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp thì Nhà nước kiểm soát các xí nghiệp bằng pháp luật Nhà nước đã phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đa dạng hóa các loại hình sở hữu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các quy định pháp lý về kế toán đã có những thay đổi căn bản phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và phù hợp với cơ chế quản lý mới thời bấy giờ mà
cụ thể là Hệ thống kế toán doanh nghiệp ban hành năm 1990 Hệ thống các văn bản pháp quy và các chế độ kế toán đã được ban hành nhằm đáp ứng những yêu cầu cơ bản trong quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước cũng như tạo ra tiền đề quản lý tốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp
Tuy nhiên trong thời kỳ này, các nước trong khu vực và trên thế giới đã đi theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, trong khi đó hệ thống kế toán Việt Nam còn mang nhiều dấu ấn của thời bao cấp chưa phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế, do đó chưa thể hòa nhập với khu vực và quốc tế Để nâng cao vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế thì việc tiếp tục cải cách cơ chế quản lý kinh tế và hệ thống kế toán là một tất yếu khách quan
2.1.3 Đặc điểm của hệ thống kế toán Việt nam từ năm 1995 đến khi ra đời Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam năm 2002
Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta lại tiếp tục đổi mới, từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường Công cuộc đổi mới này đã thu được nhiều nguồn vốn đầu
tư nước ngoài, quan hệ kinh tế đối ngoại được phát triển Nền kinh tế nước ta bắt đầu hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới, nước ta đã gia nhập AFTA, APEC, được các tổ chức tài chính, tiền tệ thế giới và khu vực giúp đỡ cho vay vốn để đầu tư
và phát triển kinh tế
Với chính sách “mở cửa” nền kinh tế, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, hội nhập với kinh tế thế giới và các nước trong khu vực, việc xây dựng và phát
Trang 34triển môi truờng pháp lý cho hoạt động kế toán trở nên quan trọng và là vấn đề cấp thiết Các văn bản pháp quy về kế toán được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo cơ sở vững chắc cho các hoạt động kế toán, tài chính phát triển Văn bản pháp quy về kế toán trong thời kỳ này là Quyết Định số 1141 ngày 01 tháng 11 năm 1995
Khác với các hệ thống kế toán trước đây, hệ thống kế toán hiện hành được xây dựng gần giống những hệ thống đang được áp dụng tại các nước kinh tế phát triển, tuy nhiên nó vẫn mang nét đặc thù là có mối liên hệ chặt chẽ giữa các quy định kế toán với chính sách thuế, chính sách tài chính của Nhà nước Báo cáo tài chính (viết tắt là BCTC) của doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu thông tin cho các cơ quan thuế và các
cơ quan chức năng của Nhà nước Các quy định và các phương pháp kế toán áp dụng cho việc lập BCTC nhằm cung cấp thông tin về việc thực hiện các chính sách tài chính, chính sách thuế của Nhà nước
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đối tượng sử dụng thông tin kế toán không chỉ là các cơ quan Nhà nước như cơ quan Thuế, tài chính mà còn là các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng, khách hàng… Với nhận thức mới về đối tượng sử dụng thông tin kế toán như vậy, hệ thống kế toán cần phải được xây dựng để kế toán cung cấp được thông tin tài chính rõ ràng, dễ hiểu, công khai Thông tin tài chính đó cần phải dựa trên một số nguyên tắc có tính thích ứng, đồng bộ và thống nhất Đồng thời, với xu thế hội nhập và phát triển kinh tế thế giới, các quy định và phương pháp kế toán cũng cần phải được xây dựng theo những nguyên tắc chung mà các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đã áp dụng Trong hoàn cảnh đó, khuôn mẫu lý thuyết (viết tắt là KMLT) kế toán Việt Nam đã được ra đời vào năm 2002 KMLT bao gồm các khái niệm cơ bản nhất của BCTC, làm cơ sở cho các chuẩn mực kế toán, bảo đảm rằng các chuẩn mực này nhất quán với nhau
2.2 KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN CỦA VIỆT NAM
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Việt Nam được Bộ tài chính ban hành dưới hình thức một chuẩn mực kế toán, đó là Chuẩn mực Kế toán số 01 – Chuẩn mực chung theo Quyết định 165/2002/QĐ- BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002
2.2.1 Mục tiêu xây dựng khuôn mẫu lý thuyết cho Việt Nam
Trang 35Quan điểm của Bộ tài chính khi xây dựng KMLT cho Việt Nam là :
- Làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất;
- Giúp cho doanh nghiệp ghi chép kế toán và lập BCTC theo các chuẩn mực kế toán
và chế độ kế toán đã ban hành một cách thống nhất và xử lý các vấn đề chưa được quy định cụ thể nhằm đảm bảo cho các thông tin trên BCTC phản ánh trung thực và hợp lý;
- Giúp cho kiểm toán viên và người kiểm tra kế toán đưa ra ý kiến về sự phù hợp của BCTC với chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán;
- Giúp cho người sử dụng BCTC hiểu và đánh giá thông tin tài chính được lập phù hợp với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán 21
Như vậy, hai mục tiêu rất quan trọng mà Bộ tài chính đã đề ra khi xây dựng KMLT kế
toán cho Việt Nam đó là : Làm cơ sở để xây dựng hệ thông kế toán theo khuôn mẫu thống nhất và xử lý các vấn đề chưa được quy định cụ thể
2.2.2 Nội dung cơ bản của Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán Việt Nam bao gồm bốn phần : các nguyên tắc kế toán cơ bản, các yêu cầu cơ bản đối với kế toán, những yếu tố của báo cáo tài chính và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính
2.2.2.1 Các nguyên tắc kế toán cơ bản
Bao gồm bảy (7) nguyên tắc cơ bản là: Cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu
- Cơ sở dồn tích : Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
21 Đoạn 1, Chuẩn mực kế toán số 01.
Trang 36- Hoạt động Liên tục : BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì BCTC phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập BCTC
- Giá gốc : Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể
- Phù hợp : Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận
một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến
việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra
doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh
thu của kỳ đó
- Nhất quán : Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của
sự thay đổi đó trong phần thuyết minh BCTC
- Thận trọng : Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
o Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
o Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
o Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
o Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng
về khả năng phát sinh chi phí
Trang 37- Trọng yếu : Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể BCTC, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh
cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính 22
2.2.2.2 Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán
Bao gồm sáu (6) yêu cầu cơ bản là : trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu
và có thể so sánh
- Trung thực : Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên
cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Khách quan : Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
- Đầy đủ : Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
- Kịp thời : Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ
- Dễ hiểu : Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn
đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh
- Có thể so sánh : Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh
22
Đ oạn 05 đến đoạn 09, Chuẩn mực kế toán số 01
Trang 38để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch 23
2.2.2.3 Các yếu tố của báo cáo tài chính
Bao gồm các yếu tố xác định tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính
Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp
là Tài sản, Nợ phải trả, Vốn chủ sở hữu được định nghĩa và giải thích như sau :
- Tài sản : “Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh
tế trong tương lai.”
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản được thể hiện trong các trường hợp, như :
o Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng;
o Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác;
o Để thanh toán các khoản nợ phải trả;
o Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.24
- Nợ phải trả : “Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch
và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình.”
Nợ phải trả xác định nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhận về một tài sản, tham gia một cam kết hoặc phát sinh các nghĩa vụ pháp lý
Trang 39Nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua, như mua hàng hoá chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hoá, cam kết nghĩa vụ hợp đồng, phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác.25
- Vốn chủ sở hữu : “Là giá trị vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị Tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả.”
Vốn chủ sở hữu được phản ánh trong Bảng cân đối kế toán, gồm: vốn của các nhà đầu
tư, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá tài sản 26
Tình hình kinh doanh
Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định và đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là Doanh thu, Thu nhập khác và Chi phí được định nghĩa và giải thích như sau :
- Doanh thu và thu nhập khác : “Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường
và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu.”
Doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và thường bao gồm : Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia…
o Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập phát sinh từ các hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, như: thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng, 27
- Chi phí : “Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.”
Trang 40Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác
o Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như : giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,… Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị
Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: chi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng,…28
2.2.2.4 Ghi nhận các yếu tố của BCTC
Một khoản mục được ghi nhận trong BCTC khi thoả mãn cả hai tiêu chuẩn :
a/ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế hoặc làm giảm lợi ích kinh tế trong tương lai; b/ Khoản mục đó có giá trị và xác định được giá trị một cách đáng tin cậy
Ghi nhận tài sản
Tài sản được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi doanh nghiệp có khả năng chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và giá trị của tài sản đó được xác định một cách đáng tin cậy
Tài sản không được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi các chi phí bỏ ra không chắc chắn sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp thì các chi phí
đó được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi phát sinh
Ghi nhận nợ phải trả
Nợ phải trả được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn
là doanh nghiệp sẽ phải dùng một lượng tiền chi ra để trang trải cho những nghĩa vụ
28
Đ oạn 31b, 36 và 37, Chuẩn mực kế toán số 01.