1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phát triển loại hình kinh doanh Siêu Thị ở Tp.HCM đến năm 2010

73 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 488,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế đó sự ra đời của loại hình bán lẻ mới – bán lẻ tại các siêu thị Supermarket là một tất yếu khách quan Thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế – chính trị lớn nhất và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN THỊ NHUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SIÊU THỊ

1.1 Hệ thống phân phối hàng tiêu dùng .1

1.1.1 Khái niệm phân phối 1

1.1.2 Kênh phân phối .1

1.1.3 Các loại hình bán lẻ hàng hóa tiêu dùng 2

1.2 Loại hình bán lẻ siêu thị 5

1.2.1 Giới thiệu về siêu thị .5

1.2.2 Vị trí vai trò của siêu thị trong hệ thống bán lẻ hàng tiêu dùng .7

1.3 Lịch sử phát triển của siêu thị trên thế giới 8

1.3.1 Lý thuyết về sự phát triển của cửa hàng bán lẻ .8

1.3.2 Lịch sử phát triển của siêu thị trên thế giới .9

1.4 Sự phát triển của siêu thị ở Việt Nam .11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC SIÊU THỊ Ở TP.HCM THỜI GIAN QUA 2.1 Sự phát triển của loại hình kinh doanh siêu thị ở TP.HCM thời gian qua .13

2.1.1 Giai đoạn I: Thử nghiệm (từ 1993 - 1995) .13

2.1.2 Giai đoạn II: Xuất hiện ở khắp nơi (từ 1996 – cuối năm 1998) .13

2.1.3 Giai đoạn III: Cạnh tranh đào thải và chuyên ngyhiệp hơn (từ năm 1999 đến nay ) .15

2.2 Thực trạng tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh của các siêu thị ở TP.HCM thời gian qua .18

2.2.1 Mô hình phổ biến của các siêu thị .18

2.2.2 Quy mô của các siêu thị .20

2.2.3 Phương thức bán hàng 21

2.2.4 Khách hàng của các siêu thị .21

2.2.5 Hàng hóa kinh doanh trong các siêu thị 22

2.2.6 Nhân lực của các siêu thị .23

2.2.7 Hoạt động marketing của các siêu thị 24

2.2.8 Công tác tổ chức nguồn hàng .25

2.2.9 Kết quả hoạt động kinh doanh .26

KẾT LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC SIÊU THỊ Ở TPHCM THỜI GIAN QUA .27

Trang 4

CHƯƠNG III : ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN

LOẠI HÌNH KINH DOANH SIÊU THỊ Ở TP.HCM ĐẾN NĂM 2010

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng phát triển

của siêu thị ở TP.HCM 29

3.1.1 Các yếu tố của môi trường vĩ mô .29

3.2 Định hướng phát triển loại hình kinh doanh siêu thị ở TP.HCM .37

3.2.1 Quan điểm định hướng phát triển siêu thị ở TP.HCM 37

3.2.2 Dự báo xu thế phát triển của siêu thị ở TP.HCM trong thời gian tới 38

3.2.3 Định hướng phát triển loại hình kinh doanh siêu thị ở TP.HCM đến năm 2010 .41

3.3 Một số giải pháp để phát triển loại hình kinh doanh siêu thị ơÛ TP.HCM trong thời gian tới .45

3.3.1 Các giải pháp chung .45

3.3.2 Các giải pháp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị .46

3.4 Một số kiến nghị 51

3.4.1 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý .51

3.4.2 Những kiến nghị đối với các doanh nghiệp .52

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

Từ khi Đảng và nhà nước thực hiện chính sách cải cách kinh tế, nền kinh tế của nước ta đã có những chuyển biến rõ nét theo chiều hướng ngày càng tốt đẹp Kinh tế tăng trưởng, đời sống người dân ngày càng được nâng cao Hòa nhập với xu thế chung, ngành thương mại đã có những nổ lực vượt bậc trong việc thực hiện chức năng tổ chức lưu thông hàng hóa, phục vụ đời sống nhân dân, thúc đẩy sản xuất phát triển Cùng với sự phát triển của ngành thương mại, mạng lưới bán lẻ để phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng ngày càng tiến bộ văn minh hơn Trong xu thế đó sự ra đời của loại hình bán lẻ mới – bán lẻ tại các siêu thị (Supermarket ) là một tất yếu khách quan

Thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế – chính trị lớn nhất và năng động nhất nước cũng là thành phố đi đầu về phong trào phát triển loại hình kinh doanh siêu thị

Từ 1994 đến nay, thành phố đã có hàng loạt siêu thị ra đời và đi vào hoạt động Sự phát triển của siêu thị đã làm thay đổi phong cách mua sắm của người dân thành phố, góp phần nâng cao văn minh thương mại Sự góp mặt của hệ thống siêu thị vào lĩnh vực bán lẻ đã làm cho hoạt động bán lẻ ở thành phố sôi động hẳn lên

Trong số các siêu thị đã đi vào hoạt động có những siêu thị làm ăn có hiệu quả và thành công nhưng cũng có những siêu thị chỉ trong vòng một, hai năm đã thua lỗ và lặng lẽ rút lui khỏi thương trường

Tìm hiểu hoạt động của các siêu thị ở Thành Phố Hồ Chí Minh thời gian qua, chúng ta thấy nổi lên một số vấn đề sau:

- Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực siêu thị còn khá mới mẻ đối với nước

ta nói chung và thành phố nói riêng Do đó siêu thị phát triển ở thành phố còn mang tính tự phát Những vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh bán lẻ ở siêu thị và vị trí vai trò của siêu thị trong các kênh phân phối hàng tiêu dùng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống

- Mô hình một siêu thị như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của thành phố chưa được xác định rõ ràng cụ thể Siêu thị có những đặc trưng nào để phân biệt với các loại hình bán lẻ khác cũng chưa có những quy định thống nhất mang tính chuẩn hóa

- Phương thức hoạt động kinh doanh của các siêu thị vẫn còn là bài toán khó đối với các doanh nghiệp Bởi vì nếu không tìm ra được phương thức kinh doanh phù hợp, không tạo được phong cách riêng cho mình thì các siêu thị khó chiến thắng trong cạnh tranh và không đảm bảo hiệu quả kinh doanh

- Xuất phát từ tình hình thực tế như vậy, chúng tôi chọn đề tài :

“ Định hướng phát triển loại hình kinh doanh siêu thị ở Thành Phố Hồ

Chí Minh đến năm 2010 “ làm luận văn tốt nghiệp

Trang 6

Trong phạm vi đề tài này chúng tôi muốn làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn sau :

• Thứ nhất: chúng tôi muốn hệ thống hóa những vấn đề về mặt lý luận có

liên quan đến siêu thị như : Vị trí vai trò của siêu thị trong hệ thống kênh phân phối hàng tiêu dùng, các đặc trưng của loại hình bán lẻ đặc biệt này và lịch sử ra đời phát triển của nó

• Thứ hai : Nghiên cứu khảo sát về thực tiễn hoạt động kinh doanh của các

siêu thị ở thành phố thời gian qua để đánh giá khách quan các mặt hoạt động của các siêu thị nhằm rút kinh nghiệm để tiếp tục phát triển loại hình bán lẻ đặc biệt này trong tương lai

• Thứ ba : Đề xuất những định hướng , giải pháp để phát triển loại hình kinh

siêu thị ở thành phố trong thời gian tới nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao văn minh thương mại góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố

Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và một số phụ lục, phần nội dung chính dài 54 trang,được chia thành 3 chương:

- Chương I : Giới thiệu chung về siêu thị

- Chương II : Thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của các siêu thị ở TPHCM thời gian qua

- Chương III : Định hướng và một số giải pháp để phát triển loại hình kinh doanh siêu thị ở TPHCM đến năm 2010

Để giải quyết những vấn đề nêu trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :

- Phương pháp duy vật biện chứng : nghiên cứu siêu thị trong mối liên hệ, quan hệ qua lại với các yếu tố của môi trường bên ngoài và bên trong siêu thị

- Phương pháp lịch sử : Dựa vào việc phân tích nghiên cứu các số liệu lịch sử để dự báo xu thế phát triển của siêu thị

- Phương pháp nghiên cứu tự báo cáo : Chúng tôi tiến hành khảo sát thăm dò

ý kiến người tiêu dùng bằng bảng câu hỏi để thu thập thông tin có liên quan đến loại hình kinh doanh siêu thị và triển vọng phát triển của siêu thị trong tương lai

Để hoàn thành bản luận văn này chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước viết về các lĩnh vực : Quản trị kinh doanh, Quản trị bán hàng, Quản trị marketing và siêu thị Số liệu trong bản luận văn này, chúng tôi thu thập dựa trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của một số siêu thị điển hình ở TP HCM trong những năm gần đây và báo cáo thống kê của sở thương mại và một số báo, tạp chí niên giám thống kê…

Trang 7

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SIÊU THỊ

1.1 Hệ thống phân phối hàng tiêu dùng

1.1.1 Khái niệm phân phối:

Hoạt động phân phối có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau.Đối với người sản xuất, phân phối là những cách thức tổ chức giúp họ đưa sản phẩm tới người tiêu dùng cuối cùng

Đối với người tiêu dùng, hoạt động phân phối thể hiện ở quá trình vận động của hàng hóa bao gồm quá trình vận chuyển, dự trữ biến đổi và đưa hàng hóa đến phục vụ thỏa mãn nhu cầu của họ

Đối với các nhà phân phối chuyên nghiệp, hoạt động phân phối là lĩnh vực đòi hỏi phải tổ chức thực hiện các nghiệp vụ mua, bán, giao nhận, vận chuyển, dự trữ hợp lý để hoàn thành vai trò trung gian đưa hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng và có lợi nhuận

Khái quát lại có thể hiểu khái niệm phân phối như sau :

Phân phối là toàn bộ các hoạt động có liên quan đến việc tổ chức điều hành và vận chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng

Như vậy, phân phối là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng Nhờ hoạt động phân phối, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa do nhà sản xuất tạo ra được thực hiện Nhờ hoạt động phân phối, sản phẩm của các nhà sản xuất được tiêu thụ rộng rãi khắp nơi trên phạm vi toàn xã hội và nhu cầu tiêu dùng của mọi người trong xã hội được đáp ứng đầy đủ và tốt nhất

1.1.2 Kênh phân phối

Nói đến hoạt động phân phối, phải quan tâm đến cách thức vận động của hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất tới lĩnh vực tiêu dùng

Kênh phân phối là một tập hợp các tổ chức hay cá nhân tự nguyện gánh vác hay giúp đỡ cho việc chuyển giao quyền sở hữu đối vơí hàng hoá từ nhà sản xuất sang người tiêu dùng

Như vậy, kênh phân phối được hình dung như một chuỗi bao gồm các trung gian khác nhau có liên quan với nhau tạo nên đường đi của sản phẩm, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng

Các trung gian trong các kênh phân phối có thể là người bán sỉ, người bán lẻ hay người đại lý, môi giới

Cấu trúc các loại kênh phân phối có thể mô tả như sau :

Trang 8

SƠ ĐỒ 1 : CÁC KÊNH PHÂN PHỐI HÀNG TIÊU DÙNG

Qua sơ đồ trên chúng ta thấy rằng : người bán lẻ là trung gian cuối cùng trong kênh phân phối Những người bán lẻ là những người cận kề với người tiêu dùng, họ trưc tiếp phục vụ và thỏa mãn mọi nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ cho mọi người trong xã hội

Chúng ta tìm hiểu về hệ thống bán lẻ để làm rõ vị trí và vai trò của người bán lẻ, trong đó có siêu thị là đối tượng nghiên cứu của chúng ta

1.1.3 Các loại hình bán lẻ hàng hóa tiêu dùng

1.1.3.1 Khái niệm chung về bán lẻ

Bán lẻ ( Retailing) là hoạt động bán các sản phẩm hoàn chỉnh (finished goods) và dịch vụ cho người tiêu thụ để thoã mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình Như vậy bán lẻ bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh

Những người bán lẻ là các cá nhân hay tổ chức làm công việc bán lẻ,bất kể họ bán hàng hoá theo cách nào (bán trực tiếp, bán qua bưu điện , bán qua điện thoại, bán qua mạng internet ….)

1.1.3.2 Phân loại các loại hình bán lẻ

Công việc bán lẻ rất đa dạng , các nhà bán lẻ có thể tổ chức bán lẻ hàng hóa dịch vụ theo nhiều cách thức khác nhau

Người ta có thể phân loại các loaị hình bán lẻ theo nhiều tiêu thức khác nhau như:Theo quy mô, theo mặt hàng kinh doanh … Phổ biến nhất là người ta phân biệt các loại hình bán lẻ theo cách thức tổ chức bán hàng và hàng hoá kinh doanh Theo cách phân biệt này , bán lẻ gồm các loại hình chính như sau :

NHÀ

SẢN

XUẤT

NGƯỜI TIÊU

DÙNG

Đại lý môi giới

Người bán sỉ

Người bán lẻ

Người bán lẻ

Người bán lẻ Người

bán sỉ

Trang 9

- Bán lẻ tại cửa hàng : Người bán lẻ tổ chức bán hàng tại một điạ diểm cố định,ví dụ bán hàng ở tiệm tạp hoá,bán hàng ở siêu thị ,ở các quầy hàng tại cửa hàng bách hóa, bán hàng ăn uống tại nhà hàng …

- Bán lẻ không qua cửa hàng : Người bán lẻ không cần thành lập cửa hàng mà có thể bán hàng tận nhà , bán hàng qua bưu điện, bán hàng qua mạng …

- Bán lẻ dịch vụ : Cho thuê phòng ở, giặt ủi …

Trong các loại hình bán lẻ trên loại hình bán lẻ qua cửa hàng vẫn là kiểu bán lẻ phổ biến Đồng thời cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật loại hình bán lẻ không qua cửa hàng vẫn tiếp tục phát triển nhanh

1.1.3.3 Giới thiệu sơ lược một số loại cửa hàng bán lẻ

Hầu hết hàng hóa dịch vụ (trên 80%) được tổ chức bán lẻ tại các cửa hàng bán lẻ Tùy theo quy mô, đặc điểm tổ chức hoạt động bán lẻ và hàng hóa bán tại cửa hàng người ta phân biệt các cửa hàng bán lẻ thành các loại sau :

1.1.3.3.1 Cửa hiệu bán lẻ độc lập

- Là cửa hàng bán lẻ có quy mô nhỏ, thuộc sở hữu cá nhân hay hộ gia đình Các cửa hiệu này thường bán lẻ các hàng hóa thông dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày và thường đặt ở các khu dân cư

- Những cửa hiệu bán lẻ thường tận dụng nhà ở làm mặt bằng kinh doanh và sở hữu cá nhân nên phương thức kinh doanh rất linh hoạt và có ưu thế về tiết kiệm chi phí

1.1.3.3.2 Các cửa hàng bán lẻ dạng hợp tác xã

- Thuộc loại hình này có hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã bán lẻ Đây là loại hình cửa hàng bán lẻ được hình thành bởi một nhóm những người bán lẻ tự nguyện liên kết hợp tác với nhau Họ góp vốn để cùng tổ chức mua hàng, quản lý phân phối và bán lẻ hàng hóa phục vụ nhu cầu thông dụng hàng ngày Các thành viên của hợp tác xã hỗ trợ, tư vấn giúp đỡ lẫn nhau nhưng độc lập với nhau về mặt pháp lý Các thành viên của hợp tác xã có quyền tự

do ra khỏi hợp tác xã và tự cung ứng hàng hóa từ các nguồn ngoài hợp tác xã

1.1.3.3.3 Cửa hàng bách hóa

- Là một loại cửa hàng bán lẻ kinh doanh tổng hợp có quy mô lớn thường nằm

ở các khu dân cư tập trung Cửa hàng bách hóa có danh mục hàng hóa kinh doanh rất đa dạng phong phú Trong cửa hàng bách hóa, mỗi nhóm ngành hàng được tổ chức bán riêng theo từng quầy hàng, gian hàng và áp dụng phương thức bán hàng truyền thống

1.1.3.3.4 Siêu thị

- Siêu thị là một loại cửa hàng bán lẻ đặc biệt Siêu thị thường được đầu tư trang thiết bị hiện đại để bán hàng theo phương thức tự phục vụ

- Hàng hóa bán ở siêu thị thường là hàng thực phẩm và các loại hàng thông

dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày

- 1.1.3.3.5 Cửa hàng đại lý

- Là những cửa hàng được các nhà sản xuất hoặc các trung gian phân phối lớn giao cho việc tiêu thụ hàng hóa trên cơ sở hợp đồng đại lý Các đại lý hoạt

Trang 10

động độc lập hưởng thù lao trên mức hoa hồng nhất định trên doanh số bán và có thể ký kết hợp đồng bán hàng nhân danh người sản xuất hoặc người bán

1.1.3.3.6 Cửa hàng đặc quyền kinh tiêu

- Là cửa hàng của một tổ chức hoặc một cá nhân được hưởng quyền độc lập bán một sản phẩm hay cung cấp một loại dịch vụ dưới nhãn hiệu của người trao đặc quyền theo những đặc điểm kỹ thuật của họ và sự hỗ trợ về mặt tiếp thị, tổ chức quản lý, đào tạo nhân lực

- Người hưởng đặc quyền kinh tiêu ( chủ cửa hàng ) phải trả cho người trao đặc quyền một khoản tiền như là tiền mua bản quyền cho việc sử dụng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm và một khoản hoa hồng tính bằng % doanh thu trả trong từng thời kỳ

1.1.3.3.7 Cửa hàng chuyên biệt (chuyên doanh )

- Là một loại cửa hàng chuyên môn hóa về hàng hóa hay dịch vụ phục vụ khách hàng Các cửa hàng chuyên doanh có thể chuyên môn hóa nông hoặc sâu tùy theo tính chất đa dạng phức tạp của hàng hóa kinh doanh Có cửa hàng chuyên doanh chỉ bán một mặt hàng ( Single – line Specialty Store ) như : nữ trang, giày dép, quần áo, điện máy Có cửa hàng lại chuyên doanh theo nhóm hàng như : Thực phẩm chế biến, thực phẩm tươi sống Có cửa hàng chuyên phục vụ một nhóm khách hàng như : phụ nữ, nam giới, trẻ em…

1.1.3.3.8 Cửa hàng giảm giá

- Cửa hàng này chuyên bán lẻ nhiều mặt hàng với giá thấp hơn giá bán lẻ

do nhà sản xuất đề nghị nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu muốn tiết kiệm của khách hàng

1.1.3.3.9 Cửa hàng hạ giá

- Các cửa hàng này bán hàng hóa thông thường với mức giá thấp hơn từ 20% đến 60% so với giá bán lẻ thông thường

- Các hàng hóa được bán hạ giá thường là hàng phế phẩm, thứ phẩm, hàng tồn kho hoặc hàng đã qua sử dụng

1.1.3.3.10 Cửa hàng kho

- Đây là loại cửa hàng vừa có tính chất của một kho hàng, vừa có tính chất của một cửa hàng Các cửa hàng kho thường không bày hàng hóa, không quảng cáo và tận dụng tối đa diện tích để chứa hàng nên thường tiết kiệm được chi phí do đó có thể giảm giá tới 10% so với các cửa hàng bán lẻ khác

1.1.3.3.11 Chợ

- Chợ là một nơi tập trung thường xuyên (hàng ngày hay định kỳ ) nhiều người bán lẻ và người mua để tiến hành trao đổi mua bán đủ loại hàng hóa Chợ không thuộc sở hữu của ai, mỗi người bán lẻ ở chợ chỉ mượn địa điểm để bán hàng và tự hạch toán Giá cả ở chợ rất linh hoạt, người mua người bán tự do thương lượng với nhau

Trang 11

- Chợ là một loại hình bán lẻ truyền thống đã có từ xa xưa và phổ biến ở khắp nơi trên thế giới Riêng ở Việt Nam, mua sắm hàng hóa ở chợ đã trở thành nếp sống quen thuộc của mọi người từ thành thị đến nông thôn

1.2 Loại hình bán lẻ siêu thị

1.2.1 Giới thiệu về siêu thị.

1.2.1.1 Khái niệm :

Siêu thị là từ được dịch ra từ thuật ngữ nước ngoài : SUPERMARKET (tiếng anh ) hay SUPERMARCHÉ (tiếng pháp ) Hiện nay khái niệm siêu thị được hiểu theo nhiều cách

- Ở Mỹ : Siêu thị là cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, có quy mô tương đối lớn, có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận thấp và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, nhằm phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng về hàng thực phẩm và các loại hàng tiêu dùng thông thường

- Ơû Pháp : Siêu thị là cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ có diện tích từ 400 đến 2500m2 và chủ yếu bán hàng thực phẩm

- Ơû Việt Nam theo cách hiểu khá phổ biến thì : Siêu thị là cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, được trang bị cơ sở vật chất tương đối hiện đại, bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng ngày như : Thực phẩm, đồ uống, đồ dùng gia đình và các loại vật phẩm khác

Tuy các khái niệm trên có khác nhau, nhưng không mâu thuẫn với nhau Các khái niệm trên đều thống nhất ở chỗ siêu thị là một loại hình bán lẻ văn minh, tiến bộ, hiện đại, người mua hàng tự phục vụ chính mình từ đó tạo khả năng thỏa mãn tốt nhu cầu mua sắm các hàng hóa tiêu dùng thông thường của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội

1.2.1.2 Các đặc trưng của siêu thị

Một cửa hàng bán lẻ được gọi là siêu thị có một số đặc trưng như sau :

- Phương thức bán hàng : Tự phục vụ

Bán hàng tự phục vụ là phương thức bán hàng mà khách hàng có quyền tự do

đi lại trong cửa hàng, tự do tiếp xúc xem xét chọn lựa hàng hóa sau đó khách hàng tự mang hàng đã chọn đến quầy thâu ngân đặt ngay lối ra để thanh toán tiền mua hàng Trong quá trình từ khi vào cửa hàng đến khi ra khỏi cửa hàng khách hàng tự phục vụ mình hoàn toàn không có sự can thiệp của người bán (trừ khâu thu tiền)

- Hàng hóa bán tại siêu thị : Siêu thị thường có danh mục hàng bày bán rất đa dạng phong phú(từ vài ngàn đến vài chucï ngàn mặt hàng khác nhau) bao gồm cả hàng thực phẩm và phi thực phẩm

- Hàng hóa ở siêu thị thường là các đơn vị sản phẩm lẻ,hoàn chỉnh phục vụ trực tiếp cho tiêu dùng cá nhân.Hàng được bày trên các giá kệ theo từng loại, được niêm yết giá công khai rõ ràng để khách dễ dàng quan sát, chọn lựa và toàn quyền quyết định mua hay không mua

Trang 12

- Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ bán hàng :

Siêu thị thường được đầu tư trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hiện đại để đảm bảo sự tiện nghi, thoải mái cho khách hàng

- Quy mô : Siêu thị phải có quy mô tương đối lớn , bởi vì siêu thị lấy quan điểm khách hàng tự phục vụ và chi phí thấp , lợi nhuận thấp làm cơ sở cho hoạt động kinh doanh do đó để đảm bảo tính kinh tế theo quy mô đòi hỏi siêu thị phải có quy mô hợp lí mới có thể tiêu thụ được khối lượng hàng hoá lớn đủ để bù đắp chi phí kinh doanh và có mức lãi hợp lý

1.2.1.3 Phân loại siêu thị

Có nhiều cách phân loại siêu thị dựa trên các tiêu thức khác nhau Ở đây chúng tôi xin giới thiệu hai cách phân loại phổ biến là phân loại theo quy mô và phân loại theo chiến lược , chính sách kinh doanh

1.2.1.3.1 Phân loại siêu thị theo quy mô

Dựa vào quy mô người ta thường phân chia siêu thị thành: siêu thị nhỏ, siêu thị và đại siêu thị

* Siêu thị nhỏ (MINI SURPERMARKET)

Theo cách phân loại của Pháp thì những siêu thị có diện tích dưới 400m2 được gọi là siêu thị nhỏ

Các siêu thị nhỏ thường là những siêu thị chuyên bán một loại hàng hoá như : đồ chơi trẻ em, dụng cụ thể thao, quần áo, giày dép…

* Siêu thị (SUPREMARKET)

Các siêu thị ở Pháp thường có diện tích từ 400m2 đến 2500m2

Các siêu thị ở Mỹ thường có diện tích trung bình ø 1250m2 Siêu thị thường bày bán các loại hàng hóa phục vụ các nhu cầu tiêu dùng hàng ngày Danh mục hàng hóa kinh doanh của các siêu thị thường từ vài ngàn đến trên 20.000 sản phẩm khác nhau Vì phục vụ nhu cầu tiêu dùng thông thường nên siêu thị thường được đặt ở các khu dân cư, giao thông thuận tiện

* Đại siêu thị : (HYPERMARKET )

Đại siêu thị là đơn vị thương mại bán lẻ có quy mô lớn với diện tích vài chục ngàn m2 Đại siêu thị thường thuộc sở hữu của một tập đoàn thương mại, được tổ chức như một khu tổ hợp bán lẻ đủ mọi loại hàng hóa, dịch vụ Danh mục hàng hóa bày bán tại siêu thị có thể lên 50.000 sản phẩm

Đại siêu thị cần diện tích mặt bằng lớn nên địa điểm đặt đại siêu thị thường được chọn ở khu ngoại vi các thành phố lớn, nơi giá thuê đất rẻ hơn ở nội thành

1.2.1.3.2 Phân loại siêu thị theo chiến lược và chính sách kinh doanh

Theo chiến lược và chính sách kinh doanh người ta thường phân loại siêu thị như sau :

* Siêu thị chuyên doanh

• Là siêu thị chỉ chuyên bán một loại hàng hóa nhất định Tập hợp hàng hóa

ở siêu thị chuyên doanh hẹp nhưng sâu, có khả năng thỏa mãn cao nhu cầu của người tiêu dùng

VD : Siêu thị sách, siêu thị điện máy, siêu thị đồ chơi

Trang 13

* Siêu thị tiện dụng

• Loại siêu thị này chú trọng sự tiện dụng trong khi mua sắm của khách hàng Siêu thị tiện dụng thường bán những hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng thông thường, rẻ tiền, có yêu cầu chọn lựa không cao, dễ bán Các siêu thị này thường được bố trí ở rất gần người tiêu thụ và chỉ cần diện tích nhỏ

* Siêu thị hạ giá

• Lấy chính sách giá cả hấp dẫn làm tiêu chí hàng đầu để thu hút khách hàng giống như cửa hàng giảm giá, hạ giá

* Siêu thị chất lượng

• Lấy chất lượng cao là yếu tố chính để thu hút khách hàng Siêu thị chất lượng thường chọn khách hàng mục tiêu là những người có thu nhập cao

Ở Việt Nam hiện nay chưa có những tiêu thức cụ thể để phân loại siêu thị Tại thành phố Hồ Chí Minh sổ thương mại có đề nghị phân loại siêu thị theo quy mô diện tích kinh doanh cụ thể như sau :

- Siêu thị loại I : Diện tích kinh doanh trên 5000 m2

- Siêu thị loại II : Diện tích kinh doanh từ 2000 m2 – 5000 m2

- Siêu thị loại III : Diện tích kinh doanh từ 1000 m2 – 2000 m2

1.2.2 Vị trí, vai trò của siêu thị trong hệ thống bán lẻ hàng tiêu dùng

Qua những phần đã trình bày ở trên có thể phác họa vị trí của siêu thị trong hệ thống bán lẻ hàng tiêu dùng như sau :

SƠ ĐỒ 2: VỊ TRÍ CỦA SIÊU THỊ TRONG HỆ THỐNG

PHÂN PHỐI HÀNG TIÊU DÙNG

Người bán sỉ

Người bán sỉ

Tiệm b.lẻ

HTX B.lẻ HTX T Thụ

CH chuyên doanh

CH tiện dụng Siêu thị

CH bách hóa TH

CH Đại lý blẻ

CH đặc quyền kinh tiêu

NGƯƠ

I BÁNL

……

Trang 14

Qua sơ đồ chúng ta thấy rằng : Siêu thị là một trong các loại cửa hàng bán lẻ nên vị trí của nó là trung gian cuối cùng trong kênh phân phối hàng hóa Ở vị trí trung gian cuối cùng , siêu thị trực tiếp bán hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mọi người Ở vị trí đó siêu thị có vai trò rất quan trọng đối với cả người sản xuất (hoặc người phân phối) và người tiêu dùng

Đối với người sản xuất, siêu thị hoạt động như là một đại lý mua hàng cho công chúng Để làm tốt vai trò này, siêu thị phải nghiên cứu các nguồn hàng, xác định, lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với yêu cầu của công chúng rồi thỏa thuận giá cả …

Đối với người tiêu dùng, siêu thị là nhà cung cấp, là người trực tiếp phục vụ và thỏa mãn các nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng cần Để làm tốt vai trò này, siêu thị phải nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng về số lượng, chất lượng

cơ cấu chủng loại, thời gian để thực hiện được chính sách phân phối đúng hàng, đúng số lượng, đúng thời gian và đúng địa điểm Mặc khác siêu thị còn phải chủ động tác động hướng dẫn nhu cầu, kích thích nhu cầu của người tiêu dùng để đẩy mạnh bán hàng

Với vị trí cận kề người tiêu dùng, siêu thị còn có vai trò thông tin cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng Siêu thị giúp nhà sản xuất thu nhập những ý kiến phản hồi của người tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hóa để nhà sản xuất cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm Siêu thị cũng giúp nhà sản xuất quảng cáo giới thiệu sản phẩm mới với người tiêu dùng một cách nhanh chóng

Sự góp mặt của siêu thị trong hệ thống bán lẻ hàng tiêu dùng làm tăng mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ Với cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hiện đại, với phương thức tự phục vụ tiến bộ văn minh, sự có mặt của siêu thị có tác dụng thúc đẩy các loại hình bán lẻ khác phải đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

1.3 Lịch sử phát triển của siêu thị trên thế giới

Để thấy rõ hơn về lịch sử phát triển của siêu thị, chúng ta sẽ tham khảo một số vấn đề lý thuyết của các nhà kinh tế học về sự ra đời và phát triển của các loại cửa hàng bán lẻ nói chung

1.3.1 Lý thuyết về sự phát triển của cửa hàng bán lẻ

Chúng ta xem xét hai lý thuyết tiêu biểu là lý thuyết “ Bánh xe bán lẻ “ và lý thuyết “Vòng đời cửa hàng”

1.3.1.1 Lý thuyết “ Bánh xe bán lẻ “

Theo lý thuyết “ Bánh xe bán lẻ ”û thì mỗi loại cửa hàng bán lẻ mới xuất hiện sẽ áp dụng mức giá cạnh tranh với những cửa hàng truyền thống và chấp nhận mức lợi nhuận thấp hơn

Cửa hàng mới tăng khối lượng hàng hóa bán ra bằng phương thức bán hàng mới để thu hút khách Thành công của cửa hàng mới sẽ thu hút đối thủ cạnh tranh mới Để tồn tại, các cửa hàng phải tăng đầu tư, tăng vốn lưu động để đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh do đó chi phí tăng và giá tăng Sau đó lại có cửa hàng mới ra đời

Trang 15

với chi phí và giá hạ hơn thay thế cho cửa hàng trước đó Đến lượt các cửa hàng mới này lại phải tăng đầu tư để cạnh tranh và thu hút khách … “ Bánh xe bán lẻ “ cứ tiếp tục vận hành và lại xuất hiện các loại cửa hàng mới ưu việt hơn

Lý thuyết “ Bánh xe bán lẻ “ có thể không đúng với mọi trường hợp, tuy nhiên nó cũng là cơ sở để giải thích cho sự ra đời và thay thế lẫn nhau của các loại cửa hàng bán lẻ

Có thể minh họa lý thuyết “ Bánh xe bán lẻ “ như sau :

1.3.1.2 Lý thuyết ø “Vòng đời cửa hàng “

Lý thuyết “Vòng đời cửa hàng “ cho rằng các cửa hàng bán lẻ (kể cả siêu thị) cũng giống như các sản phẩm, đều trải qua một vòng đời bao gồm bốn giai đoạn là : hình thành, phát triển, bão hòa và suy thoái tùy từng thời kỳ

Lý thuyết “Vòng đời cửa hàng” có thể mô tả được sự phát triển của các loại hình cửa hàng bán lẻ nói chung và siêu thị nói riêng trong từng thời kỳ ở những khu vực khác nhau trên thế giới

Theo lý thuyết này có thể dự đoán được xu hướng phát triển của các loại cửa hàng bàn lẻ ( trong đó bao gồm cả siêu thị ) trong từng giai đoạn phát tiển của các nước

1.3.2 Lịch sử phát triển của siêu thị trên thế giới

Qua khảo sát hệ thống phân phối ở các nước Châu Aâu, Mỹ người ta thấy rằng, sự ra đời của siêu thị là sự đổi mới của phương thức bán hàng từ những cửa hàng tổng hợp vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20

Ý tưởng về một loại cửa hàng bán lẻ có các đặc trưng giống như siêu thị do BON MARCHE ( Pháp ) khởi xướng vào năm 1852 Những người chủ tiệm cấp tiến này đã áp dụng những nguyên tắc rất tiến bộ cho cửa hiệu của mình, đó là :

PHÁT TRIỂN

- Chú trọng bài trí cửa hàng

- Tăng cường trang thiết bị

- Lơi nhuận tăngGIÁ CAO

Giá bắt đầu tăng

- Bài trí đơn giản

- Tiện nghi tối thiểu

- Lơi nhuận thấp

Trang 16

- Chấp nhận tỷ suất lợi nhuận thấp ( 13,5% ) trong khi các cửa hàng bán lẻ thời đó thường có tỷ suất lợi nhuận ở mức 40% Với nguyên tắc này cửa hiệu có thể thu hút khách hàng với giá thấp, nhờ đó tăng đáng kể khối lượng hàng hóa bán ra

- Giá cả hàng hóa niêm yết rõ ràng để người mua không mất thời gian hỏi giá, trả giá và người bán đỡ mất công trả lời khách

- Khách hàng tự do tiếp xúc, xem xét chọn hàng mà không bắt buộc phải mua hàng

- Bán khuyến mãi những hàng hóa mới hoặc những hàng hóa không còn hợp thời trang

- Quảng cáo rộng rãi để công chúng biết đến cửa hàng

- Có dịch vụ giao hàng tận nhà

Cửa hàng đầu tiên mang các đặc điểm như một siêu thị như vậy đã thành công và gây tiếng vang lớn, dần dần các nhà bán lẻ Pháp đều học theo phương thức kinh doanh mới mẻ này và đã tạo ra một sự đổi mới, một bước ngoặt trong hệ thống phân phối bán lẻ hàng tiêu dùng ở Pháp Tuy nhiên các cửa hàng này vẫn chỉ được coi là cửa hàng bán lẻ đặc biệt chứ chưa có cái “Mác “ riêng Thuật ngữ siêu thị – SUPERMARCHE chính thức xuất hiện ở Pháp vào năm 1957 khi một cửa hàng tự phục vụ ở vùng Reuil Malmanson dùng “ Mac “ siêu thị – SUPERMARCHE để làm thương hiệu cho mình

Ơû Mỹ cửa hàng đầu tiên mang dáng dấp của một siêu thị là cửa hàng thực phẩm của Clarence Saunders khai trương năm 1916 ở Bang Tennesess Tuy nhiên người khai sinh siêu thị thực sự lại là Michael Cullen Bởi vì chính ông là người đầu tiên dùng thuật ngữ SUPERMARKET để đặt tên cho cửa hàng “KING CULLEN “ nằm ở khu vực Queens thuộc thành phố New York (năm 1930 ) Michael Cullen đã phác họa mô hình chung cho một SUPERMARKET là :

HÀNG THỰC PHẨM VÀ ĐỒ GIA DỤNG + TỰ PHỤC VỤ + GIÁ RẺ, CHI PHÍ THẤP + BÃI GIỮ XE MIỄN PHÍ

Bắt đầu từ đột phá này, siêu thị dần dần phát triển ra khắp nước MỸ

Trong những năm 40 và 50 vừa qua các siêu thị đã trở thành kênh phân phối thực phẩm chính ở Mỹ Đến giai đoạn sau ( những năm 60, 70 ) Hệ thống siêu thị đã trở thành hệ thống cửa hàng bán lẻ chính thống ở nước này Vào cuối thập niên 80 ở Mỹ đã có khoảng 30.000 siêu thị chiếm 20% tổng số cửa hàng bán lẻ thực phẩm với tổng doanh thu hàng năm đạt 200 tỷ USD, chiếm 75% tổng doanh thu bán hàng thực phẩm

Ởû Pháp hệ thống siêu thị phát triển rộng khắp trong thập niên 60, 70 Tính đến tháng 09 năm 1998, ở Pháp có 8552 siêu thị với tổng doanh thu khoảng 300 tỷ France, chiếm tỷ trọng 35% doanh thu bán hàng thực phẩm và chiếm 19% so tổng mức bán lẻ

Ở Châu Aâu nói chung, siêu thị cũng phát triển với tốc độ gần tương tự ở Pháp Sự xuất hiện của siêu thị ở các quốc gia song hành với sự phát triển kinh tế Bởi vì

Trang 17

sự xuất hiện của siêu thị phù hợp với lòng mong muốn của các nhà sản xuất để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm với tốc độ nhanh bằng cách bán hàng đại trà Sự xuất hiện của siêu thị phù hợp với nếp sống công nghiệp, và có tác dụng nâng cao văn minh tiến bộ trong lĩnh vực thương mại

Ở Châu Á và các khu vực còn lại của thế giới, do sự phát triển kinh tế chậm hơn, nên siêu thị cũng xuất hiện muộn hơn Kinh tế của các nước châu Á khởi sắc vào những năm 60, và cũng bắt đầu từ thập niên 60 siêu thị chính thức có mặt tại các quốc gia châu Á có nền kinh tế phát triển khá Dẫn đầu là Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Công, Singapore Dần dần siêu thị đã phát triển rộng khắp các nuước châu Á khác như Thái Lan, Malaixia, Indonesia, Trung Quốc …Ở các nước châu Á doanh thu bán lẻ của các siêu thị ước tính khoảng 10% tổng mức bán lẻ xã hội

Sự ra đời phát triển của các siêu thị ở các nước trên thế giới nói chung tương đối phù hợp với lý thuyết “ Vòng đời cửa hàng “ Theo nhận định của các nhà nghiên cứu thì ở các nước phát triển, loại hình kinh doanh siêu thị đã ở vào giai đoạn bão hoà Tất nhiên vòng đời cửa hàng ( siêu thị ) ở mỗi quốc gia có sự khác biệt nhau vì điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa , xã hội … của mỗi nước có những đặc trưng riêng

Vòng đời của các loại siêu thị ở châu Âu và Mỹ có thể biểu diễn một cách tương đối như sau :

BIỂU ĐỒ 1 : VÒNG ĐỜI SIÊU THỊ Ở NHỮNG NƯỚC CHÂU ÂU NĂM 90

1.4 Sự phát triển của siêu thị ở việt nam

Ơû Việt Nam từ khi thực hiện chính sách cải cách kinh tế, nền kinh tế nước ta đã có những tiến bộ đáng kể.Theo đà phát triển kinh tế mức sống của người dân được nâng cao rõ rệt, trong bối cảnh đó siêu thị ra đời và phát tiển là tất yếu Siêu

Trang 18

thị đầu tiên ra đời ở Việt Nam là siêu thị có thương hiệu MINIMART của Vũng Tàu– Sinhanco, khai trương tháng 10 năm 1993 tại trung tâm quận I TP Hồ Chí Minh

Trong những năm sau (tính từ năm 1994) các siêu thị với đủ loại quy mô từ vài chục đến vài ngàn m² diện tích , thuộc mọi hình thức sở hữu khác nhau đã lần lượt xuất hiện

Đi tiên phong trong việc phát triển loại hình kinh doanh siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh có công ty An phong , công ty Đông hưng , Saì gòn – Coop, công ty đầu

tư Miền Đông Các đơn vị trên đã nổi danh trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị với các thương hiệu : Maximark (công ty An phong ), Citimart ( công ty Đông hưng ), Coopmart (Sài gòn – Coop ) , Siêu thị Miền Đông ( công ty đầu tư Miền Đông ) …Sự phát triển của các siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh sẽ được nghiên cứu kỹ ở chương

II Ở ngoại vi thành phố , đã có đại siêu thị đầu tiên ở Việt Nam đó là Cora của tập đoàn Bourbon (Pháp)

Ơû Hà Nội siêu thị đầu tiên được mở cửa vào năm 1995 với thương hiệu MAXIMARK ( của công ty An Phong – TPHCM ) Từ năm 1996 tới nay ở Hà Nội các siêu thị được mở ra ngày càng nhiều với đủ loại quy mô, thương hiệu khác nhau Theo con số thống kê của sở thương mại Hà Nội, đến năm 1999 trên địa bàn Hà Nội đã có hơn 20 siêu thị Các siêu thị có tiếng ở Hà Nội là : Siêu thị Sao, siêu thị FIVIMART, CITIMART, siêu thị Cát Linh, siêu thị Thiên Niên Kỷ, siêu thị IMS, siêu thị SEIYU

Người dân ở hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội cũng đã quen dần với việc đi mua sắm ở siêu thị Tuy nhiên doanh thu bán hàng của các siêu thị của hai thành phố này cũng chỉ ở mức khiêm tốn ( dưới 2% tổng mức bán lẻ )

Trên phạm vi cả nước, người dân ở các tỉnh, thành phố lớn như Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, cũng đã biết đến loại hình kinh siêu thị và trong tương lai, chúng ta tin rằng mạng lưới siêu thị sẽ được phát tiển ở khắp mọi nơi Tuy mới xuất hiện ở nước ta từ năm 1993, nhưng tốc độ phát triển của siêu thị ở Việt Nam là tương đối nhanh và có thể nói siêu thị ở Việt Nam mới ở bước đầu của thời kỳ phát triển, tiềm năng phát triển siêu thị còn rất lớn Do dó vấn đề định hướng phát triển loại hình kinh doanh siêu thị sao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của từng vùng là rất cấp thiết

Trang 19

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC SIÊU THỊ Ở TP.HCM THỜI GIAN QUA

2.1 Sự phát triển của loại hình kinh doanh siêu thị ở TP.HCM thời gian qua

Từ khi xuất hiện siêu thị đầu tiên ( tháng 10 / 1993 ) cho đến nay sự phát triển của các siêu thị ở TP.HCM có thể chia làm ba giai đoạn như sau :

2.1.1 Giai đoạn 1 : Thử nghiệm ( từ 1993 đến 1995 )

Ơû giai đoạn này, những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thương mại sớm nhận thức được cơ hội của thị trường đã mạnh dạn đi đầu trong việc đưa loại hình kinh doanh siêu thị vào Việt Nam

Thành phố Hồ Chí Minh- thành phố đông dân nhất nước, một trung tâm kinh tế - chính trị lớn nhất Việt Nam là nơi hội đủ những điều kiện tương đối thuận lợi cho loại hình kinh doanh siêu thị, đã được chọn làm nơi thử nghiệm

Đi tiên phong là công ty liên doanh Vũng Tàu – Sinhanco với sự ra đời của siêu thị nhỏ mang thương hiệu MINIMART Siêu thị này đặt tại lầu I trung tâmthương mại quốc tế tọa lạc ở góc đường Lê Lợi – Nam Kỳ khởi nghĩa ở ngay trung tâm thành phố Siêu thị MINIMART chủ yếu bán các hàng tiêu dùng ngoại nhập, phục vụ khách nước ngoài là chính nên giá cả khá cao

Tiếp theo, công ty thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu quận 10 -một doanh nghiệp nhà nước đã mạnh dạn mở cửa một siêu thị để thử nghiệm ở đường Ngô Gia Tự quận 10 Siêu thị này lấy thương hiệu là MINIMART Ngô Gia Tự Siêu thị này khai trương vào tháng 06 năm 1994 và diện tích kinh doanh chỉ có 360 m2

Đến tháng 06 năm 1995 công ty văn hóa phẩm quận I khai trương một siêu thị nhỏ ở đường Hai Bà Trưng chủ yếu bán đồ chơi trẻ em, hóa mỹ phẩm và giày dép Siêu thị này có thương hiệu Sài Gòn Mart và diện tích chỉ có 213 m2

Như vậy trong giai đoạn 1 sự ra đời của các siêu thị mới chỉ mang tính thử nghiệm, từ cuối năm 1993 đến hết năm 1995 cả thành phố chỉ vỏn vẹn có ba cửa hàng mang tính chất của siêu thị nhỏ được ra đời Sự ra đời của các siêu thị ở giai đoạn này chỉ là để thăm dò thái độ của người dân hành phố đối với một loại hình bán lẻ mới

2 1.2 Giai đoạn 2 : Xuất hiện ở khắp nơi (từ 1996 đến cuối năm 1998 )

Tới giai đoạn này các siêu thị đủ loại với quy mô từ nhỏ đến lớn xuất hiện ở khắp nơi

Từ chỗ nhận thức được rằng : kinh tế phát triển mức sống và dân trí được nâng cao, xu hướng mua sắm có sự thay đổi, người dân sẽ quen dần với phong cách mua sắm văn minh nên bán lẻ ở siêu thị sẽ có mức tăng trưởng cao các tổ chức cá nhân đã mạnh dạn đầu tư mở siêu thị

Chỉ trong ba năm ( 1996 – 1998 ) đã xuất hiện hàng loạt cửa hàng mang

“mác”siêu thị ( Supermarket )

Trang 20

Số lượng các siêu thị ra đời đi vào hoạt động trong giai đoạn 2 được thống kê theo thứ tự thời gian khai trương như sau :

• Tháng 12 : Có hai siêu thị mới xuất hiện, đó là :

™ Siêu thị Miền Đông của công ty đầu tư Miền Đông Siêu thị này có diện tích lớn ( 4500m2), tọa lạc trên đường Hoàng Văn Thụ thuộc quận Phú Nhuận

™ Siêu thị COOPMART Hậu Giang của SAIGÒN COOP đặt tại đường Hậu Giang quận 6

Đặc biệt, trong năm 1997 còn có sự xuất hiện của một loại hình cửa hàng có tính chất của siêu thị tiện dụng với quy mô nhỏ được mở ra để bán hàng hóa với giá đồng loạt : 9.000đ, 10.000đ hoặc 11.000đ/ một hoặc một vài món hàng Sáng kiến này là của công ty Vạn Thịnh Phát Họ đã lần lượt khai trương 04 cửa hàng với thương hiệu là” SIÊU THỊ 10.000Đ” Phong cách mới lạ này đã thu hút rất đông khách hàng và trong thời gian qua giữa năm 1997 đến đầu năm 1998 ở Thành Phố đã rộ lên phong trào “ đi mua sắm ở siêu thị 10.000 “

Năm 1997 là năm siêu thị phát triển cả về lượng và về chất Những siêu thị tương đối lớn như : MAXIMART, COOPMART Trần Hưng Đạo, COOPMART Hậu Giang, siêu thị Miền Đông đã tương đối đảm bảo các tiêu chuẩn so với tiêu chuẩn của siêu thị trên thế giới

- Năm 1998 : Đây là năm có sự ra đời của hàng loạt siêu thị như :

• CITIMART Minh Châu của công ty TNHH Đông Hưng

Trang 21

• COOPMART Đầm Sen của SAIGÒN COOP

• Siêu thị Điện Máy của Công Ty Dịch Vụ Chợ Lớn

• Siêu thị TENMART của Công Ty TM – DV – XNK quận 10

• FOODMART của Công Ty Lương Thực Thành Phố

• Siêu thị Hà Nội của Doanh nghiệp tư nhân Hùng Dũng

• PACIFIC MART của công ty liên doanh Deadong và Công tyØ miềnđông

• Siêu thị Toàn Gia Phúc II của doanh nghiệp tư nhân Toàn Gia phúc

• Siêu thị Ngọc Thắng của HTX thương mại Ngọc Thắng

• PNJMART Nguyễn Văn Trỗi của công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận

• Minimart Hùng Ngọc và một số siêu thị khác

2 1.3 Giai đoạn 3: Cạnh tranh đào thải và chuyên nghiệp hơn ( từ năm 1999

đến nay )

Sự ra đời của hàng loạt siêu thị chỉ trong vòng ba năm đã làm cho lĩnh vực hoạt động kinh doanh siêu thị sôi động hẳn lên Sự góp mặt của trên 20 siêu thị trên địa bàn thành phố đã dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt quyết liệt giữa các siêu thị với nhau và giữa các siêu thị với các loại hình bán lẻ truyền thống khác Có cạnh tranh tất sẽ có đào thải Do thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng quản lý, thiếu kinh nghiệm và chiến lược chính sách kinh doanh không phù hợp cùng với một số nguyên nhân khác đã khiến nhiều siêu thị không thể trụ nổi và phải lặng lẽ rút khỏi thị trường như : Toàn Gia Phúc I và II, siêu thị Ngọc Thắng … Nhưng cũng qua thử nghiệm và cạnh tranh các siêu thị khác đã kịp thời rút kinh nghiệm và tìm cách thích nghi được với môi trường Những siêu thị làm ăn có hiệu quả đã tìm được hướng đi phù hợp với các đặc điểm của môi trường kinh doanh Các siêu thị này đã chú trọng các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Hoạt động của các siêu thị thu được thành công đã dần dần đi vào nề nếp và mang tính chuyên nghiệp hơn …

Trong số các siêu thị đứng vững và thàng công nhờ biết đi đúng hướng, có chiến lược chính sách kinh doanh hợp lý phải kể đến các thương hiệu đã có danh tiếng, đã trở thành quen thuộc với người dân thành phố như : MAXIMART, COOP – MART, siêu thị Miền Đông, CITIMART …

Cũng từ năm 1999, lĩnh vực kinh doanh mới mẻ này đã có sức hấp dẫn mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài và họ đã nhập cuộc Đi đầu phải kể đến tập đoàn Bourbon (Pháp ) Họ đã đầu tư để mở đại siêu thị đầu tiên ở Việt nam, đó là siêu thị CORA Siêu thị CORA là siêu thị có tầm vóc của một siêu thị lớn thế giới với tổng diện tích 20.000 m2 Số vốn đầu tư lên tới 20 triệu USD Cora nằm gần khu công nghiệp Biên Hòa Đồng Nai, cách Thành phố Hồ Chí Minh 20 km Sắp tới tập đoàn Bourbon dự định mở thêm các siêu thị khác ở Bình Chánh và quận 9 của Thành Phố

Sự góp mặt của các nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn sẽ thúc đẩy các nhà đầu

tư trong nước phải cố gắng hơn nhiều mới có thể duy trì được vị thế hiện nay của mình và sẽ làm cho tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực này sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn

Trang 22

Từ cuối năm 1999 đầu năm 2000, sự phát triển của siêu thị không còn rầm rộ như trước nữa Đến giai đoạn này, các siêu thị có quy mô nhỏ với những bất lợi rất lớn đã lần lượt rút lui Ngược lại các đơn vị làm ăn thành công đã tiếp tục phát huy thế mạnh để tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường

Với đà thắng lợi, SAIGON COOP đã khai trương thêm hai siêu thị mới đạt tiêu chuẩn như siêu thị ở các nước trên thế giới đó là :

• COOPMART Nguyễn Đình Chiểu với diện tích 4500 m2 ở ngay góc đường Nguyễn Đình Chiểu – Nam Kỳ Khởi Nghĩa quận 3 khai trương ngày 24/12/

nằm ở lầu 02 của tòa cao ốc Sài Gòn Centre trên đường Lê Lợi

Trong tương lai, Hợp Tác Xã Thương Mại thành Phố ( SAIGON COOP ) đã có hướng sẽ tiếp tục mở thêm nhiều siêu thị ở các quận huyện khác để củng cố vị thế số một của họ SAIGO COOP hiện là tập đoàn kinh doanh siêu thị mạnh nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước

Công ty An Phong cũng có hướng tiếp tục củng cố vị thế của mình bằng cách đầu tư xây dựng siêu thị ở các Thành Phố lớn trong cả nước Hiện nay An Phong đã có một siêu thị có danh tiếng ở Hà Nội và một siêu thị ở Nha trang một ở Vinh đều mang thương hiệu MAXIMARK

BIỂU ĐỒ 2 : TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN CÁC SIÊU THỊ Ở THÀNH PHỐ

Qua các giai đoạn phát triển của siêu thị từ khi xuất hiện ở Thành Phố đến nay có thể thấy rằng sự ra đời và phát triển của siêu thị ở thành phố cũng là phù hợp

Trang 23

với sự tiến hóa của các loại hình bán lẻ Tuy nhiên sự phát triển của mạng lưới siêu thị ở thành phố còn mang tính tự do, tự phát, mạnh ai nấy làm

Cơ quan quản lý và các đơn vị có liên quan đến sự phát triển của loại hình này chưa có sự chỉ đạo, hướng dẫn và những qui định định cụ thể để hướng loại hình siêu thị phát triển đúng hướng vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế vừa đảm bảo phù hợp với qui hoạch phát triển chung của một thành phố lớn nhất nước Điểm nổi cộm của các siêu thị ở thành phố Hồ chí Minh là sự chênh lệch rất lớn về qui mô diện tích và vốn đầu tư Có siêu thị chỉ vẻn vẹn có vài chục mét vuông diện tích kinh doanh và có 25 triệu đồng vốn cũng lấy tên là siêu thị (Siêu thị sinh viên ở đường Trần Quang Khải) trong khi đó có siêu thị diện tích tới vài ngàn m2 và vốn đầu tư hàng chục tỷ đồng

Mặt khác chưa có những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để phân biệt rõ siêu thị với cửa hàng tự chọn và cũng không có quy định một cửa hàng như thế nào mới được gọi là siêu thị Điều đáng lưu ý là khi đăng ký kinh doanh, chủ sở hữu các cưả hàng chỉ đăng ký là cửa hàng bách hóa hoặc cửa hàng kinh doanh tổng hợp, nhưng đến khi hoạt động kinh doanh họ lại tự khoác cho cửa hàng của họ cái mac “Supermarket “, hoặc cố gắng thêm chữ Mart hay Mark cho ra vẻ một siêu thị

Khắp các quận huyện thành phố chúng ta có thể bắt gặp khá nhiều các cửa hàng mang mac siêu thị.Chúng tôi đã thử tính một cách tương đối thì có khoảng 40 cửa hàng lớn nhỏ mang bảng hiệu siêu thị và phân bố ở các quận huyện như sau :

BẢNG 1: SỐ LƯỢNG SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM

Quận Huyện 1 3 5 6 10 11 Tân

Bình Gò Vấp Phú Nhuận Bình Thạnh Thủ Đức Số lượng

siêu thị 11 4 4 2 5 2 1 1 5 1 4

* Số liệu khảo sát tháng 5, tháng 6 năm 2000

Tuy nhiên theo số liệu chính thức của phòng quản lý thương mại dịch vụ thuộc sở thương mại thành phố thì đến đầu năm 2000, tổng số các siêu thị được cấp giấy phép chính thức hoặc đăng ký kinh doanh hợp pháp chỉ có 20 siêu thị

Trang 24

BẢNG 2: THỐNG KÊ CÁC SIÊU THỊ DO SỞ THƯƠNG MẠI CẤP GIẤY PHÉP

COOPMART Cống Quỳnh

COOPMART Trần Hưng Đạo

MAXIMARK đường 3 tháng 2

Siêu thị Miền Đông

COOPMART Hậu Giang

Siêu thị Điện Máy

TENMART

MINIMART Sài Gòn

CITIMART Minh Châu

FOODCOMART

Siêu thị Ngọc Thắng

Siêu thị Hà Nội

MAXIMARK Phú Thọ

COOPMART Đầm Sen

PACIFICMART

COOPMART Nguyễn Đình Chiểu

COOPMART Đinh Tiên Hoàng

MAXIMARK Lê Lợi

CTy.TNHH Đông Hưng Vũng Tàu – Sin hanco SAIGON COOP

SAIGON COOP Cty TNHH An Phong Cty đầu tư Miền Đông SAIGON COOP Cty DV du lịch Chợ Lớn Cty TENIMEX

Vũng Tàu - Sinhanco Cty TNHH Đông Hưng Cty lương thực TP HTX Ngọc Thắng DNTN Hùng Dũng Cty An Phong SAIGONCOOP CTLD Daedong Miền Đông SAIGON COOP

SAIGON COOP Cty TNHH An Phong

21/11/1996 16/ 05 /19961/ 02 /1997 29/ 01 /199717/ 05/ 199723/10/ 1997 05/ 01/ 199826/ 01/ 199802/ 03/ 199811/ 04/ 199808/ 07/ 199819/ 12/ 199828/ 08/ 199811/ 1998 11/ 1998 12/ 1998 12/ 1998 10/ 1999 11/ 1999 01/ 2000

* Nguồn : Phòng Quản Lý Thương Mại Dịch Vụ Sở Thương Mại

2 2 Thực trạng tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh của các siêu thị ở

TPHCM thời gian qua

2 2.1 Mô hình phổ biến của các siêu thị

Từ khi xuất hiện ở Thành Phố đến nay các siêu thị ở thành phố thường được tổ chức dưới hai dạng phổ biến là :

- Các siêu thị độc lập : Các đơn vị tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ ở siêu thị, lúc đầu thường tổ chức siêu thị dưới dạng siêu thị độc lập Siêu thị độc lập thường thuộc quyền sở hữu của tư nhân hoặc công ty liên doanh Các siêu thị độc lập tự tổ chức toàn bộ quá trình nghiệp vụ một cách độc lập

- Chuỗi siêu thị ( Hệ thống siêu thị mắt xích )

Các đơn vị thành công bước đầu trong kinh doanh siêu thị như : SAIGON COOP, Công Ty TNHH An Phong, Công Ty TNHH Đông Hưng đã tổ chức thành lập các siêu thị thuộc sở hữu của họ thành hệ thống siêu thị mắt xích

Trang 25

SƠ ĐỒ 3 : SƠ ĐỒ TỔ CHỨC HỆ THỐNG CHUỖI SIÊU THỊ

Tổ chức các siêu thị thành chuỗi giúp cho các đơn vị kinh doanh phát huy tốt các lợi thế về vốn và các nguồn lực khác Bởi vì việc quản lý các hoạt động được tập trung về đầu mối trung tâm sẽ có các tác dụng sau :

- Tận dụng và phối hợp các nguồn lực một cách tốt nhất

- Các chức năng : Mua hàng, Marketing, nghiên cứu phát triển, phân phối, quản trị nguồn nhân lực được chuyên môn hóa sẽ tiết kiệm được chi phí

- Càc siêu thị được chuyên môn hóa theo khu vực thị trường sẽ có điều kiện nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

- Công việc quản lý được chuyên môn hóa

- Nhân viên dễ chấp nhận sự thay đổi và có ý thức thi đua cạnh tranh phục vụ khách hàng tốt hơn

Trang 26

Thực tế đã chứng tỏ rằng, tổ chức theo mô hình chuỗi siêu thị là hợp lý và có

ưu thế hơn hẳn đối với mô hình siêu thị độc lập Các siêu thị độc lập của những tổ chức đơn vị không mạnh về tài chính đã không thể cạnh tranh nổi với các chuỗi siêu thị Đặc biệt những siêu thị có quy mô nhỏ thì lại càng yếu thế hơn trong cạnh tranh Đến thời điểm này các siêu thị nhỏ đã lần lượt rút lui khỏi thương trường

Thành công nhất trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị phải kể đến SAIGON COOP Hiện nay hệ thống siêu thị của SAIGONCOOP đã và đang trên đà phát triển Theo số liệu công bố trên báo chí thì hệ thống siêu thị mắt xích của SAIGONCOOP chiếm 50% thị phần của các siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh Trong tương lai, hệ thống siêu thị của SAIGONCOOP sẽ tiếp tục phát triển thêm một số siêu thị khác ở các khu vực Củ Chi, Phú Lâm, đường Cộng Hòa ( Tân Bình) và An Phú quận 9

2 2.2 Quy mô của các siêu thị:

Có số liệu về diện tích, vốn đầu tư xây dựng và số lao động ở một số siêu thị như sau :

BẢNG 3: DIỆN TÍCH, VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ SỐ LAO ĐỘNG CỦA MỘT SỐ SIÊU THỊ

Số

TT Tên Siêu Thị

Tổng diện tích (m2)

Diện tích bán hàng

m2

Vốn đầu tư XD (triệu đồng )

Số lao động (người)

SIÊU THỊ MIỀN ĐÔNG

SIÊU THỊ ĐIỆN MÁY

TENMART

MINIMART quận I

MINIMART Minh Châu

SIÊU THỊ NGỌC THẮNG

COOPMART Đầm sen

* Nguồn : Phòng Quản Lý Thương Mại Dịch Vụ- Sở Thương Mại

* Ghi chú : Bảng thống kê này không kể các siêu thị nhỏ

Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy : Các siêu thị có sự chênh lệch khá lớn về quy mô và vốn đầu tư xây dựng ban đầu ( chưa kể vốn lưu động ) cũng như về lực

Trang 27

lượng lao động Nếu như phân loại các siêu thị theo cách phân loại của Sở thương mại kiến nghị ( cơ sở phân loại là diện tích bán hàng và phục vụ khách hàng ) thì :

- Có 40% siêu thị được xếp vào loại II (6 / 15 )

- Có 40% siêu thị được xếp vào loại III (6 / 15 )

- 20% siêu thị chưa đạt tiêu chuẩn xếp loại vì diện tích kinh doanh dưới 1000m2

Vốn đầu tư xây dựng ban đầu của các siêu thị có sự chênh lệch khá lớn, do có đơn vị tận dụng được mặt bằng cơ sở vật chất đã có sẵn Nhưng nói chung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị để mở siêu thị thường rất lớn Vì đặc điểm của siêu thị là phải đảm bảo không gian bán hàng rộng rãi, trang thiết bị tương đối hiện đại, trưng bày hàng hóa hấp dẫn, đẹp mắt thì mới có sức thu hút khách hàng

Thực tế cho thấy, thường những siêu thị có quy mô vừa và lớn mới có thể phát huy được tính kinh tế theo quy mô để kinh doanh có hiệu quả

2 2.3 Phương thức bán hàng

Các siêu thị đều áp dụng phương thức bán hàng tự phục vụ Đây là phương thức bán hàng văn minh, tiến bộ phù hợp với xu thế mua sắm của người dân trong thời đại công nghiệp Sở dĩ các siêu thị có sức hấp dẫn thu hút khách hàng cũng chính là do đặc trưng này

Theo sự phân tích tâm lý khách hàng thì quá trình mua hàng của khách diễn ra theo tuần tự diễn biến tâm lý như sau : Chú ý, quan tâm -có hứng thú đối với hàng hóa rồi ham muốn mua và quyết định mua Quá trình diễn biến tâm lý như vậy chịu các tác động từ bên ngoài như : Sự trưng bày, giới thiệu hàng hóa, giá cả, sự cần thiết hấp dẫn của món hàng và không khí nơi mua bán

Các siêu thị đều rất chú trọng đến nâng cao chất lượng phục vụ khách nên đều cố gắng thiết kế không gian bán hàng tiện nghi thoải mái, hàng hóa bày trên kệ, tủ ngăn nắp gọn gàng, dễ thấy, dễ lấy, dễ chọn lựa Bán hàng theo phương thức tự phục vụ tạo điều kiện thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng, làm cho khách hàng hài lòng

vì khách có niềm vui khi mua hàng Họ có toàn quyền tự do quyết định mua hay không mua mà không ngại phiền hà

Tuy nhiên vấn đề bất cập lớn nhất làm đau đầu các nhà quản lý các siêu thị ở thành phố nói riêng và Việt Nam nói chung là nạn trộm cắp hàng hóa tại siêu thị Để đề phòng và ngăn chặn nạn trộm cắp, các siêu thị thường có quy định khách hàng phải gửi giỏ xách trước khi vào trong siêu thị và thường bố trí nhân viên bán hàng, nhân viên bảo vệ túc trực ở các gian hàng, mặc dù đã có hệ thống Camera quan sát đề phòng trộm cắp Điều này vừa hạn chế quyền tự do của khách hàng vừa tốn kém chi phí quản lý Các siêu thị cần nghiên cứu để sớm khắc phục vấn đề nan giải này

2 2.4 Khách hàng của các siêu thị

Trong giai đoạn đầu có tính chất thử nghiệm, các siêu thị thường bán hàng ngoại nhập với giá cả cao hơn bên ngoài rất nhiều, nên những khách hàng đến với siêu thị trong giai đoạn đầu thường thuộc tầng lớp trung lưu Nhưng dần dần, xác định đúng tính chất của siêu thị, các siêu thị đã xác định khách hàng của mình là mọi tầng lớp dân cư nên đã chuyển hướng về cơ cấu hàng hóa kinh doanh theo hướng phổ cập để tiếp cận với đông đảo người tiêu dùng

Trang 28

Theo sự khảo sát thăm dò của chúng tôi thì giờ đây người dân thành phố đã quan niệm đi siêu thị là đi “chợ mới “ Khách hàng của các siêu thị hiện nay đa số là những người có mức thu nhập từ trung bình trở lên và số đông là công nhân viên chức, học sinh, sinh viên

Số lượng khách hàng đến các siêu thị mua sắm hàng ngày rất khác nhau từ vài chục đến vài trăm ở những siêu thị nhỏ và lên tới con số vài ngàn lượt người / ngày ở những siêu thị lớn có tiếng

Số lượng khách hàng tới một vài siêu thị có tiếng như sau :

- Siêu thị Miền Đông trung bình 2000 lượt khách / ngày

- Siêu thị Nguyễn Đình Chiểu : 2000 – 2500 lượt khách / ngày

- Siêu thị Cống Quỳnh : 2000 – 3000 lượt khách / ngày

- Siêu thị Maximark (3 / 2 ) : 1500 – 2500 lượt khách / ngày

- Siêu thị Đinh Tiên Hoàng : 2000 – 2500 lượt khách / ngày

Trong ngày, khách đến siêu thị thường tập trung vào buổi chiều và buổi tối Đặc biệt, ngày thứ bảy, chủ nhật và ngày nghỉ lễ số lượng khách hàng đến siêu thị có thể tăng lên 3000 – 4000 lượt khách / ngày Đây là dấu hiệu cho thấy đi mua sắm ở siêu thị đã và đang trở thành xu thế chung của người dân thành phố, giờ đây người dân thành phố đã thích đi “chợ mới” – siêu thị Vì đi mua sắm ở siêu thị tiện lợi ( một lần có thể mua được đủ thứ hàng hóa cần thiết), thoải mái, văn minh, khách hàng có niềm vui, có được sự thư giãn khi đi xem và mua hàng

Giá trị một lần mua sắm của khách hàng cũng rất khác nhau Thời gian đầu, giá hàng ở siêu thị thường cao hơn so với bên ngoài từ 7 – 10% nên người tiêu dùng còn mua ở mức độ khiêm tốn : Dưới 30.000đ / lần mua Dần dần giá trị của một lần mua sắm của mỗi khách hàng đã tăng lên từ 60.000 – 100.000 đ/ lần mua

Các mặt hàng mà khách thường mua ở siêu thị là : Đồ hộp, lương thực, thực phẩm chế biến, thực phẩm công nghệ ( đường, sữa, bánh kẹo, dầu ăn …) và các hàng công nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày như : Xà bông, chất tẩy rửa, hóa mỹ phẩm, đồ gia dụng, quần áo

Điều đáng lưu ý là khách hàng thường yên tâm tin tưởng vào chất lượng hàng hóa mua ở siêu thị Gần đây đa số người tiêu dùng rất muốn mua hàng hóa thực phẩm tươi sống như: rau, quả sạch, thịt, cá … ở siêu thị, nhưng các siêu thị chưa đáp ứng tốt các loại nhu cầu này vì kinh doanh những mặt hàng này đòi hỏi chi phí cao và những yêu cầu kỹ thuật nhất định

2 2.5 Hàng hóa kinh doanh trong các siêu thị

Theo Michael Cullen đã đề xuất thì hàng hóa trong các siêu thị là hàng tiêu dùng thông thường ( hàng thực phẩm và hàng gia dụng ) Các siêu thị thành phố có

cơ cấu hàng hóa kinh doanh cũng tương đối phù hợp với cơ cấu hàng hóa ở các siêu thị trên thế giới nói chung

Danh mục hàng hóa kinh doanh ở các siêu thị của thành phố thường bao gồm các nhóm ngành hàng sau :

- Hàng thực phẩm công nghệ : Đường, sữa, bánh, kẹo, trà, café, dầu ăn, nước chấm …

Trang 29

- Hàng thực phẩm chế biến : Đồ hộp, giò, chả, paté, xuc xích, chà bông …

- Lương thực chế biến : Mì gói, bột, nui …

- Hóa mỹ phẩm : Chất tẩy rửa, các sản phẩm phục vụ nhu cầu vệ sinh cá nhân, mỹ phẩm …

- Đồ dùng gia đình bằng nhôm, nhựa, Inoc, thủy tinh, sành, sứ …

- Hàng may mặc

- Hàng thực phẩm đông lạnh

- Hàng thực phẩm tươi sống

Trong cơ cấu hàng hóa của các siêu thị nói chung thì các hàng hóa thuộc ngành hàng thực phẩm chiếm khoảng 30% – 40%,hàng gia dụng chiếm khoảng 30%, hàng hóa mỹ khoảng 20% - 25%, riêng tỷ trọng hàng thực phẩm tươi sống ( thịt, cá, rau quả) chiếm tỷ trọng thấp : chỉ khoảng 5%

BẢNG 4: SỐ LƯỢNG MẶT HÀNG KINH DOANH CỦA CÁC SIÊU THỊ

28.000 25.000 20.000 28.000 26.400 20.000 30.000 30.000 10.000 10.000 10.000 16.000 20.000 15.000 15.000

* Nguồn : Phòng Quản Lý Thương Mại Dịch Vụ - Sở Thương Mại

Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng, số lượng mặt hàng kinh doanh của các siêu thị ở thành phố rất đa dạng, phong phú đã đáp ứng được nhu cầu thông dụng hàng ngày của người dân Mặc khác chất lượng hàng hóa của các siêu thị đều đảm bảo nên đã được người tiêu dùng tin cậy

Trong hoạt động kinh doanh mỗi siêu thị đều cố gắng tìm kiếm các nguồn hàng độc đáo để có sự khác biệt hóa về sản phẩm so với các siêu thị khác nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 30

2 2.6 Nhân lực của các siêu thị

Theo số liệu thống kê của sở thương mại thì lực lượng lao động của các siêu thị có sự chênh lệch rất lớn cả về số lượng và chất lượng lao động

Những đơn vị làm ăn có hiệu quả là những siêu thị làm tốt công tác quản trị nguồn nhân lực

Nhận thức được vai trò quyết định của lực lượng lao động và công tác quản trị nguồn nhân lực đối với hiệu quả kinh doanh của các siêu thị SAIGON COOP luôn chú trọng làm tốt công tác tổ chức quản lý, sử dụng và đào tạo lực lượng lao động Tỷ lệ lao động đã được đào tạo qua trường lớp ở hệ thống siêu thị của SAIGON COOP là 100% Hầu như tất cả nhân viên của hệ thống siêu thị COOP MART trước khi được nhận vào làm việc chính thức đều phải trải qua một khóa huấn luyện về bán hàng ở siêu thị bất kể người đó đã có bằng cấp gì Sau đó trong quá trình sử dụng, lực lượng lao động của hệ thống COOP MART còn được luân phiên huấn luyện để nâng cao nghiệp vụ Chú trọng đến yếu tố con người là một bí quyết đưa đến thành công để tạo uy tín và danh tiếng cho hệ thống siêu thị mang thương hiệu COOPMART

Các siêu thị khác trong thành phố chưa coi trọng đúng mức công tác quản trị nguồn nhân lực ngay từ đầu Tuy nhiên gần đây, các nhà quản trị đã để tâm tới vấn đề này có thể thấy qua một vài con số sau đây

- Siêu thị Miền Đông, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 84,8%(140/165 lao động)

- Siêu thị Maximark, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 50,4% ( 55/ 109 lao động)

- TENMART : có tỷ lệ 76,9% ( 50/ 65 lao động)

- MINIMART Minh Châu : 75% lao động đã qua đào tạo (30/ 40 )

Thế nhưng cũng có những siêu thị số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp như Pacific Mart, Minimart - Superbowl…

2 2.7 Hoạt động Marketing của các siêu thị

Trong bối cảnh cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh với các đối thủ ngoài ngành đều rất gay gắt quyết liệt, các siêu thị đều rất chú trọng trong hoạt động Marketing Bởi vì Markting là công cụ hữu hiệu để các siêu thị nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Trong hoạt động Marketing của các siêu thị, đáng chú ý là chính sách giá ( Price ) và chính sách xúc tiến yểm trợ bán hàng ( Promotion)

Các siêu thị đều ráng cố gắng theo tiêu chí giá thấp và linh hoạt Thường xuyên các siêu thị đều nghiên cứu thăm dò giá cả hàng hóa trên thị trường và chính sách giá cả của đối thủ cạnh tranh để có chính sách giá hợp lý cho siêu thị của mình Thực tế cũng đã chứng minh, những siêu thị cố gắng phấn đấu giảm chi phí để bán hàng với giá thấp ( điển hình là hệ thống siêu thị COOPMART ) thường thu hút đông đảo khách hàng

Trong hoạt động xúc tiến và yểm trợ bán hàng, các siêu thị đều đã cố gắng tìm ra phong cách riêng của mình Những siêu thị nào thường xuyên có các hoạt động khuyến mãi thì thu hút đông khách hàng, và những siêu thị làm ăn có hiệu quả đều là những siêu thị biết chi cho hoạt động khuyến mãi một khoản ngân quỹ phù

Trang 31

hợp Tâm lý người tiêu dùng bao giờ cũng thích được lợi thêm và bị chi phối bởi quy luật lợi ích Do đó mỗi khi có đợt khuyến mãi nào vào dịp lễ, tết, giới thiệu sản phẩm mới, số lượng khách hàng đến siêu thị tăng vọt và doanh số bán cũng tăng theo

Các hình thức xúc tiến bán hàng của các siêu thị rất phong phú, đa dạng

Ví dụ : Siêu thị Miền Đông với chương trình thẻ ưu đãi cho khách hàng, chương trình bốc thăm trúng thưởng với những giải thưởng lớn ( xe hơi, xe máy, tiv…)

- Siêu thị Maximark có chương trình giải trí cuối tuần ở công viên nước, sổ tiết kiệm khách hàng là đặc sắc

- Hệ thống COOPMART có chương trình khách hàng thân thiết hàng năm có tác dụng rất lớn trong việc lưu giữ khách hàng trung thành

2 2.8 Công tác tổ chức nguồn hàng

Để có được nguồn hàng phong phú đa dạng, chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý, nhằm phục vụ tốt nhu cầu của người tiêu dùng, các siêu thị đều rất chú trọng công tác tổ chức nguồn hàng

Phần lớn các siêu thị ở thành phố đều nghiên cứu tìm những nguồn hàng ổn định, các nhà cung cấp có uy tín để giải quyết vấn đề đầu vào cho siêu thị của mình

Trong khâu tìm nhà cung cấp, các siêu thị thường cân nhắc giữa các nhà cung ứng theo những tiêu thức sau :

- Chủng loại hàng hóa : Tính khác biệt hóa của sản phẩm

- Chất lượng tốt

- Giá ca hợp lý

- Khả năng cung ứng về số lượng lớn, ổn định lâu dài

- Khả năng cung ứng hàng kịp thời, đúng hẹn

- Những điều kiện lợi thế về giao nhận, vận chuyển, thanh toán, bảo hành … Khi chọn được nhà cung cấp phù hợp với yêu cầu, siêu thị thường cố gắng xác lập kênh phân phối ngắn nhất để tiết kiệm chi phí và thời gian nhập hàng

Nguồn hàng của siêu thị bao gồm cả hàng nội và hàng nhập khẩu

Hàng nội thường được các siêu thị mua trực tiếp từ ngững nhà sản xuất trong nước có uy tín, đạt tiêu chuẩn hàng Việt Nam chất lượng cao như : Vinamilk, Vissan, dầu Tường An, mì Colusa, Miliket, Vifon, đồ hộp Hạ Long …

Hàng nhập khẩu thường được mua từ đại lý phân phối chính thức của các hãng nước ngoài

Kênh phân phối hàng từ các nhà sản xuất, phân phối tới siêu thị và người tiêu dùng thường là kênh ngắn

NHÀ SẢN XUẤT

ĐẠI LÝ PHÂN PHỐI SIÊU THỊ NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trang 32

Để mua được hàng các siêu thị thường áp dụng một số phương thức sau :

- Mua tự do : Đây là phương thức mua hàng linh hoạt trên cơ sở nhà cung cấp và siêu thị thỏa thuận với nhau về số lượng chất lượng, giá cả

Phương thức mua hàng này thường áp dụng đối với những hàng hóa có khả năng bảo quản được lâu và tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng thường không theo một tiêu chuẩn nào cụ thể mà tùy thuộc vào sự thỏa thuận đánh giá của hai bên như : quần áo, đồ gia dụng, hàng bách hóa …

- Đại lý bán hàng cho nhà sản xuất : siêu thị ký hợp đồng làm đại lý phân phối bán lẻ hàng cho các nhà sản xuất và hưởng hoa hồng theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng Phương thức này rất có lợi cho siêu thị vì siêu thị không phải bỏ vốn mua hàng, lại cũng không lo lỗ vốn khi hàng hóa không tiêu thụ được

Phương thức này thường áp dụng đối với những hàng thực phẩm chế biến có hạn dùng, hàng thực phẩm đông lạnh và thực phẩm chế biến sẵn dùng ngay được như : sữa, đồ hộp các loại, thịt, thủy hải sản đông lạnh, rau củ quả tươi, giò, chả, pate, xucxich, rau quả muối chua, ngâm dấm …

- Mua theo hợp đồng : Siêu thị ký hợp đồng mua hàng của các nhà cung cấp Mua hàng theo phương thức này giúp siêu thị ổn định được nguồn hàng Nếu tổ chức mua hàng theo hợp đồng cung cấp định kỳ siêu thị còn tiết kiệm được chi phí tồn trữ hàng Nhưng muốn áp dụng phương thức này, siêu thị phải có vốn lưu động đủ lớn và phải có uy tín

2 2.9 Kết quả hoạt động kinh doanh

Theo số liệu của sở thương mại tập họp năm 1999 thì số siêu thị làm ăn có hiệu quả đạt tỷ lệ 58,82 % trên tổng số các siêu thị ( tỷ lệ 10/ 17 siêu thị ) số siêu thị

bị lỗ vốn chiếm tỷ lệ 41,18% ( 7/ 17 siêu thị) Các siêu thị làm ăn có hiệu quả là các siêu thị của hệ thống COOPMART, các siêu thị của công ty An Phong với thương hiệu MAXIMARK kế đến là siêu thị MIỀN ĐÔNG và FOODCOMART

Đứng đầu trong danh sách siêu thị làm ăn có hiệu quả là COOPMART Cống Quỳnh

Đứng đầu trong số các siêu thị làm ăn kém hiệu quả là PACIFICMART của công ty liên doanh Deadong – Miền Đông, kế đến là Minimart Superbowl và Minimart quận I đều của Vũng Tàu – Sinhanco ( 06 tháng đầu năm 1999, PACIFICMART lỗ 427 triệu, MINIMART Superbowl lỗ 211 triệu và MINIMART quận I lỗ 200 triệu ) Tiếp theo là hai siêu thị tư nhân : Tự Do Mart và siêu thị Ngọc Thắng cũng bị lỗ Như vậy những siêu thị làm ăn kém hiệu quả phần lớn rới vào các siêu thị có quy mô nhỏ ,độc lập của các công ty liên doanh và của tư nhân

Mặc dù có những đơn vị làm ăn thua lỗ, nhưng nếu đánh giá chung thì sự đóng góp của hệ thống các siêu thị vào sự phát triển kinh tế xã hội rất đáng kể Theo số liệu thống kê của sở thương mại, thì chỉ kể các siêu thị từ quy mô vừa trở lên, các siêu thị này đã giải quyết được việc làm ổn định cho hơn 1500 lao động Tổng các loại thuế mà các siêu thị trên đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 12 tỷ đồng (năm 1999) Mặc khác sự phát triển của hệ thống siêu thị còn làm cho bộ mặt của thành phố đẹp hơn, sinh động hơn Phương thức bán hàng văn minh tiến bộ của siêu

Trang 33

thị đã có tác dụng hướng dẫn, kích thích nhu cầu, làm thay đổi nếp mua sắm của người dân thành phố, nâng cao dân trí, văn minh thương mại

KẾT LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC SIÊU THỊ Ở TPHCM THỜI GIAN QUA

Qua tìm hiểu về sự phát triển của siêu thị ở Thành Phố Hồ Chí Minh và tình hình hoạt động của các siêu thị trong thời gian qua Chúng tôi rút ra một số nhận xét chung như sau :

* Về thành tựu đạt được

1 Sự phát triển của các siêu thị đã chứng tỏ thương mại bán lẻ ở Thành Phố

đã có sự chuyển hướng kịp thời phù hợp với đà phát triển của một thành

phố lớn và năng động nhất nước

2 Sự ï phát triển của các siêu thị đã tạo điều kiện thuận lợi tối đa về mua sắm

cho người tiêu dùng Với hàng hóa phong phú đa dạng, với phương thức phục vụ văn minh, tiến bộ các siêu thị đã đáp ứng và thỏa mãn tương đối

tốt những nhu cầu tiêu dùng thông thường của mọi người

3 Các nhà quản lý ở các siêu thị đã có nhiều nỗ lực cố gắng, vừa làm vừa rút

kinh nghiệm để các siêu thị hoạt động đi vào nề nếp và ổn định dần Chính sách kinh doanh của các siêu thị bước đầu đã chứng tỏ hướng đi đúng và phù hợp với xu thế phát triển của loại hình kinh doanh siêu thị trên thế giới

nói chung

4 Sự góp mặt của các siêu thị đã đóng góp đáng kể vào việc giải quyết việc

làm, tăng nguồn thu cho ngân sách và huy động các nguồn vốn để phát

triển kinh tế thành phố

5 Cạnh tranh giữa siêu thị và các loại hình bán lẻ khác đã thúc đẩy thương

nghiệp bán lẻ phát triển có tác dụng kích thích nhu cầu và sản xuất phát

triển

6 Đặc biệt, các siêu thị có ảnh hưởng rất lớn, rất quan trọng trong định hướng tiêu dùng, tuyên truyền giới thiệu và quảng cáo cho hàng Việt Nam chất lượng cao góp phần thay đổi thái độ của người tiêu dùng đối với hàng sản xuất trong nước

Tuy nhiên hoạt động của các siêu thị còn một số vấn đề hạn chế, cần khắc phục như :

1 Hệ thống các siêu thị ở thành phố phát triển mang tính tự do, tự phát, chưa có sự định hướng quy hoạch phát triển thống nhất dẫn đến tình trạng vô tổ chức, khó quản lý

2 Mô hình và quy mô của các siêu thị như thế nào cho hợp lý chưa được sự đầu tư quan tâm, nghiên cứu thỏa đáng của các nhà nghiên cứu cũng như

Trang 34

thể phác họa một mô hình phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của thành phố nói riêng và Việt Nam nói chung

3 Trong tổ chức quản lý và hoạt động kinh doanh các siêu thị còn chưa có chiến lược chính sách kinh doanh ổn định lâu dài

4 Sự phát triển và phân bố các siêu thị ở các khu vực trên địa bàn thành phố còn nhiều bất hợp lý, có những khu vực chưa có một siêu thị nào ( quận 4), nhiều người dân ở các khu vực xa trung tâm muốn tới siêu thị còn phải đi một đoạn đường khá xa và vất vả vì điều kiện giao thông đi đến các siêu thị chưa thuận tiện

5 Điểm lại hệ thống siêu thị ở thành phố chúng ta thấy các doanh nghiệp nhà nước còn bỏ trống lĩnh vực này Đến nay mới có duy nhất một siêu thị nhỏ (TENMART) là thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước, vấn đề này cũng cần lưu tâm Bởi vì nếu các doanh nghiệp nhà nước muốn đóng vai trò chủ đạo đối với lĩnh vực bán lẻ thì cách tốt nhất là nên tổ chức các siêu thị để cùng tham gia thị trường với các thành phần kinh tế khác

Trang 35

3.1.1.1 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội kể cả sự phát triển của thương mại bán lẻ, trong đó có siêu thị

Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá Tốc độ tăng GDP của cả nước và thành phố qua các năm như sau :

BẢNG 5: TỐC ĐỘ TĂNG GDP CỦA TP VÀ CẢ NƯỚC TỪ 1996 – 2000

Năm 1996 1997 1998 1999 Dự kiến

2000 Tốc độ tăng GDP

Kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, hàng hóa phong phú đa dạng, nhu cầu người dân tăng Kinh tế phát triển tạo thuận lợi lớn cho sự phát triển của thương mại trong đó có lĩnh vực bán lẻ và đặc biệt là loại hình bán lẻ siêu thị

Môi trường kinh tế còn có một số yếu tố khác cũng khá thuận lợi cho đầu tư kinh doanh siêu thị như : Lãi suất thấp, lạm phát thấp … điều này sẽ khiến cho đầu tư có thể đạt tỷ suất lợi nhuận cao, các nhà đầu tư ít bị rủi ro về tài chính do đồng tiền mất giá

Xu hướng hội nhập, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế sẽ đưa đến cho các doanh nghiệp cả cơ hội và thách thức Cơ hội đó là thị trường cho hàng xuất khẩu mở rộng có tác dụng kích thích sản xuất, nâng cao mức sống của người dân, hàng nhập khẩu dễ dàng xâm nhập vào nước ta, thuế suất nhập khẩu giảm làm cho nguồn hàng của các siêu thị phong phú đa dạng hơn, giá thấp hơn các siêu thị có cơ hội phát triển mặt hàng kinh doanh … Thách thức là cạnh tranh sẽ càng gay gắt và quyết liệt hơn Vì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tham gia vào lĩnh vực kinh doanh siêu thị bên cạnh các nhà đầu tư trong nước

Trang 36

3.1.1.2 Môi trường chính trị và pháp luật

Tình hình chính trị nước ta tương đối ổn định Nhà nước có chủ trương duy trì sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế lâu dài, chính sách đầu tư thông thoáng … đây là yếu tố thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư để mở thêm các siêu thị

Hệ thống luật pháp ở nước ta đã và đang được hoàn thiện dần, tạo hành lang pháp lý thuận lợi và bình đẳng cho các nhà kinh doanh

Nhà nước có các chính sách kích cầu, chính sách xóa đói giảm nghèo, có sự cải cách hệ thống tiền lương, cải cách thủ tục hành chính, các cấp các ngành đều chú trọng đến giải quyết việc làm … tất cả những yếu tố này tác động thuận lợi đến việc kích thích sản xuất phát triển, cải thiện đời sống người dân và tạo điều kiện cho siêu thị phát triển

Tuy nhiên hệ thống luật pháp ở nước ta còn chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh và nhất quán, việc thực thi pháp luật chưa nghiêm Tệ buôn lậu trốn thuế, hàng gian, hàng giả còn phổ biến, thủ tục hành chính rườm rà … những yếu tố này gây bất lợi cho các nhà kinh doanh Bởi vì trong điều kiện như vậy sự cạnh tranh sẽ không thực sự bình đẳng

3.1.1.3 Môi trường văn hóa xã hội

Môi trường văn hóa xã hội có ảnh hưởng đến lối sống thị hiếu, xu hướng mua sắm và tiêu dùng

Hiện nay mức sống của người dân cả nước nói chung và người dân thành phố nói riêng đang từng bước được cải thiện và nâng cao Qua số liệu thống kê chính thức chúng ta có thể thấy rõ điều đó

BẢNG 6: CHI TIÊU BÌNH QUÂN CỦA NGƯỜI DÂN TPHCM

Đơn vị : VNĐ/ người/ tháng

Mức sống còn khó khăn

Mức sống tạm ổn

100%

10,7 28,1 35,9 18,9 6,4

100%

10,6 27,9 36,2 19,0 6,3

100%

9,6 27,5 37,4 19,3 6,2 Mức Sống

Từ trung bình trở lên 60,9 61,2 61,5 62,9

Ngày đăng: 01/09/2020, 15:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w