Trong đó một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra là phải ổn định nền tài chính tiền tệ quốc gia mà đặc biệt là vấn đề kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả tiền tệ, để tăng trưởng
Trang 1HÀ QUỐC THẮNG
LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh, năm 2009
Trang 2HÀ QUỐC THẮNG
LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG MÃ SỐ : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP.Hồ Chí Minh, năm 2009
Trang 3Trang bìa
Lời cam đoan
Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ
Danh mục từ viết tắt
Lời mở đầu
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1.1 Khái niệm lạm phát 1
1.2 Phân loại lạm phát 2
1.3 Một số chỉ tiêu đo lường lạm phát 4
1.3.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI-Consumer Price Index) 4
1.3.2 Chỉ số điều chỉnh (GDP-General Dosmetic Product) 5
1.4 Nguyên nhân và tác động của lạm phát 6
1.4.1 Nguyên nhân của lạm phát 6
1.4.2 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế 7
1.5 Kinh nghiệm trong kiểm soát lạm phát trên thế giới 13
1.5.1 Kinh nghiện kiểm soát lạm phát của Trung Quốc 13
1.5.2 Kinh nghiện kiểm soát lạm phát của Mỹ 17
1.5.3.Kinh nghiệm kiểm sóat lạm phát của Hàn Quốc 19
1.5.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở
VIỆT NAM 2.1 Lạm phát và kiểm soát lạm phát giai đoạn 2000-2005 25
Trang 42.1.2.1 Xét trên góc độ tiền tệ 27
2.1.2.2 Xét trên góc độ cầu kéo 30
2.1.2.3 Xét trên góc độ chi phí đẩy 34
2.1.3 Biện pháp kiểm soát lạm phát 35
2.2 Lạm phát và kiểm soát lạm phát giai đoạn 2006-2008 36
2.2.1 Thực trạng và nguyên nhân 36
2.2.2 Biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ 44
2.3 Lạm phát và kiểm soát lạm phát những tháng đầu năn 2009 47
2.3.1 Tình hình lạm phát và nguyên nhân 47
2.3.2 Nguy cơ tái lạm phát và nguyên nhân 49
2.4 Đánh giá kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong thời gian qua 51
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HẬU HOẢNG 3.1 Định hướng trong kiểm soát lạm phát thuộc nền kinh tế Việt Nam 58
3.1.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế Việt Nam đến 2015 58
3.1.2 Định hướng của chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát trong thời gian tới 60
3.2 Dự đoán lạm phát năm 2009 và thời gian tới 64
3.3 Giải pháp kiểm soát lạm phát 68
3.3.1 Giải pháp về phía chính phủ 70
3.3.1.1 Chống những hành vi trục lợi 70
3.3.1.2 Cải cách tiền lương 72
3.3.1.3 Cải cách hành chính 73
3.3.1.4 Xây dựng một quy chế quản lý giá cả hợp lý 73
Trang 53.3.4 Giải pháp về phía doanh nghiệp 84 3.3.4.1 Doanh nghiệp tiết kiệm, (cắt giảm) chi phí 84 3.3.4.2 Xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển lâu dài 85 3.3.4.3 Doanh nghiệp cần sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
ADO Triển vọng phát triển Châu Á
CSHT Chính sách hỗ trợ
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DTBB Dự trữ bắt buột
FDI Đầu tư trực tiếp
FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
GDF Báo cáo tình trạng nợ của Ngân hàng Thế giới GDP Tổng sản phẩm trong nước
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
KBNN Kho bạc nhà nước
NĐ – CP Nghị định của Chính phủ
NDT Nhân dân tệ
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng trung ương
NSLĐ Năng suất lao động
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
QĐ – BTC Quyết định của Bộ Tài chính
QĐ – TTg Quyết định của Thủ tướng
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 - 2005 26
Bảng 2.2 Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá USD 2005 27
Bảng 2.3 Mức đóng góp vào NSNN từ các khu vực kinh tế năm 2005 30
Bảng 2.4 Vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế 2000-2005 31
Bảng 2.5 Tình hình thu chi và thâm hụt NS giai đoạn 2000-2005 32
Bảng 2.6 Cơ cấu chi ngân sách nhà nước 32
Bảng 2.7.Tổng trị giá xuất nhập khẩu từ 2000-2005 33
Bảng 3.1 Tổng hợp và dự đoán các chỉ tiêu kinh tế - xã hội từ năm 2005-2012 64
Bảng 3.2 Dự đoán các chỉ tiêu kinh tế - xã hội từ năm 2010-2017 65
Bảng 3.3.Thống kê và dự đoán chỉ số lạm phát năm 2009 67
Bảng 3.4.Tốc độ tăng của chỉ số CPI trong các tháng so với tháng trước năm 2009 67
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 3.1.Tỷ lệ tăng GDP thực từ năm 2003 -2012 65
Hình 3.2 Tỷ lệ tăng GDP thực từ năm 2003 -2012 66
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói lạm phát là một vấn đề luôn làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách kinh tế Nói lạm phát là một vấn đề cũ thì không có gì sai, bởi từ xưa đến nay có rất nhiều nhà kinh tế đã gián tiếp hay trực tiếp đề cập về nó Song phạm vi lạm phát lúc nào cũng là vấn đề mới cả, nó thay đổi từng ngày từng giờ, thay đổi liên tục, có khi tạm ổn, có khi giảm xuống, có khi lên cơn sốt trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, lạm phát có những sắc thái riêng Trong tình hình hiện nay, khi tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng với những tồn tại yếu kém nội tại của nền kinh tế thì vấn đề này lại được các nhà hoạch định chính sách quan tâm nhiều hơn Diễn biến về tình hình thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng nước ta đã làm hao tốn nhiều công sức của các nhà hoạch định, nhà nghiên cứu
Vậy nền kinh tế nước ta trong năm 2009 và những năm trước đó có lạm phát hay không ? Nếu có là bao nhiêu? Cao hay thấp? Mức lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế? Những nguyên nhân nào gây ra lạm phát ở nước ta? Những câu hỏi này cần phải làm sáng tỏ và trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích hợp để góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định và phát triển kinh tế xã hội theo mục tiêu đề ra
Đề tài “Lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn hậu khủng hoảng” được lựa chọn để nghiên cứu nhằm phân tích diễn tiến tình hình lạm phát ở
nước ta trong thời gian qua và dự báo trong thời gian sắp tới Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm kiểm soát, kiềm chế lạm phát tốt hơn góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nhằm đạt được những vấn đề sau:
- Nêu ra những quan điểm, lý luận về lạm phát, từ đó xem những quan điểm nào được vận dụng phổ biến và phù hợp với nền kinh tế Việt Nam
- Phân tích tình hình lạm phát của Việt Nam Giai đoạn từ năm 2000 đến năm
2009 (đặt biệt là nguy cơ tái lạm phát trong thời gian tới)
Trang 9đến tình trạng lạm phát Từ đó đề ra những giải pháp kiểm soát, kiềm chế lạm pháp, góp phần ổn định nền kinh tế
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Ngoài ra đề tài còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, dự báo cũng như thu thập các số liệu kinh tế liên quan đến lạm phát như tỷ giá hối đoái, lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng… là những số liệu cần thiết cho việc nghiên cứu Những số liệu này được thu thập trên các phương tiện thông tin đại chúng, các số liệu thống kê
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Để tạo được một sự ổn định về kinh tế, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng
bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Trong đó một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra là phải ổn định nền tài chính tiền tệ quốc gia mà đặc biệt là vấn đề kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả tiền tệ, để tăng trưởng bền vũng và có hiệu quả
Đề tài đi vào nghiên cứu lạm phát với mong muốn nắm vững hơn về diễn biến tình hình lạm phát ở Việt Nam thời gian qua và những nhân tố tác động tới lạm phát để
từ đó kiểm soát lạm phát tốt hơn, góp phần tạo nên một sự ổn định về kinh tế, cùng với
sự ổn định về chính trị giúp chúng ta thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng và nhà nước đặt ra
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan lý luận về lạm pháp
Chương 2: Thực trạng về lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn hậu khủng hoảng
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1.1 KHÁI NIỆM LẠM PHÁT
Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết của lưu thông hàng hóa làm cho tiền giấy bị mất giá và giá cả của hàng hóa được biểu hiện bằng đồng tiền mất giá không ngừng tăng lên
Có thể nói lạm phát thường xuyên xảy ra trong chế độ lưu thông tiền giấy Điều này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ là một loại dấu hiệu giá trị được phát hành vào lưu thông để thay thế cho tiền đủ giá nhằm thực hiện vai trò trung gian trao đổi Như vậy, thực chất tiền giấy không có giá trị nội tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa, nghĩa là, tiền giấy không phải do có giá trị mới lưu thông mà nhờ lưu thông chấp nhận nên tiền giấy có giá trị Do đó, khi có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền bị mất giá và lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa
Khi nghiên cứu về vấn đề lạm phát, các nhà kinh tế thường nhìn nó dưới nhiều góc độ:
- Như K.Marx cho rằng hiện tượng lạm phát thường dẫn đến việc phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội có lợi cho giai cấp bóc lột và làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân lao động Lạm phát mang bản chất giai cấp rõ rệt, là một phương pháp để các nhà nước tư sản chiếm đoạt một bộ phận thu nhập của nhân dân lao động
- Theo V.I.Lênin cho rằng lạm phát là một hình thức công trái cưỡng bách sâu
xa nhất, vì lạm phát làm cho giá cả hàng hóa tăng, thu nhập của nhân dân bị đánh giá lại và làm cho đời sống của nhân dân trở nên khó khăn
- Trong những năm 1960, đại bộ phận các nhà kinh tế học Mỹ đều thống nhất lạm phát và giá cả hàng hóa gia tăng là cùng một ý nghĩa
Trang 11- Song đến thập niên 80 các nhà kinh tế Châu Âu lại thỏa hiệp với quan điểm: lạm phát là sự phát hành tiền tệ nằm trong chính sách tài chính của nhà nước chịu áp lực của sự thâm thủng ngân sách nhằm tài trợ cho các khoản chi của nhà nước
Tuy nhiên, định nghĩa được nhiều người chấp nhận nhất thì lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế
Và dù nhìn lạm phát ở khía cạnh nào thì những quốc gia có xảy ra lạm phát luôn có những đặc trưng đó là:
- Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền giấy dẫn đến hệ quả là tiền giấy mất giá
- Do tiền giấy mất giá nên điều tất yếu là giá cả hàng hóa sẽ tăng đồng bộ và liên tục, nghĩa là sức mua của đồng tiền bị giảm và đồng tiền bị giảm giá trên thị trường hối đoái
- Sự bất ổn định trong đời sống kinh tế xã hội
1.2 PHÂN LOẠI LẠM PHÁT
Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là giá cả hàng hóa tăng liên tục nên người
ta thường căn cứ vào chỉ số giá cả hàng hóa tăng để làm căn cứ phân làm 3 mức độ lạm phát:
Lạm phát vừa phải (Reasonable Inflation):
Biểu hiện ở giá cả hàng hóa tăng chậm trong khoảng 10% / năm trở lại Do đó, đồng tiền mất giá không lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh Loại lạm phát này thường được các nước có nền kinh tế phát triển duy trì như một chất xúc tác góp phần thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển Ở mức độ lạm phát vừa phải, giá cả dao động chung quanh mức tăng tiền lương, trong điều kiện như thế giá trị tiền tệ không biến đổi nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển
Khi giá cả tăng ra khỏi mức độ hợp lý, người ta nói lạm phát đang bước vào giai đoạn tăng cao
Trang 12- Lạm phát cao (High Inflation):
Loại này xảy ra khi giá cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số như 20%, 100%, 200%… Lạm phát này còn gọi là lạm phát phi mã để cho thấy giá cả hàng hóa lúc này tăng nhanh như “một con ngựa bất kham đang tung hết vó ngựa chạy về phía trước” Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất bị đình trệ, nền tài chính bị phá hoại, nếu không có biện pháp thích hợp thì nền kinh tế sẽ bị tác hại nghiêm trọng, đồng tiền mất giá một cách nhanh chóng, lãi suất thực tế giảm xuống dưới 0, dân chúng tránh giữ tiền mặt Ví dụ như: ở Việt nam giai đoạn 1986 - 1987 đã xảy ra lạm phát phi mã 77,4%/ năm Lúc đó người ta ví đồng tiền Việt Nam như hòn than đang cháy nổ Nó rơi vào túi người nào thì ngay lập tức họ sẽ mua hàng để tung đồng tiền đó vào túi người khác
- Siêu lạm phát (Hyper Inflation): Trường hợp xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm
phát phi mã Siêu lạm phát xảy ra do các biến cố lớn dẫn đến đảo lộn trật tự kinh tế -
xã hội như chiến tranh khủng hoảng chính trị… Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm hụt ngân sách khiến Chính phủ phải phát hành tiền giấy để bù đắp dẫn đến siêu lạm phát Siêu lạm phát có sức phá hủy toàn bộ họat động của nền kinh tế và nền kinh tế bị suy thóai nghiêm trọng Có thể ví siêu lạm phát như một cơn sóng thần, một cơn địa chấn của nền kinh tế Loại lạm phát này tiền giấy phát hành ào ạt, giá cả tăng lên với tốc độ chóng mặt từ 1000%/ năm trở lên, vì thế trong giai đoạn này người ta ví nó như căn bệnh ung thư gây chết người và có tác động rất lớn đến nền kinh tế mà lịch sử lạm phát của thế giới phải ghi nhận như lạm phát ở Đức 1920 - 1923, cụ thể trong giai đoạn từ 1/1922 - 11/1923 chỉ số giá cả tăng từ 1 đến 10.000.000, 1921 - 1923 kho tiền của Đức tăng 7 tỉ lần Giá của một quả trứng tại thị trường Berlin là 1 triệu D.M; hoặc siêu lạm phát hoành hành ở Bolivia trong những năm giữa thập niên 1980, với tỷ lệ lạm phát bằng 50.000% / năm…
Tỷ lệ lạm phát cao là một triệu chứng không an toàn về “sức khỏe” của một nền kinh tế, và do đó là một trong những vấn đề mà dân chúng cũng như nhà chức trách về chính sách kinh tế quan tâm và như thế việc phân loại lạm phát theo mức độ để có
Trang 13những biện pháp “điều trị” thích hợp, song “phòng” hay “chống” cần phải căn cứ vào nguyên nhân “gây bệnh”
1.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát mà nó là suất tăng của mức giá tổng quát theo thời gian Vấn đề đặt ra trước tiên là mức giá tổng quát được tính toán như thế nào? Hai thước đo thông dụng phản ánh mức giá tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator)
1.3.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index)
Chỉ số giá tiêu dùng là một tỷ số phản ánh của hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó trong năm gốc
Chỉ số giá tiêu dùng CPI =
Σ qi
0 pit
Σqi
0pi0 Trong đó: qi là rổ hàng hóa và pi là giá của các mặt hàng, t là năm hiện hành, 0
là năm gốc
Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc, và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán Mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định và tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc Những nhược điểm mà chỉ
số này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt là CPI không phản ánh sự biến động của giá hàng hóa, không thể đo lường lạm phát một cách chính xác do bị tác động bởi hai yếu tố sai lệch gồm sai lệch cơ cấu (rổ hàng hóa không thay đổi trong khi nhu cầu tiêu dùng thay đổi) và sai lệch thay thế (người dân chuyển sang tiêu dùng hành hóa thay thế với giá rẽ hơn) Như vậy tính theo CPI có thể dẫn đến tình trạng dự báo quá mức
Ngòai chỉ số giá tiêu dùng, còn có chỉ số giá tiêu dùng cơ bản Chỉ số này cũng được tính toán như chỉ số giá tiêu dùng như nó loại ra khỏi rỗ hàng hóa hai nhóm hàng
Trang 14hóa là lương thực thực phẩm và năng lượng Hai nhóm hàng hóa này bị loại ra khỏi nhóm hàng hóa là do quan niệm cho rằng đây là hai loại hàng hóa có giá nhạy cảm, thường xuyên biến động sẽ khiến cho việc đo lường lạm phát thực tế là không chính xác
1.3.2 Chỉ số điều chỉnh (GDP - General Dosmetic Product)
Trong khi đó, chỉ số điều chỉnh GDP không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau theo thời gian
Chỉ số điều chỉnh GDP = Σ qi
t pit
Σqi
tpi0 Chỉ số điều chỉnh GDP là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất nó bao gồm tất
cả các hàng hóa dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trong số tính toán được điều chỉnh vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hóa và dịch vụ vào giá trị gia tăng Về mặt khái niệm, đây là chỉ số đại diện tốt hơn cho việc tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ số giá này không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá hàng nhập khẩu cũng như sự biến động của tỷ giá hối đoái Nhược điểm chỉnh của chỉ số giá này là không thể hiện được sự thay đổi của chất lượng hàng hóa khi tính toán tỷ lệ lạm phát và chỉ số không phản ánh được sự biến động giá cả trong từng tháng mà chỉ tính được lạm phát của năm sau khi đã có báo cáo về GDP cả năm
Việt Nam trong những năm qua cũng sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính
tỷ lệ lạm phát và sử dụng nó cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ Ngoài những nhược điểm như phân tích ở trên, chỉ số này không phản ánh được tình hình lạm phát khi mà nó thường xuyên dao động Sự dao động trong ngắn hạn không có liên quan gì đến áp lực lạm phát căn bản trong nền kinh tế và việc sử dụng chỉ số này làm mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ có thể làm chệch hướng chính sách Với mục tiêu là ổn
Trang 15định tiền tệ trung hạn, chính sách tiền tệ nên tập trung vào xu hướng tăng giá thay vì
sự dao động của giá
Như vậy, ta có thể thấy mỗi chỉ tiêu đo lường đều có những ưu và nhược điểm riêng Vì vậy, khi áp dụng chỉ tiêu đo lường nào cần căn vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia, hoặc có thể áp dụng nhiều chỉ tiêu đo lường để có thể đánh giá chính xác về tình hình lạm phát
1.4 NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
1.4.1 Nguyên nhân của lạm phát
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học có nhiều nguyên nhân khác nhau để dẫn đến lạm phát Nhìn chung lạm phát có thể xuất phát từ phía tổng cầu trong nền kinh tế, cũng có thể là các nguyên nhân xuất phát từ phía cung, và cũng có thể chúng xụất hiện đồng thời từ phía cả cung lẫn cấu Và trong khi quan sát thực tế người ta nhận thấy trong môi trường có lạm phát thì bản thân môi trường đó nó cũng có khả năng và là nguyên nhân thúc đẩy hoặc hoặc tiếp tục gây ra một chu trình sản xuất mới, tức là tạo ra sự lẩn quẩn trong vòng xóay lạm phát Mặc dù không có nguyên nhân nào được chấp nhận hòan toàn nhưng ta có thể kể ra các nguyên nhân khái quát gây ra lạm phát như sau:
¾ Lạm phát do cầu kéo (Demand Pull Inflation): Khi nền kinh tế tới hoặc
vượt quá mức mức sản lượng tiềm năng, việc tăng mức cầu lúc này dẫn tới lạm phát Khi đó với mức cung hạn chế về sản lượng thực tế, tăng cầu làm tăng giá dẫn đến lạm phát
¾ Lạm phát do chi phí đẩy (Cost Push Inflation): Khi chi phí đẩy giá lên,
ngay cả trong những thời kỳ tài nguyên không được sử dụng hết, khủng hoảng diễn ra gọi là lạm phát do chi phí đẩy Đây là hiện tượng của nền kinh tế công nghiệp hiện đại Nguyên nhân là do tăng tiền lương, tăng chi phí quản lý, nhiên liệu, vật tư… đòi hỏi phải tăng giá
Trang 16¾ Các nhà kinh tế vĩ mô theo trường phái Keynes còn cho rằng sự kỳ vọng trong tương lai cũng là một nguyên nhân gây ra lạm phát gọi là lạm phát quán tính Tức là lạm phát có thể góp phần tạo ra lạm phát hơn nữa nếu mọi người mong đợi điều đó xảy ra Khi lạm phát xảy ra người lao động, người tiêu dùng và doanh nghiệp
dự kiến lạm phát vẫn tiếp tục tăng trong tương lai nên đưa ra những yêu cầu được tăng lương, những đối sách thích ứng “sớm” nên càng tăng mức độ lạm phát tương lai
¾ Tuy nhiên, có thể nói trên thực tế hiện tượng lạm phát xảy ra được đưa đến
từ những nguyên nhân khác nhau, điều này bị chi phối bởi bối cảnh của mỗi quốc gia nhưng nhìn một cách tổng quát qua lịch sử lạm phát thế giới thì có những nguyên nhân cơ bản và chủ yếu sau:
+ Những nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ những chính sách quản lý kinh tế không phù hợp của nhà nước như: chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất, chính sách thuế làm cho nền kinh tế bị mất cân đối, hiệu quả sản xuất bị sút kém ảnh hưởng tđến nền tài chính quốc gia Một khi ngân sách bị thâm thủng thì điều tất yếu thường xảy ra là nhà nước phải tăng chỉ số phát hành Đặc biệt đối với một số quốc gia trong những điều kiện nhất định nhà nước chủ trương dùng lạm phát như một công
cụ để thực thi chính sách phát triển kinh tế
+ Những nguyên nhân khách quan đưa đến như: thiên tai, động đất hoặc nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh, tình hình biến động của thị trường nhiên liệu trên thế giới…
+ Ngoài ra, do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan gây nên khủng hoảng hệ thống chính trị, từ đó người dân bị mất lòng tin vào nhà nước họ không tiêu xài hoặc đánh giá thấp giấy bạc mà nhà nước phát hành
1.4.2 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế
Về cơ bản, nền kinh tế lạm phát là một tín hiệu không tốt Duy trì lạm phát sẽ làm giảm dần lợi tức thực của những người có thu nhập thấp, những người hưởng lương hưu… và dẫn đến sai lệch trong việc phân phối của cải của xã hội Tuy nhiên, lịch sử lạm phát đã cho thấy rằng không phải bất cứ lúc nào lạm phát xảy ra cũng là
Trang 17xấu, và cũng không phải ai cũng bị thiệt hại khi nền kinh tế bị lạm phát Cũng như đa
số các hiện tượng kinh tế khác, lạm phát cũng có tính hai mặt của nó là mang lại lợi ích cũng như gây ra thiệt hại đối với nền kinh tế
a.Tác động tích cực của lạm phát đối với nền kinh tế
Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, khi nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, hay nói cách khác, khi các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn, công nghệ… chưa được khai thác hết thì khi mức giá chung tăng lên sẽ có tác dụng kích thích các doanh nghiệp gia tăng đầu tư để tăng sản lượng hàng hóa cung ứng trên thị trường, làm cho sản xuất được mở rộng Sản xuất mở rộng sẽ tạo ra được nhiều công ăn việc làm, giảm
tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập của người dân Đầu tư cho sản xuất tăng, thu nhập của người dân tăng sẽ góp phần làm tăng tổng cầu Tổng cầu tăng lại tạo điều kiện cho sản xuất phát triển Sản xuất và tiêu dùng liên tục phát triển, mở rộng sẽ góp phần duy trì sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Vì vậy, trên giác độ này lạm phát được xem
là một nhân tố kích thích kinh tế phát triển
Sản xuất phát triển nhưng không có nghĩa là tất cả các ngành trong nền kinh tế đều phát triển Giá cả tăng sẽ làm cho các yếu tố sản xuất đầu vào tăng giá, làm tăng chi phí sản xuất Vì thế, những ngành nào tăng được giá bán thì sẽ tồn tại và phát triển, còn những ngành nào mà giá bán không tăng được, hay thậm chí còn giảm xuống, thì
có thể bị thu hẹp dần Kết quả là vốn đầu tư sẽ chuyển dịch, các ngành kinh tế phát triển được thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư, còn các ngành không phát triển được
sẽ thu hút được ít vốn đầu tư, hơn nữa vốn đầu tư còn bị rút dần để đầu tư vào những lĩnh vực, ngành nghề khác Điều này sẽ góp phần làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng có lợi và hiệu quả hơn
Theo quan điểm của các nhà đầu tư tài chính, lạm phát cũng được xem như là một nhân tố rủi ro tiềm ẩn và là một động cơ cần thiết để đầu tư sinh lợi Rủi ro này thể hiện ở sự không chắc chắn về giá trị của đồng tiền trong tương lai Nếu lạm phát tăng thì một đồng ngày hôm nay sẽ có giá trị nhiều hơn một đồng trong lương lai, tức giá trị đồng tiền giảm đi Giá trị đồng tiền giảm đi theo thời gian như là một thứ thuế
Trang 18đánh trên những người nắm giữ tiền Điều này sẽ khuyến khích những người nắm giữ tiền sử dụng tiền của mình để đầu tư sinh lợi, chẳng hạn như gửi tiết kiệm, mua chứng khoán, góp vốn kinh doanh… nhằm bảo tồn được giá trị thực của tiền và có thể mang lại một giá trị tiền tệ lớn hơn Kết quả là làm tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế
Giá cả tăng không những góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế mà còn tạo ra một áp lực cạnh tranh rất lớn trong nền kinh tế ở hầu hết các ngành nghề Đối với các ngành tăng được giá bán thì áp lực lớn nhất đối với các doanh nghiệp là làm sao để duy trì và phát triển thị phần của mình Còn những ngành không tăng giá được thì các doanh nghiệp phải chịu áp lực lớn hơn vì vừa phải duy trì thị phần vừa phải cố gắng hạ thấp chi phí để đảm bảo có lợi nhuận Trong bối cảnh đó, để tồn tại và phát triển buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, năng lực quản lý, cải tiến chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm
Giá cả tăng lên, đồng tiền bị mất giá, điều này sẽ có lợi cho một số bộ phận trong xã hội đó là: chính phủ, các doanh nghiệp và người vay nợ
- Chính phủ là người hưởng lợi trước tiên từ lạm phát Giá cả tăng sẽ làm tăng thu nhập của nhà sản xuất, và vì thế mức lương của người lao động cũng tăng theo Khi thu nhập của xã hội tăng thì thuế trả cho Nhà nước cũng tăng Trong khi đó các khoản chi trả lương, trợ cấp hưu trí… của Nhà nước thường mang tính ổn định trong một thời gian dài, hoặc nếu thay đổi cũng không bằng nguồn thu tăng thêm vào ngân sách do tăng giá, cho nên Nhà nước vẫn được lợi từ lạm phát Hơn nữa, chính phủ thường là chủ nợ lớn nhất trong xã hội dưới dạng các tài sản tài chính như trái phiếu chính phủ, lạm phát sẽ làm cho phần lãi suất thực mà chính phủ chi trả cho các khoản
nợ bằng tiền trong nước sẽ giảm đi Và nếu lạm phát xảy ra là do phát hành tiền thì chính phủ càng được lợi hơn nữa, vì năng lực mua sắm của những đồng tiền hiện có sẽ
bị sụt giảm và chuyển địch vào những đồng tiền phát hành mới Như vậy, rõ ràng chính phủ sẽ rất có lợi vì chỉ cần bỏ ra một ít chi phí để in tiền là có thể dùng để mua sắm một khối lượng hàng hóa lớn hơn trên thị trường, Cũng chính vì những mối lợi này mà đa số các chính phủ đều cố gắng duy trì lạm phát trong nền kinh tế
Trang 19- Các doanh nghiệp cũng có lợi từ lạm phát đứng trên giác độ tăng giá bán so với sự thay đổi tiền lương của người lao động Thông thường khi lạm phát xảy ra các doanh nghiệp thường sẽ tăng giá bán trước khi có những quyết định để thay đổi tiền lương cho người lao động Sự thay đổi lương này thông thường được thực hiện vào thời điểm đầu năm, và nếu có tăng lương thì mức tăng cũng không thể cao hơn mức tăng giá vì thế lợi nhuận của nhà sản xuất thường cao hơn so với trước
- Đối với những người đi vay, nếu lãi suất đi vay không gắn với sự thay đổi lạm phát thì khi giá cả tăng, năng lực mua sắm của đồng tiền bị giảm sút, vì thế giá trị đồng tiền khi họ vay sẽ cao hơn giá trị đồng tiền mà họ trả lại nợ vay cho chủ nợ, do đó người đi vay cũng sẽ được hưởng lợi từ lạm phát Dĩ nhiên, nếu lãi suất vay gắn với sự biến động của lạm phát thì người đi vay sẽ không có lợi gì
Như vậy, lạm phát xảy ra cũng có những tác động tích cực nhất định đối với nền kinh tế như tăng trưởng, gia tăng việc làm, kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn… Tuy nhiên, những tác động tích cực trên chỉ có được thực sự khi lạm phát xảy ra là thấp và mang tính ổn định trong một thời gian dài hoặc có dự báo và
kiểm soát chặt chẽ
b Tác động tiêu cực của lạm phát đối với nền kinh tế
Mặc dù trong một số trường hợp nào đó, lạm phát xảy ra là có lợi cho nền kinh
tế, nhưng nhìn chung, lạm phát xảy ra đều có những tác động tiêu cực đối với nền kinh
tế, thể hiện ở một số mặt như: phân bố nguồn lực, phân phối thu nhập, phát triển kinh
tế và lãng phí của xã hội
- Lạm phát khiến phân bố nguồn lực không hiệu quả: khi lạm phát xảy ra đồng tiền sẽ bị mất giá, đặc biệt là trong thời kỳ lạm phát cao thì giá trị đồng tiền sẽ sụt giảm nghiêm trọng, cho nên càng giữ nhiều tiền mặt trong tay thì càng trở nên nghèo
đi Để đối phó với tình trạng này, người ta chuyển sang nắm giữ các tài sản khác lâu bền hơn và giá trị ít bị biến động bởi lạm phát hơn như bất động sản, vàng, đá quý và các loại ngoại tệ mạnh Các khoản tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng sẽ bị sụt giảm do người dân không thích gửi tiền vào ngân hàng nữa, không những thế họ còn đổ xô đến
Trang 20ngân hàng để rút tiền ra Điều này làm cho nguồn vốn cho vay của các ngân hàng bị giảm sút nghiêm trọng Nguồn vốn ngân hàng giảm sẽ làm tăng lãi suất cho vay, dẫn đến vốn đầu tư cho sản xuất cũng giảm Kết quả là vốn đầu tư vào sản xuất sẽ giảm đi, trong khi đó vốn đầu tư vào các tài sản ngoài sản xuất như bất động sản sẽ tăng lên Xét trên giác độ nền kinh tế, các tài sản ngoài sản xuất không góp phần tạo ra sản phẩm cho xã hội vì thế việc đầu tư nhiều vào các tài sản này sẽ làm giảm hiệu quả của nền kinh tế
- Lạm phát làm phân bố thu nhập bị biến dạng: đứng trên giác độ phân phối thu nhập trong xã hội thì lạm phát xảy ra sẽ có lợi cho người đi vay, nhà sản xuất và người phát hành tiền, chính phủ, ngược lại, những người cho vay và những người hưởng lương, trợ cấp sẽ bị thiệt hại
+ Đối với người hưởng lương, trợ cấp thì khi lạm phát xảy ra, lương của họ
thường được điều chỉnh sau khi giá cả tăng lên, nhưng hầu như tốc độ tăng lương không bằng với tốc độ tăng giá cả, vì thế lượng hàng hóa mà họ tiêu dùng sẽ thấp hơn
so với trước, kết quả là thu nhập thực sự của họ giảm xuống, do đó mức sống sẽ ngày càng thấp nếu lạm phát ngày càng cao Hơn nữa, do tốc độ tăng lương chậm hơn tốc
độ tăng giá sẽ làm cho lợi nhuận của nhà sản xuất tăng lên, do đó một phần những khoản thiệt hại mà người lao động phải chịu đã chuyển thành phần lợi mà nhà sản xuất được hưởng Điều này làm cho nhà sản xuất dường như ngày càng giàu hơn, trong khi
đó người lao động, hưu trí ngày càng nghèo đi
+ Đối với những người cho vay, thường là họ cho vay dưới dạng lãi suất cố
định khi lạm phát xảy ra, những đồng tiền mà họ nhận được từ việc cho vay sẽ có giá trị thấp hơn lúc cho vay, vì thế phần lãi suất thực mà họ được thường sẽ giảm sút thậm chí còn bị âm nếu lạm phát quá cao Trong số những người cho vay, có thể nói dân chúng là người cho vay nhiều nhất dưới dạng tiền gửi tiết kiệm và mua trái phiếu chính phủ, nên cũng là những người chịu thiệt hại nhiều nhất
- Lạm phát góp phần làm suy thoái kinh tế: lạm phát xảy ra làm cho nguồn lực phân bố không hiệu quả, các khoản đầu tư không sản xuất gia tăng làm cho các khoản
Trang 21đầu tư và sản xuất sụt giảm làm giảm cầu, Về các yếu tố sản xuất, do đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế Tổng cầu và sản xuất sụt giảm sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế, tăng tình trạng thất nghiệp và dẫn đến suy thóai kinh tế
Lạm phát cao sẽ làm cho việc dự đoán giá cả và chi phí gặp khó khăn, do đó các dự án đầu tư mới cũng sẽ khó được thực hiện Giá cả tăng nên các yếu tố sản xuất đầu vào cũng tăng, nhu cầu tiền vốn để thanh toán các giao dịch mua bán cũng tăng làm cho lãi suất tăng cao Lãi suất tăng lại làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận cho nên sẽ không khuyến khích sản xuất phát triển Hơn nữa, chi phí tăng cao, lợi nhuận thấp sẽ không hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ tiền vào thị trường vốn Kết quả là thị trường vốn trong nước bị suy yếu và thu hẹp dần, các luồng vốn đầu tư quốc tế sẽ chạy qua các nước khác có mức lạm phát thấp hơn và ổn định hơn
Ngoài ra, nếu lạm phát trong nước cao hơn lạm phát ở nước ngoài sẽ làm cho giá cả của hàng hóa trong nước tăng lên làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu đồng thời kích thích nhập khẩu hàng hóa Xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng sẽ làm mất cân đối cán cân thanh toán quốc tế, làm thu hẹp sản xuất trong nước
- Tốn kém chi phí của xã hội: do lạm phát gây ra những thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế như đã kể trên, vì thế khi lạm phát xảy ra các bộ phận trong nền kinh tế gồm chính phủ, doanh nghiệp và người dân phải mất chi phí để tìm cách đối phó và kiểm soát lạm phát,
Lạm phát xảy ra, người dân mà nhất là người lao động, hưu trí là những người chịu thiệt hại nhiều nhất Để đối phó với tình trạng này họ phải mất nhiều thời gian, công sức để tính toán, tìm kiếm và mua sắm những hàng hóa có thể cất trữ giá trị tốt hơn Tiền mặt càng nhiều, thiệt hại càng lớn vì thế khối lượng giao dịch mua bán hàng hóa cũng tăng lên, người dân chỉ cất trữ một số lượng rất ít tiền mặt trong thời kỳ lạm phát để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu tối thiểu hàng ngày Hơn nữa, do tiền gửi tiết kiệm trong dân cũng rất lớn, do đó, người dân cũng phải tốn nhiều thời gian, chi phí (chi phí mòn giày) để đến các ngân hàng rút tiền và thanh toán các khoản nợ mua hàng hóa, dịch vụ
Trang 22Khi lạm phát gia tăng, để có thể chủ động đối phó với các tình huống xấu có thể xảy ra các doanh nghiệp phải tốn nhiều tiền hơn cho việc tổng hợp, phân tích và dự báo thông tin kinh tế liên quan đến thị trường Hơn nữa, để tránh bị lỗ các doanh nghiệp cũng buộc phải thay đổi giá bán Họ phải mất thời gian và tốn kém chi phí để tính toán lại giá bán, in ấn lại bảng giá Đối với những hàng hóa mà giá in sẵn trên sản phẩm thì phải tốn thêm chi phí để điều chỉnh lại giá Các chi phí giao dịch với khách hàng cũng tăng lên để thông báo, giải thích về việc thay đổi giá Trong thời gian ngắn,
sự sụt giảm về khối lượng hàng hóa bán ra là không tránh khỏi do điều chỉnh tăng giá
Nhìn chung, lạm phát xảy ra ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trên giác độ là người quản lý kinh tế vĩ mô chính phủ cũng phải tìm các biện pháp để kiểm soát lạm phát sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế Các biện pháp này cũng đòi hỏi phải tốn thời gian, công sức và chi phí để thực hiện Chẳng hạn như để chống lại tình trạng lạm phát do một số loại nguyên vật liệu nhập khẩu tăng đột biến làm mức giá chung tăng lên trên diện rộng, chính phủ có thể áp dụng biện pháp giảm thuế nhập khẩu, chi
bù lỗ cho các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này… Điều này sẽ làm giảm nguồn thu vào ngân sách Nhà nước và tăng chi tiêu của chính phủ
1.5.KINH NGHIỆM TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TRÊN THẾ GIỚI
1.5.1 Kinh nghieäm kiểm soát lạm phát của Trung Quốc:
Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa mới thực hiện cơ chế cải cách và mở cửa theo xu hướng mở cửa thị trường hơn 20 năm qua Với việc thực hiện cơ chế này, trong nhiều năm nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao trên dưới 10%/năm Song từ năm 2003 và nửa đầu năm 2004, nền kinh tế đã trở nên quá nóng so với các nước khác trên thế giới, nguy cơ “sốt” giá và lạm phát gia tăng, nguyên liệu và năng lượng bị thiếu hụt lớn Tháng 5/2004 chỉ số lạm phát hàng năm của Trung Quốc đạt mức cao nhất trong vòng 7 năm Lúc này, Trung Quốc có thể đối điện với nguy cơ trật bánh sau khi tăng trưởng tới 9,1% trong năm 2003 Ba tháng đầu năm 2004, kinh tế Trung Quốc còn phát triển hơn cả mức năm 2003 với tốc độ tăng trưởng đạt 9,7% Lúc bấy giờ Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới và vì
Trang 23nước nhập khẩu lớn thứ tư trên thế giới Nhu cầu nguyên liệu quy mô lớn của Trung Quốc đã đẩy giá các mặt hàng thiết yếu như sắt thép, xăng dầu trên thế giới lên cao Trong năm 2003, Trung Quốc tiêu thụ 27% sản lượng thép trên toàn thế giới, số liệu này đối với than là 31% và xi măng là 40% Gần cuối năm 2004, Trung Quốc đã trở thành nước lớn thứ 3 trên thế giới về kim ngạch ngoại thương và đạt trên 1000 tỷ USD Theo phân tích của giới nghiên cứu, trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc
đã đưa ra chủ trương “hạ nhiệt” từ từ nền kinh tế, xử lý “sốt” giá và lạm phát bằng một
hệ thống các giải pháp điều tiết kinh tế vĩ mô
Thứ nhất, cắt giảm đầu tư và chi tiêu của chính phú một cách kiên quyết và
nhanh chóng Bởi vì tốc độ đầu tư mạnh mẽ, nhất là từ khi gia nhập WTO, là một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa tới tăng trưởng kinh tế quá “nóng” và mất cân đối trong thời gian vừa qua Bắt đầu từ năm 2003, Trung Quốc đã giảm mạnh phát hành trái phiếu chính phủ xuống còn 150 tỷ NDT, năm 2004 chỉ còn 110 tỷ NDT Đồng thời thực hiện giảm chi ngân sách đầu tư giảm mức thâm hụt tài chính xuống còn 2,9% trong năm 2004 Ngay từ trung tuần tháng 5/2004, chính phủ Trung Quốc đã quyết định cắt giảm ngay các khoản đầu tư vào các ngành sản xuất thép, kim loại màu, máy móc, vật liệu xây dựng, sản phẩm hóa dầu, công nghiệp nhẹ, dệt may và xuất bản
để kịp thời ngăn chặn lạm phát và tăng trưởng kinh tế quá “nóng”
Thứ hai, Trung Quốc đã tiến hành các biện pháp để điều chỉnh giá cả thị
trường, trước hết và quan trọng là thị trường bất động sản, điều chỉnh giá sắt thép, xi măng, xăng dầu và điện cùng với hạn chế tối đa việc khởi công các dự án mới Ngăn chặn không cho đầu tư vào những công trình chưa được tính toán kỹ, chồng chéo ngành nghề đồng thời tích cực tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho các ngành nghề, doanh nghiệp có thị trường và có hiệu quả kinh tế cao Với thị trường bất động sản: xác định được nguyên nhân của việc tăng giá nhà đất rất cao là do một số nhà đầu tư
đã bỏ vốn đầu cơ vào nhà đất chứ không phải đầu tư vào sản xuất kinh doanh, hơn nữa chủ yếu đầu tư bằng việc vay vốn ngân hàng Bên cạnh đó, do đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ chóng mặt, hằng năm có thêm 1 triệu người từ cắc vùng nông thôn nhập khẩu vào các thành phố Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một loạt các biện pháp kiểm
Trang 24soát việc tăng giá bất động sản, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân có nhu cầu nhà ở như thu hồi các bất động sản không được sử dụng trong vòng hai năm, điều tiết
để giá bất động sản không tăng nhanh hơn tỷ lệ lãi suất ngân hàng
Nhằm điều tiết giá cả của các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất, Ủy ban cải cách
và phát triển Trung Quốc đã quyết định thanh lý các dự án đầu tư vào lĩnh vực bất động sản Tập trung xử lý các dự án, cơ sở kinh doanh thép, xi măng, các trung tâm mua bán lớn trong cả nước, các dự án xây dựng đường cao tốc và những dự án mới khởi công năm 2004
Thứ ba, về tiền tệ thực hiện chính sách siết chặt khả năng thanh toán của hệ
thống tài chính trong nước và giảm hoạt động cho vay Từ tháng 9/2003 đến tháng 4/2004, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã ba lần điều chỉnh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng đã tăng từ 6% lên 7,5% Các ngân hàng trung ương phải hạn chế các khoản cho vay, đặc biệt là các khoản tín dụng lớn dành cho lĩnh vực bất động sản và công nghiệp Đồng thời từ năm 2004 mở rộng biên độ dao động lãi suất của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng tới 1,7 lần so với mức lãi suất cơ bản trong đó các Hợp tác xã nông thôn được mở rộng biên độ lãi suất tới hai lần so với mức lãi suất cơ bản
Thứ tư, củng cố và đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, ổn định và cải thiện đời
sống của cư dân nông thôn Bắt đầu từ năm 2004, Trung Quốc thực hiện chính sách giảm thuế nông nghiệp, dự kiến trong 5 năm nữa xóa bỏ hoàn toàn thuế nông nghiệp Theo kế hoạch, năm 2004 chi 39,6 tỷ NDT cho cơ sở hạ tầng và xã hội nông thôn Cải cách thể chế lưu thông lương thực, mở cửa toàn diện thị trường kinh doanh lương thực Đẩy nhanh tốc độ cải cách các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực lương thực, tăng cường quản lý giá vật liệu sản xuất nông nghiệp Thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng cây lương thực
Với những giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt và đồng bộ nêu trên, tình trạng vật
giá leo thang ở Trung Quốc bước đầu được khống chế, tình hình tăng trưởng kinh tế
“quá nóng” có dấu hiệu dừng lại Trong thắng 5/2004, đầu tư vào tài sản cố định tăng
Trang 2576,6% so với năm 2003, nhưng giảm 96% so với tháng 4/2004 Trong 5 tháng đầu năm 2004, thu ngân sách tăng 32,4% trong đó chi ngân sách tăng 18% Thặng dư ngân sách đạt 365 tỷ NDT, tăng 192,6 tỷ NDT; giảm 110,5 tỷ NDT so với cùng kỳ năm
2003 Giá cả một số nguyên vật liệu cho sản xuất bình quân trong thắng 5 đã giảm 1,4% so với tháng 4/2004; trong đó giá lương thực giảm 0,5%; giá sắt thép giảm 13,3%
Cho đến nay, Trung Quốc vẫn đạt mục tiêu “hạ nhiệt” an toàn nền kinh tế quá
nóng và nguy cơ lạm phát Các chính sách kiềm chế nền kinh tế, trong đó có cả việc tăng lãi suất, đang phát huy tác dụng, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong năm 2004 vào hàng cao nhất thế giới, đạt 9,5% Các chuyên gia kinh tế cho rằng trong năm 2005 Trung Quốc vẫn có khả năng giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8%, bất chấp những lo ngại về lạm phát và đầu tư tràn lan Giải quyết thiếu hụt năng lượng vẫn
là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Trung Quốc Nếu nền kinh tế phát triển quá nóng thì vấn đề thiếu hụt năng lượng càng trở nên trầm trọng Bấp chấp những áp lực từ bên ngoài, trong năm 2005 Trung Quốc tiếp tục giữ vững chính sách tiền tệ hiện hành và không tăng tỷ lệ lãi suất nhằm duy trì phát triển ổn định và ngăn chặn lạm phát Điều đó cũng thể hiện quyết tâm của chính phủ Trung Quốc trong việc
hạ sốt nền kinh tế và mở đầu những cải cách tài chính Trung Quốc có kế hoạch cho phép chuyển vốn ra nước ngoài, đồng thời sẽ tăng cường kiểm soát các nguồn tài chính từ giới đầu cơ đổ vào nước này Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng lên tiếng cảnh báo tình trạng đầu tư tràn lan có nguy cơ bùng phát trở lại gây nguy hiểm cho tốc
độ tăng trưởng kinh tế đất nước
Như vậy, qua kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở Trung Quốc cho ta thấy tăng
trưởng quá cao sẽ làm gia tăng nguy cơ xảy ra tình trạng lạm phát cao Do đó cần phải
có những biện pháp đúng đắn, thích hợp và kiên quyết để một mặt hạ nhiệt nền kinh tế một cách an toàn đồng thời tránh những tác động bất lợi đối với sự tăng trưởng kinh tế đất nước
Trang 261.5.2.Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Mỹ
Đầu tiên, chúng ta xem xét kinh nghiệm của Mỹ - một quốc gia có nhiều ảnh hưởng đến kinh tế thế giới trong việc tìm ta một giải pháp chính sách tài khóa và tiền
tệ hỗn hợp nhằm kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo tăng trường bền vững và ổn định giá cả Từ năm 1854 đến năm 1919, nền kinh tế Mỹ bị thu hẹp trong khoảng thời gian gần bằng khoảng thời gian mà nó tăng trưởng: sự tăng trường kinh tế trung bình (tính theo tăng trường tổng sản lượng về hàng hóa và dịch vụ) kéo dài 27 tháng, trong khi đó sự trì trệ kinh tế trung bình (giai đoạn suy giảm sản lượng) kéo dài 22 tháng Từ năm 1919 đến 1945, tình hình kinh tế được cải thiện và từ năm 1945 đến 1991, sự tăng trưởng kinh tế trung bình kéo dài 50 tháng và sự trì trệ kinh tế trung bình chỉ kéo dài
11 tháng Bên cạnh đó, lạm phát đã chứng tỏ là căn bệnh nan giải hơn nhiều Trước chiến tranh thế giới thứ hai, giá cả ổn định một cách đặc biệt, nhưng 40 năm sau, năm
1980, mặt bằng giá tăng 400% so với mặt bằng giá năm 1940 Tuy nhiên, năm 1979, chính phủ đã chú ý nhiều đến lạm phát và số liệu về lạm phát đã được cải thiện đáng
kể Đến cuối thập kỷ 1990, nền kinh tế quốc gia dã đạt được tình trạng tốt đẹp với sự kết hợp tăng trường nhanh, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát thấp Tất cả là do chính sách kiểm soát lạm phát của Mỹ mang lại:
Chính sách tài khóa - Ngân sách và thuế: sự phát triển của chính phủ từ năm
1930 đi cùng với sự gia tăng chi tiêu liên tục Năm 1930, chi tiêu của chính phủ chỉ bằng 3,3%GDP, và con số này tăng lên gần 44%GDP năm 1944 Chi tiêu của chính Phủ nói chung lại tăng lên trong những năm tiếp theo và đạt 24% vào năm 1983 sau đó giảm đi chút ít Năm 1999 tỷ lệ này vào khoảng 21% Xây dựng chính sách tài khóa là một quá trình công phu, mỗi năm tổng thống đệ trình một kế hoạch chi tiêu cho Quốc hội, các nhà lập pháp xem xét đề nghị này và quyết định một mức chung cho chi tiêu
và thuế Sau đó họ phân chia số tiền chung này cho từng hạng mục riêng Cuối cùng, Quốc hội xem xét các dự luật chuẩn chi ngân sách riêng, xác định chính xác mỗi hạng mục cần bao nhiêu tiền Nguồn ngân sách chủ yếu của chính phủ liên bang để trang trải chi tiêu là thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập liên bang đánh vào thu nhập trên toàn thế giới của các công dân Mỹ và người nước ngoài cư ngụ tại Mỹ và một phần
Trang 27thu nhập tại Mỹ của những người không cư ngụ tại đây Nhiều năm qua, các nhà lập pháp đã tạo ra nhiều loại miễn và giảm thuế thu nhập khác nhau nhằm khuyến khích các loại hình hoạt động kinh tế đặc biệt Đáng chú ý nhất là người đóng thuế được phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế của mình mọi khoản lãi suất phải trả cho khoản tiền vay để mua nhà ở, Tương tự như vậy, chính phủ cho phép người đóng thuế có thu nhập thấp và trung bình không phải đóng thuế cho những khoản tiền nhất định mà họ gửi tiết kiệm vào tài khoản hưu trí cá nhân đặc biệt (IRAS) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu khi về hưu và cho việc học đại học của con cái họ
Chính sách tài khóa và ổn định kinh tế: được sử dụng vào những năm 1930, bằng cách tăng chi tiêu và giảm thuế nhằm hạn chế thất nghiệp tràn lan và khiến cho nền kinh tế tăng trường trớ lại theo học thuyết “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất
và tiền tệ” của Maynard Keynes Những năm 1960 đến 1970, thời kỳ mà lạm phát ở
Mỹ gia tăng, chính phủ sử dụng chiến lược chống lạm phát thông thường là kiềm chế cầu bằng việc cắt chi tiêu liên bang và tăng thuế, nhưng điều này lại có thể làm cạn kiệt thu nhập từ một nền kinh tế vốn đã bị thiệt hại do giá dầu mỏ tăng Tổng thống Jimmy Carter (1977-1981) đã tìm cách giải quyết tình thế tiến thóai lưỡng nan đó bằng một chiến lược theo hai chiều hướng, ông đã đẩy mạnh chính sách tài hóa hướng vào việc chống thất nghiệp, cho phép tăng thâm hụt ngân sách liên bang và tạo ra các chương trình việc làm đối phó với suy thóai theo chu kỳ cho những người thất nghiệp
Để chống lạm phát, ông tạo ra một chương trình kiểm soát giá cả và lương tự động nhưng không hiệu quả, nền kinh tế vẫn chịu lạm phát cao minh chứng cho học thuyết của Keynes không còn đúng vì một yếu tố khác đã làm giảm hơn nữa khả năng của chính phủ trong việc sử dụng chính sách tài khóa để quản lý nền kinh tế - đó là thâm hụt ngân sách
Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế Mỹ: Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) có ba công cụ chính để duy trì kiểm soát việc cung tiền và tín dụng trong liền kinh tế là: hoạt động thị trường mở - hoặc bán và mua chứng khoán của chính phủ; quy định cụ thể lượng tiền dự trữ mà các tổ chức nhận tiền gửi phải dành riêng ra như là lượng tiền mặt trong két của mình; tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ lãi suất mà các ngân hàng thương
Trang 28mại phải thanh toán khi vay tiền từ quỹ của các ngân hàng dự trữ Các công cụ này cho phép FED mở rộng hay thu hẹp lượng tiền và tín dụng trong nền kinh tế Mỹ
Chính sách tiền tệ và ổn định tài chính: Trong nhiều năm của thập kỷ 1970, FED cho phép mở rộng tín dụng nhanh chóng để phù hợp với mong muốn tiến hành chống lại nạn thất nghiệp của chính phủ, nhưng do lạm phát tăng cao tàn phá nền kinh
tế nên ngân hàng trung ương đột ngột thắt chặt chính sách tiền tệ bắt đầu vào năm
1979 Chính sách này đã thành công trong việc giảm gia tăng mức cung tiền, nhưng lại góp phần gây ra tình trạng trì trệ kinh tế nặng nề vào các năm 1980 - 1982 Năm 1998, FED đã nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua 3 lần cắt giảm lãi suất từ 5,5% xuống còn 4,75% để đối phó với nguy cơ suy giảm kinh tế trong nước và để ổn định thị trường tài chính quốc tế, thì trong năm 1999 chính sách này lại được thắt chặt với ba lần tăng lãi suất lên 5,5%,Việc làm này của FED được các nhà kinh tế coi là hợp lý khi nhu cầu trong nước tăng, giá tiêu dùng nhích dần lên, doanh số bán lẻ lớn, chỉ số Dow Jones tăng mạnh Mặc dù hiện nay sức ép lạm phát không nhưng Mỹ vẫn cần tới những biện pháp đề phòng tình trạng lạm phát xảy ra IMF cho rằng, FED cần tiếp tục phản ứng nhanh nếu mức tăng của cầu nội địa không giảm hoặc vẫn có sức ép lạm phát trong tương lai; tiếp tục cảnh giác với sự tăng trường trên thị trường chứng khoán
và tiếp tục cung cấp những tín hiệu thích hợp cho các thị trường tài chính về dự định làm chậm mức cầu
1.5.3.Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của Hàn Quốc
Hàn Quốc đã tích cực thực hiện các biện pháp giảm áp lực lạm phát:mức độ lạm
phát hàng hóa của Hàn Quốc năm 2007 là 2,5%, phá kỷ lục kể từ 5 năm trở lại đây Vào đầu năm 2008, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách ổn định giá cả hàng hóa thời gian ngắn, trong đó có các biện pháp sau:
- Thành lập tổ công tác về chính sách liên ngành đối với sự ổn định giá cả với
sự tham gia của 14 cơ quan trung ương như Bộ Tài chính kinh tế, Bộ Tài nguyên, Bộ Giáo dục, Bộ Nông lâm, Cơ quan y tế thực phẩm Ủy ban trao đổi thương mại bình đẳng Nhiệm vụ là theo dõi, kiểm soát những sản phẩm tăng giá quá nhanh, thành lập
Trang 29“nhóm điều tra hiện trường” điều tra, theo dõi về việc sản xuất, lưu thông hàng hóa liên quan đến dân sinh Chính quyền địa phương cũng thành lập cơ quan chỉ đạo và Ủy ban đối sách về giá cả để theo dõi xu hướng lên xuống của giá cả và đề ra chính sách tương ứng
- Tăng cường điều tiết nền kinh tế vĩ mô Theo đó, chính phủ và cơ quan tài chính sẽ điều chỉnh phù hợp chính sách tiền tệ, kiểm soát thị trường ngoại hối
- Miễn giảm thuế, tăng cường trợ cấp cho những gia đình có thu nhập thấp, mở rộng phạm vi hỗ trợ cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp thông qua các quỹ hỗ trợ tài chính cho giáo dục, hỗ trợ phúc lợi, miễn giảm thuế Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp tạo thêm các cơ hội việc làm cho những người nghèo trong xã hội, sử dụng ngân sách chính phủ giúp giảm bớt áp lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi bán phá giá không chính đáng, trọng điểm là những hành động lũng đoạn giá cả, tăng cường giám sát các hành vi tăng giá cao các sản phẩm hàng hóa như dầu mỏ, lương thực, phòng ngừa những giao dịch không minh bạch thông qua lợi dụng thị trường và địa vị chính trị
Chính phủ Hàn Quốc đã thành công trong việc giảm lãi suất danh nghĩa xuống mức phù hợp trong khi vẫn giữ cho lãi suất thực tế ở mức dương, mặc dù vẫn thấp hơn mức cân bằng thị trường Ngân hàng Hàn Quốc cũng giảm nhu cầu về dự trữ khi chính sách tài khóa được cải thiện, nhưng tín dụng của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại và luồng tư bản nước ngoài vài đất nước vẫn bị hạn chế để đảm bảo mức giảm phát mong muốn mà vẫn không đánh giá quá cao tỷ giá hối đoái Chính phủ Hàn Quốc cũng giảm mức gia tăng của tiền lương xuống
Kết quả là việc thắt chặt tiền tệ được thực hiện trong khi lãi suất thực được giữ
ở mức dương và khá ổn định theo đạo luật Điều này có ý nghĩa là để giảm lạm phát,
hệ thống ngân hàng Hàn Quốc nói chung phải hạn chế tín dụng cho khu vực tư nhân Tuy nhiên, do thâm thụt về tài khóa của chính phủ Hàn Quốc đồng thời được giảm đi luồng ngân quỹ thực tế có thể cho vay đối với khu vực tư nhân đã tăng lên Do vậy đã giảm bớt sức ép của cung đối với hàng hóa trong nước Không cần phải có sự hạn chế
Trang 30tín dụng ròng đối với khu vực tư nhân một khi chính phủ Hàn Quốc và các cơ quan chuyên trách không còn hướng luồng tín dụng ngân hàng vào bản thân mình
Mặc dù có những khó khăn, việc ổn định thành công giá cả trong nước trong khi vẫn giữ được khả năng cạnh tranh ngoại thương có những lợi ích tiềm năng to lớn Trong một số năm sau chương trình ổn định hóa thành công (thời kỳ 1981-1984) sự tăng trưởng GNP và sự phát triển về tài chính của Hàn Quốc thực sự là đáng kể Việc tăng nhanh các luồng tài chính trong nền kinh tế Hàn Quốc cho phép nước này trả được nhiều nợ nước ngoài thông qua thặng dư thương mại Tiền gửi ngân hàng không chỉ tăng mạnh so với GNP mà cơ cấu thời hạn của các nguồn tài chính công ty cũng được kéo dài đáng kể
1.5.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Với đặc điểm của một nền kinh tế có độ mở cao, cùng với đặc điểm của một nền kinh tế mang nặng tính chất gia công, tỷ trọng giá trị gia tăng thấp trong cơ cấu giá trị sản phẩm, nên chịu tác động rất lớn của thị trường thế giới Tuy nền kinh tế nước ta không chịu tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính toàn cầu; hệ thống tài chính -tín dụng giữ được ổn định, nhưng sự tăng trưởng kinh tế trong nước vẫn chịu ảnh hưởng bởi mức độ phục hồi của thị trường thế giới Tuy nhiên, nếu xét về hệ thống tài chính - tín dụng, thì thời điểm khó khăn nhất đã rơi vào quý 2/2008, còn tăng trưởng kinh tế khó khăn nhất cũng đã rơi vào quý 1/2009 Phần thời gian còn lại của năm nay
và năm 2010 có thể xem là thời kỳ phục hồi, nên các chính sách kinh tế thực hiện vào thời kỳ này có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ cho giai đoạn này, mà tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn “tăng tốc” tiếp theo.Qua nghiên cứu kinh nghiệm kiểm soát lạm phát của một số quốc gia: Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc kiểm soát lạm phát thời kỳ hậu khủng hoảng như sau:
- Thứ nhất, phải tiến hành các biện pháp điều chỉnh giá cả thị trường,trước hết
và quan trọng là thị trường bất động sản, tập trung xử lý các dự án xây dựng đường cao tốc và những dự án mới khởi công gần đây Học tập kinh nghiệm Trung Quốc, Hàn Quốc giảm áp lực lạm phát cần phải kết hợp đồng bộ các chính sách về tiền tệ với
Trang 31chính sách tài khóa và chính sách tỉ giá để nâng cao hiệu quả đầu tư của kinh tế nhà nước, giảm bớt sức ép của chính sách tiền tệ đến hoạt động của các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, bảo đảm các doanh nghiệp có nguồn tín dụng để mở rộng đầu tư, làm cho việc chống lạm phát không ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng và việc làm
- Thứ hai, thực hiện chính sách tài khóa và ổn định kinh tế: Các biện pháp dành cho chính sách thắt chặt tiền tệ hiện nay cần phải được áp dụng một cách linh hoạt Xuất phát từ nhận định lạm phát thường xuất hiện khi lượng tiền trong lưu thông tăng, chúng ta cần hạn chế lượng tiền trong lưu thông bằng cách: Tăng lãi suất cho vay vốn
và lãi suất tái chiết khấu và hạn chế mức tăng tín dụng Quy định dự trữ bắt buộc hợp
lí để vừa bảo đảm an toàn hệ thống đồng thời nâng cao được khả năng thanh khoản trong hoạt động ngân hàng Thêm nữa là việc phát hành tín phiếu và phân hạn mức mua cho các Ngân hàng Thương mại để rút bỏ bớt tiền khỏi lưu thông
- Thứ ba, chính sách tài khóa - Ngân sách và thuế: cần phải thực hiện từng bước
kế hoạch giảm thâm hụt để tiến tới cân bằng ngân sách, vì đây cũng là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng Thắt chặt chi tiêu của chính phủ; kiểm soát chặt chẽ đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước; giảm mạnh chi phí hành chính trong các cơ quan nhà nước nhằm giảm bớt sức ép về cầu nhất là các loại cầu không tạo ra hiệu quả Với các dự án, cần loại bỏ những dự án đầu tư kém hiệu quả, thắt chặt những khoản chi chưa thực sự cần thiết nhưng tạo mọi điều kiện cho đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng Thực hiện tốt các cân đối này như Mỹ sẽ kết hợp tăng trưởng nhanh,tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát thấp
- Thứ tư, sử dụng công cụ tỉ giá: nên điều chỉnh tăng nhẹ VND so với USD Điều này cũng phù hợp với việc đồng đô la Mỹ liên tục bị giảm giá so với các đồng tiền khác Tăng nhẹ giá trị VND tuy có ảnh hưởng đến xuất khẩu nhưng không quá lớn Tăng giá VND sẽ làm giá hàng nhập khẩu giảm, tăng nguồn cung, có tác dụng giảm mức tăng giá trên thị trường nội địa, nhất là trong điều kiện nhập khẩu hiện chiếm tỉ lệ cao trong GDP của nước ta Tăng giá VND cũng góp phần kìm giữ giá
Trang 32luơng thực hiện đang tăng tăng cao và cĩ khả năng cịn tiếp tục tăng trước nhu cầu của thị trường thế giới
Tới thời điểm hiện nay, khơng chỉ các chuyên gia và tổ chức kinh tế trong nước, nhiều tổ chức kinh tế cĩ uy tín trên thế giới đã nhận định rằng gĩi giải pháp của Chính phủ đã và đang phát huy tác dụng tích cực Đây là một tín hiệu rất tốt cho cuộc chiến chống lạm phát cũng như triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới
Tĩm lại liều thuốc chống lạm phát của các nước thường khơng mấy khác nhau tùy hồn cảnh kinh tế, chính trị của mỗi nước Chính vì vậy, những kinh nghiệm của các nước cũng nên được tham khảo và vận dụng vào hồn cảnh thực tế của Việt Nam, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ Bên cạnh những giải pháp đã và đang thực hiện, Việt Nam cũng cần củng cố vai trị của NHTW, sử dụng CSLPMT, áp dụng
tỷ giá hối đối linh hoạt, điều chỉnh chính sách quản lý ngoại hối nhằm hạn chế tình trạng đơ la hĩa, tăng cường quản lý vốn ngoại,… qua đĩ củng cố niêm tin của cơng chúng, sớm đưa nền kinh tế hồi phục và tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo
Kết luận chương I:
Chương I cho thấy cho đến nay lạm phát vẫn là một đề tài được tranh luận sôi nổi, hầu như các nhà kinh tế đều đồng ý khi lạm phát xảy ra sẽ kéo theo tình trạng leo thang của giá cả, do vậy để đo lường lạm phát người ta sử dụng các chỉ số giá trong đó thông dụng nhất là CPI Lạm phát tác động xấu hay tốt đối với nền kinh tế còn tùy thuộc vào mức độ của nó, khi nhắc đến lạm phát người ta đều hình dung đến những hậu quả mà nó để lại cho nền kinh tế, vì vậy các quốc gia có lạm phát đều tìm cách kiểm soát lạm phát Dựa trên hai nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát là cầu kéo và chi phí đẩy kết hợp với kinh nghiệm giải quyết tình trạng lạm phát
Trang 33ở một số quốc gia cho chúng ta thấy được tầm quan trọng trong việc lựa chọn và thực thi các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô đặt biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hợp lý và hiệu quả đối với mục tiêu ổn định giá cả,thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.Từ những cơ sở lý thuyết cũng như những kinh nghiệm thực tiễn sẽ là cơ
sở giúp cho việc nghiên cứu thực trạng tình hình lạm phát ở Việt Nam và giải pháp cho việc kiểm soát tình trạng này ở các chương sau
Trang 34CHƯƠNG II THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
Ở VIỆT NAM
Ở nước ta,lạm phát cũng gắn liền với nền kinh tế - xã hội và nó mang những đặc điểm khác nhau ở các giai đọan phát triển khác nhau của nền kinh tế.Tuy nhiên căn cứ vào quan điểm chính sách chính thức cũng như diễn biến của lạm phát,chúng ta có thể xem xét, phân tích, đánh giá quá trình diễn biến và các biện pháp đối phó với lạm phát
ở Việt nam theo từng giai đoạn cụ thể nhằm làm rõ đặc điểm ,tính chất và tác động của lạm phát đến đời sống kinh tế - xã hội từ đó tạo cơ sở nhằm định hướng cho các chính sách kiểm soát lạm phát có hiệu quả
2.1.LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT GIAI ĐOẠN 2000 -2005
2.1.1 Tình hình lạm phát và kiểm soát lạm phát
Năm 2000, lần đầu tiên sau khi bắt đầu đổi mới kinh tế, Việt Nam đã phải đối mặt với giảm phát (-0.6%) Trước tình hình đó, chính phủ đã áp dụng chính sách mạnh kích cầu để ngăn chặn nguy cơ suy thoái kinh tế Các chính sách này gồm mở rộng tín dụng; tăng chi tiêu chủ yếu là cho CSHT; trợ giá xuất khẩu Thâm hụt tăng lên tới 4,95% GDP vào năm 2000 Bên cạnh đó, NHNN cũng sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng để đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ mở rộng trong các năm
2000 và 2001 tương ứng là 19,3% và 40,6% Do vậy, từ năm 2000-2003 tốc độ tăng trưởng kinh tế khá tốt, cụ thể năm 2000 là 6,75% đến năm 2003 là 7,34% đồng thời lạm phát ở giai đoạn này cũng được kiềm giữ ở mức thấp với tỷ lệ bình quân qua 4
năm là 1,8%
Trong hai năm 2000 và 2001 giảm phát xảy ra khiến cho giá cả hàng hóa giảm xuống thấp, điều này dĩ nhiên sẽ có lợi cho người tiêu dùng nhưng phần thiệt lại rơi vào các doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ, có khi phải ngừng hoạt động Trước khó khăn đó, để tồn tại được trong thị trường sẽ có những doanh nghiệp tích cực nghiên cứu tìm cách cắt giảm chi phí, nâng cao NSLĐ, năng lực quản lý… nhưng cũng có
Trang 35những doanh nghiệp thu hẹp sản xuất kinh doanh hay chuyển sang đầu tư những ngành nghề khác (điển hình như dịch vụ) Điều này đưa đến hệ quả là sản xuất trong nước bị thu hẹp, nạn thất nghiệp gia tăng, thu nhập xã hội giảm dẫn đến giảm sút sức tăng trưởng của nền kinh tế lúc bấy giờ Vì vậy, trong thời kỳ này các chính sách vĩ mô của
nhà nước được tiếp tục hoàn thiện và đổi mới cho phù hợp với quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế Đồng thời các cuộc cải cách cơ cấu cũng được tăng cường nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các thành phần kinh tế
Sau cuộc khủng hoảng Châu Âu, lạm phát các nước trong khu vực tăng cao nhưng nhanh chóng giảm xuống và chuyển sang thiểu phát Năm 2001, mức thiểu phát Việt Nam là - 0,4% Bằng rất nhiều biện pháp kích cầu, gia tăng tiêu dùng và đầu tư, nước ta thóat khỏi thiểu phát và mức lạm phát năm 2003 là 3,1% được coi là một mức lạm phát khá lý tưởng Nhưng lạm phát lại tăng cao vào các năm sau đó, năm 2004 mức lạm phát là 7,8% và năm 2005 là 8,36%, lạm phát ở Việt nam đã cao hơn những nước láng giềng ngoại trừ Indonesia, một quốc gia đang đối mặt với những vấn đề kinh tế, chính trị nghiêm trọng năm 2004 (CPI) là 9,5%, năm 2005 là 8,5% (CPI)
Bảng 2.1: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 – 2005
Đơn vị: %
-0.6 0.8
4
8.4 7.67
Trang 36Như vậy, qua bảng trên ta thấy được lạm phát và tăng trưởng trong giai đoạn này là phù hợp với quan điểm lý thuyết, thể hiện sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát tức là kích thích tăng trường thì sẽ làm gia tăng lạm phát, ngược lại kiềm chế lạm phát thì sẽ làm giảm tăng trưởng
Tuy nhiên, việc giá cả tăng nhanh kể từ cuối năm 2003 và kéo dài cho đến nay
hiện đang là vấn đề được mọi người quan tâm, bàn bạc và mổ xẻ rất nhiều Chỉ số giá tiêu dùng năm 2007 tăng tới 12,6%, mức cao nhất từ năm 2000 đến nay Năm 2007 mức độ lạm phát là 8,5%, trong khi mục tiêu lạm phát mà nhà nước đặt ra cho cả năm
2007 là 7,5% Có thể nói chỉ số giá chững lại cho thấy những chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát đã bước đầu phát huy tác dụng
Bảng 2.2:Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá USD 2005
103 126,6 120,2
109,5 111,7 100,4
108,4 111,3 100,9
106,6 127,2 101,0
112,6 127,4 100,0
a) Phương tiện thanh toán: bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi tại
NHTM và TCTD Như vậy tổng phương tiện thanh toán có ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát? Trước hết, nếu tổng phương tiện thanh toán tăng kéo theo tổng giá trị hàng hóa (theo giá cố định) và phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt cũng tăng tương ứng thì sẽ không ảnh hưởng đến lạm phát, tức nó không phải là tác nhân gây ra lạm phát Nhưng nếu tổng giá trị hàng hóa và phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
Trang 37mà tăng không tương thích thì sẽ gây ra lạm phát Mặt khác, khi tổng phương tiện thanh toán tăng do tăng tiền mà phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt cũng tăng thì sẽ gây ra lạm phát tiền tệ
Trong hơn 14 năm qua, mức tăng tổng phương tiện thanh toán bình quân 23- 26%/năm, phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và không thấy tác động rõ rệt về lạm phát Năm 1999, tổng phương tiện thanh toán tăng cao nhất tới 39,25% nhưng các năm
1999, 2000 và 2001 tốc độ tăng chỉ số CPI ở mức thấp thậm chí năm 2000 còn giảm 0,6% Các năm 1994, 1995, 1998 chỉ số CPI tăng cao nhưng các năm đó và các năm trước đó tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán vẫn ở mức trung bình nhiều năm Năm 1998, tổng phương tiện thanh toán tăng thấp nhất trong nhiều năm chỉ có 20,33% nhưng chỉ số giá tiêu dùng lại tăng tới 9,2%
Trong 6 tháng đầu năm 2004 tổng phương tiện thanh toán tăng 7,26% thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2003 là 8,28%, tiền gửi trong 6 tháng này tăng 8,28% và cùng
kỳ năm 2003 là 10,5%; còn dư nợ cho vay lần lượt là 11,81% và 14,2% mà CPI trong thời gian này đã là 7,2% Còn trong 9 tháng đầu năm 2004, tổng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng trưởng vốn huy động và tăng đầu tư dư nợ cho vay… đều thấp hơn mức cùng kỳ năm 2003 nhưng CPI đã là 8,6%, tính đến hết năm 2004 tổng phương tiện thanh toán tăng 21% thấp hơn cả năm 2003 (24,94%) thì chỉ số CPI đã là 9,5%
Như vậy, qua phân tích có thể thấy được tổng phương tiện thanh toán không
phải là tác nhân chính gây ra lạm phát giai đoạn này
b) Nhân tố ngoại hối: bao gồm sự biến động tỷ giá và giá vàng Mặc dù bản
thân hai mặt hàng này không nằm trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ tính CPI, nhưng ở nước ta thường có tính quy luật là mỗi khi tỷ giá và giá vàng có biến động, nó gây tâm lý tác động đến mặt bằng giá chung và tác dộng đến lãi suất
- Tỷ giá: nhìn chung qua sự biến động trong 15 năm có thể thấy tỷ giá đồng
Việt Nam và đô la Mỹ tương đối ổn đình, hàng năm bình quân chỉ tăng dưới 2% Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tỷ giá trong 15 năm qua ổn định là do nguồn cung ngoại
tệ dồi dào từ kim ngạch xuất khẩu, kiều hối, hoạt động du lịch, giao dịch khác về
Trang 38vốn… tăng khá trong khi đó nhu cầu ngoại tệ tăng chậm Đồng thời sức mạnh USD so với một số loại ngoại tệ mạnh khác chưa được phục hồi
- Giá vàng: từ năm 1968 trên thế giới, vàng chính thức không còn được xem là
bản vị tiền tệ Ở nước ta trong các năm gần đây tâm lý cất trữ vàng hay sử dụng vàng làm đơn vị thanh toán mua bán các mặt hàng đắt tiền đã giảm hẳn Chỉ số tăng giá trên thị trường xã hội trong thời gian qua ít phụ thuộc vào giá vàng Giá vàng trong nước hoàn toàn phụ thuộc và theo sát diễn biến giá vàng thị trường thế giới Giá vàng trên thị trường thế giới tương đối ổn định cho nên giá vàng trong nước cho đến năm 2001 cũng chỉ biến động nhẹ, nhiều năm còn giảm Nhưng từ sau khi xảy ra cuộc khủng bố nhằm vào nước Mỹ (11-9-2001) đến nay cùng với những biến động khác về chính trị trên thế giới, nên giá vàng trên thị trường thế giới liên tục tăng cao Do vậy, giá vàng trong nước cũng liên tục tăng cao (năm 2004 giá vàng trong nước tăng 11,7%) nhưng trên thực tế nó ít tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng
c) Nhân tố lãi suất của hệ thống ngân hàng: từ giữa năm 2001 khi NHNN
chính thức thực hiện cơ chế tự do hóa lãi suất ngoại tệ và giữa năm 2002 thực hiện cơ chế thỏa thuận lãi suất ngoại tệ, lãi suất của hệ thống ngân hàng có tính ổn định tương đối, phản ánh sát quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, có tác động tích cực ổn định mặt bằng chỉ số tăng giá chung Vào tháng 2/2005, NHNN ban hành quyết định số 93
về lãi suất cơ bản của tiền đồng Việt Nam đưa chỉ số này lên mức 0,65% tăng 0,25%
so với trước đây Đối với lãi suất ngoại tệ chủ yếu là USD, các NHTM đã điều chỉnh mức lãi suất huy động vốn USD tăng 0,4 - 0,5%/năm tùy thuộc vào các kỳ hạn khác nhau Còn lãi suất cho vay USD có mức tăng thấp hơn, khoảng 0,2 - 0,4% tùy theo từng NHTM và tùy từng dự án đầu tư của doanh nghiệp
d) Nhân tố ngân sách nhà nước:
Cân đối NSNN trong 5 năm qua không ngừng được cải thiện, mức thiếu hụt được bù đắp bằng kênh phát hành trái phiếu và tín phiếu kho bạc nhà nước Trong 6 tháng đầu năm 2004, tổng thu NSNN đạt trên 77.217 tỷ đồng, bằng 50% dự toán cả năm tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước Tình hình chi ngân sách trong năm 2004
Trang 39cũng tăng khơng nhiều Như vậy, thu ngân sách tăng trưởng khá nhưng số tiền chi ra
từ NSNN vẫn rất thấp so với dự tốn cả năm Nếu như chi NSNN năm 2003 tăng 18,3% so với 2002 nhưng đến 2004, tốc độ tăng giảm xuống cịn 15,4% Xu hướng tích cực này cịn được phát huy trong những năm tới do Bộ Tài chính Chính phủ đã và đang cĩ nhiều biện pháp thực hiện pháp lệnh tiết kiệm, chỉ đạo quyết liệt cơng tác chống thất thốt, lãng phí trong chi tiêu thường xuyên cũng như đầu tư XDCB
Bảng 2.3: Mức đĩng gĩp vào NSNN từ các khu vực kinh tế năm 2005
Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài
Thu từ xổ số Các nguồn thu khác
(Nguồn: Bộ tài chính)
Như vậy, qua việc phân tích gĩc độ tiền tệ, ta cĩ thể khẳng định lạm phát trong
15 năm qua ở nước ta nĩi chung khơng phải là lạm phát tiền tệ
2.1.2.2 Xét trên gĩc độ cầu kéo
- Trong những năm qua, nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, mở cửa, dần dần hội nhập với khu vực và quốc tế, hàng hĩa và dịch vụ trên thị trường nước ta dồi dào; đa dạng và phong phú Do đĩ hầu như khơng cĩ tình trạng khan hiếm hàng hĩa trên thị trường dẫn tới tăng giá một hay một số mặt hàng nào đĩ do cầu kéo Tuy nhiên từ Tết Nguyên Đán 2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát lan rộng trên phạm vi
cả nước gồm 57 tỉnh, thành phố làm cho nước ta thiệt hại hơn 1,300 tỷ đồng, làm giảm 1% tăng trưởng Do giá thịt gà tăng cao cùng với những quan ngại về sự an tồn sử
Trang 40dụng thực phẩm, người dân đã chuyển mạnh sang sử dụng các sản phẩm thay thế Nhưng do nguồn cung về các thực phẩm này ít co dãn trong ngắn hạn, nên giá của chúng đã tăng mạnh trong năm 2004, đẩy chỉ số giá tăng lên nhanh chóng
- Chính phủ vẫn tiếp tục thực hiện nỗ lực kích cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong năm 2004 Kết quả là đã làm cho tổng cầu tăng lên một cách nhanh chóng so với tổng cung dẫn tới giá cả tăng cao, thể hiện ở các mặt sau:
• Tốc độ tăng đầu tư không ngừng tăng lên, cụ thể so với cùng kỳ năm 2004, đầu
tư toàn XH trong năm 2005 tăng 37% (chỉ số này năm 2004 so với năm 2003 là 35%) Nếu xét từ năm 2000 thì vốn đầu tư từ 110,6 ngàn tỷ đồng tăng lên 158,6 ngàn tỷ đồng năm 2003và tăng đều ở các khu vực kinh tế Đặc biệt, đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh chóng từ 34,6 ngàn tỷ đồng năm 2000 lên 69,5 ngàn tỷ đồng
Nguồn FDI vào Việt Nam mặc dù năm 2002 có giảm sút nhiều nhưng nhờ có các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư mà chỉ 3 tháng đầu năm 2005 tăng mạnh đạt trên 1732 tỷ USD, tăng 142% so với cùng kỳ năm trước trong đó nhiều dự án có quy
mô lớn Đồng thời nguồn vốn ODA qua hiệp định cũng đạt 21,26 triệu USD, mức giải ngân thực tế đạt 250 triệu USD và bằng 14% kế hoạch năm 2005
Bảng 2.4: Vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế 2000-2005
83.567,595.020,0106.231,6123.080,0139.831,061.635,0
34.593,758.512,052.111,858.125,0109.754,0130.398,0
27.171.8200.011.034.755.038.650.041.342,051.102,0
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)