1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng mô hình PPP trong đầu tư phát triển các bệnh viện công ở thành phố Hồ Chí Minh : Luận văn thạc sĩ

79 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ở nước ta, trong Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quyết định 71/2010, PPP được định nghĩa là “việc Nhà nước

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60.31.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN ( PPP) 4

1.1 Những khái niệm cơ bản 4

1.1.1 Khu vực nhà nước 4

1.1.2 Khu vực tư nhân 5

1.2 Giới thiệu mô hình Hợp tác nhà nước và tư nhân 5

1.3 Đặc điểm của mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân 11

1.4 Kinh nghiệm thực hiện PPP tại một số quốc gia trên thế giới 13

1.5 Đặc điểm ngành y tế 16

1.6 Ứng dụng của mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân trong đầu tư phát triển y tế 17

Chương II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ TP.HCM 20

2.1 Giới thiệu chung về ngành y tế Việt Nam 20

2.2 Thực trạng ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh 24

2.2.1 Giới thiệu ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh 24

2.2.2 Cơ sở vật chất ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh 34

2.2.3 Chi ngân sách ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh 36

2.3 Khảo sát sự đánh giá của bệnh nhân về các cơ sở y tế 40

Kết luận chương 2 47

Chương III: XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Y TẾ 48

3.1 Nhu cầu đầu tư y tế 48

3.2 Sự cần thiết xây dựng mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân 50

Trang 3

3.3.1 Mô hình BTL (Build – Transfer – Lease = Xây dựng – Chuyển giao –

Cho thuê) 53

3.3.1.1 Mô tả mô hình BTL 53

3.3.1.2 Xây dựng mới bệnh viện công lập theo mô hình BTL 56

3.3.2 Mô hình BLT (Build – Lease – Transfer = Xây dựng – Cho thuê – Chuyển giao) 60

3.3.2.1 Mô tả mô hình BLT 60

3.3.2.2 Xây dựng hệ thống xử lý nước thải bệnh viện công theo mô hình BLT (Build – Lease – Transfer) 63

3.4 Các giải pháp thực hiện mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân 66

3.4.1 Về phía tư nhân 66

3.4.2 Về phía nhà nước 67

Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đầu tư cho y tế chăm sóc sức khỏe là đầu tư để tạo ra động lực mạnh cho

sự phát triển Do đó đầu tư y tế luôn là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là đối với các nước đang phát triển, khi mà nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp nhưng phải tập trung cho nhiều mục tiêu đầu tư phát triển

Thực tế nhiều năm qua ở các nước cho thấy, sự hạn chế về nguồn vốn đầu

tư và quản lý chưa hiệu quả của Nhà nước đã kìm hãm sự phát triển chất lượng dịch vụ y tế Do đó, cải cách phương pháp đầu tư và chất lượng dịch vụ y tế là một yêu cầu tất yếu với quan điểm: Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế nhưng không nhất thiết phải là người cung cấp mà có thể chuyển giao cho khu vực tư nhân nhằm phát huy tối ưu tính tích cực của cơ chế thị trường, đồng thời Nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội và khắc phục những bất cập của thị trường

Hợp tác Nhà nước và tư nhân (tiếng Anh là Public Private Partnership, gọi tắt là PPP) là giải pháp hữu hiệu đáp ứng những mục tiêu nêu trên PPP đang ngày càng trở nên phổ biến với các hình thức được biết đến nhiều nhất như BOT, BTO, BOO

Ở Việt Nam, Chính phủ luôn chủ trương khuyến khích huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia cung cấp dịch vụ y tế, được biết đến với khái niệm “xã hội hóa” Những năm gần đây, thuật ngữ PPP bắt đầu được đề cập nhiều ở các Hội thảo, Hội nghị chuyên đề bàn về các giải pháp tăng cường đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Các nhà tài trợ cũng có những khuyến nghị về việc Việt Nam cần thiết đẩy mạnh PPP như là một trong những giải pháp phù hợp nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển y tế của TP.HCM Do đó, PPP là một trong những hình thức đầu tư phù hợp với tình hình kinh tế của TP.HCM

Trang 5

Qua tìm hiểu kinh nghiệm thực tế về việc thực hiện PPP ở các nước trên thế giới và trong nước, để từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về PPP, định hướng tiếp cận, xúc tiến và phát triển các dự án PPP theo các mô hình phù hợp Đó là lý do

em chọn nghiên cứu đề tài “Ứng dụng mô hình PPP trong đầu tư phát triển

các bệnh viện công ở TP.HCM”

2 Các nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài:

- Đề xuất một số mô hình hợp tác Nhà nước và tư nhân trong đầu tư phát triển các bệnh viện công ở TP.HCM

- Đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường thúc đẩy các dự án hợp tác Nhà nước và tư nhân trong đầu tư phát triển các bệnh viện công ở TP.HCM

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu: các hình thức hợp tác Nhà nước – tư nhân

- Phạm vi nghiên cứu: áp dụng cho các Bệnh viện công ở TP.HCM

4 Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài:

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, sưu tầm các số liệu được phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là từ các bộ, ban, ngành Công việc này được tiến hành qua hai bước như sau:

- Thống kê các số liệu cần thiết cho nghiên cứu qua các năm từ năm 2000 đến năm 2010

- Tùy vào mục đích nghiên cứu mà trích lọc số liệu theo từng giai đoạn khác nhau

Dựa trên số liệu thống kê có được, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đồ thị có sự hỗ trợ của máy tính để xử lý và biểu diễn số liệu có được theo các nội dung cần thiết

Trang 6

Để có thể thấy được vấn đề nghiên cứu thay đổi như thế nào qua các năm, luận văn sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu nhằm xem xét vấn đề trong mối tương quan, so sánh đối chiếu giữa những thời kỳ khác nhau

Do bản chất nghiên cứu khoa học bao giờ cũng có tính kế thừa, nên trong luận văn có vận dụng kết quả nghiên cứu của một số chuyên gia về các vấn đề có liên quan

Cuối cùng, một phương pháp không kém phần quan trọng là phương pháp chuyên gia: tìm hiểu vấn đề thông qua hình thức thu thập ý kiến của những người

có nhiều kinh nghiệm (đặc biệt là các Thầy, Cô, Giảng viên) am tường trên từng lĩnh vực để từ đó rút ra những kết luận xác thực

5 Kết cấu của luận văn:

Lời mở đầu

Chương 1: Tổng quan về hợp tác nhà nước – tư nhân (PPP)

Chương 2: Thực trạng đầu tư y tế Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Xây dựng mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân trong đầu tư phát triển y tế TP.HCM

Kết luận

Trang 7

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN ( PPP) 1.1 Những khái niệm cơ bản:

- Các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà khu vực tư nhân không có được (quyền buộc nộp thuế, xét xử, tịch thu tài sản…)

Theo PGS.TS Sử Đình Thành [5], từ khi nhà nước ra đời, nền kinh tế - xã hội được chia thành hai khu vực: khu vực công (public sector) và khu vực tư nhân (private sector)

Trong nhiều tài liệu, thuật ngữ khu vực công được sử dụng tương đương như là khu vực nhà nước (viết tắt là KVNN) hay khu vực của Chính phủ Tất cả các khái niệm này đều hàm ý khu vực nhà nước là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội do nhà nước quyết định Ngược lại, khu vực tư nhân (viết tắt là KVTN) là khu vực phản ánh các hoạt động do tư nhân quyết định

Tiêu thức căn bản để phân biệt KVNN và KVTN là dựa vào tính chất sở hữu và quyền lực chính trị

Tổ chức của khu vực nhà nước gồm có:

- Hệ thống các cơ quan công quyền bao gồm: hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà nước (các cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp), hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh, hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công, hệ thống cơ quan cung cấp an sinh xã hội

Trang 8

- Hệ thống các đơn vị kinh tế nhà nước như: ngân hàng trung ương, các định chế tài chính trung gian, các doanh nghiệp nhà nước (viết tắt là DNNN), các đơn

vị được nhà nước cấp vốn hoạt động

Phân bổ nguồn lực của khu vực nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế dựa trên chính sách lựa chọn công, vai trò của Chính phủ và cách thức của Chính phủ vào nền kinh tế nhằm điều chỉnh thất bại của thị trường

và tái phân phối thu nhập…

1.1.2 Khu vực tư nhân:

Với những khái niệm, đặc điểm và tổ chức của khu vực nhà nước như trên,

có thể thấy rằng khái niệm khu vực tư nhân là để phân biệt với khu vực nhà nước

Ở khu vực tư nhân, mọi hoạt động đều do tư nhân quyết định

Tuy nhiên, Nhà nước có ảnh hưởng đến quyết định của khu vực tư nhân thông qua hệ thống văn bản pháp luật cũng như các quy tắc, quy chế điều tiết của Nhà nước với các mức độ và cung cụ khác nhau trong từng thời kỳ

Phân bổ nguồn lực của khu vực tư nhân hoàn toàn chịu chi phối bởi cơ chế thị trường, yêu cầu phân bổ nguồn lực phải tối ưu, lấy lợi nhuận làm mục tiêu

Trong phạm vi một quốc gia, khu vực tư nhân bao gồm tư nhân trong nước

và tư nhân nước ngoài thông qua hình thức đầu tư trực tiếp (FDI: Foreign Direct Investment)

1.2 Giới thiệu mô hình Hợp tác nhà nước và tư nhân:

Có nhiều cách định nghĩa PPP:

- Darrin Grimsey và Mervin K Lewis thì đưa ra định nghĩa là “một mối quan

hệ chia sẻ rủi ro dựa trên nguyện vọng của khu vực công với một hoặc nhiều đối tác thuộc khu vực tư nhân hay thiện nguyện cùng chia sẻ việc cung ứng một đầu

ra và/hoặc dịch vụ công cộng được thỏa thuận công khai.”

Trang 9

- Từ điển Bách khoa mở Wikipedia lại mô tả đó là “một dịch vụ của chính quyền hay thương vụ tư nhân được cấp vốn và vận hành thông qua quan hệ đối tác giữa chính quyền với một hoặc nhiều công ty thuộc khu vực tư nhân, thể hiện bằng một hợp đồng giữa hai bên, trong đó bên tư nhân cung ứng dịch vụ công/dự

án và đảm nhiệm rủi ro về tài chính, kỹ thuật và vận hành”

- Ở nước ta, trong Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức hợp tác nhà nước –

tư nhân vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quyết định 71/2010, PPP được định nghĩa là “việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án”

Quy chế nêu rõ “tổng hợp các hình thức tham gia của Nhà nước bao gồm: Vốn Nhà nước, các ưu đãi đầu tư, các chính sách tài chính có liên quan, được tính trong tổng vốn đầu tư của Dự án, nhằm tăng tính khả thi của Dự án Căn cứ tính chất của từng Dự án, phần tham gia của Nhà nước có thể gồm một hoặc nhiều hình thức nêu trên Phần tham gia của Nhà nước không phải là phần góp vốn chủ

sở hữu trong Doanh nghiệp dự án, không gắn với quyền được chia lợi nhuận từ nguồn thu của Dự án”

Hợp tác nhà nước - tư nhân, hay còn gọi là hợp tác công – tư (Public Private Partnership, được viết tắt là PPP hoặc PPPs) là hệ thống khung pháp luật

và chính sách công nhằm đảm bảo quyền lợi, duy trì và khuyến khích khu vực tư nhân vào góp vốn, đầu tư, vận hành cung cấp dịch vụ công

Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, viết tắt là WB), thuật ngữ PPP được sử dụng để nói đến những hình thức thỏa thuận hợp tác từ đơn giản đến

phức tạp giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ

công mà trước đây thường do KVNN cấp vốn và thực hiện, theo đó, KVTN chấp nhận những rủi ro về hoạt động, kỹ thuật và tài chính, đổi lại KVTN được thu phí

từ người sử dụng hoặc nhận thanh toán từ KVNN [7]

Trang 10

Bảng 1.1: Dự án PPP nằm giữa dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân:

Dự án công Dự án PPP Dự án tư nhân

- Quyết định đầu tư dựa

trên phân tích chi phí –

lợi ích với tỉ suất chiết

khấu xã hội nhằm vào

mục tiêu phúc lợi công

- Cung cấp dịch vụ công trực tiếp đến người sử dụng, thu phí hoàn vốn

từ người sử dụng; hoặc cung cấp dịch vụ công cho Nhà nước với vai trò người mua, nhận thanh toán từ Nhà nước

- Có thể là chủ sở hữu tài sản hoặc không

- Quyết định đầu tư dựa trên tỉ suất lợi nhuận kỳ vọng

- Cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu thị trường

- Bỏ vốn đầu tư, quản lý

và vận hành; nhượng quyền kinh doanh và tư nhân hóa Tại các nước công nghiệp hóa, hình thức PPP đã cho phép chuyển giao các dịch vụ công cho khu vực tư nhân với tư cách là một phần của chính sách của nhà nước Mô hình này nhằm tăng cường khả năng thu hút và khai thác hiệu quả nguồn lực trong xã hội cùng với đầu tư của nhà nước để xây dựng, triển khai thực hiện các chương trình dự án phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội Kinh nghiệm thế giới cho thấy, nhờ áp dụng mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân mà nhiều vấn đề bức xúc của nhiều đô

Trang 11

thị lớn đã được giải quyết như tình trạng ùn tắc giao thông, cung cấp nước, tạo việc làm cho người lao động…

Mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân kết hợp được nhiệm vụ của dịch vụ công với hiệu quả của một hay nhiều doanh nghiệp tư nhân, cho phép chính quyền địa phương nhanh chóng đạt được những tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất trong các dịch vụ công, tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại

Với mô hình này, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ

và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ Đây là hình thức hợp tác sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính và quản lý từ tư nhân trong khi vẫn đảm bảo các lợi ích cho người dân

Không giống như hình thức tư hữu hóa hay sang nhượng phổ biến ở các nước châu Âu khác, mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân giúp các cơ quan quản

lý nhà nước quản lý chặt chẽ chất lượng các dịch vụ do tư nhân cung cấp Càng không giống hình thức tư nhân hóa khi mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân là hình thức hợp tác có thời hạn thông thường là 25 năm và các cơ sở hạ tầng được xây dựng hay vận hành bởi tư nhân sẽ được giao lại cho nhà nước khi chấm dứt hợp đồng

Theo mô hình Hợp tác nhà nước và tư nhân:

- Nhà nước căn cứ vào các quy hoạch, kế hoạch, chương trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng để lập danh mục dự án phát triển kết cấu hạ tầng cần đầu tư, loại hình dịch vụ công cần cung cấp

- Nhà nước xác định quy mô, công suất, địa điểm, diện tích xây dựng, các hạng mục công trình, nhu cầu sử dụng đất

- Nhà nước phân tích, lựa chọn về công nghệ, kỹ thuật, các điều kiện cung cấp vật tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật, phương án

Trang 12

giải phóng mặt bằng, tái định cư, đánh giá ảnh hưởng của dự án đối với môi trường sinh thái và môi trường xã hội

- Nhà nước dự kiến tổng mức đầu tư dự án, tiến độ xây dựng công trình (khởi công, hoàn thành, nghiệm thu và đưa công trình vào khai thác kinh doanh), thời gian khai thác công trình, phương thức tổ chức quản lý và kinh doanh của nhà đầu tư; dự kiến Phần tham gia của nhà nước trong dự án và đề xuất Cơ chế đặc thù của

dự án

- Nhà nước xác định các điều kiện, phương thức chuyển giao và tiếp nhận công trình; xác định mức phí người sử dụng đối với hàng hóa, dịch vụ công, và dự kiến thu từ việc kinh doanh khai thác công trình

- Nhà nước phân tích hiệu quả tổng thể của dự án bao gồm sự cần thiết của

dự án, những lợi thế và hiệu quả kinh tế, xã hội của việc thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư so với hình thức đầu tư toàn phần bằng vốn nhà nước

- Bên tư nhân được khuyến khích đầu tư cung cấp dịch vụ công và được thanh toán theo chất lượng dịch vụ

- Bên tư nhân thiết kế, xây dựng, lắp đặt thiết bị, đảm nhiệm công tác quản

lý, vận hành, bảo dưỡng công trình trong suốt thời gian cho thuê, cung cấp dịch

vụ hình thành từ công trình và chịu trách nhiệm hoàn toàn về chất lượng

Các loại hợp đồng Hợp tác nhà nước và tư nhân:

- Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (Build - Operate - Transfer, gọi tắt là Hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa Cơ quan nhà nước

có thẩm quyền và Nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, Nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam

Trang 13

- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (Build - Transfer - Operate, gọi tắt là Hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa Cơ quan nhà nước

có thẩm quyền và Nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, Nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho Nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận

- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (Build - Transfer, gọi tắt là Hợp đồng BT) là hợp đồng được ký giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, Nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho Nhà đầu

tư thực hiện Dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho Nhà đầu tư theo thỏa thuận trong Hợp đồng BT

Tóm lại, hợp đồng Hợp tác nhà nước và tư nhân có các đặc điểm sau:

- Bên tư nhân được giao để thực hiện một số chức năng của khu vực Nhà nước và chính quyền địa phương Tương ứng với các loại hợp đồng này, bên tư nhân sẽ được Nhà nước, chính quyền địa phương thanh toán các khoản phí, hoặc bên tư nhân được phép thu phí hoặc lệ phí sử dụng các loại hình dịch vụ đã cung cấp theo hợp đồng công – tư

- Bên tư nhân được giao để sử dụng tài sản của Nhà nước, chính quyền địa phương để thực hiện các mục đích kinh doanh thương mại Khi đó bên tư nhân sẽ phải thực hiện một số nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng công – tư

Trang 14

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu của luận văn

Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân trong đầu tư phát triển các bệnh viện

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu các hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân

Thực trạng hợp tác nhà nước – tư nhân trên thế giới và ở Việt Nam

Phân tích thực trạng đầu tư bệnh viện dẫn đến xây dựng mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân

Đề xuất hai hình thức hợp tác

nhà nước – tư nhân cho đầu

tư bệnh viện: BTL và BLT

Một vài kiến nghị thúc đẩy hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, chương trình đầu tư phát triển các cơ sở y

tế của thành phố và thực trạng quá tải cộng với thời gian dài sử dụng cơ sở vật chất tại các các cơ sở y tế đã xuống cấp trầm trọng không đáp ứng kịp với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng cao, nhà đầu tư tư nhân đề xuất đầu tư

dự án với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân

1.3 Đặc điểm của mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân:

Nhu cầu vốn để xây dựng, triển khai thực hiện các chương trình dự án phục

vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển là rất lớn trong khi nguồn vốn công không đủ đáp ứng Mà để giải quyết nhu cầu vốn đầu tư bằng

Trang 15

cách tăng các khoản nợ công thì sẽ làm tăng gánh nặng cho Chính phủ Do đó mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng để giải quyết nhu

cầu vốn đầu tư Vì mô hình này có các đặc điểm sau đây:

- Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân là mô hình nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hợp để thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một bên tham gia Hợp đồng dự án và thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo thỏa thuận với nhà đầu tư tại Hợp đồng dự án

- Dự án là dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công thực hiện thí điểm đầu tư theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân

- Đề xuất dự án là đề nghị của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà đầu tư về một dự án thực hiện đầu tư theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân

- Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân là mô hình có các mối quan hệ tương đối lâu dài giữa đối tác nhà nước và đối tác tư nhân

- Cơ cấu nguồn vốn trong mô hình bao gồm cả vốn của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân

- Trong mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân có cơ quan vận hành đóng vai trò quan trọng tại mỗi giai đoạn của dự án (thiết kế, thực hiện, hoàn thiện, cấp vốn)

- Trong mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân, đối tác nhà nước chú trọng vào việc xác định các mục tiêu cần đạt được

- Trong mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân có sự phân chia rủi ro giữa đối tác nhà nước và đối tác tư nhân

- Mô hình PPP được áp dụng rất đa dạng ở nhiều lĩnh vực như: đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ; đường sắt, cầu đường sắt, hầm

Trang 16

đường sắt; giao thông đô thị (đường xá, trạm xe buýt, nơi đỗ xe, phát triển khu thương mại, tăng cường tài chính và công trái thị chính); cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; hệ thống cung cấp nước sạch; nhà máy điện; y tế (xây dựng mới hoặc đầu tư nâng cấp bệnh viện); môi trường (nhà máy xử lý chất thải); các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Ưu điểm của mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân:

Sử dụng được những kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu vực tư nhân Buộc khu vực công ngay từ đầu phải chú trọng đầu ra và lợi ích (thay vì các yếu tố đầu vào) Đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh nặng về tài chính cho dự án Rủi ro được chia sẻ giữa những đối tác khác nhau Chắc chắn

về ngân sách Những nhà cung cấp tư nhân có trách nhiệm hơn trong việc cung cấp dịch vụ trong môi trường khuyến khích thích hợp Trong mô hình sang kiến tài chính tư nhân, khu vực công chỉ thanh toán khi dịch vụ đã được cung cấp

Nhược điểm của mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân:

Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân ngụ ý việc khu vực công mất quyền kiểm soát quản lý và vì vậy khó có thể chấp nhận trên góc độ chính trị Liệu khu vực công có đủ năng lực và kỹ năng để áp dụng phương pháp PPP và thiết lập môi trường pháp lý để khuyến khích thích đáng không? Liệu khu vực tư nhân có đủ năng lực chuyên môn để đảm bảo thực hiện PPP không? Không thể chuyển giao rủi ro tuyệt đối Việc mua sắm có thể tốn nhiều thời gian và chi phí Các cấu trúc dài hạn tương đối không linh hoạt

1.4 Kinh nghiệm thực hiện PPP tại một số quốc gia trên thế giới:

Mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân bắt đầu ra đời từ nước Anh và nước Anh đã áp dụng mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân cách đây hơn 50 năm và đã thu được thành công lớn Theo đó, nhà nước cho phép tư nhân cùng tham gia đầu

Trang 17

tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng của nhà nước và khoán gọn cho tư nhân đầu tư toàn bộ cơ sở vật chất, sau đó nhà nước thuê lại công trình đó Nhà nước chỉ thuê sử dụng, còn quản lý cơ sở vật chất vẫn thuộc tư nhân

Ví dụ như việc đầu tư xây dựng trường học và bệnh viện theo mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân, nhà nước sẽ ký hợp đồng để tư nhân cung cấp dịch vụ bao gồm: việc xây dựng trường học và bệnh viện, bảo trì, vận hành trường học và bệnh viện trong một thời gian thỏa thuận là 25 năm với các tiêu chuẩn của Nhà nước đưa ra Tư nhân thành lập công ty chuyên trách về: thiết kế xây dựng, vận hành, bảo trì trường học và bệnh viện Tư nhân sẽ được nhà nước thanh toán định

kỳ trong suốt thời gian hợp đồng Nhà nước chỉ quản lý hiệu trưởng, đội ngũ giáo viên, giám đốc và y – bác sĩ… còn lại những “phần cứng” (cơ sở vật chất) đều do những nhà đầu tư tư nhân quản lý theo hợp đồng Theo các chuyên gia của Anh về

mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân, các rủi ro về đầu tư sẽ được chuyển giao từ nhà nước sang tư nhân như rủi ro xây dựng trường lớp và bệnh viện, vận hành, quản lý… Như thế sẽ tránh được rủi ro cho nhà nước khi trực tiếp đầu tư và việc đầu tư này vẫn mang lại lợi ích cho người dân chính là cơ sở vật chất trường học

và bệnh viện Cũng bằng hình thức hợp tác đầu tư này đã giúp cho nước Anh giải quyết được nhiều vấn đề của xã hội nhờ sự tham gia của tư nhân trong các dự án

về giao thông vận tải cầu đường, quốc phòng, tư pháp… Cụ thể, Nhà nước đã nhận được chuyển giao khoảng 44 bệnh viện và 119 chương trình y tế, 250 trường học, 4 hệ thống đường sắt nội hạt, các trạm cảnh sát và cứu hỏa, hệ thống chiếu sáng đô thị…

Dự án cấp nước sạch ở Thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) là một hình mẫu mà Việt Nam có thể tham khảo Năm 2002, chính quyền Thượng Hải đã ký kết với Tập đoàn VE của Pháp hợp đồng quản lý dịch vụ cung cấp nước sạch trong thời hạn 50 năm Từ đó, hình thành một doanh nghiệp liên doanh Pháp – Trung Quốc với tỷ lệ vốn góp 50/50 Theo đó, VE cung cấp toàn bộ dịch vụ sản xuất, phân phối nước sạch, quản lý và chăm sóc khách hàng, thiết kế và đầu tư…

Trang 18

Dự án xây dựng Bệnh viện đa khoa ở Nam Phi: Sở Y tế và công ty tư nhân

ký hợp đồng xây dựng, cung cấp thiết bị y tế, đảm nhận các dịch vụ phục vụ công việc khám chữa bệnh như bảo vệ, dinh dưỡng, vệ sinh, khử trùng bệnh viện… Các dịch vụ chính về khám chữa bệnh vẫn do bệnh viện đảm nhận Tiêu chí tài chính đấu thầu là tổng mức thanh toán dịch vụ hàng năm của nhà nước cho công ty tư nhân tùy theo mức độ sử dụng giường bệnh Bệnh viện thu viện phí của bệnh nhân theo chế độ quy định rồi nộp cho ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước thanh toán cho công ty nhận thầu tiền dịch vụ mà bệnh viện đã sử dụng Sở Y tế

có trách nhiệm giám sát chất lượng dịch vụ nêu trong hợp đồng Đây là dự án được đánh giá là rất thành công: bệnh viện đã sử dụng các thiết bị tiên tiến (tuy chưa phải là hiện đại nhất, kể cả trực thăng cấp cứu) trong việc quản lý điều hành hoạt động khám chữa bệnh, trong khi đó người dân vẫn chi trả như tại các bệnh viện công khác

Cũng theo mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân, thủ đô Seoul (Hàn Quốc)

đã xây dựng tuyến xe điện ngầm số 9 Hiện nay, mỗi ngày phục vụ khoảng 256.000 lượt khách, dự báo đến năm 2013 tuyến xe này sẽ thu hút 760.000 lượt khách/ngày Gần 1.000 người Hàn Quốc đã được đào tạo để vận hành, khai thác

kế kiến trúc bởi Công ty B+H, doanh nghiệp Canada có hơn 20 năm kinh nghiệm

về quy hoạch, thiết kế các dự án PPP Công ty này đang mở rộng hoạt động tại Châu Á, trong đó có Việt Nam

Trong năm 2010, ADB và Chính phủ Ấn Độ đã hợp tác phát triển dự án

“Sáng kiến PPP” nhằm tập trung thu hút đầu tư PPP trong 2 lĩnh vực y tế và giáo

Trang 19

dục tại một số bang như Andhra Pradesh, Orissa, Rajasthan, Tamil Nadu và Uttarakhand Hiện Ấn Độ cần gia tăng ngân sách đầu tư vào cơ sở hạ tầng từ 4,7% lên mức 8% tổng sản phẩm nội địa (GDP), tương đương 500 tỷ USD Tỷ lệ

nợ công của Ấn Độ đã ở mức 81,5% GDP (trong giai đoạn 2002 – 2008) nên việc huy động từ tư nhân là tất yếu Trên thực tế, các nhà đầu tư tư nhân đã đóng góp khoảng 29% vốn cho các dự án hạ tầng tại Ấn Độ từ năm 2007 – 2010 Ngoài ra, theo ADB, lĩnh vực y tế và giáo dục chiếm gần 9% GDP của Ấn Độ cũng đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư tư nhân trong và ngoài nước

Và gần đây thôi, ngày 29/9/2010 quốc đảo Singapore đã khởi công xây dựng Trung tâm thể thao Singapore theo mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân Công trình này sẽ hoàn thành vào năm 2014 với những trang thiết bị và tiện ích vào loại hiện đại nhất thế giới và có tổng vốn đầu tư gần 1 tỷ USD Nhà thầu trúng thầu dự án này là Tập đoàn Singapore Sports Hub (SSHC), trong đó đứng đầu là Công ty Draggeages Singapore Đây được đánh giá là dự án PPP lớn nhất thế giới

Các chuyên gia của Anh cho rằng hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân tương tự như hình thức BOT (Build – Operate – Transfer = xây dựng - vận hành - chuyển giao) nhưng tầm của BOT hẹp hơn hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân BOT được áp dụng nhiều ở Việt Nam trong các công trình hạ tầng cơ sở như cầu, đường, trạm điện…

1.5 Đặc điểm ngành y tế:

Ngành y tế là một ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân và thuộc nhóm ngành dịch vụ, phục vụ các nhu cầu y tế xã hội Nói cách khác, ngành y tế có đóng góp vào GDP của đất nước Đầu tư cho ngành y tế không phải là tiêu chí mà

là đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển Ngành y tế là một ngành dịch vụ nhưng khác với các ngành kinh doanh dịch vụ khác bởi hoạt động cung cấp dịch vụ của

Trang 20

ngành y tế không đặt mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất Do đó ngành y tế có các đặc điểm sau:

- Ngành y tế chủ yếu phục vụ an sinh xã hội: cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và các thành viên gia đình họ, nhằm bảo đảm cho họ tái tạo được sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời phát triển mọi mặt cuộc sống của con người, kể cả phát triển bản thân con người

- Chi phí đầu tư ngành y tế cao, trong khi mức thu bị hạn chế, ràng buộc bởi các quy định của nhà nước (giá thu viện phí còn bất cập, chưa được sửa đổi phù hợp, gây khó khăn trong việc thực hiện tự cân đối thu chi Quy định sử dụng 35% nguồn thu viện phí để tăng lương khiến các đơn vị y tế không còn kinh phí để hoạt động), thu hồi vốn chậm

- Ngành y tế là ngành kinh doanh dịch vụ có tính rủi ro thấp hơn rất nhiều so với các ngành kinh doanh dịch vụ khác Vì ngành y tế cung cấp dịch vụ thiết yếu của cuộc sống

- Đối tượng phục của ngành y tế vụ rất đa dạng: người lao động, các đối tượng chính sách xã hội, người cao tuổi, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số

và trẻ em dưới 6 tuổi…

- Nguồn lực đầu tư cho ngành y tế thì hạn chế: chủ yếu là do ngân sách nhà nước đầu tư cho y tế, nguồn viện trợ quốc tế, viện phí, bảo hiểm y tế và một số nguồn thu khác

1.6 Ứng dụng của mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân trong đầu tư phát triển y tế:

Ứng dụng mô hình hợp tác công – tư có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các nước đang phát triển Do nhu cầu vốn trong phát triển y tế để theo kịp tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững trong giai đoạn này là rất lớn, trong khi ngân sách nhà nước mức tăng có giới hạn và không đủ để đáp ứng Mặt khác, ngân sách nhà nước đồng thời phải tập trung cho nhiều mục tiêu đầu tư phát triển, trong đó

Trang 21

quan trọng nhất là mục tiêu giảm nghèo Khi thực hiện mô hình này, với cùng một lượng vốn đầu tư của nhà nước, nếu trước kia chỉ tập trung xây dựng được một công trình thì nay có thể phát triển hai đến ba công trình tương tự nhờ có phần vốn tham gia của khu vực tư nhân Xét theo tổng thể, cùng một lượng vốn đầu tư

có thể huy động được từ nguồn vốn nhà nước trong 10 năm tới, chúng ta có thể tạo lập được 3 lần số lượng công trình, do khai thác được nguồn vốn từ khu vực tư nhân

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư phát triển y tế có khả năng mang lại hiệu quả thực hiện tốt hơn, tầm bao phủ rộng hơn nhờ vào hiệu quả đạt được với năng lực quản lý, sự sáng tạo và khả năng định hướng theo yêu cầu của khách hàng, khả năng thu hồi vốn đầu tư cao hơn và việc sử dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, tiết kiệm chi phí trong xây dựng, bảo dưỡng và vận hành của khu vực tư nhân Trong một môi trường được khuyến khích thỏa đáng, các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân làm tốt hơn các cung cấp dịch vụ thuộc khu vực nhà nước do có những phản ứng nhanh nhạy hơn so với nhu cầu và sự cạnh tranh trên thị trường

Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân đem lại khả năng tăng cường tính minh bạch, thúc đẩy cạnh tranh và phòng ngừa tham nhũng (thông qua đấu thầu chọn chủ đầu tư, xây dựng, nhà cung cấp…)

Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân cải thiện hình thức mua sắm công, thông qua việc buộc nhà đầu tư tư nhân chia sẻ với Chính phủ các rủi ro trong hoạt động dài hạn của các tài sản và có thể giúp đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt

Kết luận chương 1

Trong toàn bộ chương 1 trên đây, tác giả đã trình bày một cách tổng quát về

mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân Có thể kết luận rằng mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân là một giải pháp tích cực để đầu tư và phát triển các bệnh viện

Trang 22

công ở TP.HCM Tuy nhiên, nếu mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân không được

áp dụng một cách phù hợp thì sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách

Ở Việt Nam, mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân chỉ mới đang ở giai đoạn khởi đầu Do đó cần thiết phải có những bước tìm kiếm, thử nghiệm các mô hình phù hợp thông qua kinh nghiệm thực tiễn trong nước và thế giới

Trang 23

Chương II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ TP.HCM 2.1 Giới thiệu chung về ngành y tế Việt Nam:

Ngay từ buổi sơ khai, để tồn tại con người đã phải tạo cho mình một nơi trú

ẩn tránh những tác hại do thiên nhiên gây ra, ngăn ngừa thú dữ Đầu tiên là những hang động, đến những lều lán, những ngôi nhà và đến những lâu đài nguy nga lộng lẫy, với hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngày càng được nâng cao, giảm thiểu tác hại do thiên nhiên gây ra Cở sở hạ tầng của bệnh viện trước hết cũng là một công trình kiến trúc có những đặc thù để khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Xã hội càng phát triển, yêu cầu đối với “ngôi nhà bệnh viện”, nhà thương càng cao Mặt bằng, không gian kiến trúc, kỹ thuật hạ tầng trang thiết bị y tế phải phù hợp với yêu cầu của việc lắp đặt và sử dụng trang thiết bị của bệnh viện

Cơ sở hạ tầng là tài sản cố định có vốn đầu tư lớn Hàng năm, kinh phí của Nhà nước đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng cải tạo mở rộng cơ sở hạ tầng các cơ sở y tế Tuy nhiên do cơ sở vật chất của nhiều bệnh viện thành phố hiện nay đang trong tình trạng quá cũ kỹ, hư hỏng trầm trọng, cộng với việc sử dụng hàng ngày của cán bộ y tế và bệnh nhân, cho nên đòi hỏi việc duy tu, bảo trì, tôn tạo cần phải được thường xuyên Vì vậy nhà nước cũng không đủ vốn để thực hiện việc duy tu, bảo trì hết tất cả các cơ sở hạ tầng của các cơ sở y tế Mà cơ sở

hạ tầng càng rộng lớn, càng nhiều thì đòi hỏi chi phí thường xuyên cũng càng nhiều hơn

Nếu cơ sở hạ tầng không có thì không thể gọi là có bệnh viện được, cơ sở

hạ tầng đã hư hỏng hoàn toàn cũng có nghĩa là bệnh viện không còn có tác dụng với con người nữa chưa nói đến là nơi khám chữa bệnh, có những yêu cầu lớn hơn những ngôi nhà thông dụng khác

Cơ sở hạ tầng của bệnh viện là nơi thực thi nhiệm vụ khám chữa bệnh với

hệ thống trang thiết bị y tế, lực lượng khám chữa bệnh mới ngày càng hiện đại, nó còn tạo ra môi trường chăm sóc sức khỏe cả về vật chất lẫn tinh thần (tâm lý) giúp

Trang 24

đắc lực cho công tác chuyên môn để người bệnh chóng khỏi trở về với gia đình và cộng đồng

Trong những năm qua, công tác Bảo vệ, chăm sóc và nghiên cứu sức khỏe nhân dân tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhờ một hệ thống

y tế công lập được xây dựng rộng khắp từ Trung ương tới tỉnh, huyện, xã/phường

và thôn, bản, ấp Hệ thống y tế công lập hiện giữ vai trò chủ đạo trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và được chia làm 3 tuyến: tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến y tế cơ sở (bao gồm huyện, xã và y tế thôn bản) Bên cạnh hệ thống

y tế công, tại Việt Nam đã hình thành mạng lưới y tế tư nhân Hiện nay có trên 30.000 phòng khám chữa bệnh tư nhân, 84 bệnh viện tư với trên 5.000 giường bệnh (tương đương 2% giường bệnh của cả nước), trong đó có 4 bệnh viện có vốn đầu tư của nước ngoài

Hệ thống y tế của Việt Nam hiện nay bao gồm khoảng 13.438 cơ sở y tế, trong đó có 1.063 bệnh viện công với 200.000 giường bệnh Bình quân có 1.664 giường bệnh quốc lập/10.000 dân, 1 bác sĩ phục vụ 1.700 dân Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển; hầu hết các xã, phường trong cả nước đều có trạm y tế, khoảng 65% trạm có bác sĩ Nhờ vậy, nhiều thành tựu y tế quan trọng đã đạt được: thanh toán được bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm

2000 và bệnh phong vào năm 2005; hạn chế được tốc độ gia tăng của HIV/AIDS; giảm tỷ lệ chết của trẻ em dưới 5 tuổi từ 55%Onăm 1995 xuống còn 32,8%Onăm 2003; giảm tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi từ 42%Oxuống 18%O; năm 2003, Việt Nam đã khống chế thành công dịch bệnh SARS; tuổi thọ trung bình của người Việt Nam từ 67,8 tuổi đã nâng lên 71,5 tuổi vào năm 2005 Tỷ lệ chi thường xuyên cho y tế 4,5% ngân sách; tỷ lệ hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí là 29,28% và hộ nghèo được miễn giảm viện phí là 57,88% Nhiều cơ sở y tế trong đó có cả hệ dự phòng và khám chữa bệnh được đầu tư, nâng cấp, một số cơ

sở khám chữa bệnh đã ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao, tiên tiến như ghép gan, thận, tủy, thụ tinh trong ống nghiệm, phẫu thuật tim mạch, sọ não, tiêu hóa…Chế

Trang 25

độ khám chữa bệnh cho người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đang được triển khai thực hiện

Đối với ngành dược và hệ thống y dược cổ truyền, Nhà nước Việt Nam đã

có nhiều cố gắng trong việc cung ứng đầy đủ các loại thuốc có chất lượng cho người dân Hiện nay Việt Nam có 18 doanh nghiệp dược Trung ương, 132 doanh nghiệp dược địa phương, 22 dự án liên doanh sản xuất thuốc Các cơ sở cung ứng thuốc thiết yếu đã có mặt tại các xã, phường, kể cả vùng sâu, vùng xa, với khoảng 10.317 quầy đại lý thuốc và 9.087 tủ thuốc của trạm y tế

Công tác nghiên cứu kế thừa và phát huy các bài thuốc, phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền tiếp tục được đẩy mạnh Các nguồn dược liệu địa phương được sử dụng rộng rãi để chữa trị một số bệnh thông thường và bệnh mãn tính Hiện nay có 450 cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền với 2.000 chế phẩm đông nam dược Hàng năm có khoảng 30% bệnh nhân được khám và điều trị bằng

y học cổ truyền

Theo đánh giá chung của Tổ chức Y tế thế giới về thành tựu y tế của Việt Nam, khả năng đáp ứng của hệ thống y tế Việt Nam xếp thứ 51/191 nước trên thế giới; được đánh giá cao hơn so với nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người Phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của Việt Nam tốt hơn so với các nước có cùng mức thu nhập Một số chỉ số cơ bản của Việt Nam tương đương mức của các nước có thu nhập cao gấp 10 lần Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 72, cao hơn 10 tuổi so với các nước có thu nhập bình quân tương đương

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được trên đây, công tác y tế vẫn còn một số tồn tại sau:

- Tình hình bệnh tật ở nước ta được phân loại theo 3 nhóm (nhiễm trùng, không nhiễm trùng và tai nạn, thương tích) Nhóm bệnh không nhiễm trùng chiếm

tỷ trọng mắc bệnh cao nhất là 60,61%, nhóm bệnh nhiễm trùng vẫn còn phổ biến

Trang 26

và chiếm tỷ trọng mắc bệnh trên 27,0%, nhóm bệnh do tai nạn thương tích chiếm

tỷ trọng mắc bệnh là 11,95% Tình trạng ngộ độc thực phẩm còn cao, hàng năm

có từ 1,3 – 1,5 triệu người ngộ độc; tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm do sử dụng hóa chất; tình hình sức khỏe công nhân và bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động vẫn còn cao nên đòi hỏi việc cung cấp các dịch vụ y tế cả dự phòng và điều trị phải thuận lợi, đa dạng và hiệu quả đồng thời phải hết sức kịp thời

- Hiện nay, trong khu vực Nhà nước, các cơ sở y tế tuy có được đầu tư song

so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sở vật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu Đối với các cơ sở khám chữa bệnh công do chưa có quy định điều kiện cụ thể để cấp giấy phép hoạt động nên nhiều cơ sở khám chữa bệnh đã không đạt điều kiện, đặc biệt là cơ sở vật chất, xử lý chất thải y tế Trong khi đó, các cơ sở khám chữa bệnh

tư nhân muốn hoạt động được phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới được cấp phép Do đó, cần thiết phải có cơ chế pháp lý về điều kiện cụ thể và cấp giấy phép hoạt động cho tất cả các cơ sở trên để bảo đảm cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người bệnh một cách hiệu quả, đồng đều

- Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, ở nước ta đến nay có 189.150 người đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong khu vực nhà nước (trong đó: 52.413 bác sĩ, 48.519 y sĩ, 961 điều dưỡng viên đại học, 45.143 điều dưỡng viên trung học, 10.899 điều dưỡng viên sơ học, 17.109 nữ hộ sinh đại học và trung học, 2.133 nữ hộ sinh sơ học, 10.519 kỹ thuật viên y tế, 798 xét nghiệm viên và 656 lương y) chưa kể người đang hành nghề trong khu vực tư nhân Việc cấp chứng chỉ hành nghề được thực hiện từ năm 1995 đối với người đứng đầu các cơ sở hành nghề y tư nhân (việc cấp này thông qua việc xét hồ sơ thuần túy của đối tượng hành nghề) Đối với những người trực tiếp hành nghề khám chữa bệnh thuộc khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân đều chưa thực hiện nên chất lượng của đội ngũ

Trang 27

này cũng chưa đồng đều do Việt Nam chưa có hệ thống đăng ký, kiểm tra, cấp chứng chỉ hành nghề và giám sát hoạt động cho người hành nghề

Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống y tế ở Việt Nam đã nhanh chóng phát triển, phục vụ tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Tuy các cơ sở y

tế, đặc biệt là các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương đã được đầu tư nâng cấp về trang thiết bị, trình độ chuyên môn và tay nghề của cán bộ y tế được tiếp tục nâng cao, hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân Từ một hệ thống hoàn toàn thuộc sở hữu Nhà nước, hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh hiện nay đã trở thành một

hệ thống cung ứng dịch vụ công tư hỗn hợp

2.2 Thực trạng ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh:

2.2.1 Giới thiệu ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh:

Hiện nay nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, sử dụng các dịch vụ

y tế của người dân thành phố ngày càng tăng Trong khi đó hệ thống bệnh viện, cơ

sở khám chữa bệnh hầu như không phát triển đã tạo ra một sức ép lớn đối với ngành y tế Hệ thống y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay luôn trong tình trạng quá tải không đáp ứng đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, mặc dù các cơ sở y tế đã được tổ chức rất thành công việc đa dạng hóa các loại hình xã hội hóa như: mô hình khám chữa bệnh ngoài giờ hành chính, mô hình giường dịch

vụ, mô hình sinh và phẫu thuật theo yêu cầu, huy động vốn cán bộ công chức trong đơn vị để đầu tư trang thiết bị hoặc liên doanh liên kết đặt máy, đầu tư thêm các phương tiện, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ công tác khám chữa bệnh; cơ sở

hạ tầng nhiều bệnh viện bị xuống cấp trầm trọng và không gian môi trường xanh ngày càng bị thu hẹp do nhiều bệnh viện phải cơi nới

Cơ sở vật chất của nhiều bệnh viện ở TP.HCM hiện nay trong tình trạng quá cũ kỹ, rách nát bởi không được tu sửa, bảo dưỡng kịp thời Trong khi đó, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân không ngừng tăng cao Từng giờ từng phút,

Trang 28

hàng nghìn lượt bệnh nhân chen chúc nhau đứng, ngồi chờ đợi khám hoặc nằm ngoài hành lang để được chữa bệnh

Tại các bệnh viện lớn như bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Ung Bướu rất đông người chen chúc nhau chờ đến lượt khám bệnh Không đủ ghế ngồi, nhiều bệnh nhân phải dạt ra bên ngoài lối đi của bệnh viện Được vào điều trị nội trú, bệnh nhân tiếp tục rơi vào cảnh một giường nhưng đến 2-3 bệnh nhân nằm Bệnh nhân khỏe phải xuống đất hoặc ra ngoài hành lang trải chiếu nằm, nhường giường cho người bệnh nặng hơn nằm

Tại bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, toàn bộ cơ sở vật chất của bệnh viện đã xuống cấp trầm trọng, kể cả khu nhà hành chính và khu điều trị mới xây dựng từ năm 1994 Việc nước từ dưới nền tràn lên và nước từ trên trần chảy xuống thì thường xuyên xảy ra Các máy móc thiết bị đắt tiền thì phải dùng bao

ny lông trùm máy để chống ướt, dùng thau hứng nước chảy từ trên trần là chuyện thường ngày

Mặc dù các bệnh viện tuyến quận, huyện đã góp phần không nhỏ trong việc giảm tải bệnh nhân nhưng cơ sở vật chất tại các bệnh viện tuyến quận, huyện vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế trong điều trị, khám chữa bệnh

Chỉ cần sau một cơn mưa vừa, những con đường nội bộ của bệnh viện Bình Chánh đã ngập chìm trong nước, đến tận ngày hôm sau, nước mới rút xuống bớt, những bước chân qua lại khiến cho nền gạch nhớp nháp, lối đi dẫn vào khu khám tập trung rải đầy sỏi vẫn còn ướt, khuôn viên bệnh viện khá rộng, nhiều cây xanh nhưng bệnh viện đã xuống cấp, dù mỗi ngày số lượng bệnh nhân ngày càng tăng thêm Có những lúc triều cường và mưa lớn thì các bác sĩ vừa tát nước vừa điều trị cho bệnh nhân Còn các bệnh viện quận khác trong nội thành thì phần lớn các khoa phòng đều quá nhỏ, không đủ chỗ cho bệnh nhân ngồi chờ khám mà bệnh viện cũng chẳng có cách nào để mà cơi nới cho rộng thêm

Trang 29

Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu của Chính phủ và các nguồn vốn khác, tổng đầu tư là 17 ngàn tỷ đồng

Kế hoạch đã có, do kinh phí xây dựng lớn, thành phố phải sử dụng vốn từ nhà nước và huy động thêm từ nhiều nguồn khác Quá trình này cần thời gian bởi thủ tục xây dựng rườm rà rắc rối, cơ chế hợp tác hóa còn nhiều rào cản, việc chậm xây dựng bệnh viện sẽ còn ảnh hưởng nhiều đến chất lượng điều trị

Thêm vào đó, việc xử lý nước thải, xử lý rác y tế tại các bệnh viện cũng gặp khó khăn do thiếu vốn và thiếu mô hình quản lý hiệu quả Từ năm 2008, Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh đã trình các dự án kêu gọi đầu tư vào y tế song chưa nhận được

sự quan tâm từ nhà đầu tư Cụ thể, thành phố đang kêu gọi xã hội hóa các dự án y

tế như: xây dựng Viện trường y tế Củ Chi tại khu vực Trảng Dài, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi với diện tích gần 100 ha nhằm mục tiêu xây dựng một mô hình mới của ngành y tế TP.HCM, trên cơ sở gắn kết giữa đào tạo với khám chữa bệnh đạt tiêu chuẩn quốc tế; dự án xây dựng khu nghỉ dưỡng Cần Giờ; trung tâm xét nghiệm y khoa TP.Hồ Chí Minh tại khu đô thị Nam Sài Gòn, quận 7 và xây dựng

5 bệnh viện lớn ở các cửa ngõ thành phố: Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi (cửa ngõ phía Bắc) với quy mô 1.000 giường được xây dựng trên diện tích 6,3 ha tại ấp Bàu Tre, Tân An Hội, Củ Chi; Bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn (cửa ngõ phía Bắc) với quy mô 1.000 giường được xây dựng trên diện tích khoảng 4,5 ha tọa lạc tại thị trấn Hóc Môn; Bệnh viện đa khoa khu vực Bình Chánh (cửa ngõ phía Tây) với quy mô 1.000 giường được xây dựng trên diện tích 10 ha tại xã Tân Kiên và Tân Nhựt, huyện Bình Chánh; Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức (cửa ngõ phía Đông) với quy mô 1.000 giường được xây dựng trên khu vực bệnh viện

cũ với diện tích 5,8 ha và Bệnh viện Quận 7 (cửa ngõ phía Đông) với quy mô 500 giường được xây dựng trên diện tích khoảng 5 ha tại ấp Gò Dầu, phường Tân Phú, quận 9

Trang 30

Hình thức kêu gọi đầu tư bao gồm liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, đầu tư 100% vốn nước ngoài…

Tuy nhiên, trong hai năm qua, hầu như ít nhà đầu tư quan tâm đến các dự

án y tế dù thành phố đã có nhiều chính sách ưu đãi đầu tư như: thứ nhất là ưu tiên

bố trí đất xây dựng, giao đất sạch hoặc hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng, giảm hoặc miễn tiền sử dụng đất, miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất

và các tài sản trên đất; thứ hai là ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thứ ba là các bệnh viện mới thành lập được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số năm nhất định, ít nhất là bốn năm và giảm 50% trong năm năm tiếp theo Đặc biệt là được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt thời gian hoạt động Cuối cùng là được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng và tín dụng phát triển, được vay vốn dưới dạng cổ phần, huy động vốn từ người lao động, được liên kết với các tổ chức, cá nhân và được hưởng hỗ trợ sau đầu tư

Với nhiều chính sách ưu đãi như vậy, nhưng tính đến thời điểm hiện nay, chỉ có một dự án là Viện trường y tế Củ Chi đã có 3 nhà đầu tư xin tham gia đầu

tư gồm: Công ty TNHH Thịnh Phúc, Trung Thủy và Ngọc Tâm Sở Y tế đang xem xét để tổ chức đấu thầu chọn nhà đầu tư Nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức công bố số phận của dự án này sẽ đi về đâu Đây là dự án được Thành phố cho chủ trương từ những năm 2001 – 2002 và phê duyệt từ cuối năm 2007 Theo dự án, trong giai đoạn 1 đến năm 2010, sẽ xây dựng một bệnh viện đa khoa 1.000 giường và trung tâm đào tạo phẫu thuật nội soi; giai đoạn 2 (2010 – 2015), xây dựng thêm các bệnh viện chuyên khoa với 2.000 giường bệnh Tuy nhiên, đến nay khu quy hoạch dự án nói trên vẫn cỏ mọc um tùm dù Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh đã kiến nghị lên Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM xem đây như dự án trọng điểm của ngành y tế Cũng được nhắc đến nhiều trong 3 năm qua là dự án xây dựng 5 bệnh viện lớn ở các cửa ngõ thành phố với mục tiêu tăng thêm 4.500 giường bệnh có chất lượng kỹ thuật cao Cách đây 2 năm, Sở Y tế TP.Hồ Chí

Trang 31

Minh cho rằng sẽ hoàn thành giai đoạn 1 của dự án này vào năm 2010 Thế nhưng, năm 2010 đã hết mà dự án vẫn đang trên đà… khởi động

Được biết, tổng kinh phí đầu tư dự kiến cho 5 bệnh viện được đưa ra vào năm 2008 là khoảng 2.000 – 3.000 tỷ đồng nhưng chắc rằng với sự chậm chạp như hiện nay, sự trượt giá sẽ còn tăng thêm nhiều… Cùng với đó là hàng loạt dự

án khác như Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (cửa ngõ phía Tây) được xây dựng trên diện tích 10 ha tại xã Tân Kiên và Tân Nhựt, huyện Bình Chánh; dự án Bệnh viện Ung Bướu cơ sở 2 (cửa ngõ phía Đông) với diện tích khoảng 5 ha tại ấp Gò Dầu, phường Tân Phú, quận 9; dự án Bệnh viện Tâm Thần thành phố, dự án di dời Bệnh viện đa khoa Sài Gòn, dự án Viện trường của Đại học Y Dược (100 ha) tại Khu đô thị Tây Bắc… vẫn chưa có lối ra khả quan

Từ năm 2008, Bộ Y tế và lãnh đạo Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM đã có buổi làm việc và Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM đã thống nhất giao Sở Y tế TP.HCM phối hợp cùng các đơn vị liên quan để xây dựng và hoàn chỉnh Quy hoạch phát triển và Quy hoạch mạng lưới y tế của thành phố Trong đó, tập trung xây mới, di dời bệnh viện về các vùng ngoại thành, cửa ngõ nhằm giảm tải cho mật độ giao thông của trung tâm thành phố cũng như giảm tải cho các bệnh viện hiện nay đang trong tình trạng quá tải trầm trọng Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt là kiếm đâu ra đất “sạch” và câu hỏi năng lực tài chính cũng đang khiến các nhà đầu

tư đau đầu Hiện ngoài một phần tiền ngân sách, các bệnh viện công muốn nâng cấp, cải tạo, xây mới, mua sắm thiết bị đều phải vay vốn kích cầu ưu đãi Tuy rằng, vốn vay không phải trả lãi nhưng nhiều bệnh viện công hiện vẫn rất dè chừng vì để đáp ứng yêu cầu đầu tư y tế kỹ thuật cao đòi hỏi chi phí lớn, khả năng thu hồi vốn lại rất chậm, trong khi các cơ chế về thu viện phí, thu phí khám chữa bệnh vẫn bị khống chế

Mặc dù các chính sách hiện hành thể hiện sự quan tâm, khuyến khích của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của y tế trong giai đoạn hiện nay, nhưng câu hỏi vốn đầu tư y tế khi nguồn lực từ ngân sách chưa đủ đáp ứng thì việc thúc

Trang 32

đẩy hợp tác Nhà nước và tư nhân là hết sức cần thiết và cấp bách Tuy nhiên việc

hợp tác Nhà nước và tư nhân nên phát triển tới mức nào, chiếm tỷ trọng bao nhiêu

trong hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh chung thì vẫn chưa có lời giải

đáp

Để trả lời được câu hỏi trên, cần xem xét khả năng thực tế và vai trò của y

tế tư nhân đối với mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển của hệ thống y tế

Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để dùng công cụ quản lý nhà nước bằng

pháp luật để nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, cũng

như đưa hệ thống tư nhân tham gia cùng hệ thống Nhà nước trong cả phòng và

điều trị bệnh tật Nhu cầu với việc hợp tác công – tư (PPP) hiện nay đang được

nhiều quốc gia quan tâm và khuyến khích (do hệ thống công không thể cung cấp

toàn bộ các dịch vụ công cộng vì hạn chế nguồn lực) Trong lĩnh vực sức khỏe,

hợp tác công – tư được tranh luận từ lâu và đã có nhiều mô hình, nhiều cách làm

để bổ trợ lẫn nhau giữa hai hệ thống Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế lớn như

Ngân hàng thế giới, một số tổ chức của Liên hiệp quốc, nhiều Chính phủ đều

khuyến khích các quốc gia ủng hộ các mức độ và hình thức khác nhau của Hợp

Trang 33

0 5,000,000

Số lần khám ở các bệnh viện quận/huyện và trung tâm y tế dự phòng quận/huyện biến động lên xuống khác nhau theo từng năm Theo số liệu thống kê của Sở Y tế TP.HCM từ năm 2000 đến năm 2006 thì số lần khám bệnh luôn tăng

Số lần khám bệnh năm 2000 là 12.433.863 lượt khám thì sang đến năm 2006 đã tăng lên 16.835.444 lượt khám Nhưng sang năm 2007, số lần khám bệnh đã giảm xuống còn 13.756.266 lượt khám Tuy nhiên, năm 2008 lại tăng lên 14.875.027 lượt khám, năm 2009 tăng lên 15.664.535 lượt khám và năm 2010 lại giảm xuống 15.452.455 lượt khám Nếu như bình thường số lượt khám bệnh của người dân giảm xuống thường xuyên qua các năm thì sẽ rất tốt Điều này chứng tỏ rằng chất lượng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân đã được nâng cao Tuy nhiên, số lượt khám bệnh của người dân chỉ giảm ở các bệnh viện quận/huyện và trung tâm

y tế dự phòng quận/huyện nhưng lại tăng ở các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa Điều này cho thấy, người dân chỉ mong muốn được khám ở các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa lớn có cơ sở vật chất khang trang, máy móc thiết bị hiện đại

Trang 34

Bảng 2.2: Tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú từ năm 2000 - 2010

( Nguồn: Sở Y tế TP.HCM )

Cũng theo số liệu thống kê của Sở Y tế TP.HCM từ năm 2000 đến năm

2010 thì số lượt bệnh nhân điều trị nội trú luôn tăng dần qua các năm Năm 2000

chỉ có 644.984 lượt bệnh nhân điều trị nội trú nhưng sang đến năm 2010 đã tăng

lên 1.162.704 lượt Điều này sẽ làm cho số giường nội trú ở các cơ sở y tế cũng

tăng theo

Trang 35

Bảng 2.3: Tổng số giường nội trú từ năm 2000 - 2010

sở y tế Một trong những cách để số giường bệnh nội trú tăng lên trong khi điều kiện cơ sở vật chất của các cơ sở y tế gần như không thay đổi đó là buộc lòng các

cơ sở y tế phải thu hẹp diện tích các phòng hành chánh của cán bộ y tế để dành diện tích cơi nới thêm phòng cho các giường bệnh nội trú và kê thêm giường bệnh nội trú ở các phòng bệnh hiện tại Cá biệt có những cơ sở y tế buộc lòng phải kê thêm giường bệnh nội trú ở cả hành lang, lối đi của cơ sở y tế nhằm cố gắng đáp

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Khối TP 11,931 11,685 11,845 12,155 12,686 12,995 13,855 14,855 18,60919,275 19,425

Khối QH 1,341 1,554 1,974 2,104 2496 2,696 2,741 3,161 3,138 3,295 3,372

Tổng số 13,272 13,239 13,819 14,259 15,182 15,691 16,596 18,016 21,74722,570 22,797

Trang 36

ứng nhu cầu giường bệnh ngày càng tăng cao Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng 2-3

bệnh nhân nằm chung một giường bệnh thường xuyên diễn ra ở các bệnh viện lớn

Với tình hình bệnh nhân luôn trong tình trạng quá tải mà tỷ lệ tử vong của

bệnh nhân từ năm 2000 đến năm 2010 theo thống kê của Sở Y tế TP.HCM đã

giảm từ 0,74% năm 2000 xuống còn 0,3% năm 2010, thì đây là tín hiệu tốt cho ngành y tế thành phố Tuy nhiên, thành phố Hồ Chí Minh với dân số đông, mật độ

cao trong nội thành, cộng thêm một lượng lớn dân vãng lai từ các tỉnh lân cận

chuyển về, đã phát sinh nhu cầu ngày càng lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe Các

tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường… gây ảnh

Trang 37

hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở

các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn… hay các

bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển như tim mạch, tăng huyết áp, ung

thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp… đều xuất hiện ở thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2 Cơ sở vật chất ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh:

Cơ sở vật chất của ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay luôn trong

tình trạng quá tải Trong khi dân số thành phố không ngừng tăng nhanh dẫn đến

nhu cầu khám chữa bệnh của người dân cũng tăng theo Vậy mà số lượng cơ sở

vật chất của ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh lại tăng rất ít

Trang 38

Trong những năm qua, công tác Bảo vệ, chăm sóc và nghiên cứu sức khỏe nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhờ một hệ thống y tế công lập được xây dựng rộng khắp từ Thành phố tới các quận, huyện, và các phường, xã Hệ thống y tế công lập hiện giữ vai trò chủ đạo trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và được chia làm 3 tuyến: tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến y tế cơ sở (bao gồm quận, huyện, và phường, xã)

Hệ thống y tế của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm 1 viện nghiên cứu y học, 93 bệnh viện trong đó có 62 bệnh viện nhà nước và 31 bệnh viện ngoài nhà nước, 24 phòng khám khu vực, 3 nhà hộ sinh, 322 trạm y tế phường/xã, 9 trung tâm chuyên khoa, và 1 trại phong Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển; hầu hết các xã, phường trong thành phố đều có trạm y

tế Nhờ vậy, nhiều thành tựu y tế quan trọng đã đạt được: thanh toán được bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh và bệnh phong; hạn chế được tốc độ gia tăng của HIV/AIDS; giảm tỷ lệ tử vong từ 0,74% năm 2000 xuống còn 0,3% năm 2010; Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đã đi đầu trong việc khống chế thành công dịch bệnh SARS; tuổi thọ trung bình của người Việt Nam

từ 67,8 tuổi đã nâng lên 72 tuổi vào năm 2010

Trang 39

Với mạng lưới cơ sở y tế như trên, đòi hỏi số lượng cán bộ y tế cũng phải gia tăng để đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng tăng Theo số liệu thống kê của Sở Y tế TP.HCM, ở thành phố hiện tại có 38.684 cán bộ y tế (trong đó có 9.038 bác sĩ, 261 dược sĩ đại học, 9.316 y tá và 2.625 nữ

hộ sinh), chưa kể số người đang làm việc ở các cơ sở y tế tư nhân Số lượng cán

bộ y tế tăng gần gấp đôi so với số lượng cán bộ y tế năm 2005 là 21.780 cán bộ (trong đó có 4.194 bác sĩ, 223 dược sĩ đại học, 4.823 y tá và 1.545 nữ hộ sinh) Điều này cho thấy số lượng cán bộ y tế tăng nhiều như vậy thì chất lượng khám chữa bệnh cho người dân sẽ được nâng cao

Hiện tại, thành phố đã có thuận lợi lớn là có số cán bộ y tế rất nhiều so với các tỉnh, thành khác trong cả nước Số cán bộ y tế tăng đều theo mỗi năm, từ 18.323 người năm 2000 lên đến 38.684 người năm 2010, trong đó có 9.038 bác sĩ

Tỷ lệ bác sĩ trên 10.000 dân tăng từ 7,14 bác sĩ năm 2000 lên 10,00 bác sĩ trên 10.000 dân năm 2010 Mặt khác, tổng số lần bệnh nhân khám tại các cơ sở y tế từ 18.721.762 lượt năm 2000 tăng lên 28.633.178 lượt năm 2010 và tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú từ 644.984 lượt năm 2000 tăng lên 1.162.704 lượt năm

2010 Với tổng số lần bệnh nhân khám và tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú

từ năm 2000 đến năm 2010 như trên trong khi số lượng cơ sở y tế tăng không đáng kể thì dẫn đến tình trạng quá tải ở các cơ sở khám chữa bệnh xảy ra thường xuyên, rất căng thẳng và có chiều hướng diễn biến xấu hơn, ảnh hưởng đến chất lượng công tác khám chữa bệnh Cho nên về lâu dài, đòi hỏi thành phố phải đầu

tư nhiều hơn cho các cơ sở y tế, giúp các cơ sở y tế có kinh phí để cơi nới, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm máy móc thiết bị hiện đại để giải quyết tình trạng quá tải ở các cơ sở y tế

2.2.3 Chi ngân sách ngành y tế Thành phố Hồ Chí Minh:

Trong thời gian qua, tuy tình hình kinh tế khó khăn nhưng nhà nước vẫn luôn coi trọng công tác chăm sóc sức khỏe của người dân Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Ngày đăng: 01/09/2020, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ADB (2006), Tài liệu Hội thảo về PPP tại Việt Nam, tháng 10/2006 Khác
3. Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư Khác
12. WB (2008), Public Private Partnership in Infrastructure Days 2008, USA Khác
13. www.chinhphu.vn (của Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) Khác
14. www.gso.gov.vn (của Tổng cục Thống kê Việt Nam) Khác
15. www.hochiminhcity.gov.vn (của Thành phố Hồ Chí Minh) Khác
16. www.medinet.hochiminhcity.gov.vn (của Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh) Khác
17. www.moh.gov.vn (của Bộ Y Tế Việt Nam) Khác
18. www.mpi.gov.vn (của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam) Khác
19. www.partnershipsuk.org.uk (của Cơ quan hợp tác Anh Quốc) Khác
20. www.ppp.gov.za (của Bộ Tài chính Nam Phi) Khác
21. www.pso.hochiminhcity.gov.vn (của Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w