Để có thể cạnh tranh với các tổ chức trung gian tài chính khác đòi hỏi NHTM phải áp dụng đa dạng hoá phương thức trả lãi đi đôi với dự thưởng để thu hút khách hàng và đưa ra nhiều phương
Trang 1T RƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ HỒNG HOA
CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC
TP H Ồ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 2T RƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
LÊ HỒNG HOA
CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành : Tài Chính - Ngân hàng
Mã s ố : 60340201
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG
TP H Ồ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 3
Tôi xin cam đoan rằng đây là toàn bộ nội dung và số liệu trong luận văn thạc sĩ này
là do tôi nghiên cứu và thực hiện, có sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn, đồng thời các thông tin,
số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chính xác
An Giang, ngày 26 tháng 10 năm 2012
Tác giả
Lê Hồng Hoa
Trang 4
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Huy Hoàng, người thầy
đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, góp ý trong suốt quá trình thực hiện đề tài Những ý kiến và hướng dẫn của thầy luôn làm cho đề tài được hoàn chỉnh hơn Xin chân thành cám ơn quý thầy, cô Khoa Kinh tế Tài chính - Ngân hàng, Khoa Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, các bạn lớp cao học khóa 19 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian khóa học
Xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban ngành đặc biệt Ngân hàng nhà nước tỉnh An Giang và Ban giám đốc Ngân hàng Eximbank An Giang Đồng thời, tôi rất cám ơn các cô chú, anh chị đã nhiệt tình cung cấp thông tin có liên quan đến đề tài trong các cuộc phỏng vấn, khảo sát để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu này
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn anh Cao Văn Hơn, người luôn giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc xử lý số liệu để đề tài được hoàn chỉnh và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Lê Hồng Hoa
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
3.1 Địa bàn nghiên cứu 2
3.2 Giới hạn thời gian nghiên cứu 3
3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
6 Cấu trúc đề tài 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Khái niệm về Ngân hàng Thương mại 7
1.2 Những vấn đề chung về huy động vốn 7
1.2.1 Khái niệm huy động vốn: 7
1.2.2 Các nguyên tắc huy động vốn 7
1.2.3 Các sản phẩm huy động vốn đối với khách hàng là cá nhân 10
1.2.4 Sự cần thiết của việc huy động vốn 15
1.2.5 Các loại rủi ro trong huy động vốn 15
1.2.6 Xác định chi phí và rủi ro nguồn vốn huy động 17
1.2.7 Các tiêu chí đo lường và đánh giá hiệu quả huy động vốn 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các NHTM 20
1.3.1 Yếu tố từ phía các NHTM: 20
1.3.2 Yếu tố từ phía khách hàng: 23
1.3.3 Yếu tố khách quan từ môi trường: 25
Trang 6CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 28
2.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 28
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên 28
2.1.2 Về tình hình kinh tế - xã hội 28
2.2.Tình hình hoạt động của các NHTM ở An Giang 32
2.2.1 Hệ thống NHTM hoạt động trên địa bàn An Giang 32
2.2.2.Tình hình hoạt động của NHTM ở An Giang: 33
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG GỬI TIỀN VÀ LƯỢNG TIỀN GỬI CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐIẠ BÀN TỈNH AN GIANG 42
3.1 Mô tả mẫu khảo sát 43
3.1.1 Thông tin chung 43
3.1.2 Sự khác biệt giữa nhóm có gửi tiền và không gửi tiền 44
3.1.3 Mục đích gửi tiền của cá nhân tại NHTM 50
3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng gửi tiền của khách hàng cá nhân ở An Giang 51
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 51
3.2.2 Kết quả mô hình hồi quy 54
3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của cá nhân ở An Giang 57
3.3.1 Mô hình nghiên cứu 57
3.3.2 Kết quả mô hình hồi quy 62
3.4 Phân tích các yếu tố khách hàng quan tâm khi gửi tiền ở các NHTM 65
CHƯƠNG 4 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THU HÚT NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI CÁC NHTM 69
4.1 Kiến nghị đối với NHTM 70
4.1.1 Phân nhóm khách hàng nhằm đưa ra sản phẩm thích hợp 70
4.1.2 Đa dạng sản phẩm 71
4.1.3 Lãi suất cạnh tranh 72
4.1.4 Các chương trình khuyến mãi thu hút khách hàng 72
4.1.5 Hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng 73
Trang 74.1.6 Phát triển công nghệ hiện đại nhằm tối đa hóa tiện ích cho khách hàng 73
4.1.7 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên 73
4.1.8 Mở rộng mạng lưới hoạt động và chỉnh trang trụ sở khang trang 74
4.1.9 Thực hiện tốt công tác tiếp thị ngân hàng 74
4.1.10 Xây dựng hình ảnh và thương hiệu ngân hàng 75
4.2 Kết luận 75
DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang Bảng 2-1: Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang từ năm 2006 – 2010 28
Bảng 2-2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2012: 30
Bảng 2-3: Tình hình hoạt động tín dụng từ năm 2009 – 2011 34
Bảng 2-4: Dư nợ phân theo nhóm nợ đến tháng 06 năm 2012 41
Bảng 3-1: Thông tin tổng quát về mẫu khảo sát 43
Bảng 3-2: Cơ cáu về tình trạng gửi tiền trong mẫu quan sát 44
Bảng 3-3: Nghề nghiệp của người tham gia trong mẫu quan sát 44
Bảng 3-4: Giới tính của mẫu quan sát 46
Bảng 3-5: Tình trạng hôn nhân của mẫu quan sát 47
Bảng 3-6: Trình độ học vấn của mẫu quan sát 47
Bảng 3-7: Số lượng người phụ thuộc vào cá nhân được quan sát 49
Bảng 3-8: Yếu tố có người quen trong Ngân hàng của mẫu quan sát 49
Bảng 3-9: Sự khác biệt giữa cá nhân có gửi tiền và không gửi tiền 49
Bảng 3-10: Tổng hợp mục đích gửi tiền của cá nhân 50
Bảng 3-11: Các biến và kỳ vọng về dấu của các hệ số tương quan 54
Bảng 3-12: Kết quả hồi quy Probit các yếu tố tác động đến khả năng gửi tiền 54
Bảng 3-13: Các biến và kỳ vọng về dấu của mô hình 2 61
Bảng 3-14: Kết quả mô hình Tobit các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi 62
Bảng 3-15: Các yếu tố khách hàng quan tâm khi gửi tiền tại các NHTM 65
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2-1: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo TCTD 36
Hình 2-2: Tình hình huy động vốn đến tháng 06/2012 của nhóm NHTM Nhà nước 37
Hình 2-3: Tình hình huy động vốn đến tháng 06/2012 của nhóm NHTM Cổ phần 38 Hình 2-4: Cơ cấu cho vay phân theo hệ thống các TCTD 39
Hình 2-5: Tình hình cho vay đến tháng 06/2012 của nhóm NHTM Nhà nước 39
Hình 2-6: Tình hình cho vay đến tháng 06/2012 của nhóm NHTM Cổ phần 40
Hình 3-1: Sự khác biệt về độ tuổi của người có gửi tiền và không gửi tiền 46
Hình 3-2: Sự khác biệt trong tổng tài sản của người gửi tiền và không gửi tiền 48
Hình 3-3: Sự khác biệt trong thu nhập của người có gửi tiền và không gửi tiền 48
Hình 3-4: Sự khác biệt về khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm giữa hai nhóm quan sát 48
Hình 3-5: Lượng tiền gửi trong mô hình Tobit 58
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Đặc thù của NHTM Việt Nam là nhiều về số lượng, nhưng nhỏ về quy mô, tính đến thời điểm tháng 6/2011, tại Việt Nam có 5 NHTM nhà nước, 1 ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, 37 NHTM cổ phần, 54 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 48 văn phòng đại diện nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính
Tổng số chi nhánh phòng giao dịch của các TCTD lên tới 9.665, bình quân 8.898 người dân/chi nhánh, phòng giao dịch1 Vì vậy, các NHTM Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động huy động vốn, cho vay, bảo lãnh dưới áp lực cạnh tranh Ngoài ra, quy mô vốn nhỏ khiến cho các NHTM Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu về vốn theo quy định của tiêu chuẩn Basel và có tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn thấp
Vì vậy, nhu cầu huy động vốn là một yêu cầu cấp bách đối với mọi TCTD Lúc đầu hầu hết các ngân hàng thi nhau tăng lãi suất thậm chí vượt trần lãi suất thông qua việc chi khuyến mãi, chi tiếp thị, chi hoa hồng môi giới huy động vốn, các hình thức khuyến mãi Tất cả các chiêu thức chi “phá rào”, nhất là hoa hồng môi giới được vận dụng thái quá, gây nên sự lộn xộn, bát nháo trong lãi suất huy động vốn để tranh thủ lượng vốn nhàn rỗi còn sót lại trong nền kinh tế Nhưng trái ngược với sự mong đợi của các NHTM, việc đua nhau tăng lãi suất của các NHTM không thu hút được nhiều lượng tiền nhàn rỗi từ dân cư mà chỉ làm chảy dòng tiền từ NHTM này sang ngân hàng khác Còn phần lớn tiền nhàn rỗi của dân cư vẫn đổ vào các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn như thị trường vàng, thị trường chứng khoán, bất động sản, hụi,
Do vậy, các ngân hàng đã mạnh dạn nâng cao năng lực huy động vốn của mình để thu hút vốn từ các kênh đầu tư này Giải pháp được thực hiện sẽ nhanh chóng làm gia tăng lượng khách hàng đến với ngân hàng, nâng cao uy tín của các ngân hàng, góp phần thúc đẩy hoạt động huy động vốn tăng nhanh Hiện nay việc gửi tiền vào ngân hàng đối với những người có thu nhập thấp, trình độ hạn chế và khu vực nông thôn thì việc gửi tiền tại các TCTD vẫn còn là một cái gì đó xa vời Xuất phát từ thực tế trên các Ngân hàng cần phải có chiến lược để tăng cường khả
1 Báo cáo NH Nhà nước Việt Nam đến năm 2011
Trang 10năng huy động vốn thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư Ngoài việc phát triển dịch vụ ngân hàng đa dạng và phong phú như hiện nay thì cũng cần có những chính sách vận động và phương hướng tiếp thị phát triển thị trường một cách
có trọng tâm để cho họ thấy được sự an toàn, tiện ích, chính xác và thân thiện của
hệ thống NHTM
Trong thời kỳ hội nhập với áp lực cạnh tranh cùng với sự có mặt của nhiều ngân hàng khiến cho công tác huy động vốn của mỗi ngân hàng trở nên càng khó khăn, mà nguồn vốn là một trong những yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng
Vì vậy, làm thế nào để phát huy tối đa khả năng huy động vốn tại địa phương để đáp ứng nhu cầu vay và cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là vấn đề cần
được quan tâm hơn nữa Do đó, tôi chọn đề tài “Phân tích các yếu tố tác động đến
khả năng gửi tiền và lượng tiền gửi của khách hàng cá nhân tại các NHTM trên điạ bàn tỉnh An Giang” nhằm nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của
khách hàng cá nhân khi gửi tiền tại các NHTM ở An Giang Từ đó, đóng góp một
số giải pháp để các NHTM có những chính sách hợp lý khai thác được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư nhằm góp phần ổn định và phát triển hoạt động ngân
hàng trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là tập trung nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền và lượng tiến gửi của khách hàng là cá nhân ở các NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư một cách hiệu quả và triệt để hơn Các mục tiêu cụ thể như sau:
Đánh giá thực trạng huy động vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh An Giang
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gửi tiền và lượng tiền gửi của khách hàng cá nhân vào NHTM
Trên cở sở các phân tích trên, đề tài đưa ra một số giải pháp gia tăng nguồn vốn huy động của các NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Địa bàn nghiên cứu
Trang 11Do đề tài nghiên cứu về khả năng gửi tiền và lượng tiền gửi của cá nhân, nên
đã chọn mẫu ngẫu nhiên thông qua phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp 250 cá nhân trên địa bàn tỉnh An Giang
3.2 Giới hạn thời gian nghiên cứu
Đề tài tập thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 11/2011 đến 08/2012
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các cá nhân có giao dịch gửi tiền
và sẽ gửi tiền ở các NHTM Đối tượng này có độ tuổi, thu nhập, ngành nghề kinh doanh, trình độ học vấn … khác nhau
4 Phương pháp nghiên cứu
4 1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài này được thu thập từ các
tài liệu, báo cáo của NHNN tỉnh An Giang, Cục Thống kê, các bài viết đăng trên
các tạp chí, websites từ năm 2010 đến nay
Số liệu sơ cấp: Được thu thập theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thông
qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp các dân cư trên địa bàn với tổng số mẫu là 250 mẫu trong thời gian từ tháng 11/2011 đến tháng 08/2012 Các mẫu được lựa chọn nhẫu nhiên có phân tầng ỡ 10 huyện trong tỉnh An Giang, trong đó mỗi huyện có tối thiểu 10 mẫu
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá thực trạng huy động vốn của các NHTM ở An Giang Đề tài đã sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và phương pháp thống kê mô
tả
Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gửi tiền của cá nhân vào ngân hàng Đề tài sử dụng phương pháp phân tích kinh tế lượng bằng mô hình Probit Mô hình này ước lượng xác suất xảy ra của biến phụ thuộc như là một hàm số của các biến độc lập
Mô hình Probit được trình bày như sau:
Trang 12=
+ +
j
i ij j
y
1 0
0ykhi 1y
* i
* i i
* yi: là biến số đo lường quyết định gửi tiền của cá nhân theo hai khả
năng là có gửi tiền (nhận giá trị 1) và không có gửi tiền (nhận giá trị 0)
* xi : là các biến số có ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của cá nhân
Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của khách hàng Đề tài
sử dụng phương pháp phân tích kinh tế lượng bằng mô hình Tobit Mô hình này nghiên cứu mối quan hệ tương quan giữa số lượng tiền gửi biến động phụ thuộc vào các biến độc lập
Mô hình Tobit được trình bày như sau:
Trong đó:
Biến y là lượng tiền gửi của cá nhân tại ngân hàng
Xi là biến độc lập hay các nhân tố ảnh hưởng đến lượng gửi tiền của cá nhân bao gồm các biến như: tuổi, thu nhập cá nhân, tổng giá trị tài sản, tình trạng hôn nhân và giới tính của cá nhân
β: là hệ số hồi quy của mô hình
Mô hình Tobit được sử dụng để phân tích trong lý thuyết kinh tế lượng lần đầu tiên bởi nhà kinh tế học James Tobin (1958) Ông đã áp dụng mô hình này vào phân tích chi tiêu của hộ gia đình đối với xe hơi Mô hình này còn có tên gọi khác là
mô hình hồi qui chuẩn được kiểm duyệt hay mô hình hồi qui có biến phụ thuộc bị chặn bởi vì có một số quan sát của biến y* bị chặn hay được giới hạn
Khung nghiên cứu như sau :
Trang 135 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Qua kết quả nghiên cứu, tác giả mong muốn sẽ giúp cho các NHTM ở An Giang nhận biết rõ hơn đối tượng khách hàng có khả năng gửi tiền vào ngân hàng Đồng thời, giúp cho NHTM có cơ sở đánh giá lại những sản phẩm, dịch vụ về huy động vốn mà ngân hàng đang có Qua đó, NHTM có cơ sở để cải tiến sản phẩm, dịch vụ huy động vốn phù hợp với từng đối tượng nhóm khách hàng và huy động được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế Bên cạnh đó, sau khi ngân hàng
có những cải tiến trong nghiệp vụ huy động sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng ngày càng cao
6 Cấu trúc đề tài
Nội dung của đề tài bao gồm 4 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về huy động vốn ở các NHTM
Mô hình nghiên cứu
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gửi tiền bằng
mô hình Probit và lượng tiền gửi của khách hàng cá nhân
bằng mô hình Tobit
Cơ sở lý thuyết
NHTM và nguồn vốn huy động
Số liệu nghiên cứu
Số liệu thứ cấp
Số liệu sơ cấp
Ý kiến chuyên gia
Trang 14Chương 2: Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu và tình hình huy động vốn trên địa bàn tỉnh An Giang
Chương 3: Phân tích các nhân tố tác động đến quyết định gửi tiền và lượng tiền gửi của khách hàng cá nhân tại các NHTM trên địa bàn An Giang
Chương 4: Kết luận - kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về Ngân hàng Thương mại
Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là hoạt động mà trong đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật
1.2 Những vấn đề chung về huy động vốn
1 2.1 Khái niệm huy động vốn:
Huy động vốn là việc Ngân hàng sử dụng uy tín, chất lượng dịch vụ để thu hút tiền gửi của cá nhân, tổ chức có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng đối với mỗi ngân hàng và chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn Ngân hàng Nguồn vốn này thực chất là tài sản của các chủ sở hữu mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng, đây là nguồn tiền đang nhàn rỗi của xã hội được ngân hàng huy động để tạo nên nguồn vốn cung cấp cho nền kinh tế Nguồn vốn huy động của ngân hàng gồm:
Nguồn vốn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng
Nguồn vốn từ tiền gửi định kỳ như tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh tế, cá nhân, tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân
Nguồn vốn từ phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi
Ngân hàng được sử dụng nguồn vốn huy động để hoạt động kinh doanh nhưng phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ và kịp thời cho khách hàng nên cần phải sử dụng nguồn vốn này một cách an toàn và hiệu quả nhất
1.2.2 Các nguyên tắc huy động vốn
Thứ nhất, tuân thủ pháp luật trong huy động vốn:
Các NHTM không được huy động vốn quá nhiều so với vốn tự có nhằm đảm bảo khả năng chi trả về sau Bên cạnh đó, các NHTM phải áp dụng lãi suất huy động phù hợp với cơ chế quản lý về lãi suất của NHNN, bởi vì lãi suất là một trong những công cụ để NHNN kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông, bình ổn giá cả và chống lạm phát
Trang 16Bên cạnh đó, các NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả gốc lãi cho khách hàng
vô điều kiện ( bất kể người đi vay có sử dụng vốn có hiệu quả hay không ) do ngân hàng không phải là tổ chức trung gian tài chính thuần túy mà là trung gian tín dụng (tài chính là sự tài trợ, sự cung cấp vốn, sự cấp phát theo tính chất không có sự hoàn trả Đối tượng nhận được sự trợ giúp về tài chính không có nghĩa vụ hoàn trả mà chỉ
có nghĩa vụ sử dụng tài chính đúng mục đích, đúng yêu cầu Tín dụng là sự tín nhiệm, lòng tin, là quan hệ vay mượn theo nguyên tắc hoàn trả ) NHTM phải tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành Với việc quy định các NHTM tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm mục đính bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền Cụ thể, nếu ngân hàng nơi người gửi tiền bị phá sản, thì người gửi tiền được công ty bảo hiểm đền bù một khoản tiền nhất định ( hiện nay là 50.000.000 đồng / tổng tiền gửi của một khách hàng ) Đồng thời các ngân hàng không được cạnh tranh bất hợp lý (thông tin giả, khuyến mãi bất hợp pháp…) gây ra tâm lý lo sợ, mất lòng tin của người dân đối với ngân hàng Khi niềm tin của người dân không còn thì họ sẽ rút tiền ồ ạt dẫn đến ngân hàng sẽ gặp rủi ro thanh khoản đi đến phá sản
Thứ hai, các NHTM phải đảm bảo được hai yêu cầu chi phí thấp và quy
mô cao của nguồn vốn huy động Mục đích hoạt động của NHTM là vì lợi nhuận,
do đó, các NHTM phải đảm bảo được hai yêu cầu: chi phí thấp và quy mô cao của nguồn vốn huy động Với chi phí thấp và quy mô cao sẽ giúp ngân hàng có nguồn vốn rẻ và đủ lớn để tài trợ cho các dự án qua việc cấp phát tín dụng đồng thời làm cho biên độ chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra lớn từ đó tạo lợi nhuận cao
Để có thể cạnh tranh với các tổ chức trung gian tài chính khác đòi hỏi NHTM phải áp dụng đa dạng hoá phương thức trả lãi đi đôi với dự thưởng để thu hút khách hàng và đưa ra nhiều phương thức huy động để hạn chế rủi ro ( rủi ro thanh khoản khi sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn do không huy động được nguồn vốn dài hạn ) và phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng
Do nhu cầu của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng không chỉ là được an toàn và hưởng lãi, mà còn mong muốn sử dụng các dịch vụ của ngân hàng ( chuyển tiền, thu tiền hộ, chi hộ ) nên NHTM cần kết hợp chặt chẽ giữa huy động vốn với
Trang 17hiện đại hoá dịch vụ ngân hàng Với sự phát triển của dịch vụ ngân hàng sẽ làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, từ đó thu hút được lượng tiền gửi càng nhiều
Thứ ba, công tác huy động vốn phải đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu thanh khoản của ngân hàng hạn chế đến mức tối đa sự sụt giảm đột ngột về nguồn
vốn của ngân hàng Hoạt động của ngân hàng dựa vào chữ tín Có tin tưởng vào sự quản lý và khả năng trả nợ của ngân hàng, thì người dân mới gửi tiền Vì vậy, để tạo
và giữ chữ tín của mình đối với khách hàng, ngân hàng phải đảm bảo khả năng thanh toán, đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu rút tiền trong mọi tình huống của người dân Bên cạnh việc đảm bảo tốt khả năng thanh khoản, ngân hàng cần nắm bắt kịp thời những thông tin đồn “ nhảm ” về hoạt động kinh doanh của ngân hàng và tìm cách ngăn chặn chúng Bởi vì, nếu không kịp thời ngăn chặn những thông tin đồn
“nhảm” về hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ gây tâm lý sợ mất tiền trong người dân Từ tâm lý lo sợ đó, người dân sẽ đến rút tiền hàng loạt, khi đó ngân hàng không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền của người dân ( do nguồn vốn huy động
đã sử dụng cho vay chưa thu hồi kịp ) Trong trường hợp đặc biệt khi có sự cố xảy
ra, ngân hàng phải có phương án đáp ứng nhu cầu thanh khoản kịp thời ( vay trên thị trường tiền tệ, vay NHNN ) để tránh tâm lý lây lan cho rằng ngân hàng mất khả
năng thanh toán càng rộng trong người dân
Thứ tư, các NHTM phải sử dụng các công cụ huy động vốn đa dạng để
hạn chế rủi ro và phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng
Thứ năm, các cam kết với khách hàng: đảm bảo hoàn trả gốc và lãi cho
khách hàng vô điều kiện Tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành, giữ
bí mật số dư và hoạt động của tài khoản khách hàng Không được che dấu các khoản tiền lớn và bất thường (thực hiện các quy định của Pháp lệnh Chống rửa tiền)
Cuối cùng, các NHTM phải đảm bảo tiêu chí về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu:
Tỷ lệ này là một thước đo độ an toàn vốn của Ngân hàng Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro
của ngân hàng
Vôn cấp I + vốn cấp II H1= x 100 %
Trang 18Tài sản đã điều chỉnh rủi ro
Tỷ lệ này thường được dùng để bảo vệ người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính ngân hàng Bằng
tỉ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản
nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ở Việt Nam tỉ lệ này hiện đang là 8%, giống như chuẩn mực Basel mà các
hệ thống ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến
Khi tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn: vốn cấp I(vốn nòng cốt) và vốn cấp II(vốn bổ sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn cao hơn Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở nên, các ngân hàng còn phải đảm bảo tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I
1.2.3 Các sản phẩm huy động vốn đối với khách hàng là cá nhân
1.2.3.1 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Đây là cách thức huy động vốn chủ yếu của các NHTM hiện nay và đang ngày càng được đa dạng hóa các loại tiền gửi tiết kiệm này Hiện nay chủ yếu gồm các loại tiền gửi sau:
(i) Tiết kiệm không kỳ hạn: Là tiền gửi khách hàng có thể gửi và rút ra bất cứ
lúc nào mà không cần báo trước cho ngân hàng Tiền gửi này có đặc điểm sau:
Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiết kiệm này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn mục tiêu sinh lợi
Điểm khác biệt giữa tài khoản tiền gửi cá nhân với tài khoản tiền gửi tiết kiệm là khi rút tiền khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm và chỉ được thực hiện
Trang 19các giao dịch gửi và rút tiền chứ không thể thực hiện các giao dịch thanh toán như tài khoản tiền gửi thanh toán
Mặc dù, số dư trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thường không lớn (do lãi suất thấp) nhưng nếu ngân hàng thu hút được số lượng khách hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn huy động qua hình thức tiền gửi này có thể trở nên lớn đáng kể
(ii) Tiết kiệm định kỳ: Là loại tiền gửi mà trong đó có sự cam kết gửi tiền giữa
khách hàng và ngân hàng trong một kỳ hạn nhất định Đặc điểm tiền gửi này như sau:
Đối với loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ, người gửi có một số tiền nhàn rỗi trong thời gian dài, họ thường gửi theo hình thức này để được lãi suất cao Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với loại tiền gửi này song có thể thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường được hưởng lãi suất
cố định Tuy nhiên, giữa các loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau Tiền gửi có kỳ hạn với thời gian càng lâu, lãi suất sẽ càng cao
Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm định kỳ được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý Tiền gửi tiết kiệm có
kỳ hạn khác tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào Đối với tiền gửi tiết kiệm định kỳ khách hàng chỉ được rút tiền gửi theo đúng kỳ hạn đã cam kết, không được phép rút tiền trước hạn Tuy nhiên, để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền ngân hàng cho phép khách hàng được rút tiền gửi trước hạn nếu có nhu cầu, nhưng khách hàng chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn, hoặc lãi suất kỳ hạn theo thời hạn gửi thực tế
Trang 20Mục tiêu quan trọng của khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ Do đó, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn lãi suất trả cho loại tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại
Căn cứ vào thời hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn linh hoạt từ 1-13 tháng hoặc lâu hơn
Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia thành:
- Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ
- Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ
- Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ (tháng hoặc quý)
(iii) Các loại tiết kiệm khác:
Ngoài hai loại tiền gửi tiết kiệm chính là tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm định kỳ hầu hết các NHTM đều thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình luôn được đổi mới theo nhu cầu khách hàng và tạo ra rào cản dị biệt để chống lại sự bắt chước của các đối thủ cạnh tranh
1.2.3.2 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi mang tính đặc thù riêng có của NHTM, là điểm khác biệt giữa NHTM và các TCTD phi ngân hàng Chính vì đặc thù này, NHTM thường được gọi là tổ chức nhận tiền gửi Trong khi các TCTD phi ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận tiền gửi
(i) Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Là loại tiền gửi mà người gửi
được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt không bị ràng buộc về mặt thời gian,
là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi
là tài khoản tiền gửi thanh toán Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng,
cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả về mua bán hàng hoá, dịch vụ, nhu cầu nhận chuyển tiền vào tài
Trang 21khoản, như nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nước ngoài hoặc từ cá nhân khác trong nước Loại tiền gửi này có đặc điểm:
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu
Tiền gửi không kỳ hạn không phải là những khoản tiền để dành mà là một bộ phận tiền đang chờ để thanh toán Do đó, về mặt pháp lý khi gửi tiền không kỳ hạn theo tài khoản thanh toán đã thể hiện một hợp đồng mặc nhiên giữa khách hàng với ngân hàng Trong đó, ngân hàng có trách nhiệm thực hiện các khoản chi trả cho khách hàng một cách kịp thời chính xác trong phạm vi số dư
Khi gửi tiền vào tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nào và không cần báo trước nên khi ngân hàng sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh thì rủi ro cao Do đó, ngân hàng phải dự trữ nhiều hơn so với các loại tiền gửi khác Chính vì vậy, đối với loại tiền gửi này ngân hàng trả lãi suất thấp
Mục đích của người gửi không phải là để được hưởng lợi tức mà để được ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt Chính vì vậy, lãi suất không phải là công cụ để thu hút nguồn vốn này, mà công cụ chính là dịch vụ
mà ngân hàng cung cấp kèm theo phải là dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn, nhanh chóng và chính xác Loại này tuy biến động thường xuyên nhưng nó vẫn luôn có một số dư ổn định do số tiền gửi vào và rút ra trong một thời kỳ có thể bù trừ cho nhau Vì vậy, nếu sử dụng để làm nguồn vốn cho vay sẽ mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
Mặc dù số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của từng khách hàng thường không lớn, nhưng do là trung tâm tập trung tiền tệ và cung cấp dịch vụ thanh toán, nên NHTM có số lượng khách hàng rất đông làm cho tổng số vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của tất cả khách hàng trở nên lớn đáng kể
Trang 22(ii) Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút ra khi đáo
hạn Tuy nhiên, trong trường hợp bình thường các ngân hàng vẫn cho khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện chỉ được hưởng lãi không kỳ hạn, hoặc hưởng lãi có
kỳ hạn tương ứng với thời hạn gửi thực tế Loại tiền gửi này có đặc điểm:
Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu, chủ tài khoản phải làm thủ tục để rút tiền Tuy không thuận lợi cho khách hàng bằng hình thức tiền gửi thanh toán không kỳ hạn, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy theo độ dài của kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất phải càng cao
Tiền gửi có kỳ hạn có sự ổn định tương đối cao Các NHTM thường sử dụng
để cho vay trung, dài hạn Tiền gửi có kỳ hạn có chi phí sử dụng vốn khá cao Người gửi tiền có kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lãi, ngân hàng muốn tăng khoản này phải trả lãi thoả đáng sao cho người gửi vừa bảo toàn vốn vừa có được một khoản thu nhập hợp lý từ tiền gửi của mình Do đó, lãi suất hấp dẫn, lãi suất cao là đòn bẩy, là công cụ chủ yếu để thu hút nguồn vốn này
(iii) Tài khoản vãng lai: Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, chủ tài khoản được
quyền ra lệnh cho ngân hàng chi trả trong phạm vi số tiền đã gửi vào Còn đối với tài khoản vãng lai, thường áp dụng với khách hàng có uy tín, ngân hàng có thể cho thấu chi đến hạn mức phù hợp với thu nhập bình quân của chủ tài khoản nhằm đảm bảo trả nợ vay Tài khoản vãng lai là công cụ riêng có của ngân hàng ở tầm vi mô
Để mở tài khoản vãng lai, ngân hàng và khách hàng ký một hợp đồng Trong đó, hai bên thỏa thuận về hạn mức cho vay, thời hạn, lãi suất, các hình thức đảm bảo như tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba
1.2.3 3 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của NHTM phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa NHTM và người mua Giấy tờ có giá có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau
Trang 23Căn cứ vào quyền sở hữu có thể chia giấy tờ có giá thành hai loại:
Giấy tờ có giá ghi danh: là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có ghi tên người sở hữu
Giấy tờ có giá vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ, không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ nó
Căn cứ vào thời hạn, giấy tờ có giá có thể chia thành hai loại:
Giấy tờ có giá ngắn hạn
Giấy tờ có giá dài hạn
1.2.4 Sự cần thiết của việc huy động vốn
Đối với hoạt động của một ngân hàng thương mại, việc huy động vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì các NHTM muốn tồn tại thì phải huy động vốn và phải đẩy mạnh việc huy động vốn nếu không có nguồn vốn huy động mà chỉ có nguồn vốn tự có thì một ngân hàng thương mại không thể tồn tại, hoạt động và cạnh tranh được Mặt khác, nó còn là xương sống, là yếu tố xuất phát để đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ khác của một NHTM như hoạt động tín dụng, thanh toán quốc tế và các dịch vụ khác của một ngân hàng
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng Không có nghiệp vụ huy động vốn xem như không có hoạt động của ngân hàng thương mại Vì một NHTM khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác Để có vốn phục vụ cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng Do vậy, nghiệp vụ huy động vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng
1.2.5 Các loại rủi ro trong huy động vốn
Việc lựa chọn nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào chi phí của mỗi nguồn mà còn phụ thuộc vào rủi ro mà
Trang 24mỗi nguồn vốn huy động mang lại Kinh nghiệm thực tế cho thấy, nguồn vốn huy động với chi phí thấp thì có thể có rủi ro cao hơn và ngược lại Để đánh giá rủi ro của các loại vốn huy động, mỗi ngân hàng cần phải định lượng nhiều chiều hướng khác nhau Rủi ro huy động vốn bao gồm các loại chủ yếu sau:
Rủi ro lãi suất
Đối với ngân hàng chưa có cơ cấu đầu vào - đầu ra hợp lý, rủi ro lãi suất tác động đến ngân hàng khi ngân hàng áp dụng lãi suất cố định cho các nguồn vốn huy động Khi lãi suất thị trường giảm, ngân hàng sẽ bị thiệt hại do trước đó đã huy động những nguồn vốn dài hạn với lãi suất cao Khi lãi suất thị trường tăng, người gửi tiền sẽ thấy lãi suất mà ngân hàng trả cho họ không xứng đáng nên họ sẽ rút tiền
để đầu tư vào lĩnh vực khác có lợi hơn như kinh doanh chứng khoán, đầu tư bất động sản … Như vậy, có thể thấy rủi ro lãi suất thường xuất hiện ở những nguồn vốn huy động với thời hạn dài
Rủi ro thanh khoản
Rủi ro này liên quan đến sự biến động của nguồn vốn huy động ngân hàng
Nó xảy ra trong trường hợp: những tin đồn thất thiệt về ngân hàng ( thường là đối thủ của các ngân hàng với nhau), tình trạng thất nghiệp gia tăng, các doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa … Khi đó, xảy ra tình trạng rút tiền hàng loạt của khách hàng làm cho lượng tiền gửi của ngân hàng giảm đi, buộc ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn khác có chi phí cao hơn để bù đắp
Rủi ro vốn chủ sở hữu
Rủi ro xảy ra khi vốn huy động quá lớn so với vốn chủ sở hữu, các nhà đầu
tư sẽ lo lắng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng và có thể họ sẽ rút tiền khỏi ngân hàng đó
Rủi ro kỳ hạn
Rủi ro xảy ra khi không có sự gắn kết nhịp nhàng giữa bộ phận nguồn vốn và
bộ phận tín dụng dẫn đến việc các hợp đồng tín dụng được ký kết tới tấp, chỉ đến khi đến thời điểm giải ngân không đủ ảnh hưởng đến tính thanh khoản của Ngân hàng
Rủi ro ngoại hối
Trang 25Là loại rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng một loại ngoại tệ nào đó, mà tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất cho việc chi trả trong tương lai
1.2.6 Xác định chi phí và rủi ro nguồn vốn huy động
Trong môi trường cạnh tranh khóc liệt ngày nay, NHTM cần phải biết mỗi khoản mục chi phí bao gồm những gì Đối với hầu hết các NHTM, chi phí trả lãi tiền gửi cho nguồn vốn là cao nhất trên cả chi phí nhân lực, chi phí quản lý và các chi phí khác Do vậy, muốn tăng thu nhập thì việc hạ thấp chi phí huy động vốn là một việc cần thiết, thường xuyên của các NHTM Tuy nhiên, việc hạ thấp chi phí trả lãi là một vấn đề nan giải vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức cung tiền gửi, khả năng cạnh tranh của ngân hàng, lãi suất cho vay, sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động …
Tìm ra phương pháp xác định chi phí huy động vốn thích hợp rất hữu ích cho ngân hàng để xây dựng một chính sách kinh doanh có hiệu quả Có 3 phương pháp xác định chi phí huy động vốn thường được các ngân hàng áp dụng sau:
Phương pháp chi phí vốn bình quân
Đây là phương pháp thông dụng nhất để tính chi phí vốn của NHTM Phương pháp này chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã huy động trong quá khứ và xem xét mức lãi suất mà thị trường đòi hỏi ngân hàng phải trả cho mỗi nguồn vốn huy động
Chi phí trả lãi bình quân = Tổng chi phí trả lãi
Tổng nguồn vốn huy động bình quân
Việc tính toán như trên là chưa hoàn chỉnh, vì nó chỉ dừng lại ở mức độ xem xét giá vốn của nguồn vốn, nhiều chi phí khác có liên quan đến huy động vốn vẫn chưa được đề cập
Chi phí trả lãi: Chi phí này bao gồm tiền lương và các chi phí quản lý gián tiếp, mức dự trữ bắt buộc theo qui định, phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí dự phòng rủi
ro tín dụng Như vậy, tỷ suất sinh lợi tối thiểu để bù đắp chi phí được tính như sau:
Tỷ suất sinh lợi tối thiểu để
bù đắp chi phí =
Tổng chi phí lãi + Chi phí phi lãi Tổng tài sản Có sinh lời
Công thức trên có nghĩa là thu nhập từ các tài sản sinh lời tối thiểu phải bằng
tỷ lệ này để bù đắp tổng chi phí huy động vốn
Trang 26Tuy nhiên, để ngân hàng nhận được sự ủng hộ của cổ đông thì phải đảm bảo
có tỷ suất sinh lợi tối thiểu được tính như sau:
Tỷ suất sinh lợi
Phương pháp chi phí vốn biên tế (cận biên):
Phương pháp chi phí bình quân tuy có ưu điểm là đơn giản nhưng chỉ nhìn về quá khứ để xem xét chi phí và tỷ suất lợi nhuận tối thiểu đã được thực hiện của ngân hàng Trong khi đó, phần lớn các quyết định kinh doanh của ngân hàng là cho hiện tại và tương lai, phương pháp chi phí vốn biên tế nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp chi phí bình quân dựa trên nguyên tắc giá
Chi phí biên là chi phí bỏ ra để có thêm một đồng vốn huy động Căn cứ vào chi phí biên, ngân hàng xác định mức lợi nhuận tối thiểu cần đạt được từ những tài sản có thêm từ nguồn vốn này
Chi phí vốn biên tế = Chi phí trả lãi tăng thêm
Tổng số vốn huy động tăng thêm
Phương pháp chi phí huy động vốn tổng hợp
Thực tế cho thấy, mỗi một khoản vay của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau Do vậy, chi phí huy động vốn để đáp ứng khoản vay không thể tính riêng biệt mà cần phải được tính trên cở sở một hỗn hợp gồm nhiều nguồn vốn khác nhau Theo phương pháp này, việc tính toán chi phí nguồn vốn gồm các bước như sau:
Bước 1: Xác định những nguồn vốn dự kiến huy động để đáp ứng nhu cầu tài trợ
Bước 2: Xác định mức khả dụng của mỗi nguồn vốn
Bước 3: Xác định chi phí lãi và phi lãi của mỗi nguồn Do trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, chi phí tiếp thị cũng là một phần cấu thành vào giá vốn và
có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả huy động vốn, nên đây là một chi phí phát sinh cần được cân nhắc cẩn thận
Trang 27Bước 4: Tập hợp chi phí lãi của tất cả nguồn vốn xác định tương quan với tổng nguồn vốn huy động
1.2.7 Các tiêu chí đo lường và đánh giá hiệu quả huy động vốn
1.2.7.1 Đánh giá thông qua quy mô huy động vốn
Quy mô huy động vốn là sự phát triển của tổng doanh số huy động vốn vào cuối kỳ hay huy động vốn bình quân trong kỳ Đây là tiêu chí mang tính chiến lược
mà tổ chức đã đạt được và đưa kế hoạch định hướng trong năm tiếp theo, hay dùng
để đo lường so sánh sự phát triển mức huy động vốn của năm thực hiện với năm kế hoạch và một kỳ hạn này với một kỳ hạn khác Từ đó thấy được những hạn chế, tồn
tại và đưa ra những giải pháp chiến lược hạn trong việc phát triển huy động vốn
1.2.7.2 Đánh giá thông qua cơ cấu huy động vốn
Cơ cấu huy động vốn có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí như kỳ hạn, đối tượng, loại tiền gửi cụ thể như sau:
Phân theo kỳ hạn: Huy động vốn ngắn hạn là khoảng thời gian huy động
vốn của ngân hàng dưới mười hai tháng Huy động vốn trung và dài hạn là khoảng thời gian huy động vốn từ mười hai tháng trở lên
Phân theo đối tượng huy động vốn
Huy động vốn từ đối tượng khách hàng cá nhân, là những cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi gửi tiền vào ngân hàng để đảm bảo an toàn và sinh lời, hoặc thực hiện mục đích thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng
Huy động vốn từ đối tượng khách hàng doanh nghiệp, là các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, liên doanh, những tập đoàn kinh tế lớn có nguồn tiền chưa sử dụng vào mục đích kinh doanh thì gửi ngắn và dài hạn vào ngân hàng
để đảm bảo an toàn và sinh lợi
Đối tượng huy động vốn khách hàng là các định chế tài chính, là các công ty
bảo hiểm, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư tài chính, ngân hàng phát triển Phân theo loại tiền gửi:
Huy động vốn bằng Việt Nam đồng: phổ biến đối với khách hàng cá nhân vì
đa số lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư tồn tại dưới dạng VND
Trang 28Huy động vồn bằng ngoại tệ: hình thức này chủ yếu là nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế có nguồn thu từ xuất khẩu, trong đó chủ yếu là Đô la Mỹ, Bảng Anh và Euro
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các NHTM
1.3.1 Yếu tố từ phía các NHTM:
Lãi suất huy động: Đây có thể nói là nhân tố rất quan trọng nhằm tác động
vào các đối tượng khách hàng gửi tiền khác nhau Đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay Định giá nguồn vốn huy động tiền gửi là một việc làm quan trọng và khá phức tạp đối với các nhà quản trị ngân hàng Nếu ngân hàng phải trả một mức lãi suất lớn để thu hút và duy trì sự ổn định lượng tiền gửi của khách hàng thì phải chịu áp lực về việc gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, việc duy trì lãi suất cạnh tranh là điều khó tránh khỏi Các ngân hàng cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn vốn tiền gửi không chỉ với các ngân hàng khác mà còn với các tổ chức tiết kiệm, với các công cụ thị trường vốn
Chương trình khuyến mãi: Ngoài yếu tố lãi suất thì chương trình khuyến
mãi của ngân hàng bao gồm các chương trình như: tặng lãi suất thưởng ( lãi suất tặng thêm ngoài lãi suất huy động công bố của ngân hàng); tặng tiền mặt; tặng quà hiện vật: áo mưa, túi xách, nón bảo hiểm, ly, tách …; tặng phiếu mua hàng tại các siêu thị, shop; chương trình quay số trúng thưởng ….sẽ thu hút thêm nhiều khách hàng gửi tiền Do thị hiếu của khách hàng rất đa dạng nên tùy theo phân khúc thị trường, đối tượng khách hàng mà ngân hàng nên triển khai chương trình khuyến mãi phù hợp
Khoảng cách đến ngân hàng: Là khoảng cách từ chỗ ở của người dân đến
điểm giao dịch của ngân hàng Một ngân hàng nên chọn điểm giao dịch đông dân cư sinh sống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của khách hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch Ngoài ra, khoảng cách này càng gần thì mức
độ an toàn cho khách hàng giao dịch như đem tiền từ nhà đến ngân hàng và ngược lại được an toàn hơn Trong khi đó, điểm giao dịch ngân hàng nằm xa khu dân cư sinh sống sẽ không thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch
Trang 29Sự đa dạng sản phẩm huy động: Đây chính là loại hình huy động của ngân
hàng, thể hiện tính đa dạng của loại hình huy động như: huy động vốn trả lãi cuối
kỳ, huy động vốn trả lãi định kỳ (hàng tháng/ quý), huy động vốn trả lãi trước (khách hàng nhận tiền lãi trước gửi tiền), huy động được rút vốn linh hoạt nhưng lãi suất hấp dẫn, huy động vốn được rút vốn bất kỳ lúc nào, huy động vốn tích lũy ( khách hàng được gửi tiền định kỳ hàng tuần/tháng/quý … để được khoản tiền lớn trong tương lai)… Ngân hàng có nhiều sản phẩm huy động sẽ đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng Do đó, khách hàng sẽ thích gửi tiền hơn
Các sản phẩm dịch vụ hiện đại hỗ trợ huy động vốn: Ngày nay với sự phát
triển nhanh chóng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng từng bước cải thiện theo hướng hiện đại hóa Từ đó, ngân hàng có thêm những kênh phân phối sản phẩm hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhanh chóng và tiện lợi so với kênh phân phối truyền thống Tùy theo trình độ và khả năng bảo mật của ngân hàng mà ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ ngân hàng hiện đại theo cấp độ khác nhau: ATM, phone banking, mobile banking, homebanking, internetbanking … những ngân hàng nào đáp ứng mức độ thỏa mãn của khách hàng càng cao thì khả năng thu hút khách hàng gửi tiền càng nhiều
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Một NHTM có trụ sở kiên cố, bề thế, mạng lưới
các chi nhánh rộng khắp cùng các trang thiết bị và công nghệ hiện đại … sẽ là một trong những yếu tố tạo uy tín cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng
Thương hiệu và hình ảnh của ngân hàng: Một NHTM có hình ảnh tốt và
thương hiệu mạnh góp phần đáng kể trong việc thu hút khách hàng đến gửi tiền Điều này xuất phát từ đặc thù hoạt động của ngân hàng dựa trên nền tảng niềm tin của khách hàng Hình ảnh và thương hiệu mạnh mang lại niềm tin cho công chúng khiến họ không ngần ngại gửi tiền
Thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng của ngân hàng: Để thực hiện
nhanh nhu cầu khách hàng thì ngân hàng phải có qui trình làm việc hợp lý, nhân viên có trình độ nghiệp vụ chuyên môn giỏi và chương trình công nghệ tốt Trong thời buổi cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nào giải quyết nhanh nhu cầu của khách hàng không những làm hài lòng khách hàng mà còn thể hiện tính chuyên nghiệp của mình Vì vậy, ngân hàng nào giải quyết nhu cầu của
Trang 30khách hàng nhanh chóng sẽ tạo được uy tín và niềm tin nơi khách hàng Đây cũng
là yếu tố quan trọng nhằm nhu hút khách hàng đến giao dịch
Mẫu biểu chứng từ: NHTM có mẫu biểu chứng từ đơn giản sẽ tạo cảm giác
thuận tiện và đơn giản cho khách hàng giao dịch Hiện nay, vẫn còn nhiều khách hàng ngại giao dịch với ngân hàng vì e ngại thủ tục Đây cũng là yếu tố góp phần giúp ngân hàng giải quyết nhanh chóng nhu cầu của khách hàng
Tác phong làm việc nhân viên: Một NHTM chuyên nghiệp thì tác phong
làm việc của nhân viên cũng phải chuyên nghiệp Khách hàng đến ngân hàng giao dịch mà tác phong làm việc của nhân viên chậm chạp, lề mề thì tạo cảm giác khó chịu cho họ Vì vậy, NHTM cần phải xây dựng đội ngũ nhân sự có tác phong làm việc chuyên nghiệp để ngày càng thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Kỹ năng giao tiếp của nhân viên: Hiện nay hầu hết các NHTM đều chú
trọng đến yếu tố này và xem đây là một trong những tiêu chí quan trọng nhằm lôi kéo khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ Thực tế cũng cho thấy, các khách hàng đến ngân hàng giao dịch bên cạnh yếu tố giá cả thì kỹ năng giao tiếp của nhân viên là yêu cầu khá cao Để có được nhân viên có kỹ năng giao tiếp ngân hàng phải tăng cường đào tạo các kỹ năng mềm cho nhân viên, đây là lợi thế mà ngân hàng tốn ít chi phí nhất để có thêm nhiều khách hàng
Tính chất sở hữu của ngân hàng: Yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến
mô hình quản lý, cơ chế quản lý theo những loại hình NHTM khác nhau Hiện nay, hình thức sở hữu Nhà nước được khách hàng đánh giá là an toàn hơn so với các NHTM Cổ phần Do những tin đồn hay những chiêu thức cạnh tranh thường xảy ra đối với NHTM Cổ phần khiến niềm tin của người dân bị suy giảm
Quy mô vốn chủ sở hữu được xem là đệm chống đỡ sự sụt giảm giá trị tài
sản của NHTM Vì vậy, vốn tự có càng cao thì khả năng an toàn trong hoạt động của ngân hàng càng cao Cho thấy mối tương quan giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động, nếu chênh lệch đó càng lớn thì hệ số an toàn của ngân hàng sẽ thấp
Chiến lược cạnh tranh khách hàng: Mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực tài
chính – ngân hàng ngày càng trở nên khóc liệt, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được phép huy động vốn trên thị trường sẽ làm cho thị phần của ngân hàng giảm đi Do vậy, các NHTM muốn thu hút được vốn cần phải tăng cường các giải
Trang 31pháp và chính sách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng về chất lượng, chủng loại dịch vụ ngân hàng, kích thích nhu cầu của khách hàng để đạt mức
sử dụng sản phẩm của ngân hàng cao nhất Cần phải xác định rằng ngay khi ngân hàng tạo ra được một sản phẩm được xã hội ưa chuộng thì trong thời gian ngắn gần như lập tức các ngân hàng khác cũng có thể tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh
1.3.2 Yếu tố từ phía khách hàng:
Những yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến khả năng gửi tiền của khách hàng
Từ đó, tác động đến nguồn vốn huy động của ngân hàng, vì cho dù ngân hàng có chiến lược để thu hút khách hàng gửi tiền tốt như thế nào mà người dân không có tiền gửi thì cũng không thể huy động vốn được
Tuổi của khách hàng: Những người thành đạt là những người đã có nhiều
năm công tác, làm việc nên trong quá trình làm việc đó họ sẽ tích lũy được tiền nên
họ thường có khoản tiền nhàn rỗi Vì vậy, ngân hàng có thể thu hút đối tượng khách hàng này gửi tiền Hơn nữa, những người lớn tuổi thường có tâm lý thận trọng, không dám mạo hiểm đầu tư hay chi tiêu thoải mái như những người trẻ tuổi Nên đây là đối tượng có nhiều khả năng gửi tiền và ngân hàng cũng có nhiều khả năng thu hút được khách hàng này gửi tiền
Thu nhập của khách hàng: Khách hàng có thu nhập càng nhiều thì khả
năng gửi tiền được cũng nhiều hơn so với người có thu nhập thấp Do vậy, ngân hàng cần phải xác định lại chiến lược phân khúc khách hàng để có biện pháp thu hút tiền gửi từ những người có thu nhập cao như: nhóm gửi tiền để chờ cơ hội kinh doanh, nhóm gửi tiền dạng tích lũy cho những nhu cầu trong tương lai, nhóm gữi tiền dưỡng già hay nhóm người gữi tiền vì mục đích an toàn
Giá trị tài sản của khách hàng: Những người có nhiều tài sản chứng tỏ họ
là những người giàu có Do đó, khả năng tích lũy cũng như khả năng gửi tiền của họ rất cao Ngược lại, những người có tài sản giá trị thấp thì khả năng tích lũy cũng thấp Do vậy, ngân hàng khó huy động được nhiều tiền gửi từ đối tượng khách hàng
có giá trị tài sản thấp
Trình độ học vấn của khách hàng: Người có trình độ càng cao là những
người có công việc tốt hơn, từ đó, thu nhập của họ cũng tốt hơn Hơn nữa, người có trình độ cao thì mức độ am hiểu thủ tục của ngân hàng và các sản phẩm dịch vụ tiện
Trang 32ích mà ngân hàng đem lại càng cao nên họ thường xuyên giao dịch với ngân hàng, đặc biệt là mở tài khoản gữi tiền để sử dụng các tiện ích đó Nên ngân hàng cũng nên đưa ra sản phẩm theo nghề nghiệp của khách hàng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia cũng như ngân hàng tạo thuận lợi cho chính mình tiếp cận đối tượng khách hàng này gửi tiền ngày càng nhiều
Tình trạng hôn nhân của khách hàng: Thực tế cho thấy, những cá nhân kết
hôn khả năng tích lũy nhiều hơn vì khi kết hôn thì cả hai vợ chồng đều cùng chung tay xây đắp gia đình Họ có trách nhiệm với gia đình cao hơn Từ đó, họ sẽ tích lũy tiền để chăm lo cho chi phí nuôi dưỡng con cái sau này Nên họ cũng có nhiều khả năng gửi tiền hơn Ngược lại, những cá nhân chưa kết hôn họ chưa nhận thấy được trách nhiệm như người kết hôn nên khả năng chi tiêu của họ rất nhiều Vì thế, khả năng tích lũy của họ sẽ thấp nên nhu cầu gửi tiền cũng thấp
Giới tính của khách hàng cũng ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động của
ngân hàng Do đặc tính của người phụ nữ Việt Nam có tính tiết kiệm nên họ thường xuyên tham gia các chương trình tiết kiệm để tích lũy số tiền lớn trong lương tai như: gửi tiền ngân hàng, quỹ tiết kiệm … dù số tiền gửi từng lần không nhiều nhưng họ thường xuyên gửi, nên thích hợp cho ngân hàng đưa ra sản phẩm tiết kiệm tích lũy, tích góp Trong khi đó, nam giới là những người có khả năng kiếm được nhiều tiền hơn và họ thường xuyên gửi số tiền lớn
Tâm lý, thói quen giữ tiền mặt:
Ở từng thời kỳ và tùy văn hóa của từng địa phương mà hình thành nên thói quen giữ tiền mặt hay không giữ tiền mặt tại nhà của người dân có vốn nhàn rỗi Ở một số nước với sự phát triển cao của các dịch vụ ngân hàng, người dân đã tìm thấy được các tiện ích, sự an toàn trong việc thực hiện giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, do đó họ đã mở tài khoản tại ngân hàng Kết quả là ngân hàng đã thu hút được một lượng vốn lớn từ tài khoản tiền gửi thanh toán Vì vậy các ngân hàng thương mại cần tạo ra những tiện ích trong thanh toán và chính sách lãi suất hợp lý
để dần thay đổi được thói quen của người dân
Tuy nhiên, ngày càng nhiều các kênh đầu tư hấp dẫn để người dân lựa chọn như: đầu tư vàng, đầu tư chứng khoán, đầu tư ngoại tệ Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn của các NHTM
Trang 33Khoảng cách từ nhà đến ngân hàng: Khoảng cách từ nơi định cư đến ngân
hàng, điểm giao dịch càng xa thì khả năng gửi tiền tại các NHTM có khả năng thấp hơn, do đi lại không thuận tiện tốn nhiều thời gian điều này sẽ hạn chế việc gửi tiết kiệm thay vào đó là xu hướng sử dụng dòng vốn nhàn rỗi vào các hoạt động đầu tư khác như mua vàng, chơi hụi, cho vay lại,
Số người phụ thuộc: Số lượng người phụ thuộc cũng có tác động không nhỏ
đến chi tiêu của cá nhân Khi hộ gia đình có nhiều người chưa đến tuổi lao động, thất nghiệp hoặc mất sức lao động thì chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu thấp, từ
đó ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm Như vậy, khi tiếp thị những khách hàng có số người phụ thuộc ít sẽ có nhiều khả năng gửi tiền hơn
Có người quen làm việc trong ngân hàng: Yếu tố người quen làm việc trong
Ngân hàng cũng góp phần thay đổi nhận thức về hành vi tiết kiệm và đầu tư của cá nhân Vì ở những khu vực có mức độ hiện đại hóa thấp thì tâm lý giữ tiền mặt tại nhà cao và họ thường có tâm lý về tính phức tạp của Ngân hàng, khi đó những nhân viên ngân hàng như chất xúc tác cho quyết định gửi tiền được thực hiện dễ dàng hơn
1.3.3 Yếu tố khách quan từ môi trường:
Lạm phát làm giảm sức mua đồng tiền Lạm phát tác động tiêu cực đến
việc huy động vốn của ngân hàng Nó làm xói mòn giá trị sức mua lên mỗi đơn vị tiền tệ Ngân hàng chỉ có thể khắc phục tác động này bằng cách duy trì một mức lãi suất thực dương hoặc đảm bảo bằng một giá trị hiện vật chẳng hạn như tiền gửi tiết kiệm được đảm bảo bằng vàng
Sự ổn định về chính trị có tác động rất lớn vào tâm lý và niềm tin của người
gửi tiền Nền chính trị quốc gia ổn định, người dân sẽ tin tưởng gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, ngân hàng sẽ là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Tính chất ổn định
về chính trị có ảnh hưởng rất lớn vào tâm lý của người gửi tiền Như tin tức về vụ thâu tóm Ngân hàng Sacombank, vụ gian lận trong kinh tế của ông Nguyễn Đức Kiên trong thời gian qua và những hậu quả kế tiếp của vụ này Trong những ngày đầu số người rút tiền tại các ngân hàng ngày càng đông, khiến căng thẳng thanh khoản tăng cao, Ngân hàng nhà nước phải bơm thêm 13.000 tỉ đồng và kèm theo cam kết cuả Thống đốc NHNN rằng nhà nước sẵn sàng đảm bảo có đủ tiền mặt để
Trang 34trả cho các khách hàng nào muốn rút tiền Tâm lý lo sợ làm mọi người bớt kinh doanh và đầu tư, khiến nền kinh tế càng co cụm, GDP giảm sút, thất nghiệp tăng Giá vàng tại Việt Nam tăng mạnh vì người tiêu dùng cho rằng giữ vàng an toàn hơn
là giữ tiền tại các ngân hàng Vì vậy, một quốc gia mà có nền chính trị ổn định thì người dân sẽ tin tưởng vào sự tồn tại bền vững của hệ thống ngân hàng của quốc gia
đó và kết quả là họ sẽ tìm đến ngân hàng là nơi gửi nguồn vốn nhàn rỗi của họ để sinh lời thông qua lãi suất
Môi trường kinh tế được hiểu là các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế,
thu nhập quốc dân, tỷ lệ thất nghiệp … Sự phát triển hay không phát triển của nền kinh tế có tác động rất lớn đến khả năng huy động của các ngân hàng Môi trường kinh tế ổn định thì nguồn vốn gửi tại ngân hàng càng cao và ngược lại, khi nền kinh
tế không ổn định người dân sẽ tìm kiếm đến các công cụ đầu tư khác mà không chịu ảnh hưởng nhiều của sự mất giá của đồng tiền như vàng, bất động sản…
Sự thay đổi trong chính sách tài chính, tiền tệ và các quy định của Chính phủ, của NHNN cũng gây ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn và chất lượng nguồn
vốn của các NHTM Sự thay đổi trong chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và các chính sách giật cục của Chính Phủ trong thời gian qua
có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn của các ngân hàng thương mại Như chính sách về trần lãi suất huy động, trần lãi suất cho vay, các quy định liên quan đến hạn chế cho vay vàng
Môi trường văn hóa là yếu tố quyết định đến các tập quán sinh hoạt và thói
quen sử dụng tiền của người dân Tùy theo đặc trưng văn hóa của mỗi quốc gia, người dân có tiền nhàn rỗi sẽ quyết định lựa chọn hình thức giữ tiền ở nhà, gửi vào ngân hàng hay đầu tư vào lĩnh vực khác Ở các nước phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt và sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đã quá quen thuộc, nhưng ở các nước đang phát triển như Việt Nam thì người dân có thói quen giữ tiền mặt hoặc tích trữ dưới dạng vàng, ngoại tệ mạnh … làm cho lượng vốn huy động vào ngân hàng còn hạn chế
Đặc điểm địa phương, dân cư: thể hiện qua các số liệu như số lượng dân
cư, phân bố địa lý, mật độ dân số, độ tuổi trung bình … là các yếu tố rất đáng quan
Trang 35tâm đối với các NHTM nhằm xác định cơ cấu nhu cầu ở từng thời kỳ và dự đoán biến động trong tương lai
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Mỗi loại nguồn vốn chịu tác động khác nhau của những yếu tố đó Do vậy, ngân hàng cần phải nghiên cứu đặc điểm riêng của từng loại nguồn vốn để có chính sách huy động phù hợp, đảm bảo mục tiêu mà ngân hàng đề ra
Kết luận chương 1:
Trong chương này đề cập đến các khái niệm cơ bản về huy động vốn, các nguyên tắc huy động vốn, các sản phẩm huy động vốn và tầm quan trọng của huy động vốn là cơ sở lý luận chung cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng Bên
cạnh đó, đề tài còn đánh giá những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến huy động vốn
từ ở nhiều khía cạnh như từ phía các NHTM, phía khách hàng và từ môi trường bên ngoài để đưa ra một cái nhìn tổng quát về huy động vốn
Trang 36CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
2.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
2 1.1 Về điều kiện tự nhiên
An Giang là một tỉnh Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (gồm Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau), là nơi đầu tiên dòng sông Mê Kông chảy vào địa phận Việt Nam (được tách thành 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu) Phía Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100 km (có khu kinh tế cửa khẩu được xác định là một trong 9 khu kinh tế trọng điểm quốc gia, với 3 khu vực cửa khẩu được đưa vào trọng điểm là Tịnh Biên, Vĩnh Xương và Khánh Bình), phía Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang và phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ
Diện tích toàn tỉnh năm 2010 là 3.536,76 km2, bằng 1,06% diện tích toàn quốc
và bằng 8,71% diện tích toàn vùng ĐBSCL (đứng thứ 4 trong Vùng) Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, đó là thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn và Tịnh Biên, với 156 đơn vị xã, phường, thị trấn
Cộng đồng dân cư của tỉnh An Giang sống tập trung vùng lưu vực sông Hậu nhiều hơn phía sông Tiền bởi cơ sở hạ tầng tốt hơn như đường giao thông bộ, bệnh viện, trường học, chợ, bưu chính viễn thông,… Đất nuôi trồng thủy sản vùng lưu vực sông Hậu tỉnh An Giang có rất nhiều tiềm năng (về diện tích và năng suất), chủ yếu là đất canh tác nông nghiệp Với những lợi thế có được ngành nông nghiệp phát triển rất mạnh và là một trong những ngành kinh tế chủ lực của Tỉnh
2.1.2 Về tình hình kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong những năm qua
Bảng 2-1: Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang qua các năm
Trang 375 Tổng kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 750 600 800 830
6 Xuất nhập qua biên giới (triệu USD) 1.100 800 1.053 1.134
7 Doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ (tỷ
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh An Giang, 2012
Tốc độ tăng trưởng của An Giang năm 2011 đạt 8,81% chủ yếu từ nguồn thu xuất khẩu và kinh tế mậu biên, An Giang có 4 cửa khẩu chính với Campuchia (02 Quốc gia + 02 Quốc tế), tổng giá trị xuất nhập qua biên giới trên 1 tỷ USD, tăng bình quân 13%/năm giai đoạn 2006 - 2010 Cửa khẩu An Giang có vai trò tích cực trong việc tập trung hàng hóa đẩy mạnh vào thị trường Campuchia Xuất khẩu hàng hóa nông sản với các mặt hàng chủ lực gạo, thủy sản, rau quả Tổng giá trị xuất nhập khẩu năm 2011 đạt 380 triệu USD Thị trường gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ
Thương mại nội địa nhộn nhịp, đứng vào bậc nhất của ĐBSCL với tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn năm 2011 đạt 36,44 ngàn tỷ đồng và giảm bình quân 10%/năm giai đoạn 2006 - 2010
2.1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đến tháng 6 năm 2012
Mặc dù trong 6 tháng đầu năm phải đối mặt với những yếu tố bất lợi, nhiều rủi ro thiên tai, dịch bệnh nhưng với những chủ trương, giải pháp kịp thời của Chính phủ, sự chủ động trong chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự nổ lực, quyết tâm cao của các ngành, các cấp, đặc biệt sự góp sức của doanh nghiệp và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, kinh tế của tỉnh tiếp tục giữ mức tăng trưởng ổn định, văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, an ninh trật tự - an toàn xã hội được đảm bảo
Trang 38Bảng 2-2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2012 như sau:
2012
6 tháng đầu năm 2011
6 tháng đầu năm 2012
Khu vực Nông – lâm – thủy sản (%) 3,90 2,53 0,39 Khu vực Công nghiệp – Xây dựng (%) 16,00 10,17 5,10 Khu vực dịch vụ (%) 15,05 11,49 10,70
Nguồn: Báo cáo sơ kết tình hình hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2012 của NHNN tỉnh An Giang
Sản xuất nông, lâm, thủy sản: Tổng diện tích gieo trồng là 514.363 ha, trong
đó lúa 473.634 ha tương đương cùng kỳ (vụ Mùa: 5.704 ha, Đông Xuân: 235.920
ha, Hè Thu: 232.010 ha); mùa 40.729 ha Vụ lúa mùa và vụ Đông Xuân, toàn tỉnh
đã thu hoạch dứt điểm với sản lượng chung đạt gần 1,77 triệu tấn, giảm khoảng 20 ngàn tấn so với cùng kỳ (tương đương 1,13%) do ảnh hưởng mưa bão vào thời điểm thu hoạch, kèm theo tình hình dịch bệnh bộc phát nhiều nơi, năng suất giảm nhẹ 1,1 tạ/ha so với cùng kỳ và đạt mức trung bình 7,4 tấn/ha
Sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 6
tháng năm 2012 tăng 6,49% so với cùng kỳ; chia theo ngành: Công nghiệp khai thác mỏ tăng 15,76%, công nghiệp chế biến tăng 5,96%, công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước, nước đá tăng 12,41% Ước tính giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) 6 tháng năm 2012 đạt 14.314 tỷ đồng, trong đó ngành công nghiệp khai thác mỏ đạt 453 tỷ đồng; ngành công nghiệp chế biến đạt 13.293 tỷ đồng; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước, nước đá đạt 586 tỷ đồng Ước tính giá trị sản xuất theo giá thực tế 6 tháng năm 2012 đạt 19.427 tỷ đồng trong đó, ngành công nghiệp khai thác mỏ đạt 638 tỷ đồng; ngành công nghiệp chế biến đạt 18.003 tỷ đồng; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước, nước đá đạt 785,7 tỷ đồng
Đăng ký kinh doanh và thu hút đầu tư: Đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cho 218 doanh nghiệp và 71 chi nhánh- văn phòng đại diện, giảm 21 doanh nghiệp (6,74%) so cùng kỳ; tổng vốn đăng ký doanh nghiệp 827 tỷ đồng, giảm
Trang 391.389 tỷ đồng (62,68%) so cùng kỳ Song song đó, có 52 doanh nghiệp và 41 chi nhánh – văn phòng đại diện tiến hành làm thủ tục giải thể Hiện tại, trên điạ bàn tỉnh có 5.716 doanh nghiệp đăng ký hoạt động (bao gồm 2.429 doanh nghiệp tư nhân, 1.469 công ty trách nhiệm hữu hạn, 253 công ty cổ phần, 1.025 công ty trách hiệm hữu hạn một thành viên) và 1.430 chi nhánh- văn phòng đại diện; với tổng vốn đăng ký là 31.404 tỷ đồng Tổng số hộ kinh doanh cá thể hiện có là 80.750 hộ, với tổng vốn đăng ký 5.122 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 200.000 lao động
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản: đến tháng 06/2012 toàn tỉnh đã giải
ngân được trên 827 tỷ đồng đạt 40,48% kế hoạch, trong đó, nguồn vốn ngân sách địa phương được 818 tỷ đồng, đạt 43,7% kế hoạch; vốn hỗ trợ theo mục tiêu từ ngân sách Trung ương được 9 tỷ đồng, đạt 9,87% kế hoạch Đối với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đến nay vẫn chưa được giải ngân mặc dù Quyết định 368/QĐ-TTg ngày 03 tháng 04 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao
kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 và năm 2012 cho phép nguồn vốn trái phiếu Chính phủ năm 2012 được thanh toán đến ngày 30/04/2012 nhưng vẫn làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án
Thương mại- dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng 6 tháng 30.821 tỷ đồng, tăng 26,9% so cùng kỳ và đạt 39% kế hoạch; lượng khách tham quan du lịch trên địa bàn tình đạt khoảng 4 triệu lượt người, giảm 8,9% so cùng kỳ, nhưng khách lưu trú và lữ hành đạt gần 222.000 lượt (tăng 14,9%), khách du lịch quốc tế đạt gần 32.200 lượt (tăng 24%), doanh thu của các doanh nghiệp du lịch đạt trên 139 tỷ đồng (tăng 21,1%) Tốc độ trượt giá 5 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh là 2,58%, thấp hơn so với tốc độ trượt cùng kỳ năm
2011 (12,21%); so với cùng kỳ chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2012 là 6,89%, chỉ bằng khoảng 1/3 so với tháng 5/2011 (19,63%)
Ước kim ngạch 6 tháng đầu năm 2012 đạt 400 triệu USD đạt 45,5% kế hoạch
Một số mặt hàng xuất khẩu chính như: Gạo ước xuất 217.000 tấn, kim ngạch đạt
101 triệu USD (so kế hoạch năm đạt 36,1% về lượng và 33,6% về kim ngạch); thủy sản ước xuất 74.000 tấn, kim ngạch đạt 210 triệu USD (đạt 44,8% về lượng
và 45,1% về kim ngạch); rau quả đông lạnh (đạt 25% về lượng và 25% về kim
Trang 40ngạch); hàng may mặc ước xuất 7,6 triệu sản phẩm, kim ngạch 32 triệu USD (đạt 60,8% về lượng và 64% về kim ngạch)… về nhập khẩu, kim ngạch ước khoảng 45 triệu USD tăng 9,7% so với cùng kỳ và đạt 33,3% kế hoạch năm Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn là nguyên vật liệu phục vụ dệt, may mặc, chế biến thức ăn gia súc, thuốc trừ sâu …
Tài chính, ngân sách: Công tác thu chi, quản lý ngân sách được đảm bảo và kịp thời Ước thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm là 2.762 tỷ đồng, đạt 57,66% dự toán năm và tăng 18,75% so cùng kỳ; trong đó, thu nội địa đạt gần 1.790 tỷ đồng, tăng gần 5,2% so cùng kỳ, thu thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt đạt gần 35 tỷ đồng, gấp 2 lần so với cùng kỳ, thu xổ số kiến thiết đạt 555 tỷ đồng đạt gần 85,4% dự toán và tăng trên 56% so cùng kỳ
Tổng chi ngân sách địa phương 3.911 tỷ đồng, đạt trên 52,5% dự toán, tăng
18,5% so cùng kỳ; trong đó, chi đầu tư xây dựng cơ bản trên 697 tỷ đồng tăng gần 3,9% so cùng kỳ, chi thường xuyên đạt 2.257 tỷ đồng tăng gần 13% so cùng kỳ Các đơn cị sử dụng ngân sách nhà nước đã thực hiện tiết kiệm 10% theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ; đồng thời tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định của Nhà Nước trong lĩnh vực sử dụng ngân sách trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả
2.2.Tình hình hoạt động của các NHTM ở An Giang
2.2.1 Hệ thống NHTM hoạt động trên địa bàn An Giang
NHTM nhà nước bao gồm: NHTM do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ gồm: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam; Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam; Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL;
NHNN: Ngân hàng Chính sách xã hội; Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Hiện nay trong toàn tỉnh An Giang có 26 ngân hàng tính đến thời điểm cuối năm
2011 gồm Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín An Giang, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu An Giang, Ngân hàng TMCP Á Châu An Giang, Ngân hàng TMCP