TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN SỰ GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI Ở ĐÔ THỊ - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN V
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
SỰ GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI Ở ĐÔ THỊ - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
SỰ GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI Ở ĐÔ THỊ - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 603114
Người hướng dẫn khoa học: GS TS DWIGHT H PERKINS
Th.S ĐINH VŨ TRANG NGÂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2012
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và tất cả các thầy cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi theo học chương trình này
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Dwight H Perkins và Cô Đinh Vũ Trang Ngân, người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè và đồng nghiệp đã luôn hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu cho bài viết này
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình mình, những người luôn bên tôi trong suốt quá trình học và hoàn tất luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 06 năm 2012
Nguyễn Thi ̣ Thanh Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hi ểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 06 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 5TÓM TẮT
Sự già hóa dân số đang là mô ̣t th ách thức kinh tế và xã hội ngày càng lớn tại Việt Nam Quá trình già hóa nhanh chóng của dân số đặt ra nhiều áp lực lên lực lượng lao động , hệ thống phúc lợi , lương hưu và di ̣ch vu ̣ chăm sóc sức khỏe cho người già Do đó, cần phải xây dựng chính sách để ứng phó với tình hình dân số già đang diễn ra ở Viê ̣t Nam Nghiên cứu “Sự già hóa dân số và các vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi nghèo ở đô thị - Nghiên cứu trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” là mô ̣t viê ̣c làm thiết thực trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay Nghiên cứu nhằm đánh giá những khó khăn mà người cao tuổi đang đối mă ̣t trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe , từ đó đưa ra những chính sách cải thiê ̣n khả năng chăm sóc của họ
Để thực hiê ̣n mu ̣c tiêu trên , đề tài tiến hành hai bước Thứ nhất, nghiên cứu phân tích tổng
hơ ̣p các số liê ̣u sẵn có ở cấp quốc gia và các nghiên cứu trước về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Thứ hai, nghiên cứu tiến hành phân tích số liệu từ một cuộc khảo sát thực tế 50 người cao tuổi ta ̣i bốn quâ ̣n , huyê ̣n trên đi ̣a bàn thành phố Hồ Chí Minh Từ kết quả nghiên cứu, đề tài nhận thấy có sáu thách thức làm hạn chế khả năng ch ăm sóc sức khỏe của người cao tuổi nghèo ở đô thị Thứ nhất, loại hình lao động thủ công và mức lương thấp trong quá khứ của người cao tuổi và trong hiê ̣n ta ̣i của người lao đô ̣ng trẻ là ha ̣n chế lớn nhất về kinh tế cho khả n ăng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi Thứ hai, giá trị truyền thống đạo đức gia đình đang trải qua nhiều thay đổi Thứ ba, rất ít người cao tuổi nhâ ̣n được lương hưu , trợ cấp Thứ tư, rất nhiều người cao tuổi không có bả o hiểm y tế Thứ năm, vẫn còn nhiều bất câ ̣p trong cách thức nhà nước dành sự quan tâm cho người cao tuổi trong lĩnh vực y tế Thứ sáu, những khó khăn mà nhóm người cao tuổi di cư đang đối
mă ̣t
Từ những thách thức được tìm thấy ở trên, đề tài đề xuất một số khuyến nghị về mặt chính sách như nâng cao trình độ giáo dục của thế hệ trẻ, cân nhắc viê ̣c chuyển trách nhiê ̣m chăm sóc cha mẹ già từ ý thức truyền thống sang lĩnh vực pháp lý , nâng cao sự hỗ trợ của nhà nước đối với người cao tuổi trong lĩnh vực y tế , phổ câ ̣p lương hưu , hỗ trợ bằng sự bãi bỏ
hê ̣ thống đăng ký hô ̣ khẩu Mă ̣c dù không thể giải quyết được tất cả những thách thức , nhưng các khuyến nghi ̣ này có thể gợi ý góp phần cải thiện khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị hiê ̣n nay
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
TÓM TẮT …… iii
MỤC LỤC …… iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC CÁC HỘP viii
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC ix
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh chính sách 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Các nghiên cứu trước 5
2.2 Cơ sở lý thuyết 8
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CÁC THÁCH THỨC HẠN CHẾ KHẢ NĂNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 11
3.1 Sự thay đổi về cấu trúc hộ gia đình 11
3.2 Các thách thức từ phía con cái trong việc hỗ trợ cha mẹ già 13
3.3 Thách thức của hệ thống y tế đối với chăm sóc người cao tuổi 17
3.4 Các thách thức về phúc lợi và chính sách hỗ trợ người cao tuổi 19
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ 21
4.1 Kết quả nghiên cứu 21
4.1.1 Phương pháp cho ̣n mẫu và thiết kế bảng hỏi 21
4.1.2 Kết quả khảo sát 22
Trang 74.2 Thảo luận kết quả 26
4.2.1 Thách thức từ việc làm và thu nhập của người cao tuổi 26
4.2.2 Thách thức từ phía con cái trong việc chăm sóc cha mẹ già 29
4.2.3 Trơ ̣ cấp của nhà nước dành cho người cao tuổi 30
4.2.4 Sự hỗ trợ của xã hô ̣i 31
4.2.5 Di cư ở người già 31
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 34
5.1 Kết luâ ̣n 34
5.2 Kiến nghi ̣ chính sách 37
5.3 Những ha ̣n chế của nghiên cứu 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC …… 46
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BMI Chỉ số khối lượng cơ thể
ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiê ̣p Quốc
VHLSS Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1-1: Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già” ở một số nước 1 Hình 3-1: Tỷ số phụ thuộc dân số Việt Nam, 1990 – 2050 12 Hình 3-2: Tỷ số người ở độ tuổi lao động đối với người ở tuổi phụ thuộc, Việt Nam, ước tính và dự báo 1950 - 2050 12 Hình 3-3: Chi tiêu cho y tế của mô ̣t số nước Đông Á và Đông Nam Á , 2007-2008, đơn vi ̣
% 18 Hình 3-4: Chi tiêu cho y tế ta ̣i Viê ̣t Nam, 1995-2008 19 Hình 4-1: Sắp xếp cuô ̣c sống gia đình của người cao tuổi trong nhóm nghiên cứu 25 Hình 4-2: Trình độ học vấn của con cái có quan hệ kinh tế với người cao tuổi trong khảo sát 26
Trang 10DANH MỤC CÁC HỘP
Hô ̣p 1: Hai trường hợp người cao tuổi bi ̣ con cái đối xử tê ̣ ba ̣c theo lời kể của Giám đốc Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người già và tàn tật Thạnh Lộc, quâ ̣n 12 thành phố Hồ Chí
Minh 16
Hô ̣p 2: Hai minh ho ̣a về viê ̣c trình đô ̣ ho ̣c vấn thấp , thu nhâ ̣p thấp và không ổn đi ̣nh của người cao tuổi trong mẫu khảo sát 27
Hô ̣p 3: Cha làm thầy giáo nhưng con chưa từng đến lớp 27
Hô ̣p 4: Cuô ̣c sống khó khăn khi sức khỏe không có 28
Hô ̣p 5: Cuô ̣c sống có ý nghĩa hơn khi có sự quan tâm của cô ̣ng đồng 31
Hô ̣p 6: Phương pháp sống khỏe ít tốn kém 32
Trang 11DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Dân số chia theo nhóm tuổi, năm 1999 và 2009 46
Phụ lục 2: Tỷ suất sinh ở Việt Nam, 1999 – 2009, đơn vị tính: con/phụ nữ 47
Phụ lục 3: Tỷ lệ hưởng phúc lợi xã hội và lương hưu, đơn vị % 47
Phụ lục 4: Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi ở Việt Nam, 1992/93 – 2008 (%) 48
Phụ lục 5: Lực lượng lao động phân theo trình độ học vấn giai đoạn 2005 - 2009 (%) 48
Phụ lục 6: Lực lượng lao động Việt Nam phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật giai đoạn 2005-2009 (%) 49
Phụ lục 7: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo nhóm tuổi và giới tính, năm 2007 và 2009 (%) 50
Phụ lục 8: Nội dung bảng hỏi 51
Phụ lục 9: Đặc điểm nhóm nghiên cứu 57
Phụ lục 10: Việc làm và thu nhâ ̣p của nhóm nghiên cứu 58
Phụ lục 11: Tình trạng sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của nhóm nghiên cứu 59
Phụ lục 12: Tình trạng quan hệ xã hội của nhóm nghiên cứu 60
Phụ lục 13: Mối quan hệ của nhóm nghiên cứu với người có quan hệ kinh tế với họ 60
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh chính sách
Dân số Việt Nam đang ngày càng già hóa , vớ i số người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên ngày càng tăng1
Theo Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 1999, Việt Nam có 6.14 triệu người cao tuổi chiếm 8.04% tổng dân số cả nước Trong vòng 10 năm tiếp theo, năm
2009 số ngườ i cao tuổi đạt 7.45 triệu người chiếm 8.68% tổng dân số cả nước2 Chỉ trong 1 năm tiếp theo số người cao tuổi đã đa ̣t kho ảng 9.4% dân số cả nước3
Theo Dự báo dân số của Tổng cục thống kê năm 2010 số ngườ i cao tuổi s ẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân số vào năm 20174
Không những thế thời gian để Viê ̣t Nam chuy ển từ giai đoạn “già hóa” sang giai đoạn cơ cấu dân số “già” sẽ ngắn hơn nhiều so với các nước khác Như thấy trong Hình 1-1, Pháp mất 115 năm để chuyển từ dân số già hóa sang dân số già , Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Viê ̣t Nam chỉ mất 20 năm, theo đánh giá của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (The United Nation Population Fund – UNFPA)
Tuy nhiên, sự già hóa của dân số cũng đặt ra m ột loạt các thách thức về kinh tế và xã hội, ví dụ như nguồn tài nguyên , dịch vụ công cộng, lương hưu, các vấn đề chăm sóc sức khỏe , lực lượng lao đô ̣ng và nhà ở cho người già 5 Do đó, rất cần những chiến lược, định hướng nhằm đảm bảo nguồn lực khi chuyển sang giai đoạn đoạn dân số già Bởi vì, nếu không chuẩn bị ngay từ bây giờ dân số già không khỏe mạnh và không có thu nhập đảm bảo cuộc sống sẽ mang lại gánh nặng cho xã hội
3 Cổng thông điê ̣n tử Chính phủ (2011), “Trực tuyến: Giá hóa dân số – Thực tra ̣ng, dự báo và đề xuất chính
sách”, Cổng thông tin điê ̣n tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viê ̣t Nam , truy câ ̣p ngày 27/12/2011 tại địa chỉ http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/Inbaiviet?articleId=10047023
4 Trang 6, UNFPA (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số
khuyến nghị chính sách
5 Liên Hiệp Quốc (2002) trích trong Bevan C Grant (2006)
Trang 13Hình 1-1: Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già” ở một số nước
Nguồn: UNFPA (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, trang 19
Tuy nhiên việc chuẩn bị nguồn lực đối phó với tình hình dân số già trong tương lai đang gặp nhiều thách thức Chẳng hạn, Viê ̣t Nam chưa có hê ̣ thống bê ̣nh viê ̣n lão khoa , chỉ có
mô ̣t bê ̣nh viê ̣n lão khoa ta ̣i Hà Nô ̣i và các khoa lão khoa ở các bê ̣nh viê ̣n tỉnh Trong khi đó, hệ thống trợ cấp chưa làm tốt vai trò hỗ trợ cho người cao tuổi Vào năm 2005 hơn 73% ngườ i cao tuổi s ống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp Trong đó chỉ có khoảng 17% ngườ i cao tuổi hưởng chế độ lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% các cụ hưởng trợ cấp xã hội dành cho những đối tượng có công với nước Như vậy còn trên 70% ngườ i cao tuổi sống bằng lao động của mình, hay bằng nguồn hỗ trợ của con cháu và gia đình Đồng thời, xu hướng nhân khẩu ho ̣c đang cho thấy các h ộ gia đình Viê ̣t Nam ngày càng sinh ít con Chỉ trong 10 năm, từ năm 1999-2009 tỷ lệ sinh sản giảm từ 2.33 xuống còn 2.036 Điều này có nghĩa là s ố con trung bình của lớp người cao tuổi trong tương lai gi ảm
6 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 2
Trang 14rõ rệt, góp phần làm giảm sự hỗ trợ từ phía gia đình7 Bên cạnh đó, tỷ lệ người cao tuổi sống một mình ở nông thôn ngày càng nhiều do lực lượng lao đô ̣ng trẻ ở nông thôn di cư lên các thành phố lớn ngày càng tăng
Chỉ một vài yếu tố điểm qua cho th ấy cần phải có chính sách can thiệp trong việc chăm lo đời sống và sức khỏe cho người cao tuổi Dân số già trong tương lai tất yếu sẽ xảy ra, nếu không chuẩn bi ̣ nguồn lực từ bây giờ thì khi dân số già tăng lên sẽ không ki ̣p đối phó Do
đó, nghiên cứu “Sự già hóa dân số và các vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở đô thị
- Nghiên cứu trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu cu ̣ thể hơn những thách thức làm ha ̣n chế khả năng chăm sóc sức khỏe của ngư ời cao tuổi ở đô thị, từ đó đưa ra những khuyến nghi ̣ cải thiện khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị, giúp họ nâng cao tu ổi thọ và chất lượng cuộc sống
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu đề tài muốn thực hiện là đánh giá thực trạng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị trong bối cảnh dân số già hóa đang diễn ra ở Viê ̣t Nam Nghiên cứu được thực hiê ̣n dựa trên nguồn dữ liê ̣u thống kê toàn quốc, các nghiên cứu trước và mô ̣t cuô ̣c khảo sát thực tế trên đi ̣a bàn thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) Từ kết quả nghiên cứu , đề tài sẽ tìm ra những khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị, từ đó đưa
ra những chính sách phù hợp đáp ứng thực tra ̣ng dân số già hóa đang diễn ra
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiê ̣n được mu ̣c tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung trả lời hai câu hỏi sau: Thứ nhất, người cao tuổi ở đô thị hiê ̣n đang đối mă ̣t với nhữ ng thách thức gì trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe?
Thứ hai, Nhà nước có thể làm gì để cải thiện khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị, bao gồm cả viê ̣c tiếp câ ̣n với các di ̣ch vu ̣ chăm sóc sức khỏe?
7 Wolf (2001) trích trong Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009)
Trang 151.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) đang sinh sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Có rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về người cao tuổi cũng như thực trạng gi à hóa ở Việt Nam Trong nghiên cứ u này , tác giả tập trung đề cập đến những thách thức làm hạn chế khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị Để thực hiê ̣n mu ̣c tiêu đề ra , nghiên cứu tiến hành hai bước và sử dụng phương pháp thống kê mô tả Bước thứ nhất , nghiên cứu sẽ tâ ̣p trung phân tích những thách thức ha ̣n chế viê ̣c chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị từ số liê ̣u cấp quốc gia đã có sẵn Bước thứ hai, nghiên cứu sẽ phân tích những thách thức trên thông qua một cuộc khảo sát thực tế do tác giả tự thực hiện , tâ ̣p trung vào nhóm những người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn sống trong khu đô thi ̣ ở Tp.HCM
1.5 Kết cấu luận văn
Nghiên cứu bao gồm nă m chương Tiếp theo chương giới thiê ̣u , chương hai tóm tắt các nghiên cứu trước Chương ba phân tích những thách thức làm ha ̣n chế khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi thông qua số liê ̣u cấp quốc gia Chương bốn mô tả phương pháp thu thập số liệu, phân tích và thảo luâ ̣n kết quả từ cuô ̣c khảo sát thực tế về mô ̣t số người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn ở Tp HCM Chương cuối cùng trình bày nh ững kết luận, kiến nghị và hạn chế của nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Đối với người già , cũng như người trẻ sức khỏe là rất quan trọng để duy trì sự hạnh phúc
Mă ̣c dù có hai luồng ý kiến trái chiều nhau về mối quan hê ̣ giữa sức khỏe và tuổi tác , nhưng nhìn chu ng người cao tuổi dù khỏe hay không thì cũng rất cần sự quan tâm chăm sóc từ phía con cái cũng như sự hỗ trợ của nhà nước Sự quan tâm này giúp cho cuô ̣c sống của họ có ý nghĩa hơn và giúp họ tiếp cận với dịch vụ khám chữa bê ̣nh tốt hơn Do đó trong chương này nghiên cứu sẽ điểm qua ba vấn đề liên quan đến khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi Đó là, khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế , tình hình sức khỏe
và nguồn thu nhập đ áp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi từ các nghiên cứu trước Thông qua ba vấn đề nêu trên đề tài đưa ra cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này
2.1 Các nghiên cứu trước
Khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của người cao tuổi liên quan đến chi phí điều trị Trong đó đa số các nghiên cứu trước đều cho thấy người cao tuổi gă ̣p khó khăn khi sử du ̣ng di ̣ch
vụ chăm sóc sức khỏe là do chi phí y tế qu á cao Theo Chương trình Phát triển Liên Hiê ̣p Quốc (United Nations Development Programme – UNDP) (2012), mô ̣t phần lý do khiến cho tổng chi tiêu của Viê ̣t Nam cho y tế trong đó có chi tiêu từ tiền túi của bê ̣nh nhân cao hơn tương đối so với mô ̣t số nước là do chi phí y tế tăng nhanh
Chẳng những phải chi nhiều tiền để chăm sóc sức khỏe do chi phí y tế cao mà chi phí y tế dành riêng cho người cao tuổi cũng cao hơn so với trẻ em Theo Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009), chi phí khám chữa bê ̣nh trung bình cho người cao tuổi tăng g ấp 7-8 lần
so với trẻ em Chính chi phí y tế cao sẽ h ạn chế khả năng tiếp cận các dịch vu ̣ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi Điều này cũng được tìm thấy ở các n ước khác, ví dụ nghiên cứu của Maryam Tajvar , Mohammad Arab and Ali Montazeri (2008), chi phí y tế và giá tăng lên mỗi năm ở Iran làm suy giảm khả năng của người cao tuổi khi chi trả các dịch vụ
y tế, đặc biệt đối với những người không có bảo hiểm y tế
Trang 17Sức khỏe của người cao tuổi
Có hai luồng ý kiến liên quan đến mối quan hệ giữa sức khỏe và tuổi tác Thứ nhất, mối quan hê ̣ cùng chiều giữa sức khỏe và tuổi tác nghĩa là tuổi cao bê ̣nh nhiều Trong đó nghiên cứu của Cox et al (1987) và Sidell (1995)8
nhận thấy tuổi càng cao đồng nghĩa với
bê ̣nh tâ ̣t và sức khỏe yếu , hay nghiên cứu của Bebbington (1988) và Crimmins et al (1989)9 cho rằng sống lâu không có nghĩa là sống khỏe Thứ hai, mối quan hê ̣ ngược chiều giữa sức khỏe và tuổi tác nghĩa là sức khỏe vẫn tốt dù tuổi cao Nghiên cứu của Manton và Stallard (1994) và Manton et al (1997)10 có bằng chứng ngược lại cho thấy tuổi thọ trung bình ngày càng tăng và bệnh tâ ̣t sau này được giảm
Dù mối quan hệ trên là như thế nào đi nữa thì người cao tuổi cũng không tránh khỏi bệnh
tâ ̣t Trong các loa ̣i bê ̣nh mà người cao tuổi mắc phải có chín loa ̣i bê ̣nh thường xuất hiê ̣n trong các nghiên cứu , đó là bê ̣nh tim , tiểu đường, cao huyết áp (đàn ông cao huyết áp hơn phụ nữ)11
, đau lưng đau khớ p , khó khăn trong di chuyển , rối loa ̣n tiêu hóa , giảm trí nhớ ,
bê ̣nh về thi ̣ lực, bê ̣nh về thính giác
Tổ chức Y tế thế giới (1977)12 phát hiện rằng những tàn phế thường gặp ở tuổi già là mất thị lực và thính lực Nguyên nhân chính gây mù và giảm thị lực ở ngườ i cao tuổi là đ ục thuỷ tinh thể (gần 50% các trường hợp mù), tăng nhãn áp, thoái hoá điểm vàng và bệnh võng mạc do đái tháo đường; còn giảm thính lực cản trở cho giao tiếp Tình trạng này có thể gây bối rối, tự ti, ngại tiếp xúc và cách ly xã hội, theo Paul (1974) và Wilson (1999)13 Theo nghiên cứu của Framingham và các nghiên cứu sau đó ở Nhâ ̣t , Châu Âu, Úc, Trung Quốc14
, bệnh giảm trí nhớ , tiểu đường các bê ̣nh về xương khớp , giảm nhận thức về giác quan làm ha ̣n chế hoa ̣t đô ̣ng hằng ngày của người cao tuổi Đồng thời nghiên cứu của M
8 Trích trong Brian Gearing (2000)
9 Trích trong Brian Gearing (2000)
10
Trích trong Brian Gearing (2000)
11
Minh Nguyen MD., MPH (2007), Trends of Nutrition status & it’s associated factor among ageing
Vietnamese, National Institute of Nutrition of Vietnam
12
Trích trong Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009)
13 Trích trong Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009)
14 Trích trong Trần Tro ̣ng Đàm và cô ̣ng sự (2005)
Trang 18Zhang, Z Zhu và P Chen (1995) và Hirishi Haga và cộng sự (1991)15 xác nhận, tăng huyết
áp cũng làm hạn chế khả năng hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi Trong đó theo Trần Tro ̣ng Đàm và cô ̣ng sự (2005), các sinh hoạt hằng là tắm , đi vê ̣ sinh , thay quần
áo, di chuyển trong nhà , dùng bữa ăn , kiểm soát bài tiết Bên ca ̣nh đó , Bùi Ngọc Linh và
cô ̣ng sự (2006) tìm thấy bằng chứng cho thấy các bệnh như tim mạch , các bệnh thần kinh , tiểu đường, các bệnh về giác quan, các bệnh về cơ xương là một trong mười bệnh gây gánh
nă ̣ng bê ̣nh tâ ̣t hàng đầu thế giới
Tóm lại, dù sức khỏe có mối quan hệ thế nào với tuổi tác đi nữa thì người cao tuổi cũng không tránh khỏi bê ̣nh tâ ̣t và mất nhiều tiền chi trả di ̣ch vu ̣ y tế Do đó ho ̣ c ần có một nguồn thu nhâ ̣p để đảm bảo tuổi già Nguồn thu nhâ ̣p mà người cao tuổi có được có thể từ bản thân, hoă ̣c đến từ con cái và nhà nước
Nguồn thu nhập để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Người cao tuổi muốn chăm sóc sức khỏe của mình tốt thì cần có thu nhâ ̣p , các khoản thu nhâ ̣p có thể đến từ con cái hoă ̣c nhà nước Tuy nhiên, rất ít người cao tuổi tiếp câ ̣n được với hai nguồn hỗ trợ này
Thứ nhất, nhiều nghiên cứu trước cho thấy người cao tuổi gă ̣p khó khăn trong viê ̣c tiếp câ ̣n sự hỗ trợ của con cái Tỷ lệ người cao tuổi s ống với con cái với vị thế là người sống phụ thuộc ở mọi lứa tuổi đang có xu hướng giảm đi nhanh chóng, Giang và Pfau (2007) Một nguyên nhân có thể do tác động của di cư Khi con cái ra đi nhưng g ửi ít tiền hoặc không gửi tiền sẽ làm giảm sự hỗ trợ về mă ̣t vâ ̣t chất của người cao tuổi từ phía con cái Theo Wolf (2001)16, số con trung bình của lớp ngườ i cao tuổ i trong tương lai giảm rõ rệt, góp phần làm giảm sự hỗ trợ từ phía gia đình Còn theo Pfau , Wade Donald và Giang Thành Long (2009), tỷ lệ lớn tiền được gửi cho các hộ có chủ hộ từ 50 tuổi trở lên, những hộ có chủ hộ 70 tuổi trở lên nhận được nhiều tiền gửi nhất từ những người thân di cư của họ Đồng thời nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc (United Nation – UN) (2010), người cao tuổi vẫn có thể sống tốt và sống khỏe nếu như con cái ra đi và gửi tiền về để ho ̣ trang trải chi phí sinh hoạt, chi phí khám chữa bê ̣nh
15
Trích trong Trần Trọng Đàm và cộng sự (2005)
16 Trích trong Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009)
Trang 19Viê ̣c giảm sự hỗ trợ của con cái đối với người cao tuổi còn xuất phát từ quan niệm trái ngươ ̣c của con cái trong viê ̣c chăm sóc cha me ̣ già Theo nghiên cứu của Trần Thị Mai Oanh (2010), ngườ i cao tuổi mong muốn được con cái chăm sóc cả về mặt vật chất và tinh thần trong lúc khỏe mạnh và khi ốm đau Trong khi con cái lại cho rằng chỉ cần chăm sóc người cao tuổi v ề mă ̣t vật chất như mua quần áo, ăn uống, thuốc men và chăm sóc khi người cao tuổi bị ốm chứ không quan tâm đến tinh thần của họ Ngoài ra, sự suy giảm lòng hiếu thảo và nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ già ngày càng phổ biến Nhiều người trẻ chú ý đến bản thân mình nhiều hơn, không quan tâm chăm sóc cha mẹ, bị cuốn vào lối sống xa hoa, giàu sang chốn thành thị mà quên cha me ở quê nhà, hay nghiêm trọng hơn là đối xử
tệ bạc với cha mẹ Theo Hoàng Mộc Lan (2007), vẫn có người cao tuổi bị khủng hoảng về tâm lý do bị con cháu đối xử tệ bạc, cuộc sống bị quẫn bách cả về vật chất và tinh thần Và theo Lê Thi ̣ Hải Hà và cô ̣ng sự (2009), khi tâm lý người cao tuổi không ổn đi ̣nh sẽ dẫn đến những hâ ̣u quả nghiêm tro ̣ng liên quan đến quan hê ̣ xã hô ̣i và quan hê ̣ kinh tế Theo nghiên cứu của Lê Thi ̣ Hải Hà và cô ̣ng sự (2009), sự quan tâm chăm sóc của gia đình và xã hô ̣i sẽ giúp cho người cao tuổi cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn và viê ̣c sống cùng và nhâ ̣n đươ ̣c sự chăm sóc của con cái hằng ngày sẽ làm cho sức khỏe tinh thần của người cao tuổi tốt hơn
Thứ hai, ngoài việc ít nhận được sự hỗ trợ của con cái thì cũng rất ít người cao tuổi nhận đươ ̣c sự hỗ trợ của nhà nước Theo Pfau, Wade Donald và Giang Thành Long (2009), người già trong gia đình trở thành những người phụ thuộc vào họ hàng và chỉ một số rất ít người già nhận được tiền phúc lợi công cộng (trợ cấp công) Theo Martin Evans và cô ̣ng sự (2007), có tới 66.7% người cao tuổi không nh ận được khoản trợ cấp nào theo số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Viê ̣t Nam năm 2004 (Viet Nam Household Living Standard Survey – VHLSS 2004)17 Mặc dù số tiền trợ cấp không nhiều nhưng nó giúp người cao tuổi có mô ̣t cảm giác đô ̣c lâ ̣p về mă ̣t tài chính
2.2 Cơ sở lý thuyết
Thông qua ba vấn đề đã được đ ề cập trên, nghiên cứu nhâ ̣n thấy người cao tuổi rất cần sự quan tâm và hỗ trợ của nhà nước Bởi vì sự quan tâm , hỗ trợ của nhà nước đă ̣c biê ̣t thông
17 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 3
Trang 20qua hê ̣ thống lương hưu phổ câ ̣p sẽ là mô ̣t ngoa ̣i tác tích cực cho người c ao tuổi và cho toàn xã hội
Thứ nhất, hê ̣ thống lương hưu phổ câ ̣p mang la ̣i lợi ích kinh tế cho người cao tuổi Bởi vì người cao tuổi là nhóm người dễ tổn thương , hầu hết ho ̣ có thu nhâ ̣p thấp và không ổn
đi ̣nh nên khó có th ể đáp ứng nhu cầu cuộc sống đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe Trong đó lương hưu sẽ ta ̣o cho ho ̣ có mô ̣t khoản thu nhâ ̣p ổn đi ̣nh và mang la ̣i nhiều lợi ích cho người được nhận Ví dụ ở Brazil cho thấy, các hộ gia đình có người được hưởng hưu trí xã hội thấp hơn hộ gia đình không có ai được hưởng18
và x ác suất để các hộ gia đình ở Brazil trở thành người nghèo giảm đi 21%19
khi nhận đươ ̣c lương hưu Bên ca ̣nh đó, lương hưu giúp phát triển kinh tế ở địa phương và kích thích sự phát triển của thị trường trao đổi hàng hoá ở các khu vực khan hiếm tiền mặt, đặc biệt tại các nước Châu Phi như Namibia và Nam Phi, Giang Thành Long (2007)
Thứ hai, hê ̣ thống lương hưu phổ câ ̣p mang la ̣i lợi ích xã hô ̣i cho người cao tuổi Đó là nâng cao vai trò của người cao tuổi trong gia đình Cụ thể, ở Nepal, Ấn Độ, và Bangladesh cho thấy những người đươ ̣c nhâ ̣n lương hưu được đối xử tốt hơn trong hộ gia đình20 Hay
ở Mêhicô, viê ̣c chính phủ lập một hệ thống trả tiền trợ cấp sinh hoạt cho những người trên
70 tuổi đã giúp họ đóng góp vào thu nhập hộ gia đình và có thể làm giảm căng thẳng giữa các thế hệ21
Thứ ba, hê ̣ thống lương hưu phổ câ ̣p mang la ̣i lợi ích y tế cho người cao tuổi Điều tra ở Nam Phi cho thấy, nếu bỏ qua các nhân tố về tuổi tác, giới tính, những người được nhâ ̣n lương hưu có điều kiện sức khoẻ tốt hơn những người khác trong gia đình nếu họ không chia sẻ khoản lương này22 Ngoài ra, không chỉ những người nhâ ̣n lương hưu được hưởng lợi ích y tế mà thành viên trong gia đình họ cũng được hưởng khi khoản lương hưu đó được sử dụng để trang trải chi phí y tế chung cho cả hộ gia đình Khoản lương hưu cũng là nguồn quan trọng để các hộ gia đình nghèo cải thiện được chất lượng các bữa ăn theo
18 Barrientos và cộng sự (2003) trích trong Giang Thành Long (2007)
19 Gorman (2005) trích trong Giang Thành Long (2007)
20 Hai, (2004) trích trong Giang Thành Long (2007)
21 UNFPA (2011), People and Possibilities in a world of 7 billion
22 Barrientos và Lloyd-Sherlock (2003) trích trong Giang Thành Long (2007)
Trang 21hướng tốt hơn, và điều này tác động trở lại một cách tích cực đến tình trạng sức khoẻ của họ
Khi người cao tuổi có cuô ̣c sống và sức khỏe tốt , họ sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội Thực tế cho thấy nhiều người cao tuổi vẫn có sức khỏe và trí tuệ minh mẫn, họ có công lao trong nuôi dạy con cháu mà còn có công trong các cuộc kháng chiến của dân tộc Và họ vẫn cống hiến sức lực của mình cho quê hương , như giáo sư Trần Văn Khuê là người vẫn đang truyền thụ kinh nghiệm cho thế hệ trẻ dù tuổi đã cao Do đó sự hỗ trợ của nhà nước trong vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi sẽ ta ̣o ra ngoa ̣i tác tích cực đối với người cao tuổi nói riêng và cho toàn xã hô ̣i nói chung
Trang 22CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CÁC THÁCH THỨC HẠN CHẾ KHẢ NĂNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM
Trong chương này nghiên cứu trình bày những thách thức làm giảm khả năng chăm sóc
sức khỏe của người cao tuổi thông qua số liê ̣u cấp quốc gia và những nghiên cứu trước Trong đó nghiên cứu phân tích vấn đề này thông qua bốn góc đô ̣ : sự thay đổi về cấu trúc
hô ̣ gia đình, thách thức của con cái trong việc hỗ trợ cha mẹ , thách thức từ hệ thống y tế và cuối cùng là thách thức từ hê ̣ thống phúc lợi
3.1 Sự thay đổi về cấu trúc hộ gia đình
Trong những năm gần đây, quy mô hộ gia đình Việt Nam đã có sự thu hẹp trung bình
từ 4.4 người năm 2002 xuống còn 4.2 người năm 200623, trong đó các hộ gia đình truyền thống, đa thế hệ ngày càng gi ảm Sự thay đổi này di ễn ra khá rộng ở khu vực thành thị, và một số khu vực nông thôn kinh tế phát triển nơi quy mô gia đình nhỏ được ưa thích khi kinh tế được cải thiện Nguyên nhân củ a sự thay đổi này là do xu hư ớng sinh sản giảm và vấn đề di cư Khi quy mô hộ gia đình Vi ệt Nam thu nhỏ sẽ đă ̣t ra thách thức đối với người cao tuổi
Xu hướng sinh sản giảm
Mă ̣c dù tỷ lê ̣ sinh sản giảm đã thể hiê ̣n mô ̣t nỗ lực rất lớn của Vi ệt Nam trong viê ̣c kiềm chế sự gia tăng dân số , tuy nhiên, đây cũng là mô ̣t thách thức đối với những người phu ̣
thuô ̣c Những người phu ̣ thuô ̣c là trẻ em dưới 15 tuổi và những người già từ 65 tuổi trở lên24 Trong giớ i ha ̣n nghiên cứu , đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những người phụ t huô ̣c già
Thách thức của xu hướng sinh sản giảm đối với những người phụ thuộc già là họ sẽ ít nhận đươ ̣c sự hỗ trợ về mă ̣t vâ ̣t chất và tinh thần từ phía con cái Khi số con trong gia đình giảm
23
Trang 36, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (2010), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010
24
Tổng cục Thống kê, “Tên chỉ tiêu: Dân số phụ thuô ̣c và tỷ số phụ thuô ̣c” , Tổng cục thống kê kho dữ liê ̣u và
viê ̣c làm, truy câ ̣p ngày 13/03/2012 tại địa chỉ:
http://www.gso.gov.vn/khodulieuldvl/MetaData.aspx?Mct=16&NameBar=SI%C3%8AU%20D%E1%BB%
AE%20LI%E1%BB%86U%20%3E%20Kh%C3%A1i%20ni%E1%BB%87m,%20%C4%91%E1%BB%8Bn h%20ngh%C4%A9a,%20c%C3%A1ch%20t%C3%ADnh
Trang 23nghĩa là người già phụ thuô ̣c vào ít con hay gánh nă ̣ng lên viê ̣c phu ̣ thuô ̣c cho thanh niên từ phía người già tăng lên Theo UNFPA (2009 và 2010), tỷ số người phụ thuộc cao tuổi ở Việt Nam ngày càng tăng (Hình 3-1) và tỷ số người ở độ tuổi lao động đối với người ở tuổi phụ thuộc ngày càng giảm (Hình 3-2)
Hình 3-1: Tỷ số phụ thuộc dân số Việt Nam, 1990 – 2050
Nguồn: Lấy từ trang 2 UNFPA (2010), Già hóa dân số và các vấn đề chính sách của hệ thống hưu trí ở Việt Nam
Hình 3-2: Tỷ số người ở độ tuổi lao động đối với người ở tuổi phụ thuộc, Việt Nam, ước tính và dự báo 1950 - 2050
Nguồn: Lấy tư ̀ trang 52 UNFPA (2009), Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới 2011-2020
Trang 24Trong điều kiê ̣n dân số già ngày càng tăng thì sinh ít con sẽ làm số con hỗ trợ cho mô ̣t người cao tuổi trong tương lai giảm Không những thế , hiê ̣n tượng di cư ngày càng tăng cũng đặt ra nhiều vấn đề trong viê ̣c chăm sóc người cao tuổi
Di cư
Ngoài xu hướng sinh sản giảm , di cư của lực lượng lao đô ̣ng trẻ ở nông thôn lên thành thi ̣ ngày càng tăng cũng làm giảm sự hỗ trợ về mặt vật chất và tinh thần từ phía con cái dành cho người cao tuổi Khi những người trẻ ở nông thôn di cư ra thành th ị để tìm kiếm việc làm, cơ hội học tập và thăng tiến bỏ lại cha mẹ già ở quê nhà đã làm tình trạng gia đình chỉ
có người cao tuổi s ống với nhau, hay người cao tuổi s ống với trẻ em (còn gọi là thế hệ khuyết) ngày càng phổ biến25 Ngườ i cao tuổi sẽ thiếu sự chăm sóc thường xuyên từ phía con cái khi con cái ra đi
Di cư của lực lượng trẻ ở nông thôn không những làm giảm sự hỗ trợ về mă ̣t tinh thần , mà còn làm giảm sự hỗ trợ về mặt vật chất từ phía con cái đối với người cao tuổi Khi con cái
ra đi nhưng gửi ít tiền hoặc không gửi tiền về cho người cao tuổi buô ̣c người cao tuổi phải
tự kiếm tiền để nuôi bản thân , nuôi cháu hay thâ ̣m chí l à lao động chính trong gia đình Theo Hoàng Mô ̣c Lan (2007), nhiều cuộc điều tra cho thấy có tới 70% người cao tuổi trong
độ tuổi từ 60 đến 69 còn phải lao động để kiếm sống, 38% số người trong độ tuổi này đóng vai trò chính trong kinh tế gia đình
Sức khỏe của người cao tuổi có thể bi ̣ ảnh hưởng nếu như ho ̣ không nhâ ̣n được sự chăm sóc một cách thường xuyên của con cái do con cái di cư Theo Lê Thi ̣ Hải Hà và cô ̣ng sự (2009), việc sống cùng và nhâ ̣n được sự chăm sóc củ a con cái hằng ngày sẽ làm cho sức khỏe tinh thần của người cao tuổi tốt hơn Tuy nhiên, nếu con cái ra đi và gửi tiền về cho người cao tuổi trang trải chi phí sinh hoa ̣t , chi phí khám chữa bê ̣nh thì người cao tuổi vẫn
có thể sống tốt và sống khỏe, theo UN (2010)
3.2 Các thách thức tƣ̀ phía con cái trong việc hỗ trợ cha mẹ già
Con cái được xem là nguồn đảm bảo cho tuổi già tuy nhiên thực tế cho thấy điều ngược la ̣i Sự hỗ trợ từ phía con cái dành cho người cao tuổi đang ngày càng giảm , không những vì
25 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 4
Trang 25người cao tuổi đang phu ̣ thuô ̣c vào mô ̣t lực lượng ngày càng ít (do cấu trúc gia đình thay đổi) mà còn phụ thuộc vào một lực lượng lao động trẻ có trình độ thấp Ngoài ra, thái độ và quan điểm trái ngược của con cái và cha me ̣ già trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cũng làm giảm khả năng hỗ trợ từ phía con cái đối với người cao tuổi
Chất lượng phụ thuộc thấp
Hiê ̣n nay, người cao tuổi không những được hỗ trợ bởi số lượng phu ̣ thuô ̣c ngày càng ít mà
số lươ ̣ng phu ̣ thuô ̣c này còn “kém chất lượng” Nguyên nhân dẫn đến chất lượng phu ̣ thuô ̣c thấp là do trình độ học vấn và chuyên môn của lực lượng lao đô ̣ng thấp Theo Tổ chức Lao
đô ̣ng quốc tế (International Labour Operation – ILO) ( 2010), có tới 17% lực lượng lao
đô ̣ng chưa bi ết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học trong khi lực lượng lao đô ̣ng t ốt nghiệp trung học cơ sở giảm từ 32.57% xuống còn 28.50% trong giai đoạn 2005-200926
, cũng trong giai đoa ̣n này lực lượng lao đô ̣ng không có chuyên môn chi ếm tới 74%27
Chính lao động có trình độ học vấn và chuyên môn thấp đã dẫn đến vi ệc họ phải làm những công việc đơn giản, với mức thu nhập thấp
Thu nhập của lực lượng lao đô ̣ng hiê ̣n nay thấp nên m ức hỗ trợ của ho ̣ dành cho cha me ̣ già thấp, nguồn tiết kiệm cho tương lai của chính họ cũng thấp Điều này cho thấy cuô ̣c sống của người cao tuổi hiê ̣n nay cũng như người cao tuổi trong tươ ng lai (tức lực lượng lao đô ̣ng hiê ̣n nay ) sẽ khó khăn hơn khi mức hỗ trợ dành cho họ thấp Do đó để cải thiê ̣n đươ ̣c mức hỗ trợ cho người cao tuổi hiê ̣n nay , đảm bảo nguồn thu nhâ ̣p trong tương lai cho người trẻ hiê ̣n nay đòi hỏi phải nâng cao trình độ của lực lượng lao động hiện tại Tuy nhiên thực tế cho thấy điều này sẽ rất khó khăn bởi vì s ố lượng thiếu niên rời bỏ hệ thống giáo dục để tham gia lao động đang ngày càng gia tăng Số liê ̣u ILO (2010), tỷ lệ tham gia lực lượng lao đô ̣ng trong đ ộ tuổi 15–19 đang tăng ở cả hai giới t ừ 37.1% năm 2007 lên 43.8% năm 200928
Chính vì chất lượng phụ thuộc thấp nên hiện tại còn rất nhiều người cao tuổi phải tham gia lao đô ̣ng để kiếm tiền nuôi bản thân và gia đình Thực vâ ̣y, theo kết
26
Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 5
27 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 6
28 Xem thêm Phu ̣ lục 7
Trang 26quả nghiên cứu của ILO (2010), tỷ lệ những người từ 60 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao
đô ̣ng đang tăng ở cả hai giới29
Thái độ và quan điểm của con cái đối với việc chăm sóc cha mẹ già
Ngoài chất lươ ̣ng phu ̣ thuô ̣c thấp, thái độ và quan điểm trong việc chăm sóc cha mẹ già của người trẻ hiê ̣n nay cũng làm giảm mức đô ̣ hỗ trợ mà người cao tuổi cần
Thứ nhất, quan điểm trái ngược của con cái so với cha me ̣ già trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đã làm cho người cao tuổi không nhâ ̣n đủ sự hỗ trợ mà ho ̣ cần Ngườ i cao tuổi mong muốn được con cái chăm sóc về mặt vâ ̣t chất và tinh thần cả khi khỏe cũng như khi ốm, nhưng con cái lại cho rằng chỉ cần chăm sóc người cao tuổi khi ốm Chính quan điểm trái ngược này khiến cho ngườ i cao tuổi thiếu đi nguồn hỗ trơ ̣ về mă ̣t tinh thần từ phía con cái của ho ̣, mà điều này là hết sức quan trọng bởi vì theo Lê Thị Hải Hà và
cô ̣ng sự (2009), sự quan tâm chăm sóc của gia đình và xã hô ̣i sẽ giúp cho người cao tuổi cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn
Thứ hai, sự suy giảm lòng hiếu thảo của con cái đối với người cao tuổi khiến cho chất lươ ̣ng cuô ̣c sống của người cao tuổi giảm Trong xã hô ̣i hiê ̣n nay , sự suy giảm lòng hiếu thảo ở con cái đối với cha mẹ già không hiếm , chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp rất nhiều trường hợp con cái ngược đãi cha me ̣ thông qua cá c phương tiê ̣n truyền thông ở Viê ̣t Nam cũng như các nước trên thế giới (Hô ̣p 1 minh ho ̣a ở Viê ̣t Nam)
Không những được sự quan tâm của các phương tiê ̣n truyền thông , vấn đề trên còn được các nhà nghiên cứu quan tâm Theo Hoàng Mô ̣c Lan (2007), người cao tuổi b ị khủng hoảng về tâm lý khi con cháu đối xử tệ bạc vớ i ho ̣ và cuộc sống của ho ̣ bị quẫn bách cả về vật chất lẫn tinh th ần Khi tâm lý người cao tuổi không ổn đi ̣nh sẽ dẫn đến những hâ ̣u quả nghiêm tro ̣ng liên quan đến quan hê ̣ xã hô ̣i và quan hê ̣ kinh tế , theo Lê Thi ̣ Hải Hà và cô ̣ng sự (2009)
29 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 7
Trang 27Hô ̣p 1: Hai trường hợp người cao tuổi bị con cái đối xử tệ bạc theo lời kể của Giám đốc Trung tâm nuôi dư ỡng bảo trợ người già và tàn tật Thạnh Lộc, quâ ̣n 12 thành phố Hồ Chí Minh 30
Cha vẫn nói tốt cho con mặc dù bi ̣ con đối xử tê ̣ bạc
Mô ̣t cu ̣ ông vẫn luôn nói tốt về con mình vì không muốn làm ảnh hưởng đến thanh danh của con mặc dù bi ̣ con đối xử tê ̣ ba ̣c Ông Lê Công Hùng (giám đốc Trung tâm ) cho biết, lúc đầu các cán bộ của Trung tâm cũng tin những điều cu ̣ nói , cụ ở đây vì nhà cửa làm chưa xong nên các con chưa đón cu ̣ về tuy nhiên chúng rất hay đến thăm cu ̣ Tuy nhiên sự thâ ̣t là con cu ̣ không muốn số ng chung với cu ̣ và cũng rất ít khi đến thăm cu ̣ Mỗi lần đến thăm cu ̣, họ thường xách theo túi hoa qu ả đặt trên giường cu ̣ r ồi vội vàng ra xe hơi đi về Thâ ̣m chí ho ̣ cũng không đón cu ̣ về ăn Tết vì lý do “nếu đón cha về thì ngày tết của gia đình ho ̣ sẽ… mất vui”
Chết vẫn bi ̣ con ngược đãi
Ông Hùng cho biết c ụ Nguyễn Đình Chớ trước đây là cán bộ nhà nước, được cấp nhà trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, quận Bình Thạnh Khi giá đất lên, các con khuyên cụ bán nhà
để họ mua đất xây nhà to hơn, có điều kiện phụng dưỡng cụ tốt hơn Nhưng sau khi bán nhà, 4 người con chia tiền và quyết đi ̣nh m ỗi người nuôi cha một tháng Tuy nhiên sau đó không người con nào muốn nuôi cu ̣ , vì vậy cụ phải đi xin ăn và ng ủ nhờ nơi công cộng Chính quyền địa phương làm hồ sơ xin cho cụ vào Trung tâm vì thuy ết phục gia đình không có kết quả Gần 2 tháng vào Trung tâm, các con cụ không một lần tớ i thăm cu ̣, sau đó cu ̣ qua đời vì sức khỏe yếu Trung tâm quyết đi ̣nh khâm niê ̣m cu ̣ vì gọi điện thoại báo tin buồn cho các con cu ̣ nhưng không thấy hồi âm Nửa ngày sau khi khâm niê ̣m cu ̣, những đứa con của cụ xuất hiện và cha ̣y th ẳng vào nơi để chiếc quan tài của cu ̣, bật nắp quan tài rồi bê thi thể cụ đã cứng đơ lên xe taxi , mặc dù Trung tâm có thi ện ý dùng xe tang lễ chở
cụ về nhà
30 Trích trong http://antg.cand.com.vn/vi-VN/phongsu/2007/9/64187.cand
Trang 283.3 Thách thức của hệ thống y tế đối với chăm sóc người cao tuổi
Hê ̣ thống y tế Viê ̣t Nam hiê ̣n nay đã có rất nhiều thách thức Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến hai thách thức liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, đó là sự thiếu vắng hê ̣ thống bê ̣nh viê ̣n lão khoa ở Viê ̣t Nam và mức chi phí y tế quá cao dành cho người cao tuổi
Bê ̣nh viê ̣n lão khoa chưa phát triển ở Viê ̣t Nam
Mă ̣c dù số lượng người cao tuổi ngày càng gia tăng nhưng số lượng bê ̣nh viê ̣n dành riêng cho ho ̣ không tăng Hiện tại Viê ̣t Nam chỉ có duy nhất mô ̣t bệnh viện dành riêng cho người cao tuổi đó là Bệnh viện Lão khoa Trung ương (thành lập năm 2006, tiền thân là Viện Lão khoa thuộc Bệnh viện Bạch Mai ) ở Hà Nội Ngay cả Tp.HCM được xem là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của cả nước cũng không có bệnh viện nào dành riêng cho người cao tuổi, tại các tỉnh chỉ có khoa lão khoa tại các bệnh viện đa khoa tỉnh Chính vì cả nước chỉ
có một bệnh viện dành cho người cao tuổi trong khi số lượng người cao tuổi đang gia tăng nên số lươ ̣ng bê ̣nh nhân đến với Bê ̣nh viê ̣n Lão khoa Trung ương cũng đang gia tăng Nếu như năm 2009, Bệnh viện tiếp nhận khám hơn 26,000 lượt bệnh nhân, điều trị nội trú hơn 4,000 bệnh nhân, ngoại trú gần 1,000 bệnh nhân, thì năm 2010 số lượng khám tăng lên gần 44,000 lượt bệnh nhân, điều trị nội trú hơn 5,000 bệnh nhân, ngoại trú hơn 1,000 bệnh nhân31 Số liệu này cho thấy áp lực lên Bệnh viện Lão khoa Trung ương sẽ ngày càng tăng khi Viê ̣t Nam tiến tới dân số già
Chi phí y tế rất cao đối với người cao tuổi
Chi phí y tế cao làm ha ̣n chế khả năng của người c ao tuổi trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe , nhất là những người không có bảo hiểm y tế 32
Chi phí y tế ở Viê ̣t Nam không những cao
mà phần lớn các chi tiêu này là từ tiền túi , chi tiêu công cho y tế ở Viê ̣t Nam thấp hơn so với các nước khác
31 Hoàng Dĩnh (2011), “Bệnh viê ̣n lão khoa Trung ương: Nơi người cao tuổi gửi gắm niềm tin”, Hội người
cao tuổi, truy câ ̣p ngày 17/02/2012 tại địa chỉ:
http://www.nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=9&ID=6878
32 Maryam Tajvar, Mohammad Arab and Ali Montazeri (2008), Determinants of health-related quality of life
in elderly in Tehran, Iran
Trang 29Viê ̣t Nam có chi tiêu công cho y tế thấp hơn các nước khác Thực vâ ̣y, Hình 3-3 cho thấy
mă ̣c dù chi tiêu công cho y tế trong tổng sản phẩm quốc nô ̣i (Gross domestic product – GDP) ở Việt Nam cao hơn một số nước như Inđônêsi a, Campuchia, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Trung Quốc , Thái Lan Theo Bô ̣ Y tế và Nhóm đối tác y tế (2010) trích trong UNDP (2012), chi tiêu công cho y tế ở Viê ̣t Nam khoảng 77 đôla Mỹ /người tính theo nga ng bằng sức mua cao hơn so với Inđônêsia , Campuchia, Philippines và Lào nhưng thấp hơn nhiều so với Thái Lan 242 đôla Mỹ (USD), Malaysia
273 USD và Trung Quốc 121 USD Không những chi tiêu công cho y tế thấp mà các chi tiêu cho y tế ở Vi ệt Nam là từ các nguồn tư nhân , trong đó phần lớn là từ túi tiền của bê ̣nh nhân (Hình 3-4) Một phần lý do khiến cho tổng chi tiêu của Viê ̣t Nam cho y tế trong đó có chi tiêu từ tiền túi của bê ̣nh nhân cao hơn tương đối so với mô ̣t số nước là do chi phí y tế tăng nhanh, theo UNDP (2012)
Hình 3-3: Chi tiêu cho y tế của mô ̣t số nước Đông Á và Đông Nam Á, 2007-2008, đơn vị %
Nguồn: Trang 16, UNDP (2012), Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người: Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011
Chi phí y tế tăng nhanh nghĩa là mo ̣i người sẽ phải mất nhiều tiền hơn trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe trong đó có người cao tuổi Kết quả nghiên cứu của UNDP (2012), người cao tuổi phải trả chi phí khám chữa bệnh ngày càng nhiều hơn Nếu như năm 2004 người cao tuổi phải trả 152,000 Viê ̣t Nam đồng (VND) cho mô ̣t lần sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ ngoa ̣i trú thì đến năm
2008 tăng lên là 178,400 VND (giá cố định năm 2004), tăng 17% Cũng trong năm 2004 người cao tuổi phải trả 1,433,300 VND cho mô ̣t lần sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ nô ̣i trú thì đến năm
Trang 302008 tăng lên là 1,606,800 VND (giá cố định năm 2004) Chính chi phí y tế cao đã khiến nhiều người cao tuổi không đ ến các cơ sở y tế điều tri ̣ mà t ự mua thuốc uống khi bê ̣nh , thâ ̣m chí là bỏ qua Điều này hàm ý rằng dân số già không khỏe ma ̣nh ở Viê ̣t Nam sẽ gia tăng nếu như người cao tuổi không có khả năng chi trả cho các di ̣ch vu ̣ chăm sóc sức khỏe của họ Vì vậy, Viê ̣t Nam muốn có mô ̣t lực lượng dân số già khỏe ma ̣nh trong tương lai thì nhà nước cần phải hỗ trợ nhiều hơn trong lĩnh vực y tế
Hình 3-4: Chi tiêu cho y tế ta ̣i Viê ̣t Nam, 1995-2008
Nguồn: Lấy từ trang 96, UNDP (2012), Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người: Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011
3.4 Các thách thức về phúc lợi và chính sách hỗ trợ người cao tuổi
Lĩnh vực an sinh xã hội dành cho người cao tuổi không tăng trong khi chi phí y tế tăng nên người cao tuổi gă ̣p khó khăn trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên trong giớ i ha ̣n nghiên cứu, đề tài chỉ tập t rung nghiên cứu ba lĩnh vực an sinh xã hô ̣i làm giảm khả năng hỗ trơ ̣ đối với người cao tuổi, đó là trợ cấp, lương hưu và bảo hiểm y tế
Thứ nhất, rất ít người cao tuổi nhâ ̣n được ti ền phúc lợi công cộng (trợ cấp công), với số tiền hiê ̣n nay là 240,000 VND/tháng/người33
Theo Martin Evans và cô ̣ng sự (2007), có tới 66.7% ngườ i cao tuổi không nhận được khoản trợ cấp nào34
33 Theo Pfau, Wade Donald và Giang Thành Long (2009)
34 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 3
Trang 31Thứ hai, rất ít người cao tuổi nhâ ̣n được lương hưu và lương hưu chỉ tâ ̣p trung vào người giàu Theo số liê ̣u của Ngân hàng thế giới (2007) trích trong UNFPA (2011), hơn 50% lương hưu thuô ̣c hai nhóm thu nhâ ̣p cao nhất và chỉ có 2% lương hưu thuô ̣c nhóm nghèo nhất Theo UNDP (2012), năm 2009 chỉ có 22% người cao tuổi nhâ ̣n được lương hưu Lương hưu chủ yếu tâ ̣p trung vào người giàu vì vâ ̣y rất nhiều người cao tuổi gă ̣p khó khăn sau khi nghỉ hưu Kết quả của Quốc Hô ̣i năm 2000 về vần đề xã hô ̣i35
, chỉ có 1% ngườ i về hưu đươ ̣c hỏi cho rằng đời sống vâ ̣t chất là dư dã sau khi nghỉ hưu, trong khi đó có tới 60% cho là khó khăn
Ngoài thu nhập thấp thì gánh nặng gia đình là thách thức làm hạn chế khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi , nhất là những người không có bảo hiểm y tế Bình quân một người về hưu còn trực tiếp nuôi 0.11 bố mẹ già và 0.76 con còn nhỏ, Hoàng Mộc Lan (2009)
Thứ ba, rất ít người cao tuổi có bảo hiểm y tế mă ̣c dù bảo hiểm y tế giảm gánh nă ̣ng chi tiêu y tế cho ho ̣ Theo Castel và Oanh (2010) trích trong UNDP (2012), người cao tuổi chỉ phải trả 5% các dịch vụ y tế khi có bảo hiểm y tế Tuy nhiên vào năm 2004 chỉ có 28.4% người cao tuổi được bảo hiểm y tế miễn phí trong tổng số 33% có bảo hiểm y tế, năm 2008 chỉ có 37% người cao tuổi được bảo hiểm y tế miễn phí trong tổng số 40% có bảo hiểm y tế36
Lý do khiến rất ít người cao tuổi nhận được bảo hiểm y tế miễn phí là vì chỉ có những người trên 80 tuổi hoă ̣c diê ̣n xóa đói giảm nghèo mới được nhâ ̣n Chính sách này đã hạn chế khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Từ những phân tích trên cho thấy ngay cả những người nhâ ̣n được hỗ trợ , lương hưu cũng
có cuộc sống khó khăn , vậy những người không nhận được sự hỗ trợ này sẽ như thế nào ? Cuô ̣c sống của ho ̣ sẽ ra sao khi tuổi tho ̣ tăng lên cùng với khả năng lao đô ̣ng giảm , thu nhâ ̣p thấp, và thậm chí là gánh nặng gia đình nhưng lại không nhận được sự hỗ trợ từ con cái và nhà nước ? Chương 4 sẽ trả lời những câu hỏi này rõ hơn thông qua một cuộc khảo sát thực tế những người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn tại địa bàn Tp.HCM
35 Trích trong Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009)
36 Theo số liê ̣u điều tra VHLSS 2004 và 2008 trích trong UNDP (2012)
Trang 32CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ
Trong chương này đề tài sẽ trình bày những kết quả thu được từ cuô ̣c điều tra thực tế thực hiê ̣n trên đi ̣a bàn Tp HCM Sau khi phân tích các kết quả thu được từ cuô ̣c điều tra , đề tài tiến hành thảo luâ ̣n có bình luâ ̣n sâu hơn về những thách thức mà người cao tuổi trong mẫu đang đối mă ̣t trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe Từ những bình luâ ̣n này đề tài so sánh với những kết quả thu được ở chương 3 để tìm ra những thách thức làm hạn chế khả năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở đô thị nói chung
4.1 Kết quả nghiên cứu
4.1.1 Phương pha ́ p chọn mẫu và thiết kế bảng hỏi
Số liê ̣u điều tra được thu thâ ̣p thông qua viê ̣c phỏng vấn 50 người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn ở quận 4, quâ ̣n 8, quâ ̣n Thủ Đức và huyê ̣n Nhà Bè Sự lựa cho ̣n các quâ ̣n , huyê ̣n này mang tính đại diện một cách tương đối theo bốn tiêu chí các quận trung tâm , quâ ̣n ven
ở khu vực nội thành, quâ ̣n mới đô thi ̣ hóa và huyê ̣n nông thôn ngoa ̣i thành37
Tại mỗi quận, huyê ̣n tác giả tìm mô ̣t người có tuổi từ 60 trở lên và có hoàn cảnh khó khăn
để thực hiện phỏng vấn Sau khi đã phỏng vấn đối tượng , tác giả sẽ nhờ đối tượng giới thiê ̣u những người có đă ̣c điểm giống đối tượng và tiến hành phỏng vấn nhựng người mà đối tươ ̣ng giới thiê ̣u Quá trình này diễn ra liên tục và kết thúc khi những thông tin mà đối tươ ̣ng phỏng vấn cung cấp không có sự khác biê ̣t so với các đối tượng đã khảo sát trước đó Tác giả đến nhà đối tượng , phỏng vấn trực tiếp và ghi lại thông tin phỏng vấn từ các đối tươ ̣ng đã cho ̣n Người cao tuổi có sức khỏe yếu hoă ̣c không có khả năng giao tiếp sẽ không đươ ̣c lựa cho ̣n để tham gia nghiên cứu này
Nô ̣i dung bảng hỏi của đề tài dựa vào hai nghiên cứu , được trình bày trong Phu ̣ lu ̣c 8 Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và Lê Trung Sơn (2004) Thứ hai, tìm hiểu về thực trạng sức khỏe (thông qua viê ̣c tìm hiểu những loa ̣i bê ̣nh mà người cao tuổi thường gă ̣p như trình
37 Lê Văn Thành (2006), Chuẩn nghèo và bản chất nghèo đô thi ̣ ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 33bày trong chương 2), và cách xử lý khi mắc bệnh của người cao tuổi đề tài dựa vào nghiên cứu của Trần Thi ̣ Ha ̣nh (2008)
Lý do đề tài chọn hai nghiên cứu trên để thiết kế bảng hỏi là vì hai nghiên cứu này đánh giá được sức khỏe thể chất , quan hê ̣ xã hô ̣i, kinh tế của người cao tuổi Đây là ba tr ong số sáu khía cạnh thể hiện quan niệm chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mà Lê Thị Hải
Hà và cộng sự (2009) đã nghiên cứu , làm cơ sở cho việc xây dựng bộ công cụ đo lường chất lươ ̣ng cuô ̣c sống của người cao tuổi ở Viê ̣t Nam
4.1.2 Kết qua ̉ khảo sát
Từ đoa ̣n này đề tài sẽ tâ ̣p trung phân tích 50 người cao tuổi đã được phỏng vấn Sau đây là
mô ̣t số kết quả thu thâ ̣p được từ cuô ̣c khảo sát
Đặc điểm mô tả mẫu khảo sát
(1) Đặc điểm nhóm nghiên cư ́ u 38
Trong số 50 người được phỏng vấn có 30 cụ ông và 20 cụ bà Tuổi của các đối tượng trong nhóm nghiên cứu từ 60-91, trong đó những người ở đô ̣ tuổi 70-79 chiếm nhiều nhất Trong số những người được phỏng vấn chỉ có 2 cụ bà chưa từng lập gia đình ; 48 cụ còn lại hiện
có 24 cụ đang ở với vợ/chồng (tỷ lệ cụ ông nhiều hơn cụ bà ), 20 cụ góa và 4 cụ ly thân (tỷ
lê ̣ cu ̣ bà chiếm đa số) Hầu hết các đối tượng được phỏng vấn có trình đô ̣ g iáo dục thấp, cụ
bà thấp hơn cụ ông Mù chữ chiếm đa số với tỷ lệ ở cụ bà là 60%, cụ ông 36.67% Trình độ học vấn cao nhất của cụ bà là tiểu học , cụ ông là tốt nghiệp trên phổ thông 80% các cụ trong mẫu đều ở mức b ình thường tính theo chỉ số khối lượng cơ thể (Body Mass Index – BMI), chỉ có 16% gầy và 4% béo phì
(2) Viê ̣c làm và nguồn thu nhập hàng tháng 39
Kết quả khảo sát cho thấy công viê ̣c trong quá khứ và hiê ̣n ta ̣i mà những người được phỏng vấn làm đều mang tính thủ công , không ổn đi ̣nh Đa số ho ̣ hiê ̣n vẫn làm viê ̣c với tỷ lê ̣ 76% (trong quá khứ là 96%) và đây là nguồn thu nhập chính của họ Ngoài nguồn thu nhập từ
38 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 9
39 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 10
Trang 34lao đô ̣ng trực tiếp , hàng tháng cá c cu ̣ còn nhâ ̣n được lương hưu , trợ cấp (chỉ những người
có hộ khẩu tại Tp HCM); tiền từ con cháu biếu , đóng góp Tuy nhiên số cu ̣ nhâ ̣n được các khoản thu nhập khác ngoài lao động trực tiếp không nhiều , chỉ có 14% là nhận lương hưu, trơ ̣ cấp (trong đó 2% là lương hưu và 12% là trợ cấp); 24% nhâ ̣n tiền từ con cháu biếu và không có cu ̣ nào nhâ ̣n được tiền từ các khoản bảo hiểm hoă ̣c lãi tiết kiê ̣m
(3) Sư ́ c khỏe và vấn đề chăm sóc sức khỏe 40
Kết quả khảo sát cho thấy hiê ̣n người cao tuổi trong mẫu cũng gă ̣p mô ̣t số vấn đề liên quan đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe giống như những người cao tuổi khác Đó là nhiều cu ̣ vẫn không tiếp câ ̣n được với di ̣ch vu ̣ y tế vì chi phí khám chữa bê ̣nh cao nhưng la ̣i không
có bảo hiểm y tế
Về tình hình sức khỏe của 50 cụ được khảo sát , có 35 cụ tự thực hiện các sinh hoạt hằng ngày được liệt kê trong bảng hỏi , tỷ lệ 70% 15 cụ còn lại , có 2 cụ bà không tự thực hiện tất cả các hoa ̣t đô ̣ng trên và phải nhờ con gái chăm sóc ; 11 cụ khó khăn trong di chuyển và
2 cụ không thể kiểm soát bài tiết Từ viê ̣c thực hiê ̣n các công viê ̣c hằng ngày cho thấy có 30% cụ được hỏi bị hạn chế hoạt động sinh hoạt hằng ngày Ngoài ra , khảo sát còn cho thấy cao huyết áp, đau lưng đau khớp, khó khăn trong di chuyển là những bệnh thường gặp
ở các cụ trong mẫu với tỷ lệ lần lượt là 36%, 34% và 26% Ngoài những bệnh trên, các cụ cũng mắc một số bệnh khác như bệnh về mắt và thính giác
Về cách thức chăm sóc sức khỏe của 50 cụ được khảo sát, chỉ có 2 cụ bà là phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của gia đình khi b ị bệnh, tỷ lệ 4%; 30 cụ phải nhờ người thân chăm sóc khi bi ̣ bê ̣nh, tỷ lệ 60% và 18 cụ tự chăm sóc khi bệnh, tỷ lệ 36%
Ngoài ra, kết quả khảo sát cho thấy rất ít cu ̣ được hỏi trả lời là có bảo hiểm y tế Tỷ lệ các
cụ có bảo hiểm y tế là 30% (trong đó bảo hiểm y tế miễn phí là 12% và tự mua bảo hiểm y tế là 18%); tuy nhiên chỉ có 14% là sử dụng bảo hiểm để khám chữa bệnh , lý do khiến những cu ̣ có bảo hiểm y tế nhưng không sử du ̣ng là do thời gian chờ đợi lâu Chi phí y tế cao là gánh nă ̣ng kinh tế đối với những cu ̣ không có bảo hiểm y tế khi điều tri ̣ bê ̣nh Vì vậy
để giảm tốn kém , mô ̣t số cu ̣ trong mẫu đã không điều tri ̣ khi bê ̣nh (tỷ lệ 22%) hoă ̣c chỉ uống thuốc khi bi ̣ bê ̣nh chứ không đi bê ̣nh viê ̣n (tỷ lệ 14%)
40 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 11
Trang 35(4) Quan hê ̣ xã hội 41
Hầu hết các cu ̣ trong mẫu đều rất ít tham gia các hoa ̣t đô ̣ng vui chơi , giải trí, thể du ̣c thể thao để khuây khỏa tuổi già và nâng cao sức khỏe cho bản thân Lý do các cụ đưa ra là vì không có thời gian Chỉ có 50% cụ trong mẫu được hỏi là có xem tivi , 22% có đọc sách báo và 18% có nghe đài Ngoài ra, chỉ có 13 cụ tham gia thể dục thể thao, trong đó 10 cụ đi
bô ̣ (cả cụ ông và cụ bà ), 3 cụ còn lại: 1 ngồi thiền, 1 tâ ̣p khí công, 1 chạy xe đạp (cả 3 đều
là nam) Ngoài ra, rất ít cu ̣ trong mẫu tham gia các sinh hoa ̣t đoàn thể, câu la ̣c bô ̣, những cu ̣ trả lời có tham gia hội đều là nam , tỷ lê ̣ 10% Trong số 50 cụ được hỏi chỉ có 1 cụ trả lời là
có nhận sự trợ giúp của hàng xóm
(5) Nhu cầu dinh dươ ̃ng
Mô ̣t nửa người già trong mẫu đều tự cho rằng mình đã ăn uống rất ít so với trước đây , không những thế ho ̣ c òn cho rằng mình ăn rất thiếu chất dinh dưỡng Kết quả khảo sát cho thấy có tới 12 cụ bà và 13 cụ ông (chiếm tỷ lê ̣ là 60% ở cụ bà so với tổng số cụ bà và 43.33% ở cụ ông so với tổng số cụ ông ) trả lời rằng rất ít ă n thịt, cá, trứng, trái cây và đặc biê ̣t là sữa Viê ̣c ăn không đủ chất dinh dưỡng của các cu ̣ trong mẫu phản ảnh khả năng kinh tế ha ̣n he ̣p cũng như tình tra ̣ng thiếu dinh dưỡng của ho ̣ Nếu tình tra ̣ng thiếu dinh dưỡng gia tăng và kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của các cụ trong mẫu nghiên cứu
Thông tin về những người có quan hê ̣ kinh tế với người cao tuổi 42
Kết quả khảo sát cho thấy rất ít cu ̣ nhâ ̣n được sự hỗ trợ từ phía con cái Trong số 50 cụ đươ ̣c khảo sát có 13 cụ sống một mình (Hình 4-1), chỉ có 37 cụ có mối quan hệ kinh tế với người thân Mă ̣c dù khảo sát không cho thấy tỷ lê ̣ người cao tuổi sống neo đơn , hay chỉ sống với vợ/chồng hoă ̣c chỉ sống với cháu hay người thân khác lớn nhưng lại cho thấy có rất ít cu ̣ nhâ ̣n được sự hỗ trợ của con cái
Những người có quan hê ̣ kinh tế với 50 cụ được phỏng vấn gồm ba trường hợp thứ nhất sống chung với các cu ̣, thứ hai gửi tiền hoă ̣c nuôi các cu ̣, thứ ba các cu ̣ gửi tiền hoă ̣c nuôi họ Trong đó, vợ/chồng, con ruô ̣t, con dâu/rễ, cháu và những người thân khác (cha me ̣, em
41 Xem thêm Phụ lục 12
42 Xem thêm Phu ̣ lu ̣c 13