1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam : Luận văn thạc sĩ

118 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan luận văn “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam” l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 PHAN THANH TRÚC

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHẰM THU HẸP KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA

XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN TẠI

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – 10/2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 PHAN THANH TRÚC

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHẰM THU HẸP KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG

KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ GIANG TÂN

TP.HỒ CHÍ MINH – 10/2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan luận văn “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tác giả, với sự hướng dẫn của

PGS.TS Trần Thị Giang Tân Nội dung, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và dựa theo số liệu điều tra Các tài liệu, đoạn trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác giả

Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013

Ký tên

Phan Thanh Trúc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục hình vẽ

Danh mục bảng biểu

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VÀ KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC 7

1.1 Tổng quan về chất lượng hoạt động kiểm toán trong kiểm toán BCTC 7

1.1.1 Định nghĩa chất lượng, chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC 7

1.1.1.1 Định nghĩa về chất lượng 7

1.1.1.2 Định nghĩa chất lượng hoạt động kiểm toán 8

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC 11

1.1.2.1 Quy mô công ty kiểm toán 11

1.1.2.2 Nguồn nhân lực công ty kiểm toán 12

1.1.2.3 Quy trình kiểm soát chất lượng bên trong công ty kiểm toán 13

1.1.2.4 Tính độc lập 14

1.2 Khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC 17

1.2.1 Khái niệm khoảng cách mong đợi kiểm toán 17

Trang 5

1.2.1.1 Khái niệm về “khoảng cách mong đợi” 17

1.2.1.2 Khái niệm về “Khoảng cách mong đợi kiểm toán” 17

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC 19

1.2.2.1 Vai trò và trách nhiệm của KTV đối với BCTC trong việc cảnh báo tình hình hoạt động kinh doanh của công ty được kiểm toán tạo ra khoảng cách mong đợi toán 19

1.2.2.2 Trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận, sai sót trên BCTC và thông báo về các phát hiện này cho những đối tượng liên quan tạo ra khoảng cách mong đợi 21

1.2.2.3 Bản chất và ý nghĩa thông điệp của Báo cáo kiểm toán và các khoảng cách mong đợi liên quan 23

1.2.3 Cơ sở lý luận về nguyên nhân hình thành khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC và khả năng thu hẹp khoảng cách này 26

1.2.3.1 Nguyên nhân hình thành khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC 26

1.2.3.2 Khả năng thu hẹp khoảng cách mong đợi để nâng cao chất lượng kiểm toán 29 Kết luận chương I 34

Chương II: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ KHOẢNG CÁCH GIỮA MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VỚI KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM 35

2.1 Đặc điểm hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam 35

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển nghề nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam 35

2.1.2 Số lượng và hình thức pháp lý công ty kiểm toán 35

2.1.3 Các dịch vụ do kiểm toán độc lập cung cấp 37

2.1.4 Đội ngũ nhân viên kiểm toán chuyên nghiệp 37

2.1.5 Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) 38

2.2 Các quy định liên quan chất lượng kiểm toán BCTC tại Việt Nam 39

Trang 6

2.2.1 Các quy định liên quan hoạt động kiểm toán độc lập 39

2.2.2 Các quy định có liên quan về chất lượng kiểm toán độc lập 41

2.2.2.1 Chuẩn mực kiểm toán số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán 41

2.2.2.2 Chuẩn mực kiểm toán số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính 41

2.2.2.3 Chuẩn mực kiểm toán số 240 - Gian lận và sai sót 42

2.2.2.4 Chuẩn mực kiểm toán số 700 - Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính 42

2.3 Khảo sát ý kiến về nhân tố ảnh hưởng chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập và khoảng cách mong đợi xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam 43

2.3.1 Mục tiêu khảo sát 43

2.3.2 Phương pháp và nội dung khảo sát 43

2.3.3 Đối tượng khảo sát 44

2.3.4 Kết quả khảo sát 46

2.3.4.1 Các yếu tố đánh giá chất lượng kiểm toán 46

2.3.4.2 Khoảng cách mong đợi về chất lượng kiểm toán 50

2.4 Tổng hợp đánh giá về chất lượng hoạt động kiểm toán và khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Việt Nam 62

2.4.1 Đánh giá chung về chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam 62

2.4.1.1 Thành quả đạt được 63

2.4.1.2 Những tồn tại liên quan đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán 63

2.4.2 Đánh giá chung về khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Việt Nam 64

2.4.2.1 Điểm thống nhất 64

2.4.2.2 Những khác biệt về nhận thức đưa đến khoảng cách mong đợi kiểm toán 65

Kết luận chương II 68

Trang 7

Chương III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHẰM THU HẸP KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM 69

3.1 Quan điểm của các giải pháp 69 3.1.1 Các giải pháp cần phù hợp với thông lệ chung của quốc tế và phù hợp đặc điểm Việt Nam 69 3.1.2 Các giải pháp phải giúp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại

Việt Nam 69 3.2 Giải pháp chung nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi kiểm toán và góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán tại Việt Nam 70 3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý để thu hẹp khoảng cách mong đợi do khiếm

khuyết chuẩn mực 71

3.2.1.1 Ban hành đầy đủ các quy định pháp lý; cập nhật, sửa đổi thường xuyên hệ thống CMKiT Việt Nam 72 3.2.1.2 Ban hành đầy đủ và kịp thời hướng dẫn chi tiết về văn bản pháp luật liên quan đến kiểm toán 73

3.2.2 Nâng cao năng lực, trình độ của KTV, hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng

để giảm thiểu khoảng cách về năng lực 74 3.2.3 Thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền kiến thức về kiểm toán đối với người

sử dụng BCTC để giảm thiểu khoảng cách từ những mong đợi chưa hợp lý 74 3.3 Giải pháp cụ thể 75 3.3.1 Giải pháp đối với Cơ quan chức năng Nhà nước 75

3.3.1.1 Điều chỉnh quy mô công ty kiểm toán: tăng công ty kiểm toán có quy mô lớn, giảm công ty có quy mô nhỏ 75 3.3.1.2 Xây dựng khung giá phí kiểm toán, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh từ việc thỏa thuận giá phí giữa công ty kiểm toán với khách hàng 77 3.3.1.3 Nâng cao công tác kiểm tra, giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán từ Bộ Tài Chính, Hội nghề nghiệp và Ủy ban chứng khoán 78

Trang 8

3.3.1.4 Cần yêu cầu các công ty kiểm toán nên tuân thủ chương trình kiểm toán

mẫu do VACPA soạn thảo 81

3.3.1.5 Đổi mới việc đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề hướng đến quốc tế hóa chứng chỉ KTV hành nghề Việt Nam 82

3.3.2 Giải pháp đối với công ty kiểm toán 84

3.3.2.1 Phát triển đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ KTV 84

3.3.2.2 Giám sát chặt chẽ việc tuân thủ CMKiT, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của KTV 86

3.3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm soát chất lượng bên trong của công ty kiểm toán 88 3.3.2.4 Nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán và hiệu quả hoạt động quản lý 90

3.3.3 Giải pháp đối với bản thân người sử dụng BCTC 91

Kết luận chương III 93

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 100

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACCA : Hội kế toán công chứng Anh

ADB : Ngân hàng phát triển Châu Á

ASB : Hội đồng tiêu chuẩn kiểm toán

BCKT : Báo cáo kiểm toán

BCTC : Báo cáo tài chính

BGĐ : Ban giám đốc

BTC : Bộ Tài Chính

CLKT : Chất lượng kiểm toán

CMKiT : Chuẩn mực kiểm toán

CPA : Kiểm toán viên hành nghề

CTKT : Chương trình kiểm toán

DNKT : Doanh nghiệp kiểm toán

DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước

GTTB : Giá trị trung bình

ISA : Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

KSCL : Kiểm soát chất lượng

KTĐL : Kiểm toán độc lập

KTV : Kiểm toán viên

PS : Phương sai

VACPA : Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

VSA : Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

WB : Ngân hàng thế giới

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình chất lượng kiểm toán (Thomas C Wooten, 2003) 16

Hình 1.2: Mô hình khoảng cách mong đợi kiểm toán (Porter, 1993) 27

Hình 1.3: Sơ đồ khoảng cách mong đợi (SVNCKH 2012 Đại học Ngoại thương YRC FTU) 29

DANH MỤC BẢNG BIỂU Biểu đồ 2.1: Các yếu tố đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán 47

Bảng 2.1: Số lượng đối tượng khảo sát và thông tin mô tả 46

Bảng 2.2: Bảng kết quả khảo sát về mức độ quan trọng của các yếu tố đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán 49

Bảng 2.3: Bảng kết quả khoảng cách mong đợi về chất lượng kiểm toán 50

Bảng 2.4:Bảng kết quả trách nhiệm chung của KTV trong kiểm toán BCTC 52

Bảng 2.5: Bảng kết quả định nghĩa về gian lận và trách nhiệm của KTV đối với phát hiện và công bố gian lận, sai sót 54

Bảng 2.6: Bảng kết quả mục đích, ý nghĩa báo cáo kiểm toán 57

Bảng 2.7: Bảng kết quả thuật ngữ thể hiện trên Báo cáo kiểm toán 58

Bảng 2.8: Bảng kết quả ý nghĩa ý kiến KTV trên Báo cáo kiểm toán 60

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập đã hình thành, phát triển và trở thành nhu cầu tất yếu đối với xã hội Kiểm toán độc lập (KTĐL) đã tham gia vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, góp phần tạo dựng niềm tin vào báo cáo tài chính (BCTC) được kiểm toán, giúp cổ phần hóa doanh nghiệp, thu hút đầu tư của nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước và ngày càng khẳng định được vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Được xem là chiếc cầu nối giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp, kiểm toán giúp thông tin tài chính trở nên minh bạch hơn, đảm bảo tính trung thực và hợp lý của thông tin nhằm củng cố niềm tin của các nhà đầu tư đối với BCTC của các doanh nghiệp Đó chính là mục tiêu, vai trò của hoạt động kiểm toán đối với xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay khi mà nhu cầu về thông tin tài chính là hết sức cần thiết đối với bất kỳ một người

sử dụng báo cáo tài chính nào

Tuy nhiên, trên thực tế, xã hội vẫn còn tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau về nghề nghiệp kiểm toán, đặc biệt là về trách nhiệm và nghĩa vụ của kiểm toán viên (KTV) đối với chất lượng hoạt động kiểm toán, từ đó dẫn đến những mong muốn vượt quá trách nhiệm và khả năng thực tế của KTV Mặc dù xuất phát từ cùng một mong muốn là hạn chế tối đa sai sót trong BCTC, nhưng mong đợi của nhà đầu tư và kết quả từ cuộc kiểm toán thực tế mang lại đôi khi không đồng nhất Chính từ sự khác biệt này đã tạo nên khoảng cách giữa mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán (CLKT) với khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán độc lập

Đã có khá nhiều nghiên cứu trước đề cập đến vấn đề này nhằm tìm giải pháp khắc phục, bởi

lẽ khoảng cách kỳ vọng sẽ làm ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng đối với chất lượng hoạt động kiểm toán và hệ lụy đến quyết định đầu tư, kinh doanh trong xã hội Vì vậy việc

Trang 12

nghiên cứu về khoảng cách mong đợi kiểm toán, với mục đích hiểu được nguyên nhân gây

ra khoảng cách này và tìm ra biện pháp thu hẹp chúng là điều hết sức cần thiết

Với tầm quan trọng như trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam” với mong muốn đưa đến người đọc cái nhìn tổng

quan về mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi trong kiểm toán, thực trạng về chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Việt Nam, qua

đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán nhằm thu hẹp những khoảng cách này trong hoạt động kiểm toán độc lập

II Mục tiêu nghiên cứu:

Luận văn tập trung vào các mục tiêu sau:

- Hệ thống hóa các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán so với khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán độc lập nhằm làm sáng tỏ các nội dung như: chất lượng kiểm toán, khoảng cách mong đợi và mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán với khoảng cách mong đợi trong kiểm toán

- Phân tích, đánh giá về chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam và sự tồn tại khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam thông qua khảo sát thực nghiệm

- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu khoảng cách mong đợi và hoàn thiện chất lượng kiểm toán tại Việt Nam

III Câu hỏi nghiên cứu:

Luận văn nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

- Các nhân tố nào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán?

- Liệu có tồn tại sự khác biệt giữa hiểu biết và kỳ vọng của xã hội về chất lượng kiểm toán

so với khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán hay không?

Trang 13

- Các nội dung chính tạo ra khoảng cách giữa mong đợi của xã hội với khả năng đáp ứng của nghề nghiệp về chất lượng kiểm toán là gì?

- Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng chất lượng kiểm toán với các yếu tố hình thành khoảng cách mong đợi của xã hội đối với chất lượng kiểm toán

IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện đối với các nhóm đối tượng sử dụng kết quả của kiểm toán như sau:

- Nhóm kiểm toán viên

- Nhóm các nhà quản lý tài chính, kế toán viên

- Nhóm phân tích BCTC (nhân viên ngân hàng, đầu tư chứng khoán và sinh viên chuyên ngành kế toán – kiểm toán)

2 Phạm vi nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu: Bảng câu hỏi khảo sát được thực hiện cho các đối tượng nghiên cứu trên địa bàn Tp.HCM

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài dự kiến thực hiện từ tháng 03/2013 đến 10/2013

V Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng kết hợp phương pháp định tính & định lượng thông qua thống kê mô tả, và các phương pháp phân tích, tổng hợp

- Thu thập số liệu:

+ Số liệu sơ cấp: Thu thập ý kiến từ các đối tượng nghiên cứu (nhà đầu tư, kế toán viên, nhà quản lý doanh nghiệp, kiểm toán viên và sinh viên) thông qua bảng câu hỏi khảo sát

+ Số liệu thứ cấp: Thu thập từ các nguồn báo chí, Hội nghề nghiệp kiểm toán, các báo cáo nghiên cứu khoa học và tài liệu hướng dẫn…

- Phân tích số liệu: Tổng hợp các số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát, tiến hành thống kê, phân tích thực trạng chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi

Trang 14

của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel 2010

VI Tổng quan về các nghiên cứu trước:

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về chất lượng hoạt động kiểm toán, về cách nhìn nhận, đánh giá chất lượng của một cuộc kiểm toán từ nhiều phía, nhiều đối tượng có liên quan đến BCTC được kiểm toán, là điều cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Đã có rất nhiều các bài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án tiến sĩ đề cập đến những vấn đề này Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã quan tâm tập hợp, phân tích và tổng hợp một số các công trình nghiên cứu có liên quan, cụ thể như sau:

[1] Nguyễn Thị Bích Sơn (2010), “Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng dịch

vụ kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh”,

Luận văn thạc sĩ 98 trang

Luận văn này nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng và kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập, tìm hiểu thực trạng kiểm soát chất lượng (KSCL) hoạt động kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại Tp.HCM, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả KSCL cho loại hình công ty này

[2] Nguyễn Văn Hương (2010), “Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của báo cáo kiểm

toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”,

Luận văn thạc sĩ 85 trang

Luận văn nghiên cứu các lý luận về việc ban hành và hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán trong và ngoài nước có liên quan đến việc soạn thảo và phát hành báo cáo kiểm toán, kết hợp đánh giá thực trạng việc soạn thảo và phát hành báo cáo kiểm toán (BCKT) về BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó nêu lên giải pháp nâng cao chất lượng của BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

[3] Trần Khánh Lâm (2011), “Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm

toán độc lập tại Việt Nam”, Luận án tiến sĩ 168 trang

Trang 15

Luận án nghiên cứu các quan điểm cơ bản về kiểm soát chất lượng (KSCL) hoạt động KTĐL, các yếu tố ảnh hưởng CLKT, cơ chế KSCL, các chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) liên quan đến chất lượng của hoạt động KTĐL Quá trình hình thành và phát triển hoạt động KTĐL, sự hình thành cơ chế KSCL tại Việt Nam, từ đó đánh giá thực trạng KSCL KTĐL tại Việt Nam Cuối cùng luận án nêu lên quan điểm và giải pháp xây dựng cơ chế KSCL hoạt động KTĐL tại Việt Nam

[4] Trần Thị Giang Tân (2011), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập các quy định

về kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp bộ 113 trang

Đề tài nghiên cứu lý luận cơ bản về chất lượng và kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán, đúc kết kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, tiến hành khảo sát thực trạng kiểm soát chất lượng đối với hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam, xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập các quy định về kiểm soát chất lượng và đề ra các giải pháp mang tính định hướng cho việc thiết lập các quy định kiểm soát chất lượng đối với hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam

[5] Mai Thị Hoàng Minh (2012), “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc

lập trong điều kiện Luật kiểm toán độc lập đã được ban hành và áp dụng”, Đề tài nghiên

cứu khoa học cấp trường 96 trang

Đề tài nghiên cứu và hệ thống những lý luận cơ bản về kiểm toán độc lập và chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, xác định các yếu tố ảnh hưởng chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, kết hợp với việc tổng hợp, phân tích dữ liệu về hoạt động và đánh giá chất lượng hoạt động của kiểm toán độc lập, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cho kiểm toán độc lập trong điều kiện Luật kiểm toán độc lập đã ban hành và áp dụng

[6] “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại các doanh nghiệp niêm yết”, Đề tài tham dự cuộc

thi SVNCKH 2012 Đại học Ngoại thương YRC FTU 70 trang

Bài nghiên cứu khái quát những nội dung cơ bản về lý thuyết khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán, phân tích, đánh giá khoảng cách kỳ vọng tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam và đề xuất các phương pháp cụ thể nhằm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng

Trang 16

Như vậy, có thể nói, vấn đề về chất lượng hoạt động kiểm toán, kiểm soát chất lượng và khoảng cách mong đợi kiểm toán đã được tiến hành bởi khá nhiều nghiên cứu độc lập Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào kết hợp giữa vấn đề chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi về kiểm toán, từ đó tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán để thu hẹp khoảng cách mong đợi này Trên cơ sở kế thừa và tiếp cận những nghiên cứu trên, luận văn tạo ra điểm mới trong việc kết hợp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán và đo lường sự khác biệt giữa hiểu biết và kỳ vọng của xã hội về chất lượng kiểm toán so với khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán, từ đó đề xuất các biện pháp tăng cường, hoàn thiện chính sách, luật kiểm toán, giúp nâng cao nhận thức về vai trò và trách nhiệm nghề nghiệp của chính bản thân các kiểm toán viên, hoàn thiện chất lượng kiểm toán, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, đào tạo giúp xã hội có cái nhìn đúng đắn hơn về bản chất của kiểm toán

VII Kết cấu bài nghiên cứu:

Luận văn có kết cấu như sau:

Lời mở đầu

Chương 1: Tổng quan về chất lượng hoạt động kiểm toán và khoảng cách mong đợi của xã

hội về chất lượng kiểm toán trong kiểm toán BCTC

Chương 2: Thực trạng về chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập và khoảng cách giữa

mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán với khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi

về chất lượng kiểm toán ở Việt Nam

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 17

Chương I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VÀ KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC

1.1 Tổng quan về chất lượng hoạt động kiểm toán trong kiểm toán BCTC

1.1.1 Định nghĩa chất lượng, chất lượng hoạt động kiểm toán

1.1.1.1 Định nghĩa về chất lượng

Đã từ lâu chất lượng trở thành một khái niệm quen thuộc với con người, nhưng cũng có không ít những tranh cãi phát sinh xoay quanh khái niệm này Nguyên nhân là do dưới nhiều góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, các khái niệm về chất lượng sẽ khác nhau

- Theo quan điểm Triết học, chất lượng được hiểu là sự đạt đến mức độ hoàn hảo, tuyệt

đối Chất lượng là cái gì đó làm cho mọi người khi nghe thấy đều nghĩ đến sự hoàn mỹ

nhất, cao nhất, không khuyết tật, là mức độ tuyệt vời Đây là một khái niệm mang tính trừu tượng, chưa cho phép chúng ta có thể định lượng, đo lường và không thể ứng dụng trong kinh doanh

- Walte.A Shemart, nhà quản lý người Mỹ khởi xướng cho quan điểm về vấn đề chất

lượng và quản lý chất lượng, cho rằng: chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh

công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của

nó Định nghĩa này gắn liền với đặc tính sản phẩm, tuy nhiên còn tách rời với nhu cầu

của người tiêu dùng, không tính đến sự thích nghi khác nhau về sở thích của từng người

- Một quan điểm khác cũng đứng về góc độ nhà sản xuất, theo đó, chất lượng sản phẩm là

sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, yêu cầu kinh tế kỹ thuật đã được thiết kế

từ trước Theo quan điểm này, các nhà sản xuất cần đề ra các tiêu chuẩn và sản xuất theo

đúng các tiêu chuẩn đó sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng Quan điểm này chỉ chú ý đến các tiêu chuẩn mà không chú ý đến những tác động, sự thay đổi của môi trường xung quanh và không quan tâm đến đối tượng sử dụng, đến yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm

Trang 18

- Bên cạnh các quan điểm chỉ tập trung vào quy trình sản xuất, vào thế kỷ 20, ở các quốc gia phát triển đã xuất hiện một số quan niệm về chất lượng đứng trên góc độ người sử dụng Từ góc nhìn này, có những quan điểm khác nhau như là:

 Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng (European Organization for Quality Control )

 Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu (Philip B.Crosby)

 Chất lượng là phù hợp với mục đích sử dụng (J.M.Juran)

 Chất lượng là tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu của người sử dụng (Tổ chức quốc tế và Tiêu chuẩn hóa ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000-2005 (TCVN 9000- 2007), trong đó, yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc

Như vậy, đứng từ nhiều góc nhìn, nhiều phương diện, sẽ có nhiều định nghĩa khác nhau,

tuy nhiên, các định nghĩa này đều có một điểm chung, và ta hiểu đó là một tập hợp các đặc

tính cần có để đáp ứng các nhu cầu của người sử dụng Những yêu cầu đó có thể là yêu cầu

về kỹ thuật, về công nghệ, là các nhu cầu từ phía người tiêu dùng, hay những yêu cầu mang tính pháp lý khác, nhưng những quan điểm, khái niệm trên không những không đối lập mà còn mang ý nghĩa bổ sung cho nhau

Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, chất lượng luôn là sự thách thức, là mối quan tâm hàng đầu trong mọi lĩnh vực đối với bất kỳ tổ chức nào Các sản phẩm, dịch vụ được cung cấp đòi hỏi phải đáp ứng, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ đóng góp vào lợi ích chung của xã hội càng phải nỗ lực hơn trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động của mình

1.1.1.2 Định nghĩa chất lượng hoạt động kiểm toán

Xuất phát từ nhu cầu giải quyết xung đột lợi ích tồn tại giữa người sử dụng BCTC được công bố và các nhà quản lý doanh nghiệp liên quan đến tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trên BCTC, xã hội đòi hỏi cần có một bên thứ ba độc lập cho ý kiến về thông tin

Trang 19

này Kiểm toán độc lập, với chức năng chính là xác minh và trình bày ý kiến của KTV thông qua báo cáo kiểm toán, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đảm bảo rằng Ban giám đốc các doanh nghiệp đã cung cấp thông tin hợp lý được trình bày trên BCTC, và người sử dụng BCTC có thể tự tin tiếp nhận và sử dụng thông tin này Chất lượng và sự hữu dụng của cuộc kiểm toán là mục tiêu được đặt lên hàng đầu trong việc đáp ứng nhu cầu xác nhận tính trung thực và hợp lý của BCTC được kiểm toán nhằm thu hẹp khoảng cách giữa

người sử dụng thông tin BCTC và các nhà quản lý của doanh nghiệp Dang (2004) lập luận

rằng các báo cáo tài chính đã được kiểm toán là một cơ chế giám sát để đảm bảo thông tin tài chính đến người sử dụng

Định nghĩa chất lượng hoạt động kiểm toán phức tạp hơn định nghĩa về chất lượng sản phẩm thông thường bởi lẽ sản phẩm kiểm toán là một loại sản phẩm khá đặc biệt Chính vì vậy, khá nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng để đưa ra định nghĩa về chất lượng của hoạt động này

DeAngelo (1981) định nghĩa chất lượng kiểm toán là khả năng kiểm toán viên phát hiện các

sai sót trọng yếu (khả năng kỹ thuật) và báo cáo các phát hiện này (tính độc lập của kiểm toán viên)

Palmrose (1988) định nghĩa chất lượng kiểm toán về phương diện mức độ đảm bảo, bởi vì

mục đích của kiểm toán là để cung cấp sự đảm bảo về báo cáo tài chính, nên chất lượng kiểm toán là xác suất mà báo cáo tài chính không chứa đựng những sai sót trọng yếu

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm

toán: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết

quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy và ý kiến của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”

Trang 20

Các định nghĩa này có thể được xem xét ở hai góc nhìn cụ thể:

- Từ góc nhìn của công ty kiểm toán: chất lượng kiểm toán là sự tuân thủ chuẩn mực kiểm toán, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, hướng đến thỏa mãn, đáp ứng những mong muốn, nhu cầu khách hàng bằng việc cung cấp ý kiến kiểm toán mang tính khách quan và đáng tin cậy Cụ thể, KTV cần cung cấp một

sự đảm bảo về tính trung thực và hợp lý của thông tin trên BCTC được kiểm toán đến cho người sử dụng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán và nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, đảm bảo tính độc lập và sự hoài nghi nghề nghiệp cần thiết trong việc phát hiện gian lận, sai sót khi tiến hành công việc kiểm toán Bên cạnh những ý kiến đảm bảo về thông tin tài chính, KTV còn thực hiện

cả chức năng tư vấn, giúp khách hàng nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở một mức phí hợp lý, đảm bảo mối quan hệ lợi ích – chi phí cho cả phía khách hàng lẫn công ty kiểm toán Hơn nữa, chất lượng kiểm toán còn thể hiện ở việc các dịch vụ kiểm toán luôn được thực hiện bởi một đội ngũ KTV độc lập, có năng lực chuyên môn, và sự hiểu biết cần thiết về đơn vị được kiểm toán

- Từ góc nhìn của đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán: Việc sử dụng thông tin không đáng tin cậy trên báo cáo tài chính để ra quyết định sẽ khiến các nhà đầu tư phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng về tài chính Chính vì vậy, những đối tượng sử dụng thông tin BCTC luôn mong muốn có được thông tin trung thực và đáng tin cậy khi sử dụng Trong điều kiện này, trách nhiệm kiểm toán viên là tăng cường độ tin cậy thông tin trên báo cáo tài chính, giúp người sử dụng đưa ra quyết định thích hợp Người sử dụng thông tin BCTC thường mong đợi rằng KTV sẽ phát hiện và thông báo tất cả các gian lận, sai sót của công ty và đưa ra kết quả cảnh báo về tình hình kinh doanh của công ty trong thời gian sắp tới Chất lượng kiểm toán còn được thể hiện ở những ý kiến tư vấn của KTV cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty và mức phí hợp lý

Như vậy, có thể thấy cả hai nhóm công ty kiểm toán và những người sử dụng dịch vụ kiểm toán đều có cùng một mục tiêu chung đối với hoạt động kiểm toán Đó là một hoạt động

Trang 21

đánh giá độc lập nhằm mang lại một sự đảm bảo về những thông tin được trình bày trên BCTC là trung thực và hợp lý, từ đó giúp các đối tượng sử dụng thông tin này có được những quyết định đúng đắn và phù hợp Cuộc kiểm toán có chất lượng còn phải đảm bảo được thực hiện bởi những KTV có năng lực, tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, chuẩn mực kiểm toán, mang lại giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp thông qua các ý kiến tư vấn phù hợp Tuy nhiên, các mong đợi về mức độ phát hiện gian lận và sai sót còn có sự khác biệt giữa các đối tượng, do đó tạo nên một khoảng cách giữa mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán và những gì mà nghề nghiệp kiểm toán thực sự mang lại

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng kiểm toán BCTC

Chất lượng là một phạm trù vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan, vì vậy có khá nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Do chất lượng kiểm toán là khó quan sát và đo lường như các sản phẩm cụ thể, nên các yếu tố thay thế hoặc các chỉ số về chất lượng kiểm toán thường được sử dụng trong nghiên cứu để xác định chất lượng kiểm toán

Dưới đây là phần hệ thống hóa một số nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng dịch vụ kiểm toán như sau:

1.1.2.1 Quy mô công ty kiểm toán

Quy mô công ty kiểm toán là một trong những yếu tố được sử dụng như là chỉ tiêu tiêu biểu

nhất cho chất lượng kiểm toán DeAngelo (1981) đã đưa ra giả thuyết rằng các công ty kiểm

toán lớn hơn sẽ mang lại những kết quả kiểm toán cao hơn, bởi đơn giản khi họ có một danh tiếng lớn hơn, họ có đủ nguồn lực để có thể thu hút được nhiều người lao động có năng lực

cao hơn, từ đó đạt được chất lượng cao hơn Palmrose (1988) đã tìm thấy các công ty Big Eight có ít khả năng bị kiện tụng hơn các công ty không thuộc Big Eight Deis và Giroux (1992) khảo sát hồ sơ kiểm toán và thấy rằng các công ty lớn hơn có hồ sơ làm việc đầy đủ

và tốt hơn các công ty nhỏ Lawrence và các cộng sự (2011) cho rằng các công ty Big Four

có thể cung cấp chất lượng kiểm toán vượt trội nhờ quy mô công ty lớn, có khả năng hỗ trợ

Trang 22

mạnh mẽ các chương trình đào tạo, xây dựng được phương pháp kiểm toán chuẩn, và đưa ra nhiều lựa chọn phù hợp hơn cho việc đánh giá đối tác thứ hai

Các nhà nghiên cứu đã đi đến lập luận rằng, khi các công ty kiểm toán có quy mô lớn (như Big Eight trước đây và Big Four hiện nay), họ có thể đầu tư để đào tạo nguồn lực nhằm đảm bảo nhân viên có đủ năng lực, có thể thực hiện kiểm toán theo tiêu chuẩn cao, và ít có khả

năng bị tổn hại bởi hành động bất lợi từ phía khách hàng (Behn và cộng sự, 2008; Francis

và Yu, 2009; Rusmin, 2010; Lawrence và cộng sự, 2011)

1.1.2.2 Nguồn nhân lực công ty kiểm toán

- Nếu công ty kiểm toán có quy trình tuyển dụng và đào tạo bài bản, cập nhật liên tục

các kiến thức cho KTV và có khả năng chiêu mộ những người có năng lực, điều này sẽ giúp công ty đạt được chất lượng kiểm toán cao hơn Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cần thu hút những cá nhân có năng lực cao với kỹ thuật chuyên môn và kỹ năng giao tiếp cần thiết

để nâng cao chất lượng kiểm toán (Duff, 2004)

- Kinh nghiệm về lĩnh vực hoạt động của khách hàng: Craswell và cộng sự (1995)

cho rằng những công ty chuyên môn hóa về từng loại hình, từng ngành nghề thường sẽ yêu

cầu mức phí cao hơn và chất lượng được xem là một sự khác biệt về giá cả Wooten (2003)

khẳng định các công ty có nhiều khách hàng trong cùng một ngành sẽ mang lại một sự hiểu biết sâu hơn để phát hiện rủi ro của những ngành cụ thể Làm việc với nhiều khách hàng trong cùng một lĩnh vực cũng sẽ giúp nhân viên kiểm toán trở thành chuyên gia trong lĩnh vực đó Bằng cách hiểu được các điểm yếu phổ biến, rủi ro và những vấn đề phải đối mặt của một ngành nghề, lĩnh vực cụ thể, kiểm toán viên có thể tự tin khi đánh giá các bằng chứng được cung cấp bởi khách hàng

- Kinh nghiệm làm việc với khách hàng: Việc thực hiện kiểm toán nhiều năm cho một

khách hàng sẽ giúp kiểm toán viên hiểu biết tốt và sâu sắc hơn về cách thức kinh doanh, quy trình làm việc, hiểu rõ được điểm mạnh, điểm yếu trong hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của khách hàng, từ đó dễ dàng hơn trong việc xác định khu vực có rủi ro nhất, sai sót nhiều nhất và dành thời gian cho khu vực này Chính vì vậy, kinh nghiệm với khách hàng

cũng được xem là một yếu tố tỷ lệ thuận với chất lượng kiểm toán

Trang 23

- Nhiệm kỳ của kiểm toán viên: Nhiệm kỳ được xem như một nhân tố vừa tỷ lệ thuận

lẫn tỷ lệ nghịch đối với chất lượng kiểm toán Một sự cộng tác lâu dài với khách hàng sẽ giúp KTV hiểu biết thấu đáo về lĩnh vực hoạt động của khách hàng, và có thể điều chỉnh được các thủ tục, quy trình kiểm toán cho phù hợp để phát hiện sai sót, tránh việc kiểm toán viên bỏ sót các sai sót trọng yếu Tuy nhiên, sẽ lại là một điều nguy hiểm khi nhiệm kỳ của kiểm toán viên là quá dài đối với một khách hàng Sự gắn bó quá lâu sẽ sinh ra dễ dãi, thủ

tục kiểm toán ít nghiêm ngặt hơn, và phụ thuộc quá nhiều vào các khách hàng (Shockley, 1982; DEIS và Gioux, 1992) Hơn nữa, vì quá quen thuộc nên KTV dễ dàng chấp nhận

khách hàng, không nghiêm chỉnh điều chỉnh các sai phạm mà KTV phát hiện, ít hoài nghi

và siêng năng trong việc thu thập bằng chứng Đây chính là những dấu hiệu của một cuộc

kiểm toán kém chất lượng Ghosh và Mood (2005) đã lập luận nhiệm kỳ của kiểm toán

viên có thể ảnh hưởng tiêu cực với chất lượng kiểm toán và tính độc lập có thể bị đầu hàng

để giữ lại mối quan hệ với khách hàng của họ

1.1.2.3 Quy trình kiểm soát chất lượng bên trong công ty kiểm toán

Khá nhiều nghiên cứu liên quan đến quy trình kiểm soát chất lượng như nghiên cứu của

Sutton và Lampe (1990), Malone và Robert (1996)

- Sutton và Lampe (1990) tiến hành phỏng vấn hơn 200 kiểm toán viên hành nghề

để nghiên cứu một mô hình đánh giá của chất lượng kiểm toán Kết quả đưa đến việc xây dựng một mô hình bao gồm 19 thuộc tính của chất lượng kiểm toán được phân thành ba

loại: lập kế hoạch, bảng chi tiết công việc và quản lý công việc Ngoài ra nghiên cứu còn phát hiện rằng chất lượng cao còn được tạo ra bởi sự kết hợp với những cơ chế kiểm soát

trong quy trình kiểm toán Rõ ràng, một công ty với hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm

ngặt và có quy trình với phương pháp kiểm toán một cách có hệ thống thì sẽ ít có khả năng

có sai sót trọng yếu mà không bị phát hiện bởi các thủ tục kiểm toán của họ

- Malone và Robert (1996) chỉ ra rằng công ty kiểm toán với hệ thống kiểm soát chất

lượng nghiêm ngặt hơn sẽ có nhiều khả năng hơn trong việc phát hiện các sai phạm làm

giảm chất lượng kiểm toán

Trang 24

Ngoài ra, chất lượng cũng bị ảnh hưởng bởi sự quan tâm của chủ phần hùn (partner) và người quản lý của công ty kiểm toán: Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) yêu cầu các cuộc

kiểm toán luôn cần phải được giám sát và phân công, và sự quan tâm của các chủ phần hùn

và nhà quản lý của công ty kiểm toán được xem là một yếu tố đóng góp vào chất lượng

kiểm toán

1.1.2.4 Tính độc lập

- Chất lượng kiểm toán không chỉ bị ảnh hưởng bởi chuẩn mực kiểm toán mà còn liên quan đến kỹ năng, phẩm chất cá nhân của chủ phần hùn và của KTV; việc đào tạo, huấn luyện họ và các tiêu chuẩn đạo đức Vì vậy, bên cạnh các chỉ số về chất lượng kiểm toán, tồn tại một loạt các nghiên cứu xem xét nhiều khía cạnh khác nhau về quan điểm ảnh hưởng

đến chất lượng kiểm toán, như Chất lượng kiểm toán bị suy giảm do áp lực giới hạn thời

gian (Coram, 2003; Gundry và cộng sự, 2007), Lý luận đạo đức của kiểm toán viên (Herrback, 2001; Krohmer và Lae, 2010), Tính độc lập (Bobbie Daniels và cộng sự,

2005; Baotham, 2009),…

Baotham (2009) nghiên cứu những tác động của tính độc lập, chất lượng và độ tin cậy dựa

trên danh tiếng và thành công bền vững của các kiểm toán viên công chứng (CPAs) ở Thái Lan Kết quả cho thấy rằng tính độc lập trong kiểm toán có mối quan hệ đồng biến với chất lượng và uy tín kiểm toán, và một cuộc kiểm toán có chất lượng thì lại có sự liên kết tích cực với độ tin cậy của thông tin được kiểm toán Theo đó, chất lượng và uy tín kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến danh tiếng và sự thành công bền vững của công ty

- Giá phí kiểm toán cũng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Một công ty kiểm toán

nếu xem một (hay một số) khách hàng chủ yếu như là dòng thu nhập chính trong tương lai (hay nói cách khác là chịu áp lực về mặt tài chính) thì sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập của các kiểm toán viên Nếu kiểm toán viên bị ảnh hưởng bởi áp lực này, thì sự độc lập của kiểm toán viên sẽ bị tổn hại và tồn tại một cơ hội lớn hơn dẫn đến một cuộc kiểm toán với chất lượng kém Thật dễ dàng để một khách hàng thay đổi công ty kiểm toán, và do vậy để tránh mất đi một khoản thu nhập trong tương lai, các công ty kiểm toán có thể sẽ đối mặt với áp

Trang 25

lực tránh báo cáo hết những khiếm khuyết của khách hàng Bên cạnh đó, để tăng cường tính cạnh tranh, công ty kiểm toán buộc phải giảm chi phí và để đảm bảo lợi nhuận, công ty thường phải cắt giảm một số thủ tục kiểm toán, từ đó làm giảm khả năng phát hiện sai sót

của kiểm toán viên DeAngelo (1981) cho rằng, hợp đồng thực hiện kiểm toán đối với

khách hàng mới là rất tốn kém, tuy nhiên các KTV đương nhiệm sẵn sàng giảm giá trong sự tham gia ban đầu để có những kỳ vọng về dòng thu nhập trong tương lai

- Dịch vụ phi kiểm toán được cung cấp: Việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán cho

khách hàng kiểm toán cũng được xem là có thể ảnh hưởng đến yếu tố chất lượng Công ty kiểm toán sẽ mất tính độc lập với khách hàng khi doanh thu từ các dịch vụ không liên quan

đến cuộc kiểm toán tăng đáng kể Nghiên cứu của Elstein (2001) đã đưa ra một kết quả sơ

bộ rằng khoản phí tư vấn lớn đã ảnh hưởng tiêu cực đến tính độc lập của kiểm toán viên và làm giảm chất lượng kiểm toán Tuy nhiên, ở một phương diện khác, một số nghiên cứu lại cho rằng chính mối quan hệ giữa kiểm toán và dịch vụ cung cấp, cho phép kiểm toán viên đạt được một sự hiểu biết tốt hơn về khách hàng và các quá trình kinh doanh phục vụ cho công việc của mình

Nhìn chung, chất lượng kiểm toán đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ, phương diện, cách tiếp cận, không gian đa dạng và phong phú Thông qua các nghiên cứu cho thấy, các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán có thể là: Quy mô công ty kiểm toán, nguồn nhân lực của công ty kiểm toán (quá trình đào tạo, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, nhiệm kỳ của KTV), quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán (giá phí, dịch vụ phi kiểm toán được cung cấp) Ở góc độ yếu tố công ty kiểm toán, quy mô công ty kiểm toán là quan trọng và có ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán nhiều nhất Ở góc độ yếu tố nhóm kiểm toán thì yếu tố trình độ, kinh nghiệm KTV là quan trọng nhất Sơ đồ bên dưới phản ánh một cách tổng quát, mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng chất lượng kiểm toán Chúng có mối quan hệ bổ sung cho nhau và cùng phản ánh chất lượng kiểm toán thông qua chức năng kiểm toán chủ yếu được thể hiện ở trách nhiệm của kiểm toán viên là phát hiện sai sót trọng yếu và báo cáo những sai sót này

Trang 26

Hình 1.1: Mô hình chất lượng kiểm toán (Thomas C Wooten, 2003)

Trang 27

1.2 Khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC

1.2.1 Khái niệm khoảng cách mong đợi kiểm toán

1.2.1.1 Khái niệm về “khoảng cách mong đợi”

Đây là thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả tình trạng, theo đó có một sự khác biệt trong mong đợi tồn tại giữa một nhóm với một chuyên môn nhất định và một nhóm dựa vào chuyên môn đó Chẳng hạn nhận thức công chúng về trách nhiệm của kiểm toán viên thì khác với nhận thức của kiểm toán viên về trách nhiệm của mình trong cuộc kiểm toán Sự khác biệt này được gọi là khoảng cách mong đợi

Thuật ngữ này đã được sử dụng không chỉ trong các tài liệu kế toán, mà còn trong các lĩnh vực khác, ví dụ, các nghiên cứu về: Sự khác biệt trong nhận thức về ngành hệ thống thông

tin liên quan đến việc học tập của các sinh viên tốt nghiệp (Trauth và cộng sự, 1993); Sự

khác biệt trong mong đợi của các đại diện quảng cáo và khách hàng của họ về các giá trị

chiến dịch (Murphy và Maynard, 1996); Khoảng cách trong các ngân hàng giữa các

phương pháp kiểm toán tiếp cận giao dịch phát triển trong thời đại công nghiệp với những

phương pháp ấy trong thời đại thông tin (Singh, 2004)

1.2.1.2 Khái niệm về “Khoảng cách mong đợi kiểm toán”

Nhiều tác giả đã nghiên cứu khoảng cách mong đợi và đưa ra các khái niệm dựa trên kết quả nghiên cứu của mình như sau:

+ Liggio (1974) là người đầu tiên đưa ra khái niệm “khoảng cách mong đợi trong kiểm

toán” Theo ông, khoảng cách mong đợi trong kiểm toán là sự khác biệt giữa hai mức độ mong đợi về hiệu quả công việc kiểm toán giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính

+ Ủy ban Cohen (1978) đưa ra khái niệm khoảng cách mong đợi là khoảng cách giữa sự

mong đợi hoặc yêu cầu của công chúng về những gì kiểm toán viên có thể và nên hoàn thành một cách hợp lý

Trang 28

+ Guy và Sullivan (1988) cho rằng khoảng cách mong đợi là sự khác biệt giữa những gì

công chúng và người sử dụng báo cáo tài chính tin kế toán và kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm và những gì mà kế toán và kiểm toán viên tin bản thân họ phải có trách nhiệm

+ Godsell (1992) mô tả khoảng cách mong đợi tồn tại khi kiểm toán viên và công chúng có

nhận thức khác nhau về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên và những thông điệp được chuyển tải qua các báo cáo kiểm toán

+ Theo Hiệp hội Kế toán viên công chứng Mỹ - AICPA (1993), khoảng cách mong đợi

kiểm toán đề cập đến sự khác biệt giữa những gì công chúng và người sử dụng báo cáo tài chính tin vào trách nhiệm của kiểm toán viên và chính kiểm toán viên tin vào trách nhiệm của họ

+ Porter (1993) định nghĩa khoảng cách mong đợi là khoảng cách giữa sự mong đợi của xã

hội về kiểm toán viên và các hoạt động thực tế của kiểm toán viên

+ Epstein và Geiger (1994) quy định khoảng cách mong đợi kiểm toán như là sự khác biệt

trong nhận thức, đặc biệt là các dịch vụ đảm bảo cung cấp giữa người sử dụng và kiểm toán viên

+ Theo Monroe và Woodliff (1994), khoảng cách mong đợi là sự khác nhau về niềm tin

giữa kiểm toán viên và công chúng về nhiệm vụ, trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận, sai sót và những thông tin trong báo cáo kiểm toán

Điểm chung của các định nghĩa trên về khoảng cách mong đợi kiểm toán nêu trên cho thấy: (i) Sự khác biệt trong nhận thức về năng lực thực tế và năng lực được mong đợi của kiểm toán viên

(ii) Sự khác biệt về khả năng thực hiện của kiểm toán viên với khả năng mong đợi của người sử dụng báo cáo tài chính liên quan đến phát hiện gian lận, thông tin trên báo cáo kiểm toán

Trang 29

Nói tóm lại, khoảng cách mong đợi chính là sự khác biệt về mong đợi của người sử dụng báo cáo tài chính và nhận thức của chính bản thân kiểm toán đối với nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên

Mong đợi và hiểu biết của công chúng về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên

= Nhận thức của kiểm toán viên về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên + Khoảng cách mong đợi

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về khoảng cách mong đợi trong kiểm toán BCTC

Những vụ bê bối tài chính và các cuộc thất bại của các công ty kiểm toán trong suốt hai thập

kỷ vừa qua, đặc biệt là vụ bê bối báo cáo tài chính gần đây (Enron, Worldcom, Parmalat,…) một lần nữa cho thấy sự không đáp ứng kỳ vọng của nghề nghiệp kiểm toán, khoảng cách mong đợi kiểm toán được mở rộng

Một loạt các nghiên cứu diễn ra trên khắp thế giới và trải qua nhiều giai đoạn về khoảng cách mong đợi kiểm toán đã chỉ ra bản chất của khoảng cách mong đợi kiểm toán phổ biến

ở các quốc gia khác nhau trên thế giới Ngoài Hoa Kỳ, ở các nước như New Zeadland, Đức, Singapore, Malaysia, Ấn Độ, và Iran,… đều đã có những nghiên cứu liên quan đến chủ đề này trong hơn 30 năm qua Và vấn đề được tranh luận trong các nghiên cứu khoảng cách mong đợi về chất lượng kiểm toán vẫn luôn tập trung vào ba nội dung chủ yếu là: (a) những cảnh báo sớm của kiểm toán viên về tình hình kinh doanh thất bại của công ty; (b) trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện và báo cáo về các gian lận; và (c) bản chất và

ý nghĩa của thông điệp mà báo cáo kiểm toán mang lại

1.2.2.1 Vai trò và trách nhiệm của KTV đối với BCTC trong việc cảnh báo tình

hình hoạt động kinh doanh của công ty được kiểm toán tạo ra khoảng cách mong đợi

Trách nhiệm của KTV trong cuộc kiểm toán vẫn luôn là một chủ đề tạo ra khoảng cách giữa mong đợi của xã hội và nhận thức của chính bản thân của KTV về trách nhiệm của mình Một loạt các nghiên cứu về trách nhiệm kiểm toán đã được tiến hành đưa đến những kết

luận, mong đợi khác nhau về trách nhiệm của KTV như: Montgormery (1921) kết luận

Trang 30

rằng trách nhiệm của KTV là xác nhận tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, Kapnick (1968) cho rằng KTV không có trách nhiệm xem xét liệu gian lận có xuất hiện hay không, trong khi Hershman (1974), Young (1997) khẳng định KTV phải chịu trách nhiệm phát

hiện gian lận

Liên quan đến khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV, Lee (1970) và Beck (1973)

đã tiến hành hai cuộc nghiên cứu lần lượt ở Anh và Úc mang lại những kết luận nổi bật như sau:

Một số kết luận được trình bày trong nghiên cứu của Lee (1970):

- BCTC là hoàn toàn chính xác

- Đơn vị sẽ không bị phá sản

- Không có gian lận tại đơn vị

- Đơn vị đã tuân thủ pháp luật

- Đơn vị đã được quản lý tốt v.v…

Và một số ý kiến khác: KTV phải đưa ra những lời khuyên hay giúp đỡ công ty các vấn đề

kế toán và phi kế toán

Nghiên cứu của Beck (1973) tại Úc đã đưa ra một bức tranh về trách nhiệm của KTV được

kỳ vọng như sau:

- 93% KTV phải đảm bảo không có gian lận xảy ra

- 92% BGĐ được giải nhiệm khi báo cáo đã được kiểm toán

- 71% KTV sẽ cảnh báo về tính không hữu hiệu trong điều hành của BGĐ

- 81% KTV sẽ đảm bảo đơn vị được điều hành tốt

- 71% KTV sẽ đảm bảo BGĐ làm việc chỉ vì lợi ích công ty

Trang 31

Đứng trước những mong đợi từ phía người sử dụng thông tin BCTC, bản thân KTV cho rằng đó là những yêu cầu chưa hợp lý, vượt quá tiêu chuẩn thực tế của hoạt động của kiểm toán viên khi đòi hỏi KTV phải có trách nhiệm đảm bảo BCTC hoàn toàn chính xác, phải đảm bảo không có gian lận xảy ra hay cảnh báo về tính không hữu hiệu trong điều hành của BGĐ Bởi theo yêu cầu của nghề nghiệp, người quản lý của công ty được kiểm toán mới là người hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo tài chính, kiểm toán chỉ cung cấp đảm bảo hợp lý rằng báo cáo tài chính không có sai sót trọng yếu, kiểm toán chỉ được yêu cầu để kiểm tra các giao dịch được lựa chọn, càng không có trách nhiệm đảm bảo khả năng quản lý hay khả năng tồn tại của công ty Từ đó, những mong đợi vượt tiêu chuẩn thực tế của hoạt động kiểm toán của công chúng đối với KTV đã dẫn đến “khoảng cách mong đợi” trong chất lượng kiểm toán

1.2.2.2 Trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận, sai sót trên BCTC và

thông báo về các phát hiện này cho những đối tượng liên quan tạo ra khoảng cách mong đợi

Một vấn đề quan trọng liên quan đến trách nhiệm KTV là xác định nghĩa vụ của KTV trong việc phát hiện và báo cáo gian lận hoặc các hành vi vi phạm pháp luật từ phía nhân viên và

cấp quản lý của công ty được kiểm toán (Lys và Watts, 1994)

Khi nói đến việc gian lận của công ty, trách nhiệm của kiểm toán viên từ lâu đã là một phần quan trọng của khoảng cách mong đợi Khoảng cách liên quan đến vai trò của kiểm toán

viên trong việc phát hiện gian lận đã được chứng minh bởi rất nhiều tác giả (Humphrey và

cộng sự, 1993; Epstein và Geiger, 1994; Lowe, 1994; Best và cộng sự, 2001; Lowe và Smith, 2001; McEnroe và Martens, 2001; Fadzly và Ahmad, 2004; Lin và Chen, 2004; Alleyne và Howard, 2005; Dixon và cộng sự, 2006; Haniffa và Hudaib, 2007; Sidani, 2007) Trong các nghiên cứu này, những vấn đề liên quan đến gian lận thường được trình

bày ngắn gọn trong các phát biểu như:

- “ Một KTV công chứng (CPA) phải chịu trách nhiệm phát hiện và báo cáo các sai

sót và gian lận trong một hợp đồng kiểm toán” (Lin Haniffa và Chen, 2004)

Trang 32

- “Kiểm toán viên chịu trách nhiệm phát hiện tất cả các gian lận” (Best và cộng sự, 2001; Dixon và cộng sự, 2006), hay

- “Một trong những vai trò của kiểm toán viên độc lập là chủ động tìm kiếm các

gian lận, bất kể lớn nhỏ như thế nào” (Sidani, 2007)

Haniffa và Hudaib (2007) đã đi vào chi tiết hơn, phân biệt giữa trách nhiệm của kiểm toán

viên trong việc phát hiện gian lận trọng yếu, gian lận cấp quản lý và những thông tin tài chính bị sai lệch Họ cũng điều tra quan điểm của kiểm toán viên và người sử dụng về việc liệu các gian lận được phát hiện có nên được công bố trong báo cáo kiểm toán, và liệu bất

kỳ sự nghi ngờ nào về gian lận có cần được thông báo đến cho các đối tượng có liên quan hay không

Hassink (2009) thực hiện cuộc nghiên cứu với các đối tượng: nhà quản lý kinh doanh, nhân

viên ngân hàng và kiểm toán viên ở Hà Lan Nghiên cứu tập trung vào những tình huống gian lận liên quan đến các đối tượng được lựa chọn khảo sát và hướng đến giải quyết các nội dung chi tiết sau:

• KTV nên báo cáo cho ai khi phát hiện gian lận ?

• KTV cần làm gì đối với trường hợp có gian lận ở cấp quản lý (khác với gian lận của nhân viên)?

• KTV cần thực hiện các thủ tục gì nếu các công ty được kiểm toán từ chối thực hiện các hành động khắc phục?

Ngoài ra, liên quan đến sự tác động của giáo dục đối với nhận thức của giới học sinh, sinh viên về vai trò, trách nhiệm của KTV, từ đó đẩy mạnh công tác giáo dục về vấn đề này còn

có rất nhiều nghiên cứu, điển hình là Monroe và Woodliff (1994) đã kiểm tra nhận thức

của giới sinh viên đối với báo cáo kiểm toán tại Úc thông qua sự tác động của giáo dục và

họ nhận thấy rằng “niềm tin liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên, độ tin cậy của thông tin tài chính và sự đảm bảo về triển vọng tương lai của công ty là thay đổi đáng kể cùng với kiến thức được trau dồi của giới sinh viên” Có thể thấy rằng sinh viên đã có kiến

Trang 33

thức nhiều hơn rất nhiều so với giả định về mức độ kiến thức thấp hơn về trách nhiệm của kiểm toán viên, về sự tự tin đối với mức độ tin cậy của báo cáo tài chính và sự đảm bảo về

triển vọng tương lai của công ty Frank và cộng sự (2001) đã nghiên cứu sự khác biệt giữa

nhận thức KTV, Hội thẩm (đóng vai trò như là bên thứ ba trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của KTV) và sinh viên kế toán Kết quả cho thấy có một sự khác biệt lớn trong nhận thức của kiểm toán viên và Hội thẩm về kỳ vọng của họ đối với nghề nghiệp kiểm toán Tuy nhiên, các sinh viên kế toán lại phản ứng một cách phù hợp với các KTV hành nghề Từ đó, nghiên cứu kết luận rằng các sinh viên kế toán rõ ràng đã thông qua nhiều quan điểm của nghề nghiệp và coi mình như là thành viên của nghề nghiệp

Như vậy, thông qua tất cả các cuộc nghiên cứu có thể thấy các bên thứ ba mong muốn kiểm toán viên độc lập có thể xác nhận tính chính xác của các đối tượng kế toán được trình bày,

và do đó, trong điều kiện này, họ muốn rằng mục tiêu của cuộc kiểm toán phải đạt được những yêu cầu như sau: (1) phát hiện các gian lận; (2) phát hiện các lỗi, sai sót về mặt kỹ thuật và (3) phát hiện những sai sót về nguyên tắc Trong khi đó, các chuẩn mực kiểm toán thường yêu cầu kiểm toán chịu trách nhiệm trong việc lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán sao cho có thể phát hiện các gian lận và sai sót trọng yếu Từ đây, “khoảng cách mong đợi” về trách nhiệm của KTV đã hình thành và tồn tại

1.2.2.3 Bản chất và ý nghĩa thông điệp của Báo cáo kiểm toán và các khoảng

cách mong đợi liên quan

Báo cáo kiểm toán được các nhà đầu tư, người sử dụng BCTC dựa vào đó để đưa ra các quyết định đầu tư Tuy nhiên, không phải tất cả công chúng, những người quan tâm đến báo cáo kiểm toán đều có hiểu biết đầy đủ và chính xác về những gì được thể hiện trên báo cáo kiểm toán, để từ đó phục vụ cho nhu cầu của mình và đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn Việc nhìn nhận sai về bản chất chức năng xác nhận của KTV, đặc biệt là nội dung của ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán, cũng như những giới hạn vốn có của nghề nghiệp kiểm toán khiến cho mong đợi của các nhà đầu tư, những người sử dụng BCTC

có thể vượt ra ngoài tiêu chuẩn của hoạt động thực tế, từ đó dẫn đến "khoảng cách mong đợi” trong kiểm toán

Trang 34

Mục tiêu của kiểm toán BCTC là KTV đưa ra ý kiến về sự phù hợp giữa BCTC với cơ sở lập BCTC Một báo cáo kiểm toán cần đảm bảo đạt được hai mục tiêu: Ý kiến được đưa ra trong báo cáo phải giúp người đọc hiểu được kết quả của cuộc kiểm toán và từ ngữ sử dụng trong báo cáo phải giúp người đọc hiểu được sự khác biệt giữa các kết quả Những nội dung tối thiểu sau đây đòi hỏi phải được trình bày trên một báo cáo kiểm toán tiêu chuẩn:

- Cơ sở lập BCTC của công ty được kiểm toán

- Sự tách biệt trách nhiệm giữa BGĐ đơn vị được kiểm toán và KTV

- Cơ sở đưa ra ý kiến của kiểm toán viên

- Tuân thủ các quy định của công ty và các quy định liên quan

- Tuân thủ tiêu chuẩn, chuẩn mực kế toán, kiểm toán

Rất nhiều các cuộc nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán đến người

sử dụng đã được thực hiện Một cuộc khảo sát của Ủy ban Trách nhiệm Kiểm toán

(Commission on Auditors’ Responsibilities [CAR] 1978) được thực hiện đối với các ngân

hàng, các nhà phân tích tài chính, và các cổ đông cá nhân Nghiên cứu tập trung vào việc ghi nhận những ý kiến, nhận thức của những đối tượng khảo sát này về trách nhiệm của KTV và những diễn giải của họ về các thuật ngữ chứa đựng trong một báo cáo kiểm toán

tiêu chuẩn: “các nguyên tắc kế toán được chấp nhận”, “trình bày trung thực và hợp

lý…phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận”, và “thực hiện kiểm tra…phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận” Do việc hiểu sai, chưa đúng đắn về cụm từ

"trình bày hợp lý" và sự cần thiết phải nhận thức rõ ràng hơn về các thông điệp liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên, Ủy ban đề nghị rằng cụm từ "trình bày hợp lý" nên được xóa bỏ khỏi báo cáo kiểm toán Đề xuất này đã gây ra những kháng cự mạnh mẽ từ phía cộng đồng tài chính và đã không được phép ban hành thực hiện từ Hội đồng tiêu chuẩn

kiểm toán (ASB)

Năm 1994, nghiên cứu tại Úc của Monroe và Woodliff về khoảng cách mong đợi kiểm

toán nhằm mục đích xác định sự khác biệt trong nhận thức giữa người sử dụng báo cáo tài chính và kiểm toán viên về các thông điệp được truyền đạt thông qua các báo cáo kiểm toán

đã cho thấy, có sự khác biệt đáng kể giữa các báo cáo cũ và các báo cáo mới Nhà nghiên

Trang 35

cứu cho rằng (i) các từ ngữ thay đổi trong các báo cáo mới đã có một tác động đáng kể trên nhận thức về bản chất của kiểm toán giữa kiểm toán viên và người quản lý, và (ii) một số từ ngữ được sửa chữa làm loại bỏ được một số sự khác biệt nhưng lại tạo ra những khác biệt mới giữa kiểm toán viên và các nhóm người dùng khác nhau

Giáo sư Stephen K Asare thuộc trường Đại học Florida cũng tiến hành một cuộc nghiên

cứu vào tháng 9/2009 nhằm đánh giá mức độ đồng thuận trong sự hiểu biết của ba nhóm đối tượng (nhà đầu tư không có chuyên môn, KTV và ngân hàng) về các mục tiêu và những giới hạn của một báo cáo kiểm toán tiêu chuẩn, đồng thời đánh giá về mức độ của sự nhất trí của các bên trong việc giải thích các thuật ngữ được sử dụng trong báo cáo kiểm toán chuẩn

154 đối tượng được khảo sát (bao gồm 78 KTV, 43 nhà đầu tư và 33 nhân viên ngân hàng) lần lượt đánh giá tầm quan trọng của BCKT qua các câu hỏi khảo sát như sau:

- Mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc ra quyết định đầu tư như thế nào?

- Mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc đánh giá BCTC không có gian lận trọng yếu như thế nào?

- Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đưa ra về khả năng hoạt động trong tương lai của công ty như thế nào?

- Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo công ty được quản lý tốt như thế nào?

- Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo công ty có đầu tư lành mạnh như thế nào?

- Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo công ty sẽ đáp ứng được các mục tiêu chiến lược như thế nào?

- Khả năng KTV có thể phát hiện các gian lận trọng yếu trong BCTC như thế nào? Tiếp theo là các thuật ngữ trong BCTC cũng được thu thập ý kiến từ các đối tượng khảo sát như: “Sai sót trọng yếu”, “đảm bảo hợp lý”, “thử nghiệm cơ bản”, “ước tính quan trọng” và

Trang 36

“trình bày hợp lý” Kết quả nghiên cứu cho thấy với BCKT chuẩn hiện tại, tồn tại khoảng cách trong việc truyền đạt thông tin đến người sử dụng BCTC Khoảng cách này được tìm thấy khi tìm hiểu ý kiến của các đối tượng khảo sát về những thuật ngữ trong BCKT, và có khả năng cho cơ hội giải thích các thuật ngữ này hơn là việc sửa đổi hoặc loại bỏ chúng

1.2.3 Cơ sở lý luận về nguyên nhân hình thành khoảng cách mong đợi trong kiểm

toán BCTC và khả năng thu hẹp khoảng cách này

Qua các nghiên cứu thực nghiệm nêu trên cho thấy, luôn tồn tại khoảng cách giữa kiểm toán viên và những người sử dụng kết quả kiểm toán về mong muốn của những đối tượng này đối với phạm vi trách nhiệm của kiểm toán viên Các mong muốn đã vượt quá trách nhiệm

và khả năng của kiểm toán viên

1.2.3.1 Nguyên nhân hình thành khoảng cách mong đợi kiểm toán BCTC

Đã có rất nhiều các cuộc nghiên cứu được diễn ra với mục đích tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích các thành phần cấu thành nên khoảng cách mong đợi kiểm toán và cũng chính là các nguyên nhân làm xuất hiện khoảng cách này Dưới đây là các nghiên cứu nổi bật:

- Viện Kế toán Canada (1988) đã tài trợ một nghiên cứu về kỳ vọng của công

chúng đối với kiểm toán (Báo cáo McDonald) Ủy ban phát triển một mô hình khoảng cách mong đợi kiểm toán chi tiết, trong đó phân tích các thành phần của khoảng cách kỳ vọng bao gồm kỳ vọng bất hợp lý, sự thiếu hụt trong năng lực của kiểm toán và sự không đầy đủ của các tiêu chuẩn được ban hành

- Liggio (1974) và Ủy ban Cohen (1978) nhóm các nguyên nhân tạo thành khoảng

cách mọng đợi thành những nhóm lớn, tương đồng để có cái nhìn tổng quát, phân chia khoảng cách mong đợi thành 2 yếu tố: Mong đợi của xã hội về trách nhiệm của kiểm toán viên và Quan điểm của kiểm toán viên về trách nhiệm của họ

Porter (1993) tiến hành điều tra khoảng cách mong đợi kiểm toán tại New

Zealand, nghiên cứu của ông đã mang lại cái nhìn hoàn thiện hơn về khoảng cách mong đợi trong kiểm toán ở thời điểm này Theo Porter, khoảng cách mong đợi

trong kiểm toán gồm 2 thành phần chính, đó là: khoảng cách hợp lý và khoảng

Trang 37

cách hoạt động Trong đó, khoảng cách hoạt động bao gồm khoảng cách chuẩn mực và khoảng cách năng lực

Hình 1.2 : Mô hình khoảng cách mong đợi kiểm toán (Porter, 1993)

- Salehi (2007) qua nghiên cứu thực nghiệm đã xác định các thành phần khác nhau

của khoảng cách mong đợi của xã hội đối với kiểm toán, đó là: mong đợi bất hợp

lý, tính không đầy đủ của tiêu chuẩn và sự thiếu năng lực (Phụ lục 1)

Thông qua việc xác định các thành phần chính của mô hình khoảng cách mong đợi kiểm toán, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy các nguyên nhân dẫn đến khoảng cách mong đợi này Có thể khái quát các nguyên nhân chính như sau:

Mong đợi chưa hợp lý từ phía xã hội

Mong đợi chưa hợp lý từ phía xã hội, công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán là một

trong những nguyên nhân đưa đến khoảng cách mong đợi kiểm toán (Reasonableness gap)

Đó là khoảng cách giữa những gì xã hội mong đợi các kiểm toán viên đạt được và những gì

Trang 38

mà họ tin rằng có thể được dự kiến sẽ hoàn thành Người sử dụng đã có những mong đợi quá mức và không hiểu rõ những hạn chế thực tế của nghề kiểm toán Nói cách khác, khoảng cách này do sự nhận thức chưa đúng đắn về bản chất, mục đích và chức năng hoạt

động của kiểm toán trên quan điểm của xã hội Humphrey (1997) cho rằng loại khoảng

cách này hình thành chủ yếu do sự phức tạp của các thuật ngữ và khái niệm trong chuẩn mực kế toán, kiểm toán như: quan điểm trung thực và hợp lý, có thể chấp nhận được, trọng yếu, đầy đủ, đáng tin cậy…, tuy nhiên chúng lại là những cơ sở được dùng để đánh giá hoạt

động của kiểm toán viên

Các chuẩn mực kế toán, kiểm toán, các quy định luật pháp còn chưa đầy

đủ, phù hợp

Nguyên nhân thứ hai góp phần vào việc hình thành khoảng cách mong đợi kiểm toán là do

khiếm khuyết của chuẩn mực, các quy định luật pháp liên quan Kinney (1993) cho rằng

nguyên nhân tạo ra khoảng cách mong đợi của nghề nghiệp là sự khác biệt giữa các chuẩn mực của nghề nghiệp kiểm toán và những gì người sử dụng BCTC mong muốn Những mong đợi hợp lý của người sử dụng BCTC về trách nhiệm và nghĩa vụ của KTV đã không thể đáp ứng bởi những gì mà KTV phải tuân thủ là dựa vào quy định của chuẩn mực

Khoảng cách chuẩn mực này (Deficient Standard Gap) phát sinh do tính không đầy đủ của

chuẩn mực kiểm toán về các hướng dẫn thực hành, các quy định về trách nhiệm của KTV, hàm ý về sự khiếm khuyết trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán so với yêu cầu thực tế của

xã hội và sự phát triển, biến đổi của nền kinh tế

Hạn chế năng lực của kiểm toán viên

Đây cũng là một nhân tố quan trọng tạo nên khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng hoạt động kiểm toán Khác với sự mong đợi chưa hợp lý, chủ quan từ phía người sử dụng

báo cáo tài chính về hoạt động kiểm toán, khoảng cách năng lực (Deficient Performance

Gap) phát sinh do sự chênh lệch giữa mong đợi khách quan của công chúng về năng lực,

những gì cần thể hiện của KTV trên cơ sở những chuẩn mực nghề nghiệp đã được xây dựng với khả năng đáp ứng thực tế của KTV Bản thân kiểm toán viên trong trường hợp này đã không nhận thức được đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong cuộc kiểm toán, và

Trang 39

các lý do chính có thể được liệt kê gồm: KTV thiếu năng lực, KTV vi phạm tính độc lập, lợi ích cá nhân và lợi ích kinh tế của KTV, việc thực hiện các dịch vụ phi kiểm toán, …

Từ đây, các nguyên nhân chính đưa đến khoảng cách mong đợi về chất lượng hoạt động kiểm toán giữa xã hội và thực tế ngành nghề mang lại có thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:

Hình 1.3: Sơ đồ khoảng cách mong đợi (SVNCKH 2012 Đại học Ngoại thương YRC FTU)

Nói tóm lại, khoảng cách mong đợi trong kiểm toán có thể được hình thành từ nhiều yếu tố Việc tìm hiểu các nguyên nhân chính gây ra khoảng cách mong đợi về chất lượng hoạt động kiểm toán cho chúng ta có một cái nhìn rõ ràng hơn về khoảng cách mong đợi, từ đó đưa ra các phương pháp thích hợp để giảm thiểu khoảng cách này: nâng cao sự hiểu biết của xã hội

về lĩnh vực kế toán, kiểm toán; bổ sung, hiệu chỉnh các văn bản pháp luật, các quy định chuẩn mực nghề nghiệp liên quan; và đẩy mạnh công tác đào tạo, huấn luyện kiểm toán, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán

1.2.3.2 Khả năng thu hẹp khoảng cách mong đợi để nâng cao chất lượng kiểm

toán

Xuất phát từ các nguyên nhân gây ra khoảng cách mong đợi trong kiểm toán, các biện pháp

để xử lý, giảm thiểu khoảng cách ấy lần lượt được tìm thấy trong các kết quả nghiên cứu tiếp theo:

Trang 40

- Dựa trên nghiên cứu của Epstein và Geiger (1994) liên quan đến khoảng cách

mong đợi, Epstein và Hill (1995) tiếp tục nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng:

+ Nhà đầu tư với số tiền lớn thường mong đợi vào mức độ đảm bảo liên quan đến gian lận và sai sót nhiều hơn so với kiểm toán viên có thể cung cấp

+ Dường như nhà đầu tư có một sự thiếu hiểu biết chung liên quan đến sự khác biệt về khả năng của kiểm toán viên trong việc phát hiện một sai phạm do gian lận và sai sót

+ Nhà đầu tư không nắm bắt được các khó khăn trong việc phát hiện các sai sót trọng yếu do gian lận, hay là chi phí để thực hiện điều đó

Từ những phát hiện này, họ đã thực hiện hai gợi ý: i) kiểm toán viên cần phải giải thích cho công chúng về những hạn chế tiềm tàng và chi phí liên quan đến việc phát hiện các hành vi gian lận, và ii) kiểm toán viên cần phải nỗ lực tăng cường chất lượng trong dịch vụ kiểm toán của họ để cung cấp các các nhà đầu tư một mức độ đảm bảo cao hơn

- Nghiên cứu của Noordin (1999) đưa đến kết quả là cần sửa đổi các chuẩn mực

kiểm toán và giải thích cho người sử dụng các kiến thức về kiểm toán và báo cáo của kiểm toán để người dùng có thể hiểu được bản chất của kiểm toán Nghiên cứu cho thấy rằng những người có hiểu biết sẽ đặt ít trách nhiệm hơn đối với kiểm toán viên so với người sử dụng ít hiểu biết Ông kết luận rằng việc giáo dục người sử dụng kiểm toán là một cách tiếp cận hiệu quả để thu hẹp khoảng cách mong đợi

Như vậy, tương ứng với ba nguyên nhân chính tạo ra khoảng cách mong đợi về chất lượng hoạt động kiểm toán, ba biện pháp để hạn chế, thu hẹp khoảng cách này được cũng tìm thấy như sau:

Hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán và các quy định có liên quan

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở để các kiểm toán viên thực hiện quá trình kiểm toán

và đưa ra ý kiến đối với BCTC Việc nghiên cứu và ban hành các chuẩn mực đầy đủ, rõ

Ngày đăng: 01/09/2020, 15:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w