Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ, hoạt động liên doanh có VĐTNN cũng xuất hiện không ít những vấn đề nảy sinh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế–xã hội đất nước: tốc độ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM XUÂN VIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA
1/.NHỮNGVẤNĐỀCƠBẢNVỀCÔNGTYCỔPHẦN: 8 1.1/ Khái niệm về công ty cổ phần: _ 8 1.2/ Những nội dung cơ bản của loại hình công ty cổ phần: _ 11 1.3/ Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam: 13 2/.TÁCĐỘNGCỦATHỊTRƯỜNGCHỨNGKHOÁNVÀCÁCĐỊNHCHẾTÀICHÍNHTRUNGGIANĐỐIVỚICÔNGTYCỔPHẦN: 14 2.1/ Tác động của thị trường chứng khoán: 14 2.2/ Tác động của những định chế tài chính trung gian trong việc cổ phần hóa: _ 17 3/.KHÁINIỆMVỀCỔPHẦNHÓALIÊNDOANHCÓVĐTNN: _ 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC LIÊN DOANH CÓ VĐTNN TẠI
VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VĐTNN TẠI TRUNG QUỐC
1/ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓVĐTNNTRONGVIỆCHÌNHTHÀNHVÀPHÁTTRIỂNTẠIVIỆTNAM: 21 2/.PHÂN TÍCH VAI TRÒ CÁC DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓVĐTNN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TỪNĂM1988ĐẾN1999: _ 23 2.1/ Tổng quát về tình hình đầu tư của các liên doanh có VĐTNN: 23 2.2/ Vai trò của các liên doanh có VĐTNN đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam từ 1988 đến 1999: 26
Trang 33/ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP CÓVĐTNNTẠITRUNGQUỐC: _ 46
CHƯƠNG 3: CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ CỔ PHẦN HÓA
CÁC LIÊN DOANH CÓ VĐTNN
1/.MỤC TIÊU CỔ PHẦN HÓA CÁC LIÊN DOANH CÓ VĐTNN: 52 2/ NHỮNG QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA CÁC LIÊN DOANH CÓ
VĐTNN: 54 2.1/ Những điều kiện thuận lợi của liên doanh có VĐTNN khi cổ phần hóa _ 54 2.2/ Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế ảnh hưởng đến chính sách cổ phần hóa liên doanh có VĐTNN: 56 2.3/ Đối tượng cổ phần hóa liên doanh có VĐTNN: 57 2.4/ Hình thức cổ phần hóa liên doanh có VĐTNN: 57 2.5 Các đặc trưng của liên doanh có VĐTNN: 58 3/.CÁC NGUYÊN TẮC CỔ PHẦN HÓA CÁC LIÊN DOANH CÓ VĐTNN: 59 4/ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH TRƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA: 62 5/.XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA CÁC LIÊN DOANH CÓ VĐTNN: 66 6/.VẤN ĐỀ BÁN CỔ PHẦN: 68 6.1 Xác lập cơ chế chuyển các bên tham gia liên doanh thành các cổ đông sáng lập: _ 68 6.2 Đối tượng được mua cổ phiếu lần đầu và thứ tự giành quyền ưu tiên mua cổ phần của liên doanh có VĐTNN được cổ phần hóa: _ 70 6.3 Chính sách đối với người lao động Việt Nam trong liên doanh được cổ phần hóa: 71
Trang 46.4 Định giá cổ phiếu, mức độ bán cổ phần cho các đối tượng mua cổ phiếu lần đầu: _ 71 6.5 Các bộ, ngành, địa phương: _ 72 7/.XÂY DỰNG QUI TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CÁC LIÊN DOANH CÓ VĐTNN: _ 73 8/.CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI LIÊN DOANH SAU KHI ĐƯỢC CỔ PHẦN HÓA: 77 8.1 Chính sách một giá: _ 77 8.2 Tiền lương tối thiểu trả người lao động Việt Nam: 78 8.3 Tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển sau khi hết hạn theo giấy phép đầu tư của liên doanh: _ 79 8.4 Các chính sách thuế đối với liên doanh khi cổ phần hóa và sau khi cổ phần hóa: _ 80 9/ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC CỔ PHẦN HÓA CÁC LIÊN DOANH CÓ
Trang 51/ Lý do chọn đề tài:
Tháng 12/1987, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được ban hành Sau hơn 10 năm thực hiện, hình thức liên doanh là phổ biến nhất trong các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tính đến 31/12/1999 có 1.437 dự án, với tổng vốn đầu tư 29,760.5 triệu USD đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH đất nước, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra nhiều ngành nghề mới, năng lực sản xuất mới, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động trực tiếp và gián tiếp, góp phần tích cực thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế của nước ta với khu vực và thế giới, củng cố và phát triển vị thế Việt Nam trên trường quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ, hoạt động liên doanh có VĐTNN cũng xuất hiện không ít những vấn đề nảy sinh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế–xã hội đất nước: tốc độ thu hút VĐTNN của hình thức liên doanh trong những năm gần đây nhất kể từ 1997 đến nay không những giảm cả về số lượng dự án và tổng vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế, xã hội còn thấp, các thành phần kinh tế trừ doanh nghiệp nhà nước tham gia liên doanh rất ít, tỉ lệ hàng hóa dịch vụ xuất khẩu tăng trưởng không tương xứng với tốc độ tăng của hàng hóa dịch vụ được sản xuất ra, tiêu thụ có xu hướng vào nội địa, công nghệ sản xuất và phương pháp quản lý chưa cao, thu hồi vốn đầu tư của các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn, nhiều hiện tượng quan hệ giữa đối tác Việt Nam với bên nước ngoài luôn xung đột, bất hợp tác làm đình đốn hoạt động liên doanh
Thực trạng này đặt ra một vấn đề cần phải xây dựng được giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các liên doanh với nước ngoài mới phù hợp xu hướng cạnh tranh thu hút VĐTNN ngày càng gay gắt trong khu vực và trên thế giới
Trang 6Tất cả những lý do trên đã thôi thúc tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Cổ
phần hóa các doanh nghiệp liên doanh có VĐTNN tại Việt Nam”
2/ Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Phân tích làm rõ những vấn đề cơ bản về cổ phần hóa một doanh nghiệp và vấn đề nhiều hình thức sở hữu đan xen nhiều hình thức kinh doanh để hình thành lý luận nhận thức về sự cần thiết đề ra các chủ trương chính sách cổ phần hóa các liên doanh có VĐTNN
Chứng minh bằng các dữ liệu về thực trạng các doanh nghiệp liên doanh có VĐTNN thời gian qua và đi đến kết luận cần có những giải pháp mới thích hợp cải thiện môi trường đầu tư Việt Nam thu hút có hiệu quả nguồn vốn trong nước và nước ngoài kể cả vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp
Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm cổ phần hóa các doanh nghiệp có VĐTNN của Trung Quốc và cổ phần hóa các DNNN, đề xuất các chủ trương, chính sách, tiến trình cổ phần hóa các liên doanh có VĐTNN mang tính đặc thù
ở một nước có nền kinh tế thị trường (giai đoạn đầu) theo định hướng xã hội chủ nghĩa
3/ Giới hạn của luận án:
Cho tới nay, Chính phủ Việt Nam chưa có bất kỳ một văn bản pháp lý nào cho phép các liên doanh có VĐTNN được cổ phần hóa, mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng nhiều lần đề cập vấn đề này và liên quan đến nhiều vấn đề như pháp luật, kinh tế, khoa học lý luận, môi trường… Song do giới hạn của đề tài, luận án đề cập những vấn đề cơ bản đề ra chính sách và mô hình để cổ phần các liên doanh có VĐTNN
4/ Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác – Lênin, có tham khảo một số học thuyết về kinh tế thị trường và dựa trên
Trang 7các quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu
Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái cụ thể đến tư duy trừu tượng để tổng hợp phân tích vấn đề, lấy lý luận làm cơ sở đề ra giải pháp trong thực tiễn, đồng thời lấy kinh nghiệm để củng cố và phát triển tư duy lý luận
5/ Ý nghĩa thực tiễn:
Liên doanh có VĐTNN theo mô hình công ty TNHH với tính chất vừa đối nhân, vừa đối vốn; nó chỉ phù hợp với nền kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn đầu mở cửa và sơ khai Song cùng thời gian và yêu cầu mở rộng qui mô, tăng khả năng huy động vốn thì nhu cầu chuyển đổi liên doanh sang hình thức công
ty cổ phần ngày càng bức xúc và là yêu cầu tất yếu khách quan
Đa dạng hóa, phong phú về chủng loại và chất lượng hàng hóa chứng khoán, giải tỏa việc thiếu hụt nghiêm trọng hàng hóa chứng khoán, đẩy mạnh tốc độ phát triển thị trường chứng khoán còn non trẻ của Việt Nam
Cổ phần hóa liên doanh có VĐTNN là việc tiếp tục thực hiện đa dạng hóa sở hữu đan xen nhiều hình thức kinh doanh, mang tính đặc thù của nền kinh tế thị trường Việt Nam theo định hướng XHCN Đây là vấn đề hoàn toàn mới mẻ, phức tạp, song dựa trên tính đặc thù đó, luận án đã đề xuất một số chính sách và giải pháp vừa mang tính nguyên tắc, vừa cụ thể và có thể coi đây là một trong những phương cách để tiến hành cổ phần hóa các liên doanh có VĐTNN và trước hết thí điểm cổ phần hóa loại doanh nghiệp này
6/ Kết cấu nội dung:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính được trình bày trong phạm vi ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về cổ phần hóa
Trang 8Chương 2: Thực trạng các liên doanh có VĐTNN và kinh nghiệm cổ phần hóa các doanh nghiệp có VĐTNN tại Trung Quốc
Chương 3: Các quan điểm và giải pháp về cổ phần hóa các liên doanh có VĐTNN
Nguồn số liệu trong luận án chủ yếu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM, Tổng cục Thống kê
Trang 9CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA
1/ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN:
1.1/ Khái niệm về công ty cổ phần:
1.1.1 Khái niệm:
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các cổ đông góp vốn kinh doanh và chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn của mình, được chia lợi nhuận và cả những rủi ro trong tương lai
1.1.2 Những đặc trưng của công ty cổ phần và công ty TNHH:
Công ty cổ phần và công ty TNHH có điểm cơ bản giống nhau về trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và khoản cam kết trong phạm vi giới hạn mức góp vốn của công ty
a Đặc trưng của công ty cổ phần:
Ưu thế:
Mang tính đối vốn: Căn cứ vào đồng vốn để làm chuẩn mực cư xử trong mối quan hệ, cơ cấu vốn của công ty cổ phần được thực hiện theo phương thức chia nhỏ vốn thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người có cổ phần gọi là cổ đông Quyềàn của các cổ đông được phân chia theo mức độ góp vốn
Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với số vốn mà họ góp vào công ty cổ phần, tạo ra cơ chế phân tán rủi ro nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào khủng hoảng
Công ty cổ phần tạo ra các công cụ để có thể huy động vốn một cách nhanh chóng, với quy mô và hiệu quả bằng việc phát hành cổ phiếu và các
Trang 10loại trái phiếu để huy động vốn Cổ phiếu có thể chuyển nhượng từ người này sang người khác, người mua cổ phần không có quyền rút vốn chỉ được quyền sở hữu và mua bán cổ phần Do vậy công ty cổ phần được liên tục trong sản xuất kinh doanh, lợi ích cổ đông gắn chặt vào hoạt động công ty cổ phần Cổ phần được mua bán chuyển nhượng do vậy các nhà đầu tư có thể thu hồi vốn ở những mức độ khác nhau và chuyển rủi ro, mạo hiểm cũng như sự may mắn cho những cổ đông mới
Cổ đông được giải phóng khỏi công việc quản lý, điều hành kinh doanh, công việc này được chuyển cho các nhà quản lý chuyên nghiệp, công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ, phân định rõ ràng quyền sở hữu và quyền kinh doanh, trách nhiệm dân sự được xác định rõ ràng trong cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty đối với từng thành viên HĐQT, TGĐ và từng thành viên kiểm soát
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh mang tính chất xã hội hóa cao, đây là ưu thế nổi bật hơn tất cả các loại hình công ty khác ở các điểm sau:
Chủ sở hữu công ty không chỉ là một vài người, hay chỉ của Nhà nước mà là của một số cổ đông, hàng trăm, hàng ngàn người, đặc biệt là những người quản lý và lao động trong chính công ty
Người kiểm soát hoạt động của công ty không chỉ là một nhóm thiểu số người hay các cổ đông mà chủ yếu là thị trường, là cả xã hội Thông qua việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán do vậy các thông tin tài chính, kinh doanh phải được công khai
Là hình thức huy động và thu hút các nguồn vốn trong dân cư một cách có hiệu quả, là kênh thu hút vốn dài hạn rất căn bản của xã hội
Trang 11 Các nguồn vốn có thể dịch chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác tạo ra những áp lực xã hội to lớn buộc các doanh nghiệp phải đổi mới hoạt động, nâng cao hiệu quả
Thời gian hoạt động của công ty cổ phần không bị hạn định và sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào sự biến động của cổ đông, các quan hệ cổ đông kể cả cổ đông là nhà nước đương quyền
Nhược điểm:
Mức thuế cao: Thu nhập của công ty cổ phần là đối tượng chịu thuế thu nhập, ngoài ra các cổ đông lại bị đánh thuế thu nhập trên tổng số thu nhập từ cổ tức mà họ nhận được; Không giữ được bí mật, vì phải công khai thông tin; Tương đối ít được tín nhiệm trong quan hệ tín dụng; Khó thay đổi phạm vi kinh doanh vì phải căn cứ vào điều lệ công ty
b Đặc trưng của công ty TNHH:
Ưu thế:
Công ty TNHH có tính đối vốn và đối nhân, bởi ngoài việc căn cứ vào vốn góp, còn căn cứ vào thân nhân người góp vốn để xử lý các mối quan hệ, cách mời họ cùng góp vốn kinh doanh; Trong quá trình hoạt động, tất cả các thành viên đều được tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức, phân phối lợi nhuận do vậy nó tạo sự quan tâm và kết hợp trí tuệ của nhiều người; Phù hợp với những doanh nghiệp vừa và nhỏ và có thể năng động trong kinh doanh
Nhược điểm:
Công ty TNHH rất khó tăng vốn, khó chuyển nhượng vốn, làm kẹt vốn của những nhà đầu tư, vì mọi sự thay đổi phải được sự chấp nhận của tất cả các thành viên; Gây ra những khó khăn nhất định trong việc quản lý công ty,
vì thành viên nào cũng là chủ; Đời sống của công ty phụ thuộc vào sự biến
Trang 12động của các thành viên trong công ty, dễ bị giải thể khi có sự bất đồng ý kiến giữa các thành viên trong HĐQT; Công tác quản trị yếu kém hơn công
ty cổ phần, do không có chuyên môn hóa cao; Khó thay đổi phạm vi kinh doanh
Liên doanh có VĐTNN thuộc loại hình công ty TNHH, do vậy tất cả những ưu thế, nhược điểm của công ty TNHH cũng chính là ưu thế, nhược điểm của công ty liên doanh có VĐTNN
1.2/ Những nội dung cơ bản của loại hình công ty cổ phần:
1.2.1 Các loại công ty cổ phần:
Công ty cổ phần có 03 loại đó là:
Công ty cổ phần nội bộ: Là công ty cổ phần chỉ phát hành cổ phiếu trong phạm vi giới hạn, đối tượng mua bán cổ phiếu là các sáng lập viên của công ty, cũng có thể là các pháp nhân là những đơn vị trực thuộc, những đơn
vị cùng tập đoàn
Công ty cổ phần công cộng: Là công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu rộng rãi trong công chúng, nó bao gồm cả thể nhân và pháp nhân ở trong và ngoài công ty cổ phần
Công ty cổ phần công cộng đã đăng ký: Là công ty cổ phần đã đăng ký chứng khoán đã giao dịch trên thị trường chứng khoán có tổ chức là sở giao dịch chứng khoán
1.2.2 Vốn cổ phần:
Vốn cổ phần là do các cổ đông đóng góp vào công ty, sau đó được công
ty giao cho cổ đông một số lượng cổ phiếu có tổng giá trị danh nghĩa tương đương với số tiền đã góp vào công ty Từ đó cổ đông trở thành chủ sở hữu, tài sản hợp nhất của công ty cổ phần, họ không có quyền sở hữu đối với tài sản
Trang 13mang các cổ phiếu ra bán trên thị trường chứng khoán để thu hồi vốn và lãi nếu có, giá bán có thể cao hoặc thấp hơn giá thành danh nghĩa cổ phiếu và lúc này cổ phiếu trở thành một loại hàng hóa phụ thuộc vào quan hệ cung-cầu trên thị trường chứng khoán
1.2.4 Tăng vốn điều lệ: Phổ biến được chia làm ba cách là:
Phát hành cổ phiếu mới khi thành lập hoặc để huy động tăng vốn điều lệ
Chuyển các quỹ của công ty từ các quỹ dự trữ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi
Chuyển trái phiếu thành cổ phiếu: chỉ được thực hiện từ các trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần
1.2.5 Hệ thống đầu phiếu:
Đầu phiếu theo cổ phiếu là một trong những nguyên tắc quản lý cơ bản trong công ty cổ phần để bầu cử HĐQT hay biểu quyết thông qua các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp Về nguyên tắc một cổ phiếu tương đương một phiếu bầu, cổ phiếu trong trường hợp này gọi là cổ phiếu bầu Tổng số phiếu bầu của công ty phụ thuộc vào tổng vốn đầu tư
Trang 141.3/ Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam:
Tất cả các công ty cổ phần Việt Nam trong quá trình hoạt động, phát triển hoặc giải thể, phá sản đều bị chi phối bởi Luật doanh nghiệp và trước đây bị chi phối bởi Luật công ty Bên cạnh đó còn có một số công ty cổ phần
bị chi phối bởi Luật doanh nghiệp nhà nước đó là những công ty cổ phần có vốn cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của nhà nước
Nhóm công ty cổ phần đã hình thành và được điều chỉnh lại theo Luật công ty: các công ty liên doanh 100% vốn nhà nước và công ty liên doanh có vốn tập thể kinh tế tư nhân thành lập theo nghị định 28 của Thủ tướng Chính phủ được chuyển thành công ty cổ phần có vốn góp của cán bộ viên chức và
tư nhân như FIDICO, SCITEC… đây là hình thức tạo vốn của tư nhân cùng nhà nước đầu tư Theo điều 2 Luật công ty, các xí nghiệp liên doanh được thành lập trước đây theo nghị định 28/HĐBT nếu đủ điều kiện đều thuộc phạm vi điều chỉnh Luật công ty
Công ty cổ phần được hình thành theo Luật công ty và Luật doanh nghiệp: Từ nhiều công ty và tổ chức kinh tế quốc doanh, tư doanh góp vốn cùng vốn của các tổ chức đoàn thể, tư nhân thành lập công ty cổ phần như công ty cổ phần Đồng Tâm, may da xuất khẩu 30/4, dược phẩm Mê Công Các công ty cổ phần thành lập mới theo Luật Công ty và Luật doanh nghiệp như Ngân hàng thương mại cổ phần Châu Á, Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
Công ty cổ phần hình thành từ chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bằng quyết định 202/CT của Chính phủ ngày 09/06/1992 thực hiện thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, sau đó nghị định 28/CP ngày 07/05/1996, nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/1998 Tính đến 31/12/1999 tổng số doanh nghiệp nhà nước được cổ
Trang 15phần hóa là 370 doanh nghiệp với tổng số vốn điều lệ 2.616 tỷ đồng, trong đó nhà nước nắm giữ 1.432 tỷ đồng; vốn từ cá nhân, pháp nhân, thành phần kinh tế khác là 1.184 tỷ đồng Việc thu hút 1.184 tỷ đồng vào các doanh nghiệp nhà nước là rất quan trọng đã khơi dậy, phát huy các nguồn lực trong nước có điều kiện đổi mới công nghệ, mở rộng hoạt động SXKD, thay đổi phương pháp quản lý doanh nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao hiệu quả SXKD
2/ TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN:
2.1/ Tác động của thị trường chứng khoán:
2.1.1 Tạo phương tiện điều hòa huy động vốn:
Trong xã hội luôn luôn có hai nguồn tiền tệ: nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và nguồn vốn chờ cơ hội đầu tư
Nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi thường được gửi vào ngân hàng và ngân hàng thường cho vay ngắn hạn, trung hạn với các điều kiện khắt khe, thậm chí kiểm soát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp khó đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp
Nhờ có thị trường chứng khoán là kênh dẫn vốn trực tiếp từ nhà đầu tư đến nơi cần vốn đầu tư thông qua những công cụ mới đa dạng, phong phú của một hệ thống hàng chục loại cổ phiếu, trái phiếu khác nhau của nhiều ngành kinh tế, nhà đầu tư có thể tự mình hoặc thông qua các nhà tài chính chuyên môn lựa chọn những hình thức đầu tư thích hợp, có hiệu quả Từ việc những nhà đầu tư nhận được cổ tức hàng năm, nhất là sự tăng giá cổ phiếu của họ, người mua cổ phiếu còn thực hiện quyền kiểm soát công ty… chính những tác nhân này kích thích nguồn vốn chờ cơ hội đầu tư ngày càng lớn thu hút vào cuộc đầu tư Nhờ có thị trường chứng khoán các công ty cổ phần nhanh
Trang 16chóng, dễ dàng thu hút một nguồn vốn đầu tư rất lớn cho công cuộc kinh doanh của mình mà một hoặc một số ngân hàng không đáp ứng được Các công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả, uy tín càng có điều kiện thuận lợi thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
2.1.2 Cho phép đầu tư dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn:
Nhờ thị trường thứ cấp hoạt động tấp nập cho phép các nhà đầu tư nhất là nhà đầu tư nhỏ có thể bán số chứng khoán họ đang sở hữu trên thị trường này để thu hồi vốn đầu tư Với tính chất này thị trường chứng khoán đã biến những nguồn vốn ngắn hạn, lẻ tẻ trở thành những nguồn vốn đầu tư dài hạn
to lớn
2.1.3 Thị trường chứng khoán là bà đỡ cho quá trình cổ phần hóa:
Cổ phần hóa là hành động mang tính kỹ thuật chia vốn của một doanh nghiệp đang do một người hoặc một số người làm chủ cho nhiều người làm chủ, kết quả cuối cùng của cổ phần hóa doanh nghiệp liên doanh có VĐTNN đang hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thành một công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp sửa đổi bổ sung Thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hàng ngày, hàng giờ trên thị trường chứng khoán với nguyên tắc hoạt động đấu giá và công khai, thị trường chứng khoán sẽ là nền tảng, là cơ sở hạ tầng cho quá trình cổ phần hóa
2.1.4 Thị trường chứng khoán tạo tính thanh khoản:
Thị trường thứ cấp là nơi mua bán các loại cổ phiếu và trái phiếu đã phát hành, hành động mua bán trên thị trường thứ cấp không tạo thêm nguồn vốn mới cho công ty cổ phần mà chỉ đơn giản thay đổi quyền sở hữu đối với các loại chứng khoán Do vậy thị trường thứ cấp có một vai trò kinh tế quan trọng là đảm bảo tính thanh khoản của các công cụ tài chính Chính sự đảm
Trang 17bảo này mà cá nhân hay các định chế tài chính sẵn sàng mua các chứng khoán trên thị trường thứ cấp, qua đó góp phần thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa
2.1.5 Thị trường chứng khoán điều tiết việc phát hành cổ phiếu:
Thị trường chứng khoán có quyền tạm ngưng mua bán các loại cổ phiếu nào vi phạm, có thể đưa đến thiệt hại cho nhà đầu tư và chỉ cho phép yết giá trở lại khi mọi điều kiện cần thiết được đáp ứng đầy đủ, nó đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư xem xét đánh giá các loại cổ phiếu trước khi đưa vào mua bán và thị trường chứng khoán có vai trò điều tiết, hướng các doanh nghiệp vào những ngành, lĩnh vực được khuyến khích, cũng như thúc đẩy chương trình cổ phần hóa
2.1.6 Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát VĐTNN:
Việt Nam là nước đang phát triển rất cần vốn đầu tư cho quá trình CNH–HĐH đất nước, nguồn vốn trong nước có hạn do vậy cần có VĐTNN, thu hút VĐTNN có thể thực hiện bằng vay tín dụng, thu hút vốn đầu tư trực tiếp theo Luật đầu tư và đầu tư qua thị trường chứng khoán
“Bất cứ nhà đầu tư nào khi xem xét quyết định đầu tư đều tính tới mối quan hệ ba yếu tố: rủi ro, lợi nhuận và khả năng luân chuyển vốn Mối quan hệ giữa các yếu tố này rất phức tạp, nhưng nói chung một quyết định đầu tư được coi là có nguy cơ rủi ro cao hay khả năng luân chuyển vốn thấp thì thường có khả năng sẽ cho lợi nhuận cao Các nhà đầu tư sau khi đã cân nhắc kỹ yếu tố lợi nhuận và rủi ro đều phải tính đến yếu tố tính luân chuyển vốn, nó có tầm quan trọng sống còn của kinh tế, chính trị, xã hội của một nước” Nhà đầu tư có thể chuyển đổi vốn đầu tư của mình thành tiền mặt để chuyển
ra nước ngoài khi cần hoặc để chuyển từ lĩnh vực đầu tư này sang lĩnh vực đầu tư khác có lợi hơn Hiện nay đầu tư vào Việt Nam được coi là không có
Trang 18tính luân chuyển, một khi thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả sẽ có tác dụng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài cao hơn bất cứ luật đầu tư nào cởi mở nhất, thị trường chứng khoán luôn luôn hoạt động theo nguyên tắc công khai, nghĩa là đòi hỏi công khai toàn bộ các thông tin liên quan đến giá trị chứng khoán, khả năng tài chính trong giao dịch mua bán chứng khoán thông qua thị trường chứng khoán có tổ chức, nhà nước thực hiện việc kiểm soát vốn đầu tư của người nước ngoài bằng việc nhà nước quy định một tỷ lệ nhất định nào đó cho mỗi loại chứng khoán được bán cho người nước ngoài thông qua đó nhà nước khống chế việc tham gia quản trị và kiểm soát công ty có VĐTNN “Đây là ưu điểm tuyệt đối của biện pháp thu hút vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán”
Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần như hình với bóng Một khi thị trường chứng khoán được hoạt động ở Việt Nam, việc thực hiện chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp liên doanh có VĐTNN có ý nghĩa rất lớn trong việc thu hút VĐTNN
2.2/ Tác động của những định chế tài chính trung gian trong việc cổ phần hóa:
Các định chế tài chính trung gian sẽ đóng vai trò chủ yếu là người cung ứng các dịch vụ trong tiến trình cổ phần hóa, đồng thời cũng là người cung ứng vốn cho các công ty cổ phần thể hiện các mặt sau:
2.2.1 Đối với Nhà nước:
Các định chế tài chính trung gian với đội ngũ chuyên viên kinh tế tài chính khá dồi dào kết hợp với các chuyên viên của các ngành khác trong và nước ngoài hình thành bộ tham mưu tư vấn cho nhà nước xây dựng cổ phần hóa các doanh nghiệp liên doanh có VĐTNN tương đối toàn diện, đúng hướng
Trang 192.2.2 Đối với công ty cổ phần:
Tư vấn giúp doanh nghiệp cổ phần hóa xây dựng phương án cổ phần hóa Đây là một trong những giai đoạn quan trọng của quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp liên doanh có VĐTNN
Hỗ trợ phát hành cổ phiếu: các công ty cổ phần thường thông qua các định chế tài chính trung gian đưa ra công chúng những loại chứng khoán mới thông thường bằng hai hình thức:
Các ngân hàng hoặc công ty tài chính dịch vụ đại lý phát hành cổ phiếu, bán theo một giá định sẵn và hưởng hoa hồng theo doanh số bán Trường hợp này được áp dụng khi công ty cổ phần có uy tín cao, các định chế tài chính trung gian chưa biết rõ về tình hình hoặc quá trình kinh doanh của công ty Các ngân hàng hoặc công ty tài chính nhận làm dịch vụ bảo hành tức là họ cam kết mua toàn bộ số cổ phiếu một đợt phát hành nào đó của công ty cổ phần, để rồi sau đó bán lại những người muốn đầu tư vốn vào công ty cổ phần
2.2.3 Đối với những người muốn đầu tư mua cổ phiếu:
Các định chế tài chính trung gian tư vấn phân tích, tài chính, hướng dẫn các nhà đầu tư mua các loại chứng khoán thích hợp
Nhìn chung những người có tiền tiết kiệm đều không có khả năng phân tích các thông tin rút ra từ những đánh giá về các mặt quản lý của công ty phát hành cổ phiếu Vì thế họ muốn đầu tư vốn một cách hợp lý thường phải thông qua các các công ty đầu tư hoặc phải nhờ dịch vụ tư vấn của chuyên viên phân tích tài chính để phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình Do vậy các định chế tài chính trung gian là cầu nối giữa cổ đông với công ty cổ phần, thúc đẩy những người có tiền tiết kiệm tìm đúng đến nơi cần vốn và biết sự dụng vốn có hiệu quả
Trang 203/ KHÁI NIỆM VỀ CỔ PHẦN HÓA LIÊN DOANH CÓ VĐTNN:
Cổ phần hoá thuần túy là chuyển thể một doanh nghiệp từ dạng doanh nghiệp chưa là công ty cổ phần thành công ty cổ phần Điều này đã gợi mở cho Việt Nam thực hiện có hiệu quả chương trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước; khởi đầu bằng quyết định 202/CT ngày 08/06/1992 của chính phủ sau 4 năm thí điểm cổ phần hoá được 5 doanh nghiệp nhà nước, sau đó chính phủ Việt Nam mở rộng chương trình cổ phần hoá bằng Nghị định 28/CP năm 1996 và Nghị định 44/1998 Tính đến 31/12/1999 đã cổ phần hoá được 370 doanh nghiệp nhà nước Vậy thực chất cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là gì? Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có thể trình bày một cách vắn tắt: Sau khi xác định giá trị doanh nghiệp theo giá thị trường, trị giá đó được chia đều thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, tổng số cổ phần đó được đem bán cho các đối tượng có nhu cầu cần mua bao gồm các tổ chức kinh tế xã hội, các công ty tài chính, các quỹ bảo hiểm và các tầng lớp dân cư Nhà nước với tư cách người bán có thể giữ lại một số cổ phần của doanh nghiệp, những người mua cổ phần gọi là cổ đông, những cổ đông là những người chủ thực sự của doanh nghiệp thông qua điều lệ, bầu ra HĐQT, quyết định chiến lược, phương án kế hoạch kinh doanh mới của công
ty cổ phần mới Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thực chất là quá trình chuyển đổi sở hữu một phần hoặc toàn bộ giá trị doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế và cá nhân, nói cách khác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc hành vi mua bán trong đó nhà nước sẽ thu được tiền do bán các cổ phiếu từ doanh nghiệp nhà nước, còn các cổ đông sẽ được quyền sở hữu doanh nghiệp, quyền quyết định toàn bộ hoạt động kinh doanh và hưởng lợi nhuận sau khi đã làm nghĩa vụ thuế Xu hướng cổ phần hoá không chỉ xẩy
Trang 21ra đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực quốc doanh mà nó còn diễn ra trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bởi:
Các doanh nghiệp nhỏ nếu không muốn bị phá sản thì phải góp vốn cổ phần để tạo ra doanh nghiệp lớn (công ty cổ phần) có sức cạnh tranh lớn hơn bằng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm…
Các doanh nghiệp lớn, nếu không muốn bị phá sản bằng cách đầu tư vốn của mình vào doanh nghiệp khác thông qua việc mua cổ phiếu của các công ty cổ phần hoặc là phân tán rủi ro cho nhiều người khác bằng cách bán cổ phiếu cho nhiều tổ chức, cá nhân khác
Đối với các liên doanh có VĐTNN, vốn thành lập doanh nghiệp là vốn góp của bên nước ngoài và của bên Việt Nam theo thỏa thuận hợp đồng liên doanh phù hợp Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam đó là vốn pháp định, theo
nguyên lý trên thì luận án cho rằng khái niệm cổ phần hoá liên doanh có
VĐTNN là việc cổ phần hoá vốn pháp định của liên doanh có VĐTNN
Trang 22CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÁC LIÊN DOANH CÓ VĐTNN
TẠI VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VĐTNN TẠI TRUNG QUỐC
1/ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓ VĐTNN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM:
Ngày 29/12/1987, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tại kỳ họp thứ 2 khóa VIII Đây là một trong những bộ luật kinh tế đầu tiên của Việt Nam thời kỳ đổi mới, là sự kiện quan trọng trong sự nghiệp đổi mới kinh tế của nước ta
Hệ thống các văn bản pháp lý về đầu tư nước ngoài quy định có 3 hình thức đầu tư: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh; Công ty liên doanh và Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Trong 3 hình thức đầu tư nước ngoài kể trên, công ty liên doanh là hình thức phổ biến và ưu đãi bởi nó có những ưu điểm cơ bản sau:
Tạo thêm nguồn vốn để tăng quy mô sản xuất, mặt khác tạo ra những ngành nghề mới để tăng tốc độ phát triển kinh tế; Chuyển giao kỹ thuật mới đào tạo kỹ năng quản lý từ việc học hỏi kinh nghiệm quản lý và tay nghề cho công nhân; Khai thác tiềm năng thế mạnh về lao động, tài nguyên và vị trí kinh tế thuận lợi; Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, đẩy mạnh tiếp cận thị trường quốc tế, nhất là thị trường các nước phát triển; Góp phần tích cực vào sự hợp tác phân công lao động quốc tế, đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và quốc tế; Khai thác thế mạnh đối tác Việt Nam, họ hiểu rõ những tập tục, truyền thống văn hóa,
Trang 23cách thức làm việc và môi trường chính trị tại Việt Nam; Đảm bảo tốt hơn về mặt an ninh quốc phòng
Hệ thống các văn bản pháp luật cũng dành nhiều ưu đãi cho hình thức công ty liên doanh về thuế, ngành nghề, địa bàn đầu tư
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được các chuyên gia, nhà đầu tư quốc tế lúc đó đánh giá là rất thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Trong quá trình thực hiện Luật đầu tư
1987 đã bộc lộ một số hạn chế nhất định Do vậy Luật đầu tư 1987 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam sửa đổi, bổ sung: Lần thứ nhất ngày 30/06/1990 thông qua tại Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ bảy; Lần thứ hai ngày 23/12/1992 thông qua tại Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ hai
Trên cơ sở Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà nước đã ban hành gần 100 văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật đầu tư như: thẩm định, quản lý dự án, tài chính, xuất nhập khẩu, đất đai, xây dựng, khu công nghiệp, khác…
Nhưng trong thực tiễn có những hạn chế: quản lý dự án sau giấy phép, quản lý vốn, đất đai dùng để góp vốn liên doanh việc quy định tiêu chuẩn và cách thức tổ chức thẩm định công nghệ không chặt chẽ dẫn đến việc có những hiện tượng tiêu cực Quản lý nhà nước về đầu tư còn nhiều sơ hở thiếu sót, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp liên quan nhiều bộ, nhiều địa phương, tính phối hợp giữa các bộ ngành, địa phương không đồng bộ, không khoa học, chậm trễ… thể hiện rất rõ trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu, ngân hàng, tài chính, hải quan thuế vụ, xây dựng địa chính có cả việc kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, thi hành pháp luật
Luật đầu tư 1996 đã được sửa đổi bổ sung và dành nhiều ưu đãi của Nhà nước cho nhà đầu tư vào hình thức liên doanh, song liên doanh có VĐTNN
Trang 24còn những hạn chế đòi hỏi Quốc hội Việt Nam sửa đổi bổ sung một số điều để khắc phục một số những hạn chế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7 -Quốc hội khóa 10 ngày 09/06/2000 Luật sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 vẫn chưa thể khắc phục các hạn chế đối với các liên doanh có VĐTNN như:
Tính luân chuyển vốn rất khó khăn; Việc tăng vốn điều lệ, huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh gặp không ít những khó khăn; Một số vấn đề quan trọng vẫn phải tuân theo nguyên tắc nhất trí, nhưng phạm vi thu hẹp, còn lại theo nguyên tắc quá bán; Một số chi phí, lệ phí vẫn còn khoảng cách
so với doanh nghiệp trong nước…; Các danh mục kêu gọi đầu tư, cấm đầu tư chưa rõ ràng, cụ thể; Hình thức đầu tư chưa đa dạng phong phú, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước nước ngoài
Để thấy rõ những mặt được và còn hạn chế đối với hình thức liên doanh có VĐTNN, luận án đi vào phân tích vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1988 đến 1999
2/ PHÂN TÍCH VAI TRÒ CÁC DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓ VĐTNN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 1988 ĐẾN 1999:
2.1/ Tổng quát về tình hình đầu tư của các liên doanh có VĐTNN:
Trang 25Bảng 1: Tổng hợp tình hình thực hiện các liên doanh có VĐTNN
tại Việt Nam từ 1988 đến 1999
ĐVT: Triệu USD Vốn pháp định
Trong đó
Năm Số dự án
được cấp
Vốn ĐT đăng ký Tổng
Việt Nam N/ngoài
Vốn đầu
tư thực hiện
Nguồn số liệu: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Kể từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đến hết tháng 31/12/1999, Chính phủ Việt nam đã cấp 1.437 dự án liên doanh chiếm 49.57% số dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp là 2.899 dự án; với số vốn đầu tư đăng ký 26.716 triệu USD chiếm 72,46% tổng số VĐTNN đăng ký đầu tư là 36.869 triệu USD Nếu tính cả vốn đầu tư tăng thêm thì vốn đầu tư của hình thức liên doanh xấp xỉ 30 tỉ USD Số dự án liên doanh còn hiệu lực 1.026 dự án với số vốn đầu tư hiệu lực 22,208 triệu USD
Trang 26Qui mô dự án của hình thức liên doanh xét trên phương diện tổng thể có qui mô lớn hơn so với qui mô dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Vốn đầu tư thực hiện của các bên liên doanh nước ngoài tại thời điểm 31/12/1999 chiếm tỷ lệ là 36,15% với 9,657 triệu USD, trên 26,716 triệu USD vốn đầu tư đăng ký Nếu so với các dự án còn hiệu lực thì vốn đầu tư thực hiện chiếm xấp xỉ 45% trong đó vốn pháp định thực hiện 54% là 5,204 triệu USD, vốn vay 4,453 triệu USD chiếm 46%, vốn góp các bên đã thực hiện 5,204 triệu USD thì bên Việt Nam góp 39% vốn pháp định chủ yếu bằng quyền sử dụng đất 1,907 triệu USD chiếm 37% vốn pháp định, bên nước ngoài góp 3,188 triệu USD chiếm 61% chủ yếu bằng tiền mặt chiếm 84% và máy móc thiết bị phụ tùng 7% vốn góp của họ
Bảng 2: Cơ cấu góp vốn của các bên liên doanh trong
tổng số vốn thực hiện
Vốn đầu tư thực hiện Các bên góp VPĐ đã thực hiện Chỉ số Trong đó Tổng Việt Nam góp
Tổng
số
VPĐ thực hiện
Vốn vay
VPĐ thực hiện
VND QSD
đất
Nước ngoài Tuyệt đối
Nguồn số liệu: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Về đối tác các bên trong liên doanh nước ngoài:
Trang 27Đối tác Việt Nam trong các liên doanh chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước Tại thời điểm 31/12/1998 nó chiếm 92,2% số dự án được cấp phép với 98,2% vốn đầu tư Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia liên doanh nước ngoài chiếm 7,8% số dự án và 1,8% vốn đầu tư Tới nay tỷ lệ này biến động không nhiều
Bên nước ngoài tham gia trong các liên doanh thuộc 54 nước và vùng lãnh thổ chủ yếu là các nước châu Á – Thái Bình Dương 762 dự án chiếm 74,26% dự án còn hiệu lực vốn đầu tư 16,108 dự án còn hiệu lực, vốn đầu tư 3,800 triệu USD chiếm 17,11% Các nước Bắc Mỹ kể cả B.V.Islands 100 dự án chiếm 9,7% dự án còn hiệu lực, vốn đầu tư 2,298 triệu USD chiếm 10,34% vốn còn hiệu lực
2.2/ Vai trò của các liên doanh có VĐTNN đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam từ 1988 đến 1999:
2.2.1 Những thành tựu:
Sau hơn 10 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các liên doanh có VĐTNN tại Việt Nam đã có những đóng góp tích cực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trên các mặt sau:
a Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế:
VĐTNN trong các năm 1991–1995 chiếm 25,7% và từ năm 1995 đến nay chiếm gần 30% tổng số vốn đầu tư xã hội Do vậy, nguồn vốn liên doanh đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, nhiều nguồn lực trong nước được khai thác và phát huy tác dụng bởi vì nó chiếm trên 72% tổng VĐTNN Tỷ lệ đóng góp của các liên doanh nước ngoài trong tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài trong GDP tăng dần qua các năm
Giá trị sản lượng của các liên doanh nước ngoài trong khu vực có VĐTNN chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng sản phẩm nội địa
Trang 28Các liên doanh nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng đưa tỷ lệ tích luỹ đầu tư của nền kinh tế từ 16% GDP trong năm 1990 lên đến 27% năm 1996
b Liên doanh có VĐTNN góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH:
Liên doanh đầu tư vào các ngành công nghiệp 359 dự án chiếm 34,9% dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư 6,828 triệu USD chiếm 30,7% và vốn đầu
tư thực hiện còn hiệu lực là 3,300 triệu USD chiếm 37% Đầu tư hầu hết vào các ngành công nghiệp đặc biệt là ngành công nghiệp nặng, bưu điện mà sản phẩm của chúng là đèn hình, linh kiện vi tính, sản xuất các chi tiết, lắp ráp ô tô, thiết bị văn phòng, tổng đài điện thoại, biến thế điện 250Ỉ1.000KVA, kính xây dựng, thép xây dựng, phân bón NPK, xi măng, sản phẩm dệt sợi… Nhiều công nghệ hiện đại được áp dụng đã tạo ra bước ngoặt mới trong sự phát triển một ngành kinh tế mũi nhọn như viễn thông, một số ngành như điện tử, sợi quay, cán thép, phân bón, sứ vệ sinh, sản xuất tôn nhôm được trang bị những dây chuyền đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Các liên doanh nước ngoài đã có những đóng góp rất quan trọng làm cho giá trị sản lượng ngành công nghiệp ngày càng tăng và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH đất nước
c Các liên doanh nước ngoài góp phần phát triển mạnh mẽ lực lượng SX:
Thông qua liên doanh có VĐTNN, các nhà đầu tư nước ngoài đã tiến hành chuyển giao công nghệ Nhiều công nghệ mới đã được nhập vào nước
ta như thiết kế, chế tạo máy biến thế, dây chuyền tự động, công nghệ sản xuất cáp điện, sản xuất các linh kiện ô tô, xe máy Nói chung, phần lớn các trang thiết bị là đồng bộ, có trình độ bằng hoặc cao hơn các thiết bị tiên tiến
Trang 29đã có trong nước, đặc biệt là các công ty đa quốc gia đã buộc phải chuyển giao kỹ thuật hiện đại và từng bước nâng lên
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, với xu thế trên có tác động rất tích cực buộc các doanh nghiệp trong nước tiếp nhận kỹ thuật công nghệ phù hợp điều kiện cụ thể để có thể tồn tại và phát triển như việc phải tự thay đổi dây chuyền công nghệ, tự trang bị máy móc thiết bị mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến bao bì, mẫu mã sản phẩm, học tập các kinh nghiệm về quản lý tổ chức sản xuất của các nhà đầu tư nước ngoài
Các liên doanh nước ngoài, nhất là các công ty đa quốc gia trong quá trình đầu tư rất quan tâm việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động Việt Nam kể cả lao động trực tiếp và lao động quản lý góp phần quan trọng đào tạo và đào tạo lại chuyên môn 135 ngàn lao động trực tiếp, hàng ngàn cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật Số cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật có nhiều điều kiện nâng cao tay nghề, tiếp thu kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tác phong lao động công nghiệp
d Liên doanh có VĐTNN góp phần tích cực thực hiện chủ trương mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, thúc đẩy, tiến trình hội nhập của nước ta với khu vực và thế giới:
Cuối những năm 80, đầu những năm 90, Việt Nam bị Mỹ cấm vận, mặt khác nguồn viện trợ của các nước XHCN Đông Âu đang ngày càng giảm và
bị cắt đứt vào năm 1992 và hoạt động các liên doanh đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc mở rộng hoạt động đầu tư tìm kiếm bổ sung các nguồn vốn thiếu hụt tìm kiếm thị trường mới, củng cố phát triển thị trường đang có ở các nước đang phát triển, các nước phát triển, từng bước đưa Việt Nam thoát dần cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, phá thế bao vây cấm vận của Mỹ Sau hơn 10 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài đã có hàng trăm
Trang 30công ty thuôïc 54 quốc gia và những lãnh thổ, gồm cả những công ty lớn của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Anh, Pháp các nước đầu tư lớn vào Việt nam là Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Tây Âu
Singapore là chủ đầu tư lớn nhất hiện nay của Việt Nam mặc dù từ năm
1997 đến nay bị ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế khu vực, tính đến tháng 6/2000 có 149 dự án liên doanh với 5,896 triệu USD vốn đầu tư còn hiệu lực, kim ngạch xuất khẩu 1997 đạt 3,232 triệu USD, năm 1998 đạt 3,529 triệu USD
Nhật Bản là nước có quan hệ lâu đời với Việt Nam, giúp cho Nhật -Việt đẩy mạnh mối quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực nhất là lĩnh vực đầu
tư, là nước có nguồn vốn ODA viện trợ, cho vay lớn nhất trong các nhà tài trợ cho Việt Nam, giai đoạn 1988–1994 chỉ có 64 dự án, vốn đầu tư chưa đến
600 triệu USD, đến năm 1995 vốn đầu tư đứng thứ 3 là 2,036 triệu USD, cuối năm 1997 là 3,296 triệu USD kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước năm
1997 là 3,043 triệu USD và năm 1998 đạt 2,850 triệu USD
Mỹ: Sau khi quan hệ Việt - Mỹ được nối lại hoàn toàn giữa năm 1995, hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư của Mỹ vào Việt Nam rất tích cực, chiếm hầu hết trong số 100 dự án liên doanh còn hiệu lực Quan hệ xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng nhanh, năm 1994 chỉ đạt 139 triệu USD, đến năm 1997 đạt 689 triệu USD, sang năm 1998 xuất nhập khẩu 2 quốc gia lên đến 800 triệu USD
Các nước Tây Âu: tính đến 1998 các nước Châu Âu có vốn đầu tư còn hiệu lực là 3,800 triệu USD với 164 dự án liên doanh Mặc dù từ năm 1997 đến nay kể cả số dự án vốn đầu tư đăng ký được cấp phép giảm, quan hệ buôn bán giữa Việt Nam với các nước này với tốc độ gia tăng ngày càng lớn: như với Đức năm 1994 chỉ đạt 264 triệu USD đến năm 1997 đạt 677 triệu
Trang 31USD, sang năm 1998 tăng lên 880 triệu USD; tương ứng với Pháp quan hệ mua bán đạt kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1994 là 357 triệu USD đến năm
1997 đạt 776 triệu USD, sang năm 1998 là 610 triệu USD
Hầu hết các nước có nhiều dự án liên doanh với Việt Nam đồng thời cũng là bạn hàng lớn trong quan hệ thương mại với Việt Nam như: Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp việc này chứng tỏ rằng liên doanh có VĐTNN và thương mại có quan hệ tác động hỗ tương Thông qua hoạt động liên doanh với nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam gia nhập ASEAN, ký hiệp định khung với EU, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và tới việc đã ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, gia nhập APEC, nâng cao vị thế Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế
Mặt khác thông qua liên doanh với nước ngoài, Việt Nam có điều kiện để khai thác các tiềm năng lợi thế của mình và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, với sự ra đời của các liên doanh TOYOTA - Việt Nam, liên doanh SONY – Việt Nam Việt Nam đang từng bước tham gia vào quá trình phân công quốc tế và qua đó có cơ hội tiếp cận thị trường thế giới, từng bước hoà nhập với nền kinh tế quốc tế
e Liên doanh nước ngoài góp phần quan trọng làm tăng thu ngân sách, lành mạnh hóa cán cân thương mại:
Các liên doanh nước ngoài dần dần đi vào ổn định tăng doanh thu, góp phần gia tăng nguồn thu ngân sách quốc gia, tác động tích cực đến các cân đối chung của nền kinh tế, góp nhiều cải thiện cán cân vãng lai, lành mạnh hóa cán cân thương mại Ngoài việc góp phần tăng nguồn thu ngân sách, các liên doanh nước ngoài còn góp phần giúp Chính phủ chủ động hơn trong việc
Trang 32cân đối ngân sách Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thu ngân sách khu vực có VĐTNN vẫn tiếp tục tăng
f Liên doanh nước ngoài góp phần giải quyết việc làm cho người lao động:
Tính đến năm 1999, liên doanh đã thu hút trên 135 ngàn lao động trực tiếp, trong đó có hàng ngàn cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật Nếu tính cả số lao động gián tiếp của các ngành nghề phục vụ hoạt động khu vực liên doanh ước đến 200 ngàn lao động, góp phần tạo nên một thị trường lao động, góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động Liên doanh với nước ngoài có lợi thế hơn hẳn các hình thức đầu tư nước ngoài khác Thực tế những năm qua, các nhà quản lý cán bộ kỹ thuật Việt Nam từng bước đảm trách những cương vị ngày càng quan trọng trong liên doanh, kể cả những cương vị quản lý cấp cao thay thế người nước ngoài, làm cho cả về số lượng và tỷ lệ lao động nước ngoài trong liên doanh ngày càng giảm Mức lương bình quân khoảng 70USD/tháng/người lao động Mức thu nhập của người lao động trong các liên doanh nước ngoài cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM thì thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp liên doanh cao hơn từ 50% đến 70% so với các doanh nghiệp trong nước, thậm chí có ngành nghề cao hơn 300%
2.2.2 Những mặt hạn chế:
Các liên doanh có VĐTNN đã có nhiều đóng góp đáng kể đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong thời gian qua, song nó cũng bộc lộ những hạn chế:
a Hiệu quả kinh tế còn thấp:
Trang 33Hoạt động của các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài nói riêng cũng như hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung thực chất mới bắt đầu từ năm 1991 đến nay
Bảng 3: Các dự án liên doanh bị lỗ qua các năm
1996 1997 1998 1999 Số LD hoạt động 540 575 581 583
Số DN KD bị lỗ 128 181 202 253
T.lệ %.số h.đôïng 23.7 31.5 34.8 43.4
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngày càng trầm trọng, trở thành vấn đề không chỉ bên đối tác Việt Nam quan tâm giải quyết mà còn đòi hỏi các ngành các cấp Việt Nam quan tâm sâu sắc vấn đề này
Mục tiêu của các bên tham gia liên doanh có khác biệt:
Phía Việt Nam: tham gia liên doanh theo đuổi nhiều mục tiêu:
Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu: Việt Nam áp dụng nhiều chính sách, hướng các liên doanh nước ngoài tham gia vào chương trình CNH-HĐH hướng về xuất khẩu bằng hàng loạt các giải pháp, chính sách ưu đãi qua thuế lợi tức (nay là thuế thu nhập) qua mức thuế suất 25%, 20%, 15%, 10% theo hướng khuyến khích xuất khẩu sản phẩm tỷ lệ càng cao thì thuế suất càng giảm, thời gian miễn giảm thuế lợi tức càng dài, song trên thực tế chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu không đạt được kết quả như mong đợi Căn cứ vào tình hình tiêu thụ sản phẩm các liên doanh nước ngoài, tỷ lệ xuất khẩu ở các doanh nghiệp này ở mức rất khiêm tốn, dao động trong khoảng từ 15-20% gá trị sản phẩm sản xuất ra Tiêu thụ trong nước thường chiếm từ 80-
Trang 3485%, nhiều mặt hàng trong nước sản xuất được với chất lượng cao lại bị cạnh tranh gay gắt như: nước giải khát, bia, nước ngọt, các mặt hàng hóa chất mà
ưu thế cạnh tranh thuộc về các liên doanh nước ngoài
Nội địa hóa nguyên liệu nhập khẩu: Khuyến khích các dự án liên doanh sử dụng nhiên nguyên liệu, vật tư sẵn có sản xuất linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện, điện tử tỷ lệ hóa càng cao thì mức thuế thu nhập càng thấp Nhưng mục tiêu này không đáp ứng được yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa việc sản xuất các chi tiết, linh kiện của ôtô, xe máy, linh kiện vi tính, tổng đài điện thoại vẫn chiếm từ 60-95% giá trị sản phẩm làm tăng sự phụ thuộc mang tính chất
cơ cấu của nền kinh tế quốc gia
Mục tiêu tăng dần tỷ lệ góp vốn của phía Việt Nam trong liên doanh: Thường rất khó được các nhà đầu tư nước ngoài chấp thuận, bởi nó làm giảm quyền kiểm soát công ty liên doanh đối với nhà đầu tư nước ngoài Đối với lĩnh vực đầu tư có điều kiện về nguyên tắc các nhà đầu tư nước ngoài chấp thuận tăng tỷ lệ góp vốn cho đầu tư Việt Nam khi nhà đầu tư thu hồi được vốn đầu tư và việc tăng tỷ lệ góp vốn cho Việt Nam thường không vượt quá tỷ lệ 50/50 đến khi kết thúc hoạt động liên doanh Bởi bên nước ngoài góp vốn pháp định thường chiếm từ 60–70% chủ yếu bằng tiền mặt, máy móc thiết bị, do vậy nhà đầu tư khó có thể chấp thuận tăng vốn góp cho phía Việt Nam nên mục tiêu này thường không thành công trong giai đoạn vừa qua Bảo toàn và phát triển vốn: Các doanh nghiệp nhà nước chiếm 92,2% tổng số dự án và 98,2% tổng vốn đăng ký hình thức liên doanh các doanh nghiệp có điều kiện nhà xưởng, thiết bị, mặt bằng, thậm chí có cả công nghệ
bí quyết đưa vào liên doanh nhằm đạt hiệu quả cao hơn Song thực tế ngược lại, tỷ lệ lỗ trong các liên doanh ngày càng trầm trọng, điển hình sự thua lỗ của liên doanh Coca-Cola - Chương Dương Các doanh nghiệp nhà nước Việt
Trang 35Nam không có vốn tìm phương cách liên doanh để tạo vốn kinh doanh đã không đạt được mục tiêu bảo toàn phát triển vốn mà lại phải đối đầu với nguy cơ mất vốn Muốn khắc phục tình trạng thua lỗ trong liên doanh một trong những biện pháp là phải bổ sung vốn Điều này đối với bên Việt Nam hầu hết không có khả năng bổ sung vốn, buộc phải chuyển vốn hoặc giải thể hoặc phá sản
Phía nước ngoài: Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài liên doanh với
các doanh nghiệp Việt Nam:
Thâm nhập, mở rộng thị trường ở Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của các công ty đa quốc gia: Tiêu thụ các sản phẩm và các dịch vụ của công
ty mẹ hoặc của công ty con khác trong hệ thống của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam nhằm tối đa hóa lợi nhuận công ty mẹ thông qua phương cách chuyển giá bằng cách nâng giá đối với các yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh như: chi phí nguyên vật liệu đưa vào sản xuất, chi phí quản lý, tiếp thiï, quảng cáo diễn ra một cách khá phổ biến Nguyên vật liệu, linh kiện chiếm 60Ỉ95% chi phí nguyên vật liệu liên doanh Chi phí tiếp thị quảng cáo thường cao hơn qui định, có doanh nghiệp chi 4Ỉ5% trên doanh thu Tiền lương trả cho người nước ngoài cao hơn điều kiện sinh hoạt tại Việt Nam Lĩnh vực địa ốc, giải khát, hóa chất mức lương từ 7,500Ỉ10,000 USD/tháng; sản xuất - mức lương từ 1,500Ỉ5,000 USD/tháng chưa kể phụ cấp nhà ở, đi lại, người phục vụ Các công ty xuyên quốc gia thông qua hoạt động chuyển giá bằng việc bán sản phẩm, dịch vụ cho công ty mẹ, công ty con thậm chí dưới cả giá thành Kết hợp cả yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra các công ty xuyên quốc gia từng bước đưa phía đối tác Việt Nam lâm vào tình thế lưỡng nan buộc phải chuyển nhượng vốn của mình cho đối tác nước ngoài Đồng thời tìm cách tiêu thụ sản phẩm dịch vụ trong nước với tỷ lệ ngày càng tăng
Trang 36lên thông qua đẩy mạnh quá mức về hoạt động tiếp thị và quảng cáo tạo ra lợi thế cạnh tranh cho liên doanh, thu hẹp thị trường các doanh nghiệp trong nước Điều này rất rõ đối với Tribeco khi đã bị Coca-Cola và Pepsi-Cola lấn át, làm suy yếu các doanh nghiệp nội địa tạo nên thế độc quyền của các công
ty xuyên quốc gia
Nâng cao hiệu quả sản xuất: Tối đa hóa lợi nhuận công ty mẹ bằng việc tăng chi phí yếu tố đầu vào, hạ giá các sản phẩm, dịch vụ của liên doanh, thực hiện mục tiêu thâm nhập mở rộng thị trường ở Việt Nam thông qua liên doanh với Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao kỹ thuật công nghệ máy móc thiết bị chưa lạc hậu hiệu quả không cao, ít tính cạnh tranh hoặc công nghệ, thiết bị đã lạc hậu vào Việt Nam vẫn phát huy hiệu quả, họ thu được lợi nhận cao ngay khâu đầu tư Triệt để khai thác yếu tố pháp lý qui định mức tiền lương tối thiểu, các chế độ đối với người lao động thông qua hợp đồng lao động
Tranh thủ chính sách khuyến khích đầu tư của Việt Nam: Các nhà đầu
tư nước ngoài lợi dụng các chính sách ưu đãi về thuế của Nhà nước Việt Nam để tối thiểu hóa các khoản thuế phải nộp không những gây thất thu cho Nhà nước Việt Nam mà còn tạo nên một ưu thế cạnh tranh hơn hẳn so với các doanh nghiệp trong nước
Cán bộ Việt Nam tham gia quản lý điều hành các liên doanh: Các
liên doanh nước ngoài thua lỗ phá sản, giải thể ngày càng tăng Một trong những nguyên nhân sâu xa, yếu nhất là khâu cán bộ Việt Nam tham gia quản lý, điều hành liên doanh: “Nhiều cán bộ Việt Nam cử sang làm việc trong các liên doanh thiếu kiến thức chuyên môn, không nắm vững pháp luật và thương trường, không biết ngoại ngữ, rất nhiều trường hợp giữ những cương
vị lãnh đạo của liên doanh chỉ vì đối tác Việt Nam có đất góp vốn, bất kể
Trang 37
không có kiến thức về chuyên môn, ngành nghề kinh doanh Một số cán bộ chưa phát huy được vai trò đại diện chủ sỡ hữu Nhà nước trong liên doanh, kém phẩm chất, thoái hóa, lo nghĩ trước hết đến thu nhập và lợi ích cá nhân, trong nhiều trường hợp họ đứng về phía lợi ích của chủ đầu tư nước ngoài… chất lượng lao động của Việt Nam còn thấp, thiếu lao động lành nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp về lao động kỹ thuật có tay nghề cao vận hành các dây chuyền công nghệ hiện đại”( ) 1 “Cán bộ là yếu tố quyết định đến sự thành bại của liên doanh”( ) 2 Vấn đề cán bộ Việt Nam tham gia quản lý điều hành liên doanh nước ngoài còn nhiều điều bất cập từ nhận thức đến hành động, cán bộ bên Việt Nam chưa đầy đủ, ngang tầm đòi hỏi của thực tiễn, nhiều doanh nghiệp nhà nước và cơ quan chủ quản cấp trên chỉ chú trọng đến nhân sự tham gia HĐQT và ban TGĐ trong khi các khâu then chốt khác quyết định đến sản xuất kinh doanh, tuyển chọn nhân sự lao động thì do phía nước ngoài nắm đằng cán một cách hợp pháp chi phối hoạt động của liên doanh Các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức được điều này thì lại khó có đủ số cán bộ đưa sang theo các tiêu chuẩn tuyển chọn của liên doanh Mặt khác các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia liên doanh chỉ chú trọng đến khía cạnh kinh tế không quan tâm thoả đáng công tác cán bộ nhân sự tham gia liên doanh ngay từ khi chuẩn bị dự án, đến quá trình hoạt động và phát triển của liên doanh, nếu có không tương thích–song hành Cơ chế cử cán bộ Việt Nam tham gia quản lý điều hành trong các liên doanh nước ngoài còn nhiều điều bất cập:
Việc giới thiệu các thành viên HĐQT phía Việt Nam, TGĐ hoặc Phó TGĐ thứ nhất người Việt Nam chưa tuân theo tiêu chuẩn hóa nhiều khi phụ thuộc nhiều vào ý chí của người lãnh đạo, chỉ huy cấp trên Thủ tục xét
Trang 38
duyệt, giới thiệu các thành viên trên tham gia các liên doanh rườm rà, hình thức, mất nhiều thời gian, phải tuân theo các quy định về quản lý cán bộ Việc cử các thành viên trên vào liên doanh hiện nay chưa đảm bảo tốt mối quan hệ giữa quyền của DNNN với trách nhiệm bảo toàn phát triển vốn được giao Không ít các trường hợp các thành viên HĐQT không phải là thành viên của doanh nghiệp, thậm chí lại là thủ trưởng cấp trên trực tiếp tham gia thành viên HĐQT do vậy giám đốc doanh nghiệp rất khó có thể bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong liên doanh khi mà không được thủ trưởng ủng hộ
Quan hệ giữa quyền lợi và trách nhiệm các thành viên tham gia liên doanh của bên Việt Nam chưa được qui định rõ ràng và mang tính ràng buộc Đối với những thành viên là người của đối tác Việt Nam khi được cử sang làm TGĐ hoặc phó TGĐ thứ nhất liên doanh gần như hoàn toàn thoát ly khỏi sự quản lý, ràng buộc của đối tác Việt Nam, nếu có chỉ là sự quản lý về bên Đảng Quyền lợi của họ hoàn toàn phụ thuộc vào liên doanh, do phía nước ngoài đóng góp từ 60-70% vốn liên doanh nên hoàn toàn có điều kiện chi phối các đối tượng này
Quyền lợi của những người này chưa gắn liền với quyền lợi của đối tác Việt Nam, nhất là tiền lương-thu nhập
Chính sách hai giá đối với một số hàng hóa dịch vụ:
Hiện nay giá một số dịch vụ vẫn còn phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có VĐTNN như giá điện, nước, cước điện thoại, chi phí công chứng tại TP.HCM của năm 1999:
Ngoài ra giá thuê đất, thuê nhà xưởng… trước khi có công văn số 2037 của Bộ Tài chính giá rất cao, nếu so sánh với doanh nghiệp nhà nước thì tiền
Trang 39thuê đất so với tiền thuê đất (đối với doanh nghiệp nhà nước) cao gấp nhiều lần, thậm chí có vị trí cao hơn 10 lần; liên doanh nước ngoài chưa được đối xử bình đẳng đối với các doanh nghiệp trong nước
Nếu so sánh giá cả một số hàng hóa dịch vụ sử dụng cho các doanh nghiệp có VĐTNN tại các thành phố ở các nước trong khu vực và Việt Nam,
ta thấy giá cả một số mặt hàng, dịch vụ ở Việt Nam thường cao hơn các nước trong khu vực Giá cả một số mặt hàng, dịch vụ đã cao hơn các nước trong khu vực, mà nó lại không được đối xử bình đẳng như các doanh nghiệp trong nước làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài còn là một trong những nguyên nhân thua lỗ trong doanh nghiệp liên doanh
b Xu hướng dịch chuyển từ hình thức liên doanh sang hình thức 100% vốn nước ngoài ngày càng gia tăng:
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì chính doanh nghiệp liên doanh có tỷ lệ giải thể, đổ vỡ nhiều nhất, tình trạng mâu thuẫn giữa các đối tác trong liên doanh khá phổ biến, nhiều trướng hợp hai bên hợp tác luôn xung đột, bất hợp tác làm đình đốn hoạt động doanh nghiệp Những năm gần đây hiện tượng các liên doanh chuyển thành doanh nghiệp khác ngày càng nhiều Đến 31/12/1999 có 76 dự án liên doanh đã được chấp thuận chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh sang 100% vốn nước ngoài hay 100% vốn trong nước, trong đó có 13 dự án chuyển từ liên doanh nước ngoài thành doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam và 59 dự án chuyển từ liên doanh nước ngoài thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Riêng năm 1999, có 30 liên doanh nước ngoài được chuyển đổi hình thức đầu tư, trong đó: 25 liên doanh chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và 05 liên doanh trở thành doanh nghiệp 100% vốn trong nước
Trang 40Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chuyển đổi là: Một bên đối tác liên doanh muốn rút vốn để chuyển mục tiêu kinh doanh; do hoạt động của liên doanh bị thua lỗ, bên Việt Nam tự nguyện chuyển nhượng cổ phần của mình để bảo toàn vốn; do bất đồng về chiến lược kinh doanh giữa các bên đối tác gây trở ngại cho điều hành hoạt động doanh nghiệp
Bên cạnh các liên doanh chuyển đổi hình thức đầu tư chủ yếu là 100% vốn nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đang theo
xu hướng thành lập doanh nghiệp 100% VĐTNN Số dự án liên doanh được cấp phép năm 1997 chiếm gần 45%, năm 1998 còn 35,2%, sang năm 1999 chỉ còn chiếm 20,7% tổng số dự án có VĐTNN được cấp Vốn đầu tư đăng ký liên doanh trong tổng vốn đầu tư đăng ký cũng giảm, năm 1997 chiếm 50,4%, năm 1998 vọt lên 67,6% nếu không tính dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất thì chiếm 51,4%, sang đến năm 1999 chỉ chiếm 43,9% tổng vốn đầu tư đăng ký
Công ty liên doanh là công ty đối nhân và đối vốn do đó quyền quyết định trong điều hành và quản lý thuộc về người sở hữu nhiều vốn nhất và chiếm đa số trong công ty Luật đầu tư nước nước ngoài của Việt Nam tồn tại
“nguyên tắc nhất trí”, đây thực sự là trở ngại lớn trong hoạt động của công ty liên doanh khi bên Việt Nam sử dụng không đúng “cái gậy” này Từ năm
1988 đến hết 1999, liên doanh nước ngoàøi bị rút giấy phép và giải thể là 403 dự án chiếm 76,5% tổng các dự án có VĐTNN, bị giải thể với vốn đầu tư là 4,314 triệu USD chiếm 74,5% tổng VĐTNN bị giải thể Tình trạng đổ vỡ giải thể liên doanh nước ngoài là nhiều nhất, chủ yếu trong các loại hình doanh nghiệp có VĐTNN
c Thị trường tiêu thụ sản phẩm-dịch vụ liên doanh: