BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH ĐỖ TRANG LỆ THU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA LÃI SUẤT VÀ ĐỘ DỐC TRÁI PHIẾU ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐỖ TRANG LỆ THU
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA LÃI SUẤT VÀ ĐỘ DỐC TRÁI PHIẾU ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐỖ TRANG LỆ THU
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA LÃI SUẤT VÀ ĐỘ DỐC TRÁI PHIẾU ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN NĂNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn này “Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thông qua lãi suất
và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này
mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Tác giả
ĐỖ TRANG LỆ THU
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Giới thiệu luận văn 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 5
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 6
1.7 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA LÃI SUẤT VÀ ĐỘ DỐC TRÁI PHIẾU VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI NHTM 9
2.1 Lý thuyết về khả năng sinh lời của NHTM 9
2.1.1 Hiệu quả hoạt động của NHTM 9
2.1.2 Tỷ suất sinh lời của các NHTM 10
Trang 52.2 Chính sách lãi suất và độ dốc trái phiếu 16
2.2.1 Giới thiệu chung về Chính sách tiền tệ 16
2.2.2 Chính sách lãi suất và độ dốc trái phiếu 20
2.3 Ảnh hưởng chính suất tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời của NHTM 22
2.3.1 Ảnh hưởng đến thu nhập lãi ròng 24
2.3.2 Ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi 25
2.3.3 Ảnh hưởng đến các khoản trích lập dự phòng 26
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 27
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA LÃI SUẤT VÀ ĐỘ DỐC TRÁI PHIẾU ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM VIỆT NAM 31
3.1.Phân tích ảnh hưởng chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến tỷ lệ sinh lời trên tỗng tài sản ROA 35
3.2 Phân tích ảnh hưởng chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM 36
3.3 Phân tích ảnh hưởng chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến tỷ lệ thu nhập ngoài lãi NNIM 38
3.4 Phân tích ảnh hưởng chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến dự phòng rủi ro tín dụng PTT 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 41
4.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm: 41
4.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 46
Trang 64.1.2 Sự phù hợp của kích thước mẫu 47
4.2 Phương pháp nghiên cứu và các kiểm định 47
4.2.1 Ưu điểm của sử dụng dữ liệu bảng 47
4.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 48
4.3 Kết quả nghiên cứu 51
4.3.1 Phân tích thông kê mô tả 51
4.3.2 Tương quan và đa cộng tuyến 55
4.3.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến Pearson 55
4.3.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến 57
4.3.3 Kiểm định các khiếm khuyết định lượng 59
4.3.5 Phân tích kết quả hồi quy 61
4.3.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 65
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Khuyến nghị 69
5.3 Hạn chế của đề tài 71
5.4 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ĐỊNH LƯỢNG
Trang 7FEM Mô hình dữ liệu bảng tác động cố định
REM Mô hình dữ liệu bảng tác động ngẫu nhiên
GMM Mô hình moment tổng quát
RRTD Rủi ro tín dụng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Các số liệu bình quân của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2006-2016
Bảng 4.1: Các yếu tố đại diện cho biến nghiên cứu và kỳ vọng dấu
Bảng 4.2: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.3: Ma trận tương quan tuyến tính đơn giữa các cặp biến
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai
Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi
Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra tự tương quan
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
Hệ thống ngân hàng chính là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động của Ngân hàng bao trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế xã hội, đây là hoạt động trung gian gắn liên với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Ngân hàng nhà nước điều hành các chính sách tiền tệ thông qua hoạt động của NHTM Do đó, mục tiêu chung để phát triển nền kinh tế xã hội ở Việt Nam đó là xây dựng một hệ thống ngân hàng sức khỏe lành mạnh, kiểm soát chặt chẽ rủi ro, có khả năng đối phó với các biến động xảy ra, góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia
Khả năng sinh lời chính là một trong những mục tiêu quan trọng, khẳng định
sự tồn tại của một ngân hàng trong môi trường toàn cầu hiện nay Tuy nhiên trong những năm gần đây, hiệu quả sinh lời của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã suy giảm, đặc biệt từ năm 2011, do tác động từ nhiều yếu tố nội tại và bên ngoài, hoạt động đem đến lợi nhuận chính cho ngân hàng chính là tín dụng mà lại sụt giảm đáng
kể do nợ xấu gia tăng và sự chênh lệch trong lãi suất tại thị trường Ngân hàng Việt Nam, bên cạnh đó việc giảm rủi ro, đa dạng hóa hoạt động ngoài tín dụng lại chưa làm tăng lợi nhuận
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là 2 công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ và Ngân hàng trung ương và góp phần rất lớn đối với việc giữ vững
ổn định kinh tế, và duy trì tốc độ tăng trưởng Nếu chính sách tài khóa thông qua thuế và đầu tư công, tập trung chủ yếu vào thành phần, các mức chi phí, các khoản thuế khoá của Nhà nước, công cụ còn lại là chính sách tiền tệ quốc gia thì lại chủ yếu tập trung trong việc ổn định giá trị, kiềm chế lạm phát, giải quyết khả năng thanh toán cho hoạt động kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và góp phần nâng
Trang 11cao đời sống của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn, kiểm soát toàn bộ hoạt động hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng
Dựa trên nghiên cứu Borio et al.(2017) về việc chính sách tiền tệ tác động đến khả năng sinh lời của NHTM Bài nghiên cứu tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa mức lãi suất ngắn hạn với độ dốc của đường cong lợi suất cũng như với khả năng sinh lời của ngân hàng – thông qua các tỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA), thu nhập lãi thuần (NIM), thu nhập ngoài lãi (NNIM), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (PTT) Biến động của ROA, NIM, và PTT với cơ cấu lãi suất là tương tự nhau, trong khi thu nhập ngoài lãi (NNIM) là ngược lại Điều này cho thấy tác động tích cực của cơ cấu lãi suất lên thu nhập ròng từ lãi chiếm ưu thế hơn so với tác động tiêu cực lên các khoản trích lập dự phòng và thu nhập ngoài lãi Kết quả này cũng thấy rằng sức ảnh hưởng sẽ mạnh hơn khi mức lãi suất thấp hơn và đường cong bớt dốc hơn, nghĩa là khi các phi tuyến tính không xuất hiện Tất cả những điều này cho thấy, theo thời gian, những mức lãi suất thấp bất thường so với trung bình và một cơ cấu lãi suất bằng phẳng bất thường so với trung bình làm xói mòn đi khả năng sinh lời của ngân hàng
Hiểu được mối liên hệ giữa lãi suất và khả năng sinh lời của ngân hàng là rất quan trọng để đánh giá sự ảnh hưởng của lập trường chính sách tiền tệ - lệ thuộc bởi
cơ cấu lãi suất (vị trí và độ dốc của đường cong năng suất) - lên sự ổn định của khu vực tài chính Trong khi chính sách tiền tệ không phải, dĩ nhiên, là tác động duy nhất lên cơ cấu lãi suất, nó vẫn có một sức ảnh hưởng to lớn đến cơ cấu này, ngân hàng nhà nước ban hành mức lãi ngắn hạn và làm ảnh hưởng đến mức lãi dài hạn thông qua việc trực tiếp thu mua các cổ phiếu cũng như định hướng sự phán đoán của các thành phần tham gia thị trường về lãi suất ngắn hạn
Trang 12Sự liên kết giữa chính sách tiền tệ và khả năng sinh lời của ngân hàng nổi lên
từ sau cuộc Đại hủng hoảng tài chính Ở những nền kinh tế phát triển lớn, các mức lãi suất ngắn hạn giảm xuống đến gần không và lãi dài hạn thì chạm mức thấp kỷ lục trong lịch sử Đã có ý kiến lan toả rộng rãi rằng phản ứng mạnh mẽ của ngân hàng nhà nước trong suốt những giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng mang tính quyết dịnh đối với việc ngăn chặn sự tan chảy của nền tài chính kinh tế Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã dấy lên mối quan ngại về hiệu quả thực của sự điều tiết tiền
tệ kéo dài có thể giảm do các tác dụng phụ tiêu cực của nó (như Ngân hàng thanh toán quốc tế 2012; Dale (2012); Plosser (2012); Rajan (2013)) Một tác dụng phụ đó chính là sự tác động tiêu cực của những mức lãi suất thấp đến khả năng sinh lời củangân hàng và vì vậy ảnh hưởng lên cả sự ổn định của khu vực này
Mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ và khả năng sinh lời của ngân hàng đã xuất hiện trong các nghiên cứu hàn lâm (như của Flannery (1981), Hancock (1985), Samuelson (1945)) Nhưng trong những năm gần đây nó đã bị lãng quên chỉ như một chủ đề nghiên cứu Chỉ có một vài nghiên cứu đã tập trung chủ yếu vào tác động của lãi suất lên khả năng sinh lời của Ngân hàng English (2002) đã tìm hiểu
về mối liên hệ giữa rủi ro lãi suất và các mức chênh lệch lãi suất ngân hàng ở 10 nước công nghiệp Ông nhận thấy rằng, khi lợi nhuận trung bình của tài sản ngân hàng liên quan chặt chẽ đến tỷ giá dài hạn hơn là sản lượng trung bình của nợ, một đường cong năng suất dốc làm tăng mức chênh lệch lãi suất lên Gần đây, Alessandri et al.(2015) đã tìm ra một mối liên hệ lâu dài tích cực giữa vị trí cũng như độ dốc của đường cong năng suất và lợi nhuận ngân hàng ở Vương quốc Anh Bài luận văn đánh giá ảnh hưởng của chính sách tiền tệ cụ thể là chính sách lãi suất với công cụ chính là lãi suất và đường cong lợi suất ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM tại Việt Nam Sử dụng dữ liệu bảng với mẫu đến từ 24 NHTM Việt Nam từ 2006-2016 với 264 quan sát Sử dụng phương pháp ước lượng moment
Trang 13tổng quát – GMM nhằm khắc phục các lỗi về tự tương quan, phương sai thay đổi, các biến nội sinh nên kết quả ước lượng được cũng sẽ không chệch, tạo tính vững và kết quả có hiệu quả trong kiểm soát các vấn đề về nội sinh với bộ dữ liệu thu thập từ 2006-2016 theo kỳ quan sát năm, nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Ngân hàng
Trong luận văn này, tôi tìm hiểu sâu hơn về sự kết nối giữa chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời của ngân hàng Luận văn đóng góp qua 2 con đường chính Đầu tiên, tôi phân tích mối liên kết toàn diện hơn, dựa vào một tổ hợp của các NHTM Việt Nam và tất cả những thành phần chính trên bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính của các ngân hàng này Đến cuối cùng, chúng tôi vẽ ra 1 tổ hợp dữ liệu trong giai đoạn 2006-2016 Và chúng tôi nhìn vào lợi nhuận ròng (NIM), thu nhập ngoài lãi (NNIM), các khoản trích lập dự phòng rủi
ro tín dụng (PTT) và tổng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) Thứ hai, chúng tôi cho phép các phi tuyến tính có mặt trong mối liên hệ giữa lãi suất và khả năng
sinh lời của ngân hàng – một khía cạnh đã bị bỏ qua trong các nghiên cứu trước
mặc cho sức hấp dẫn trực quan của nó Một điều quan trọng là, nếu những phi tuyến tính này lớn, việc bỏ qua chúng là đánh giá thấp những ảnh hưởng của các mức lãi suất rất thấp
Chính từ tầm quan trọng của việc gia tăng khả năng sinh lời của hệ thống các NHTM Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa hiện
nay, tôi đã quyết định lựa chọn luận văn “ Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thông
qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam”
nhằm tìm ra được câu trả lời về mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ đến khả năng sinh lời NHTM như thế nào
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ về chính sách tiền tệ đến khả năng sinh lời NHTM Việt Nam, dựa trên cách tiếp cận của Borio và cộng sự (2017) về chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời NHTM Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng từ của chính sách tiền tệ, đo lường thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời NHTM Việt Nam tập trung làm rõ các câu hỏi sau:
Thứ nhất, tồn tại hay không mối quan hệ giữa lãi suất, độ dốc trái phiếu ảnh
hưởng đến khả năng sinh lời ngân hàng, quan hệ này có dạng tuyến tính hay phi tuyến?
Thứ hai, mối quan hệ phi tuyến giữa lãi suất, độ dốc trái phiếu ảnh hưởng chiều
hướng như thế nào đến khả năng sinh lời ngân hàng thể hiện qua lợi nhuận lãi thuần, lợi nhuận ngoài lãi, hiệu suất sử dụng tài sản, dự phòng các khoản cho vay tín dụng
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: chính sách lãi suất và độ dốc trái phiếu để đo lường
chính sách tiền tệ và khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam, gồm 16 Ngân hàng với điều kiện lọc dữ liệu không có các ngân hàng nước ngoài,ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam với một số quốc gia, số liệu đã được công bố đầy đủ,rộng rãi trong giai đoạn nghiên cứu từ 2006-2016
Trang 15Phạm vi nghiên cứu: các NHTM Việt Nam có dữ liệu, và giai đoạn nghiên
cứu kéo dài 11 năm từ 2006 đến 2016 nhằm tăng tối đa số quan sát đảm bảo tin cậy tốt hơn cho kết quả phương pháp phân tích định lượng và cũng như theo dõi được toàn bộ diễn biến các yếu tố nghiên cứu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, áp dụng kỹ thuật hồi quy đa biến với dữ liệu bảng (Panel Data) GMM được giới thiệu bởi Bond (1991)
và Bover (1995) qua đó nhằm so sánh kết quả thu được giữa các mô hình tin cậy, khắc phục các giả thiết định lượng cổ điển
Kết quả thực nghiệm có được sau khi chạy mô hình và các kiểm định sẽ là
cơ sở để đưa ra kết luận các giả thuyết của nghiên cứu được chấp nhận hay bị bác
bỏ, đảm bảo tính phù hợp của mô hình
Các dữ liệu và các biến vĩ mô được lấy từ nguồn là tổng cục thống kê, ngân hàng nhà nước, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên qua các năm của các NHTM tại Việt Nam
Phần mềm được tác giả sử dụng để phân tích định lượng là Stata 12, lý do là phần mềm này cung cấp đầy đủ các công cụ để tác giả phân tích kết quả định lượng
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Dù chủ đề về lợi nhuận, khả năng sinh lời NHTM đã được rất nhiều các tác giả trong nước và thể giới nghiên cứu trước đó, tuy nhiên mối quan hệ về chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu, với quan hệ phi tuyến ít được nghiên cứu, đây chính là tính mới của đề tài Giả thuyết nền nghiên cứu được dựa trên công trình vừa mới xuất bản Claudio Borio và cộng sự (2017) Với một nền kinh tế đang
Trang 16trong quá trình hội nhập như Việt Nam, với các thách thức mở cửa, luận văn hi vọng giúp ích trong việc đóng góp ý nghĩa khoa học hệ thống lại các lý luận, bằng chứng thực nghiệm về chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời NHTM
Kết quả nghiên cứu của Borio et al.(2017) cho rằng bằng chứng thực nghiệm chính sách tiền tệ có tác động đến khả năng sinh lời của NHTM cụ thể hơn có mối quan hệ phi tuyến giữa lãi suất, đường cong lợi suất trái phiếu đến thu nhập ngoài lãi, thu nhập lãi thuần, dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Đây là mối quan hệ đổi chiều, ban đầu khả năng sinh lời của ngân hàng tăng cùng chiều với lãi suất, đến một mức lãi suất cao nhất định thì lãi suất tăng lên, khả năng sinh lời của ngân hàng giảm Cụ thể lãi suất ngắn hạn với độ dốc của đường cong lợi suất tác động tới tỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA), thu nhập lãi thuần (NIM),
tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (PTT) là cùng chiều hướng hình U ngược, trong khi tác động tới thu nhập ngoài lãi (NNIM) là hình chữ U Điều đó cho thấy:
Thứ nhất, cơ cấu lãi suất tác động tích cực tới thu nhập ròng từ lãi chiếm ưu
thế hơn so với tác động tiêu cực lên các khoản trích lập dự phòng và thu nhập ngoài lãi Trong giai đoạn trước một mức lãi suất hoặc độ dốc trái phiếu quá cao (trước khi đổi chiều), lãi suất càng tăng trong giai đoạn này dẫn tới khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao
Thứ hai, điều này cũng có nghĩa, nếu lãi suất duy trì mức thấp, bằng phẳng
trong giai đoạn dài thì khả năng sinh lời ngân hàng sẽ thấp theo, hay khả năng sinh lời sẽ bị xói mòn theo thời gian
Thứ ba, trong trường hợp tiếp sau giai đoạn lãi suất và độ dốc trái phiếu tăng
quá cao, khả năng sinh lời NHTM sẽ đổi chiều, khả năng sinh lời ngân hàng suy giảm
Trang 17Kết quả này phù hợp với thực trạng Việt Nam trong phân tích dữ liệu về lợi nhuận trên tổng tài sản và sự biến động lãi suất, độ dốc trái phiếu Cũng cố học thuyết giả định được đề nghị bởi Borio et al.(2017) đăng trên tạp chí xếp hạng uy tín
“International Finance”
Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế có được cái nhìn chính xác, đầy đủ và toàn diện hơn để đo lường, đánh giá tỷ suất sinh lời của Ngân hàng Đồng thời tìm ra các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các NHTM tại Việt Nam đầy đủ hơn
Luận văn cung cấp cho các nhà quản trị các thông tin hữu ích nhằm đưa ra các kế hoạch, chính sách hợp lý nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn các Ngân hàng đang sụt giảm lợi nhuận đáng kể, với lãi suất đang duy trì mức thấp so với thời kỳ cao trước đó Bên cạnh đó, luận văn cũng
là cơ sở để Chính phủ, Ngân hàng nhà nước đưa ra những chính sách vĩ mô hợp lý, kịp thời góp phần đạt được những mục tiêu kinh tế đã đặt ra, nhằm tạo niềm tin cho công chúng, các Ngân hàng tăng trưởng, phát triển bền vững
1.7 Kết cấu của luận văn
Bố cục luận văn gồm có 5 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời NHTM
Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và
độ dốc trái phiếu đển khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA LÃI SUẤT VÀ ĐỘ DỐC TRÁI PHIẾU VÀ KHẢ
NĂNG SINH LỜI NHTM
2.1 Lý thuyết về khả năng sinh lời của NHTM
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại (NHTM) phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực nhằm tối đa lợi nhuận với chi phí thấp nhất và doanh thu cao nhất.Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng NHTM hoạt động hiệu quả sẽ làm gia tăng uy tín và tạo sự yên tâm cho Khách hàng qua đó góp phần gia tăng huy động vốn và tạo ra được lợi nhuận ngày càng cao hơn.Do đó, các NHTM xem hoạt động kinh doanh là mục tiêu quan trong nhất của mình
2.1.1 Hiệu quả hoạt động của NHTM
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Người gửi tiền sẽ yên tâm hơn nếu gửi ở NHTM có hoạt động kinh doanh tốt, có uy tín trên thị trường Điều đó sẽ làm cho chỉ tiêu huy động vốn của Ngân hàng sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn Trên cơ sở đó, NHTM sẽ mở rộng hơn về quy mô hoạt động nhằm nâng cao chất lượng, góp phần gia tăng lợi nhuận và thu hút khách hàng hơn Do đó, mục tiêu hàng đầu của hoạt động kinh doanh của Ngân hàng chính là hiệu quả hoạt động
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM được đánh giá thông qua năng lực tài chính của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động
kinh doanh của NHTM như chỉ tiêu giới hạn tín dụng đối với khách hàng, an toàn
vốn tối thiểu, và năng lực về hoạt động kinh doanh, trong đó các chỉ tiêu về tỷ suất
sinh lời thường được nhắc đến nhiều nhất
Trang 19Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được thể hiện thông qua các chỉ số
về khả năng sinh lời như tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập lãi thuần (NIM)… Các chỉ số này cho thấy cái nhìn về hoạt động kinh doanh của NHTM giúp cho thấy được lãi thu được qua các hoạt động cho vay, đầu tư, dịch vụ với cơ sở quy mô, vốn và tài sản hiện có
Các chỉ số đo lường hoạt động kinh doanh của NHTM phải được lấy qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ để nắm bắt được xu hướng , khả năng phát triển cũng như vòng quay hoạt động của Ngân hàng toàn diện hơn Đồng thơi, luận văn dựa vào thực tiễn tại Việt Nam với quy mô kinh doanh của Ngân hàng để xác định các kết quả sau khi chạy dữ liệu để cho ra các giải pháp phù hợp
2.1.2 Tỷ suất sinh lời của các NHTM
2.1.2.1 Định nghĩa
Khả năng sinh lời của ngân hàng luôn là vấn đề được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm hàng đầu vì ngân hàng có lợi nhuận cao, bền vững sẽ có khả năng phát triển cao, đủ sức cạnh tranh trong môi trường hội nhập quốc tế Có thể thấy kết quả kinh doanh của Ngân hàng được thể hiện thông qua lợi nhuận Nếu Ngân hàng
có lợi nhuận cao cho thấy Ngân hàng đó kinh doanh hiệu quả, tạo được niềm tin với khách hàng, có điều kiện về kỹ thuật, công nghệ cao sẽ làm động lực cho các khách hàng ngày càng gửi tiền và tham gia nhiều hơn các sản phẩm của Ngân hàng và góp phần tạo điều kiện cho Ngân hàng ngày càng tăng trưởng
Trong NHTM lợi nhuận được tạo ra bằng cách đi vay (bán các khoản nợ) theo các tiêu chí khác nhau như thanh khoản, rủi ro, mệnh giá, kỳ hạn, mức lãi suất…, sau đó ngân hàng đem cho vay lại (mua các tài sản có) Quá trình đi vay và cho vay này được gọi là quá trình chuyển hóa tài sản, nghĩa là ngân hàng sử dụng tiền tiết
Trang 20kiệm của người này để cho người khác vay và lợi nhuận chính là thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến quá trình chuyển hóa tài sản trên (nếu ngân hàng cung cấp được các dịch vụ mong muốn với giá thành n và có được thu nhập cao từ các tài sản có thì ngân hàng có được lợi nhuận) theo Nguyễn Văn Tiến và Phạm Hữu Hồng Thái ( 2014)
Một trong các yếu tố phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng chính là tỷ suất sinh lời Khả năng sinh lời củaNHTM thường được đo lường thông quacác chỉ tiêu về định lượng như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng ,cơ cấu của lợi nhuận và các chỉ tiêu thể hiện tỳ suất sinh lời như tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)… ngân hàng kinh doanh càng có hiệu quả thì nhóm chỉ
số này càng cao Theo Horward và Upton, khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận được gọi là tỷ suất sinh lời
Một số người hay nhầm lẫn giữa khái niệm lợi nhuận và khả năng sinh lợi Đôi khi, thuật ngữ “lợi nhuận” và “tỷ suất sinh lời” được sử dụng thay thế cho nhau Nhưng trong thực tế, hai thuật ngữ này khác nhau về mặt ý nghĩa Lợi nhuận là thuật ngữ tuyệt đối, đề cập đến tổng thu nhập của ngân hàng trong thời gian nhất định; trong khi tỷ suất sinh lợi là một khái niệm tương đối, đề cập đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2.1.2.2 Các chỉ số đo lường tỷ suất sinh lời của NHTM
Ngân hàng cần phải xem xét mức lợi nhuận, cân đối chi phí cho những thất thoát xảy ra để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng và được thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau đây:
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA)
Trang 21Tài sản của ngân hàng được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu, và cả hai nguồn vốn này đều được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của NHTM Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) là chỉ tiêu được sử dụng hầu hết trong các bài nghiên cứu đo lường khả năng sinh lời của các ngân hàng như Sufian(2011), Naceur
et al (2008)…
Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động của đơn vị Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Thông qua ROA, cho thấy được khả năng trong việc sử dụng tài sản hiệu quả của đơn để tạo ra được lợi nhuận ROA càng cao cho thấy khả năng sử dụng tài sản để tạo ra khả năng sinh lời củaNgân hàng càng hiệu quả và tạo ra hiệu quả kinh doanh tốt cho ngân hàng Chính vì vậy, tỷ lệ ROA càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao theo Davydenko ( 2011) ROA không những phụ thuộc vào các quyết định chính sách của ngân hàng mà còn phụ thuộc cả những yếu tố vĩ mô mà NH không thể kiểm soát được
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản * 100 Theo Rivard et al (1997), ROA là chỉ tiêu tốt nhất đo lường khả năng sinh lợi của 1 ngân hàng vì ROA không bị ảnh hưởng bởi sự tăng cao của nguồn vốn và ROA cho thấy khả năng tạo ra được khả năng sinh lời củangân hàng từ danh mục tài sản của chính ngân hàng đó Vấn đề duy nhất của ROA là tỷ số trên không tính đến các yếu tố ngoại bảng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng theo Davydenko (2011)
So với ROE, chỉ tiêu hiệu quả trên tài sản đo lường thêm hiệu quả của các nguồn lực đòn bẩy tài chính của ngân hàng sử dụng Hiệu quả lợi nhuận trên tổng tài
Trang 22sản bao quát hơn hiệu quả lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tuy nhiên cũng có thể là yếu tố tạp nhiễu hơn hiệu quả lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) là tỷ lệ giữa thu nhập thuần trên tổng vốn chủ sở hữu Cho thấy được với 1 đồng vốn từ chủ sở hữu của ngân hàng thì
sẽ tạo ra được lợi nhuận bao nhiêu với một khoảng thời gian nhất định (thường được cho là 1 năm) Nói cách khác, ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra.Nghiên cứu ROE sẽ chỉ ra cách ngân hàng đã sử dụng nguồn vốn đầu tư của mình như thế nào để tạo ra lợi nhuận (Gul, Irshad và Zaman (2011))
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Tổng vốn chủ sỡ hữu * 100 ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức
là đầu tư chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý)
Theo lý thuyết về nguồn lực, vốn là yếu tố quan trọng trong nguồn lực của mọi doanh nghiệp Việc khai thác tốt nguồn lực tạo ra lợi nhuận thể hiện hiệu quả khả năng sinh lời củachủ doanh nghiệp
Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ NHTM sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, cân đối hài hòa giữa vốn cổ đông và vốn đi vay để khai thác lợi thế của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Vì thế hệ số ROE càng cao thì cổ phiếu ngân hàng đó càng hấp dẫn nhà đầu tư
Theo Davydenko (2011), để đánh giá tốt nhất khả năng sinh lời, cần xem xét cả
2 chỉ số ROA và ROE dù 2 chỉ số này mang ý nghĩa khác nhau nhưng cả 2 đều chỉ
Trang 23ra hiệu quả quản lý trong việc tạo ra lợi nhuận từ tiền đầu tư của cổ đông và sự đầu
tư vào danh mục tài sản của các ngân hàng
Các chỉ số khác
Ngoài hai chỉ số ROA và ROE, khả năng sinh lời của các NHTM còn được thể hiện,đo lường bằng các chỉ tiêu khác trong các bài nghiên cứu của các tác giả khác như:
- Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)
Trong các nghiên cứu của Rose (1999), Liu et al (2010), Dietrich et al (2011)
tỷ lệ thu nhập lãi cận biên làm biến phụ thuộc để phân tích các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao, thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao NIM được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi trên tổng tài sản có sinh lời bình quân Theo đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được đo lường theo các khoản mục bao gồm tiền gửi tại NHNN, các tổ chức tín
dụng, cho vay khách hàng và chứng khoán đầu tư
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lòi và theo đuổicác nguồn vốn có chi phí thấp nhất
NIM cho thấy được năng lực trong việc quản lý của lãnh đạo và nhân viên ngân hàng đối với việc duy trì khả năng tăng trưởng từ các nguồn thu so với mức tăng của chi phí (Rose,1989) Thông qua đó, giúp Ngân hàng nâng cao khả năng kiểm soát sử dụng tài sản để sinh lời và giúp đánh giá nguồn vốn nào có chi phí
Trang 24thấp nhất Tuy nhiên, NIM không tính đến phí dịch vụ cũng như những thu nhập ngoài lãi khác và chi phí hoạt động, như chi phí nhân sự và tài sản, hoặc chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, nên NIM không phản ánh được toàn diện tính sinh lời của toàn ngành ngân hàng theo Naceur et al.( 2008)
- Tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng (ROCE)
Tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng là chỉ số thể hiện khả năng thu khả năng sinh lời của ngân hàng dựa trên lượng vốn đã sử dụng và ROCE càng cao cho thấy khả năng sinh lời đạt được của ngân hàng càng cao theo Zaman et al (2011)) ROCE được tính toán theo công thức:
Trong đó: Vốn sử dụng = Tổng tài sản – nợ ngắn hạn
ROCE là một chỉ số tốt để so sánh khả năng sinh lời của ngân hàng Bên cạnh
đó ROCE cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng
- Độ dốc cổ phiếu (EY – Earning Yields)
Tất cả các chỉ số trên đều sử dụng giá trị sổ sách, riêng EY sử dụng giá trị thị trường được tính bằng công thức
Trang 25Theo Sangoi (2011), độ dốc cổ phiếu là một chỉ số quan trọng chỉ ra khả năng sinh lời trong tương lai của NHTM dựa trên những đánh giá của thị trường Nếu EY cao hàm ý thị trường dự đoán một sự tăng trưởng lợi nhuận thấp trong tương lai và
EY thấp cho thấy sự hy vọng của thị trường về sự tăng trưởng lợi nhuận cao trong tương lai
2.2 Chính sách lãi suất và độ dốc trái phiếu
Bài nghiên cứu sử dụng đề nghị Claudio Borio và cộng sự (2017) đo lường chính sách tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc của trái phiếu Có nhiều công cụ của chính sách tiền tệ, tuy nhiên mục tiêu chung của các công cụ này là điều chỉnh ảnh hưởng cung cầu và rủi ro của đồng tiền nội tệ Thị trường nhận tác động điều chỉnh từ tổng hòa các công cụ chính sách tiền tệ và thể hiện sự biến động thông qua lãi suất và
độ dốc trái phiếu Hay nói cách khác, sự biến động của lãi suất và độ dốc trái phiếu là đầu ra của các công cụ chinh sách tiền tệ, ghi nhận kết quả điều chỉnh hiệu quả hay không của các công cụ điều chỉnh của chính sách tiền tệ
Việc ổn định đồng nội tệ, kiểm soát lạm phát là mục tiêu được xem là quan trọng nhất của NHTW ở tất cả các nước trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại
lệ Và lãi suất là mục tiêu quan trọng nhất, phản ánh ảnh hưởng của công cụ chính sách tiền tệ trong việc điều hành của NHTW
2.2.1 Giới thiệu chung về Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ chính là hệ thống các quan điểm, các chủ trương và biện pháp của nhà nước, các công cụ chính sách do ngân hàng trung ương thực hiện để điều tiết cung tiền, nhằm tác động, điều chỉnh để đạt được các hoạt động của tiền tệ- tín dụng, ngân hàng và ngoại hối để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển
Trang 26Ngân hàng trung ương sử dụng 3 công cụ chính nhằm thay đổi cung tiền, lãi suất đó là: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thay đổi chính sách chiết khấu và thực hiện nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ của NHNN để tiến hành giao dịch mua hoặc bán ngắn hạn chứng từ có giá, với các NHTM và các thành viên khác của thị
trường mở để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quyết định sự thay đổi lãi suất do đó nó là công cụ quan trọng nhất và là nguồn thu chính các biến động của cung tiền Trên thị trường mở, hoạt động mua làm tăng lượng tiền cơ sở và tăng lượng dự trữ nhằm làm tăng cung tiền và làm giảm lãi suất ngắn hạn Ngược lại, hoạt động bán làm giảm lượng tiền cơ sở, giảm lượng dự trữ nhằm làm giảm cung tiền và tăng lãi suất ngắn hạn
Chính sách lãi suất chiết khấu
Đây là hoạt động mà ở đó NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu (đối với thương phiếu và giấy tờ có giá) và hạn mức cho vay chiết khấu thông qua việc NHTW quản lý cửa sổ chiết khấu.Khi NHTW cho các ngân hàng vay sẽ góp phần làm gia tăng thêm lượng tiền dự trữ cho hệ thống ngân hàng, sẽ làm tăng thêm lượng tiền cung ứng
NHTW thay đổi lãi suất chiết khấu và hạn mức chiết khấu qua đó ảnh hưởng đến hoạt động vay của Ngân hàng
Trang 27Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu, làm tăng chi phí đi vay của NHTM Để kinh doanh có lãi , NHTM phải tăng lãi suất cho vay nền kinh tế từ đó làm giảm nhu cầu tín dụng làm lượng tiền cung ứng giảm Để phục hồi dự trữ, NHTM phải giảm cung ứng tín dụng khiến lãi suất thị trường tăng
Lãi suất chiết khấu tăng Chi phí đi vay NHTM giảm Lãi suất cho vay của NHTM giảm Nhu cầu đi vay giảm Cung tiền giảm
Lãi suất chiết khấu tăng Chi phí đi vay NHTM giảm Nhu cầu đi vay của NHTM giảm Đề duy trì dự trữ, cho vay của NHTM giảm Lãi suất thị trường tăng
Ngược lại, khi NHTW giảm lãi suất cho vay tái chiết khấu, làm giảm chi phí đi vay,giá của khoản vay của NHTM rẻ hơn, do đó góp phần khuyến khích các NHTM cho vay để gia tăng hoạt động kinh doanh, làm tăng lên khả năng cho vay của ngân hàng kinh doanh đối với nền kinh tế, góp phần làm lượng tiền cung ứng tăng lên Đối với việc sử dụng công cụ chính sách chiết khấu, NHTW chỉ có thể thay đổi lãi suất chiết khấu nhưng không thể bắt buộc các NHTM phải vay chiết khấu ở NHTW
Trang 28Trong hai yếu tố này, yếu tố số dư nguồn vốn huy động có tính ổn định, do đó mức dự trữ bắt buộc cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng kéo theo mức dự trữ bắt buộc tăng, làm nguồn vốn khả dụng của các NHTM, và vì vậy, nó trở thành công cụ của NHNN trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia Tuy nhiên, tùy theo cơ chế quản lý dự trữ bắt buộc, mà tác dụng của công cụ này cũng khác nhau
Nếu áp dụng phương pháp phong tỏa theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào tại NHNN và các NHTM phải duy trì số dư đó trong một thời kỳ áp dụng Theo đó công cụ dự trữ bắt buộc sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng của NHTM, các tổ chức tín dụng
Nếu áp dụng phương pháp không phong tỏa theo phương pháp này, cho phép các NHTM, các tổ chức tín dụng duy trì dự trữ bằng tiền mặt, hoặc bằng tiền gửi tại NHNN, hoặc bằng cả hai loại trên, nhưng có thể tăng giảm tiền gửi và không cần phải duy trì số dư ổn định tuy nhiển phải đảm bảo số dư bình quân thực tế không được thấp hơn mức quy định dự trữ bắt buộc phải duy trì
Như vậy, phương pháp này tuy có tác động nhưng không trực tiếp và mạnh mẽ như phương pháp trên
Việc gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm thu hẹp cung tiền do giảm số tiền gửi của các ngân hàng tạo ra và làm tăng cầu về dự trữ, lãi suất thị trường Do đó, đây là công
cụ tác động mạnh tới cung tiền lãi suất nên rất hiếm các NHTW dùng công cu này.Hiện nay, công cụ dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém phần quan trọng trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ của NHTW bởi nó phức tạp, kém linh hoạt ảnh hưởng đến lợi nhuận các ngân hàng kinh doanh
Trang 292.2.2 Chính sách lãi suất và độ dốc trái phiếu
2.2.2.1.Chính sách lãi suất
Về lý thuyết, lãi suất danh nghĩa có mối quan hệ cùng chiều với lạm phát Điều này có nghĩa là, lạm phát tăng cùng với đó thì lãi suất danh nghĩa cũng sẽ tăng nhằm đảm bảo lãi suất thực ở mức chấp nhận của nền kinh tế Kỳ vọng về lãi suất thực sẽ tác động đến kỳ vọng đến các hoạt động về chi tiêu,đầu tư.Do đó, lãi suất thực ảnh hưởng đến các quyết định về tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế đồng thời nó cũng là yếu tố gây ảnh hưởng đến lạm phát Vì vậy, kiểm soát lãi suất thực là một phương pháp nhằm kiểm soát các kỳ vọng về lạm phát.NHTW sẽ tăng lãi suất và khi đạt được gần tới mức lãi suất danh nghĩa – đồng nghĩa với lãi suất thực dương.Khi đó, sẽ góp phần gia tăng giá trị của tài sản vì bác bỏ các kỳ vọng về lãi suất thực âm
Theo Taylor (1993), ông đã tìm ra một cách tính lãi suất danh nghĩa phù hợp về mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát – hay còn được gọi là quy tắc Taylor T
Với 2 mục tiêu chính đó là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát được lạm phát trong dài hạn thì quy tắc Taylor giúp cho NHTW có thể xác định các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi, cụ thể như sau:
Với:
: Lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mục tiêu : Lạm phát thực tế
: Tỷ lệ lạm phát mục tiêu của NHTW
Trang 30: Lãi suất thực tại điểm cân bằng của thị trường : Logarit của tổng sản lượng GDP thực tế : Logarit của tổng sản lượng GDP tiềm năng NHTW cần phải xác định các yếu tố sau: mức lãi suất ngắn hạn tại đó nền kinh
tế đạt mức toàn diện nhân công, chênh lệch giữa sản lượng thực tế so với sản lượng tiềm năng, lạm phát thực tế so với lạm phát mục tiêu thì mới có thể sử dụng được quy tắc Taylor
Khi lạm phát >lạm phát mục tiêu hay sản lượng > sản lượng tiềm năng quy tắc Taylor sẽ khuyến nghị ở mức lãi suất cao ( Chính sách tiền tệ thắt chặt) nhằm giảm
áp lực lạm phát
Khi lạm phát <lạm phát mục tiêu hay sản lượng < sản lượng tiềm năng quy tắc Taylor sẽ khuyến nghị ở mức lãi suất thấp( Chính sách tiền tệ nới lỏng) nhằm thúc đẩy tăng trưởng
Một vấn đề khác cũng được chú ý trong lý thuyết kinh tế xảy ra đối với phân tích về các tác động của chính sách, đó chình là yếu tố độ trễ thời gian tác động đối với việc thay đổi chính sách cùng với những yếu tố tiền tệ như lãi suất, cung tiền, tỷ giá đến các yếu tố vĩ mô chẳng hạn như đầu tư, lạm phát Bởi vì các quyết định chỉ đem lại hiệu quả cao khi chúng ta xác định rõ được các độ trễ này Vì là vấn đề không
hề đơn giản, với cùng một chính sách nhưng sẽ có các độ trễ tác động là rất khác nhau đối với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế Ví dụ như, tác động chính sách sẽ phụ thuộc nhiều nhân tố khác nhau chẳng hạn như chu kỳ kinh doanh, lòng tin của người tiêu dùng giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, các sự kiện trong nền kinh tế thế giới và kỳ vọng về lạm phát trong tương lai Về nguyên lý chung ,lãi suất tăng sẽ làm hạn chế đầu
tư, gây giảm lạm phát,tăng giá sản phẩm do lãi suất tăng Chính vì tác động 2 mặt, nên
Trang 31xác định độ trễ tác động này để có quyết định sử dụng công cụ lãi suất theo hướng tăng hay giảm mục tiêu kiểm soát lạm phát
2.3 Ảnh hưởng chính suất tiền tệ thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời của NHTM
Bài nghiên cứu dựa trên giả thuyết nghiên cứu nền được đưa ra bởi Borio et al.(2017) khi nghiên cứu về việc chính sách tiền tệ tác động đến khả năng sinh lời củaNHTM Borio et al.(2017) cho rằng có một mối quan hệ tích cực giữa mức lãi suất ngắn hạn với độ dốc trái phiếu đến khả năng sinh lời của ngân hàng – thông qua các tỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA), thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (PTT), hình chữ U ngược, trong khi thu nhập ngoài lãi (NNIM) là ngược lại hình chữ U thuận Borio et al.(2017) cho rằng tác động tích cực của cơ cấu lãi suất lên thu nhập ròng từ lãi chiếm ưu thế hơn so với tác động tiêu cực lên các khoản trích lập dự phòng và thu nhập ngoài lãi Kết quả này cũng thấy rằng sức ảnh hưởng sẽ mạnh hơn khi mức lãi suất thấp hơn và đường cong bớt dốc hơn, nghĩa là khi các phi tuyến tính không xuất hiện Tất cả những điều này cho thấy, theo thời gian, những mức lãi suất thấp bất thường so với trung bình và một cơ cấu lãi suất
Trang 32bằng phẳng bất thường so với trung bình làm xói mòn đi khả năng sinh lời củangân hàng
Borio et al.(2017,p.50) khi nghiên cứu về ảnh hưởng chính sách tiền tệ và lợi nhuận NHTM thảo luận rằng chính sách tiền tệ hoạt động chủ yếu thông qua ảnh hưởng lên lãi suất ngắn hạn và độ dốc trái phiếu Ngân hàng nhà nước kiểm soát lãi ngắn hạn khá chặt chẽ qua lãi suất chính sách Tác động của nó lên đường cong lãi suất thì gián tiếp hơn, thông qua ảnh hưởng của nó lên dự đoán của các nhân tố tham gia thị trường về đường lối lãi suất chính sách trong tương lai (kênh báo hiệu) và qua những hoạt động quy mô lớn trong trái phiếu chính phủ với mục đích tạo tầm ảnh hưởng nhất định lên giá của chúng
Từ sau cuộc khủng hoảng, khi mà lãi suất chính sách hạ xuống, những nỗ lực tác động đến đường cong lãi suất đã trở nên đáng chú ý hơn như là một phương thức cung cấp thêm sự kích thích kinh tế Sự phụ thuộc nặng nề vào định hướng gia tăng
về lãi suất chính sách tương lai thông qua thu mua tài sản quy mô lớn là bằng chứng cho các nỗ lực này Có một chứng cứ thực nghiệm cho rằng, khi được thực hiện cùng nhau, những chính sách này đã có một ảnh hưởng đáng kể lên đường cong lãi suất tại tất cả các kỳ hạn, cùng những cuộc thu mua quy mô lớn cho tác động tại các
kỳ hạn ngắn hơn như hai năm hoặc tương đương.Một điều quan trọng là, sự ảnh hưởng không chỉ tác động lên thành phần dự đoán đơn thuần nhất của đường cong lãi suất mà còn lên phần bù đắp kỳ hạn Thực vậy, những đánh giá thể hiện rằng phần bù đắp này đã bị đè nén bất bình thường và, trong các giai đoạn được kéo dài, thậm chí về căn bản còn bị âm
Trong phần phân tích dưới đây, tôi đặc biệt quan tâm đến tác động của chính sách tiền tệ lên lợi nhuận ngân hàng dưới các điều kiện kinh tế vĩ mô được cho Bài phân tich do đó không đưa vào bất kỳ ảnh hưởng dây chuyền nào của chính sách
Trang 33tiền tệ lên lợi nhuận ngân hàng trong hoạt động kinh tế và giá tài sản Một bài phân tích toàn diện hơn sẽ yêu cầu một mô hình kinh tế vĩ mô đầy đủ được xác định rộng rãi bởi những đặc tính của mô hình đó và vượt ra ngoài phạm vi của luận văn này Các kết quả ước lượng được bàn luận dưới đây đưa ra giả thiết là trong khi những hiệu ứng di truyền có thể làm yếu nhẹ sự tác động trực tiếp của chính sách tiền tệ lên khả năng sinh lời của ngân hàng, chúng không đảo ngược phương hướng tổng thể của sự tác động này
Trong những phần dưới đây, bài luận văn xem xét mối quan hệ các mức lãi suất và độ dốc trái phiếu có thể ảnh hưởng đến nhiều thành phần khác nhau của khả năng sinh lời của ngân hàng – đó là thu nhập lãi ròng, thu nhập ngoài lãi và các khoản trích lập dự phòng
2.3.1 Ảnh hưởng đến thu nhập lãi ròng
Dưới những điều kiện thường, cả 2 mức lãi suất và độ dốc đường cong lãi suất
có thể được dự đoán để liên hệ với thu nhập ròng cao hơn Mối quan hệ này có khả năng trở nên đặc biệt mạnh mẽ tại những mức lãi suất danh nghĩa rất thấp và giảm dần đi khi lãi suất tăng cao hơn – lúc này nó lõm xuống
Đối với các mức lãi suất, ít nhất 2 cơ cấu chính có liên quan là: (i) 1 “hiệu ứng rớt giá tiền gửi cá nhân” và (ii) 1 “hiệu ứng số lượng” làm ngang bằng “hiệu ứng giá”
“Hiệu ứng rớt giá tiền gửi cá nhân” bắt nguồn từ hiện tượng tiền gửi ngân hàng
bị giảm giá trên lãi suất thị trường, phản ánh một vài thế lực độc quyền và các dịch
vụ giao dịch Hiệu ứng rớt giá là một nguồn lợi nhuận lớn lúc tỉ lệ lạm phát cao và khi cạnh tranh trong ngành ngân hàng và giữa các ngân hàng cùng phi ngân hàng rất hạn chế, như tại nhiều nước trong suốt những năm cuối thập niên 70 Nó một lần nữa trở nên nổi bật lại, nhưng hoạt động ngược lại sau cuộc khủng hoảng khi lãi suất
Trang 34trở nên thấp lạ thường Lúc lãi suất tiền gửi không thể rớt xuống dưới 0 được, sự rớt giá bị dồn nén khi lãi suất chính sách bị giảm xuống những mức thấp Đây có nghĩa
là mối quan hệ giữa thu nhập lãi ròng và lãi suất phi tuyến (hình lõm)
2.3.2 Ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi
Lãi suất cao hơn có thể dẫn đến thu nhập ngoài lãi thấp hơn thông qua 2 tác động chính: (i) hiệu quả định giá cổ phiếu và (ii) phí và tiền hoa hồng
Tất cả điều kiện khác bằng nhau, lãi suất cao hơn sẽ tạo ra các khoản lỗ trên danh mục đầu tư chứng khoán của ngân hàng Sự ảnh hưởng đến tài khoản kết quả kinh doanh sẽ phụ thuộc vào các quy ước kế toán Lỗ sẽ tác động trực tiếp đến báo cáo kết quả kinh doanh nếu cổ phiếu được hạch toán theo giá thị trường (ví dụ: nếu chúng nằm trong danh mục giao dịch), sẽ bỏ qua toàn bộ và đi thẳng vào vốn sở hữu nếu chúng được sẵn sàng bán đi, và có ảnh hưởng chỉ khi được nhận ra nếu cổ phiếu được nắm giữ đến ngày đáo hạn
Phí và hoa hồng đại diện hơn 60% thu nhập ngoài lãi (hơn 90% trong suốt thời
kỳ khủng hoảng) Chúng đến từ nhiều nguồn, từ những nguồn được trực tiếp kết nối với hoạt động cho vay và tiền gửi (như hạn mức tín dụng và dịch vụ giao dịch) đến những nguồn liên quan tới các hoạt động nghiêng về ngân hàng đầu tư hơn (như thương mại, sáp nhập và thu mua, và tạo lập thị trường) Lãi suất cao hơn có thể làm giảm thành phần thu nhập này qua định giá tài sản và tìm kiếm lợi nhuận: khi lãi thấp, giá tài sản cao hơn, và cũng như số lượng, và sự tìm kiếm lợi nhuận mạnh mẽ hơn theo Rajan ( 2005) Giống như vậy, tại các mức lãi thấp những người tiết kiệm
có lẽ đòi hỏi nhiều dịch vụ chuyên nghiệp hơn để quản lý các danh mục đầu tư của mình theo Gambacorta et al.( 2010)
Ảnh hưởng của lãi suất lên thu nhập ngoài lãi có thể cũng phi tuyến, mạnh hơn tại các mức lãi thấp (hình lồi) Ví dụ, tìm kiếm lợi nhuận đặc biệt trở nên dữ dội khi
Trang 35lãi suất giảm sâu dưới những tiêu chuẩn trong lịch sử, và, như là 1 hệ quả, hiệu ứng định giá liên kết với sự suy giảm điểm cơ bản trong lãi suất trở nên mạnh mẽ hơn Điều này, hiển nhiên, giả định rằng những tác động này bù đắp hơn cho tổn thất định giá liên kết với hàng rào của rủi ro lãi suất qua các công cụ phái sinh
2.3.3 Ảnh hưởng đến các khoản trích lập dự phòng
Lãi suất cao hơn sau đó giảm dần cho thấy đường cong lãi suất sẽ xuất hiện một sườn dốc ít dốc hơn và thường được dự đoán là đi đôi với những khoản lỗ cho vay cao hơn Hơn nữa, ít nhất là trong giai đoạn lấy mẫu phân tích, mối quan hệ có thể mờ nhạt tại các mức lãi suất cao hơn – khi đó, nó sẽ trở thành hình lõm
Tóm tắt từ sự chậm trễ của nghiệp vụ kế toán trong việc phát hiện những khoản lỗ có thể dự đoán được, lãi suất cao hơn có khả năng có ít nhất 2 tác động, cái
mà phần nào bù đắp được Thứ nhất, lãi suất cao hơn làm tăng xác suất mặc định của tồn kho hiện tại những khoản vay lãi suất biến đổi bằng cách tăng các khoản nợ Thứ 2, chúng có thể gây ít rủi ro hơn cho các khoản vay mới thông qua kênh được gọi là kênh mạo hiểm theo Zhu et al (2012) Vì số lượng của những khoản vay lãi suất thay đổi buộc phải lớn 1 cách đáng kể so với dòng chảy của các khoản vay mới, tác động toàn bộ lên các khoản trích lập nên dương
Việc ghi nhận lời-lỗ bị trì hoãn được ngụ ý bởi các thông lệ kế toán có thể bổ sung thêm vào mối quan hệ dương tính giữa lãi suất và các khoản trích lập dự phòng theo khoảng cách tương ứng điều này xảy ra khi lãi suất thấp hơn thúc đẩy cho vay tăng trưởng, làm giảm nhanh tỉ lệ của những khoản trích lập dự phòng xuống bằng khoản cho vay
Sự nhạy cảm của các khoản trích lập dự phòng đối với lãi suất có thể đặc biệt cao khi lãi suất rất thấp Điều này xảy ra vì lãi thấp như vậy có khả năng tạo ra nhưng cuộc khủng hoảng tài chính sau đó, khi mà bảng cân đối tài chính của ngân
Trang 36hàng cũng như khách hàng của họ đang trong tình trạng xấu Đây có thể khiến các ngân hàng đặc biệt do dự chấp nhận những khoản lỗ xa hơn và do đó để tái tục các khoản vay – điều đó là “mở rộng và giả vờ” theo Barseshyan (2010) Tuy nhiên, như khi chúng ta điều khiển mức vốn của ngân hàng, tái tục những khoản vay bởi các ngân hàng với lãi suất thấp có thể phản ánh đơn giản hiện thực rằng họ không muốn mất đi mối đầu tư có thể lan truyền vào những khách hàng đang gặp áp lực Cần lưu ý rằng hiệu ứng này đi kèm với xác xuất mặc định thấp hơn khi được liên hệ với những khoản nợ thấp hơn Có 1 bằng chứng quan trọng cho cơ chế này, 1 vài trở về với kinh nghiệm bong bóng giá tài sản ở Nhật Bản trong những năm 1990 theo Caballero et al.(2008) và 1 vài liên hệ tới kinh nghiệm hậu khủng hoảng ở Châu
Âu theo Albertazzi et al.(2010); Ngân hàng Anh (2010)
Mối quan hệ giữa độ dốc đường cong lãi suất và các khoản lỗ cho vay có khả năng tương đồng về chất lượng Tại 1 mức lãi suất ngắn hạn, 1 cạnh dốc hơn làm tăng mức trung bình của lãi suất Điều này ít nhất làm tăng lượng nợ mà cần tái tục lại với các kỳ hạn dài hơn
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Các bài nghiên cứu trước đây về khả năng sinh lời của Ngân hàng thường phân tích hệ thống Ngân hàng ở nhiều quốc gia
Theo Altunbas (2010) bài viết nghiên cứu về mối quan hệ giữa lãi suất ngắn hạn và rủi ro ngân hàng Bằng việc sử dụng 1 cơ sở dữ liệu duy nhất bao gồm thông tin bảng cân đối kế toán theo quý của các ngân hàng hoạt động trong Liên minh châu Âu và Mỹ trong thập kỷ vừa qua, Tác giả tìm ra bằng chứng rằng lãi suất thấp bất thường trong thời kỳ mở rộng góp phần làm tăng rủi ro cho các ngân hàng Kết
Trang 37quả này nắm giữ một loạt các biện pháp đo lường rủi ro, cũng như kinh tế vĩ mô và các cách kiểm soát định chế
Còn theo Nicolo et al (2010) bài nghiên cứu đóng góp vào cuộc tranh luận bằng cách thể hiện mối quan hệ giữa lập trường chính sách tiền tệ và việc chấp nhận rủi ro phức tạp hơn so với những gì người ta thường tin Phần lớn cuộc tranh luận đã tập trung vào nới lỏng chính sách tiền tệ có thể khiến việc mạo hiểm lớn hơn như thế nào thông qua 1 cuộc tìm kiếm lợi nhuận hoặc những tác động của nó lên đòn bẩy
và giá tài sản, 1 khía cạnh bài viết này ủng hộ Nhưng, ít nhất trong ngắn hạn, cũng
có 1 ảnh hưởng chuyển dịch rủi ro đối nghịch khi các trung gian tài chính vận hành với trách nhiệm hữu hạn Sự cân bằng, sau đó, phụ thuộc vào mức độ trách nhiệm hữu hạn và sức mạnh tài chính của các trung gian tài chính Khi lãi suất chính sách thấp, những ngân hàng có vốn điều lệ cao (được vốn hoá cao) gia tăng việc mạo hiểm; các ngân hàng vốn điều lệ thấp (được vốn hoá thấp) lại làm điều ngược lại Theo Aharony et al (1986) nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi đưa ra bởi Fed ngày 6 tháng Mười, 1979 trong chế độ chính sách tiền tệ đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại Bằng việc sử dụng dữ liệu thị trường vốn và một phương pháp nghiên cứu sự kiện, người ta đã tìm ra rằng cổ phiếu ngân hàng phô bày ra lợi nhuận bất thường đáng chú ý trong suốt tuần thông báo sự thay đổi chính sách Khi những khoản lợi nhuận bất thường này bị chia thành một phần liên quan đến các thay đổi lãi suất và một phần (được giả định) để phản ánh sự biến động lãi suất tăng lên, kết quả phù hợp với mối liên hệ tỉ lệ nghịch giữa lợi nhuận ngân hàng và những bất ngờ về lãi suất cũng như giữa lợi nhuận ngân hàng và biến động lãi suất
Cuối cùng, theo Gambacorta et al (2009) thì 1 yếu tố quan trọng của phân tích an toàn vĩ mô là nghiên cứu về mối liên hệ giữa các biến động chu kỳ kinh
Trang 38doanh và lợi nhuận ngành ngân hàng và cách mà mối liên hệ này bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm định chế và mang tính kết cấu Công việc này ước tính một bộ công thức về thu nhập lãi ròng, thu nhập ngoài lãi, chi phí vận hành, các khoản dự phòng,
và lãi trước thuế, cho các ngân hàng tại những nước công nghiệp chính và đánh giá tác động lên lợi nhuận ngân hàng gây ra bởi những cú sốc cho cả hai, kinh tế vĩ mô
và nhân tố tài chính Phân biệt chủ yếu vùng châu Âu khỏi các nước Anglo-Saxon, bài phân tích cũng xác định được những điểm khác nhau trong khả năng phục hồi của các hệ thống ngân hàng tương ứng nhau và liên hệ chúng đến những đặc điểm của cấu trúc tài chính
Kết luận chương 2:
Như vậy, dựa trên Borio et al.(2017) nghiên cứu về việc chính sách tiền tệ tác động đến khả năng sinh lời của NHTM Để đo lường chính sách tiền tệ, Borio et al.(2017) sử dụng lãi suất và độ dốc trái phiếu làm tiêu chuẩn đại diện, có nhiều công cụ của chính sách tiền tệ, tuy nhiên tất cả các công cụ này với mục tiêu chung ảnh hưởng cung cầu
và rủi ro của đồng tiền nội tệ, thể hiện thông qua lãi suất và độ dốc trái phiếu
Borio et al.(2017) cho rằng mối quan hệ tích cực giữa mức lãi suất ngắn hạn với độ dốc của đường cong lợi suất cũng như với khả năng sinh lời của ngân hàng – thông qua các tỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA), thu nhập lãi thuần (NIM), thu nhập ngoài lãi (NNIM), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (PTT) Biến động của ROA, NIM,
và PTT với cơ cấu lãi suất là tương tự nhau, trong khi thu nhập ngoài lãi (NNIM) là ngược lại Điều này cho thấy tác động tích cực của cơ cấu lãi suất lên thu nhập ròng
từ lãi chiếm ưu thế hơn so với tác động tiêu cực lên các khoản trích lập dự phòng và thu nhập ngoài lãi Kết quả này cũng thấy rằng sức ảnh hưởng sẽ mạnh hơn khi mức lãi suất thấp hơn và đường cong bớt dốc hơn, nghĩa là khi các phi tuyến tính không xuất hiện Tất cả những điều này cho thấy, theo thời gian, những mức lãi suất thấp bất thường so với trung bình và một cơ cấu lãi suất bằng phẳng bất thường so với trung
Trang 39bình làm xói mòn đi khả năng sinh lời củangân hàng Ngoài ra, các nghiên cứu khác
hỗ trợ quan điểm Borio et al.(2017) là Flannery (1981), Hancock (1985), Samuelson (1945)
Trang 40CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA LÃI SUẤT VÀ ĐỘ DỐC TRÁI PHIẾU ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM VIỆT NAM
Khả năng sinh lời của Ngân hàng được đánh giá thông qua các chỉ số cụ thể qua các tiêu sau: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA,tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi NNIM và dự phòng rủi ro tín dụng PTT với bảng số liệu qua các năm cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Các số liệu bình quân của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ