Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp không chỉ dựa vào năng suất cây trồng, mà còn vốn đầu tư, giá trị gia tăng, hiệu quả đồng v
Trang 1LÊ THỊ DUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - 2019
Trang 2LÊ THỊ DUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 8.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Nhuận
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Lê Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại hoc Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, khoa Quản lý tài nguyên cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tụy dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Đức Nhuận đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn này
Trong thời gian nghiên cứu, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như hạn chế về mặt thời gian cho nên nội dung của luận văn không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 4
1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 4
1.1.2 Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 5
1.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp 6
1.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 8
1.2 Hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 10
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 10
1.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững 17
1.3.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững 17
1.3.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 20
1.4 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 23
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
Trang 62.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất của huyện Như Xuân 28
2.2.2 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 28
2.2.3 Đề xuất phương hướng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Chọn địa điểm nghiên cứu và phân vùng nghiên cứu 29
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 29
2.3.3 Phương pháp tổng hợp và đánh giá hiệu quả 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất của huyện Như Xuân 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 36
3.1.3 Dân số, việc làm và thu nhập 38
3.1.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 39
3.1.5 Đánh giá tình hình sử dụng đất đai của Huyện Như Xuân 41
3.2 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 50
3.2.1 Mô tả các loại hình sử dụng đất của từng vùng 50
3.2.2 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 54
3.3 Đề xuất phương hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Huyện Như Xuân 73
3.3.1 Lựa chọn loại hình sử dụng đất thích hợp 73
3.3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
Trang 71 Kết luận 79
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 84
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Như Xuân năm 2018 42
Bảng 3.2 Biến động sử dụng đất của huyện Như Xuân năm 2016 - 2018 46
Bảng 3.3: Các loại hình sản xuất nông nghiệp của vùng 1 50
Bảng 3.4: Các loại hình sản xuất nông nghiệp của vùng 2 52
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng chính vùng 1 55
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của LUT cây ăn quả vùng 1 55
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất vùng 1 56
Bảng 3.8 Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng chính vùng 2 58
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của LUT cây ăn quả vùng 2 59
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 2 60
Bảng 3.11 Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các LUT trên 2 tiểu vùng 63
Bảng 3.12 Hiệu quả xã hội của các LUT vùng 1 66
Bảng 3.13 Hiệu quả xã hội của các LUT vùng 2 68
Bảng 3.14 Hiệu quả môi trường của các LUT vùng 1 69
Bảng 3.15 Hiệu quả môi trường của các LUT vùng 2 71
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai không chỉ là đối tượng lao động mà còn
là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp không chỉ còn đơn thuần là ngành kinh tế sinh học, tạo ra lương thực, thực phẩm mà ngày nay được coi là nền kinh tế sinh thái, gắn liền phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu cho tất cả các ngành sản xuất của xã hội phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế thì diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Trong quá trình sử dụng, đất đai chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế, tự nhiên và con người, trong đó yếu
tố con người là quan trọng nhất
Do sức ép của gia tăng dân số và nhu cầu phát triển xã hội, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị giảm mạnh về số lượng và chất lượng Con người đã và đang khai thác quá mức mà chưa có nhiều các biện pháp để bảo vệ đất đai Hiện nay, việc sử dụng đất đai một cách hiệu quả, bền vững đang là vấn đề mang tính toàn cầu
Do đó để định hướng cho người dân trong huyện khai thác và sử dụng hợp lý, ổn định và có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức cần thiết Để giải quyết vấn đề này thì việc đánh giá hiệu quả
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử dụng đất và loại hình sử dụng đất thích hợp là việc rất quan trọng
Nền sản xuất nông nghiệp nước ta với những đặc trưng như: Sản xuất còn manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng còn chưa cao, khả năng hợp tác, liên kết cạnh tranh trên thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hóa còn yếu Diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp
Trang 11do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là hướng đi hết sức cần thiết nhằm tạo ra hiệu quả cao về kinh tế đồng thời tạo ra tính đột phá cho phát triển nông nghiệp của từng địa phương cũng như cả nước
Thực tế, trong những năm qua đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất như: tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho người sử dụng đất; hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi; chuyển đổi cơ cấu cây trồng; áp dụng tiến bộ khoa học mới vào sản xuất nhờ đó tăng hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp không chỉ dựa vào năng suất cây trồng, mà còn vốn đầu tư, giá trị gia tăng, hiệu quả đồng vốn, mức thu hút lao động,
Huyện Như Xuân là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Thanh Hóa, với tổng diện tích tự nhiên là 72.171,84 ha, Trong đó Đất sản xuất nông nghiệp là: 16.064,66 ha chiếm 22,25% tổng diện tích tự nhiên, với địa hình đồi núi thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ nhân dân các dân tộc trong huyện đã đặc biệt quan tâm đến công tác phát triển nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, bước đầu đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, triển khai việc quy hoạch các vùng sản xuất tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp chế biến đồ gỗ, sản xuất giấy, bột giấy…, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao đời sống nhân dân
Để đạt được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, việc khai thác sử dụng đất nông nghiệp cần phải nghiên cứu, xác định rõ hiện trạng, đánh giá hiệu quả trong
sử dụng đất, xác định tiềm năng thế mạnh của từng vùng trong huyện nhằm đưa ra những giải pháp nhằm góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai ở địa phương, với quan điểm trên tôi tiến hành nghiên
Trang 12cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả và đề xuất hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Như Xuân”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất của huyện Như Xuân năm
2018 và tình hình biến động đất đai huyện Như Xuân giai đoạn 2016 - 2018
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện từ đó lựa chọn được những loại hình sử dụng đất phù hợp và có hiệu quả cao nhất
- Đề xuất phương hướng sử dụng đất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong những năm tới phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần xây dựng hoàn chỉnh lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất các loại hình sử dụng đất hiệu quả
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho quy hoạch và lập kế hoạch
sử dụng đất, khai thác tối đa tiềm năng của đất nông nghiệp, bố trí hệ thống cây trồng theo hướng hiệu quả và bền vững huyện Như Xuân
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm (Luật đất đai, 2013)
Theo Luật đất đai năm 2013, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Sự phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng của từng loại đất Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học
và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày Tuy nhiên, do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất Lịch sử của thế giới
đã chứng minh bất kỳ nước nào dù là nước phát triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo
ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Đối với các nước đang phát triển, sản phẩm nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ Tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước có thể lựa chọn những nông sản phù
Trang 14hợp để xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu
tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân
Theo tổng cục thống kê năm 2018, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên
là 331.150,4 km2, dân số hơn 90.000 nghìn người, mật độ dân số 260 người/km2, trong đó đất nông nghiệp là 24.997 nghìn ha, đất sản xuất nông nghiệp cả nước 9.420 nghìn ha So với 10 nước trong khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam đứng thứ 2 nhưng bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực Diện tích đất canh tác là 10.805,9ha Bình quân diện tích đất canh tác đạt 1.300,4m2/người
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tình hình hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội về nông sản đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), tổng sản lượng lương thực sản xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên
có sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép từ nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người
1.1.2 Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Diện tích vùng nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện tích đất nông nghiệp có ích khoảng 1,4 tỷ ha Điều kiện khí hậu - đất đai và kinh tế xã hội đã tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng biểu hiện trên các hệ thống cây trồng, vật nuôi Vùng nhiệt đới ẩm với đặc điểm mưa nhiều, tập trung gây dòng chảy và xói mòn nghiêm trọng Đất đai phần lớn là màu mỡ nhưng so với vùng ôn đới thì không tốt bằng vì ít chất mùn, các xác
vi sinh vật mau bị khoáng hoá Khí hậu và đất vùng nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê, chè, ca cao và các lọai cây ăn quả nhiệt đới Đối với những vùng đất trũng, đất phù sa, đất giàu chất hữu cơ… rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây ngắn ngày, cây lương thực
Trang 15Hiện nay, ở các vùng nhiệt đới, đất nông nghiệp được sử dụng theo hướng thâm canh cao, tăng năng suất, tăng vụ, áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đây là những nguyên nhân gây tình trạng thoái hoá đất, đất bị mất khả năng sản xuất Điều đó đặt ra vấn đề là phát triển sản xuất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả
và bền vững
1.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón
Theo báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới cho thấy: gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất Quá trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới Châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu
Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị suy giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg Để đảm bảo đủ dinh
Trang 16dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình
sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người không đầy đủ sẽ dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường Tadon H.L.S (1993) chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo
độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”
Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992), trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy
Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt Tại khu vực Châu
Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người Theo kết quả điều tra của ESCAP/FAO/UNIDO (1993), do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ
Trang 17thuật hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai (Trịnh Đình Dũng, 2008)
1.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người được lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp
do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên
cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, mặt khác phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế - xã hội cao (Nguyễn Đình Thi và Vũ Thị Qúy, 2012)
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì:
- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp
lý góp phần bảo vệ độ phì đất
- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân
Trang 18- Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững
* Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học - kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ xuất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hóa theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh cây trồng vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hoá” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch
cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện phải phù hợp
và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung Các quan điểm
sử dụng đất nông nghiệp cụ thể là:
+ Quan điểm khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp + Quan điểm chuyển mục đích sử dụng phù hợp
+ Quan điểm duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp
+ Quan điểm tiết kiệm, làm giàu đất nông nghiệp
Trang 19+ Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài (Nguyễn Văn Bình, 2016)
1.2 Hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Theo Phạm Vân Đình và cs (1998): Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, nói một cách tổng chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ
ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là
Trang 20sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định
về kinh tế - xã hội đất nước
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội
và hiệu quả môi trường
1.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác (1949) thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel - Nordhuas thì “Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau
Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
Trang 21- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chính thể thống nhất và luôn vận động Theo nguyên lý đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống
sẽ phát sinh nhiều tính chất mới mà từng phần tử đều không có, tạo ra hiệu quả lớn hơn tổng hiệu quả các phần tử riêng lẻ Do vậy, việc tận dụng khai thác các điều kiện sẵn có hay giải quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận của một hệ thống với yếu tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống Đó chính là mục tiêu đặt
ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Trang 22Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội" (Bùi Văn Ten, 2000)
1.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân
Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc
sử dụng đất bền vững hơn
1.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường
Trang 23Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc
sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
1.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.2.1 Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở các mặt (Đỗ Thị Tám, 2000);
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha), tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh
- Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Trang 24nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
1.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính
so sánh có thang bậc
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
1.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan
hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C
H = K/C
H = (K - C)/C
Trang 25H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó:
+ H: Hiệu quả + K: Kết quả + C: Chi phí + 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào
và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ, GTGT/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí
cơ hội của người lao động
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu về mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
Trang 26+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai,
nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi
trường sinh thái
Theo Đỗ Nguyên Hải (2001), chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất
và bảo vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chất lượng nguồn nước tưới trong sản xuất nông nghiệp
1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
1.3.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các ngành công nghiệp cũng có những bước phát triển vượt bậc Công nghiệp
cơ khí tạo ra cho nông nghiệp nhiều máy móc, động cơ Con người đã sử dụng máy móc đưa năng suất lao động trong nông nghiệp lên cao Nhờ có
Trang 27máy móc mà nền nông nghiệp đã được cơ khí hoá và cơ giới hoá Công nghiệp hoá học tạo ra nhiều loại phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng Sử dụng các loại hoá chất con người đã đưa năng suất cây trồng, vật nuôi lên ở mức cao và rất cao trong những khoảng thời gian ngắn Công nghiệp năng lượng phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc điện khí hoá nông nghiệp nông thôn Điện cùng với cơ khí làm tăng năng suất, giảm nhẹ lao động chân tay, làm cho sản xuất nông nghiệp trở thành đa dạng, phong phú hơn Tuy nhiên với công cụ máy móc ngày càng hiện đại, tác dụng của hoá chất ngày càng mạnh thì tác động của con người vào thiên nhiên ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc hơn
Hiện tượng huỷ hoại thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới Trước những tác động mạnh mẽ, liên tục của con người đến thiên nhiên thì thiên nhiên cũng có những phản ứng chống trả lại không kém phần gay gắt Những phản ứng này của thiên nhiên trong nông nghiệp thể hiện ở sự huỷ hoại nhiều hệ sinh thái, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, dịch bệnh nhiều
Đứng trước những tác động sâu sắc có tính huỷ hoại đến thiên nhiên
và trước những phản ứng ngày càng mạnh mẽ của thiên nhiên, trước nạn ô nhiễm môi trường, phá huỷ tầng ôzôn khí quyển thì một vấn đề hết sức cấp bách được đặt ra là phải từ bỏ mọi các tác động mạnh mẽ đến thiên nhiên, có nghĩa là sản xuất nông nghiệp trong thời đại hiện nay không thể dựa chủ yếu vào vật tư, công cụ máy móc, phân bón hóa học, chế phẩm hoá học mà sản xuất nông nghiệp phải dựa vào trí tuệ, dựa vào kiến thức khoa học kỹ thuật
và đó cũng chính là sản xuất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
- Nền nông nghiệp sinh thái học là một nền nông nghiệp không loại trừ phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng mà sử dụng chúng một cách hợp lý hơn, có hiệu quả hơn, tránh ô nhiễm môi trường
Trang 28Hay một nền nông nghiệp sinh thái học phải là một nền nông nghiệp có sự kết hợp hài hoà những cái tích cực, đúng đắn, hợp lý của hai nền nông nghiệp- công nghiệp hoá và sinh học nông nghiệp: Phải biết chắt lọc, phát huy thế mạnh, tính ưu việt của từng nền nông nghiệp và kiên quyết loại bỏ những tồn tại của chúng Nền nông nghiệp sinh thái phải tuân thủ theo các nguyên tắc: Không phá hoại môi trường; Đảm bảo năng suất ổn định; Đảm bảo khả năng thực thi, không phụ thuộc vào bên ngoài; ít phụ thuộc vào hàng nhập ngoại
- Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp xây dựng được một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, thoả mãn các nhu cầu cả ở hiện tại và trong tương lai Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về nông nghiệp bền vững tuỳ vào từng điều kiện cụ thể:
Theo Đào Thế Tuấn và Pascal Bergeret (1998): Hệ thống nông nghiệp bền vững là một hệ thống có hiệu quả về mặt kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội
về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên
và chất lượng của môi trường sống cho muôn đời sau
Theo FAO (1990): Nông nghiệp bền vững bao gồm việc sử dụng quản
lý có hiệu quả nguồn vốn tài nguyên của nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên
nhiên, môi trường
Qua các định nghĩa về nông nghiệp bền vững nói trên cho thấy nội dung
cơ bản của nông nghiệp bền vững là đảm bảo sự bền vững về các vấn đề sau:
+ Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái và môi trường
+ Bền vững về tổ chức quản lý hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ giữa con người với nguồn tài nguyên đất đai và đảm bảo sự duy trì được cho thế hệ sau
+ Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp
lý Điều quan trọng nhất trong sự phát triển nông nghiệp bền vững là biết sử
Trang 29dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống và hạn chế rủi ro
Hay chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau: Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được Sử dụng nguồn lương thực, thực phẩm và tài nguyên phong phú của thiên nhiên liên tục mà không huỷ diệt sự sống của trái đất Một nền nông nghiệp được coi là bền vững đòi hỏi phải đạt được những chỉ tiêu sau:
+ Thoả mãn các nhu cầu về dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại
và tương lai về số lượng, chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp
+ Cung cấp lâu dài việc làm đủ thu nhập và các điều kiện sống làm việc cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp
+ Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và sự cân bằng tự nhiên Không phá vỡ bản sắc văn hoá xã hội của các cộng đồng sống
ở nông thôn hoặc không gây ra những sự nhiễm độc trong môi trường sống Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nhân dân (Nguyễn Ngọc Nông, Nông Thị Thu Huyền, 2014)
1.3.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp
Theo Huỳnh Văn Chương (2011), định hướng sử dụng đất nông nghiệp
là xác định một cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong đó có cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng lãnh thổ Hay nói cách khác định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác định cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với cơ cấu cây trồng và vật nuôi
Muốn xác định được cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp thì đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu về hệ thống cây trồng, hệ thống canh tác Phải nghiên cứu về các mối quan hệ giữa cây trồng với cây trồng, cây trồng với các điều
Trang 30kiện tự nhiên (khí hậu, thuỷ văn, tính chất đất đai ), cây trồng với các điều kiện tự kinh tế - xã hội chi phối (lao động, quản lý thị trường, tập quán, kinh nghiệm sản xuất ) vì với những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau thì
sẽ tồn tại những hệ thống khác nhau
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống cây trồng và các mối quan hệ của chúng với môi trường để định hướng sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện của từng vùng
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp cũng chính là xác định loại hình sử dụng đất phù hợp với mỗi đơn vị đất đai cụ thể Định hướng sử dụng đất nông nghiệp phải dựa trên các căn cứ sau:
+ Kết quả của công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp hoặc tiềm năng đất nông nghiệp của vùng
+ Khả năng cải tạo hệ thống tưới tiêu nước
+ Điều kiện ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp trong sản xuất
+ Khả năng đầu tư lao động và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
+ Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Hiện nay trên thế giới, việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp đều dựa trên cơ sở của quan điểm sinh thái và phát triển bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp Định hướng sử dụng đất nông nghiệp đối với những vùng đất mới khai hoang hoặc chuyển từ mục đích sử dụng đất khác sang sản xuất nông nghiệp là sự áp dụng hoàn toàn mới của một hệ thống cây trồng, vật nuôi nguyên vẹn Còn đối với những vùng đất đã và đang tiến hành sản xuất nông nghiệp thì đó là sự định hướng chuyển đổi hệ thống cây trồng hiện tại không phù hợp, hiệu quả thấp sang một hệ thống cây trồng mới phù hợp hơn
và đem lại hiệu quả cao hơn Sự chuyển đổi đó được tuân theo các quan điểm sau
+ Chuyển đổi hệ thống cây trồng trên quan điểm sản xuất hàng hoá và đạt được hiệu quả cao: Để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
Trang 31hoá phù hợp với cơ chế thị trường thì sản xuất nông nghiệp phải gắn với sự chuyên môn hoá, tập trung hoá Chuyên môn hóa đòi hỏi người sản xuất phải
có một trình độ sản xuất nhất định Tập trung hoá sản xuất chính là tập trung vào một đến vài sản phẩm chủ yếu mà ở đó sản phẩm làm ra chứa đựng một dạng tri thức khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý cao Nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm Tăng khả năng cạnh tranh, tiêu thụ được sản phẩm của mình trên thị trường
+ Chuyển đổi hệ thống cây trồng theo hướng đa dạng hoá sản phẩm nhưng được thực hiện trong điều kiện kinh tế nông hộ ở vùng ít đất Trong nền kinh tế thị trường hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, độc lập, người nông dân tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Do đó không thể áp đặt cho họ một hệ thống cây trồng nào đó Do vậy chỉ có thể vận động họ thông qua con đường khuyến nông để nông dân chủ động nắm bắt những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhanh chóng áp dụng những mô hình tiến bộ vào sản xuất Các chủ hộ nông dân căn cứ vào khả
năng của nông hộ để quyết định lựa chọn hệ thống cây trồng thích hợp
+ Chuyển đổi hệ thống cây trồng đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái Xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững và an toàn về lương thực
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo do con người tạo ra Cây trồng và vật nuôi là thành phần sống quan trọng của hệ sinh thái nông nghiệp, nó quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của hệ sinh thái nhất là đối với yếu
tố đất đai, bởi vì cây trồng sống được phải nhờ đất Đất là nơi cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Mọi sự thay đổi
về đất đai đều ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng Một hệ thống cây trồng chuyển đổi nếu thực sự có hiệu quả thì phải bảo vệ được môi trường đất và
phải làm tăng độ phì nhiêu của đất
Vấn đề an toàn lương thực là một vấn đề hết sức quan trọng của mỗi quốc gia An toàn lương thực có nghĩa là phải đáp ứng đủ nhu cầu về lương
Trang 32thực của tất cả mọi người (cả người sản xuất nông nghiệp và người làm công việc phi nông nghiệp) Nhưng không phải là sản xuất lương thực bằng mọi giá
mà cần phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng vùng để bố trí hệ thống cây trồng cho hợp lý và hài hoà
Đối với nước ta đất đai là nguồn tài nguyên hạn chế, đất chật người đông và đang trên đà phát triển về mọi mặt do vậy nhu cầu về sử dụng đất đai của tất cả các ngành kinh tế đều là rất lớn Vì vậy, đất đai phải được sử dụng đúng mục đích, hợp lý và tiết kiệm theo những quan điểm cơ bản sau đây:
+ Đất đai phải được sử dụng theo quy hoạch và kế hoạch, điều này vừa đảm bảo được sự thống nhất của Nhà nước trong việc quản lư đất đai vừa phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất
+ Hạn chế việc mất đất trong sản xuất nông nghiệp, nhất là đất đang trồng lúa
+ Trong việc sử dụng đất nông nghiệp cần phải thực hiện theo quan điểm tích cực: Thâm canh tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất, áp dụng khoa học
kỹ thuật tiên tiến để đạt năng suất và hiệu quả cao, khai hoang mở rộng diện tích
+ Sử dụng đất phải gắn với việc bảo vệ cải tạo đất, nâng cao độ phì nhiêu của đất đai, duy trì cải thiện môi trường sinh thái để sản xuất phát triển được lâu bền
1.4 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
và ở Việt Nam
1.4.1.Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có khoảng 1.500 triệu ha diện tích đất trồng trọt (chiếm xấp xỉ 9,07% diện tích đất tự nhiên) trong đó diện tích 1.200 triệu ha đang thoái hoá, diện tích bị xói mòn, rửa trôi, sa mạc hoá rất lớn gây nên việc suy giảm về số lượng, chất lượng đất sản xuất nông nghiệp, ngoài ra các yếu
tố về mặt xã hội như sự gia tăng dân số là một áp lực rất lớn đối với việc sử dụng đất trong đó việc sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng được nhu cầu về
Trang 33lương thực, nông sản Điều này đã đặt ra cho các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất Nhiều chương trình nghiên cứu, dự án khai thác sử dụng đất trên thế giới đã được triển khai
ở các nước, mỗi chương trình có một mục tiêu khác nhau, nhưng tựu chung lại các chương trình đều nhằm mục đích khai thác và sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả cao Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng
có tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của xã hội loài người mới chỉ hình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các Hội thảo và xuất bản Điều
cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường để giữ gìn những tài nguyên cho thế hệ sau, có thể điểm qua một số quan điểm về nông nghiệp bền vững tuỳ theo tình hình cụ thể:
+ Theo FAO-Unesco: Nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái (FAO, 1989)
+ Theo Nông nghiệp Canada: Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau (Baier, 1990)
- Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường
- Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ con người cả cho đời sau
- Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý + Định nghĩa của Piere Croson (1993): Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc thích hợp, có
Trang 34hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội gắn với việc tăng phúc lợi trên đầu người Đáp ứng nhu cầu là sản phẩm quan trọng cần đưa vào định nghĩa vì sản lượng nông nghiệp cần thiết phải được tăng trưởng trong những thập kỷ tới đem lại phúc lợi cho mọi người vì phúc lợi của đa số dân trên thế giới đều còn rất thấp Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế hệ và hạn chế rủi ro Khái niệm về quản lý đất bền vững được nhận biết trong khung khái niệm về nông nghiệp thế giới (CGIAR) Trong thực tế mọi người thường nhầm lẫn giữa bảo vệ đất và quản
lý đất bền vững Quản lý đất bền vững phải được hiểu với khái niệm, bao gồm toàn bộ hoạt động nông nghiệp có tác động đến các thông số về đất
Hàng năm các viện nghiên cứu khoa học trên thế giới đã nghiên và đưa
ra một số giống cây trồng có năng suất cao, ổn định, nhằm sử dụng đất ngày càng hiệu quả, nổi bật trong lĩnh vực nông nghiệp là đã tạo ra các giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao; Một hướng nghiên cứu khác được các nhà khoa học quan tâm đó là việc nâng cao năng suất cây trồng bằng việc sử dụng các chế phẩm vi sinh, hữu cơ với các chế độ sử dụng hợp lý, điều này đã đóng góp không nhỏ cho việc tăng sản lượng lương thực trên toàn cầu, đồng thời góp phần cải tạo và bảo vệ đất
Xu hướng chung của các nhà khoa học trên thế giới đang nỗ lực nghiên cứu có hiệu quả với việc đảm bảo các yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường, thành tựu trong hướng nghiên cứu này là các công trình nghiên cứu sử dụng đất dốc, đất gò đồi, các mô hình này đã và đang đem lại hiệu quả về mọi mặt trong sử dụng đất và trong sản xuất nông nghiệp Việc tìm ra các công thức luân canh, xen canh với các cơ cấu cây trồng phù hợp cũng được các nhà khoa học cho là giải pháp rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Trang 35Việc hoạch định các chiến lược và thực hiện tốt các chiến lược, chính sách cũng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả sử dụng đất
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Trong những năm qua xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá Những đóng góp đó đã góp phần quan trọng cho phát triển nông nghiệp trong xu hướng hội nhập
Từ những thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã có nhiều nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất, về sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu và cũng trong giai đoạn này, chương trình quy hoạch tổng thể đang được tiến hành nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp, nội dung quan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Những công trình nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triển nông nghiệp cũng đề cập việc phát triển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện Việt Nam
Trong những năm đầu của thế kỷ 21 với sự phát triển của khoa học và công nghệ, để nền nông nghiệp phát triển đáp ứng được sự phát triển của xã hội thì vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và sản xuất nông sản hàng hoá vẫn được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm
Các nghiên cứu cho thấy phát triển nông nghiệp hàng hoá là hướng đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu trong phát triển nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua và trong thời gian tới Sản xuất nông nghiệp hàng hoá của Việt Nam đã, đang và sẽ gặp nhiều khó khăn cần phải khắc phục Các nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3-4
vụ trong một năm đạt hiệu quả cao, đặc biệt ở các vùng ven đô, vùng có điều kiện tưới tiêu chủ động, nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được bố trí trong phương thức luân canh như hoa, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp
Trang 36Trong lịch sử canh tác nông nghiệp của nước ta, hệ thống sử dụng đất trồng lúa nước ta là hệ canh tác khá bền vững Hệ thống canh tác sử dụng đất dốc còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết Những năm qua Việt Nam đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật, kinh tế và tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng, vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Việt Nam có diện tích đất nông nghiệp khoảng 24,99 triệu ha, trong bối cảnh chung của tình hình sử dụng đất trên thế giới và đặc thù của Việt Nam, trong những năm qua Chính phủ, các Ban ngành, các Địa phương và các nhà khoa học trong nước đã đưa ra các vấn đề nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đây là một trong những định hướng mang tính chiến lược trong công tác nghiên cứu nhằm đưa ra các sản phẩm, các loại hình sử dụng đất hợp lý thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Ngay từ những năm sau cải cách ruộng đất các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng các loại giống ngắn ngày, tạo sự chuyển biến mang tính đột phá cho sản xuất nông nghiệp ngoài ra các vấn đề
về luân canh, tăng vụ cũng đã góp phần vào nâng cao sản lượng cây trồng thúc đẩy kinh tế phát triển Trong những năm gần đây với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá
đã làm cho nền kinh tế nước ta đạt nhiều kết quả tốt, tuy nhiên nhìn chung các công trình nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp vẫn tập trung chủ yếu vào vấn đề kỹ thuật canh tác, hiệu quả kinh tế; Các vấn đề về xã hội và môi trường cũng đã đề cập đến tuy nhiên cũng còn nhiều mặt hạn chế, đây là vấn
đề cần được tiếp tục nghiên cứu
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Như Xuân
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Nguồn số liệu được thu thập trong 3 năm, từ năm 2016 -2018
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện ở địa bàn huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, trên 4 xã, đại diện cho 2 vùng, định hướng phân chia vùng nghiên cứu dựa trên đặc điểm về vị trí địa lý, các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội và theo tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp của từng vùng
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất của huyện Như Xuân
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Như Xuân
- Tình hình sử dụng đất năm 2018
- Tình hình biến động đất đai giai đoạn 2016 - 2018
2.2.2 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Các loại hình sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
+ Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả xã hội
+ Hiệu quả môi trường
2.2.3 Đề xuất phương hướng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Lựa chọn loại hình sử dụng đất thích hợp
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
Trang 38+ Giải pháp về vốn đầu tư
+ Giải pháp về nguồn nhân lực
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chọn địa điểm nghiên cứu và phân vùng nghiên cứu
- Tiến hành chọn địa điểm nghiên cứu: Chọn 4 xã, thị trấn đại diện cho các vùng trên địa bàn huyện đảm bảo các yêu cầu:
+ Đại diện và theo tỷ trọng các xã trong vùng sinh thái, kinh tế của huyện + Quỹ đất nông nghiệp ở mức trung bình khá
+ Đại diện đầy đủ về khoảng cách: xa gần về giao thông, thuận lợi, khó khăn; Căn cứ tình hình các điều kiện: tự nhiên, xã hội và thế mạnh của vùng,
cụ thể các vùng nghiên cứu như sau:
+ Vùng 1: Chọn 2 xã gần trung tâm huyện: thị trấn Yên Cát và xã Thanh Quân + Vùng 2: Chọn 2 xã miền núi xa trung tâm huyện: Thanh Lâm và Cát Tân
- Mỗi xã chọn 30 hộ, 2 vùng điều tra 120 hộ đảm bảo có đủ các thành phần: + Hộ giàu: 40 hộ
+ Hộ trung bình: 40 hộ
+ Hộ nghèo: 40 hộ
Tiến hành điều tra nông hộ theo mẫu phiếu điều tra
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
* Thu thập thông tin số liệu thứ cấp:
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ các phòng ban liên quan như: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, Phòng Tài nguyên Môi trường, Phòng quản lý đất đai của sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa để thu thập Các tài liệu được thu
Trang 39thập bao gồm: Bản đồ, các số liệu về thổ nhưỡng, phân loại đất, hạng đất, các báo cáo hàng năm từ 2016 đến 2018
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Ở mỗi phường, xã đại diện, tôi tiến hành điều tra nông hộ theo phương pháp chọn ngẫu nhiên với số hộ điều tra là 120 hộ (30 hộ/xã) Nội dung điều tra nông hộ bao gồm: Chi phí sản xuất (Tưới, tiêu, phân bón, BVTV, chăm sóc ), lao động, năng suất cây trồng, loại cây trồng, mức độ thích hợp cây trồng với đất đai và những ảnh hưởng đến môi trường, v.v
Các hộ điều tra là các hộ đại diện cho các vùng có điều kiện tự nhiên - kinh tế đặc trưng của các vùng
2.3.3 Phương pháp tổng hợp và đánh giá hiệu quả
Phân tích, xử lý số liệu theo chuỗi thời gian để nhận biết quy luật của các yếu tố liên quan trong quá trình sử dụng đất và hiệu quả kinh tế sử dụng đất làm cơ sở đưa ra những giải pháp sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hiệu quả hơn Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel
Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất:
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất Hiệu quả kinh tế Hiệu quả xã hội Hiệu quả môi trường
Yêu cầu vốn đầu tư Thu hút lao động Giảm tỷ lệ đói nghèo Sản phẩm hàng hóa
Hệ số sử dụng đất
Tỷ lệ che phủ Khả năng bảo vệ, cải tạo đất
Ý thức người dân trong việc sử dụng thuốc BVTV
- Hiệu quả về mặt kinh tế: Các hệ thống sử dụng đất (LUS), các loại
hình sử dụng đất (LUT) có hiệu quả cao (dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả
Trang 40kinh tế, hiệu quả đồng vốn) Việc đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ tiêu sau:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong một chu kỳ sản xuất trên một đơn vị diện tích GTSX = Sản lượng sản phẩm x Giá thành sản phẩm
+ Chi phí sản xuất (CPSX): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Thu nhập thuần (TNT): Là hiệu số của giá trị sản xuất với chi phí trung gian: TNT = GTSX - CPSX
+ Hiệu quả đồng vốn (HQĐV): Thu nhập thuần/Tổng chi phí
- Hiệu quả về mặt xã hội: Đánh giá hiệu quả xã hội thông qua các chỉ
tiêu sau:
+ Đáp ứng nhu cầu nông hộ, đảm bảo lương thực;
+ Yêu cầu vốn đầu tư, thu hút lao động;
+ Giảm tỷ lệ đói nghèo, sản phẩm hàng hóa
- Hiệu quả về mặt môi trường: Đánh giá hiệu quả môi trường thông qua
hệ số sử dụng đất, tỷ lệ che phủ đất, khả năng bảo vệ, cải tạo đất và ý thức người dân trong việc sử dụng thuốc BVTV