ĐOÀN THỊ NGÀ ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP VALUE AT RISK TRONG QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÔNG SÀI GÒN Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng LU
Trang 1ĐOÀN THỊ NGÀ
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP VALUE AT RISK TRONG QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH ĐÔNG SÀI GÒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 2ĐOÀN THỊ NGÀ
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP VALUE AT RISK TRONG QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH ĐÔNG SÀI GÒN
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ VIẾT TIẾN
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của Tôi, được thực hiện với sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học là PGS TS Hồ Viết Tiến và những người đã giúp đỡ Tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
Đoàn Thị Ngà
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ
DÒNG TIỀN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Khái quát về dòng tiền 4
1.2 Khái quát về thanh khoản 4
1.2.1 Khái niệm thanh khoản 4
1.2.2 Các nhân tố cấu thành thanh khoản 5
1.3 Rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của NHTM 7
1.3.1 Khái niệm 7
1.3.2 Các nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản 7
1.3.3 Hậu quả của rủi ro thanh khoản 9
1.4 Các phương pháp quản lý thanh khoản - dòng tiền 10
1.4.1 Quản lý theo phương pháp truyền thống 10
1.4.2 Quản lý theo phương pháp hiện đại 12
1.5 Phương pháp Value at Risk (VaR) 14
Trang 51.5.1 Khái niệm 14
1.5.2 Thông số đầu vào để tính VaR 15
1.5.3 Sự khác nhau giữa VaR và độ lệch chuẩn 16
1.5.4 Phương pháp tính VaR 16
1.5.4.1 Phương pháp phương sai – hiệp phương sai 17
1.5.4.2 Phương pháp Mô phỏng lịch sử 19
1.5.4.3 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo 20
1.5.5 Back testing 22
1.5.6 Mở rộng phạm vi ứng dụng phương pháp VaR 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÔNG SÀI GÒN 25
2.1 Giới thiệu tổng quan về BIDV Đông Sài Gòn 25
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về BIDV 25
2.1.2 Giới thiệu sơ lược về BIDV Đông Sài Gòn 26
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Đông Sài Gòn năm 2010-2012 29 2.2.1 Đánh giá chung về môi trường kinh tế vĩ mô 29
2.2.2 Đánh giá khái quát tình hình hoạt động kinh doanh 30
2.3 Thực trạng công tác quản lý dòng tiền tại BIDV Đông Sài Gòn 35
2.3.1 Công tác quản lý vốn và tiền mặt 35
2.3.1.1 Quản lý vốn 35
2.3.1.2 Quản lý tiền mặt 37
2.3.2 Hiệu quả sử dụng vốn và tiền mặt 42
2.3.2.1 Huy động và cho vay 42
Trang 62.3.2.2 Hiệu quả sử dụng tiền mặt 50
2.4 Đánh giá hoạt động quản lý dòng tiền tại BIDV Đông Sài Gòn 53
2.4.1 Những kết quả đạt được 53
2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 53
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP VALUE AT RISK TRONG QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÔNG SÀI GÒN 57
3.1 Mô tả dữ liệu 57
3.2 Kết quả tính VaR các dòng tiền 58
3.2.1 Tiền huy động và cho vay 58
3.2.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 58
3.2.1.2 Kết quả nghiên cứu 59
3.2.2 Tiền mặt tại quỹ 63
3.2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 63
3.2.2.2 Kết quả nghiên cứu 64
3.2.3 Tiền mặt tại ATM 67
3.2.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 67
3.2.3.2 Kết quả nghiên cứu 68
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÔNG SÀI GÒN 72
4.1 Định hướng, mục tiêu hoạt động kinh doanh của BIDV Đông Sài Gòn đến 2015 72
4.1.1 Định hướng chiến lược chung 72
4.1.2 Các mục tiêu cụ thể 72
Trang 74.2 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền tại BIDV Đông Sài Gòn 75
4.2.1 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền tại BIDV Đông Sài Gòn 75
4.2.1.1 Đẩy mạnh phát triển hoạt động cho vay 75 4.2.1.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về phong cách giao dịch lẫn kiến thức nghiệp vụ chuyên môn 77
4.2.1.3 Đẩy mạnh hoạt động truyền thông, quảng bá hình ảnh của Chi nhánh 78
4.2.1.4 Nâng cao chất lượng công nghệ thông tin 79
4.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền tại BIDV Đông Sài Gòn 79
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BIDV : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV Đông Sài Gòn : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hoạt động chủ yếu từ năm 2010 đến 2012 31
Bảng 2.2: Định mức tiền mặt tối đa cho từng đơn vị 39
Bảng 2.3: Hạn mức ứng quỹ đầu ngày và tồn quỹ trong ngày của các phòng và đơn vị trực thuộc 41
Bảng 2.4: So sánh tình hình huy động vốn và sử dụng vốn 43
Bảng 2.5: LDR của BIDV Đông Sài Gòn so với BIDV 44
Bảng 2.6: Huy động và cho vay phân theo đối tượng khách hàng 44
Bảng 2.7: Huy động và cho vay phân theo kỳ hạn 46
Bảng 2.8: Huy động và cho vay phân theo loại tiền 47
Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn 49
Bảng 2.10: Hạn mức tồn quỹ tiền mặt cuối ngày và số ngày vượt hạn mức tồn quỹ 50 Bảng 2.11: Số liệu hoạt động kinh doanh thẻ 51
Bảng 2.12: Tổng số tiền tiếp quỹ, cơ cấu tiếp quỹ và tổng số lần tiếp quỹ 52
Bảng 3.1: Dữ liệu dòng tiền huy động ngắn hạn Phụ lục Bảng 3.2: Dữ liệu dòng tiền cho vay ngắn hạn Phụ lục Bảng 3.3: VaR của nhu cầu cho vay ngắn hạn 59
Bảng 3.4: Xác định mức thừa/thiếu hụt tiền huy động ngắn hạn 61
Bảng 3.5: Dữ liệu dòng tiền mặt tại quỹ Phụ lục Bảng 3.6: VaR của hạn mức tồn quỹ tiền mặt tại quỹ 64
Bảng 3.7: Xác định mức thừa/thiếu hụt tiền mặt tại quỹ 67
Bảng 3.8: Dữ liệu dòng tiền mặt tại ATM Phụ lục Bảng 3.9: VaR của nhu cầu rút tiền mặt tại ATM 68
Trang 10Bảng 3.10: Xác định mức thừa/thiếu hụt tiền mặt tại ATM 70 Bảng 4.1 Các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh định hướng giai đoạn 2013-2015 74
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Minh họa VaR trong phân phối TSSL danh mục 14
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của BIDV Đông Sài Gòn 28
Hình 2.3: Luân chuyển vốn giữa các chi nhánh Trụ sở chính thực hiện điều hoà vốn giữa các chi nhánh thông qua cơ chế mua - bán vốn 37
Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản năm 2010 - 2012 32
Biểu đồ 2.2: Huy động vốn năm 2010 - 2012 32
Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận trước thuế năm 2010 - 2012 33
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ nợ xấu năm 2010 - 2012 33
Biểu đồ 2.5: Huy động vốn và sử dụng vốn năm 2010 - 2012 43
Biểu đồ 2.6: Huy động vốn và cho vay phân theo đối tượng khách hàng 45
Biểu đồ 2.7: Huy động vốn và cho vay phân theo kỳ hạn 46
Biễu đồ 2.8: Huy động phân theo loại tiền 48
Biểu đồ 2.9: Cho vay phân theo loại tiền 48
Biểu đồ 2.10: Tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn 49
Biểu đồ 3.1: Biến động của VaR cho vay ngắn hạn 60
Biểu đồ 3.2: Huy động ngắn hạn dùng cho vay trung dài hạn 62
Biểu đồ 3.3: Biến động của VaR hạn mức tồn quỹ tiền mặt tại quỹ 66
Biểu đồ 3.4: Biến động của VaR nhu cầu rút tiền mặt tại ATM 70
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngân hàng là một loại doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt - đó là tiền tệ Vì thế hoạt động của một ngân hàng, của cả hệ thống ngân hàng mang rất nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro thanh khoản Loại rủi ro này phát sinh nguyên nhân một phần là do dòng chuyển động tiền đi vào và đi ra chưa có sự hợp
lý, bất cân xứng và nó được xem là đặc biệt nguy hiểm, có thể gây ra hàng loạt những tác hại nghiêm trọng cho hoạt động ngân hàng mà tác hại lớn nhất là ngân hàng bị phá sản Chính vì vậy, vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản nói chung hay quản lý dòng tiền nói riêng ra sao để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo độ an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản
lý ngân hàng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bất kì ngân hàng nào trên thế giới Hiểu được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro thanh khoản - quản lý dòng tiền, tác giả mạnh dạn nghiên cứu ứng dụng phương pháp Value at Risk (giá trị chịu rủi ro) - Đây là một trong những phương pháp quản trị thanh khoản, quản lý rủi ro dòng tiền hiệu quả và cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu chi tiết đề xuất việc ứng dụng Value at Risk một cách có hệ thống vào chương trình quản trị rủi ro dòng tiền trong các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Và đó cũng chính là
lý do tại sao tác giả chọn nghiên cứu về Value at Risk trong đề tài: “Ứng dụng phương pháp Value at Risk trong quản lý dòng tiền tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dòng tiền, từ đó ứng dụng phân tích thực trạng dòng tiền của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển chi nhánh Đông Sài Gòn
- Trên cơ sở kết quả phân tích đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền từ đó góp phần gia tăng đến mức tối ưu lợi
Trang 13nhuận cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển chi nhánh Đông Sài Gòn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các dòng tiền bao gồm dòng tiền mặt tại quỹ, tiền mặt tại ATM, tiền huy động và cho vay; tình hình quản lý dòng tiền tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn
- Phạm vi nghiên cứu:
Nguồn số liệu nghiên cứu:
Phần phân tích định tính: từ 2010 đến 6 tháng đầu năm 2013 Phần phân tích định lượng: từ 2011 đến 6 tháng đầu năm 2013 Công tác quản lý dòng tiền Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, mô tả, phương pháp định lượng (áp dụng công thức
VaR) để làm rõ vấn đề nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thiết thực về mặt khoa học cũng như thực tiễn đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn Đề tài chỉ ra thực trạng quản lý dòng tiền của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn từ đó đề xuất ứng dụng thêm phương pháp Value at Risk (Phương pháp còn ít sử dụng tại các Ngân hàng ở Việt Nam) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn theo yêu cầu Basel II
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1: Lý luận tổng quan về phương pháp quản lý dòng tiền tại các ngân hàng
thương mại
Trang 14Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dòng tiền tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn
Chương 3: Ứng dụng phương pháp Value at Risk trong quản lý dòng tiền tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn
Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dòng
tiền tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn
Trang 15CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ DÒNG TIỀN
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về dòng tiền
Dòng tiền là dòng chuyển động tiền đi vào và đi ra (về bản chất là dòng tiền chảy vào và tiền ra) của Doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, tạo nên khả năng thanh toán hoặc tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Sự chuyển động dòng tiền chảy vào và tiền ra nếu không có sự hợp lý, bất cân xứng nghĩa là dòng tiền chảy vào nhiều hơn dòng tiền ra và ngược lại hay không có khả năng chuyển đổi đủ, kịp thời tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn thì sẽ tác động tiêu cực đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp, nhẹ là làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua việc tăng chi phí sử dụng vốn và từ đó là làm giảm lợi nhuận; giảm tính thanh khoản của doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến uy tín
và khả năng đàm phán các hợp đồng mua hàng, hợp đồng tín dụng trong tương lai, mạnh là có thể dẫn doanh nghiệp đến chỗ bị khởi kiện và phá sản
Sự ảnh hưởng lớn của chuyển động dòng tiền đến hoạt động doanh nghiệp như vậy cho thấy việc quản lý dòng tiền trong doanh nghiệp nhằm giảm bớt những tác động tiêu cực của dòng tiền có thể gây ra là rất cần thiết và vô cùng quan trọng Công tác quản lý dòng tiền cũng chính là công tác quản lý thanh khoản của doanh nghiệp
1.2 Khái quát về thanh khoản
1.2.1 Khái niệm thanh khoản
Theo nghĩa hẹp, thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể
Trang 16Theo cách đầy đủ hơn, dựa vào cả hai tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục
vụ các nhu cầu hoạt động khác của ngân hàng
Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền mặt thấp
và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh
Một nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh
Với một ngân hàng tính thanh khoản được xét trên ba góc độ tính thanh khoản của tài sản, tính thanh khoản của nguồn và tính thanh khoản của ngân hàng, trong
đó tính thanh khoản của ngân hàng được tạo lập với tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn
Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi chúng đến hạn với một chi phí hợp lý Đối với NHTM thì tính thanh khoản là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả, rút tiền và xin vay mới theo các yêu cầu cấp tín dụng hợp lệ của khách hàng
Như vậy, một ngân hàng được coi là thanh khoản tốt nếu có khả năng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh mới một chi phí hợp lý đúng vào thời điểm khách hàng hoặc đối tác có nhu cầu
Tính thanh khoản của một ngân hàng được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản mà ngân hàng đó nắm giữ và tính thanh khoản của nguồn, tức là từ tài sản hiện
có (dự trữ) và nguồn vốn có thể huy động mới Một ngân hàng có tính thanh khoản cao khi có nhiều tài sản thanh toán hoặc có khả năng mở rộng nguồn vốn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai điều trên
1.2.2 Các nhân tố cấu thành thanh khoản
- Cầu thanh khoản (tài khoản nợ): cầu về thanh khoản là các khoản vốn làm
giảm quỹ của ngân hàng, là nhu cầu vốn cho các hoạt động khác nhau của
Trang 17ngân hàng Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm:
Chi trả tiền gửi cho khách hàng
Cấp tín dụng cho khách hàng
Hoàn trả các khoản vay từ thị trường tiền tệ
Chi phí quản lý; chi phí dịch vụ
Chi trả cổ tức bằng tiền
- Cung thanh khoản (tài khoản có): Cung thanh khoản là các khoản vốn làm
tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:
Trạng thái thanh khoản
Trạng thái thanh khoản ròng NPL (net liquidity position) của một ngân hàng được xác định như sau:
NPL = Tổng cung về thanh khoản – Tổng cầu về thanh khoản
Có ba khả năng có thể xảy ra sau đây:
- Thặng dư thanh khoản: Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NPL>0), ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu
Trang 18quả cho tới khi chúng cần được sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai
- Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản (NPL<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu
- Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản (NPL=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản và đây là trạng thái
lý tưởng nhất và là mục tiêu của quản lý thanh khoản Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế
1.3 Rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.3.1 Khái niệm
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến trong hoạt động kinh doanh của NHTM Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng
đủ nhưng với chi phí cao Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
1.3.2 Các nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản
- Những nguyên nhân tiền đề: có ba nguyên nhân chính khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thường xuyên là:
Thứ nhất: Huy động vốn và đi vay vốn với thời hạn ngắn, và cứ tuần hoàn chúng để sử dụng cho vay với thời hạn dài hạn nên nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về thời hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ Thật hiếm khi luồng tiền ròng bên tài sản có lại vừa khít để trang trải luồng tiền ròng bên tài sản nợ Thực tế là, ngân hàng thường có một tỷ lệ đáng kể tài sản nợ có đặc điểm
Trang 19là phải được hoàn trả tức thời nếu người có kỳ hạn có thể rút trước hạn, Do đó, ngân hàng luôn phải sẵn sàng thanh khoản
Thứ hai: Tài sản tài chính nhạy cảm với những thay đổi của lãi suất Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoàn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp đã thoả thuận Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của các tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ của ngân hàng
Thứ ba: Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng Hãy hình dung những gì sẽ xảy ra với ngân hàng nếu như một buổi sáng các quầy chi trả tiền hay các máy trả tiền tự động của ngân hàng đóng cửa với lý do
là thiếu tiền mặt tạm thời, không thể thanh toán các tờ séc chuyển đến cũng như những khoản tiền gửi đến hạn? Một trong những công việc quan trọng đối với nhà quản lý ngân hàng là luôn liên hệ chặt chẽ với những khách hàng có số dư tiền mặt lớn và những khách hàng đang còn hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng để biết được
kế hoạch của họ khi nào thì rút tiền và rút bao nhiêu để có phương án thanh khoản hợp lý
- Những nguyên nhân từ hoạt động: Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt động bên tài sản nợ hoặc tài sản có của ngân hàng
Nguyên nhân bên tài sản nợ: Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ
khi nào khi người gửi tiền thực hiện rút tiền ngay lập tức Khi những người gửi tiền rút tiền đột ngột, buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc phải bán bớt tài sản (chuyển hoá tài sản có thành dạng tiền mặt) để đáp ứng khả năng thanh khoản Tiền mặt có mức độ thanh khoản cao nhất trong tất cả các nhóm thuộc tài sản có, vì vậy, ngân hàng sử dụng tiền mặt là phương thức đầu tiên và trực tiếp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản Nhưng vấn đề là tiền mặt không mang lại thu nhập lãi suất, do đó các ngân hàng luôn có xu hướng giảm thiểu tài sản có ở dạng tiền mặt Để thu được lãi
Trang 20suất, các ngân hàng phải đầu tư tiền vào các tài sản ít thanh khoản hoặc vào những tài sản có thời hạn dài Cho dù cuối cùng thì hầu hết các tài sản khác nhau cũng có thể chuyển hoá thành tiền nhưng chi phí để chuyển hoá thành tiền ngay lập tức của các tài sản khác nhau thì rất khác nhau Khi phải bán một tài sản ngay lập tức thì giá của nó có thể thấp hơn rất nhiều so với trường hợp có thời gian để tìm kiếm người mua và thương lượng giá cả và từ đó có thể đe doạ đến khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng Ngoài thanh lý tài sản, ngân hàng có thể tìm kiếm các nguồn vốn bổ sung thông qua việc đi vay trên thị trường tiền tệ
Nguyên nhân bên tài sản có: Rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến
các cam kết tín dụng Khi một cam kết tín dụng được thực hiện thì nó cho phép người vay tiến hành rút tiền vay bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó và phía ngân hàng phải đảm bảo có đủ tiền ngay tức thời để đáp ứng nhu cầu của người vay, nếu không ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản Tương tự như bên tài sản nợ,
để đáp ứng nhu cầu thanh khoản bên tài sản có, ngân hàng có thể giảm số dư tiền mặt, chuyển hoá các tài sản khác thành tiền, hoặc đi vay các nguồn vốn bổ sung trên thị trường tiền tệ
1.3.3 Hậu quả của rủi ro thanh khoản
Có sự đánh đổi giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng nên công tác quản trị thanh khoản tốt sẽ giúp giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh đồng thời vẫn đảm bảo được khả năng sinh lời cần thiết Ngược lại, nếu quản trị thanh khoản không tốt rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ để lại hậu quả:
- Hậu quả nhẹ của rủi ro thanh khoản là giảm uy tín và thu nhập của Ngân hàng Ngân hàng phải huy động với lãi suất cao hơn để mua thanh khoản trên thị trường hay bán các tài sản với giá trị thấp hơn giá thị trường Tính thanh khoản yếu kém cũng dẫn tới sự mất lòng tin của công chúng cũng như đối tác
- Tình trạng tồi tệ của rủi ro thanh khoản là ngân hàng bị phá sản, bị quốc hữu hoá hoá, bị bán hoặc bị sát nhập Nghiêm trọng nhất là từ rủi ro thanh khoản
Trang 21của một ngân hàng chuyển thành khủng hoảng thanh khoản và nguy cơ vỡ nợ trên toàn hệ thống ngân hàng
1.4 Các phương pháp quản lý thanh khoản - dòng tiền
1.4.1 Quản lý theo phương pháp truyền thống
- Nội dung của phương pháp:
Quản lý theo phương pháp truyền thống - phương pháp phân tích thanh khoản tĩnh là phương pháp quản lý thanh khoản bằng cách phân tích các chỉ số rút ra từ bảng tổng kết tài sản và cơ sở dữ liệu hiện tại, từ đó đưa ra giới hạn cho các chỉ số đảm bảo thanh khoản
Một số chỉ số quản lý thanh khoản thông dụng:
a) Chỉ số trạng thái tiền mặt:
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng thanh toán nhanh của các ngân hàng tại thời điểm báo cáo Nếu chỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh toán tức thì để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao thì lại làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Theo chuẩn mực quốc tế, các NHTM nên duy trì chỉ tiêu này dao động từ 2% - 3% là hợp lý
Chỉ số dự trữ thanh toán
Dự trữ thanh toánTổng tài sản có
Chỉ số trạng thái tiền mặt Vốn khả dụng
Tổng tài sản có
Trang 22thực tế hiện nay các ngân hàng đang có xu hướng tăng đầu tư vào giấy tờ
có giá và đầu tư liên ngân hàng nhằm mục tiêu lành mạnh hoá tình hình tài chính
c) Chỉ số cho vay/tiền gửi:
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tự huy động để sử dụng cho vay của ngân hàng tại thời điểm báo cáo Nếu chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng thanh toán của ngân hàng càng thấp nhưng mang lại lợi nhuận nhiều hơn Theo chuẩn mực quốc tế, các NHTM nên duy trì chỉ tiêu này tối đa là 75% là hợp lý
d) Chỉ số tiền gửi cơ sở:
Chỉ tiêu này càng lớn thì ngân hàng càng được coi là có khả năng thanh khoản ổn định do huy động được các nguồn vốn ổn định
e) Một số chỉ số khác như: chỉ số cơ cấu tiền gửi, chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, tỷ lệ khả năng chi trả
- Điều kiện áp dụng:
Ngân hàng cần xây dựng các giới hạn thực hiện phù hợp với quy mô, tính chất hoạt động của ngân hàng mình Thông thường các ngân hàng thực hiện theo quy định của NHNN hoặc hạn mức thực hiện của các ngân hàng hoạt động trên cùng địa bàn, khu vực có quy mô tính chất tương đương Ngân hàng cũng cần có kho dữ liệu tập trung và chương trình phần mềm
để xác định các chỉ số theo yêu cầu
Chỉ số tiền gửi cơ sở Tiền gửi cơ sở
Tổng tài sản nợ
Chỉ số cho vay/tiền gửi Dự trữ cho vay khách hàng trước dự phòng rủi ro
Tổng tài sản có
Trang 231.4.2 Quản lý theo phương pháp hiện đại
- Nội dung của phương pháp
Phương pháp quản lý thanh khoản hiện đại - phương pháp phân tích thanh khoản động là phương pháp đánh giá trạng thái thanh khoản của ngân hàng bằng cách dự đoán cung, cầu thanh khoản, dự đoán chênh lệch cung cầu (khe hở) thanh khoản, từ đó đưa ra quyết định quản lý thanh khoản bằng những hạn mức, giới hạn thực hiện Theo phương pháp này, bộ phận có chức năng quản lý thanh khoản cần thực hiện các công việc như sau:
Lập báo cáo dự tính thanh khoản: Khi lập báo cáo, mọi khoản mục thuộc bảng cân đối kế toán đều phải được báo cáo bằng cách phân bổ dữ liệu gốc luồng tiền vào, luồng tiền ra đến hạn vào các dải kỳ hạn: 1 ngày, 2 đến
7 ngày, 8 ngày đến 1 tháng, 1 tháng đến 3 tháng, 3 tháng đến 6 tháng Đối với những khoản mục không có kỳ hạn hoặc không có ngày đến hạn cầu thì cần sử dụng các giả thiết kết hợp với phân tích dữ liệu lịch sử để chia vào các thang kỳ hạn cụ thể
Phân tích mô phỏng thanh khoản: Thiết lập cả kịch bản trong tương lai dựa trên các giả định với các xác suất xảy ra tối thiểu 5% Các giả định gồm:
Giả định thay đổi lãi suất Giả định thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô
Với mỗi kịch bản, cần dự báo các yếu tố: kế hoạch cho vay mới, khả năng huy động tiền gửi mới
Phân tích khả năng thanh khoản: Được thực hiện với giả thiết hoạt động kinh doanh ngân hàng là “bình thường”, khi đó các ngân hàng sẽ ước tính được lượng tiền gửi vào hoặc rút ra Nhà quản lý ngân hàng sẽ cần phải nắm vững và giám sát hành vi của các nhóm đối tượng khách hàng theo
Trang 24loại sản phẩm và ngày đáo hạn, xây dựng các kịch bản tác động đến luồng tiền vào, luồng tiền ra để từ đó xác định trạng thái thanh khoản, dự đoán thanh khoản trong thời gian tới dư thừa hay thiếu hụt
Đánh giá rủi ro thanh khoản: Đánh giá tình trạng ngân hàng sẽ ra sao nếu tình huống xấu nhất có thể xảy ra mà cụ thể tình huống được đề cập ở đây
là khủng hoảng ngân hàng xảy ra tại ngân hàng, từ đó đánh giá khả năng chống đỡ của ngân hàng trước những tình huống xấu
- Điều kiện áp dụng:
Ngân hàng phải có kho dữ liệu tập trung với cơ sở dữ liệu đủ mạnh phục
vụ cho công tác lập báo cáo, phân tích, dự báo Do đó, yêu cầu ngân hàng phải có một nền tảng cơ sở vật chất cũng như trình độ công nghệ phát triển ở mức tương đối cao
Với phương pháp này đối tượng là trạng thái thanh khoản trong tương lai với nhiều yếu tố khách quan tác động nên yêu cầu khả năng phân tích, dự báo, tương đối chính xác và phực tạp, do vậy yêu cầu về trình độ cán bộ tác nghiệp cũng tương đối cao trong khi đây cũng là hạn chế phổ biến của các NHTM Việt Nam hiện nay
Một công cụ quản lý rủi ro hiện đại - phương pháp Value at Risk (VaR-giá trị chịu rủi ro) được các nhà quản lý rất ưa chuộng vì đây là một trong những công cụ lượng hoá rủi ro hữu hiệu nhất hiện nay và vì VaR khiến cho việc quản lý rủi ro trực quan, cụ thể và dễ dàng hơn rất nhiều VaR còn được chuẩn hoá quốc tế trong tiêu chuẩn Basel cho các ngân hàng Hầu hết các NHTM trên thế giới đều đang áp dụng
mô hình tính VaR để xác định mức độ chịu rủi ro tối đa đối với các hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính của mình, trên cơ sở đó, các ngân hàng có thể đưa các yêu cầu vốn tối thiểu liên quan đến rủi ro thị trường; để dự đoán cung, cầu tối
đa thanh khoản đối với thanh khoản ngân hàng, từ đó các ngân hàng có thể có các phương án sử dụng vốn hoặc huy động vốn đáp ứng kịp thời
Trang 251.5 Phương pháp Value at Risk (VaR)
1.5.1 Khái niệm
Theo khái niệm của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), VaR là một kỹ thuật thống kê nhằm ước lượng mức tổn thất tối đa (với một xác suất nào đó) đối với một danh mục đầu tư tài sản của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định
Theo cách thông dụng nhất, VaR đo lường giá trị tổn thất tiềm tàng của một tài sản hoặc một danh mục tài sản rủi ro trong một thời gian xác định như ngày, tháng, năm với một độ tin cậy nhất định VaR trả lời câu hỏi: với sự biến động của thị trường hiện nay, với danh mục đầu tư mà tôi đang sở hữu, liệu trong 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 1 năm tôi có thể mất bao nhiêu tiền
Ví dụ, ngày hôm nay, kết quả tính VaR một ngày của một tài sản với độ tin cậy 95% cho giá trị 100 USD có nghĩa là chỉ có 5% cơ hội giá trị VaR của tài sản sẽ giảm nhiều hơn 100 USD trong ngày hôm sau
VaR thường thể hiện dưới dạng phần trăm hay bằng đơn vị tiền
Người ta thường dùng VaR để tính toán rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và một số rủi ro khác
Hình 1.1: Minh họa VaR trong phân phối TSSL danh mục
Trang 261.5.2 Thông số đầu vào để tính VaR
Để tính toán VaR cần xác định được 3 thông số đầu vào quan trọng bao gồm: mức độ tin cậy, khoảng thời gian đo lường và chọn cách diễn đạt khoản lỗ dưới
dạng % hay bằng tiền
- Mức độ tin cậy: Xác suất được chọn thông thường là 0,05 hoặc 0,01 (tương đương với 95% hay 99% mức độ tin cậy) Việc lựa chọn xác suất nào là tuỳ thuộc vào khẩu vị đối với rủi ro của nhà đầu tư hoặc của nhà quản lý quỹ
- Khoảng thời gian đo lường: Xác định khoảng thời gian đo lường tuỳ thuộc vào
2 yếu tố:
Thứ nhất, tài sản nắm giữ có rủi ro biến động giá cao hay thấp Với những tài sản biến động giá (hay giá trị) mạnh như cổ phiếu, khối lượng ngân quỹ trong doanh nghiệp thì kỳ đo lường phải thấp, như VaR theo ngày, theo tuần Ngược lại, những tài sản có biến động giá tương đối thấp hơn (nông sản, nguyên liệu ) thì có thể đo lường VaR theo kỳ dài hơn như tháng, quý hoặc năm Bên cạnh đó, việc xác định kỳ đo lường cũng không cố định Ví dụ: Ta có thể đo lường VaR của vàng năm 2006 theo tháng hoặc năm Tuy nhiên, sang những năm 2007-2009, giá vàng biến động mạnh thì phải giảm độ dài kỳ đo lường xuống tuần hoặc ngày
Ví dụ khác, với rất nhiều cổ phiếu trên thị trường Việt Nam năm 2008, VaR năm có thể lên đến trên 100% Giá trị này nói rằng nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu có thể mất hết tài sản sau một năm Khi đó, VaR không còn
ý nghĩa Trong trường hợp đó cần giảm độ dài kỳ đo lường để cảnh báo
là quá muộn
Thứ hai, việc áp dụng kỳ đo lường dài hay ngắn còn bị chi phối bởi tầm
nhìn của nhà đầu tư Với những nhà đầu tư sử dụng chiến lượng “mua và giữ” thì có thể đo lường VaR tháng, năm Với những nhà đầu tư “lướt
sóng” thì có thể đo lường VaR ngày, hay thậm chí VaR giờ, phút như tại các nước phát triển
Trang 27- Đơn vị tiền tệ: VaR đo lường rủi ro cả phần trăm và bằng tiền Việc lựa chọn đơn vị tiền tệ là để trả lời cho câu hỏi: “Số tiền mà tôi có thể bị lỗ trong một khoảng thời gian nhất định là bao nhiêu”
1.5.3 Sự khác nhau giữa VaR và độ lệch chuẩn
VaR đo lường rủi ro danh mục tài sản Độ lệch chuẩn suất sinh lợi cũng đo lường rủi ro tổng thể của danh mục Cả hai đều đưa ra những thông tin về xác suất
và độ lớn của khoản lỗ danh mục tài sản Tuy nhiên giữa hai đại lượng này cũng có những khác biệt, cụ thể:
- Thứ nhất, độ lệch chuẩn đo lường mức biến động có lợi (lời) và bất lợi (lỗ) suất sinh lợi, nghĩa là mức sinh lợi + 10% cũng có ý nghĩa giống mức sinh lợi – 10% Trong khi đó VaR chỉ tập trung đo lường biến động của khoản lỗ (mức
lỗ tiềm năng), nghĩa là trong phân phối sinh lợi, VaR chỉ xem xét đuôi trái của
đồ thị phân bổ suất sinh lợi
- Thứ 2, kết quả độ lệch chuẩn, ta chỉ mới có được một con số định tính (%) về rủi ro Trong khi với kết quả VaR tìm được, ta có thể thu được những kết luận định tính (%) và cả định lượng (số tiền bị lỗ) về rủi ro
- Thứ ba, để đo lường rủi ro bằng độ lệch chuẩn, người ta phải giả định rằng suất sinh lợi phải có phân phối chuẩn Trong khi đó, nếu sử dụng đầy đủ các phương pháp tính VaR thì có thể xác định VaR mà không đòi hỏi suất sinh lợi phải có phân phối chuẩn
1.5.4 Phương pháp tính VaR
Có 3 phương pháp cơ bản dùng để tính VaR nhưng có rất nhiều các biến số trong mỗi phương pháp Cụ thể các phương pháp:
Trang 281.5.4.1 Phương pháp phương sai – hiệp phương sai
- Nội dung phương pháp:
Phương pháp phương sai – hiệp phương sai hay còn gọi là Phương pháp tham
số Phương pháp này được xây dựng dựa trên giả định tỷ suất sinh lợi của danh mục
có phân phối chuẩn Hàm phân phối chuẩn được biểu hiện bằng giá trị kỳ vọng và
độ lệch chuẩn
Trong phân phối chuẩn, những giá trị nằm bên trái giá trị trung bình một khoảng -1,65 chỉ chiếm 5% toàn bộ số quan sát và những giá trị nằm bên trái giá trị trung bình một khoảng -2,33 chỉ chiếm 1% toàn bộ quan sát
Công thức tính cụ thể như sau:
VaR = (µ p - α * p) (đơn vị tính %) Hoặc:
VaR = V p * (µ p - α * p) (đơn vị tính tiền) Trong đó:
µ p : là suất sinh lợi trung bình của danh mục
α : là hệ số tin cậy, trong đó:
+ Hệ số này = 1,65 nếu độ tin cậy là 95%
+ Hệ số này = 2,33 nếu độ tin cậy là 99%
p : là độ lệch chuẩn suất sinh lợi theo kỳ
V p : là giá trị danh mục đầu kỳ
Ví dụ:
Nếu ta sở hữu danh mục thị trường có hệ số tương quan bằng một so với Index Năm 2007, danh mục này sẽ có suất sinh lợi 23,3%/năm, tương đương 1,76%/tháng và rủi ro tháng là 12,8% thì vào ngày 01/01/2008 có thể xác định VaR tháng của danh mục này là:
Trang 29Nhược điểm:
+ Giả định phân phối sai: Nếu thu nhập không phân phối chuẩn, kết quả tính VaR sẽ cho giá trị thấp hơn thực tế Nói cách khác, mặc dù có giả định về phân phối chuẩn, nhưng nếu có nhiều các giá trị thu nhập nằm ngoài phân phối chuẩn hơn mong đợi thì VaR thực tế sẽ cao hơn nhiều so với kết quả VaR được tính ra Điều
đó có nghĩa trong những giai đoạn biến động mạnh của thị trường và trong những thị trường kém hiệu quả thì ý nghĩa của phương pháp tính toán này giảm
+ Lỗi đầu vào: Thậm chí khi các giả thiết về phân phối thu nhập chuẩn hoá được giữ vững, VaR vẫn có thể sai nếu phương sai và hiệp phương sai được sử dụng để tính nó là không chính xác Ngay cả khi những con số này được dự báo dựa trên số liệu lịch sử thì vẫn có một lỗi nhất định liên quan đến mỗi dự báo
+ Các biến số không ổn định: Một vấn đề liên quan xảy ra đó là phương sai
và hiệp phương sai giữa các tài sản thay đổi theo thời gian Sự không ổn định của chúng là bình thường vì các yếu tố ảnh hưởng đến những con số này cũng thường xuyên biến động Ví dụ, hệ số tương quan giữa USD và JPY có thể thay đổi nếu giá dầu tăng 15% và điều này có thể phá hỏng kết quả VaR được tính
Trang 301.5.4.2 Phương pháp Mô phỏng lịch sử
Mô phỏng lịch sử là cách thức đơn giản nhất để tính VaR cho rất nhiều danh mục Trong phương pháp này, VaR của danh mục được dự đoán bằng cách lập ra một chuỗi thu nhập theo thời gian của danh mục đó trên cơ sở các dữ liệu lịch sử thực tế và tính mức thay đổi xảy ra giữa các thời điểm
- Nội dung phương pháp:
Phương pháp này bắt đầu với một chuỗi dữ liệu lịch sử của từng nhân tố rủi ro thị trường, nhà phân tích không sử dụng số liệu để dự tính phương sai và hiệp phương sai, mà chỉ cần tính toán sự thay đổi giá trị danh mục theo thời gian, sau đó xác định điểm giới hạn trong dãy số đó Điểm giới hạn sẽ bằng tổng số quan sát nhân với 0,05 (độ tin cậy 95%) hay 0,01 (độ tin cậy 99%), tính từ giá trị thấp nhất Nếu chúng ta có 1000 quan sát thì VaR 95% sẽ nằm ở vị trí từ 50 từ trên xuống, VaR 99% sẽ nằm ở vị trí 10 từ trên xuống
- Đánh giá về phương pháp:
Ưu điểm:
Phương pháp mô phỏng lịch sử có ưu điểm là dùng được với mọi loại tài sản, đơn giản trong tính toán, không đòi hỏi suất sinh lợi phải có phân phối chuẩn, tính toán nhanh chóng hơn so với phương pháp mô phỏng Monte Carlo Đây là phương pháp phổ biến và dễ áp dụng
Nhược điểm:
Các giả định ẩn trong mô hình chính là những nguyên nhân cho những hạn chế của nó Cụ thể, Phương pháp mô phỏng lịch sử có 2 hạn chế chính đó là:
Lịch sử không lặp lại hoàn toàn: mặc dù cả 3 phương pháp tính VaR đều
sử dụng dữ liệu lịch sử nhưng mô phỏng lịch sử phải phụ thuộc nhiều vào các số liệu lịch sử hơn 2 phương pháp kia, lí do đơn giản là VaR được tính toàn bộ dựa trên sự thay đổi giá trong lịch sử nên yêu cầu phải có đầy đủ số liệu lịch sử, là yêu cầu khá khó khăn đối với nhiều loại tài sản Ví dụ đối với giá dầu là một ví dụ khá
Trang 31cổ điển Nhà quản lý danh mục hoặc công ty tính VaR cho giá dầu dựa trên dữ liệu
từ năm 1992 đến năm 1998 sẽ có thể đưa ra mức tổn thất cao hơn nhiều so với kỳ vọng trong giai đoạn từ năm 1999 đến 2004 vì đó là thời kỳ độ biến động giá tăng cao
Tính xu hướng trong dữ liệu: Khi tính VaR, ta sử dụng dữ liệu lịch sử với tất cả các điểm dữ liệu có trọng số như nhau, trong khi đó nhiều giá trị của nhiều đồng tiền biến động theo thời gian, giá trị thực của tài sản cũng thay đổi theo, nên dãy số giá có thể phải điều chỉnh Phương pháp này sẽ không chính xác nếu phải dự báo dài hạn Nói cách khác, sự thay đổi giá giữa các ngày giao dịch trong năm 1992 ảnh hưởng đến VaR với mức độ giống như sự thay đổi giá giữa các ngày giao dịch trong năm 1998 Tuy nhiên, nếu như có một xu hướng tăng độ biến động ngay trong thời kỳ lịch sử, chúng ta sẽ có kết quả VaR không chính xác
Tóm lại, phương pháp mô phỏng lịch sử giúp chúng ta tránh được những vấn
đề phiền toái liên quan đến các giả thiết về phân phối thu nhập vì nó dựa trên giả định đơn giản đó là phân phối của thu nhập trong quá khứ là đại diện hoàn hảo cho thu nhập kỳ vọng trong tương lai Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường rủi ro có nhiều biến động và sự thay đổi về mặt cấu trúc xảy ra với tần suất thường xuyên thì giả định này khó có thể được duy trì
1.5.4.3 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo
- Nội dung phương pháp: Quy trình tính VaR theo phương pháp mô phỏng Monte Carlo có thể được mô tả theo 3 bước như sau:
Cố định rủi ro biến động giá của danh mục (độ lệch chuẩn suất sinh lợi) và
hệ số tương quan suất sinh lợi giữa các tài sản trong danh mục, trên cơ sở
đó phần mềm mô phỏng sẽ tạo ra vô số các trường hợp kết hợp khác nhau giữa các tài sản trong danh mục, tạo ra suất sinh lợi danh mục khác nhau Thông thường mô phỏng này có thể tạo ra hàng chục ngàn hay hàng triệu trường hợp khác nhau
Xác định giá trị danh mục cho mỗi trường hợp giả định kể trên
Trang 32Trên cơ sở đó xác định các thông số của danh mục như phân phối suất sinh lợi, các giá trị VaR
- Đánh giá về phương pháp:
Ưu điểm:
Thế mạnh của phương pháp mô phỏng Monte Carlo có thể được nhận thấy thông qua việc so sánh nó với các phương pháp tính VaR khác Không giống như phương pháp phương sai - hiệp phương sai, chúng ta không cần phải đưa ra những giả định không thực tế về phân phối chuẩn hoá của thu nhập Trái với phương pháp
mô phỏng lịch sử, chúng ta cũng bắt đầu với dữ liệu lịch sử nhưng có thể tự do đưa vào đó những nhận định chủ quan và các thông tin khác để cải tiến phân bố xác suất được dự báo (không yêu cầu số liệu quá khứ phải đầy đủ) Hơn nữa, mô phỏng Monte Carlo có thể được dùng để đánh giá VaR cho bất kỳ loại danh mục nào, nó cũng đủ linh hoạt để tính cho các công cụ quyền chọn và những chứng khoán kiểu kiều chọn
Trong thực tế, các ngân hàng và tổ chức tài chính sử dụng cả 3 phương pháp trên và sử dụng ngày càng rộng rãi Ngay trong Basel II, phần II, mục VI “Rủi
ro thị trường”, đoạn 718, trang 194, Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) cũng cho rằng các ngân hàng hoàn toàn có quyền tự do trong sử dụng một trong ba cách trên
Trang 33và không cách nào được coi là có giá trị hơn cách nào và yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng phương pháp VaR, độ tin cậy 99% để lượng hoá rủi ro, như là một trong các chuẩn mực về định lượng trong quản trị ngân hàng Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, việc đánh giá rủi ro càng quan trọng, do vậy BIS yêu cầu tần suất tính toán VaR cao hơn, hàng tháng thay vì ba tháng như trước đây
1.5.5 Back testing (Hậu kiểm-kiểm tra lại những tính toán trước bằng thực tế)
VaR được sử dụng rộng rãi phục vụ quản lý rủi ro vì tính chính xác của nó với
tư cách là một công cụ quản lý rủi ro và tính hữu dụng của nó trong việc ra quyết định Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều chỉ trích xung quanh VaR
VaR có thể sai Không có phương pháp đo lường VaR chính xác tuyệt đối, mỗi phương pháp đều có những hạn chế riêng Kết quả là VaR chúng ta tính cho một tài sản, danh mục hoặc một công ty có thể sai và đôi khi, những lỗi này quá lớn dẫn đến VaR đo lường sai mức độ rủi ro có thể gặp phải Các lí do xảy ra lỗi có thể rất khác nhau tuỳ thuộc từng công ty, nó có thể bao gồm những lỗi sau:
- Phân phối thu nhập: mỗi phương pháp tính VaR đều đưa ra giả định về phân phối thu nhập, những giả định không hợp lý có thể dẫn đến kết quả tính VaR bị sai Đối với phương pháp tham số, ta giả định phân phối của thu nhập là phân phối chuẩn, VaR được tính toàn bộ dựa trên độ lệch chuẩn của thu nhập Với phương pháp mô phỏng Monte Carlo, chúng ta có quyền tự do hơn trong việc đưa ra những giả định phân phối thu nhập khác nhau nhưng chúng ta vẫn có thể sai khi thực hiện những giả định này Cuối cùng, với phương pháp mô phỏng lịch sử, chúng ta giả định rằng phân phối thu nhập trong lịch sử (dựa trên số liệu quá khứ) là đại diện cho phân phối thu nhập trong tương lai
- Lịch sử không phải là một dự báo tốt: tất cả các phương pháp tính VaR đều
sử dụng dữ liệu lịch sử ở một chừng mực nào đó, mỗi phương pháp tính VaR có thể coi như là một hàm của khoảng thời gian mà dữ liệu lịch sử được thu thập Nếu khoảng thời gian đó là tương đối ổn định thì VaR sẽ cho kết quả thấp và có thể dự
Trang 34báo không đúng về rủi ro trong tương lai Ngược lại, nếu khoảng thời gian được chọn có nhiều biến động thì giá trị VaR sẽ quá cao
- Sự tương quan không ổn định: đo lường VaR chịu tác động của việc dự tính
hệ số tương quan giữa các nhân tố rủi ro (trong phương pháp tham số và mô phỏng Monte Carlo) hoặc những giả định về độ tương quan (trong phương pháp mô phỏng lịch sử) Những dự tính này thường dựa trên dữ liệu lịch sử và thật sự không ổn định Lỗi trong phương pháp tính VaR tăng khi lỗi tính hệ số tương quan tăng và lỗi này càng nặng trong phương pháp mô phỏng Monte Carlo
Những sai sót trên dẫn đến kết quả tính VaR có thể không chính xác Vì vậy, khi áp dụng VaR ta cần phải sử dụng bổ sung kỹ thuật back testing (kiểm chứng ngược/kiểm nghiệm giả thuyết) để kiểm tra và so sánh mức độ chính xác của VaR
so với thực tế Ngoài ra, VaR không cung cấp những thông tin về rủi ro trong trường hợp có sự thay đổi lớn và bất ngờ của yếu tố rủi ro do các sự kiện như khủng hoảng chính trị, sự can thiệp hành chính, khi xảy ra thiểu phát hay lạm phát cao…
Vì vậy, bên cạnh VaR người ta phải sử dụng kỹ thuật stress testing (thử nghiệm khủng hoảng) để lượng tính được những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra
1.5.6 Mở rộng phạm vi ứng dụng phương pháp VaR
Trong hoạt động ngân hàng, ban đầu phương pháp VaR được ứng dụng chỉ dùng để tính toán rủi ro, thiệt hại tối đa đối với danh mục đầu tư tài sản của ngân hàng nhưng sau đó đã mở rộng ứng dụng sang tính toán xác định cả doanh số kỳ vọng, lợi nhuận kỳ vọng, vốn lưu động, thanh khoản của ngân hàng, giúp cho ngân hàng có những giải pháp, chính sách phù hợp, kịp thời cho tất cả các mặt hoạt động kinh doanh của mình nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã trình bày khái quát các vần đề cơ bản, các lý thuyết chung về dòng tiền, phương pháp quản lý dòng tiền, trong đó tập trung trình bày
Trang 35phương pháp VaR theo Basel Theo đó ta thấy những thiệt hại do rủi ro thanh khoản
- rủi ro dòng tiền gây và những lợi ích của việc ứng dụng phương pháp VaR cho nhà quản trị trong việc quản lý hiệu quả dòng tiền Đây là những lý thuyết nền tảng
và làm cơ sở để nghiên cứu các chương tiếp theo của luận văn
Trang 36CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DÒNG TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH
ĐÔNG SÀI GÒN
2.1 Giới thiệu tổng quan về BIDV Đông Sài Gòn
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về BIDV
BIDV - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một thương hiệu
uy tín trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, là sự lựa chọn tín nhiệm của nhiều tổ chức kinh tế, doanh nghiệp hàng đầu trong nước cũng như khách hàng cá nhân Ngoài ra, BIDV còn được cộng đồng trong nước và quốc tế biết đến và ghi nhận như một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam, được chứng nhận bảo hộ thương hiệu tại
Mỹ, nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt cho thương hiệu mạnh,…và nhiều giải thưởng cao quý khác hàng năm của các tổ chức, định chế tài chính trong và ngoài nước
BIDV được thành lập vào ngày 26 tháng 4 năm 1957 theo Quyết định số 177/TTG của Thủ tướng Chính phủ lấy tên là Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam
Năm 1981 Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam được đổi tên là Ngân hàng Đầu
tư và Xây dựng Việt Nam Đến năm 1990 đổi tên là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Năm 1996, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam bắt đầu hoạt động theo
mô hình Tổng Công ty Nhà nước và là Doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt
Năm 2011, chuyển đổi Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ doanh nghiệp nhà nước thành loại hình Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và tiến hành cổ phần hoá Đến tháng 4/2012, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tiến hành cổ phần hoá xong và đổi tên chính thức trở thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 37- Từ một Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc Bộ Tài Chính, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam đã trở thành một hệ thống ngân hàng lớn mạnh và là một trong các ngân hàng thương mại hàng đầu ở Việt Nam Từ 8 chi nhánh và 200 cán bộ đầu tiên khi mới thành lập, trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tiến một bước dài trong quá trình phát triển Đến nay, hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam có hơn 18.000 cán bộ, 119 chi nhánh,
sở giao dịch, trên 551 điểm mạng lưới, 456 phòng giao dịch và 107 qũy tiết kiệm cùng hàng nghìn ATM/POS tại 63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc, 2 trung tâm là trung tâm đào tạo và trung tâm công nghệ thông tin và có 6 công ty con: Công ty cho thuê Tài chính TNHH một thành viên BIDV (BLC), Công ty cho thuê Tài chính TNHH một thành viên II BIDV (BLC II), Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác Tài sản BIDV (BAMC), Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), Tổng Công ty
Cổ phần Bảo hiểm BIDV (BIC), Công ty TNHH BIDV Quốc tế (BIDVI) cùng nhiều đơn vị liên doanh với nước ngoài: Ngân hàng Liên doanh VID-Public (đối tác Malaysia), Ngân hàng Liên doanh Việt Nga - VRB (với đối tác Nga), Công ty liên doanh Tháp BIDV (đối tác Singapore), Liên doanh quản lý đầu tư BIDV - Việt Nam Partners (đối tác Mỹ)…Cuối năm 2012, Vốn chủ sở hữu đạt hơn 26.800 tỷ đồng, vốn điều lệ đạt hơn 23.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt 484.676 tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt 337.627 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 3.763 tỷ đồng
2.1.2 Giới thiệu sơ lược về BIDV Đông Sài Gòn
BIDV Đông Sài Gòn - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn được thành lập theo Quyết định 333/QĐ-HĐQT ngày 15/01/2005 của Tổng giám đốc BIDV Việt Nam và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/01/2005 Chi nhánh có trụ sở chính tại số 33 Nguyễn Văn Bá, phường Bình Thọ, Quận Thủ Đức, TP HCM và là một trong số 119 chi nhánh của BIDV trên toàn quốc, thực hiện hạch toán phụ thuộc, được chủ động trong kinh doanh, hoạt động tài chính, tổ chức và nhân sự, được uỷ quyền một phần trong đầu tư phát triển
và huy động vốn đầu tư, thành lập các đơn vị trực thuộc Chức năng hoạt động: huy
Trang 38động vốn, cho vay, bảo lãnh, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ kiều hối và các dịch vụ ngân hàng khác Kể từ khi thành lập cho đến nay, chi nhánh đã qua 2 lần đổi tên:
2007 Đổi tên Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thủ Đức thành
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn theo Quyết định 602/QĐ-HĐQT ngày 25/12/2007 của Tổng giám đốc BIDV
2012 Đổi tên thành Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam chi nhánh
Đông Sài Gòn theo Quyết định 30/QĐ-HĐQT ngày 01/05/2012 của Chủ tịch Hội Đồng Quản trị BIDV
BIDV Đông Sài Gòn gồm có Hội sở chính ở địa chỉ 33 Nguyễn Văn Bá, Phường Bình Thọ, Quận Thủ Đức và 5 phòng giao dịch trực thuộc: phòng giao dịch Quận 9 ở địa chỉ số 98-100 đường Lê Văn Việt, Phường Hiệp Phú, Quận 9; phòng giao dịch Linh tây ở địa chỉ một phần tầng trệt Siêu thị Điện máy 30-4, số 1 Dương Văn Cam, phường Linh Tây, Quận Thủ Đức; phòng giao dịch Linh Trung ở địa chỉ Nhà điều hành Khu chế xuất Linh Trung, Quận Thủ Đức; phòng giao dịch Linh Trung II ở địa chỉ Lô 78C – Khu chế xuất Linh Trung 2, phường Bình Chiểu, Quận Thủ Đức và phòng giao dịch Khu công nghệ cao ở địa chỉ Khu G3, đường D1 Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh phường Tân Phú, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh
BIDV Đông Sài Gòn hoạt động với phạm vi chủ yếu ở khu vực Đông Bắc Thành phố và địa bàn các quận/tỉnh lân cận: Quận 2, Quận 9, Thủ Đức, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, địa bàn giáp ranh các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai Trong thời gian đầu mới đi vào hoạt động, do nền vốn ban đầu khá nhỏ bé chi nhánh đã gặp không ít khó khăn trong việc ổn định cơ cấu tổ chức nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị…, quảng bá thương hiệu và thâm nhập vào thị trường trong môi trường kinh doanh mới Tuy nhiên, đến nay chi nhánh đã ổn định công tác tổ chức, các phòng ban đã đi vào ổn định và bắt nhịp nhanh chóng trong
Trang 39hoạt động kinh doanh và đã tăng trưởng đáng kể như huy động vốn, tín dụng, dịch vụ
Cơ cấu tổ chức của BIDV Đông Sài Gòn
Hiện nay, chi nhánh có 130 cán bộ, 10 phòng ban, tổ nghiệp vụ và 5 đơn vị trực thuộc hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc – người chịu trách nhiệm chung cho mọi hoạt động của ngân hàng Phó giám đốc do Giám đốc phân công phụ trách những phòng nghiệp vụ tùy theo thời điểm
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của BIDV Đông Sài Gòn
Nguồn: BIDV Đông Sài Gòn, cơ cấu tổ chức chi nhánh năm 2013
Ghi chú:
- P.KH Doanh nghiệp - phòng khách hàng Doanh nghiệp, P.KH Cá nhân - phòng khách hàng Cá nhân: là hai phòng kinh doanh, trực tiếp tiếp thị bán hàng, huy động vốn, cho vay
PGD LINH TRUNG 2
P QUẢN TRỊ TÍN DỤNG
P KẾ HOẠCH TỔNG HỢP
TỔ DV QUẢN
LÝ NGÂN QUỸ
PGD LINH TRUNG 1
PGD LINH TÂY
PGD QUẬN 9
PGD CÔNG NGHỆ CAO
Trang 40- PGD KH Doanh nghiệp – phòng giao dịch Khách hàng Doanh nghiệp, PGD
KH cá nhân – phòng giao dịch Khách hàng cá nhân: là hai phòng tác nghiệp, chỉ thực hiện các giao dịch tại quầy
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Đông Sài Gòn năm 2010-2012 2.2.1 Đánh giá chung về môi trường kinh tế vĩ mô
Hoạt động của ngành ngân hàng nói chung và của BIDV Đông Sài Gòn nói riêng trong các năm 2010 – 2012 diễn ra trong bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước có những biến động khôn lường với nhiều tác động bất lợi
Năm 2010, nền kinh tế trong nước vẫn tiếp tục đà phục hồi của năm 2009 sau ảnh hưởng gián tiếp khủng hoảng của hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ lan rộng và những biến động phức tạp khó lường của nền kinh tế thế giới NHNN đã phải thực thi các chính sách tiền tệ giảm dần mức độ nới lỏng, chính sách tài khoá chưa được thắt lại tương ứng, nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2009 Kết quả là, dù tốc độ tăng trưởng GDP đạt ở mức 6,78%, nhưng lạm phát lại tăng tới 11,75% (cao gần gấp 2 lần so với năm 2009) Kinh tế thế giới vẫn rơi vào tình trạng trì trệ, quá trình phục hồi diễn ra khá phức tạp
Bước sang năm 2011, đà phục hồi của nền kinh tế trong năm 2010 bị gián đoạn Với mục tiêu kìm giữ lạm phát được đặt ra ban đầu là dưới 7%, thấp hơn nhiều so với mức lạm phát bình quân của 3 năm liền trước đó (12,73%), NHNN đã buộc phải cắt giảm cung tiền và tăng trưởng tín dụng một cách đột ngột, gây ra những hệ quả không mong muốn như lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản căng thẳng, thị trường chứng khoán suy kiệt, bất động sản đóng băng Kết quả, lạm phát năm 2011 tăng vọt lên 18,13%, tăng trưởng GDP là 5,89% thấp hơn mức 6,78% của năm 2010 Trong khi đó tình hình kinh tế thế giới tiếp diễn thêm với nhiều bất ổn như: Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu lan rộng; Nợ công Mỹ tiếp tục gia tăng; Bất ổn chính trị ở Trung Đông – Bắc Phi đưa giá dầu thô vượt múc 100 USD/thùng, ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát của các nước đang phát triển; Động đất, sóng thần khiến kinh tế Nhật Bản chịu thiệt hại nặng nề; kinh tế thế giới năm 2011 chỉ đạt mức tăng trưởng 4%, thấp hơn so với 5,1% của năm 2010