Để góp phần nhỏ vào khắc phục những “khoảng trống về lịch sử” vấn đề này và tái hiện, làm rõ quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc trong trong thời kỳ 1954-1975, cũng như g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
ĐẶNG MINH PHỤNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
ĐẶNG MINH PHỤNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 22 03 15
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1: PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc 2: TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc và TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận án
ĐẶNG MINH PHỤNG
Trang 41
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của Luận án 8
6 Kết cấu của Luận án 8
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 9
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 9
1.2 Khái quát kết quả những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 24
1.2.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu 24
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 26
Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC (1954 – 1960) 30
2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng trong xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc (1954 – 1960) 30
2.1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức của Đảng trước năm 1954 30
2.1.2 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn mới tác động đến xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc 36
2.1.3 Chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc sau năm 1954 38
2.2 Quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng (1954-1960) 42
2.2.1 Kiện toàn tổ chức các cấp của Đảng 42
2.2.2 Chỉnh đốn tổ chức Đảng trong cải cách ruộng đất 56
2.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên 65
2.2.4 Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp uỷ 72
Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC (1960-1975) 78
Trang 52
3.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về công tác xây dựng hệ thống
tổ chức Đảng tại miền Bắc (1960-1975) 78
3.1.1 Bối cảnh lịch sử và những yêu cầu đặt ra 78
3.1.2 Chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc (1960-1975) 82
3.2 Quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng (1960-1975) 94
3.2.1 Kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng các cấp 94
3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên 115
3.2.3 Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp uỷ 124
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 134
4 1 Nhận xét 134
4.1.1 Ưu điểm 134
4.1.2 Hạn chế 150
4.2 Một số kinh nghiệm 164
4.2.1 Xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ chính trị 164
4.2.2 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng phải gắn chặt với công tác xây dựng Đảng về tư tưởng 167
4.2.3 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng phải chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên 171
4.2.4 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng phải gắn với phong trào cách mạng của quần chúng, phòng ngừa những sai lầm “tả khuynh” hoặc thiếu kỷ cương kỷ luật 174
KẾT LUẬN 180
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 185
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186
Trang 63
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản Hệ thống tổ chức của Đảng là tổng thể các cấp ủy, tổ chức, cơ quan đảng được thành lập và hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng nhằm thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị Hệ thống tổ chức của Đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước; bao gồm tất cả bộ máy tổ chức Đảng là các cơ quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu, giúp việc và các tổ chức Đảng trực thuộc từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở của Đảng
Hệ thống tổ chức của Đảng ở các cấp gắn bó chặt chẽ với nhau, hoạt động thống nhất, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng Sức mạnh của mọi
tổ chức Đảng tạo thành sức mạnh của toàn bộ hệ thống tổ chức của Đảng như V.I Lênin đã khẳng định: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo lộn nước Nga lên” [118, tr.162] Theo Người, không
có tổ chức đảng vững mạnh thì cách mạng vô sản không thể thành công bởi lẽ trong đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất là nhiệm vụ tổ chức, trong đó có xây dựng hệ thống tổ chức Đảng
Xây dựng đúng hệ thống tổ chức đảng sẽ nhân lên sức mạnh của Đảng,
là nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng và là cơ sở
để giải quyết tốt vấn đề cán bộ, đảng viên và tư tưởng trong Đảng Bởi vậy, xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng là nhiệm vụ hàng đầu của công tác tổ chức xây dựng Đảng
Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống tổ chức đảng Trong từng thời kỳ, gắn với những yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, công tác xây dựng
Trang 74
hệ thống tổ chức của Đảng luôn được Điều lệ Đảng khẳng định và Ban Chấp hành Trung ương chỉ đạo điều chỉnh cho phù hợp trong những trường hợp cụ thể nhằm phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng
Từ năm 1954 đến năm 1975, Việt Nam bị chia thành hai miền Đảng Lao động Việt Nam chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Trong đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với
sự nghiệp thống nhất nước nhà Đảng đã lãnh đạo tiến hành khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954-1960), thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), thực hiện ba nhiệm vụ đồng thời là chuyển hướng xây dựng kinh
tế, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và chi viện chiến trường 1975) Trước yêu cầu đó việc xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc có vai trò quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng đảng, nhằm củng cố tổ chức, xây dựng miền Bắc hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược của mình
(1965-Kết quả là công tác xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc (1954-1975) đã góp phần quan trọng vào công tác xây dựng Đảng và khẳng định vai trò to lớn: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam là nhân tố hàng đầu, quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước
Nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) là một đề tài lớn
và mới cả về nội dung và không gian nghiên cứu Để góp phần nhỏ vào khắc phục những “khoảng trống về lịch sử” vấn đề này và tái hiện, làm rõ quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc trong trong thời kỳ 1954-1975, cũng như góp phần phục vụ công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay,
nghiên cứu sinh chọn đề tài "Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng
tại miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954-1975” làm luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 85
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích của luận án
Tái hiện quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo xây dựng hệ thống
tổ chức của Đảng tại miền Bắc thời kỳ 1954-1975; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng trong quá trình đó và góp phần phục vụ công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ của luận án
- Trình bày hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu đặt ra với công tác xây dựng
hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng hệ thống
tổ chức Đảng ở miền Bắc (1954-1975)
- Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó; đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng trong lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo thực hiện của Đảng trong quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954-1975
Trang 96
+ Không gian: Nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong phạm vi miền Bắc (Theo Hiệp định Giơnevơ tháng 7-1954, miền Bắc được tính từ Vĩ tuyến 17, từ huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị ra phía Bắc)
+ Nội dung: Trong thời kỳ 1954-1975, Trung ương Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức đảng ở cả hai miền Nam, Bắc nhưng luận án chỉ tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc Hệ thống tổ chức Đảng được xây dựng tại miền Bắc bao gồm bộ máy các cấp từ Trung ương đến cơ sở, các cơ quan tham mưu, giúp việc và đội ngũ cán bộ, đảng viên
Luận án không nghiên cứu hệ thống tổ chức của Đảng trong lực lượng
vũ trang Tổ chức Đảng của Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận nằm trong hệ thống tổ chức của Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội được lập tương ứng với
hệ thống tổ chức của Quân đội Tuy nhiên, hệ thống tổ chức của quân đội có tính đặc thù, lại trong điều kiện chiến tranh, đất nước bị chia cắt, có sự phức tạp vì thế Luận án không nghiên cứu hệ thống tổ chức của Đảng trong Quân đội Từ năm 1957, các quân khu được thành lập trên cơ sở các liên khu [64, tr.839], các liên khu được thay thế bằng các quân khu, vì thế, từ năm 1957, Luận án không nghiên cứu về các liên khu ở miền Bắc
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng Đảng nói chung và hệ thống tổ chức của Đảng nói riêng
4.2 Nguồn tư liệu
Luận án dựa chủ yếu vào các nguồn tư liệu sau:
- Một số tác phẩm của V.I.Lênin về xây dựng Đảng cộng sản, các tác phẩm của Hồ Chí Minh các lãnh tụ Đảng về xây dựng Đảng và hệ thống tổ chức của Đảng
Trang 107
- Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam khóa II, khóa III; các Nghị quyết, Chỉ thị về xây dựng hệ thống tổ chức ở miền Bắc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương từ năm
1954 đến năm 1975 được tập trung trong Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, từ tập 15 ( năm 1954) đến tập 36 (năm 1975) và Biên niên sự kiện lịch sử Đảng; các tư liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng
- Các báo cáo tổng kết của cấp ủy Đảng trực thuộc Trung ương tại miền Bắc: Khu ủy Việt Bắc, Khu ủy Tây Bắc, Đặc Khu ủy Vĩnh Linh và các tỉnh, thành ủy liên quan đến xây dựng hệ thống tổ chức từ năm 1954 đến năm 1975
- Một số công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu được công bố; một số luận án tiến sĩ lịch sử đã bảo vệ thành công; các bài nghiên cứu liên quan được đăng tải trên Tạp chí Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp lịch sử, logic
Phương pháp lịch sử được thực hiện chủ yếu trong Chương II và Chương III, nhằm tái hiện quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc ở hai giai đoạn (1954-1960) và (1960-1975) và ở phần I chương 4, để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của Đảng trong lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc trong cả thời kỳ 1954-1975
Phương pháp logic được thực hiện chủ yếu trong Chương I về Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài và ở Chương IV nhằm khái quát rút ra những kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc thời kỳ 1954-1975
Ngoài ra, luận án kết hợp sử dụng phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê… để giải quyết những nội dung nghiên cứu cụ thể trong từng chương của luận án
Trang 11- Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, qua đó đúc kết một số kinh nghiệm của Đảng trong của quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc (1954-1975)
5.2 Về mặt thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể góp phần hoàn thiện cuốn lịch
sử xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; lịch sử xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ khi ra đời đến nay; qua đó góp phần liên hệ, soi sáng nội dung lý luận
về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; góp phần vào việc nghiên cứu, tuyên truyền và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc (1954-1960)
Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng hệ thống
tổ chức Đảng tại miền Bắc (1960-1975)
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 129
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Sứ mệnh lịch sử, địa vị lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản đã quy định sự cần thiết phải xây dựng một tổ chức đảng Tổ chức đảng cộng sản là một bộ phận của xã hội, là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp và dân tộc Đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lênin là một đảng có tổ chức chặt chẽ, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Quán triệt những nguyên tắc về xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định công tác xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, quyết định sự tồn tại và sức lãnh đạo của Đảng Cũng vì tầm quan trọng đó, nghiên cứu về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học và giới nghiên cứu
Bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu
về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tập trung trong các sách chuyên khảo, các luận án, các bài báo và đề tài nghiên cứu khoa học Mỗi công trình có hướng nghiên cứu cũng như cách tiếp cận riêng, trong luận án này NCS chọn cách tiếp cận theo nội dung, chia thành những công trình nghiên cứu chung về công tác xây dựng Đảng trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và
tổ chức; những công trình nghiên cứu hệ thống tổ chức của Đảng nói chung
và những công trình nghiên cứu liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với việc xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Trang 13cập đến nhiệm vụ xây dựng Đảng trên cả ba phương diện chính trị, tư tưởng
và tổ chức Cuốn sách khẳng định sự cần thiết phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng về mặt tổ chức thực hiện và đặc biệt đã phân tích 5 phương châm xây dựng Đảng được đề cập đến trong Nghị quyết 23 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 10-1974) Cuốn sách khẳng định phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, nêu cao tầm quan trọng của công tác tư tưởng và nhấn mạnh công tác cán bộ là một trong những vấn đề
có tầm quan trọng quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Cuốn sách đã đưa ra được những ưu điểm, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ 1954-1975 cũng như đưa ra những “công tác cần kíp”: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Cải tiến việc bố trí, sử dụng cán bộ; Xây dựng, quy hoạch cán bộ
Tác phẩm của Lê Duẩn, Về xây dựng Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978 đã
tập hợp một số tác phẩm lý luận quan trọng về xây dựng Đảng như nâng cao đạo đức, phẩm chất của người cộng sản; xây dựng chi bộ và tăng cường kỷ luật trong Đảng; công tác cán bộ; xây dựng Đảng trong phong trào quần chúng
Hồ Chí Minh với tác phẩm Về Đảng cầm quyền, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1986 Đây là cuốn sách tuyển chọn một số bài viết và bài nói của Hồ Chí Minh từ năm 1945 đến năm 1969 Những bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh trong cuốn sách này đều tập trung nói về vai trò của một đảng cầm quyền và những yếu tố để đảm bảo cho một đảng cầm quyền Hồ Chí Minh khẳng định nhân tố quyết định trước hết thắng lợi của cách mạng là sự lãnh đạo của Đảng bằng một đường lối chính trị đúng đắn Để Đảng luôn luôn có đường lối đúng đắn, đồng thời có năng lực tổ chức thực tiễn sáng tạo, nhạy bén phù hợp với
Trang 1411
từng thời kỳ cách mạng, đưa cách mạng vượt qua mọi thử thách, giành thắng lợi, thì cần phải tăng cường xây dựng Đảng trên các mặt tư tưởng, chính trị, tổ chức Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong những bài viết đều khẳng định người cán bộ, đảng viên cần phải có đạo đức cách mạng và năng lực thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đây là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể thiếu và không thể coi nhẹ mặt nào
Viện Xây dựng Đảng thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
với cuốn Xây dựng Đảng do Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm
1999 Các tác giả đã trình bày các vấn đề lý luận về xây dựng Đảng một cách
có hệ thống như: Học thuyết Mác - Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân; công tác tư tưởng của Đảng; công tác lý luận của Đảng; bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; xây dựng hệ thống tổ chức và bộ máy của Đảng; xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng; công tác cán bộ của Đảng; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng
Cuốn sách Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt của tác giả Lê Đức
Bình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 đã khẳng định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là kết quả của quá trình không ngừng xây dựng, củng cố Đảng về mọi mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; mỗi mặt đó có
vị trí quan trọng không thể thiếu, đồng thời chúng gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp của Đảng Tác giả khẳng định cần phải thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh là thiết thực bồi dưỡng nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trong phần đầu của cuốn sách, tác giả viết về công tác xây dựng đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sau khi thống nhất Tổ quốc, trong đó cũng đề cập sơ lược đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước khi lấy đó làm dẫn chứng cho những vấn đề lý luận về xây dựng Đảng Tác giả nhấn mạnh cần nhận rõ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chất lượng đảng viên và số lượng đảng
Trang 1512
viên, trong những điều kiện nhất định, hai mặt ấy không đối lập nhau mà thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau, tạo thành sức mạnh hoàn chỉnh của đội ngũ đảng viên
Trong năm 2004, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức hội thảo lý luận về vấn đề xây dựng Đảng cầm quyền của cả hai Đảng Các bài tham luận trong Hội thảo này được Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia tập hợp lại và xuất bản thành cuốn sách Xây dựng Đảng cầm quyền - kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc Các bài viết của các
nhà khoa học hai nước về cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định vị trí then chốt của Đảng cách mạng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới; khẳng định
sự cần thiết khách quan phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Và đặt ra yêu cầu tất yếu phải luôn kiên trì đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng cả
về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phương thức lãnh đạo, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đồng thời, các bài viết cũng khẳng định phải thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và chất lượng công tác lý luận của Đảng; thường xuyên coi trọng việc xây dựng củng cố Đảng về
tổ chức, đảm bảo nội bộ luôn luôn đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao
Cuốn sách lưu hành nội bộ của Hội đồng Lý luận Trung ương (2011),
Đảng Cộng sản Việt Nam trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử, Nxb Chính trị
Quốc gia Các bài viết của các nhà khoa học trong cuốn sách bên cạnh việc khẳng định rõ quan điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam , Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, là Đảng duy nhất cầm quyền trong điều kiện chính trị - xã hội ở Việt Nam; đồng thời các bài viết cũng nêu ra những đề xuất về các vấn đề xây dựng Đảng với mong muốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức thực hiện sứ mệnh lịch sử cao cả trước dân tộc Vấn đề xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức được thể hiện trong đó có các bài viết khẳng định Đảng cần phải thật sư thực hiện tốt tự
Trang 1613
phê bình và phê bình, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, có năng lực và uy tín; tiến hành chống tham nhũng một cách mạnh mẽ bởi uy tín của Đảng, sức chiến đấu, sức sống của Đảng phụ thuộc không ít vào kết quả của trận chiến “chống nội xâm”
Cuốn sách chuyên khảo của Nguyễn Trọng Phúc: Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012 Cuốn sách
đã khẳng định nguyên tắc xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và đã trình
bày một cách hệ thống về lịch sử công tác xây dựng đảng từ khi Đảng được thành lập đến nay Tác giả đã khẳng định trong thời kỳ 1954-1975, công tác xây dựng Đảng phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt có nhiều khó khăn, thách thức, song cũng là chặng đường nhiệm vụ xây dựng Đảng có nhiều thành công lớn, góp phần quan trọng thực hiện sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với việc thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền
Công tác xây dựng tổ chức của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống
đế quốc Mỹ được trình bày một cách khái quát và lồng ghép với nhiều mảng nội dung khác của công tác xây dựng Đảng nói chung Trong đó, cuốn sách nhấn mạnh sự phát triển về tổ chức và sự trưởng thành, phấn đấu kiên cường của đội ngũ cán bộ, đảng viên của cả nước nói chung và miền Bắc nói riêng Tác giả khẳng định sức mạnh về tổ chức và uy tín chính trị, tính thống nhất và
kỷ luật cao của Đảng là sự bảo đảm cho Đảng lãnh đạo tập trung, thống nhất trong điều kiện cực kỳ khó khăn, phức tạp Tác giả cũng đề cập đến một số sai lầm, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng những năm 1954-1975
Tác giả Nguyễn Phú Trọng với công trình Xây dựng chỉnh đốn Đảng một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012
Cuốn sách đã đề cập nhiều vấn đề phong phú về lý luận và thực tiễn, đúc kết những bài học, kết luận quan trọng về công tác xây dựng Đảng trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức để nhằm xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh lãnh đạo đất nước và nhân dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới
Trang 17Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xuất bản năm 2004, Nxb Lao động, Hà Nội
Những công trình nghiên cứu trên với những cách tiếp cận và mức
độ phản ánh khác nhau nhưng ít nhiều đều đã đề cập đến công tác xây dựng đảng nói chung trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức
Hai là, nhóm công trình nghiên cứu về công tác xây dựng hệ thống
tổ chức của Đảng
- Nhóm công trình nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng trước năm 1954 và sau năm 1975
Trần Trọng Thơ với bài viết "Xây dựng cơ quan Trung ương - một
thành công nổi bật của Đảng thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1945)", Tạp chí Lịch sử Đảng số 6 (2009) đã đi sâu tìm hiểu công cuộc xây
(1930-dựng, củng cố cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền với nhiều khó khăn, thách thức Những thành công của quá trình xây dựng, kiện toàn, củng cố, bảo vệ cơ quan Trung ương của Đảng trong thời kỳ này thực sự là rường cột, bảo đảm cho hệ thống tổ chức của Đảng thống nhất và phát triển, tiêu biểu cho năng lực và sức chiến đấu của Đảng
Bài viết của tác giả Ngô Văn Minh: “Xây dựng, củng cố tổ chức Đảng
ở Quảng Nam (1939-1945)” đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 2-2011, đã
nghiên cứu về công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng ở Quảng Nam trong
Trang 1815
những năm 1939 đến 1945, cuộc vận động chỉnh đốn đảng theo tinh thần của
tác phẩm “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và cuộc đấu tranh
thống nhất tư tưởng của Đảng giai đoạn này đã được phác họa trên những nét
cơ bản gắn với thực tiễn của địa phương - tỉnh Quảng Nam
Cuốn sách chuyên khảo của Trần Trọng Thơ (2014), “Xây dựng cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương, xứ ủy của Đảng thời kỳ 1930-1945”, Nxb Chính trị
Quốc gia - Sự thật đã góp phần phản ánh hiện thực quá trình xây dựng, khôi phục
và phát triển tổ chức Đảng cấp Trung ương và Xứ ủy, nhân sự các cấp ủy, soi tỏ đặc điểm, tổ chức, hoạt động của các cấp bộ Đảng, của các nhân vật lịch sử của Đảng trong quá trình vận động cách mạng trước khi trở thành một Đảng cầm quyền; đúc kết kinh nghiệm xây dựng, bảo vệ tổ chức Đảng thời kỳ 1930-1945
Bài viết “Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng ở Liên khu III những năm 1948-1950” của tác giả Nguyễn Thị Xuân đăng trên Tạp chí
Lịch sử Đảng số 1-2012, đã làm rõ chủ trương cả Liên khu ủy III về công tác xây dựng Đảng trước những yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, đó là: xây dựng Đảng là nhiệm vụ trọng tâm, chú trọng phát triển, củng cố cơ sở Đảng, nhất là ở vùng địch Trong những năm 1948-1950, công tác xây dựng đảng của Liên Khu III tập trung vào việc xây dựng, kiện toàn các ban chi ủy, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên ở cơ sở Đặc biệt Liên khu III đã phát động những phong trào như "Sáu tháng thi đua học tập", "Ba tháng đấu tranh nội bộ", "củng cố nặng hơn phát triển" để nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng ở Liên khu III trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
Đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006 do
Nguyễn Hữu Cát làm chủ nhiệm “Đảng lãnh đạo công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ trong thời kỳ 1930-1945” Đây là thời kỳ Đảng hoạt động
bí mật, chưa nắm chính quyền, do đó việc xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức Đảng các cấp đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành bại của cách mạng Đề
Trang 1916
tài đã tập trung nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, yêu cầu của cách mạng thời kỳ 1930-1945, quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ từ Xứ ủy, Liên tỉnh ủy, Tỉnh
ủy, Huyện ủy, Chi bộ Đảng ở Bắc Kỳ và đã đưa ra một số kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ và phát triển hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ 1930-1945
Đề tài cấp Bộ “Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ từ năm 1930 đến năm 1945”của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2009 do Trần Trọng Thơ làm chủ nhiệm Đề tài tập trung phản ánh quá trình hình thành, phát
triển, đặc điểm và phương thức xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ và vai trò của nó trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong công cuộc vận động cách mạng ở Nam Kỳ từ năm 1930 đến năm 1945; đúc kết kinh nghiệm xây dựng, bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ thời kỳ 1930-1945
Đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011 do
Nguyễn Bình làm chủ nhiệm “Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” Đề tài tập trung làm
rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng Tái hiện quá xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc và phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Đề tài đã đưa ra một số kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Cuốn sách Xây dựng Đảng về tổ chức của tác giả Ngô Đức Tính, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 đã trình bày các nguyên lý, quan điểm, nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về tổ chức và công tác tổ chức như xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy của Đảng, công tác cán bộ, đảng viên của Đảng Cuốn sách cũng đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức bộ máy của Đảng hiện nay,
đó là, cần phải nhận thức đúng đắn về vai trò và nhiệm vụ của Đại hội Đảng các
Trang 2017
cấp, phải rất coi trọng đổi mới và kiện toàn cấp ủy các cấp về mọi mặt đặc biệt tập trung kiện toàn tổ chức ở hai cấp trọng yếu là cấp Trung ương (đây là cấp có vai trò chiến lược, nơi trực tiếp đề ra cương lĩnh, đường lối và chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước) và cấp cơ sở (đây là cấp nền tảng của Đảng và của hệ thống chính trị) Tác giả khẳng định công tác xây dựng Đảng về tổ chức nói chung và xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng nói riêng luôn có mối quan hệ biện chứng với các mặt xây dựng Đảng về chính trị và
tư tưởng Việc xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị xuất phát từ đường lối chính trị của Đảng, phục vụ thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong mọi thời kỳ
Cuốn sách chuyên khảo Tổ chức cơ sở đảng với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tập thể tác giả
Nguyễn Cúc, Lê Phương Thảo, Doãn Hùng xuất bản năm 2004, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày một cách khái quát những quan điểm, lý luận về tổ chức cơ sở đảng và xây dựng, chỉnh đốn đảng Cuốn sách khẳng định trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn đảng, tổ chức cơ sở đảng có tầm quan trọng đặc biệt, bởi đây là nơi triển khai thực hiện các quyết định từ Trung ương đến địa phương, nơi kiểm nghiệm các quyết sách lãnh đạo quản lý, nơi sang lọc đội ngũ đảng viên trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn đảng, nơi trực tiếp gắn bó với quần chúng Các tác giả đã phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng tại các tổ chức
cơ sở đảng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn các nhiệm
vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng tại các loại hình tổ chức cơ sở đảng
Trong bài viết Nghiên cứu xu thế phát triển tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới điều kiện toàn cầu hóa, tin tức hóa, Tạp chí Thế giới đương
đại và chủ nghĩa xã hội, số 1, 2008, tác giả Thôi Quế Điền đã phân tích bối
cảnh toàn cầu hoá kinh tế và tin tức hoá, những thách thức của nó đối với công tác xây dựng, phát triển tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam Đứng
Trang 2118
trước thách thức ấy, quá trình xây dựng hệ thống chính sách chiến lược mới với những đặc điểm mới và xu thế mới về công tác xây dựng tổ chức đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng bước đầu được đi sâu nghiên cứu
Nguyễn Văn Giang - Phạm Tất Thắng với cuốn sách “Các lý thuyết tổ chức hiện đại và việc vận dụng vào công tác tổ chức xây dựng Đảng hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012 Cuốn sách đã đưa ra các khái
niệm, vị trí, vai trò của công tác tổ chức xây dựng Đảng cũng như nghiên cứu các lý thuyết tổ chức hiện đại và vận dụng vào công tác tổ chức xây dựng Đảng của Việt Nam hiện nay Nhiệm vụ của công tác tổ chức xây dựng Đảng được đề cập đến trong cuốn sách bao gồm xây dựng tổ chức, bộ máy của Đảng; xây dựng nguyên tắc, tổ chức hoạt động của Đảng; xây dựng đội ngũ đảng viên và đội ngũ cán bộ của Đảng trong giai đoạn hiện nay
Tài liệu “Hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống tổ chức các cơ quan lưu trữ của Đảng” trên đường link: https://tailieu.vn/doc/he-thong-to-chuc-cua-dang-cong-san-viet-nam-va-he-thong-to-chuc-cac-co-quan-luu-tru-dang-191834.html Tài liệu đã cung cấp về chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và tổ chức bộ máy các cấp từ Trung ương đến cơ sở của Đảng và hệ thống tổ chức các cơ quan lưu trữ của Đảng trong giai đoạn hiện nay
- Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975
Tác phẩm của Lê Đức Thọ: Ra sức nâng cao chất lượng và đẩy mạnh cuộc vận động xây dưng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt”, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1966 đã đề cập đến xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở bốn tốt ở miền Bắc những năm 60 của thế kỷ XX Tác phẩm đã nêu cao sự cần thiết phải xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh trong khi nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày càng nặng nề
Cuốn sách khẳng định mục đích, yêu cầu, nội dung, phương châm, phương pháp tiến hành cuộc vận động xây dựng chi bộ bốn tốt do Trung ương
Trang 2219
Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn không những phù hợp với yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ mà còn phù hợp với yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong cả giai đoạn sau
Cuốn sách đã rút ra những kinh nghiệm về xây dựng tổ chức cơ sở của Đảng thông qua cuộc vận động xây dựng chi bộ bốn tốt, gồm bảy kinh nghiệm lớn: (1) Nhận rõ vị trí quan trọng của tổ chức cơ sở của đảng, xác lập và nâng cao sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của tổ chức cơ sở của đảng (2) Quán triệt một cách đầy đủ và toàn diện bốn yêu cầu của cuộc vận động (3) Gắn chặt việc xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở về tư tưởng, kiến thức và về tổ chức với việc đấu tranh để thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị trong từng thời gian (4) Quán triệt một cách đúng đắn phương châm lấy xây dựng đảng về tư tưởng làm gốc, đồng thời coi trọng xây dựng Đảng về mặt tổ chức, kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức (5) Liên hệ chặt chẽ với quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa công tác xây dựng tổ chức cơ sở của đảng với công tác vận động quần chúng (6) Gắn việc xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” với việc xây dựng tổ đảng “bốn tốt”, đảng viên “bốn tốt”; gắn liền và coi trọng
cả hai khâu bồi dưỡng, lựa chọn bố trí tốt cốt cán lãnh đạo và làm tốt công tác đối với đảng viên (7) Nắm vững phương châm vừa phát huy tính chủ động sáng tạo của tổ chức cơ sở của đảng, vừa tăng cường sự chỉ đạo cụ thể của cấp trên nhất là của cấp huyện và cấp tỉnh, thành
Tác phẩm Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Lê Duẩn, Tập
II, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976 đã trình bày một cách cụ thể về sự tất yếu xây dựng CNXH ở Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng đặc biệt tác phẩm
đã đề cập toàn diện đến công tác xây dựng Đảng, đến sự cần thiết phải coi trọng công tác tổ chức trong Đảng Tác phẩm khẳng định trong tình hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thì nhất thiết phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, có đường lối, chính sách đúng, có tư
Trang 2320
tưởng cách mạng triệt để, có tổ chức vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện đầy đủ, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân
Tác phẩm đã đưa ra những biện pháp để nâng cao sức chiến đấu của Đảng, cần phải bố trí hợp lý hơn nữa bộ máy của Đảng ở các cấp, các ngành,
bổ sung các chế độ sinh hoạt nội bộ, cải tiến phương pháp lãnh đạo và lề lối làm việc của các cấp ủy đảng, tăng cường và đổi mới đội ngũ cán bộ đến việc làm trong sạch hàng ngũ của Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên
Quan điểm của tác giả được thể hiện trong tác phẩm khi nhấn mạnh đến việc phải hết sức coi trọng, củng cố, xây dựng Đảng về mặt tổ chức, trước hết phải nâng cao chất lượng của chi bộ vì chi bộ là tổ chức cơ sở của Đảng, là nơi gắn liền Đảng với quần chúng, là nơi tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng đồng thời là nơi đào tạo cán bộ cho Đảng Vì thế, vấn đề tăng cường công tác xây dựng chi bộ được tác phẩm chú trọng khi có một phần riêng nói về
“thế nào là một chi bộ tốt, một đảng bộ tốt” và tác giả khẳng định “Một chi bộ tốt, một đảng bộ tốt trước hết là một chi bộ, một đảng bộ biết lãnh đạo nhân dân kiên quyết chiến đấu góp phần đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng và làm tốt ba cuộc cách mạng ở nông thôn” [69, tr.260]
Tác phẩm đề cập đến việc phải dựa vào những nguyên tắc tổ chức của Đảng mà quản lý đảng viên, kiểm tra đạo đức, phẩm chất đảng viên, giữ vững sinh hoạt chính trị, tư tưởng trong Đảng và đề cao kỉ luật Đảng Phải thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, xây dựng một nền nếp sinh hoạt dân chủ đầy đủ trong các cấp ủy đảng, nhất là trong chi bộ Thông qua việc thực hiện những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước mà kiểm tra đạo đức, phẩm chất của cán bộ, đảng viên, tích cực đấu tranh chóng quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí Sức chiến đấu của Đảng, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng chỉ được bảo đảm khi các tổ chức Đảng, các cấp ủy Đảng từ trung ương đến cơ
sở chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng
Trang 2421
Tác phẩm xác định công tác cán bộ là mặt quan trọng hàng đầu của công tác tổ chức , vì thế cần “phải làm tốt công tác cán bộ”, phải ra sức đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo và cán bộ quản lý thì phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học
kỹ thuật, là một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh miền Bắc đang xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội trong đó cách mạng
kỹ thuật là then chốt vì thế rất cần đến một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật
lớn mạnh, xuất thân từ công nông, từ hàng ngũ cách mạng
Đối với đội ngũ đảng viên, tác phẩm khẳng định đảng viên phải vừa có đạo đức cách mạng vừa có trí thức cách mạng, có năng lực tương xứng với
nhiệm vụ, có tác dụng lãnh đạo quần chúng
Cuối cùng, tác phẩm khẳng định, để làm tròn sứ mệnh lịch sử của Đảng trước giai cấp và dân tộc, nhất thiết phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn luôn nắm vững và vận dụng sang tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, có đường lối, chính sách đúng, có tư tưởng cách mạng triệt để, có tổ chức vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và chỉ đạo Để nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, tác phẩm nhấn mạnh, nhiệm vụ cấp bách là kịp thời và mạnh dạn sửa đổi về tổ chức, từ việc bố trí hợp
lý hơn nữa bộ máy của Đảng ở các cấp, các ngành, bổ sung các chế độ sinh hoạt nội bộ, cải tiến phương pháp lãnh đạo và lề lối làm việc của các cấp ủy đảng, tăng cường và đổi mới đội ngũ cán bộ, đến việc làm trong sạch hàng ngũ của Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên Các cấp ủy đảng phải hết sức chăm lo tăng cường các tổ chức cơ sở Các chi bộ, đảng bộ cơ sở phải được xây dựng và
củng cố thật sự để trở thành những đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng
Công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu về tổ chức do Nguyễn
Hữu Tri và Nguyễn Thị Phương Hồng (chủ biên): Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005
Cuốn sách đã nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử công tác tổ chức của Đảng trong 70 năm từ năm 1930 đến năm 2000 Ở mỗi giai đoạn, cuốn sách đã
Trang 25từ năm 1954 đến năm 1975 trên các lĩnh vực như bộ máy Đảng từ Trung ương đến địa phương, công tác cán bộ, phát triển đảng viên
Các tác giả cũng đưa ra những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Đảng về tổ chức trong suốt thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930-1975) Kinh nghiệm đầu tiên là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải luôn luôn chăm lo tổ chức xây dựng Đảng để xứng đáng là “người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân” Kinh nghiệm thứ hai là bảo đảm những nguyên tắc chủ yếu của quá trình tổ chức Kinh nghiệm thứ ba là biết
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong công tác tổ chức, xây dựng Đảng Kinh nghiệm thứ tư là công tác tổ chức phải bám sát thực tiễn, phải vận động tổ chức nhân dân tạo ra được “những ngày hội cách mạng của quần chúng”
Cuốn sách khẳng định phải xây dựng Đảng vững mạnh về cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức Ba mặt ấy gắn liền với nhau, quyết định lẫn nhau Xây dựng Đảng về tư tưởng và về tổ chức phải kết hợp chặt chẽ với nhau, phải xuất phát từ đường lối và nhiệm vụ chính trị, đồng thời bảo đảm cho đường lối và nhiệm vụ chính trị được xác định đúng, được thấu suốt và thực hiện đầy đủ
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Tấn: Quá trình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975, Học viện Chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012 đã đề cập trực tiếp đến quá trình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc từ năm 1965 đến 1975
Trang 2623
Luận án đã làm rõ yêu cầu khách quan chi phối đến cách mạng Việt Nam và công tác xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc trong những năm 1965-1975 cũng như tái hiện thực tiễn xây dựng Đảng về tổ chức
Đồng thời Luận án đã rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc giai đoạn 1965-1975: (1)Xác định và nhận thức đúng vị trí, vai trò của công tác xây dựng Đảng và xây dựng Đảng về tổ chức để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ cách mạng; (2) Chăm lo xây dựng, kiện toàn cấp ủy - cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết nhất trí; (3)Xây dựng Đảng về tổ chức phải được thực hiện toàn diện, đồng bộ tất cả các mặt của công tác tổ chức Đảng và phải dựa vào nhân dân; (4)Tăng cường lực lượng, năng lực lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương trong việc xây dựng hệ thống tổ chức các cấp của Đảng thống nhất, vững mạnh, bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo cách mạng
Bài viết của tác giả Đồng Xuân Quách trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 3,
1996, Tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Linh (1965-1968) đã đề cập
đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Linh trong công tác phát triển đảng viên, củng cố kiện toàn chi bộ, bồi dưỡng cán bộ và đẩng viên để đáp ứng nhiệm vụ chính trị của địa phương Vĩnh Linh trong những năm 1965-1968
Bài viết của tác giả Hồ Khang: Miền Bắc chuyển nhanh từ thời bình sang thời chiến - một thành công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng trong thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ, Tạp chí Lịch sử Đảng số 10, 1998 đã tập trung viết
về sự chuyển hướng xây dựng ở miền Bắc khi có chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ Bài báo cũng đề cập đến cuộc vận động xây dựng chi bộ
“bốn tốt” để đáp ứng vai trò lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng
Bài viết Xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở đảng ở miền Bắc 1975) trên tạp chí Lịch sử Đảng số 2, 2012 của tác giả Nguyễn Thế Tấn đã tập
(1965-trung khảo cứu về cuộc vận động chỉnh huấn và xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ
sở bốn tốt (1965-1968); Cuộc vận động "chỉnh huấn" năm 1969; nâng cao
chất lượng đảng viên (1969-1973)
Trang 2724
Tác giả Phan Hữu Tích với Luận án tiến sĩ lịch sử: Đảng bộ Hà Nội lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ (1965-1972), bảo vệ năm 1995 đã khắc họa lại quá trình lãnh đạo cuộc
chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Đảng bộ Thành phố Hà Nội Luận án đề cập một cách khái quát nội dung xây dựng Đảng về tổ chức với một số sự kiện tiêu biểu, các số liệu về xây dựng, củng cố tổ chức Đảng các cấp, công tác tác cán bộ ở Hà Nội thời gian này nhằm minh họa cho sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương thực hiện các nhiệm vụ chính trị
Luận án Tiến sĩ lịch sử: Đảng bộ Vĩnh Linh lãnh đạo quân dân địa phương đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1965- 1968) của tác giả Đồng Xuân Quách, Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác -
Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, 1996 Luận án đã trình bày về sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Lĩnh (Quảng Trị) ltrong thời kỳ chống đế quốc Mỹ giai đoạn 1954-1964, giai đoạn xây dựng và chi viện cho tiền tuyến miền Nam (1965-1968) Luận án cũng đề cập đến vấn đề xây dựng Đảng về tổ chức ở đặc khu Vĩnh Linh và đưa ra những số liệu cụ thể về công tác phát triển đảng viên, củng cố kiện toàn chi bộ và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên để đáp ứng nhiệm vụ chính trị của địa phương Vĩnh Linh trong giai đoạn này
1.2 Khái quát kết quả những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu
Dưới nhiều góc độ khác nhau, các nhóm công trình nghiên cứu trên đã trình bày công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc trong toàn
bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) ở những mức độ khác nhau và đã giải quyết được các vấn đề sau:
- Về tư liệu, các công trình như sách, luận án, các bài viết trên các tạp
chí chuyên ngành nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác tổ chức của Đảng qua các thời kỳ, ở các mức độ khác nhau, các công trình
Trang 2825
đã cung cấp các số liệu cụ thể về hệ thống tổ chức Đảng, kiện toàn chi bộ, số lượng cán bộ, đảng viên, chất lượng đảng viên, đào tạo cán bộ ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Đặc biệt công trình nghiên cứu Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-2000 của Nguyễn Hữu Tri và Nguyễn Thị Phương
Hồng đã cung cấp những số liệu cụ thể trong quá trình xây dựng hệ thống tổ chức ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Tấn nghiên cứu chuyên sâu về quá trình xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc Việt Năm từ năm 1965 đến năm 1975 nên đã cung cấp những số liệu về cán
bộ, đảng viên, chi bộ bốn tốt, trong giai đoạn miền Bắc có chiến tranh
Những tư liệu lịch sử chân thực và đáng tin cậy của các công trình góp phần làm rõ về công tác xây dựng tổ chức đảng của miền Bắc trong thời kỳ1954-1975
- Về nội dung, các cuốn sách của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước
cũng như của các nhà khoa học đề cập trực tiếp đến công tác xây dựng Đảng và cung cấp những lý luận về vấn đề xây dựng Đảng nói chung, về công tác xây dựng tổ chức Đảng nói riêng, thấy được sự cần thiết và vai trò quan trọng của công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng qua các thời kỳ Tác phẩm của đồng chí Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là những cứ liệu quan trọng giúp cho NCS có cái nhìn tổng quát về sự cần thiết phải xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng của miền Bắc trong những năm tháng thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Các công trình nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng đảng nói chung và hệ thống tổ chức của Đảng nói riêng cung cấp khung lý thuyết về hệ thống tổ chức như vị trí, vai trò, chức
năng, nhiệm vụ
Chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đảng nói chung và xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng nói riêng qua các thời kỳ được các công trình nghiên cứu đề cập đến trong đó ít nhiều đã trình bày chủ trương của Đảng trong quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng giai đoạn 1954-1975
Trang 2926
Vốn là vấn đề có tính khoa học và thực tiễn sâu sắc nên vấn đề xây dựng Đảng nói chung luôn được các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm và tái hiện, minh hoạ khá sinh động và rõ nét từ bối cảnh lịch
sử, chủ trương, đường lối cũng như nội dung chính của vấn đề xây dựng đảng nói chung trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức
Thông qua các công trình nghiên cứu, bối cảnh lịch sử của miền Bắc thời kỳ 1954-1975 đặc biệt là giai đoạn 1965-1975 được tái hiện, minh hoạ khá sinh động và rõ nét Quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 đặc biệt giai đoạn miền Bắc
có chiến tranh 1965-1975, công tác xây dựng tổ chức được phác họa, đề cập những ưu điểm, hạn chế và rút được một số kinh nghiệm
Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác xây dựng Đảng về tổ chức ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975 được công bố dưới nhiều góc
độ, mức độ và nội dung khác nhau Đó là những cơ sở quan trọng về lý luận, những gợi ý khoa học và là nguồn tư liệu lịch sử chân thực, độ tin cậy cao, giúp ích rất lớn để luận án triển khai nghiên cứu, đánh giá về công tác xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975
-Về phương pháp: Các công trình nói trên được các tác giả đã sử dụng
các phương pháp chuyên ngành xây dựng Đảng, chính trị học, lịch sử Đảng, khoa học lãnh đạo các tác giả cũng đã sử dụng một số phương pháp khác như: điều tra xã hội học, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, phương pháp chuyên gia…để nghiên cứu, luận giải các vấn đề nêu trên và phản ánh những nội dung cơ bản ở những mức độ, khía cạnh khác nhau
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Công tác xây dựng Đảng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 tuy đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhưng vấn đề lịch sử xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc từ năm
Trang 3027
1954 đến năm 1975 chưa được đề cập tương xứng Cho đến nay chưa có một công trình khoa học lịch sử nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) Sở dĩ có điều đó vì đây là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, khó khăn trong tiếp cận nguồn sử liệu Để góp phần khắc phục những “khoảng trống” của lịch sử Đảng nói trên, trong luận án này tập trung nghiên cứu giải quyết các vấn đề sau:
- Về tư liệu: Công tác xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng thời kỳ
1954-1975 rất phong phú, có nhiều vấn đề về tổ chức, về cán bộ, đảng viên, về chỉnh đốn chi bộ chưa được nghiên cứu thấu đáo hoặc còn nhiều đánh giá, nhận xét khác nhau trong khi đó tài liệu phản ánh về vấn đề xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng lại tản mạn, có những tài liệu mang tính nhạy cảm
Nhận thức rõ những khó khăn đó, NCS đã kiên trì và cẩn trọng trong công tác sử liệu Các tài liệu dùng trong Luận án được khai thác từ bộ sách Văn kiện Đảng toàn tập đã xuất bản; các tài liệu gồm nghị quyết, chỉ thị, báo cáo, bài phát biểu của thời kỳ 1954-1975 được lưu trữ tại các cơ quan lưu trữ của Trung ương và các địa phương, nhất là tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng; phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm lưu trữ quốc gia III
Với tinh thần đó, Luận án sẽ cung cấp những số liệu cụ thể, chân thực
về cuộc chỉnh đốn chi bộ trong cải cách ruộng đất (1954 - 1957), những tư liệu về công tác phát triển đảng viên qua “lớp đảng viên 6-1” năm 1960; số liệu đảng viên được kết nạp và bị khai trừ qua “Cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh”
Luận án cung cấp những tài liệu về việc thành lập các Khu tự trị, các ban chuyên môn của Đảng, có những số liệu cụ thể trong công tác cán bộ, đảng viên
Trang 3128
- Về nội dung: Luận án không chỉ đơn thuần trình bày bối cảnh lịch sử
mà sẽ chú trọng nghiên cứu một cách cụ thể về những đặc điểm của cách mạng Việt Nam như là một sự tác động đến các chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và xây dựng hệ thống tổ chức đảng nói riêng ở miền Bắc trong những năm 1954-1975
Luận án sẽ trình bày một cách có hệ thống chủ trương của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc từ tháng 7 năm 1954 đến trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960) và từ sau Đại hội III đến năm 1975
Luận án đi sâu vào nghiên cứu bộ máy tổ chức các cấp của Đảng từ Trung ương đến cơ sở Dựa trên việc khai thác những tư liệu, luận án làm rõ sự điều chỉnh hệ thống tổ chức của Đảng từ năm cấp ở Đại hội II (tháng 2-1951) đến bốn cấp ở Đại hội III (tháng 9-1960) Luận án sẽ tái hiện một cách khách quan, khoa học về chỉnh đốn tổ chức trong cải cách ruộng đất; làm rõ việc kiện toàn các ban Đảng như Ban Bí thư, Ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo cũng như việc thành lập các khu tự trị, đặc khu và các ban chuyên môn của Đảng; nghiên cứu các cuộc chỉnh huấn về mặt tư tưởng để làm rõ hơn mối quan hệ giữ công tác tư tưởng và công tác tổ chức
Luận án làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán bộ và phát triển đảng viên đặc biệt nhấn mạnh đến các đợt phát triển đảng qua lớp đảng viên 6-1, lớp đảng viên Hồ Chí Minh; đến cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ “bốn tốt”
Trên tinh thần khách quan, khoa học, Luận án chỉ ra những mặt ưu điểm và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc trong cả thời kỳ 1954-1975 Với hướng tiếp cận, góc độ nghiên cứu độc lập, không trùng lắp với công trình khoa học đã công bố, luận
án đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh đạo công xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975
Trang 3229
- Về phương pháp: Trên cơ sở kế thừa những phương pháp nghiên cứu
của các công trình trước, tác giả vận dụng để tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt ra của đề tài luận án trong đó sử dụng chủ yếu các phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Tiểu kết
Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng được coi là lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Từ khi Đảng ra đời cho đến nay đây là lĩnh vực được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Với nhiều cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau, các công trình đã khai thác nhiều mảng màu về
hệ thống tổ chức như: chủ trương, đường lối, thực tiễn xây dựng, thành công, hạn chế, mối quan hệ giữa tổ chức với chính trị, tư tưởng Từ quá trình khảo sát
đã giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn bao quát, có hệ thống về hệ thống tổ chức,
có những nhận xét, đánh giá, sàng lọc bước đầu để tiếp thu giá trị của các công trình đã được công bố để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài
Đối với vấn đề xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc trong thời kỳ 1954-1975, nghiên cứu sinh bước đầu đã khái quát hóa các công trình đã được công bố, nhận xét, đánh giá và tiếp thu có chọn lọc giá trị của các công trình trên Tiếp cận với mục đích nghiên cứu về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng tại miền Bắc 1954-1975, tác giả nhận thấy vấn
đề này chưa được khai thác nhiều Đây sẽ là một “khoảng trống”, vì thế để làm phong phú, đa dạng thêm kho tàng các công trình nghiên cứu về hệ thống tổ chức của Đảng nói chung, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu về Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 phù hợp với
chuyên ngành Lịch sử Đảng
Trang 3330
Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC
CỦA ĐẢNG TẠI MIỀN BẮC (1954 – 1960)
2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng trong xây dựng hệ thống tổ chức Đảng tại miền Bắc (1954 – 1960)
2.1.1 Khái quát về hệ thống tổ chức của Đảng trước năm 1954
Quán triệt những nguyên tắc về xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác Lênin, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng
-Đầu năm 1930, tại Hồng Kông (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Điều lệ vắn tắt quy định hệ thống tổ chức của Đảng: Đảng là một khối thống nhất có tổ chức chặt chẽ, hệ thống tổ chức được phân thành 4 cấp: Chi bộ - Huyện bộ, thị bộ hay là khu
bộ - Tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ - Trung ương”[85, tr.7-8]
Điều lệ trên đã đặt cơ sở cho sự hình thành hệ thống tổ chức các cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi thành lập, đến tháng 5 năm 1930, công cuộc hợp nhất các tổ chức Đảng ở trong nước hoàn tất, hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam đã hình thành từ Trung ương đến cơ sở với 38 tỉnh, thành phố trên cả nước đã có tổ chức Đảng
Tháng 10-1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hồng Kông Căn cứ vào Điều lệ của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị lần thứ nhất định
ra Điều lệ Đảng của Đảng Cộng sản Đông Dương, tổ chức ra các Xứ ủy cho vững vàng Nghị quyết Hội nghị quy định rõ hệ thống tổ chức Đảng có 6 cấp: Chi bộ - Tổng bộ (ở nhà quê) - Huyện bộ (ở các tỉnh), khu bộ (các thành phố, các vùng đồn
điền, các vùng mỏ)- Tỉnh bộ hoặc thành bộ - Xứ bộ - Trung ương [85, tr.120-121.]
Trang 3431
Điều lệ của Đảng Cộng sản Đông Dương (10-1930) đánh dấu bước phát triển mới về công tác tổ chức xây dựng Đảng Ở Trung ương, ba bộ (sau này gọi là ban) được hình thành: Bộ Tuyên truyền, Bộ Tổ chức kiêm giao thông,
Bộ Tài chính Điều lệ qui định cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội là Ban chấp hành Trung ương; các Hội nghị của Trung ương và các cấp
bộ của Đảng; qui định cơ cấu tổ chức của các tổ chức Đảng
Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (3-1931) tập trung
bàn về công tác tổ chức Hội nghị nhấn mạnh: “Công việc tổ chức là một phần công việc rất quan trọng của Đảng Nếu công việc đó làm không đúng thì nguy
hại cho Đảng rất lớn”[85, tr.104] Hội nghị nêu rõ các nguyên tắc của việc củng
cố, phát triển hệ thống tổ chức Đảng cho các xứ uỷ, các đảng bộ thực hiện là: Đảng phải có kỷ luật sắt; phải lấy công nhân làm lực lượng căn bản; phải tổ chức theo cách dân chủ, tập trung; gắn công tác tổ chức với đấu tranh… Nghị quyết nhấn mạnh “chi bộ là cơ sở của Đảng” đặc biệt là chi bộ sản nghiệp vì thế Hội nghị yêu cầu các đảng bộ phải coi chi bộ sản nghiệp là căn bản tổ chức, là tổ chức cơ sở căn bản nên phải “xoay hướng” về chi bộ, nhất là chi bộ nhà máy
Điều lệ Đảng do Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 thông qua, cùng với những chỉ đạo về công tác xây dựng tổ chức của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương về cơ bản đã định hình về hệ thống tổ chức của Đảng trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền thời kỳ 1930-1945
Mặc dù với số lượng đảng viên ít (từ 310 đảng viên khi Đảng Cộng sản
Việt Nam mới ra đời [85, tr.21] lên đến 3.150 đồng chí vào cuối năm 1944
[145, tr.97] nhưng với sự hoạt động của hệ thống tổ chức Đảng các cấp là nhân tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp của phong trào cách mạng trên phạm vi cả nước Chính nhờ triển khai công tác xây dựng Đảng về mặt tổ chức liên tục, kịp thời, đều khắp mà cơ sở Đảng được tổ chức, bám trụ ở cả nông thôn và thành thị, vì thế, khi thời cơ đến, tất cả các cấp bộ Đảng ở ba miền Bắc, Trung, Nam đã đồng loạt lãnh đạo nhân dân tiến hành
Trang 35Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc Với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành
Đảng lãnh đạo chính quyền cách mạng trong cả nước - bắt đầu quá trình Đảng cầm quyền để thực thi các nhiệm vụ cách mạng
Khi trở thành Đảng cầm quyền, vai trò của Đảng lúc này là phải lãnh đạo xây dựng nhà nước cách mạng, nắm bộ máy chính quyền nhà nước từ trung ương đến cơ sở, bảo đảm cho nhà nước trong hoạt động đối nội và đối ngoại phải theo đúng đường lối của Đảng Đồng thời Đảng phải lãnh đạo toàn nhà nước, toàn xã hội, toàn dân thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc rất nặng
nề, khó khăn trong bối cảnh các thế lực đế quốc và phản động trên danh nghĩa quân Đồng minh đã tràn vào Việt Nam, tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam và cả Đông Dương Để có thể thực hiện được những nhiệm vụ đó thì đòi hỏi Đảng phải mạnh, có sự lãnh đạo chắc chắn, yêu cầu đặt
ra cho công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng thời kỳ này nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị trung tâm hàng đầu là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
Trước việc phải đương đầu với nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, phải đối mặt với nhiều kẻ thù, Đảng lại chưa có kinh nghiệm lãnh đạo chính quyền, công tác phát triển Đảng còn rất hạn chế, vì thế, để bảo toàn lực lượng, giữ vững sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền, Đảng Cộng sản Đông Dương buộc phải rút vào hoạt động bí mật (dưới hình thức tuyên bố “Tự ý giải tán” từ ngày 11-11-1945), nhưng vẫn duy trì phương thức lãnh đạo
“khôn khéo”, “kín đáo” với tổ chức công khai là Hội nghiên cứu chủ nghĩa
Trang 3633
Mác ở Đông Dương để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tuyên truyền đường
lối chính sách của Đảng, giữ vững và mở rộng mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và quần chúng
Mặc dù hoạt động bí mật, song Đảng vẫn giữ vững sự lãnh đạo với chính quyền nhà nước Bộ máy các cấp của Đảng từ Trung ương trở xuống
cơ sở vẫn được giữ vững, củng cố và xây dựng Theo Nghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng (từ ngày 31-7 đến ngày 1-8-1946), hệ thống của Đảng vẫn được tổ chức theo sáu cấp: Trung ương, xứ bộ, tỉnh bộ, huyện
bộ, tổng bộ (xã bộ) và chi bộ; hầu hết công việc nội bộ của Đảng đều do Ban Đảng vụ và Đội công tác đảm nhiệm
Để tránh tình trạng ôm đồm và đưa công việc đi vào nề nếp, ngày
31-8-1947, Thường vụ Trung ương Đảng họp và đã ra Nghị quyết số 10 về công tác
tổ chức Thực hiện Nghị quyết 10, các cơ quan chuyên môn của Trung ương được thành lập gọi là Bộ, có ba Bộ: Bộ Tổ chức, Bộ Tuyên truyền và Bộ Tài chính . Thành lập các cơ quan phụ thuộc Bộ gọi là Ban, phụ thuộc Ban gọi là tiểu ban Các cấp uỷ Đảng địa phương (khu, tỉnh, huyện) cũng thành lập các cơ quan chuyên môn như: Tiểu ban công vận, Tiểu ban thanh vận
Trong hệ thống các cơ quan chuyên môn, Trung ương đặt vấn đề thành
lập cơ quan tổ chức lên hàng đầu Ngày 1- 9-1947, Thường vụ Trung,ương Đảng
ra Chỉ thị "Về việc lập Ban Tổ chức khu và tỉnh" và nêu rõ nhiệm vụ và quyền
hạn của các ban tổ chức nói chung Đây là lần đầu tiên trong lịch sử công tác xây dựng Đảng, công tác củng cố và xây dựng các cơ quan chuyên môn của Đảng đặc biệt là công tác tổ chức được chuyên môn hoá một bước
Thực hiện Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng (1-9- 1947) các cấp
uỷ đảng từ khu đến huyện bắt tay vào việc kiện toàn bộ máy tổ chức ở địa phương mình, thành lập ngay các Ban Tổ chức, làm cho hoạt động tổ chức có nhiều chuyển biến tích cực, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Đến năm 1947, hệ thống tổ chức của Đảng vẫn là sáu cấp Theo Nghị quyết Hội nghị
Trang 3734
Trung ương mở rộng từ ngày 15 đến ngày 17-1-1948, bộ máy đảng ở Bắc và
Trung Bộ được tổ chức theo năm cấp: Trung ương, Khu uỷ, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ
và Xã uỷ Hội nghị cán bộ Trung ương 4 (20-5-1948) đã đặc biệt chú ý đến việc
tổ chức các ban và tiểu ban của Đảng Theo Nghị quyết của Hội nghị, cấp Trung ương, khu và tỉnh có bảy ban: Dân vận, Tuyên huấn, Tổ chức, Kinh tế tài chính, Kiểm soát, Địch vận, Giao thông liên lạc; cấp huyện có bốn ban: Dân vận (không cần lập tiểu ban), Tuyên huấn, Tổ chức kiêm kiểm soát, Kinh tế tài chính Cấp xã không lập các ban hoặc tiểu ban, chỉ cử các đồng chí phụ trách công tác tuyên huấn, dân vận, tổ chức, kinh tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) đã đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, theo Điều lệ
Đảng tại Đại hội lần này, hệ thống tổ chức của Đảng gồm 5 cấp: (1) Trung ương;
(2) Xứ, khu, liên khu; (3) Tỉnh, thành phố; (4) Huyện, quận, thị xã; (5) Xã, thị trấn Tương ứng với đó là bộ máy cơ quan lãnh đạo của Đảng bao gồm: (1) Ban Chấp hành Trung ương; (2) Xứ ủy, khu ủy, liên khu ủy; (3) Tỉnh ủy, thành ủy; (4) Huyện ủy, quận ủy, thị ủy; (5) Chi ủy [88, tr.451-452]
Sơ đồ bộ máy cơ quan lãnh đạo của Đảng tương ứng với hệ thống tổ chức Đảng các cấp được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II
của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 2-1951)
Xứ ủy, Khu ủy, Liên Khu ủy Ban Chấp hành Trung ương
Tỉnh uỷ, Thành uỷ Huyện uỷ, Quận uỷ, Thị ủy
Chi ủy
Trang 3835
Hệ thống tổ chức của Đảng gồm 5 cấp được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) được duy trì cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960)
Thực hiện Nghị quyết và Điều lệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, ngày 16-4-1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 9-NQ/TW về việc thành lập các Ban và tiểu ban của Trung ương gồm có: Ban Tuyên huấn, Ban Tổ chức, Ban Mặt trận, Ban Kinh tế - tài chính, Ban Kiểm tra Trung ương, Tiểu ban Miên - Lào, Tiểu ban Công vận, Tiểu ban Nông vận, Tiểu ban Thanh vận, Tiểu ban Phụ vận
Về công tác phát triển đảng viên mới và nâng cao chất lượng đảng viên được Đảng chú trọng, số lượng đảng viên mới không ngừng tăng qua các năm nhằm đáp ứng nhu cầu lãnh đạo kháng chiến: Từ 5.000 đảng viên năm 1945, đến tháng 12 năm 1946, số đảng viên đã lên tới 20.000, và đến cuối năm
1947, số đảng viên đã phát triển lên tới 78.000 người [18, tr.132] Đến năm
1948 với Chỉ thị thi đua kết nạp Đảng, số lượng đảng viên tăng gấp bội, chỉ trong hai năm 1948-1949, Đảng đã kết nạp hơn 50 vạn đảng viên, cuối năm
1949 đầu năm 1950, tổng số đảng viên là 430.000 [87, tr.92] Đến tháng
12-1950 toàn Đảng có 766.000 đảng viên [89, tr.95]
Với việc kết nạp ồ ạt đảng viên trong thời gian ngắn đã dẫn tới hiện tượng: bên cạnh số đảng viên trung thành, hăng hái có nhiều đảng viên kém ý thức Đảng, ý thức giai cấp, ở một số cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng đã phát giác tay sai của địch chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng Phát triển Đảng quá nhanh, không coi trọng chất lượng và công tác giáo dục tư tưởng, công tác củng cố tổ chức làm chưa tốt Đặc biệt công tác giáo dục tư tưởng cho đảng viên còn nhiều khuyết điểm như: nặng về hình thức, không sát, giáo điều, không thường xuyên,v.v… Trước tình hình đó, ngày 14-9-1950, Ban Thường vụ Trung ương
Đảng ra Chỉ thị Về tạm ngừng việc kết nạp đảng viên mới trong toàn quốc để
“củng cố hàng ngũ, giáo dục đảng viên làm cho Đảng thành một Đảng mạnh mẽ
Trang 3936
theo đúng tinh thần của Chủ nghĩa Mác - Lênin” [87, tr.482] Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, việc kết nạp đảng viên và tổ chức Đảng được củng cố để nâng cao chất lượng đảng viên
Công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ khi Đảng ra đời được đặc biệt quan tâm và đã trải qua các thời kỳ lịch sử hoạt động bí mật lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền; nắm chính quyền lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp Đảng đã từng bước xây dựng hệ thống tổ chức Đảng luôn bảo đảm vững mạnh trước những khó khăn, thử thách của cách mạng Đến năm 1954, công tác xây dựng Đảng về tổ chức
đã đạt được những kết quả trên các phương diện xây dựng, củng cố các tổ chức từ Trung ưong đến cơ sở, phát triển đội ngũ đảng viên
Những kết quả đó góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tiền đề cho công tác xây dựng Đảng tiếp tục phát huy trong những giai đoạn sau trong bối cảnh khi đất nước bị chia cắt làm hai miền
2.1.2 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn mới tác động đến xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở miền Bắc
Từ những năm 50 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thống trên thế giới Các Đảng Cộng sản và công nhân đã lên cầm quyền ở 13 nước xã hội chủ nghĩa, lực lượng đảng viên cộng sản của các đảng trên thế giới năm 1960
là 36 triệu người [124, tr.110] Các nước xã hội chủ nghĩa đang ở giai đoạn phát
triển cao, có vai trò và ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị thế giới
Sự phát triển của ba dòng thác cách mạng trên thế giới đã tác động tích cực cả về vật chất và tinh thần đối với cách mạng nước ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, quá độ lên chủ nghĩa xã hội Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ-La tinh đã trở thành một dòng thác cách mạng mang hình thức mới là đấu tranh vũ trang và chĩa mũi nhọn chống đế quốc Mỹ Phong trào độc lập dân tộc trên thế giới làm suy yếu, phân tán lực lượng chủ nghĩa đế quốc, cổ vũ tinh thần đấu tranh
Trang 4037
của nhân dân miền Nam, hỗ trợ tích cực cho cách mạng miền Bắc Trong khu vực, cùng với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là sự phát triển của cách mạng Lào và Nhà nước Campuchia theo đường lối hòa bình, trung lập đã tạo thuận lợi đến cách mạng Việt Nam
Tình hình thế giới cũng có những phức tạp, gây khó khăn bất lợi cho
cách mạng Việt Nam Các nước xã hội chủ nghĩa tuy đã trở thành hệ thống
nhưng vẫn đứng trước nhiều khó khăn về vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả những vấn đề về xây dựng Đảng Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế xuất hiện những xu hướng tư tưởng khác nhau, những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, “tả khuynh”, hữu khuynh dẫn tới sự bất đồng, mâu thuẫn, có lúc phát triển gay gắt
Thắng lợi của chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ cùng với Hiệp định Giơnevơ (7-1954) đã đưa cách mạng Việt Nam sang giai đoạn mới: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, và đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, căn bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, nhân dân và từng bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; tạo cơ sở vững chắc cho nhân dân cả nước đấu tranh để thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Trong khi đó đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp trực tiếp với âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Mỹ và tay sai ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, mở nhiều đợt “tố cộng”, “diệt cộng” đàn
áp các cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc mà còn nhằm làm hậu phương vững chắc cho miền Nam Bởi lẽ miền Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Mỹ, tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Hai miền thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước