1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống ERP, chất lượng thông tin kế toán, lợi ích kế toán và sự hài lòng của người sử dụng cuối trong môi trường ERP: một thực nghiệm tại Tp. Hồ Chí Minh

223 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên các trang báo mạng, các bài nghiên cứu, hay thậm chí cả những kinh nghiệm của các kĩ sư trực tiếp tư vấn triển khai ERP gần đây cho thấy có rất nhiều lý do có thể dẫn đến việc một s

Trang 1

-oOo

DOÃN THỊ THANH MAI

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG ERP, CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN, LỢI ÍCH KẾ TOÁN VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG CUỐI TRONG MÔI TRƯỜNG ERP: MỘT THỰC NGHIỆM TẠI TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

-oOo

DOÃN THỊ THANH MAI

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG ERP, CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN, LỢI ÍCH KẾ TOÁN VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG CUỐI TRONG MÔI TRƯỜNG ERP: MỘT THỰC NGHIỆM TẠI TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN BÍCH LIÊN

Tp Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn: “Mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống ERP,

chất lượng thông tin kế toán, lợi ích kế toán và sự hài lòng của người sử dụng cuối trong môi trường ERP: Một thực nghiệm tại TP Hồ Chí Minh” là công

trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của cá nhân tác giả thực hiện cùng với sự hỗ trợ của Giáo viên hướng dẫn Ts Nguyễn Bích Liên và các thầy cô Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây

Ngoài ra, trong luận văn còn có sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác thì đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc cụ thể

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung trong luận văn của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Doãn Thị Thanh Mai

Trang 4

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Bối Cảnh Và Lý Do Chọn Vấn Đề Nghiên Cứu 1

1.1 Tổng quan về vấn đế nghiên cứu và lý do chọn đề tài 1

1.2 Tính cấp thiết của vấn đề cần nghiên cứu 3

1.3 Các nghiên cứu có liên quan 4

2 Mục Tiêu Và Câu Hỏi Nghiên Cứu 6

3 Đối Tượng Và Phạm Vi Nghiên Cứu 7

4 Phương Pháp Nghiên Cứu 7

5 Ý Nghĩa Và Đóng Góp Mới Của Đề Tài 8

5.1 Đóng góp về mặt lý luận 8

5.2 Đóng góp về mặt thực tế 9

6 Kết Cấu Của Luận Văn 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG KẾ TOÁN AISs TRONG MÔI TRƯỜNG ERP 11

1.1 Hệ Thống Hoạch Định Nguồn Lực Doanh Nghiệp (ERP) 11

1.1.1 Quan điểm về hệ thống ERP trong môi trường kinh doanh hiện nay 11

1.1.1.1 Khái quát về hệ thống ERP 11

1.1.1.2 Tóm lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ERP 15

1.1.1.3 Những thuận lợi và bất lợi trong môi trường ERP 17

1.1.1.4 Các phân hệ chức năng trong hệ thống ERP 19

1.1.2 Thị trường ERP với xu hướng phát triển toàn cầu 21

Trang 5

1.2.1 Khái niệm hệ thống thông tin kế toán AISs 26

1.2.2 Vai trò và chức năng của hệ thống thông tin kế toán AISs trong doanh nghiệp 28

1.2.3 Hệ thống thông tin kế toán AISs trong môi trường ERP 30

1.3 Vai Trò Của Thông Tin Kế Toán Trong Doanh Nghiệp 34

1.3.1 Thông tin trong cấu trúc tổ chức quản trị 34

1.3.2 Vai trò của thông tin kế toán trong doanh nghiệp 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 40

2.1 Tổng Quan Các Nghiên Cứu Trước Đây 40

2.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 40

2.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 55

2.2 Khe Trống Trong Nghiên Cứu 58

2.3 Các Khái Niệm Nghiên Cứu Của Đề Tài 59

2.3.1 Người sử dụng cuối 59

2.3.2 Chất lượng hệ thống ERP 61

2.3.3 Chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP 62

2.3.4 Lợi ích kế toán trong môi trường ERP 62

2.4 Lý Thuyết Nền 63

2.4.1 Lý thuyết truyền thông - Communication Theory 63

2.4.2 Mô hình D&M – D&M Model 64

2.4.3.Mô hình lý thuyết kì vọng xác nhận - Expectation Confirmation Theory 66 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 69

3.1 Xây Dựng Mô Hình Và Các Giả Thuyết Nghiên Cứu 69

3.1.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu 69

3.1.2 Đề xuất các giả thuyết nghiên cứu 69

Trang 6

3.2.2 Thang đo chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP 75

3.2.3 Thang đo lợi ích kế toán trong môi trường ERP 77

3.2.4 Thang đo sự hài lòng của người sử dụng cuối 80

3.3 Quy Trình Nghiên Cứu Của Luận Văn 82

3.4 Phương Pháp Nghiên Cứu 84

3.4.1 Khảo sát ý kiến chuyên gia 84

3.4.2 Nghiên cứu chính thức 85

3.4.2.1 Xây dựng bảng câu hỏi nghiên cứu 85

3.4.2.2 Xác định mẫu nghiên cứu 85

3.4.2.3 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 87

3.4.2.4 Phương pháp xử lý số liệu thu thập 88

3.5 Phân Tích Dữ Liệu Nghiên Cứu 89

3.5.1 Thống kê mô tả dữ liệu 89

3.5.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 90

3.5.3 Phân tích biến trung gian dựa trên kết quả của SPSS 92

3.5.4 Kiểm định tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 96

4.1 Kết Quả Nghiên Cứu 96

4.1.1 Mô tả thống kê mẫu nghiên cứu 96

4.1.2 Đánh giá độ tin cậy và phù hợp của thang đo 99

4.1.2.1 Phân tích thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 99

4.1.2.2 Kiểm định lại giá trị thang đo bằng mô hình EFA 103

4.1.3.Xem xét sự ảnh hưởng của biến trung gian dựa trên kết quả của SPSS 104 4.1.4 Kiểm định mối tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính 105

4.1.4.1 Kiểm định hệ số tương quan Pearson 105

4.1.4.2 Phân tích hồi quy 105

Trang 7

4.2.1 Kết luận rút ra qua nhân tố các biến độc lập 111

4.2.2 Kết luận rút ra qua nhân tố các biến phụ thuộc 114

4.2.3 Kết luận rút ra từ phân tích mối quan hệ giữa các biến 116

4.3 Thảo Luận Về Kết Quả Nghiên Cứu 117

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 121

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 122

5.1 Hàm Ý Thực Tiễn 122

5.2 Hạn Chế Của Nghiên Cứu Và Các Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo 125

5.2.1 Hạn chế của nghiên cứu 125

5.2.1.1 Hạn chế về dữ liệu nghiên cứu 125

5.2.1.2 Hạn chế về phương pháp nghiên cứu 126

5.2.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 127

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 129

PHẦN KẾT LUẬN CHUNG 130 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

ERP : Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp

(Enterprise Resource Planning)

IS : Hệ thống thông tin (Information Systems)

ES : Hệ thống doanh nghiệp (Enterprise Systems)

AISs: : Hệ thống thông tin kế toán (Accounting Information Systems) HTTT : Hệ thống thông tin

HTTTKT : Hệ thống thông tin kế toán

SOA : Kiến trúc được định hướng về dịch vụ

(Service-oriented architecture)

CRM : Quản trị mối quan hệ khách hàng

(Customer Relationship Management) SCM : Quản trị chuỗi cung ứng

(Supply Chain Management) TPS : Hệ thống xử lý giao dịch (Transaction Processing System) MIS : Hệ thống thông tin quản lý (Management Information System) DSS : Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support Systems)

ESS : Hệ thống hỗ trợ điều hành (Executive Support Systems)

BI : Phân tích kinh doanh nâng cao (Business Intelligence)

IT : Công nghệ thông tin (Information Technology)

Mô hình D&M : Mô hình hệ thống thông tin IS thành công

của hai tác giả W.DeLone và Mc.Lean

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Bảng thang đo chất lượng hệ thống ERP 74

Bảng 3.2 Bảng thang đo chất lượng thông tin kế toán đầu ra trong môi

Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả đặc tính đối tượng quan sát 96

Bảng 4.2 Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo 99

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Thông tin truyền dẫn trong môi trường kinh doanh trước khi

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Bối cảnh và lý do chọn vấn đề nghiên cứu

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và lý do chọn đề tài

Bắt đầu gia nhập thị trường Việt Nam từ những năm 2000 cùng với các tập đoàn hàng đầu về giải pháp ứng dụng toàn diện dành cho doanh nghiệp như SAP, Oracle, Microsoft Dynamic… hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp Enterprise Resource Planning (ERP) giờ đây không còn là điều gì mới lạ ở thị trường Việt Nam Cách hiểu đơn giản nhất theo như tên gọi thì hệ thống ERP về cơ bản là một hệ thống phần mềm hoạch định nguồn lực doanh nghiệp, hệ thống này có tác dụng tối ưu hóa trong việc sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp bằng cách tập hợp, truyền dẫn, lưu trữ và báo cáo thông tin về các nguồn lực Trong khoảng thời gian ban đầu thì phân khúc thị trường ERP chỉ nhắm đến những tập đoàn có sẵn nguồn vốn triển khai rất lớn trị giá lên tới 12,6 tr USD như Tập Đoàn Xăng Dầu Việt Nam (Petrolimex), FPT, sau đó là Vietsovpetro, Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam, Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam, Vinamilk (4tr USD)… Dưới sức hấp dẫn về một thị trường ERP đầy tiềm năng, các công ty lập trình xuất thân từ phân hệ kế toán Việt cũng không bỏ qua cơ hội này Với mục đích đáp ứng nhu cầu ERP cho các doanh nghiệp

có quy mô vừa phải và cũng đang đứng trước yêu cầu thay đổi tái cơ cấu toàn diện, thì các công ty này dần bước sang thị trường ERP Việt với những dòng sản phẩm như SureERP của LacViet’s AccNet 2000, AMIS.VN của Misa, Fast Business của Fast, Bravo ERP, Ecount ERP…Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đến năm 2009 là thời điểm đánh dấu là sự bùng nổ mạnh mẽ của thị trường ERP trong nước, có những thời điểm ERP được xem như là “chìa khóa vạn năng” cho mọi vấn đề của các doanh nghiệp, hay là “chiếc gậy thần” dẫn dắt doanh nghiệp đi đến thành công Các doanh nghiệp lớn, nhỏ thi nhau bỏ ra những khoản tiền vô cùng lớn để đầu tư vào những “cỗ máy kì diệu” này Nhưng thực tế đã chứng minh một điều ngược lại, theo thống kê của phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam VCCI tính đến T6/2006 chỉ có 1,1% doanh nghiệp Việt ứng dụng giải pháp ERP, còn theo những nhận định của các chuyên gia hàng đầu trên toàn thế giới thì “Gần 70% dự án ứng dụng ERP có kết cục thất bại” (Gartner Group); “Khoảng 50% khách hàng sử dụng ERP cho rằng các

Trang 13

chương trình phần mềm không đạt được mục đích đề ra, chỉ 30% hài lòng với sự thành công của dự án này” (Boston Consulting Group) Trên các trang báo mạng, các bài nghiên cứu, hay thậm chí cả những kinh nghiệm của các kĩ sư trực tiếp tư vấn triển khai ERP gần đây cho thấy có rất nhiều lý do có thể dẫn đến việc một số doanh nghiệp đã phải tạm dừng giai đoạn giữa chừng, chịu mất một khoản tiền lớn khi không lường trước được những khó khăn phát sinh về tài chính, nhân viên phát sinh nhiều công việc làm thêm, kéo dài thời gian triển khai, hệ thống phát sinh nhiều lỗi, nhiều bất đồng quan điểm trong quá trình triển khai dự án, hay phần mềm triển khai xong không mang lại kết quả như mong đợi, không đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dùng v.v Vậy vì sao mà hiện nay tất cả những doanh nghiệp có quy mô lớn trên thị trường đều nhanh chóng tìm kiếm đối tác và thiết lập kế hoạch xây dựng hệ thống ERP của mình bất chấp mọi thông tin thực tế của các doanh nghiệp đã ứng dụng ERP

ở Việt Nam đều cho rằng chi phí của một dự án ERP là rất lớn, và có mức độ rủi ro rất cao? Và sau khi hệ thống ERP được triển khai thì các nhân tố nào được dùng để đánh giá về kết quả đạt được của một hệ thống ERP? Những câu hỏi này cũng là xuất phát điểm thôi thúc tác giả tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này

Nếu nhìn dưới góc độ kế toán trong một doanh nghiệp thì hệ thống thông tin kế toán AISs (Accounting Information Systems) là một thành phần cấu trúc đặc biệt của

hệ thống thông tin quản lý MIS (Management Information System) nhằm thu thập xử

lý và báo cáo các thông tin liên quan đến các nghiệp vụ tài chính (Gelinas, Sutton & Oram, 1999) nằm trong hệ thống ERP Bên cạnh đó hệ thống kế toán AISs cũng được xem là hệ thống trung tâm, trái tim của hệ thống ERP, là một hệ thống tập trung toàn

bộ dữ liệu thông tin kế toán – tài chính giải quyết phần lớn các quyết định liên quan đến các chức năng kinh doanh chính của doanh nghiệp Do đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lượng thông tin tạo ra trong môi trường ERP có tác động đáng kể đối với sự hữu ích được nhận thức (Shih, 2004; Wu & Wang, 2006), và các yếu tố chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và lợi ích được nhận thức có tác động đến sự hài lòng của người sử dụng (H DeLone & R McLean, 2003) Đặc biệt là các lợi ích

kế toán đạt được trong môi trường ERP có tác động rất tích cực đến sự hài lòng của người sử dụng (Charalambos Spathis, 2013) Vì thời gian nghiên cứu cho một chuyên

Trang 14

đề thạc sĩ kế toán có hạn, nên tác giả đã giới hạn phạm vi nghiên cứu theo chuyên ngành hẹp và chuyên sâu hơn đối với lĩnh vực hệ thống thông tin kế toán

1.2 Tính cấp thiết của vấn đề cần nghiên cứu

Đề tài này thực sự là cần thiết trong sự biến đổi thông tin không ngừng như hiện nay và những lý do chính cho vấn đề này là:

Đặc tính tức thời của thông tin hiện nay là yếu tố sống còn trong một thị trường cạnh tranh: Với sự phát triển như vũ bão của thời đại công nghệ thông tin

trong thế kỉ 21, thì thông tin giờ đây được ví như một thế giới phẳng mọi khoảng cách cũng như giới hạn về việc tiếp cận thông tin bị phá vỡ, và hiện tại thế giới đang hướng đến nhiều hơn việc chia sẻ thông tin Môi trường kinh doanh càng ngày càng phức tạp, không chắc chắn, không dự báo trước được và các yếu tố kinh doanh thì luôn biến động không ngừng do đó dữ liệu thông tin nói riêng và yếu nguồn lực thông tin nói chung ngày nay quan trọng hơn bao giờ hết đến các quyết định của cá nhân, nhóm trong một doanh nghiệp Thông tin giờ đây không chỉ đơn giản là yêu cầu về số lượng

mà quan trọng hơn cả là những thông tin có chất lượng và kịp thời

Các quyết định giờ đây chủ yếu dựa trên phân tích: Nếu trước đây các ông

chủ (người quản lý) phần lớn dựa vào các kĩ năng và kinh nghiệm kinh doanh của mình để ra quyết định, thì giờ đây các quyết định như vậy lại mang yếu tố rủi ro rất cao, tỉ lệ phần trăm thất bại là rất lớn Thay thế vào đó hiện tại các công ty ra quyết định dựa trên phân tích, và để thực hiện được việc ra quyết định dựa trên phân tích đạt hiệu quả cao nhất thì việc tổng hợp nguồn thông tin kế toán thiết yếu, nhanh chóng

và phù hợp lại chính là chìa khóa

Tính trách nhiệm và đạo đức trong việc ra quyết định ở các doanh nghiệp lớn mang tính chất toàn cầu: hiện nay những công ty lớn, những tập đoàn toàn cầu thì

không cho phép có sai sót trong quá trình ra quyết định, hay đúng hơn là xác suất xảy

ra sai sót cho phép của các quyết định cấp cao là vô cùng nhỏ, thậm chí cần phải có

sự phân tích của rất nhiều các phương án thay thế và dự báo xác suất đi kèm trong mỗi quyết định đó Đây cũng chính là lý do các doanh nghiệp phải dựa vào các thông tin phân tích, nhất là thông tin kế toán để giảm thiểu tối đa các mức độ rủi ro này

Trang 15

Vai trò của ERP trong môi trường kế toán quản trị:

- Giờ đây một khi các công ty đã tìm cách khai thác tối đa công suất máy móc, đạt tầm cao về tiến bộ khoa học công nghệ tự động hóa, giảm thiểu nhất chi phí có thể thì giờ đây các chi phí về tài sản hữu hình trong các báo cáo tài chính sẽ chiếm một tỉ trọng giảm dần và thay vào đó tài sản vô hình ngày càng trở thành một nguồn tài sản có tính chất quan trọng, khó nắm bắt và đo lường nhất Nguồn lực thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng trong tài sản vô hình vì nó tác động lên toàn bộ hệ thống của doanh nghiệp Do đó nguồn lực này cần phải được khai thác một các tổng thể và toàn diện trong doanh nghiệp, chứ không chỉ khai thác cục bộ trong một số bộ phận nắm bắt thông tin, và chỉ có hệ thống ERP mới có khả năng làm điều này Với

sự hỗ trợ của nền tảng khoa học công nghệ thông tin thì ERP có khả năng hỗ trợ nguồn lực thông tin kế toán tốt nhất để phục vụ yêu cầu của nhà quản trị, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định đúng và phù hợp

- Hệ thống ERP kết nối và chia sẻ những kết quả đạt được của từng cá nhân, từng

bộ phận cũng được cập nhật dữ liệu theo ngày cho phép bộ phận nhân sự theo dõi và đánh giá tốt nhất nguồn nhân lực, hình thành định hướng cho các quyết định quản trị nguồn nhân lực trong tương lai

Do tính thời sự trong vấn đề ứng dụng hệ thống ERP hiện nay, cũng như tầm

quan trọng của thông tin kế toán trong việc ra quyết định đối với các cấp quản trị

tác giả thấy rằng việc tìm hiểu về vấn đề này là thật sự cần thiết trong bối cảnh kinh

tế hội nhập kinh tế Qua nghiên cứu này, mục đích cao nhất vẫn là hướng tới sự nhận thức một cách đúng đắn về hệ thống thông tin ERP và tầm quan trọng mà nó mang lại sẽ giúp cho những cá nhân, tổ chức hiểu cần phải làm như thế nào để hoàn thiện

hệ thống nguồn lực thông tin kế toán của chính doanh nghiệp mình

1.3 Các nghiên cứu có liên quan

Qua theo dõi lịch sử quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ERP thì đã

có rất nhiều đề tài đề cập đến vấn đề này Theo Rerup Schlichter và Pernille Kraemmergaard (2010) thì chỉ tính riêng từ năm 2001 đến năm 2010 đã có đến 885 bài nghiên cứu về các vần đề liên quan đến ERP được công bố trên các tạp chí Trong

đó, bao gồm rất nhiều ngành kiến thức khác nhau như: lĩnh vực thông tin quản lý

Trang 16

(chiếm 24%), kế toán (chiếm 9%), quản lý hoạt động (chiếm 31%), tổ chức và quản

lý (13%), khoa học về máy tính (15%), và lĩnh vực khác (8%) Bên cạnh đó, nội dung của các bài nghiên cứu cũng rất đa dạng và phong phú: thực thi ERP, tối ưu hóa ERP, đào tạo ERP, thị trường và ngành ERP Còn riêng các nghiên cứu đề cập đến việc

đo lường hệ thống ERP theo mô hình hệ thống thông tin IS thành công của 2 tác giả DeLone & Mc.Lean từ năm 1992 đến năm 2007 cũng đã có tới 180 bài nghiên cứu

có liên quan, điều đó cho thấy các nghiên cứu về hệ thống ERP đã xuất hiện từ rất lâu với rất nhiều nội dung đa dạng và phong phú (DeLone & Mc.Lean, 2008)

Còn ở Việt Nam phải đến năm 2000 những hệ thống ERP nước ngoài mới bắt đầu thâm nhập vào thị trường Việt, do đó các nghiên cứu về đề tài này cho đến nay

có tính đa dạng ít hơn so với các nghiên cứu nước ngoài Ban đầu, đa số các nghiên cứu chỉ tập trung vào một khía cạnh cụ thể của ERP như: Các yếu tố tác động đến việc triển khai thành công ERP (Trần Thanh Thúy, 2011; Lê Thị Thu Chung, 2012; Ngô Duy Hinh, 2013; Nguyễn Hữu Hoàng Thọ, 2013; Bùi Thị Thanh, 2014); Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống ERP tại Việt Nam (Nguyễn Bích Liên, 2012); Ứng dụng triển khai ERP thực tế tại các Doanh nghiệp: Ngành dệt may (Nguyễn Thị Hạnh, 2006); Ngành giáo dục Anh Văn Hội Việt Mỹ (Trần Thị Thủy Tiên, 2014); Tập đoàn điện lực Việt nam (Bùi Thị Hồng, 2013); Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí PVFC (Phạm Hồng Thái, 2013) Tuy nhiên đa số các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc khai thác khía cạnh triển khai ERP còn việc đo lường sự hài lòng và lợi ích đạt được sau khi sử dụng hệ thống thì trong những năm gần đây mới bắt đầu được chú ý nhiều hơn: Nâng cao nhận thức về lợi ích của việc sử dụng ERP trong hoạt động kế toán doanh nghiệp (Nguyễn Quang Khải, 2015); Sự Tác động của ERP đến kế toán quản trị tại các doanh nghiệp tại Việt Nam (Nguyễn Thị Kim Phước, 2016); Lợi ích

kế toán của ERP và sự hài lòng của người sử dụng trong môi trường kế toán Việt

Nam (Trần Thị Thu Hiền, 2015) Qua đó cho ta thấy rằng với sự bùng nổ của thị

trường ERP, thì rất nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của hệ thống ERP Nên đây cũng là một lĩnh vực mở cho các nghiên cứu khoa học ứng dụng để tiến hành đánh giá và đo lường sự thành công mà hệ thống ERP mang

Trang 17

lại cho doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực thông tin kế toán-tài chính trái tim của

hệ thống ERP

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chung: Tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa bốn yếu

tố về lợi ích chính trong mô hình hệ thống thông tin thành công IS (mô hình D&M)

dưới góc độ cá nhân người sử dụng hệ thống ERP giới hạn trong chuyên ngành hẹp

về hệ thống thông tin kế toán AISs bao gồm: Chất lượng hệ thống ERP, chất lượng

thông tin kế toán, lợi ích kế toán và sự hài lòng của người sử dụng cuối

đó sẽ tiến hành kiểm định thực tiễn tại các doanh nghiệp ứng dụng hệ thống ERP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Câu hỏi nghiên cứu:

Thứ nhất: Xét dưới góc độ cá nhân người sử dụng cuối về thông tin kế toán trong môi

trường ERP họ đánh giá như thế nào về các nhân tố: chất lượng hệ thống ERP, chất lượng thông tin kế toán, và lợi ích kế toán đạt được trong môi trường ERP?

Thứ hai: Trong môi trường ERP thì chất lượng thông tin kế toán có tác động như thế

nào đến các lợi ích kế toán đạt được?

Thứ ba: Trong môi trường ERP những yếu tố chất lượng hệ thống ERP, chất lượng

thông tin kế toán, lợi ích kế toán có ảnh hưởng như thế nào đến sự hài lòng của người

sử dụng cuối?

Trang 18

Thứ tư: Có sự khác biệt trong nhận thức về lợi ích kế toán và sự hài lòng của người

sử dụng cuối đối với các phân hệ phần mềm khác nhau, các nhóm người sử dụng ERP với kinh nghiệm khác nhau, hay giữa các cấp nhân viên và quản lý hoạt động khác nhau hay không?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của

người sử dụng cuối trong môi trường ERP, xét theo chuyên ngành hẹp về hệ thống thông tin kế toán bao gồm: Chất lượng hệ thống ERP, chất lượng thông tin kế toán, lợi ích kế toán và mối tương quan của các nhân tố này trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP Tại TP Hồ Chí Minh

Đối tượng khảo sát: Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu các nhóm lợi ích chính

trong mô hình hệ thống thông tin thành công dưới góc độ người sử dụng cuối về thông tin kế toán trong môi trường ERP như: Chất lượng hệ thống ERP, chất lượng thông tin kế toán, lợi ích kế toán và sự hài lòng của người sử dụng cuối

Đối tượng cụ thể ở đây là: Các nhân viên kế toán quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán trưởng, nhân viên tài chính, giám đốc tài chính, nhân viên kế hoạch tổng hợp, trưởng các bộ phận, phòng ban, giám đốc điều hành bộ phận sản xuất, kinh doanh (những người có sử dụng nhiều thông tin kế toán – tài chính trong công việc lập báo cáo, phân tích hỗ trợ cho việc ra quyết định của các nhà quản lý trong doanh nghiệp) trong các công ty có ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp đã sử dụng hệ thống ERP tại TP Hồ Chí Minh

- Phạm vi thời gian khảo sát: Từ T10 đến T11 năm 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng để thiết lập mô hình nghiên cứu

Trang 19

Phương pháp nghiên cứu định tính: Sau khi xác định rõ mục tiêu nghiên cứu của

đề tài, tác giả tiến hành tìm hiểu rõ về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích ròng, sự hài lòng của người sử dụng torng môi trường ERP trongmô hình hệ thống thông tin thành công của DeLone và McLean (2008) cùng một số lý thuyết bổ trợ, và các nghiên cứu

có liên quan Khi đã xây dựng được các nhân tố ảnh hưởng rõ ràng và cụ thể hơn, tác giả sẽ chọn lọc, bổ sung và hiệu chỉnh hệ thống thang đo của từng nhân tố

Sau khi đã xây dựng được mô hình nghiên cứu cùng các thang đo ban đầu, tác

giả sẽ tiến hành tham khảo ý kiến của 3 nhóm chuyên gia: 1 chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, 2 chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin và quản trị mạng, 6 chuyên gia có kinh nghiệm trên 3 năm trong môi trường ERP và làm việc tại các vị trí: tài chính, kế toán, kế hoạch tổng hợp, quản trị hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh Để từ đó rút ra những ý kiến nhận xét bổ sung cho tính thực tiễn, và sự chấp nhận về cách diễn đạt nội dung khảo sát cũng như các yếu tố thang đo hỗ trợ

cho việc tiến hành khảo sát thực tế

Phương pháp phân tích định lượng:

Bảng câu hỏi khảo sát được lập theo thang đo Likert 5 điểm với các mức độ

đánh giá khác nhau theo mức độ tăng dần

Dựa trên Bảng câu hỏi phù hợp nhất mà tác giả tổng hợp được từ việc tham khảo ý kiến chuyên gia, tác giả đi tiến hành khảo sát lấy ý kiến của những người sử dụng cuối là các nhân viên, hoặc quản lý các cấp trong các doanh nghiệp ứng dụng ERP (thỏa điều kiện về tính tương tác với hệ thống ERP và có dùng các thông tin kế toán trong công việc của mình) Dữ liệu được khảo sát qua mail điện tử (85%), qua gọi điện thoại, phương tiện liên lạc điện tử trực tiếp (15%)

Qua kết quả phân tích chủ yếu dựa trên các phương pháp phân tích thống kê mô

tả, kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích tương quan và phân tích hồi quy qua phần mềm SPSS 20.0, tác giả sẽ đưa ra những kết luận dựa trên kết quả phân tích và

từ đó phân tích các hàm ý nghiên cứu, cũng như đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo cho vấn đề này

5 Ý nghĩa và đóng góp mới của đề tài

5.1 Đóng góp về mặt lý luận

Trang 20

sử dụng cuối trong hệ thống ERP để tiến hành xem xét 4 yếu tố: chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, lợi ích ròng và sự hài lòng của người sử dụng cuối trong mô hình đo lường hệ thống thông tin IS thành công (DeLone và McLean, 1992 – 2008)

- Xây dựng hệ thống thang đo dựa trên cách thức quan sát lịch sử phát triển của

mô hình D&M (DeLone và McLean, 1992–2008), và các nghiên cứu có liên quan để thấy được tính ổn định trong thang đo của các nhân tố, cũng như các mối quan hệ của các nhân tố này theo thời gian, qua đó làm căn cứ chọn lọc ra những yếu tố phù hợp nhất cho vấn đề đo lường thực nghiệm Sau đó tiến hành đánh giá lại thang đo của 4 nhân tố trong thị trường ERP tại Việt Nam

- Xem xét các yếu tố tác động lẫn nhau trong một bức tranh tổng thể để thấy được những lợi ích mà hệ thống thông tin kế toán AISs đạt được trong môi trường ERP

để người dùng cảm nhận được các lợi ích mà hệ thống ERP mang lại cho hệ thống thông tin kế toán AISs của doanh nghiệp về mặt chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin kế toán và lợi ích kế toán

- Từ yếu tố nhận thức của người dùng về vấn đề sử dụng thông tin kế toán tích hợp trong hệ thống ERP sẽ hình thành nên sự hài lòng về quy trình và chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP Chính sự nhận thức này cũng sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng thông tin trong hệ thống cho các quyết định trong công việc của mỗi

cá nhân Một khi nhu cầu sử dụng thông tin có chất lượng tăng lên thì bản thân người dùng cũng sẽ nhận thức rõ hơn nữa về các lợi ích này trong việc xây dựng và cải thiện

hệ thống thông tin của doanh nghiệp mình Từ đó lại càng làm tăng thêm khả năng đáp ứng tốt nhu cầu thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định của các nhà quản trị

Trang 21

Luận văn cũng sẽ là một sự tham khảo giúp cho những doanh nghiệp quan tâm

đến việc xây dựng một hệ thống ERP trong tương lai sẽ hiểu được hệ thống này thực

sự mang lại lợi ích gì trên thực tế, và doanh nghiệp cần phải tập trung vào đâu trước

khi tiến hành xây dựng một hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP để

đảm bảo được việc khai thác nguồn lực thông tin một cách hiệu quả nhất

- Phân biệt được lợi ích ERP nói chung và lợi ích của hệ thống thông tin kế toán

AISs đạt được trong môi trường ERP nói riêng trên thực tế

- Đối với những doanh nghiệp đang sử dụng ERP thì bài nghiên cứu muốn chỉ

ra rằng nếu mỗi cá nhân trong doanh nghiệp ý thức được việc thực hiện ERP cũng

như tầm quan trọng của nguồn thông tin mà hệ thống tạo ra, thì họ sẽ có những hành

động tích cực hơn để xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ nguồn lực thông tin này cho các

bước đi phát triển bền vững dựa trên tổng thể hệ thống nguồn lực thông tin doanh

nghiệp trong tương lai

6 Kết cấu của luận văn

Bố cục luận văn theo trình tự 5 chương như sau:

Phần Mở Đầu

Chương 1 – Tổng Quan Hệ Thống Thông Tin Kế Toán AISs Trong Môi

Trường ERP

Chương 2 – Tổng Quan Nghiên Cứu Và Cơ Sở Lý Thuyết

Chương 3 – Phương Pháp Nghiên Cứu

Chương 4 – Phân Tích Kết Quả Nghiên Cứu

Chương 5 – Kết Luận Và Các Hàm Ý Nghiên Cứu

Phần Kết Luận

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN AISs

TRONG MÔI TRƯỜNG ERP

Trước khi đi vào phân tích các nghiên cứu trước đây về hệ thống ERP cũng như các yếu tố lợi ích có liên quan, thì tác giả tác giả thấy cần có một chương để làm

rõ hơn về các khái niệm nghiên cứu chính như hệ thống ERP cũng như ảnh hưởng của thông tin kế toán, của hệ thống thông tin kế toán AISs trong môi trường ERP Những nền tảng khái niệm cơ sở này sẽ giúp người đọc hiểu sâu hơn về các mặt lợi ích mà hệ thống ERP mang lại cho doanh nghiệp sẽ được đề cập đến trong các chương tiếp theo

1.1 Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP)

1.1.1 Quan điểm về hệ thống ERP trong môi trường kinh doanh hiện nay

1.1.1.1 Khái quát về hệ thống ERP

Trước tiên tác giả xin khái quát lại cách nhìn nhận về hệ thống thông tin ERP (Enterprise Resource Planning - Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp) Một

số thông tin được tìm thấy trên tạp chí nhất là các tạp chí thuộc lĩnh vực công nghệ thì xem ERP như là một hệ thống ứng dụng phần mềm mà doanh nghiệp sử dụng để nhập tất cả các dữ liệu đầu vào và chiết xuất tất cả các dữ liệu đầu ra là những thông tin cần thiết cho các báo cáo quản trị Nhưng khi ứng dụng hệ thống ERP vào thực tế thì kết quả cho thấy đây không chỉ là một phần mềm đơn thuần mà nó là một mô hình quản lý tích hợp tất cả các mặt, các khía cạnh thông tin về tất cả các lĩnh vực có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo khái niệm về học thuật thì ERP là sự thể hiện đơn nhất của dữ liệu, một chuỗi quy trình đầy đủ và có sự phụ thuộc lẫn nhau (Kallinikos, 2004)

Với vai trò là tổ chức đầu tiên hình thành nên khái niệm về hệ thống ERP vào thập kỉ 1990, tập đoàn Gartner cho rằng: “Hệ thống ERP đang thiết lập một tầm nhìn mới cho lĩnh vực quy hoạch tài nguyên Tầm nhìn này tập trung vào việc lập kế hoạch cho nguồn lực và sự chính xác của hàng tồn kho cũng tốt như những tầm nhìn vượt

Trang 23

ra ngoài nhà máy, hay toàn bộ doanh nghiệp sản xuất bất kể doanh nghiệp này là một nhà sản xuất theo quy trình toàn bộ hay nhà sản xuất rời rạc hay cả hai” Từ khi hệ thống ERP xuất hiện cùng với nhiều tính chất độc đáo khác nhau, thì hệ thống này đã

mở rộng và phản ánh trong thực tế nhiều ngành công nghiệp phi sản xuất cũng đã chuyển dần sang hệ thống ERP để phục vụ cho những khả năng xử lý giao dịch tài

chính xương sống của mình” (Bond và cộng sự, 2000, Trang 2, chú thích 2)

Hệ thống ERP là sự kết hợp giữa những hệ thống có tổ chức khác nhau, và tạo điều kiện cần thiết cho những giao dịch và quá trình sản xuất, kinh doanh không có lỗi, qua đó nâng cao hiệu quả của tổ chức Tuy nhiên, việc phát triển một phần mềm ERP thì khác hẳn với việc phát triển hệ thống phần mềm truyền thống khác, các hệ thống ERP chạy trên nhiều loại phần cứng máy tính và cấu hình mạng khác nhau, điển hình là việc sử dụng một dữ liệu cơ sở duy nhất như là một kho thông tin chung (Khosrow,Puor, Mehdi, 2006)

Theo định nghĩa của Website chuyên nghiên cứu về ERP

Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP là một thuật ngữ ngành cho một loạt các hoạt động giúp một tổ chức quản lý những hoạt động kinh doanh của nó Một mục tiêu quan trọng của phần mềm ERP là để tích hợp những quy trình làm việc của những phòng ban phía sau (Back-office: những bộ phận phòng ban trong doanh nghiệp không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng), và giúp cho việc lưu chuyển thông tin trong tổ chức trở nên dễ dàng hơn, để các quyết định kinh doanh thì có thể được đưa ra dựa trên dữ liệu

Trên thực tế ứng dụng thì phần mềm ERP được cấu tạo từ những thành phần (module) riêng lẻ, nhưng chúng không kết hợp với nhau theo phương pháp cộng dồn

mà là theo phương pháp tích hợp Cụ thể mỗi bộ phận thông tin trong ERP là một mảng quy trình theo những chức năng riêng: như quy trình trong bộ phận cung ứng, quản lý kho, sản xuất, kế toán, tài chính, nguồn nhân lực, Marketing, quản lý bán hàng, quản lý chuỗi phân phối và cung ứng… Nhưng giữa chúng có một mối liên kết chặt chẽ nghĩa là: những dữ liệu đầu vào này sẽ được tập hợp lại thành một nguồn

Trang 24

thông tin đơn nhất theo một quy trình logic và mỗi một phân hệ riêng lẻ này có thể truy cập để lấy dữ liệu hay chia sẻ dữ liệu thông tin mà nó lưu trữ cho một bộ phận thông tin khác, vì thế dòng chảy thông tin có thể dịch chuyển liên tục từ bộ phận này qua bộ phận khác Từ đó các nguồn thông tin trong doanh nghiệp được kết nối với nhau, người quản lý của công ty có thể lấy báo cáo của bất kì bộ phận hoạt động nào, trong bất kì thời điểm nào để có được cái nhìn toàn diện về các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh đúng theo nhu cầu của mình, do đó các báo cáo này có thể hỗ trợ giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định thường nhật cũng như quyết định chiến lược tốt và nhanh nhất

Và đặc biệt hơn thế nữa trên hệ thống quản trị nguồn lực ERP có tính thao tác phân quyền, mỗi dữ liệu thông tin được cập nhật thêm sẽ có một quy trình rõ ràng từ khâu nhập thông tin, kiểm tra thông tin, phê duyệt thông tin, lấy báo cáo từ các thông tin Các thao tác theo thứ tự được ủy quyền đến từng cá nhân, từng bộ phận với các trách nhiệm quy định rõ ràng theo một quy trình được chuẩn hóa Khi có bất kì một

sự cập nhật mới của thông tin nào thì nó ngay lập tức sẽ thể hiện trạng thái đã nhập

và sau đó sẽ được kiểm duyệt bởi bộ phận có thẩm quyền Nếu việc từ chối xảy ra thông tin sẽ quay về trạng thái ban đầu, còn nếu đảm bảo đủ điều kiện thông tin sẽ được cập nhật tính hợp lệ ngay trên hệ thống ở trạng thái đã duyệt, lúc đó mọi cá nhân ứng với trách nhiệm và quyền hạn của mình được giao sẽ có nguồn thông tin chính xác bất cứ lúc nào ngay sau khi thông tin được phê duyệt xong Và đồng thời các cấp

độ của thông tin cũng được thể hiện rõ ràng (Thông tin chứng từ ở mức độ mới cập nhật, đang trong quá trình luân chuyển hay đã được phê duyệt), để những người liên quan trực tiếp có thể xác định chính xác tình trạng thực tế của nguồn thông tin này tiện cho quá trình theo dõi, đối chiếu, và kiểm tra

Ta có thể hình dung sự khác nhau về mức độ kết nối thông tin giữa các doanh nghiệp sử dụng mô hình hệ thống thông tin thông thường với hệ thống thông tin trong môi trường ERP qua quá trình truyền dẫn thông tin về các nguồn lực hoạt động trong công ty trước và sau khi có hệ thống ERP

Trang 25

Hình 1.1: Thông tin truyền dẫn trong môi trường kinh doanh

trước khi có ERP

(Nguồn: tham khảo từ phần giới thiệu hệ thống ERP của SAP)

Hình 1.2: Thông tin truyền dẫn trong môi trường kinh doanh

sau khi sử dụng ERP

(Nguồn: tham khảo từ phần giới thiệu hệ thống ERP của SAP)

Trang 26

Cuối cùng mục tiêu chính của hệ thống ERP vẫn là: Cung cấp những thông tin

hữu ích (thông tin đáng tin cậy) cho đúng người dùng, vào đúng thời điểm để tạo

ra hiệu quả cao nhất trong các quyết định của từng cá nhân, từng bộ phận, hay toàn doanh nghiệp

1.1.1.2 Tóm lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ERP

ERP là hệ thống được xây dựng và hình thành khởi nguồn từ hệ thống thông tin

IS trong doanh nghiệp Trước đây, một doanh nghiệp nhỏ tập trung tại một vị trí, với

số lượng lao động nhỏ, quy trình đơn giản lúc đó sự truyền đạt thông tin có thể thực hiện một cách dễ dàng mà không cần đến một hệ thống vi tính hóa hiện đại Cùng với thời gian và sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thị trường thì giờ đây các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong một quy mô rất rộng vượt ra cả biên giới quốc gia, các công ty con và các chi nhánh phân bổ trên nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, số lượng lao động ở nhiều quốc gia khác nhau, quy trình sản xuất phức tạp và luôn phải tìm cách tối ưu hóa chi phí, cũng như cách thức quản lý và vận hành hệ thống sản xuất kinh doanh một cách hài hòa và nhịp nhàng nhất… đó là lúc hệ thống thông tin, cũng như sự truyền đạt thông tin vượt quá khả năng kiểm soát của con người, điều tất yếu con người cần phải tìm đến một hệ thống mới có thể hệ thống hóa thông tin một cách tập trung, cũng như truyền dữ liệu đến người tiếp nhận nhanh, chính xác và hiệu quả nhất ERP ra đời để thực hiện nhiệm vụ đó, điều đó thể hiện khá rõ trong suốt quá trình mở rộng và phát triển vai trò của hệ thống thông tin IS trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý Cùng với yêu cầu về sự mở rộng vai trò của hệ thống thông tin IS đã có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển của hệ thống

ERP cũng như hệ thống AISs (Xem thêm Phụ lục A-1 Các giai đoạn phát triển của

hệ thống AISs, ERP thông qua vai trò của hệ thống thông tin IS) Qua từng thập niên

mở rộng, yêu cầu về vai trò thông tin IS đòi hỏi ngày càng cao, càng phức tạp thì hệ thống ERP đã phát triển lần lượt vượt qua các giới hạn liên quan đến các nguồn thông tin khác nhau giữa các nghiệp vụ, rồi đến giới hạn các phòng ban chức năng, lĩnh vực khác nhau, tiếp tới ranh giới vị trí địa lý, và vươn xa hơn nữa vươn tới nhu cầu khách

hàng… để tạo thành một nguồn thông tin đơn nhất đạt những yêu cầu khắt khe về

Trang 27

tính tích hợp, tính tức thời và khả năng toàn diện

Với những yêu cầu cấp thiết như trên thì hệ thống ERP đã phát triển khởi nguồn

từ hệ thống ERP (1990) đến ERP mở rộng, ERP II (2000) và sau đó ERP III (2010):

Hình 1.3: Sự phát triển của ERP dựa trên ảnh hưởng của công nghệ

( Nguồn: Luminița Hurbean & Doina Fotache, 2014)

Vào những năm cuối thế kỉ 20, hệ thống ERP II được khởi tạo với mục tiêu đáp ứng nhu cầu thông tin tại thời điểm này Trong tựa đề một bài báo của Gartner Publications có viết rằng “ ERP đã chết – ERP II chu kỳ sống dài” theo báo cáo của Gartner Publications (B Bond, Y Genovese, D MiklovicN Wood, B Zrimsek, N Rayner, 2000) Bài báo mô tả rằng hệ thống phần mềm dựa trên website sẽ cung cấp

dữ liệu theo thời gian thực được thực hiện bởi quyền truy cập vào hệ thống ERP cho nhân viên và cho đối tác (như là nhà cung cấp và khách hàng) Tầm nhìn của hệ thống ERP II hướng tới việc giải quyết các vấn đề của tương lai bằng cách tập trung vào các lĩnh vực chuyên sâu kết hợp với liên doanh hợp tác hơn là chỉ tập trung vào các quy trình kinh doanh của doanh nghiệp Hệ thống ERP II bao gồm sáu yếu tố liên quan đến chiến lược kinh doanh, ứng dụng và kĩ thuật công nghệ bao gồm: (1) vai trò của ERP II, (2) lĩnh vực kinh doanh của nó, (3) chức năng được giải quyết trong phân

hệ đó, (4) các loại quy trình yêu cầu ở các chức năng, (5) các kĩ thuật của hệ thống

có thể hỗ trợ cho những quy trình này, (6) cách thức xử lý dữ liệu trong những cấu trúc đó Ngoại trừ phần cấu trúc, thì ERP II đại diện cho một sự mở rộng của ERP truyền thống ERP II thúc đẩy thông tin trong các nguồn lực dưới sự quản lý của chính

nó để giúp doanh nghiệp hợp tác chặt chẽ với các đối tác của nó Hệ thống ERP II thì linh hoạt hơn thế hệ ban đầu của ERP, thay vì giới hạn khả năng truyền dẫn thông tin trong một tổ chức như hệ thống ERP thì hệ thống ERP II đã vượt lên trên cả những bức tường của công ty, và có khả năng tương tác với các hệ thống khác Hệ thống

Trang 28

ERP II cho phép các sáng kiến, ý tưởng có khả năng kết nối với nhau như: Quản trị chuỗi cung ứng (SCM), quản trị mối quan hệ khách hàng (CRM), Phân tích kinh doanh nâng cao (BI), giữa các tổ chức đối tác kinh doanh khác nhau thông qua việc

sử dụng những kĩ thuật kinh doanh điện tử khác nhau (E-business technologies)… Trong những năm trở lại đây thì hệ thống ERP III (Hệ thống ERP thế hệ thứ 3)

ra đời qua quá trình xây dựng một tập hợp các công nghệ phát triển mạnh như: sự hợp tác, tiếp xúc trực tiếp qua phương tiện truyền thông xã hội, SOA (Kiến trúc được định hướng về dịch vụ - Service-oriented architecture) và các công cụ tích hợp có thể tương tác với Web (Luminița Hurbean & Doina Fotache, 2014) Hệ thống ERP III kết hợp cả ý kiến của những người đặc biệt quan tâm đến thị trường ERP cũng như những nhà phê bình hình thành từ hệ thống ERP và ERP II Hệ thống hình thành từ

sự tích hợp thông tin từ khách hàng và nhà cung cấp trong một hộp thoại được xây dựng và sự trao đổi thông tin để tạo ra sự đổi mới từ quy trình sản xuất và sau đó là bán/phân phối sản phẩm dịch vụ tốt hơn Thông qua sự hợp tác, SOA, trao đổi dữ liệu thông tin hoặc các phương pháp tương tác mới như công nghệ di động, các hệ thống ERP III đã khép lại chuỗi vòng lặp giá trị bên trong doanh nghiệp bằng cách vươn xa hơn nhiều so với phạp vi ranh giới của doanh nghiệp Hệ thống ERP II đã cố gắng tìm cách để đem nhu cầu, mong muốn và hiểu biết của khách hàng vào trong quá trình tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp Do đó, hệ thống ERP III đã thực hiện được vai trò kết hợp mạnh mẽ giữa sự sáng tạo đổi mới và mục tiêu tập trung vào khách hàng (Bill Wood, 2010)

1.1.1.3 Những thuận lợi và bất lợi trong môi trường ERP

Được xem là một hệ thống vạn năng vậy đâu là những mặt thuận lợi mà hệ thống ERP có thể mang lại cho doanh nghiệp, tác giả xin khái quát lại những mặt lợi ích đạt được từ hệ thống này như sau:

i Những thuận lợi của hệ thống ERP

- Cung cấp thông tin tức thời (thông tin theo thời gian thực)

- Tối đa hóa mức độ trao đổi thông tin

Trang 29

- Rút ngắn thời gian của các hoạt động giao dịch

- Phân quyền ra quyết định đến cấp thấp nhất để mọi vấn đề được giải quyết dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả

- Gia tăng hiệu suất công việc, cải thiện chất lượng của việc ra quyết định

- Minh bạch hóa các nguồn thông tin và các hoạt động kinh doanh

- Hỗ trợ sự liên lạc và chia sẻ thông tin giữa các bộ phận, phòng ban nhanh hơn

- Hệ thống ERP có khả năng tùy biến theo nhu cầu, quy trình khác nhau của từng công ty

- Cung cấp một hệ thống kiểm soát tốt hơn, do dữ liệu được cung cấp theo thời gian thực và có sự phân chia quyền, trách nhiệm

- Mang lại sự hài lòng và thỏa mãn của khách hàng của doanh nghiệp

- Giúp đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh

- Cải thiện sự tương tác giữa doanh nghiệp với khách hàng và nhà cung ứng

ii Những khó khăn của hệ thống ERP tại thị trường Việt Nam

- Đối với thị trường Việt Nam, có lẽ vấn đề đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm nhất, cũng là cản trở lớn nhất của việc triển khai ứng dụng hệ thống ERP

đó chính là giá cả Chi phí của một hệ thống ERP không chỉ là số tiền bỏ ra ban đầu để mua, cài đặt hệ thống ERP, mà bao gồm tổng chi phí suốt vòng đời

sử dụng của hệ thống ERP: Chi phí bản quyền, chi phí triển khai, chi phí nâng cấp hệ thống hạ tầng, chi phí tư vấn, chi phí bảo trì hằng năm, chi phí nâng cấp tích hợp thêm ứng dụng, chi phí quản lý nội bộ hệ thống…Do đó, việc tiết kiệm chi phí hay hoàn vốn khó có thể thực hiện được ngay sau khi triển khai

hệ thống ERP

Trang 30

- Sự khác biệt giữa hệ thống kế toán Việt Nam với hệ thống kế toán trên các phần mềm nước ngoài khác: nếu doanh nghiệp không muốn thay đổi quy trình buộc doanh nghiệp phải đầu tư những khoản tiền lớn hơn gấp bội để thuê lập trình hệ thống ERP mới phù hợp với quy trình đã có sẵn của doanh nghiệp mình Tuy nhiên, những phân hệ mới sẽ đồng nghĩa với rủi ro cao hơn và nhiều sai sót trong quá trình vận hành

- ERP là một hệ thống phức tạp: Việc tích hợp nhiều hệ thống con với những phương thức, phương pháp và mục tiêu hoạt động khác nhau trong doanh nghiệp tạo thành một hệ thống duy nhất đã khiến cho việc thiết kế, triển khai

và phát triển hệ thống này trở nên vô cùng phức tạp, nó đòi hỏi một sự nỗ lực cao trong việc phối hợp giữa các đơn vị, phòng ban chức năng khác nhau

- Thời gian triển khai dự án ERP kéo dài, phức tạp, thêm vào đó là lỗi hệ thống phát sinh trong quá trình triển khai cũng làm nản lòng các doanh nghiệp

- Chọn sai phần mềm ERP khi không thuê tư vấn và hiểu kĩ về hệ thống, có nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng nỗ lực triển khai xong hệ thống rồi mới nhận ra hệ thống không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp

- Trình độ nguồn nhân lực trong công ty không đáp ứng kịp yêu cầu hệ thống, hay lực lượng nhân viên không nhận thức đúng về hệ thống và quy trình mới, điều này sẽ dễ dẫn đến sự cản trở “ngầm” đối với việc triển khai hệ thống Trong khi đó hệ thống ERP muốn hoạt động hiệu quả lại hoàn toàn phụ thuộc vào nhân tố con người

1.1.1.4 Các phân hệ chức năng trong hệ thống ERP

Tùy từng loại hệ thống ERP của các nhà sản xuất phần mềm khác nhau, trong các giai đoạn phát triển khác nhau, hay đơn giản chỉ là trong các gói phần mềm cung cấp cho từng nhu cầu doanh nghiệp khác nhau mà hệ thống sẽ chia thành các nhóm phân hệ chức năng riêng biệt Ví dụ như Microsoft Dynamics Navision thì phân ra làm 7 phân hệ chính: kế toán tài chính (Financial Management), bán hàng (Sales & Marketing), mua hàng (Purchase), quản lý kho (Warehouse), nhân sự tiền lương (Human Resource), quản trị mối quan hệ khách hàng (Customer Relationship

Trang 31

Management, gọi tắt là CRM), quản lý dự án (Project Management), quản lý sản xuất (Production); Còn hệ thống ERP của Oracle thường được chia làm các phân hệ chính như: kế toán tài chính, quản trị nguồn nhân lực, quản trị sản xuất, quản lý nguyên vật liệu, quản trị chất lượng, phân phối và bán hàng, quản lý bảo dưỡng máy móc thiết

bị Ta có thể hình dung về các chức năng trong từng hệ thống ERP qua sơ đồ mô tả

hệ thống ERP II như sau:

Hình 1.4: Hệ thống ERP II

(Nguồn: Shing Hin Yeung, 2011)

Nhưng nhìn chung thì các hệ thống ERP đầy đủ sẽ bao gồm 10 phân hệ như sau: Kế toán - tài chính (Accounting & Finance); Quản lý bán hàng và phân phối (Sales and Distribution); Quản lý mua hàng (Purchasing Control); Quản lý hàng tồn kho (Stock Control); Lập kế hoạch và quản lý sản xuất (Production Planning and Control); Quản lý dự án (Project Management); Quản lý dịch vụ (Service Management); Quản lý nhân sự (Human Resouce Management); Báo cáo và phân tích (Reporting and Analysis); Báo cáo thuế (Tax Reports), và đây sẽ là những phân

hệ được tác giả dùng để thu thập thông tin về người sử dụng trong bảng khảo sát

Trang 32

1.1.2 Thị trường ERP với xu hướng phát triển toàn cầu

Nếu cách đây hơn 20 năm về trước chúng ta chỉ thấy ERP xuất hiện dưới tên gọi: “hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp”, “sản phẩm phần mềm”, “ứng dụng giải pháp tổng thể dành cho doanh nghiệp” thì giờ đây khi nói đến ERP các tạp chí và các website chuyên môn hay dùng thuật ngữ “Thị Trường ERP” Điều đó cho thấy rằng ERP giờ đây không chỉ dừng lại ở một mức độ “sản phẩm” nữa, mà dưới

sự quan tâm của rất nhiều doanh nghiệp trong rất nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thông tin đã biến hệ thống ERP trở thành một thị trường theo đúng nghĩa Theo như một báo cáo dự báo thị trường phần mềm ERP toàn cầu từ năm 2014 đến năm 2020 cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng hằng năm của thị trường này là một con số không nhỏ đạt mức trung bình trên 7.2%/năm Hơn thế nữa, báo cáo còn cho

ta thấy càng về sau tốc độ tăng trưởng này càng nhanh dần và theo dự kiến sẽ đạt mốc 41.69 tỉ USD vào năm 2020 (Shrikant Chaudhari & Akshay Ghone, Tháng 3-2015) Trong đó thị trường ERP của ngành sản xuất và ngành dịch vụ là hai ngành có mức

độ tăng trưởng cao nhất trong tương lai

Hình 1.5: Thị trường phần mềm ERP toàn cầu

(Nguồn :Báo cáo Global ERP Software Market Size and Forcast 2013-2020)

Theo báo cáo nghiên cứu của Panorama Consulting Solutions - một tổ chức tư

Trang 33

vấn toàn cầu về giải pháp ERP (Báo cáo về hệ thống ERP và phần mềm doanh nghiệp, tháng 2/2017) đã chỉ ra rằng có đến 78% những người sử dụng ERP thực sự nhận thức được những lợi ích mà hệ thống thông tin này mang lại Và sự nhận thức này đã tăng lên đáng kể 9% so với cuộc khảo sát tương tự mà tổ chức Panorama Consulting Solutions đã tiến hành vào năm 2016 Điều này càng chứng tỏ rằng khi hệ thống ERP được đưa vào sự sử dụng thực tế, cũng như là sự phát triển của ERP trong quá trình

sử dụng được các doanh nghiệp nhận thấy một cách rõ ràng, sự nhận thức này có khả năng đo lường được, các doanh nghiệp hiểu rõ vì sao họ phải bỏ ra những khoản vốn đầu tư khổng lồ và một khoảng thời gian dài cho việc xây dựng và phát triển hệ thống thông tin này

Hình 1.6: Báo cáo sự nhận thức về lợi ích đạt được trong ERP

(Nguồn: Báo cáo về thị trường ERP của Panorama T2/2017)

Báo cáo còn thống kê một cách chi tiết và rõ ràng hơn cho chúng ta thấy đâu là những lợi ích cụ thể về hệ thống ERP mà các doanh nghiệp cảm nhận được sau khi

sử dụng Trong năm 2017, những lợi ích được cảm nhận rõ ràng nhất từ các doanh nghiệp sau khi sử dụng hệ thống ERP đó chính là: Gia tăng sự tương tác cũng như tính tích hợp thông tin, khả năng sẵn có để sử dụng của thông tin, cải thiện hiệu quả

và hiệu suất, cải thiện những dữ liệu đáng tin cậy, ít bị lặp lại hay ít bị lỗi, có được các thông tin ra quyết định tốt hơn (đạt trên 10%)

Trang 34

Hình 1.7: Các loại lợi ích được nhận thức trong ERP

(Nguồn: Báo cáo về thị trường ERP của Panorama T2/2017)

Tóm lại, ta có thể thấy rằng thị trường ERP là một thị trường phát triển mạnh

mẽ trên toàn cầu và cũng là một thị trường tiềm năng trong tương lai khi mà khoa học công nghệ thông tin hiện nay đã trở thành ngành khoa học tiến bộ dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế thế giới Bên cạnh đó, Việt Nam của chúng ta đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới, vì vậy chúng ta cũng không nằm ngoài xu hướng chung này Đó là lý do mà tiếp theo sau đây tác giả sẽ tiến hành xem xét tổng quan

về thị trường ERP tại Việt Nam để thấy được mức độ phát triển và xu hướng của thị trường này

1.1.3 Thị trường ERP tại Việt Nam

Không phát triển thực sự nhanh và mạnh mẽ như thị trường ERP thế giới, vì khi

so sánh lịch sử phát triển của hệ thống ERP trên thế giới bắt đầu từ những năm 1990 thì ở Việt Nam thuật ngữ ERP mới xuất hiện vào đầu năm 2000 Nhưng đó lại không phải là thời điểm mà thị trường ERP phát triển mạnh ở Việt Nam, trong giai đoạn ban

Trang 35

đầu thị trường này vô cũng trầm lắng đến mãi những năm 2009 (sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008) thì những cái tên phân hệ SAP và Oracle mới được biết đến nhiều hơn Những lý do đầu tiên đưa ra để giải thích cho sự trầm lắng của hệ thống ERP tại thị trường Việt Nam trong giai đoạn đầu này là các doanh nghiệp nhận thấy chi phí của một hệ thống ERP là quá cao nhưng lại không biết trên thực tế triển khai

nó có mang lại đúng như những lợi ích mà nó được nhấn mạnh hay không? Họ nghi ngờ điều đó khi chưa có một doanh nghiệp Việt Nam nào triển khai và ứng dụng phân

hệ này cho kết quả trên thực tế Tuy nhiên, sau đó một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam cũng mạnh dạn đầu tư vào ERP đầu tiên phải kể đến là FPT, Vinamilk, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam thì cũng nhận

ra rằng việc triển khai các hệ thống ERP nước ngoài vào thị trường Việt Nam là một điều không hề dễ dàng Không dễ dàng bởi vì những cấu hình và quy trình trong một

hệ thống ERP của nước ngoài đã được chuẩn hóa theo một cách tối ưu nhất, còn các doanh nghiệp Việt Nam cũng có xây dựng và hoạt động theo những quy trình chuẩn nhưng mức độ chuẩn hóa ấy chưa đáp ứng kịp với các hệ thống ERP nước ngoài Thêm vào đó, hệ thống kế toán của các nước phát triển trên thế giới tuân theo những chuẩn mực quy tắc chung nhất, những chuẩn mực quy tắc báo cáo này có khác đi khi

áp dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam Những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

ở Việt Nam bắt buộc phải sử dụng các mẫu báo cáo theo thông tư quy định của Bộ tài chính Việt Nam, đó là rào cản lớn thứ hai khi hệ thống ERP nước ngoài bước chân vào thị trường Việt

Nhưng sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, thì các doanh nghiệp Việt Nam lại càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp khi họ so sánh với sự hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài có sử dụng phần mềm ERP hoạt động tại Việt Nam Do đó, nhu cầu về hệ thống nguồn lực thông tin ERP tại thị trường Việt Nam lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết để đáp ứng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa ngay trên sân nhà Các công ty phần mềm Việt (đa số là các công ty cung cấp phần mềm kế toán Việt) hơn ai hết là những doanh nghiệp nắm rất bắt nhanh những tín hiệu đầu tiên này trong một thị trường ERP mới

Trang 36

nổi Họ tập trung khai thác tối đa vào hai nhón yếu tố mà các phân hệ nước ngoài không đáp ứng được ở thị trường Việt đó là: Chi phí quá cao, sự khác biệt về mức độ chuẩn hóa quy trình và các hình thức, biểu mẫu trong các báo cáo tài chính Bên cạnh

đó, cũng không chịu lùi bước sẻ chia thị phần các hệ thống ERP nước ngoài đã khai thác từ những nhà triển khai ứng dụng uy tín nhất như FPT, SSG, Pythis và họ sử dụng các lập trình viên để Việt hóa dần các chức năng, tính năng trong ERP để đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn, tổng công ty lớn tại Việt Nam Từ đó, thị trường ERP Việt Nam đã được phân cấp ra thành những phân khúc thị trường khá rõ ràng dần đáp ứng kịp nhu cầu của các doanh nghiệp Việt như: Các hệ thống ERP cao cấp: SAP, Oracle, PeopleSoft, Microsoft Dynamics AX… ; ERP nước ngoài cấp trung bình: SunSystems, Exact Globe 2000, MS Solomon, Navision, Scala, Accpac, Intuitive ERP…, ERP thiết kế sẵn do các công ty trong nước phát triển: LacViet’s AccNet

2000, MISA-AD 5.0, Fast Accounting 2003, VSDC’s ACsoft 2004, BSC’s Effect, CSC’s IAS 3.0 Phần mềm đặt hàng cho một công ty trong nước viết, và phần mềm đặt hàng do một nhóm lập trình viên trong nước viết

Cho đến nay thì thị trường ERP của Việt Nam đã thực sự bùng nổ, các doanh nghiệp lập trình hệ thống ERP Việt cũng như các nhà triển khai các giải pháp ERP

uy tín của nước ngoài phát triển rất mạnh đến nỗi mà các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay bắt đầu cảm thấy hoang mang trong quá trình chọn lựa phân hệ phần mềm ERP cũng như là các mức giá cả cam kết khác nhau trong thị trường ERP tại Việt Nam Trên thực tế triển khai cho thấy đã có rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam bỏ ra một khoản chi phí cũng như thời gian rất lớn để đầu tư cho hệ thống ERP nhưng sau

đó lại thất bại vì những lý do: doanh nghiệp không kĩ ngay từ khâu tư vấn và lập kế hoạch rõ ràng nên phát sinh lỗi, sai sót, kéo dài thời gian triển khai, gia tăng chi phí phát sinh, áp lực làm thêm việc của nhân viên khiến một số doanh nghiệp phải dừng

dự án lại giữa chừng; hay do không chọn kĩ phân hệ phần mềm ERP nên giữa phân

hệ phần mềm và quy trình của doanh nghiệp không khớp nhau; hay có một số doanh nghiệp tìm hiểu qua lời giới thiệu của các nhà triển khai không tìm hiểu kĩ thực tế khi triển khai xong rồi mới nhận thấy hệ thống ERP đã không đáp ứng được nhu cầu

Trang 37

thông tin của doanh nghiệp mình

Thị trường ERP ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới luôn thể hiện là thị trường phát triển đầy hứa hẹn trong tương lai Tuy nhiên, ở Việt Nam thì thị trường này cũng cần có những hệ thống tiêu chuẩn nhất định để kiểm định chất lượng cũng như giá cả mà các hệ thống ERP mới triển khai Điều này sẽ đảm bảo một mức độ tin cậy cao hơn trong suy nghĩ của các doanh nghiệp đối với thị trường ERP Việt Nam

1.2 Hệ thống thông tin kế toán AISs trong môi trường ERP

Để hiểu rõ ràng hơn về các lợi ích kế toán đạt được trong môi trường ERP chúng

ta cần hiểu hơn về hệ thống thông tin kế toán AISs (Accounting Information Systems – AISs), vì hệ thống thông tin kế toán chính là một hệ thống con của hệ thống thông tin IS (Information Systems)

1.2.1 Khái niệm hệ thống thông tin kế toán AISs

Hệ thống thông tin kế toán AISs được xem là một tập hợp các hoạt động, các tư liệu và kỹ thuật có liên quan được thiết kế để thu thập dữ liệu, xử lý nó và báo cáo thông tin tới các nhóm khác nhau liên quan đến những người ra quyết định trong và ngoài tổ chức Một hệ thống AIS được thiết kế tốt là một hệ thống có khả năng hỗ trợ thúc đẩy việc ra quyết định trong một tổ chức bằng cách phản hồi những nhân tố thông tin tuân theo khuân mẫu chuẩn mực kế toán tài chính chung được chấp nhận (Financial Accounting Standards Board Conceptual Framework) Các đặc tính để tạo nên một hệ thống thông tin kế toán thành công và hữu ích bao gồm: Sự liên quan, độ tin cậy, hoàn thiện, tính kịp thời, khả năng dễ hiểu, khả năng kiểm chứng, và khả năng tiếp cận được (Robert L.Hurt, 2015)

Dưới một góc nhìn khác khi tiếp cận về hệ thống thông tin kế toán AISs được cho là sự kết hợp giữa hai khái niệm “Hệ thống thông tin” và “Kế toán” Theo như quan điểm này thì hệ thống thông tin kế toán chính là điểm giao nhau giữa hệ thống thông tin và kế toán, do đó chúng ta khó có thể đi tìm định nghĩa dựa trên phạm vi của hệ thống thông tin kế toán AISs mà chúng ta chỉ có thể hiểu về nó tốt hơn bằng

cách xác định mục đích và chức năng của hệ thống này (Xem hình 1.8) Một hệ thống

thông tin kế toán được hiểu là sự tập hợp các dữ liệu và quy trình xử lý thông tin

Trang 38

nhằm mục đích tạo ra các thông tin cần thiết cho người sử dụng nó (Mark G Simkin

& Jacob M Rose & Carolyn S Norman, 2012)

Hình 1.8: Sự giao thoa giữa kế toán và hệ thống thông tin

(Nguồn:Mark G Simkin & Jacob M Rose & Carolyn S Norman, 2012 )

Cuối cùng ta có thể hiểu hệ thống thông tin Kế Toán AIS như là một hệ thống con chuyên biệt của hệ thống IS (Information System) Nó có chức năng thu thập, xử

lý và báo cáo những thông tin có liên quan đến các khía cạnh kế toán, tài chính của các sự kiện giao dịch kinh doanh (nghiệp vụ kinh tế phát sinh) của doanh nghiệp Thường thì hệ thống AIS sẽ được tích hợp vào hệ thống chung của doanh nghiệp và không thể phân biệt được với hệ thống thông tin tổng thể, và cũng giống như IS, hệ thống AIS có thể được chia thành các thành phần dựa trên các chức năng hoạt động được hỗ trợ Các thành phần này được gọi là quy trình nghiệp vụ hoặc hệ thống con

của AISs (Taylor & Francis, 1996)

Một hệ thống thông tin kế toán là sự kết hợp của 6 nhóm nhân tố chính:

- Nhân tố con người: Là những người sử dụng, những người làm việc tác động lên

Trang 39

- Kiểm soát nội bộ và các cách thức bảo mật thông tin: những phương thức hoạt động được thực hiện để đảm bảo an toàn và chính xác cho số liệu kế toán

1.2.2 Vai trò và chức năng của hệ thống thông tin kế toán AISs trong doanh

nghiệp

i Một hệ thống thông tin kế toán bao gồm 3 chức năng cơ bản:

- Chức năng đầu tiên của một hệ thống AISs là thu thập và lưu trữ dữ liệu thông tin có liên quan đến các hoạt động tài chính của tổ chức một cách hữu hiệu và hiệu quả bao gồm: việc thu thập những dữ liệu giao dịch từ những tài liệu nguồn, ghi nhận các giao dịch của quá trình kinh doanh, và đăng dữ liệu thông tin từ quá trình giao dịch kinh doanh vào sổ cái tài khoản

- Chức năng thứ hai là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định bao gồm cả việc cung cấp các báo cáo quản lý (thuộc kế toán quản trị) cũng như các báo cáo tài chính (thuộc kế toán tài chính)

- Chức năng thứ ba của AIS là đảm bảo việc kiểm soát được thực hiện để dữ liệu được ghi nhận và xử lý một cách chính xác

ii Vai trò của hệ thống thông tin kế toán AISs trong hệ thống thông tin doanh nghiệp IS

Như ta đã biết hệ thống thông tin kế toán AISs được xem là một hệ thống con đặc biệt của hệ thống thông IS chuyên về mục đích nhận biết, thu thập, xử lý, lưu trữ

và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế trong doanh nghiệp ( Xem hình 1.3: Các khu vực chức năng của hệ thống thông tin doanh nghiệp) Nếu ta chia góc độ hệ thống thông tin IS thành hai mảng cấu trúc thông tin chính để quan sát là: cấu trúc theo chiều ngang – nguồn thông tin theo các khu vực chức năng và cấu trúc theo chiều dọc – nguồn thông tin theo cấp độ thông tin thì ta có thể thấy được rõ ràng hơn về vai

Trang 40

trò của AISs trong tổng thể các vùng hoạt động chức năng của hệ thống thông tin IS

Nếu quan sát theo chiều ngang thì ta thấy hệ thống thông tin kế toán AISs là một trong năm các khu vực chức năng chính của hệ thống thông tin IS Vì là một hệ thống thông tin con nên cũng giống như các khu vực hệ thống thông tin con khác trong doanh nghiệp, AISs mang đầy đủ các tính năng, quy trình hệ thống, yêu cầu về các mức độ thông tin kế toán cũng như các cấu trúc thông tin kế toán giống như một

hệ thống thông tin IS Cụ thể hơn nếu xem xét theo chiều dọc thì hệ thống AISs cũng phân làm 4 cấp độ thông tin tăng dần từ cấp độ hoạt động đến cấp độ chiến lược tương ứng với 4 cấp độ quản lý từ quản lý hoạt động đến quản lý cấp cao Ở mỗi cấp độ thì

hệ thống ERP nói riêng và môi trường hệ thống thông tin IS nói chung sẽ cung cấp các ứng dụng hệ thống chuyên biệt phục vụ cho nhu cầu thông tin của mỗi cấp độ như cấp thấp nhất là: Hệ thống xử lý giao dịch –TPS (Transaction Processing System); đến cấp độ quản lý là hệ thống thông tin quản lý MIS (Management Information System), hệ thống hỗ trợ ra quyết định DSS (Decision Support Systems);

và cấp cao nhất cấp độ chiến lược có hệ thống hỗ trợ điều hành ESS (Executive Support Systems) Với yêu cầu từ các cấp độ của người sử dụng thì vai trò của hệ thống AIS là nhằm sản xuất ra những thông tin kế toán đạt chất lượng cao về tính chính xác, phù hợp, đáng tin cậy, đầy đủ, kịp thời, có thể tiếp cận và có thể kiểm chứng… với chi phí thấp, và đấy cũng chính là giá trị của thông tin mà bất kì hệ thống AISs nào cũng muốn đạt được

Ngày đăng: 01/09/2020, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w