1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiểm định các nhân tố tác động đến khả năng khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của thế giới :

84 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu, bài nghiên cứu nhằm - Xác định các yếu tố ảnh hưởng tác động đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới, - Kiểm định các nhân tố tác động đến xác suất xảy ra

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

*******

NGUYỄN QUỐC THẮNG

KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM DỰA TRÊN KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

*******

NGUYỄN QUỐC THẮNG

KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

DỰA TRÊN KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH –NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ PHAN THỊ DIỆU THẢO

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực vả chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Quốc Thắng

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ rất nhiều người

Trước hết, tôi xin cảm ơn Giảng viên hướng dẫn của tôi, Phó Giáo Sư - Tiến

Sĩ Lê Phan Thị Diệu Thảo, đã hướng dẫn tận tình và cho tôi những nhận xét chân thành, khuyến khích tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Bên cạnh đó là lời cám ơn chân thành đến Quý thầy, cô những người đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt những năm cao học vừa qua Và đặc biệt

là bạn Lương Duy Quang, Thạc sỹ chương trình Việt Nam-Hà Lan Netherlands Program), đã hỗ trợ tích cực cho tôi những tài liệu rất hữu ích trong quá trình hoàn thành luận văn

(Vietnam-Và cuối cùng tôi chân thành cám ơn Thầy Nguyễn Từ Hàn, Trưởng phòng Tài chính – Kế toán, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, các anh chị tại đơn vị, đã hỗ trợ và khuyến khích tôi trong quá trình học và hoàn thành luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Quốc Thắng

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

IADI (Internation Association of Deposit Insurance ) tổ chức nghiên cứu về bảo hiểm tiền gửi quốc tế

IFS (international Financial Statistic) Các chỉ số tài chính quốc tế

WDI (World-development-indicators) Các chỉ số thế giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Kết quả hồi quy các nhân tố tác động đến khủng hoảng ngân hàng tại các

nước đang phát triển, loại bỏ các quan sát ngay sau các năm kết thúc khủng hoảng

……… 36

Bảng 2: Tỷ giá hối đoái bình quân năm (1996-1997) khu vực ĐNÁ ……….44 Bảng 3: Tình hình thua lỗ và phá sản của hệ thống ngân hàng, tài chính khu vực Đông Nam Á(01/04/1997-31/03/1998) ……… ……… 44 Bảng 4: Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp năm 1997 tại khu vực ĐNÁ

Trang 7

DANH MỤC HÌNH Hình 1: Đường cong Logit ……… 23 Hình 2: Tính nghiêm trọng của khủng hoảng ngân hàng ……… 56

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng tại Thái Lan và Uruguay giai

đoạn 1996-2003 ………47

Biểu đồ 2: Kiểm định các nhân tố tác động đến khả năng khủng hoảng ngân hàng

tại Việt Nam ……….60

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ……….…… 1

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI

1.1 Lý thuyết tổng quan ……….4

1.1.1 Từ khóa chính ……… ……….4

1.1.2 Lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng ….……… 6

1.2 Nghiên cứu thực nghiệm ……… …… 13

1.3 Tóm tắt chương 1 ……… ……18

CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU 2.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu ……… 20

2.2 Lý thuyết mô hình và mô hình chi tiết ……… 23

2.2.1 Lý thuyết mô hình ……….……… ………… 23

2.2.2 Mô hình chi tiết ……….……….… 24

2.2.2.1 Biến Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (Growth) ……… 24

2.2.2.2 Biến lãi suất thực (real interest) ……….……… 25

2.2.2.3 Biến tỷ giá hối đoái (exchange rate) ……… … 25

2.2.2.4 Biến lạm phát (inflation) ……….……… 26

2.2.2.5 Biến tỷ lệ giá trị thương mại xuất khẩu (terms of trade) ……26

2.2.2.6 Biến tấn công tiền tệ (M2/Reserve) ……… … 27

2.2.2.7 Biến bảo hiểm tiền gửi (deposit) ……… 27

2.2.2.8 Biến tự do hóa tài chính (credit) ……… 28

2.3 Ước lượng và kiểm định mô hình đề nghị ……… 29

2.4 Nguồn dữ liệu và trích lọc dữ liệu….……… 31

2.5 Kết quả hồi quy và kiểm định các giả thuyết ……… 32

2.5.1 Xây dựng mô hình ……… ……….……… 32

2.5.2 Ý nghĩa của các biến giải thích …….……… 39

Trang 9

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM

KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM DỰA TRÊN KINH NGHIỆM THẾ GIỚI

3.1 Khủng hoảng Thái Lan ………43

3.2 Khủng hoảng tại Uruguay ……… 45

3.3 Áp dụng mô hình nghiên cứu trong các trường hợp tại Thái Lan và Uruguay ……… 46

3.4 Thực trạng xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam ……….49

3.4.1 Thực trạng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam ….……….49

3.4.2 Những thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam……….52

3.4.3 Các biện pháp phòng ngừa khủng hoảng của Ngân hàng nhà nước trong thời gian qua ……… 54

3.4.4 Thực trạng xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng và sự cần thiết của việc xây dựng mô hình cảnh báo sớm ……… … 55

3.4.5 Xây dựng mô hình …… ……… 57

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Kết luận ……… 61

4.2 Kiến nghị ………63

Tài liệu tham khảo……….68

Phụ lục ……… 70

Trang 10

và phương pháp thống kê mà họ đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu

Chương 2, Kinh nghiệm xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng tại một số quốc gia trên thế giới Các giả thuyết thể hiện mối liên hệ giữa khủng hoảng ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô được đề cập và thảo luận trong

lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng Trong chương này, trên cơ sở xem xét lại các nghiên cứu thực nghiệm về khủng hoảng ngân hàng trên thế giới, tiếp theo đề xuất

mô hình phù hợp, thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê và các phần có liên quan khác nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu Chương này sẽ phác thảo và sắp xếp thành 3 phần có liên quan: lựa chọn mô hình nghiên cứu, định rõ mô hình và nguồn thu thập dữ liệu

Chương 3, với mục tiêu xây dựng hệ thống cảnh báo sớm cho hệ thống ngân hàng tại Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của Thái Lan và Uruguay Đề tài sử dụng

mô hình tối ưu trong nghiên cứu thực nghiệm khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Thái Lan và Uruguay Từ đó, bài viết rút ra một số kinh nghiệm trong việc xây dựng

mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng Bài viết phân tích thực trạng của hệ thống ngân hàng của Việt Nam cũng như sự cần thiết của việc xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng

Trang 11

Chương 4, Kết luận và kiến nghị một số giải pháp trong việc xây dựng mô hình cảnh báo sớm các tác nhân tác động đến hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam Từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục và phòng ngừa các tác động xấu đến hệ thống ngân hàng Việt Nam

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các cuộc khủng hoảng ngân hàng xảy ra ngày càng thường xuyên hơn với hậu quả ngày càng nghiêm trọng hơn Từ cuối những năm 1970 đến 2007 đã có 124 cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng Trong giai đoạn này các cuộc khủng hoảng ngân hàng vào những năm 1980 và 1990 được coi là trầm trọng nhất so với bất kỳ giai đoạn nào trước đây Theo thống kê của của tổ chức IMF, đã có khoảng 130 quốc gia trải qua khủng hoảng ngân hàng trong giai đoạn từ năm 1980-1996 Khủng hoảng ngân hàng xảy ra có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống thanh toán, suy giảm mạnh mẽ lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thu hẹp sản lượng đầu ra của khu vực sản xuất, tạo sức ép nặng nề về mặt chính trị

Theo sau các cuộc khủng hoảng gần đây, vấn đề những yếu tố nào quyết định (ảnh hưởng) đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng đã và đang là đề tài nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu kinh tế tại cả các nước đã và đang phát triển trên thế giới Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm ra giải pháp, qua đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thêm cơ sở trong việc ban hành chính sách, bên cạnh

đó họ có thể xây dựng hệ thống cảnh báo sớm cuộc khủng hoảng Tuy nhiên, việc nắm rõ các yếu tố quyết định của cuộc khủng hoảng ngân hàng là một việc không thực sự đơn giản Ngày nay, nền kinh tế của một quốc gia có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, do đó, sự lan truyền rộng của các cuộc khủng hoảng, đặc biệt ở lĩnh vực ngân hàng, vừa rõ ràng vừa khó nắm bắt, chính vì vậy, mới thấy được vai trò quan trò quan trọng của việc nghiên cứu về các yếu tố quyết định của các cuộc khủng hoảng Mặc dù đây không phải là một vấn đề mới, nhưng cũng là một đề tài xứng đáng để quan tâm

Trong bài nghiên cứu này, tôi sẽ tập trung nghiên cứu các nguyên nhân tác động đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng tại các nước đang phát triển Xây dựng

mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng tại các nước đang phát triển, áp dụng mô hình này vào nghiên cứu tại các quốc gia: Thái Lan và Uruguay trong giai

Trang 13

đoạn từ 1996 đến 2003 Tiếp đó, “Kiểm định các nhân tố tác động đến khả năng khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của thế giới”

2 Mục đích nghiên cứu, bài nghiên cứu nhằm

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng (tác động) đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới,

- Kiểm định các nhân tố tác động đến xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của thế giới

- Các đề xuất chính sách nhằm ngăn chặn các cuộc khủng hoảng ngân hàng (có thể xảy ra) ở Việt Nam,

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Các yếu tố chính nào tác động đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng?

- Các nhân tố nào có thể sẽ là nhân tố chính “góp phần” gây ra khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam (nếu có)?

- Xác suất hệ thống ngân hàng Việt Nam rơi vào khủng hoảng vào năm

2008 là cao hay thấp ?

- Ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam như thế nào ?

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài có kế thừa và sử dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài về mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng nước ngoài để làm cơ sở lý luận và tham khảo

Do khủng hoảng ngân hàng chịu tác động của nhiều yếu tố tổng hợp bên trong và bên ngoài hệ thống ngân hàng, phương pháp phân tích được sử dụng, đồng thời kết hợp thu thập dữ liệu, phân tích tình huống để so sánh, đánh giá hiệu quả

mô hình nghiên cứu

Bài viết sử dụng mô hình logit và phần mềm Eviews trong việc phân tích các

số liệu cũng như xem xét các nhân tố chính tác động đến khả năng xảy ra khủng

Trang 14

hoảng ngân hàng tại các quốc gia đang phát triển và trong các trường hợp cụ thể của Thái Lan, Uruguay và Việt Nam

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành Tài Chính, tập trung chuyên sâu vào những vấn đề về khủng hoảng ngân hàng, đề tài chủ yếu nghiên cứu hệ thống ngân hàng tại Thái Lan, Uruguay, Việt Nam Do giới hạn dữ liệu, phạm vi nghiên cứu được thu hẹp ở các nước đang phát triển trong giai đoạn 1974-2010

6 Cấu trúc bài nghiên cứu, bài viết bao gồm

Chương 1: Lý thuyết tổng quan về khủng hoảng ngân hàng và xây dựng

mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng trên thế giới

Chương 2: Mô hình nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Chương 3: Giải pháp xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng

ngân hàng tại Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia là Thái Lan và Uruguay

Chương 4: Kết luận và đề xuất kiến nghị

7 Ý nghĩa công trình nghiên cứu

Đề tài này giúp cho chúng ta có một cái nhìn sâu hơn về khủng hoảng ngân hàng tại các nước đang phát triển thông qua các lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng Về mặt lý luận, đề tài này tập trung nghiên cứu các nguyên nhân chính có khả năng tác động đến “sự an toàn” của hệ thống ngân hàng của một số quốc gia đang phát triển trên thế giới Về mặt thực tiễn, đề tài này hy vọng sẽ đóng góp một công

cụ cảnh báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng cho Việt Nam (mặc dù rất may mắn là điều này được các chuyên gia đánh giá là chưa từng xảy ra đối với Việt Nam), giúp cho các nhà điều hành chính sách vĩ mô có một cái nhìn rõ hơn về khả năng dễ tổn thương của các bộ phận trong thị trường tài chính để từ đó có các giải pháp điều chỉnh chính sách thích hợp giúp cho nền kinh tế phát triển tốt Cuối cùng, tôi cũng đề xuất những chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển ổn định và bền vững trong cả ngắn hạn và dài hạn

Trang 15

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG

NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI

Trong chương này tôi ưu tiên tập trung làm rõ định nghĩa về khủng hoảng ngân hàng Kế đến là đề cập đến các khung lý thuyết khác nhau về khủng hoảng ngân hàng, từ đó có được các giả thuyết về việc làm thế nào các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng Bên cạnh đó, chương này xem xét các nghiên cứu thực nghiệm về khủng hoảng ngân hàng của các nhà nghiên cứu trước đây, nhằm giúp người đọc hiểu các nhà nghiên cứu khác đã tiếp cận vấn

đề nghiên cứu này như thế nào, những số liệu đã thu thập được cũng như các mô hình và phương pháp thống kê mà họ đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu

1.1 Lý thuyết tổng quan

1.1.1 Khái niệm: Khủng hoảng ngân hàng

Tác động tiêu cực của các cuộc khủng hoảng ngân hàng đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia là rất lớn và chính phủ các nước tiêu tốn rất nhiều chi phí cho việc phục hồi nền kinh tế Mặc dù các nền kinh tế có thể có các kinh nghiệm khác nhau trong việc ứng phó đối với khủng hoảng, nhưng có một quy luật chung là khi các tác động xấu ảnh hưởng đến thị trường tài chính, có khả năng làm sụp đổ nền kinh tế, chính phủ buộc phải nỗ lực can thiệp Vài thập kỷ trước, các nhà kinh tế

học theo trường phái trọng tiền, khởi xướng là Friedman và Schwartz (1963), đã

gắn các cuộc khủng hoảng tài chính với khủng hoảng ngân hàng Họ đã khai thác một khái niệm hẹp về khủng hoảng tài chính và cho rằng một cuộc khủng hoảng tài chính thường gắn liền với một cuộc khủng hoảng ngân hàng Khi sự ổn định của hệ thống ngân hàng bị đe dọa, hệ thống tài chính đó có thể bị sụp đổ nếu thiếu sự can thiệp của ngân hàng trung ương Sự đổ vỡ của một tập đoàn tài chính lớn thường là yếu tố thúc đẩy hiện tượng rút tiền hàng loạt tại các ngân hàng Người gửi tiền thường hoảng loạn

vì không phân biệt được ngân hàng đang hoạt động tốt và ngân hàng có vấn đề, vì vậy

họ đổ xô rút hết tiền gửi của mình tại các ngân hàng Khoản dự trữ tiền mặt của các ngân hàng vốn đã chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản càng trở nên “muối bỏ biển”

Trang 16

khi xuất hiện đột biến rút tiền gửi Nếu không có sự can thiệp của ngân hàng trung ương, thường thông qua hoạt động hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng có khả năng thanh toán nhưng mất khả năng thanh khoản, thì ngay cả những ngân hàng đang hoạt động tốt cũng có thể đổ vỡ

Đổi mới tài chính và gia tăng hội nhập thị trường tài chính toàn cầu đã làm xuất hiện một số yếu tố mới và những quan ngại mới Do vậy, mặc dù có vài điểm tương đồng, những cuộc khủng hoảng trong những năm gần đây đã khác so với các cuộc khủng hoảng trước đây trên nhiều phương diện Đặc biệt, hệ lụy và sự lan truyền rộng của các cuộc khủng hoảng dường như đã trở nên vừa rõ ràng vừa khó nắm bắt Chính vì vậy, ngày nay, khủng hoảng ngân hàng chỉ còn được đề cập đến như một dạng của khủng hoảng tài chính, có thể xảy ra đơn lẻ hoặc xảy ra đồng thời cùng với khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ

Theo Ergungor và Thomson (2005), cho rằng nếu vốn của hệ thống ngân

hàng trong một nước bị xói mòn và chi phí chống khủng hoảng quá cao thì xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng là rất cao Khi một cú sốc trong hệ thống tài chính có thể lan truyền thành vấn đề trong cả hệ thống kinh tế, đồng thời các nhà hoạch định chính sách tiền tệ bắt đầu có những hành động ứng phó, hệ thống ngân hàng có thể xem như là khủng hoảng Hay nói cách khác, khủng hoảng ngân hàng có thể được xác định thông qua việc xem xét các hoạt động của ngân hàng nhà nước Kaminsky

và Reinhart (1996) chia sẻ quan điểm này trong nghiên cứu của mình thông qua việc quan sát các chính sách của ngân hàng trung ương trong thời kỳ khủng hoảng Theo quan điểm của hai tác giả này, khủng hoảng ngân hàng liên quan mật thiết đến các hoạt động của ngân hàng nhà nước như: việc người gửi rút tiền gửi tăng đột biến, có thể xuất hiện các hoạt động: đóng cửa, sáp nhập, mua lại, hoặc trợ giúp của chính phủ đối với một hoặc nhiều tổ chức tài chính (như trường hợp của Venezuela năm 1993), còn nếu không có việc rút tiền gửi đột biến, nhưng hành động đóng cửa, sáp nhập, mua lại, hoặc trợ giúp của chính phủ với quy mô lớn đối với một tổ chức tài chính quan trọng (hoặc một nhóm các tổ chức), cũng là sự đánh dấu khởi đầu của một chuỗi các kết quả tương tự đối với các tổ chức tài chính khác

Trang 17

Trong bài nghiên cứu vào năm 1998 của 2 tác giả Demirguc-Kunt và Detragrache (1998) họ đã đề xuất rằng một giai đoạn được coi là khủng hoảng ngân hàng khi: Các khoản nợ xấu chiếm ít nhất 10% tổng tài sản của toàn hệ thống ngân hàng, qua đó chi phí để giải cứu các ngân hàng lớn hơn 2% GDP và đi kèm

theo đó là nhiều vấn đề khó khăn của hệ thống ngân hàng dẫn đến cần được quốc hữu hóa trên diện rộng Bài viết sử dụng định nghĩa về khủng hoảng ngân hàng của

2 tác giả Ergungor và Thomson (2005)

1.1.2 Lý thuyết khủng hoảng ngân hàng

Rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này trên thế giới đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc cũng như qua đó giải thích hợp lý các vấn đề bên trong của lĩnh vực ngân hàng Tuy nhiên, điều thú vị là rất khó hy vọng có thể tìm được lý thuyết nghiên cứu nào đủ sức giải thích đầy đủ các vấn đề này Vì lý do đó,

để có thể nắm bắt toàn cảnh của các cuộc khủng hoảng ngân hàng, cần phải xem xét các nghiên cứu thực nghiệm khác nhau Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu các khung lý thuyết chính về khủng hoảng ngân hàng qua các bài nghiên cứu của Ergungor và Thomson (2005) và Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) bởi đây là các bài nghiên cứu cập nhật và dễ hiểu Tôi bắt đầu bằng việc xem xét khung lý thuyết của các tác giả thuộc trường phái cổ điển, kế tiếp theo là quan điểm của Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a), và cuối cùng là quan điểm của Ergungor

và Thomson (2005)

Theo quan điểm cổ điển, khủng hoảng hệ thống ngân hàng là kết quả của một chuỗi các sự kiện bất ổn của tình hình kinh tế vĩ mô Theo quan điểm này, tình trạng mất khả năng chi trả tại một ngân hàng có thể là nguyên nhân khiến người gửi đồng loạt rút tiền tại các ngân hàng khác trong hệ thống tài chính Một lý giải khác cho hiện tượng này cho rằng nguyên nhân do kết quả của sự kích động tâm lý của đám đông (Kindleberger - 1978, Diamond, Dybvid - 1983) Các lý thuyết này cho rằng tính không thanh khoản của tài sản do ngân hàng nắm giữ sẽ gây nên khả năng

hệ thống ngân hàng dễ bị tổn thương bởi việc khách hàng rút tiền đồng loạt Lý

Trang 18

thuyết này cũng giải thích hiện tượng rút tiền đồng loạt xuất phát từ yếu tố tâm lý bầy đàn, các cá nhân và tổ chức tham gia thị trường hành động theo xu hướng chung của thị trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống tài chính, thậm chí tác động đến cả các ngân hàng đang hoạt động tốt Nếu không có được sự bảo lãnh hoặc đảm bảo từ các nhà hoạch định chính sách tiền tệ, việc mất khả năng thanh toán của một ngân hàng sẽ lan rộng ra toàn hệ thống ngân hàng và dưới áp lực thanh khoản có thể dẫn đến sự sụp đỗ của cả hệ thống ngân hàng Cuộc tháo chạy rút vốn khỏi hệ thống ngân hàng của những người gửi tiền được thể hiện theo các dấu hiệu sau: đầu tiên là việc không có đầy đủ các thông tin (thông tin bất cân xứng) của những người gửi tiền làm cho họ không thể phân biệt các ngân hàng đang hoạt động tốt, do đó, một cuộc rút vốn tại các ngân hàng đang hoạt động kém qua đó có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác đang hoạt động bình thường, tiếp theo là việc đồng loạt rút vốn của khách hàng buộc ngân hàng phải chi trả cho tới khi buộc phải tuyên

bố phá sản Điều kiện sau nữa là do các nhà quản trị ngân hàng thiếu các kế hoạch

để phòng ngừa trong việc cung cấp thanh khoản khi ngân hàng đối mặt với việc rút vốn hàng loạt Theo quan điểm này, khủng hoảng hệ thống ngân hàng xuất phát từ phản ứng của khách hàng trong trường hợp có những thông tin xấu, tác động đến tâm lý của người gửi Hai tác giả Ergungor và Thomson (2005) cũng đồng ý với các quan điểm này và cho rằng quan điểm cổ điển giải thích tương đối hợp lý các vấn đề bên trong của cuộc khủng hoảng, nhưng lý thuyết này chưa thể giải thích được nguồn gốc của các cuộc khủng hoảng ngân hàng trong thời gian 20 năm trở lại đây

Đồng thời tại các nước đang phát triển, những cú sốc do lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu hoặc tăng trưởng chậm và suy thoái cũng có thể góp phần tạo ra khủng hoảng của cho hệ thống ngân hàng Sự sụp đổ của một ngân hàng có thể gây nên những hạn chế về thanh khoản trong cả hệ thống ngân hàng, từ đó có thể gây nên những hạn chế trong việc thanh toán cho khách hàng của các ngân hàng khác, qua đó dẫn đến sự suy sụp của cả hệ thống ngân hàng

Các yếu tố vi mô cũng có thể trở thành những yếu tố quan trọng gây nên

sự suy sụp của hệ thống ngân hàng, cụ thể là chất lượng của toàn bộ khuôn khổ thể

Trang 19

chế của đất nước Qui chế thị trường yếu kém do những yếu tố về hành vi, công bố thông tin hạn chế, quản trị công ty yếu kém, bảo hiểm tiền gửi quan mức hoặc hệ thống giám sát yếu kém có thể quyết định tới mức độ lệch lạc của thông tin, chất lượng quản lý ngân hàng và tạo ra những yếu tố dễ bị tổn thương và cuối cùng là gây nên khủng hoảng hệ thống ngân hàng

Lý thuyết chỉ ra rằng ngân hàng với vai trò trung gian thanh toán và quản

lý các phương tiện thanh toán, tập trung và cung cấp vốn cho nền kinh tế, giữ vai trò

là trung gian tài chính là các tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng

số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Hoạt động kinh doanh của ngân hàng truyền thống thường dựa vào sự chênh lệch giữa các kỳ hạn, có nghĩa là, ngân hàng huy động tiền gửi ngắn hạn và cho vay dài hạn Phần lớn lượng tiền gửi huy động sẽ được đem đi cho vay đầu tư lấy lãi vào những dự án dài hạn, với khả năng thanh khoản thấp [Heffernan, 2005, tr.105] Trong trạng thái kinh doanh thông thường, khi người gửi tiền tin tưởng vào hệ thống ngân hàng, khủng hoảng ngân hàng sẽ không xuất hiện Nhưng khi niềm tin bị “lung lay”, ví dụ khi một hoặc nhiều ngân hàng gặp khó khăn về vấn đề thanh toán do các khoản nợ xấu gia tăng, đột biến rút tiền gửi có thể xảy ra Khủng hoảng thanh khoản

có thể bùng nổ và làm cho hiệu quả của hệ thống ngân hàng giảm Tuy nhiên, vấn

đề không chỉ dừng lại ở đây Việc bán gấp tài sản để đối phó với việc rút tiền gửi của những ngân hàng hoạt động tốt khi nhu cầu rút tiền gửi tăng đã làm giảm giá tài sản, nghĩa là giảm giá trị của tài sản ngân hàng Hậu quả, vốn cơ sở của ngân hàng giảm và dẫn tới những vấn đề về thanh toán Vấn đề thanh toán của những ngân hàng này xảy ra tới cao trào có thể thổi bùng thành một cuộc khủng hoảng thanh khoản mới, cuối cùng sẽ là khủng hoảng ngân hàng Theo lý thuyết đã được học thì các ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng nhiều cách bao gồm cả đa dạng hóa danh mục đầu tư, họ có thể cho vay đối với các lĩnh vực rủi ro khác nhau, hoặc đòi hỏi tài sản thế chấp vay nhưng trên thực tế, đa dạng hóa danh mục đầu tư cho vay là không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro tín dụng cho các ngân hàng, hơn nữa

Trang 20

việc quản lý tài sản thế chấp khi cho vay là không hiệu quả do việc khó khăn trong đánh giá giá trị thực của nó và tốn kém nguồn lực để theo dõi và thường phải chịu

sự biến động Vì vậy, rủi ro tín dụng luôn luôn tồn tại bất chấp nỗ lực quản lý của ngân hàng Lý thuyết này nêu ra bất kỳ cú sốc bất lợi nào ảnh hưởng đến người đi vay đều có mối quan hệ với khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng

Yếu tố khác dẫn đến việc làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng đó

là tỷ suất lợi nhuận không phù hợp với chi phí huy động vốn Phần lớn các ngân hàng huy động tiền gửi ngắn hạn và cho vay dài hạn Lượng lớn tiền gửi huy động

sẽ được đem đi cho vay đầu tư lấy lãi vào những dự án dài hạn, với khả năng thanh khoản thấp Các ngân hàng này thường kết hợp hoạt động của ngân hàng truyền thống và ngân hàng đầu tư và bị lôi cuốn hoàn toàn vào hoạt động của thị trường tài chính Họ thường thu hút hầu hết số vốn của họ bằng cách bán những chứng khoán

nợ ngắn hạn có giá trị cố định (các khoản tiền gửi) Trong số đó rất nhiều khoản tiền gửi bao gồm quyền đòi hoàn trả của người gửi tiền theo nguyên tắc ngang giá vào bất kỳ thời điểm nào (có tính thanh khoản cao) Ngân hàng lại đầu tư số vốn họ huy động được vào các loại chứng khoán, thường không có giá trị cố định và không bao gồm các quyền đòi hoàn trả của ngân hàng theo nguyên tắc ngang giá vào bất kỳ thời điểm nào (tính thanh khoản của các khoản đầu tư này không cao) Như vậy, ngân hàng phải gánh chịu rủi ro khi giá trị thị trường của các tài sản của họ có thể giảm xuống bằng hoặc thấp hơn giá trị các khoản nợ tiền gửi của ngân hàng đối với người gửi tiền do những thay đổi không mong đợi từ tỉ lệ lãi suất, vỡ nợ, tỉ giá hối đoái, thay đổi về quy chế, những sai phạm …Do hầu hết là các khoản đầu tư dài hạn, nên khi có sự gia tăng của lãi suất tiền gửi, ngân hàng buộc phải tăng chi phí sử dụng vốn, trong khi các khoản cho vay từ các hợp đồng dài hạn thường cố định và rất khó thay đổi Và khi ngân hàng yêu cầu tỷ lệ tiền vay cao hơn sẽ tác động tiêu cực đến khách hàng, lúc này khách hàng khó tiếp cận nguồn vốn vay, đồng thời các khoản nợ xấu gia tăng Việc gia tăng lãi suất trong ngắn hạn có thể xuất phát từ việc các nhà hoạch định chính sách tiền tệ trong nỗ lực nhằm thắc chặt tiền tệ, hay chống

Trang 21

lại các hoạt động đầu cơ hay từ các hoạt động nhằm đẩy mạnh tự do tài chính của chính phủ

Ngoài ra tính an toàn của hệ thống ngân hàng còn phụ thuộc vào các nguy

cơ tiềm ẩn từ tiền gửi nước ngoài, yếu tố này cũng có các tác động tiêu cực đến các hoạt động của ngân hàng Tự do hóa tài chính mang lại không ít lợi ích, xét về phương diện dài hạn, đối với những nước đang phát triển Nhưng những cuộc cải cách như vậy cũng sẽ đưa đến những rủi ro mới cho hệ thống ngân hàng – có thể tăng nguy cơ của khủng hoảng ngân hàng Trong khi ngân hàng vay ngoại tệ cho các khoản vay trong nước, đồng thời NHNN thực hiện việc phá giá mạnh tỷ giá hối đoái cũng có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Trong trường hợp này các ngân hàng chỉ có thể loại bỏ rủi ro tỷ giá bằng việc chủ yếu huy động tiền gửi tiết kiệm trong nước Tuy nhiên không có hy vọng rằng nguy cơ này biến mất hoàn toàn, do trong nền kinh tế mở, rủi ro tỷ giá có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động của ngân hàng Vấn đề là các nhà quản trị ngân hàng phải kịp thời nắm bắt, phân tích nguyên nhân biến động tỷ giá, làm tốt công tác dự báo tỷ giá, trên cơ sở đó lựa chọn các giải pháp quản lý rủi ro tỷ giá phù hợp, hạn chế đến mức thấp nhất tác động từ biến động tỷ giá, phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng ổn định, bền vững của mình, qua đó cũng tránh làm gia tăng các khoản nợ xấu cho ngân hàng

Một cuộc rút vốn hàng loạt, đột ngột của những người gửi tiền nước ngoài sau một thời gian dài đầu tư được xem như nguồn vốn đầu tư vào trong nước cũng được xem như là nguồn gốc của những bất ổn trong lĩnh vực ngân hàng(theo Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a)), cho rằng dòng vốn chảy vào trong nước tăng cao là nhờ sự tác động kết hợp của hai hoạt động đó là tự do hóa tài chính và lãi suất đồng nội tệ cao Khi các nhà đầu tư nước ngoài mất lòng tin hoặc lãi suất ngoại tệ tăng cao, lúc đó họ sẽ đồng loạt rút các khoản tiền gửi của mình, điều đó làm cho các ngân hàng trong nước trở nên kém thanh khoản

Ở các nước, khi mà các nhà đầu tư tài chính trong nước lẫn trốn đồng tiền nội địa như một kỳ vọng vào sự mất giá của đồng nội tệ sẽ sớm xảy ra, hành động này cũng góp phần nguy cơ xảy ra khủng hoảng Quan điểm này lần đầu tiên được

Trang 22

đề cập đến trong nghiên cứu của Krugman về mô hình khủng hoảng cán cân thanh toán Theo quan điểm của mình, ông cho rằng các nhà đầu tư để tránh việc tổn thất trong đầu tư tài chính, họ thường có khuynh hướng sử dụng đồng nội tệ để mua các đồng ngoại tệ của các nước có nền kinh tế phát triển Theo Sach et al (1996), vấn đề của các ngân hàng trong trường hợp này là khách hàng sẽ giảm bớt các khoản tiền gửi tại các ngân hàng, và khi đó hệ thống ngân hàng sẽ gặp vấn đề về thanh khoản khi hiện tượng rút vốn đồng loạt diễn ra

Ngoài ra nguyên nhân có thể xuất phát tử quá trình thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ mở rộng, các nhà hoạch định chính sách thông thường thực hiện các biện pháp tự do hóa tài chính, đây lại được xem là một trong những nguyên nhân chính gây ra khủng hoảng (Ergungor và Thomson (2005) Việc hệ thống tài chính ngày càng được quốc tế hóa, bên cạnh những mặt thuận lợi còn là những thách thức không nhỏ dành cho hệ thống ngân hàng Giannetti (2006) đã nhận xét, nhờ việc tự do hóa trong lĩnh vực tài chính, các công ty mà trước đây phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng, có thể dễ dàng tiếp cận thị trường tài chính thông qua các công cụ là trái phiếu doanh nghiệp hoặc thương phiếu Xét về mặt cung, các nhà đầu tư quốc tế sẵn lòng cung cấp một lượng vốn lớn với một chi phí thấp hơn Dưới áp lực cạnh tranh cao hơn, thị trường tiền gửi bị nhỏ lại, buộc các ngân hàng phải trả thêm tiền để thu hút người gửi tiền từ các đối thủ cạnh tranh Do

đó, lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm, chi phí tăng, các tổ chức ngân hàng yếu kém sẽ rơi vào thua lỗ và đối mặt với viễn cảnh phải sụp đỗ hoặc sát nhập

Một yếu tố khác liên quan đến khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng là việc áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng với lãi suất thấp trong thời gian dài Việc tăng trưởng tiền tệ quá mức thường dẫn đến việc gia tăng trong giá trị tài sản: bất động sản, cổ phiếu và các khoản vay tiêu dùng Các ngân hàng ứng phó với những thay đổi này bằng việc gia tăng thị phần của họ trên thị trường do việc tăng giá của tài sản là tín hiệu tốt cho thấy việc đầu tư trên thị trường đang tăng trong khi rủi ro đang ở mức thấp Xu hướng này cứ tiếp tục như thế do những người tham gia trên thị trường đều tin tưởng rằng giá trị các tài sản sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới

Trang 23

Tuy nhiên, ngay cả khi các ngân hàng nhận ra rằng xu hướng này là thực sự không bền vững, họ vẫn có thể tiếp tục phải cho vay với hy vọng họ có thể tự tháo gỡ khỏi các khoản nợ và đầu tư xấu trước khi thị trường sụp đỗ (đây là cách nghĩ quá tự tin).Trong bài nghiên cứu “Bubbles in Real Estate Markets” (Bong bóng trên các thị trường Bất động sản), Herring và Wachter (2002), chỉ ra rằng động cơ để cho vay và đầu tư vào các lĩnh vực nhiều rủi ro làm giá của thị trường bất động sản tăng nhanh

là bởi các cú sốc lớn ảnh hưởng đến nền kinh tế không thường xuyên xảy ra, do đó các ngân hàng thường không ước đoán được khả năng tác động Dù là cách nghĩ quá

tự tin hoặc đánh giá thấp các cú sốc không dự đoán thì những điều này cũng đóng vai trò quan trọng trong khả năng xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng Dù là lý

do nào đi nữa thì kết quả cuối cùng thường là như nhau

Ngoài ra, nền kinh tế với mức lạm phát cao do sự tác động từ việc gia tăng giá tài sản và sự bùng nổ tín dụng trong thời gian dài, buộc chính phủ phải có những chính sách can thiệp mạnh mẽ (Ergungor và Thomson (2005), cũng được xem như một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng ngân hàng Trong trường hợp này, chính phủ ban hành các chính sách quy định lãi suất và hạn chế các khoản vay

là một trong các biện pháp chính phủ có thể áp dụng để làm nguội nền kinh tế Kết quả của việc này có thể làm tăng trưởng kinh tế chậm lại, kéo theo sự suy giảm giá trị của tài sản cũng nhưng giảm khả năng trả nợ của người đi vay, lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống và các khoản nợ xấu gia tăng làm xói mòn nguồn vốn của

họ, tác động xấu đến hệ thống ngân hàng

Công tác quản lý, quản trị tốt trong hệ thống ngân hàng được xem là một trong những yếu tố quyết định quan trong việc làm giảm các thiệt hại từ cuộc khủng hoảng, vai trò của người quản trị trong ngân hàng là phải giám sát và duy trì hệ thống ngân hàng trong môi trường lành mạnh, nhưng đôi khi mục tiêu đó không được thực hiện đầy đủ Trong một vài trường hợp, hạn chế về ngân sách và trình độ đội ngũ quản lý là những rào cản, hạn chế khả năng kiểm soát của họ Một khả năng khác cũng thường được đề cập như là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát của các ngân hàng đó là áp lực tăng trưởng, đặc biệt là trong

Trang 24

giai đoạn phát triển nóng của nền kinh tế Ví dụ: trong giai đoạn chính phủ thực hiện chính sách tự do hóa tài chính kết hợp với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhà quản lý ngân hàng không hoàn toàn dễ dàng đóng cửa các ngân hàng mất khả năng thanh toán và điều chỉnh các mục tiêu đầu tư của ngân hàng để họ không quá lao vào các dự án có mức độ rủi ro cao, mặc dù điều này có thể đem lại cho ngân hàng lợi nhuận cao hơn Các lý do kể trên làm cho công tác quản trị tại các ngân hàng trở nên tệ hơn và khởi đầu cho khủng hoảng ngân hàng Trong bài nghiên cứu về lý thuyết khủng hoảng ngân hàng, Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) cũng tán đồng quan điểm này, tại các quốc gia mà lĩnh vực tài chính ngân hàng, hệ thống pháp luật còn thiếu và yếu kém và chất lượng kiểm soát hoạt động ở mức thấp là những điều kiện tốt cho khủng hoảng ngân hàng xảy ra Trong điều kiện đó, các nhà quản lý ngân hàng có thể đầu tư vào các dự án đẩy rủi ro, cũng như họ có thể sử dụng tiền vào các mục đích cá nhân, gây tổn thất cho ngân hàng, làm gia tăng khả năng xảy ra khủng hoảng

1.2 Nghiên cứu thực nghiệm

Trong một nghiên cứu về các mô hình khủng hoảng kinh tế và tài chính, Roberto et al (2005) đã chỉ ra rằng một trong những các tiếp cận trong việc dự đoán khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng là việc sử dụng mô hình logic hay mô hình probit để xem xét các chỉ số cảnh báo Mô hình này đòi hỏi phải có một biến khủng hoảng giả có vai trò như một biến phụ thuộc và xây dựng các biến giải thích là các biến liên quan đến lĩnh vực tài chính, kinh tế vĩ mô Theo Roberto et al (2005) phương pháp này được sử dụng rộng rãi hơn các phương pháp khác do có lợi thế hiệu quả hơn và còn có lợi thế trong việc ước lượng thống kê tác động của các biến giải thích khác nhau lên biến phụ thuộc Hơn nữa, phương pháp này còn có thể dùng trong việc dự đoán khả năng xảy ra khủng hoảng trong tương lai

Trong nghiên cứu về các yếu tố tác động đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng, Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) đã xây dựng lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng bằng việc tập trung nghiên cứu về vai trò của hệ thống ngân hàng

Trang 25

trong nền kinh tế cũng như tập trung xem xét các vấn đề tài chính các ngân hàng Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) đã sử dụng phương pháp này trong bài nghiên cứu về các nhân tố quan trọng tác động đến khủng hoảng ngân hàng của họ Cách tiếp cận bằng mô hình logit cho phép các tác giả nối kết các biến giải thích để làm rõ có hay không khả năng xảy ra khủng hoảng Biến giả (biến khủng hoảng ngân hàng) nhận các giá trị 1 (tương ứng với khủng hoảng xảy ra), 0 (không có khủng hoảng) Các tham số khác của hàm logit thu được bằng phương pháp ước lượng hợp lý cực đại

Giống như quan điểm của trường phái cổ điển đã được đề cập ở trên, Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) cũng đồng ý là nguyên nhân khủng hoảng

là sự phản ứng lại các thông tin bất đối xứng giữa người gửi tiền và ngân hàng Trong trạng thái kinh doanh thông thường, khi người gửi tiền tin tưởng vào hệ thống ngân hàng, khủng hoảng ngân hàng sẽ không xuất hiện Nhưng khi niềm tin bị “lung lay”, ví dụ khi một hoặc nhiều ngân hàng gặp khó khăn về vấn đề thanh toán do các khoản nợ xấu, đột biến rút tiền gửi có thể xảy ra Khủng hoảng thanh khoản có thể bùng nổ và làm cho hiệu quả của hệ thống ngân hàng giảm Việc đồng loạt rút vốn khỏi một ngân hàng có thể chưa dẫn đến khủng hoảng ngân hàng, nhưng trong điều kiện nhất định, người gửi tiền không phân biệt ngân hàng nào đang hoạt động tốt, lúc này sẽ dẫn đến việc rút vốn dây chuyền, gây khó khăn cho cả hệ thống ngân hàng Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) cho rằng thiết lập cơ chế bảo hiểm tiền gửi giảm nguy cơ gây hoảng loạn ngân hàng, Hoạt động bảo hiểm tiền gửi góp phần củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, có thể ngăn ngừa và hạn chế được các cuộc rút tiền ồ ạt gây nên hậu quả rất nghiêm trọng đối với bản thân các ngân hàng xảy ra đột biến rút tiền gửi nói riêng và cả hệ thống nói chung Hoạt động bảo hiểm tiền gửi cũng giúp các ngân hàng hoạt động yếu kém, không thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng một cách có trật tự, không ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và toàn hệ thống Tuy nhiên việc này có khi lại đem đến tác động ngược, khi tiền gửi được bảo hiểm thì người gửi tiền sẽ không mặn mà với việc giám sát hoạt động của các ngân hàng,

Trang 26

ngân hàng có thể cho vay mạo hiểm hơn (liên quan đến rủi ro đạo đức), lại ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng Theo Kane (1989), tại nhiều nước, việc thực hiện bảo hiểm tiền gửi nhưng chưa chuẩn bị đầy đủ cho tự do hóa tài chính lại là “điều kiện tốt” cho các cuộc khủng hoảng ngân hàng xảy ra Có thể

kể ra đây một số cuộc khủng hoảng ngân hàng gắn liền với việc chưa chuẩn bị đầy

đủ cho tự do hóa tài chính là khủng hoảng ngân hàng tại Brazil, Chile, Mexico

Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) dựa vào lý thuyết khủng hoảng ngân hàng để xác định các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến khả năng xảy ra khủng

hoảng bao gồm các yếu tố thuộc về kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng GDP thực,

thay đổi trong tỷ giá thương mại, tỷ lệ thay đổi của tỷ giá hối đoái, lãi suất thực, tỷ

lệ thặng dư ngân sách của chính phủ so với GDP), các biến tài chính (tỷ lệ cung

tiền M2 so với dự trữ ngoại hối, tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân nội địa so với GDP,

tỷ lệ dự trữ thanh khoản so với tài sản của ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng

thực trong nước) và các biến thuộc về thể chế (bảo hiểm tiền gửi, GDP thực bình

quân đầu người, ) Họ sử dụng các dữ liệu vĩ mô của các nước đã và đang phát triển trong giai đoạn 1980-1994 cho bài nghiên cứu của mình, dữ liệu chủ yếu được trích xuất từ IFS (international Financial Statistic) Bài nghiên cứu bắt đầu từ danh sách các thành viên thuộc IMF Một vài quốc gia bị loại trừ do việc thiếu các dữ liệu cần thiết cho bài nghiên cứu, cuối cùng danh sách chốt lại là dữ liệu của 45 quốc gia được sử dụng vào mô hình nghiên cứu của họ

Kết quả hồi quy họ đạt được qua mô hình: tốc độ tăng trưởng chậm, tỷ lệ lạm phát cao và tình hình quản lý kinh tế vĩ mô yếu kém là những nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng, bên cạnh đó lãi suất thực ở mức cao cũng có liên quan đến vấn đề này Và việc thực thi pháp luật yếu kém cũng có liên quan mật thiết đến rủi

ro khủng hoảng

Các tác động ngược lại, do chịu ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng ngân hàng, đến các yếu tố được đại diện thông qua các biến giải thích, cũng đã được hai ông Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) đề cập đến trong bài nghiên cứu của mình cũng vẫn còn hữu dụng cho các nghiên cứu tiếp theo sau này Theo bài nghiên

Trang 27

cứu của mình, hai ông đã tranh luận về quan điểm cho rằng các cuộc khủng hoảng ngân hàng có thể gây ra các tác động lên chính các yếu tố, được đại diện qua các biến giải thích Minh chứng cho việc này là tỷ lệ tín dụng trên GDP, tỷ lệ này có xu hướng đi xuống sau khi các cuộc khủng hoảng ngân hàng diễn ra, và việc giảm sút của tín dụng kéo theo các tác động xấu đến các biến khác, ví dụ: sự sụt giảm của GDP Biến lãi suất thực cũng là một ví dụ khác cho vấn đề này, theo các lý thuyết trước đó, khủng hoảng ngân hàng có thể gây nên từ lãi suất thực thấp, đó có thể là kết quả trong thời gian dài từ các chính sách thắt chặt tiền tệ hoặc do các hoạt động trong quá trình giải cứu các ngân hàng Theo tác giả, kết quả hồi quy phải loại trừ tất cả các quan sát sau giai đoạn khủng hoảng Hay nói cách khác, một cách tiếp cận khác là thiết lập mô hình hồi quy bao gồm tất cả các quan sát tới ngày kết thúc của cuộc khủng hoảng Tuy nhiên việc này không dễ, để xác định ngày cuối cùng của các cuộc khủng hoảng ngân hàng có thể quá trễ hoặc quá sớm

Trong bài viết của mình, Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) lại tìm thấy rằng khả năng xảy ra khủng hoảng tại một nước đã có kinh nghiệm đối phó với vấn đề lại cao hơn so với những nước chưa từng có kinh nghiệm Vì lý do đó, các ông đề xuất đến việc các mô hình ước lượng nghiên cứu khác có thể thêm vào các biến: số lượng các cuộc khủng hoảng trong quá khứ cũng như khoảng thời gian trải qua khủng hoảng lần cuối

Một kỹ thuật khác cũng được sử dụng trong phương pháp dự báo khủng hoảng ngân hàng được xây dựng bởi Roberto et al (2005) là phương pháp tiếp cận dựa trên các dấu hiệu cảnh báo Phương pháp này đòi hỏi cần phải xây dựng một giá trị ngưỡng cho mỗi biến giải thích, tạm gọi là ngưỡng an toàn Khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng được cho là tăng lên khi các chỉ số của các biến vượt quá ngưỡng an toàn và ngược lại Lý tưởng nhất là giá trị ngưỡng phải được chọn sao cho khi các chỉ số của các biến vượt qua ngưỡng này thì có nghĩa là xảy ra khủng hoảng Vấn đề của phương pháp này là làm sao để xây dựng được các giá trị ngưỡng này và lấy nó làm chuẩn cho việc cảnh báo sớm khủng hoảng Trong bài nghiên cứu của mình, Kaminsky và Reinhart (1996) đã tiếp cận vấn đề về khủng hoảng ngân hàng bằng

Trang 28

vận dụng tỷ lệ dấu hiệu cảnh báo tối thiểu (minizing signal-to-noise ratio) Tỷ lệ này được xác định như là tỷ lệ của các dự báo khủng hoảng sai lầm so với tỷ lệ cảnh báo thành công Do đó, tỷ lệ này càng nhỏ, hiệu quả dự báo khủng hoảng càng cao Theo cách này, Kaminsky and Reinhart (1996), đã tiếp tục công việc bằng việc thay thế các giá trị ngưỡng khác nhau qua đó tìm được giá trị nhỏ nhất của tỷ lệ cảnh báo Roberto et al (2005) lập luận rằng với phương pháp này rất dễ để tìm nguồn gốc của các cuộc khủng hoảng Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm đó, phương pháp này không tính đến các tương tác giữa các biến với nhau và không cung cấp một khuôn khổ nào cho việc thử nghiệm thống kê và tính toán đến các khả năng khủng hoảng trong tương lai

Kaminsky và Reinhart (1996), trong nghiên cứu của mình về các nguyên nhân có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng, các tác giả đã thông qua việc quan sát các chính sách của ngân hàng trung ương trong thời kỳ khủng hoảng Theo quan điểm của hai tác giả này, khủng hoảng ngân hàng liên quan mật thiết đến các hoạt động của ngân hàng nhà nước như: việc người gửi rút tiền gửi tăng đột biến, có thể xuất hiện các hoạt động: đóng cửa, sáp nhập, mua lại, hoặc trợ giúp của chính phủ đối với một hoặc nhiều tổ chức tài chính

Bài viết của Kaminsky và Reinhart (1996), không phải không có mặt hạn chế Bài viết có thể đề cập đến các cuộc khủng hoảng quá muộn, bởi vì các vấn đề tài chính thường bắt đầu trước khi một ngân hàng buộc phải đóng cửa hoặc sát nhập, hoặc cũng có thể là quá sớm do những tác động xấu nhất của cuộc khủng hoảng có thể chỉ đến trong thời gian sau đó Hơn nữa, bài nghiên cứu này còn bị hạn chế trong việc thu thập dữ liệu, Kaminsky và Reinhart (1996), chỉ liệt kê danh sách khủng hoảng hệ thống ngân hàng của hơn 20 quốc gia, việc này gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu tiếp theo trong việc mở rộng phạm vi nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu về khủng hoảng ngân hàng của hai tác giả Caprio và Klingebiel (1996b), theo quan điểm của mình, hai ông đã định nghĩa về khủng hoảng ngân hàng là trường hợp mà giá trị thực của hệ thống ngân hàng đã gần như hoàn toàn bị loại bỏ, điều này khác biệt với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu

Trang 29

khác: các ngân hàng tại nhiều nước vẫn có vấn đề mặc dù hệ thống ngân hàng đang

có dấu hiệu lạc quan Tuy nhiên, theo hai tác giả đề cập vấn đề khủng hoảng ngân hàng sẽ dễ dàng được xác định hơn nếu kết hợp khủng hoảng ngân hàng cùng với việc mất khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng Khi các ngân hàng nắm giữ quá nhiều các khoản nợ xấu, các khoản nợ này đủ sức thổi bay vốn của hệ thống ngân hàng Dựa trên dữ liệu của khu vực ngân hàng tại các nước đang phát triển trong những năm 1980, Caprio và Klingebiel (1996b), cho thấy tỷ lệ nợ xấu tối thiểu chiếm 5% tổng số nợ vay là đủ để gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng Trong bài nghiên cứu của mình, các tác giả Caprio và Klingebiel (1996b) đã xem xét hơn 80 cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới thông qua việc cập nhập dữ liệu từ các cuộc nghiên cứu khác bao gồm các nghiên cứu của Caprio và Klingebiel (1996c) và Honohan et al (2005), Trong dữ liệu nghiên cứu của mình, hai nhà nghiên cứu này cũng đã chỉ ra được 75% các nước gặp khủng hoảng ngân hàng, tỷ lệ giá trị thương mại xuất khẩu giảm gần 10% trong những năm trước khi khủng hoảng

1.3 Tóm tắt chương 1

Tóm lại, các yếu tố quyết định đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng có thể

phân chia thành ba nhóm lớn riêng biệt, bao gồm nhóm các yếu tố vĩ mô (các khó khăn của người đi vay, lãi suất danh nghĩa, các chính sách mở rộng tiền tệ), nhóm các yếu tố tài chính (các cuộc tấn công đầu cơ, tự do hóa tài chính) và cuối cùng là nhóm các yếu tố do thể chế (chất lượng quản trị của hệ thống ngân hàng, chính

sách bảo hiểm tiền gửi) Mặc dù từ các nguồn tài chính khác nhau, các yếu tố góp phần vào trong cuộc khủng hoảng theo những cách khác nhau và đôi khi có thể thấy được các tương tác của hai hay ba yếu tố đồng thời tác động tạo thành khủng hoảng (ví dụ biến lãi suất thực) Điều này làm vấn đề trở nên phức tạp và qua đó giới hạn đáng kể khả năng của đề tài trong việc tiếp cận đánh giá tác động riêng rẽ của từng yếu tố riêng biệt Qua đó, thảo luận xa hơn về các phương pháp tập trung vào tác động của mỗi yếu tố đến khủng hoảng sẽ được tập trung đề cập đến trong phần tiếp theo Bên cạnh đó, xem xét lại các nghiên cứu thực nghiệm cũng ít nhất cung cấp

Trang 30

hai giải pháp (mô hình logit và mô hình sử dụng tỷ lệ dấu hiệu cảnh báo tối thiểu)

để tiếp cận mục tiêu chính của bài nghiên cứu này Điều quan trọng là mỗi phương pháp đều có thuận lợi cũng như bất lợi riêng của nó Do đó, trong chương tiếp theo

đề tài này cần xem xét một cách cẩn trọng trong việc lựa chọn mô hình cho bài nghiên cứu

Trang 31

CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU

Trong phần trước, các giả thuyết thể hiện mối liên hệ giữa khủng hoảng ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô đã được đề cập và thảo luận trong lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng Bên cạnh đó, trong chương này tôi đã xem xét lại các nghiên cứu thực nghiệm về khủng hoảng ngân hàng trên thế giới

Dựa trên cơ sở đã đề cập trong phần trước, bước tiếp theo trong chương này

là việc đề xuất mô hình phù hợp, thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê và các phần có liên quan khác nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu Chương này sẽ được phác thảo và sắp xếp thành 3 phần có liên quan: lựa chọn mô hình nghiên cứu, định

rõ mô hình và nguồn thu thập dữ liệu

2.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu

Lý thuyết khủng hoảng ngân hàng trong chương trước đã hoàn thành một vấn

đề rất cơ bản của bài nghiên cứu này, đó là làm rõ khả năng của các biến vĩ mô khác nhau tác động đến các cuộc khủng hoảng Điều này rất quan trọng nhờ đó cung cấp khuôn khổ cho việc áp dụng các phương pháp thống kê vào việc dự đoán khả năng xảy ra khủng hoảng

Xem xét các công trình nghiên cứu thực nghiệm đã đề cập đến hai khả năng

có thể sử dụng để đạt được mục tiêu thứ hai của bài nghiên cứu này, đó là việc xác định giá trị giới hạn cho mỗi biến nhằm tối thiểu hóa khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng Phương pháp thứ nhất là dựa trên tỷ lệ dấu hiệu cảnh báo tối thiểu Như

đã nói ở trên, việc giảm đến mức tối thiểu tỷ lệ dấu hiệu cảnh báo bằng việc thay thế các ngưỡng khác nhau cho phép Kaminsky and Reinhart (1996) hiểu được cách hạn chế tần suất của các cuộc khủng hoảng Tuy nhiên, kết quả của phương pháp này là

có thể chấp nhận về mặt tối thiểu hóa được khả năng xảy ra khủng hoảng Do đó, có

lẽ cách tiếp cận tốt nhất cho trường hợp này là sử dụng mô hình logit đa biến Mô hình này cung cấp nền tảng cho việc đánh giá tác động biên của mỗi biến lên khả năng gây ra khủng hoảng và qua đó khả năng khủng hoảng có thể giảm bớt Hơn

Trang 32

e

z Zi

Mục tiêu của mô hình logit là nghiên cứu mối tương quan giữa một (hay nhiều) yếu tố nguy cơ và đối tượng phân tích Chẳng hạn như đối với bài nghiên cứu này là mối tượng quan giữa khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng đến từ các yếu

tố kinh tố vĩ mô, các yếu tố tài chính, và các yếu tố từ thể chế… Trong mô hình hồi quy logit thì các đối tượng nghiên cứu thường được thể hiện qua các biến số nhị phân (binary) như xảy ra/không xảy ra, có/không… Nếu một mô hình hồi quy thông thường nào đó được sử dụng trong trường hợp này thì không có gì đảm bảo rằng giá trị dự báo trước sẽ nằm trong khoảng 0 và 1, tức là có hoặc không việc xảy ra khủng hoảng ngân hàng

Dựa trên Bài kinh tế lượng cơ bản của Gujarati (2003), mô hình logit dựa trên hàm phân phối xác suất logistic Mô hình này có thể được tính toán bằng công thức sau:

1

1 )

/ 1

Trang 33

Hay

Zi Zi Zi

i

e

e P

là 0

Lấy ln cả hai vế, phương trình:

j k k i

Trong mô hình logit, các nhà kinh tế không nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc mà xem xét ảnh hưởng của các biến độc lập đến khả năng xảy ra khủng hoảng hay kỳ vọng của P Một điều cần lưu ý là việc thay đổi một đơn vị của các biến giải thích không ảnh hưởng đến khả năng xảy ra khủng hoảng Công thức (2.6) cho thấy rằng, các hệ số thể hiện tác động của việc thay đổi một đơn vị của các biến giải thích lên hàm log của tỷ số odd (tỷ số khả năng) Vì vậy, tác động biên của mỗi biến lên khả năng xảy ra khủng hoảng thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào các hệ số của nó Bên cạnh đó, hình dạng của hàm logic (hình dạng S) cũng cho thấy điều thú vị, đó là sự thay đổi của các biến giải thích có tác động khác nhau lên khả năng xảy ra khủng hoảng tùy thuộc vào tình trạng ban đầu của nó Hay nói cách khác, nếu khả năng xảy ra khủng hoảng của một nước đang ở mức độ thấp (khó xảy ra), tác động biên của các biến độc lập lên khả năng xảy ra khủng hoảng là thật sự không đáng kể, nhưng cùng một mức độ tác động

Trang 34

biên đó sẽ ảnh hưởng mạnh hơn lên khả năng khủng hoảng nếu các nước đó đang

có dấu hiệu cảnh báo khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng

Hình 1: Đường cong Logit

2.2 Lý thuyết mô hình và mô hình chi tiết

2.2.1 Lý thuyết mô hình

Trong cuốn sách viết về kinh tế của mình Gujarati (2003) đã nhận định khi xây dựng bất kỳ mô hình nào thì cũng cần có sự kết hợp của các yếu tố sau: lý thuyết kinh tế, hành vi con người, các nghiên cứu trước đó và các kinh nghiệm thực tiễn được rút ra trong quá khứ Tuy nhiên, việc sai số trong việc nghiên cứu vẫn có thể xảy ra do các nguyên nhân sau: (1) Mô hình xem xét thiếu các biến có liên quan hoặc cũng có thể bao gồm cả những biến không có liên quan hay (2) do mô hình nghiên cứu đề nghị xem xét không phù hợp Đối với sai số (2) các nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả trên thế giới thừa nhận rằng phương trình logit là phù hợp cho việc nghiên cứu xác suất xảy ra khủng hoảng ngân hàng Đối với sai số (1), bài nghiên cứu này được tiến hành theo cách sẽ lập mô hình từ tổng quát đến đơn giản,

để qua đó có được mô hình chất lượng và có được các kết quả đáng tin cậy Điểm mấu chốt của vấn đề này là mô hình đề xuất ban đầu sẽ bao gồm bao nhiêu hệ số hồi quy Theo Gujarati (2003) việc lập mô hình từ tổng quát đến đơn giản có thể dẫn đến sự có mặt của các biến không phù hợp trong mô hình, tuy nhiên việc này không quan trọng, bởi người nghiên cứu sẽ từng bước hướng đến mô hình không chệch và

Trang 35

ước lượng các hệ số đáng tin cậy Xa hơn nữa, là việc ước lượng chính xác các sai

số và phương pháp kiểm định giả thuyết vẫn tiếp tục được thực hiện Điểm bất lợi

của phương pháp này là việc có mặt của các biến không thực sự cần thiết, điều này

có thể làm việc dự báo thiếu đi chính xác Bằng các phương pháp kiểm định, qua đó

từng bước sẽ tìm ra phương trình phù hợp theo yêu cầu Theo cách nhìn nhận như

trên thì phương thức sử dụng mô hình từ tổng quát đến đơn giản dường như là sự

lựa chọn tốt nhất trong trường hợp này

2.2.2 Mô hình chi tiết

Như vậy, nhìn chung phương thức để xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng là tập hợp tất cả các biến mà tôi có thể thu thập được Dựa

trên khung lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng và các dữ liệu có sẵn, mô hình

nghiên cứu đề nghị cho bài viết này như sau: Phương trình (2.7)

i i

i i

U th Creditgrow Deposit

serve M

TOT Inflation

Ex erest

al Growth

P

P Ln L

6 5

4 3

2 1

Với: Growth là đại diện của biến các yếu tố tăng trưởng của một quốc gia

Real interest là đại diện của biến nhân tố lãi suất

Ex là đại diện của biến nhân tố tỷ giá Inflation là đại diện của biến nhân tố lạm phát TOT là đại diện của biến nhân tố tỷ giá thương mại M2/Reserve là đại diện của biến các nhân tố tấn công tiền tệ Deposit là đại diện của biến các nhân tố bảo hiểm tiền gửi Creditgrowth là đại diện của biến các nhân tố tự do hóa thương mại

Và u là đại diện các biến không quan sát được và góp phần gây ra khủng hoảng ngân hàng

2.2.2.1 Biến Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (Growth)

Biến được đề cập đến đầu tiên trong mô hình nghiên cứu là biến tỷ lệ tăng trưởng GDP thực Từ lý thuyết của khủng hoảng ngân hàng mà tôi đã đề cập từ

Trang 36

trước chỉ ra rằng các tác động tiêu cực của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến tình trạng tài chính của những người đi vay và cả hệ thống ngân hàng Vì thế, sẽ làm gia tăng các các khoản nợ xấu và là điều kiện để xảy ra khủng hoảng ngân hàng Trong nhiều trường hợp, phương pháp đa dạng hóa các khoản nợ và đầu tư ở nhiều lĩnh vực khác nhau là biện pháp khôn khéo để giảm rủi ro nhưng trong điều kiện mọi thứ đang trở nên trì trệ, khó cứu vãng thì biện pháp này dường như cũng không hiệu quả Đại diện cho việc ghi nhận các cú sốc của kinh tế vĩ mô, bài nghiên cứu này sử dụng tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế trong nước (GDP) Biến này sử dụng dữ liệu trong dòng 99bvp của IFS, được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của GDP thực của từng quốc gia qua các năm

2.2.2.2 Biến Lãi suất thực (real interest)

Đây là biến thứ hai được đề cập đến trong mô hình đề nghị (2.1) Như đã thảo luận ở trên, việc gia tăng đột ngột lãi suất thực trong ngắn hạn sẽ tác động xấu lên tình trạng tài chính của cả người đi vay và người cho vay Qua đó, cũng góp phần làm gia tăng khả năng xảy ra khủng hoảng cho hệ thống ngân hàng Theo lý thuyết đã đề cập, việc gia tăng lãi suất thực trong ngắn hạn chỉ ra rằng hệ thống ngân hàng bị đặt dưới áp lực thanh khoản, việc này có thể là hậu quả của cuộc tấn công tiền tệ của các nhà đầu cơ hoặc các chính sách tiền tệ mở rộng trong dài hạn hoặc do việc thực hiện chính sách tự do hóa tài chính của chính phủ Nói cách khác,

sử dụng biến này để dự báo khả năng khủng hoảng ngân hàng là rất cần thiết bởi vì

nó đại diện cho các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến cuộc khủng hoảng Đây được

kỳ vọng là biến sẽ có tác động mạnh trong các yếu tố cần nghiên cứu trong bài nghiên cứu này Biến này sử dụng dữ liệu từ dòng 60L, trong bộ dữ liệu của IFS Biến này đo lường tỷ lệ phần trăm thay đổi của lãi suất thực (lãi suất danh nghĩa loại

bỏ đi tỷ lệ lạm phát) qua các năm của các quốc gia

2.2.2.3 Biến Tỷ giá hối đoái (exchange rate)

Trang 37

Biến tiếp theo trong mô hình là biến tỷ giá hối đoái (biến tỷ giá), biến này được cho là chỉ làm tăng rủi ro khủng hoảng trong điều kiện cả người gửi và ngân hàng có các khoản nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn Trong hoàn cảnh này, chỉ cần một sự mất giá đột ngột của đồng nội tệ sẽ làm tăng nghĩa vụ trả nợ của họ (cả người gửi và ngân hàng), vì vậy lúc này khu vực tài chính trở nên dễ sụp đỗ Để kiểm nghiệm giả thuyết này, trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng tỷ lệ mất giá của

tỷ giá hối đoái, được đo lường bằng phần trăm thay đổi qua từng năm của tỷ giá trao đổi của tỷ giá của một quốc gia so với đồng đôla mỹ Dữ liệu được chiết xuất từ dòng ae cùa IFS

2.2.2.4 Biến Lạm phát (inflation)

Một nhân tố khác được đề xuất trong mô hình nghiên cứu này để dự đoán khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng là yếu tố liên quan đến lạm phát Trong bài nghiên cứu của mình, Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) sử dụng tỷ lệ này như

là biến đại diện cho các hoạt động quản lý yếu kém của chính phủ, chính việc quản

lý yếu kém này tác động lên nền kinh tế trên nhiều phương diện khác nhau Nhưng

có lẽ, lý do thuyết phục nhất là tình trạng lạm phát cao kéo dài gây tác động xấu đến tình hình kinh tế của một quốc gia, cũng như tình hình kinh doanh của ngân hàng và của doanh nghiệp Vì lý do đó, yếu tố lạm phát cũng được kỳ vọng góp phần làm tăng khả năng xảy ra khủng hoảng Nhân tố này đo lường bằng tỷ lệ thay đổi của chỉ

số giá tiêu dùng của từng quốc gia qua các năm, bài viết sử dụng dữ liệu tại dòng 64.x trong bộ dữ liệu IFS

2.2.2.5 Biến Tỷ lệ giá trị thương mại xuất khẩu (Terms Of Trade)

Như đã đề cập ở trên, Biến động của tỷ giá thương mại phản ánh thay đổi thu nhập của quốc gia tính theo hàng hóa nhập khẩu của nước ngoài Khi tỷ giá thương mại giảm, đồng nghĩa với thu nhập quốc gia giảm vì cần phải tăng thêm hàng xuất khẩu để mua được một đơn vị hàng nhập khẩu định trước, một cú sốc bất chợt của

tỷ giá thương mại đối với các khách hàng của ngân hàng cũng đồng thời làm gia

Trang 38

tăng mối lo ngại đến khả năng khủng hoảng ngân hàng Khi tỷ lệ giá trị thương mại xuất khẩu thay đổi đáng kể, các khách hàng càng gặp khó khăn hơn trong việc tìm nguồn vốn vay Chỉ số này đặc biệt cao và có mối tương quan với các cuộc khủng hoảng tài chính tại các nước đang phát triển, nơi mà các ngân hàng chưa quan tâm nhiều đến các lĩnh vực công nghiệp Biến này đo lường việc thay đổi tỷ lệ thương mại của từng quốc gia qua các năm, dữ liệu được thu thập từ WDI 2012

2.2.2.6 Biến Tỷ lệ cung tiền trên dự trữ ngoại hối (M2/Reserve) đại diện cho biến các hoạt động tấn công tiền tệ

Trong bài nghiên cứu của Sachs et al (1996) gợi ý rằng việc lo ngại tỷ giá sẽ mất giá có thể bắt nguồn cho việc tháo vốn khỏi ngân hàng Từ quan điểm này, nếu quốc gia đó có mức dự trữ ngoại hối thấp sẽ tạo động cơ cho những người đang nắm giữ đồng nội tệ có xu hướng chuyển sang nắm giữ đồng ngoại tệ Hệ thống ngân hàng sẽ đối mặt với khó khăn nếu xu hướng này dẫn đến người gửi tiền đồng loạt rút tiền của họ khỏi ngân hàng Kết quả có thể dẫn đến các ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Trong bài nghiên cứu của Demirguc-Kunt and Detragrache (1998a) đã sử dụng tỷ lệ M2 (tiền cộng với các khoản tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại) trên lượng dự trữ ngoại hối để đánh giá tác động của cuộc tấn công tiền tệ lên hệ thống ngân hàng Theo tác giả Calvo (1996) cho rằng tỷ

lệ này là một yếu tố quyết định để dự đoán cuộc khủng hoảng ngân hàng có nguồn gốc từ sự mất cân đối của cán cân thanh toán Dữ liệu trong bài viết của tôi được chiết xuất từ dòng 34-35 của bộ dữ liệu IFS để đo lường cho biến M2 (gồm tiền và các khoản tiền cộng với các khoản tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại) trên lượng dự trữ ngoại hối của ngân hàng nhà nước (hoặc ngân hàng trung ương) của các quốc gia qua từng năm (dữ liệu thu thập từ dòng 1d.d của IFS)

2.2.2.7 Biến Bảo hiểm tiền gửi (Deposit)

Lựa chọn tiếp theo được đề cập là việc thực hiện bảo hiểm tiền gửi tại các nước Tác giả Demirguc-Kunt và Detragrache (1998a) cho rằng bảo hiểm có thể tồn

Trang 39

tại ở 2 dạng là rõ ràng hoặc không rõ ràng Bảo hiểm tiền gửi được xem là rõ ràng nếu như các ngân hàng mua bảo hiểm đầy đủ hoặc một phần cho các khoản tiền gửi của khách hàng hoặc chính phủ cam kết bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng gặp khó khăn Trong trường hợp này, người gửi tiền tin tưởng rằng chính phủ sẽ giải quyết các vấn đề khó khăn của ngân hàng trong trường hợp khủng hoảng ngân hàng xảy ra Trong bài viết này, biến này được xem là một

biến giả trong mô hình nghiên cứu (biến Dummy), biến nhận giá trị là 1 nếu quốc gia đó có thiết lập hệ thống bảo hiểm tiền gửi một cách rõ ràng và 0 cho trường hợp

khác Chúng ta thường dự đoán rằng việc thực hiện bảo hiểm tiền gửi sẽ góp phần hạn chế việc xảy ra khủng hoảng, nhưng như đã nêu trong phần các nghiên cứu có liên quan, mối quan hệ giữa bảo hiểm tiền gửi và khủng hoảng ngân hàng lại không thực sự rõ ràng Điều này có thể được hiểu như là việc thực hiện bảo hiểm tiền gửi làm giảm đáng kể nổi lo sợ tình trạng hoảng loạn của ngân hàng Tuy nhiên, hiệu quả của việc bảo hiểm tiền gửi sẽ không có tác dụng khi có hiện tượng rủi ro đạo đức, khi ngân hàng (các tổ chức tài chính) sử dụng nguồn vốn vay vào các khoản đầu tư có rủi ro cao Biến này được chiết xuất từ báo cáo thường niên của tổ chức IADI (2012), tổ chức nghiên cứu về bảo hiểm tiền gửi quốc tế (Internation association of deposit insurance (2012)

2.2.2.8 Biến Tự do hóa tài chính (credit)

Biến cuối cùng được đề xuất trong mô hình nghiên cứu là Biến đại diện cho việc tự do hóa tài chính tại mỗi quốc gia Lý thuyết khủng hoảng ngân hàng chỉ ra rằng sau khi thực hiện tự do hóa lĩnh vực tài chính, thị trường tiền gửi trở nên mang tính cạnh tranh cao hơn khi mà các nhà đầu tư nước ngoài sẵn lòng cung cấp lượng lớn các nguồn vốn với chi phí thấp Điều này khiến các ngân hàng buộc phải tăng chi phí hoạt động nhằm giữ khách hàng của mình Khi thu nhập giảm, ngân hàng có thể phải đối mặt với tình trạng khó khăn, có khả năng sẽ không chi trả đúng hạn các khoản nợ Thêm vào đó, nếu các nhà đầu tư tháo chạy khỏi ngân hàng, lúc này hệ thống ngân hàng sẽ dễ tổn thương hơn Theo Allegret et al (2003) đã chỉ ra dường

Trang 40

như có 3 kênh mà tự do hóa tài chính có thể ảnh hưởng đến sự bền vững của ngân hàng bao gồm: mở cửa hệ thống tài chính, bãi bỏ các quy định về lãi suất và bãi bỏ các quy định về các khoảng nợ vay ngân hàng Điều này có nghĩa là tự do hóa tài chính có thể có thể được đánh giá thông qua các tác động của những kênh này trên thị trường tài chính Theo Galbis (1993) đã cho rằng lãi suất thực (lãi suất đã loại bỏ lạm phát) có thể là đại diện tốt nhất cho tự do hóa tài chính bởi vì bãi bỏ các quy định về lãi suất thường dẫn đến việc gia tăng 1 cách nhanh chóng của lãi suất thực Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần lý thuyết trên, lãi suất thực tăng cao có thể là kết quả của các nhân tố khác như: tấn công tiền tệ theo (Kaminsky and Reinhart, 1996) hoặc do chính sách thắt chặt tiền tiền tệ (Ergungor and Thomson, 2005) Vì vậy, lãi suất thực có thể không đánh giá tốt cho việc tự do hóa tài chính cũng như các hiện tượng xảy ra Để đại diện cho tiến trình tự do hóa tài chính, bài viết này đánh giá tác động của hai kênh còn lại bằng việc sử dụng các biến tin cậy liên quan, Pill và Pradhan (1995) đề nghị sử dụng tỷ lệ tín dụng trong nước trên GDP Demirguc-Kunt and Detragrache (1998a) đưa ra tỷ lệ tín dụng trên GDP và tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nước Do giới hạn về dữ liệu, bài viết này sử dụng tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nước trên GDP như là một biến giải thích cho tự do hóa tài chính trong mô hình Dữ liệu thu thập từ dòng 32d và dòng 99b của bộ dữ liệu IFS

2.3 Ƣớc lƣợng và kiểm định mô hình đề nghị

Trong phần trước, mô hình từ tổng quát đến đơn giản được xem là phương cách tốt nhất để có được mô hình phù hợp theo yêu cầu Cụ thể, mục tiêu này được thực hiện theo bốn bước:

- Đầu tiên, sử dụng các lý thuyết kinh tế, các nghiên cứu từ trước và kể

cả kinh nghiệm để xác định mô hình tổng quát, trong đó bao gồm tất cả các hệ số hồi quy liên quan có thể

- Ước lượng mô hình đề xuất

- Bước tiếp theo là loại bỏ các tham số không có ý nghĩa thống kê ra khỏi mô hình nghiên cứu Bước này bắt đầu từ các biến ít có ý nghĩa thống kê nhất

Ngày đăng: 01/09/2020, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w