Bài viết nghiên cứu tương quan giữa chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tinh thần khởi nghiệp của 39 quốc gia thuộc nhóm nước mới n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế và thị trường tự do tác động đến tinh thần khởi nghiệp” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo Các nội dung mà tôi nghiên cứu trong bài luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác và tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm cho sự cam kết về tính trung thực của nội dung tôi trình bày trong luận văn này
TP.HCM, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Tác giả
Huỳnh Ngọc Dung
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
TÓM TẮT
ASTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 3
1.5 Kết luận và hàm ý 4
1.6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ, THỊ TRƯỜNG TỰ DO VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TÁC ĐỘNG ĐẾN KHỞI NGHIỆP 6
2.1 Tổng quan lý thuyết về Tinh thần khởi nghiệp 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Tiêu chí đo lường tinh thần khởi nghiệp 7
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tinh thần khởi nghiệp: 9
2.2.1 Khởi nghiệp và chất lượng thể chế 9
2.2.2 Khởi nghiệp và thị trường tự do 11
2.2.3 Khởi nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài 15
Trang 52.3 Thực trạng khởi nghiệp kinh doanh ở Việt Nam giai đoạn 2013 – 2017:
17
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 23
3.2 Mô tả biến và dữ liệu 26
3.2.1 Biến phụ thuộc 26
3.2.2 Hạn chế của việc sử dụng mật độ gia nhập mới là biến phụ thuộc 27
3.2.3 Các biến độc lập 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Thống kê mô tả 34
4.2 Phân tích sự tương quan giữa các biến trong mô hình 36
4.3 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 37
4.4 Kiểm định lựa chọn mô hình 38
4.5 Kiểm định khuyết tật của mô hình 40
4.6 Kết quả ước lượng bằng phương pháp FGLS 41
4.7 Kết quả hồi quy về sự tương tác giữa FDI và chất lượng thể chế lên tinh thần khởi nghiệp 44
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 47
5.1 Kết luận: 47
5.2 Khuyến nghị chính sách 48
5.2.1 Đối với các quốc gia mới nổi và đang phát triển ở Châu Á 48
5.2.2 Đối với Việt Nam 49
5.3 Điểm hạn chế của đề tài 51
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU Biểu 2.1 Tỷ lệ Khởi sự kinh doanh ở Việt Nam so với các nước trên thế giới Biểu 2.2 tỷ lệ từ bỏ kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam so với các nước trên
thế giới
Biểu 2.3 So sánh các chỉ số trong hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam với các
nước trong khu vực
Biểu 2.4 Chỉ số tự do Kinh doanh của Việt Nam so với một số nước trong khu vực Bảng 3.1 Mẫu các quốc gia trong bài nghiên cứu
Bảng 3.2 Mô tả các chỉ số thành phần quản trị toàn cầu
Bảng 3.3 Mô tả các biến trong mô hình
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả theo biến
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Hausman của mô hình
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Bảng 4.8 Kết quả theo phương pháp FGLS
Bảng 4.9 Sự tương tác giữa chất lượng thể chế và FDI đến tinh thần khởi nghiệp
Trang 8TÓM TẮT
Đây là bài nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế và thị trường tự do tác động đến tinh thần khởi nghiệp Nghiên cứu này phân tích tinh thần khởi nghiệp ở thị trường mới nổi Kết quả nghiên cứu dựa trên mô hình hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS,
số liệu được thu thập từ năm 2006 đến năm 2016 ở 39 quốc gia khu vực Châu Á được thu thập từ “The World Bank Entrepreneurship Snapshots” để xem xét sự kết nối giữa thành lập doanh nghiệp với chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài có tương quan dương đến tinh thần khởi nghiệp Tự do kinh doanh và tự do tài khóa có tác động tiêu cực đến tinh thần khởi nghiệp, mặt khác, tự do thương mại quốc tế có tác động tích cực đến tinh thần khởi nghiệp Các biến kiểm soát được thêm vào để củng cố kết quả nghiên cứu là GDP bình quân đầu người (GDPP), tín dụng nội địa khu vực tư nhân và tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu có tương quan dương với biến phụ thuộc Đồng thời, tác giả tìm ra bằng chứng về sự cộng hưởng giữa chất lượng thể chế và FDI đến tinh thần khởi nghiệp
Từ khóa: Tinh thần khởi nghiệp, Chất lượng thể chế, Thị trường tự do, Đầu tư trực
tiếp nước ngoài
Trang 9ABSTRACT
This study investigates the relationship between foreign direct investment, institutional quality and economic freedom affect to entrepreneurship This study analyzes the entrepreneurship in emerging markets The results are based on a panel study of data by Feasible Generlized Least Square model, from 2006 to 2016 for 39 countries in Asia, using as its source "The World Bank Entrepreneurship Snapshots" to look at the connection between business creation, institutional quality, market freedom and foreign direct investment Research results show that institutional quality and foreign direct investment to create business Business freedom and fiscal freedom have
a negative on entrepreneurship, on the other hand, trade freedom has a positive and significant on business creation Control variables are added to reinforce the research results: GDP per capita (GDPP), merchandise traded as percentage of the GDP and domestic credit to the private sector have a positive on dependent variable At the same time, the author finds evidence of interact between institutional quality and FDI to entrepreneurship
Keywords: entrepreneurship, institutional quality, economic freedom, FDI
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Một xã hội sẽ không phát triển và thịnh vượng nếu không có tinh thần khởi nghiệp (Bjørnskov và Foss, 2008) Tinh thần khởi nghiệp được xem là một trong những “cỗ xe chính” hay “động lực chính” của tăng trưởng kinh tế (Anokhin và cộng
sự, 2008) Trong dài hạn, tinh thần khởi nghiệp góp phần tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và vững chắc (Audretsch và cộng sự, 2006) Nghiên cứu của Baumol và Strom (2007) cho rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tinh thần khởi nghiệp của doanh nhân Khởi nghiệp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển kinh tế của một quốc gia vì doanh nghiệp là một trong những thành phần kinh tế chủ lực đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và tạo ra công ăn việc làm (Davidsson, 1995) Vì vậy, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trở thành chiến lược ưu tiên hàng đầu của Chính phủ, nhất là các nước đang phát triển, còn trong giai đoạn cần sự bức phá để khẳng định vị thế
Đã có nhiều nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tinh thần khởi nghiệp và kết luận chất lượng thể chế thúc đẩy doanh nhân tạo ra doanh nghiệp (Desai và cộng sự, 2003; Spencer và Gómez, 2003; Aidis và cộng sự, 2008; Echeverry
và cộng sự, 2013)
Bên cạnh đó, Lý thuyết kinh tế cổ điển nhấn mạnh tầm quan trọng của một thị trường tự do đối với sự phát triển (Smith: 1776; Ricardo: 1821) Đã có một số nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa thị trường tự do và tinh thần khởi nghiệp (Bjørnskov và Foss, 2008; Sobel et al., 2007), tuy nhiên các nghiên cứu xem xét dữ liệu trong một năm hoặc nghiên cứu ở các quốc gia thuộc tổ chức OECD trong vài năm (Nyström, 2008), không tập trung vào các thị trường mới nổi và đang phát triển Do vậy, nghiên cứu này cố gắng mở rộng mối quan hệ ở cấp độ kinh tế vi mô và phân tích kết nối giữa thị trường tự do và tinh thần khởi nghiệp ở thị trường mới nổi
Mặt khác, theo nghiên cứu của tác giả Gorg và Greenaway (2004) nghiên cứu về
“Liệu các công ty trong nước có thực sự được hưởng lợi từ đầu tư trực tiếp nước
Trang 11ngoài”, bằng các tổng hợp các nghiên cứu trước và dữ liệu thu thập được, tác giả nhận định rằng chính phủ hầu hết các quốc gia đều chú trọng việc ưu tiên thu hút FDI, đặc biệt trong các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi vì nó đem lại nguồn lực vốn đầu tư về cho quốc gia Tác giả cũng đưa ra dẫn chứng rằng, đối với các quốc gia tiếp nhận, hấp thụ tốt từ công nghệ và kỹ năng quản lý của các công ty đa quốc gia sẽ trở thành kênh truyền dẫn giúp cho nền kinh tế tăng trưởng Tương tự, nghiên cứu của Alguacil và cộng sự (2011) cho thấy rằng kết quả của sự không đồng nhất giữa các nước tiếp nhận FDI liên quan đến khả năng hấp thụ của mỗi quốc gia Sự ổn định môi trường vĩ mô và chất lượng thể chế có tầm ảnh hưởng quan trọng khi đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế và chính phủ ở các nước sở tại cần có sự cải thiện về môi trường vĩ mô cũng như chất lượng thể chế để có thể thu được nhiều lợi ích hơn từ nguồn vốn FDI hơn là chỉ tập trung vào các chính sách thu hút FDI
Nhằm mục đích tìm ra mối tương quan giữa Đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế, thị trường tự do đối với tinh thần khởi nghiệp, thông qua đó sẽ góp phần đưa ra những bằng chứng thực nghiệm để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong cộng đồng doanh nhân, đặc biệt là khuyến nghị về cơ chế chính sách để phát triển tinh thần khởi nghiệp ở Việt Nam Kế thừa nghiên cứu của Echeverry và cộng sự (2013), tác giả
sử dụng dữ liệu là “số lượng công ty thành lập mới tính trên 1.000 công dân ở độ tuổi
lao động” được thu thập từ “World Bank Entrepreneurship Snapshots” được xem là
đại diện cho tinh thần khởi nghiệp Bài viết nghiên cứu tương quan giữa chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tinh thần khởi nghiệp của 39 quốc gia thuộc nhóm nước mới nổi và đang phát triển ở Châu Á, số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là chất lượng thể chế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố của thị trường tự do có tác động đến tinh thần khởi nghiệp ở các nước mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á giai đoạn 2006 – 2016 hay không Bên cạnh đó, có tồn tại sự tương tác giữa chất lượng thể chế và FDI đến tinh thần khởi
Trang 12nghiệp ở các nước mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á hay không, tác giả đặt
ra các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, chất lượng thể chế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố của thị trường tự do tác động như thế nào đến tinh thần khởi nghiệp?
Thứ hai, có tồn tại sự tương tác giữa chất lượng thể chế và FDI để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hay không?
1.3 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Dựa trên bài nghiên cứu: “Foreign direct investment, institution quality, economic freedom and entreopreneurship in emerging markets” của tác giả Echeverry
và cộng sự, được đăng trên tạp chí Journal of Business Research năm 2013 Bài viết này sẽ nghiên cứu tác động của chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài và thị trường tự do đến tinh thần khởi nghiệp bằng phương pháp hồi quy Pooled OLS, hồi quy các hiệu ứng cố định (FEM), hồi quy các hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) và phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS để khắc phục các khuyết tật của mô hình và lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất Dữ liệu được sử dụng của 39 quốc gia từ năm 2006 đến năm 2016
1.4 Kết quả nghiên cứu
Thông qua các phương pháp thống kê định lượng, bài nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ giữa Đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế, các yếu tố của thị trường
tự do tác động đến tinh thần khởi nghiệp ở các quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á Bên cạnh đó, đã tìm ra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ tương tác giữa chất lượng thể chế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động lên tinh thần khởi nghiệp Như vậy, kết quả nghiên cứu đã giải quyết vấn đề nghiên cứu được tác giả đưa ra ban đầu, từ đó khuyến nghị những chính sách sát thực cho thực trạng khởi nghiệp kinh doanh ở Việt Nam
Trang 131.5 Kết luận và hàm ý
Do thời gian thực hiện tương đối ngắn, sự hạn chế về mặt số liệu và cách tiếp cận dữ liệu để đo lường biến tinh thần khởi nghiệp nên nghiên cứu có thể chưa phản ánh đầy đủ tác động của các yếu tố đến tinh thần khởi nghiệp, nhất là những nhân tố có tác động đến tinh thần khởi nghiệp nhưng chưa được đưa ra trong nghiên cứu Những mặt còn tồn tại này cũng gợi ý cho các nghiên cứu sau phát triển và mở rộng phạm vi nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu cũng đóng góp ý nghĩa nhất định trong việc giải thích một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, nghiên cứu đã xác định được mối quan hệ giữa Đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng thể chế, các yếu tố của thị trường tự do tác động đến tinh thần khởi nghiệp ở các quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á Đồng thời, thông qua việc thêm vào các biến kiểm soát để làm chặt chẽ mối quan hệ giữa các biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc
Thứ hai, thông qua mối quan hệ tác động của các biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc và tương tác qua lại giữa các biến độc lập, tác giả đưa ra những khuyến nghị chính sách ở Việt Nam
1.6 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu cung về lý do, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp thực hiện, kết cấu của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến khởi nghiệp; thực trạng khởi nghiệp kinh doanh ở Việt Nam giai đoạn 2013 – 2017
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trang 14Chương 5: Kết luận, nêu ra các điểm khác biệt cũng như những thiếu sót hạn chế của đề tài, khuyến nghị chính sách cho Việt Nam và các hướng nghiên cứu cần thực hiện trong tương lai
Trang 15CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ, THỊ TRƯỜNG TỰ DO VÀ ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TÁC ĐỘNG ĐẾN KHỞI NGHIỆP
2.1 Tổng quan lý thuyết về Tinh thần khởi nghiệp
2.1.1 Khái niệm
Theo nhà kinh tế học học Mỹ Peter F Drucker cho rằng tinh thần khởi nghiệp - tinh thần doanh nhân khởi nghiệp (entrepreneurship) được hiểu là hành động của doanh nhân khởi nghiệp – “người tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế Kết quả của những hành động này là tạo nên những tổ chức mới hoặc góp phần tái tạo lại những tổ chức đã ‘già cỗi’ Hình thức rõ ràng nhất của tinh thần doanh nhân khởi nghiệp là bắt đầu xây dựng những doanh nghiệp mới.” (Drucker, 2011) Đồng thời, Lê Tấn Phước (2016) cho rằng cụm từ “tinh thần doanh nhân khởi nghiệp” đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực bao gồm cả chính trị, xã hội Khi tinh thần doanh nhân khởi nghiệp được sử dụng để nói về các đơn vị hoặc tổ chức lớn, nó có nghĩa là xây dựng doanh nghiệp, bao gồm cả việc kinh doanh mạo hiểm
Theo như Shane và Ventakaraman (2000) tinh thần khởi nghiệp được chấp nhận rộng rãi là các hoạt động liên quan đến sự phát hiện, đánh giá và khai thác các cơ hội để tạo ra các hàng hóa và dịch vụ mới, các phương thức quản lý, quy trình sản xuất mà trước giờ chưa hiện hữu Trong khi đó, Eckhardt and Shane (2003) đề cập đến tinh thần khởi nghiệp thông qua hai hoạt động chính là thành lập doanh nghiệp mới và tự làm chủ
Để đánh giá ảnh hưởng của tinh thần doanh nhân khởi nghiệp đối với nền kinh tế, quan niệm được các nhà nghiên cứu (Baumol, 1993; Schaltegger and Wagner, 2011; Alegre and Chiva, 2013) trích dẫn nhiều về tinh thần khởi nghiệp là ý tưởng của Schumpeter (1934) rằng người khởi nghiệp chính là những nhà đổi mới, thực hiện sự thay đổi trong thị trường thông qua: (i) giới thiệu hàng hóa và dịch vụ mới, (ii) phương thức sản xuất mới, (iii) tạo ra thị trường mới, (iv) nguồn cung nguyên liệu mới hay (v) thành lập tổ chức mới
Trang 16Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tinh thần khởi nghiệp được xem là một trong những động lực chính cho phát triển kinh tế và tạo ra sự thịnh vượng cho quốc gia (Pines và cộng sự, 2005; Audretsch và cộng sự, 2006)
Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, tinh thần khởi nghiệp không chỉ được đánh giá qua tiêu chí thành lập doanh nghiệp mới do chính cá nhân đó làm chủ mà còn liên quan đến tinh thần đổi mới khi nắm bắt và khởi xướng để phát triển một ngành dịch vụ hay sản phẩm mới ở một công ty hiện hành Thông thường, yếu tố tinh thần khởi nghiệp được khởi xướng để phát triển một sản phẩm, dịch vụ hiện có khó được định lượng, đây cũng là khía cạnh còn khuyết trong bài nghiên cứu này khi không tìm thấy các tài liệu trước đây để sử dụng đo lường biến tinh thần khởi nghiệp
2.1.2 Tiêu chí đo lường tinh thần khởi nghiệp
Như đã trình bày, tinh thần khởi nghiệp không chỉ bó gọn trong khái niệm là bắt đầu kinh doanh mà còn hàm chứa sự khuyến khích, kích thích niềm đam mê sáng tạo kinh doanh để phát triển một ngành dịch vụ hay sản phẩm mới ở một công ty hiện hành Do vậy, vấn đề đo lường, định lượng tinh thần khởi nghiệp là hết sức khó khăn, hiện nay có nhiều chỉ số sử dụng để đo lường tinh thần khởi nghiệp do các tổ chức trên thế giới xây dựng, trong đó nổi bật là:
Đầu tiên, Chỉ số TEA (Total Early-stage Entrepreneurial Activity) là tỷ lệ các hoạt động kinh doanh ở giai đoạn khởi sự theo khảo sát GEM được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây để đo lường tinh thần khởi nghiệp của các quốc gia TEA đo lường tỷ lệ các cá nhân trong độ tuổi lao động tích cực tham gia khởi sự doanh nghiệp, bao gồm: các hoạt động kinh doanh đang khởi sự (dưới 3 tháng) và các hoạt động kinh doanh mới khởi sự thành công (dưới 3.5 năm) Phương pháp này đã được sử dụng trong nghiên cứu của Acs và Varga (2005), Bjørnskov và Foss (2007), Aidis và cộng
sự (2008), Anokhin và Schule (2008), Dreher và Gassebner (2013)
Thứ hai, chỉ số Tinh thần khởi nghiệp (Entrepreneurship Indicators Project) do OECD đề xuất bao gồm các tiêu chí đo lường tinh thần khởi nghiệp của một quốc gia
Trang 17thông qua: tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp, tỷ lệ hoạt động kinh doanh cá thể, tỷ lệ sống sót của các doanh nghiệp thông qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới và đóng cửa hàng năm,…Tùy vào mục tiêu nghiên cứu của tác giả, mà các chỉ tiêu do OECD đề xuất có thể được điều chỉnh và lựa chọn cách tiếp cận để giúp việc đo lường tinh thần khởi nghiệp được hiệu quả hơn
Có nhiều nghiên cứu sử dụng các tiêu chí của OECD để đo lường tinh thần khởi nghiệp, phải kể đến Estrin và Mickiewiccz (2010) đã đo lường tinh thần khởi nghiệp bằng tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp và tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng cao trong 5 năm tới; Avnimelech và cộng sự (2011) thu thập số lượng doanh nhân mới trên tổng dân số để đo lường tinh thần khởi nghiệp; Tỷ lệ doanh nghiệp thành lập mới tính trên 1.000 dân số cũng được Santarelli và Tran (2012) xem xét để đại diện cho tinh thần khởi nghiệp; ngoài ra còn có Kshetri và Dholakia (2011) xem xét yếu tố nhận thức khả năng kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân để đo lường tinh thần khởi nghiệp
Ngoài ra, các quốc gia ở Châu Âu đo lường tinh thần khởi nghiệp thông qua ngân sách chi cho đổi mới sáng tạo hàng năm Jaumotte và Pain (2005), Shanks và Zheng (2006) đã sử dụng tiêu chí chi tiêu cho hoạt động R&D để đo lường đánh giá hoạt động đầu tư phát triển tinh thần khởi nghiệp
Do các đặc điểm biểu hiện cho tinh thần khởi nghiệp bên trong công ty để sáng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới khó có thể đo lường được, để lượng hóa tinh thần khởi nghiệp và thuận tiện trong việc thu thập số liệu, tác giả kế thừa theo nghiên cứu của Echeverry và cộng sự (2013), đo lường tinh thần khởi nghiệp thông qua “số lượng công ty thành lập mới tính trên 1.000 người ở độ tuổi lao động” được thu thập từ
“World Bank Entrepreneurship Snapshots” của World Bank
Trang 182.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về chất lượng thể chế, thị trường tự
do và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tinh thần khởi nghiệp:
2.2.1 Khởi nghiệp và chất lượng thể chế
Trong phần này, tác giả xem xét mối quan hệ giữa chất lượng thể chế đối với tinh thần khởi nghiệp thông qua các nghiên cứu trước đây
Đã có các nghiên cứu của các nhà khoa học hiện đại (Mudambi và Navarra, 2002; Hodgson, 2006) sử dụng cách tiếp cận của North (1990) về chất lượng thể chế Theo North (1990) định nghĩa thể chế là những hạn chế chính thức và không chính thức do con người tạo ra để thiết lập trật tự chung của loài người Các hình thức thể chế chính thức đề cập chủ yếu đến hiến pháp, các quy chế, quy tắc và quy định của chính phủ được cơ chế hóa và thực thi pháp luật; quan trọng nhất là nhà nước có quyền lực và khả năng cưỡng chế North (1990) cũng cho rằng hình thức thể chế không chính thức bao gồm các quy tắc về truyền thống, các quy tắc ứng xử và các cơ chế xã hội được thực thi thông qua quan hệ giữa các cá nhân Về mặt kinh tế, những quy tắc này tồn tại để tạo thuận lợi cho việc trao đổi, tăng sự tự tin giữa người tham gia kinh doanh và giảm chi phí giao dịch Chất lượng thể chế phản ánh trình độ chính trị, bản chất chính trị của quốc gia và đó cũng là cơ sở để xã hội quyết định lựa chọn hoặc không lựa chọn nhà cầm quyền
Williamson (2000) đã mở rộng định nghĩa này và cho rằng sự tồn tại của các thực thể có tổ chức, các thủ tục pháp lý và cơ cấu pháp lý được xác định là các tham số trong mỗi xã hội Thêm vào đó, Sautet (2005) cho rằng chất lượng thể chế quan trọng đối với hiệu quả hoạt động kinh tế Để hiểu được hoạt động của các nền kinh tế, người
ta phải nhìn vào bản chất của các thể chế chính thức (ví dụ như Hiến pháp Hoa Kỳ được công khai minh bạch) và không chính thức (ví dụ các quy tắc ứng xử lịch sự tối thiểu đối với người cao tuổi) hoạt động ra sao vì các quy tắc này ảnh hưởng đến loại hình hoạt động kinh doanh diễn ra Do vậy, tồn tại mối tương quan giữa thể chế và tinh thần khởi nghiệp
Trang 19Nghiên cứu khác của Hodler (2009) cho rằng bảo vệ quyền sở hữu là nền tảng cho quá trình khởi nghiệp vì nó cho phép các doanh nhân tận hưởng thành quả lao động của mình Một mặt, các nhà đầu tư có thể có một nỗi sợ hãi rằng họ có thể không hồi phục bất cứ điều gì nếu một doanh nhân hành động một cách cơ hội hoá Mặt khác, các doanh nhân có thể lo sợ rằng ý tưởng của họ có thể bị đánh cắp bởi một nhà đầu tư khác có nguồn tài chính mạnh mà không hề đóng góp vào sự nghiệp Như vậy, khi quyền sở hữu được đảm bảo thì thúc đẩy phát triển kinh tế Ngược lại, bảo vệ quyền sở hữu kém gây cản trở tăng trưởng kinh tế, ngăn cản các cá nhân khởi nghiệp và làm giảm sự tham gia của họ trong các dự án phát triển trong tương lai (Parker, 2007) Các nghiên cứu trước cho thấy tinh thần khởi nghiệp không phát triển khi mà chất lượng thể chế không tốt, thực thi pháp luật yếu kém và mức độ tham nhũng cao Những hiện tượng này gây bất lợi cho hoạt động khởi nghiệp trên nhiều phương diện Nghiên
kiểm soát tham nhũng thấp hay chất lượng thể chế thấp tồn tại sẽ không thu hút những người khởi nghiệp chân chính vào lĩnh vực kinh doanh Đồng tình với quan điểm trên, Aidis và Adachi (2007); Aidis và cộng sự (2008); Aidt (2009) cho rằng ở những nơi chất lượng pháp lý thấp và tham nhũng cao, các doanh nhân nhận thấy sự hỗ trợ chính trị là rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển kinh doanh của họ Do đó, sẽ không có động lực đối với người khởi nghiệp trung thành – doanh nhân khởi nghiệp chân chính,
không bắt tay với tham nhũng có cơ hội để tìm kiếm lợi nhuận Ngược lại, việc kiểm
soát tham nhũng thấp thể hiện sự bất lực của nhà nước là cơ hội kinh doanh của nhóm người hoạt động phi pháp, lúc này khởi nghiệp của doanh nhân không mang lại lợi ích cho nền kinh tế
Một hướng tiếp cận khác theo lý thuyết cổ điển của tác giả DiMaggio và Powell (1983), North (1990) thì cho rằng tùy thuộc vào quy mô, sức mạnh của nền kinh tế và phong tục văn hóa của quốc gia, không có sự nhất quán trong quy tắc hoạt động trên các nền văn hóa, nó kích thích một số nhóm trong khi tác động bất lợi đến các nhóm khác Đầu tiên, ở các quốc gia có chất lượng thể chế hoạt động không tốt - ví dụ ở các
Trang 20nền kinh tế đang phát triển hoặc tình trạng chính trị bất ổn - chất lượng thể chế sẽ không đủ mạnh để đảo ngược xu hướng này và thúc đẩy hoạt động kinh doanh Điều này có khả năng ngăn cản các doanh nhân tiềm năng thiết lập một doanh nghiệp khi họ nhận thức và cân nhắc các rủi ro
Tóm lại, hoạt động khởi nghiệp của doanh nhân ngoài chịu ảnh hưởng của việc bảo vệ quyền sở hữu của các cổ đông trong doanh nghiệp, thì các vấn đề về thể chế như cảnh sát, tòa án, chính quyền, bảo vệ lợi ích của khu vực tư nhân phát triển và tạo điều kiện khi mà các hợp đồng được kí kết và hơn nữa tham nhũng phải được loại bỏ
Để đo lường mức độ chất lượng thể chế tác động đến các công ty khởi nghiệp, Kaufmann và cộng sự (2010) đã đưa ra bộ chỉ số để đo lường, phục vụ cho việc đánh giá chất lượng thể chế, thông qua: (1) cách thức chính phủ được bầu, theo dõi và thay thế nếu cần thiết; (2) các khả năng của chính phủ để đưa ra và thực hiện chính sách tốt; và (3) sự quan tâm của công dân và của chính phủ đối với các tổ chức quản lý tương tác kinh tế và xã hội Đây là cách tác giả tiếp cận trong bài nghiên cứu này để đo lường chất lượng thể chế
2.2.2 Khởi nghiệp và thị trường tự do
Tác giả Kirzner (1992) xem xét một thị trường tự do bao gồm nguyên tắc pháp lý, chính trị, hiến pháp, và nguyên tắc kinh tế hầu hết sẽ tác động đến tinh thần khởi nghiệp của các doanh nhân Lý thuyết kinh tế cổ điển nhấn mạnh tầm quan trọng của một thị trường tự do để phát triển (Smith: 1776; Ricardo: 1821) trong khi một số nghiên cứu cho thấy rằng thị trường tự do góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và loại bỏ bất bình đẳng trong thu nhập (Doucouliagos và Ulubasoglu, 2006; Berggren
1999, 2003; Carter, 2007) Nghiên cứu này nỗ lực mở rộng mối quan hệ đó ở cấp độ kinh tế vi mô và phân tích kết nối giữa một thị trường tự do và khởi nghiệp trong các quốc gia đang phát triển ở khu vực Châu Á, khi mà các nghiên cứu trước đây không nghiên cứu về nhóm quốc gia này
Trang 21Trong một nền kinh tế thị trường tự do, cung và cầu quyết định những hàng hóa
và dịch vụ phải được sản xuất và giá mà chúng được bán Mặc dù một thị trường hoàn toàn tự do không tồn tại, mức độ của sự tự do được đo lường thông qua cơ chế can thiệp hiện có Phổ biến nhất trong số này là: kiểm soát giá cả; thuế; thuế nhập khẩu và xuất khẩu; kiểm soát tiền tệ; trợ giá và độc quyền nhà nước Trong bài nghiên cứu này tiếp cận 4 khía cạnh của thị trường tự do để xem xét mối quan hệ với hoạt động khởi nghiệp bao gồm: tự do trao đổi hàng hóa và dịch vụ, sự can thiệp tài khóa, tự do tài chính và tự do đầu tư
2.2.2.1 Tự do để bắt đầu và đóng cửa một doanh nghiệp
Các yếu tố bao gồm phạm vi, mức độ kiểm soát của các quy định, chi phí liên quan đến thủ tục thành lập và đóng cửa doanh nghiệp sẽ xác định mức độ hiệu quả của thị trường tự do tác động như thế nào đến tinh thần khởi nghiệp Kiểm soát chặt chẽ và chi phí cao có thể được coi là rào cản đối với thị trường tự do, từ đó, sẽ cản trở việc tạo
ra doanh nghiệp Có hai quan điểm giữa các nhà nghiên cứu về mối quan hệ giữa tinh thần khởi nghiệp và khung pháp lý hoạt động trong thực tế Thứ nhất, có sự can thiệp của các quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát hành vi, ngăn chặn sự hỗn loạn trên thị trường, từ đó tăng niềm tin vào thị trường và dẫn đến tạo động lực để doanh nhân khởi nghiệp nhiều hơn Tuy nhiên, một hệ thống quản lý quá nghiêm ngặt đi đôi với mức độ quan liêu cao hơn, mở đường cho tham nhũng và cản trở việc tạo và mở rộng kinh doanh mới của những doanh nghiệp hiện có
Tác giả tìm thấy nghiên cứu của Glaeser và Shleifer (2003) ủng hộ quan điểm kiểm soát quy định chặt chẽ có tác động tích cực đến hành vi kinh doanh Djankov và cộng sự (2003) chỉ ra rằng quy định là một phản ứng tự nhiên đối với nhu cầu của công chúng để chống lại sự rối loạn trên thị trường nhằm thiết lập trật tự trong thực tế Trong khi đó, Ditella và Mc Culloch (2006), Landier và cộng sự (2008) quan điểm rằng một khung pháp lý chặt chẽ hơn được sinh ra từ nhu cầu kiểm soát tham nhũng
Trang 22Mặt khác, bằng chứng có được trong các nghiên cứu của Djankov và cộng sự (2002) cho thấy rằng ở các quốc gia nơi có quy định hạn chế thành lập doanh nghiệp mới, cũng có mức độ tham nhũng cao hơn Tiếp đó, các tác giả Desai và cộng sự (2003), Klapper và cộng sự (2006) và Parker (2007) đã phát hiện ra rằng các ngành công nghiệp mà thu hút những doanh nhân khởi nghiệp thì ít xuất hiện ở những nước
mà hệ thống nhà nước có tính quan liêu cao và có quy định chi phí đáng kể hơn
2.2.2.2 Tự do tài khóa
Tự do tài khóa là một yếu tố quan trọng đối với thị trường tự do Trong các nền kinh tế nơi có quy định về thuế cao, các khoản thu thuế có thể được xem là một rào cản đối với nhà đầu tư và sự tham gia của doanh nghiệp trong thị trường Bởi vậy, nghiên cứu của các tác giả Mcmullen và cộng sự (2008) cho thấy tăng thuế có tác động trực tiếp đến khởi nghiệp, các doanh nhân tiềm năng cân nhắc những rủi ro trong việc thiết lập một doanh nghiệp và vấn đề này là một trở ngại tiếp theo Tác giả Gentry và Hubbard (2000) cũng cho rằng cơ cấu thuế phức tạp ngăn chặn hoạt động khởi nghiệp ngay cả đối với những người không ưa thích rủi ro vì họ sẽ cảm thấy bị tác động bởi
việc tăng thuế liên tục
Một cách khác mà tự do tài khóa tác động đến hoạt động kinh doanh là trong điều kiện mức thuế cao khiến cho cá nhân tìm cách để trốn tránh trách nhiệm về thuế một cách hiệu quả và tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân (Robson và Wren, 1999; Schuetze, 2000)
Như vậy, theo nhận định của Feldstein và Slemrod (1980), Gordon (1998), và được củng cố bởi Cullen và Gordon (2002), nhấn mạnh rằng hệ thống công khố là phức tạp và vì lý do đó, mối quan hệ giữa tự do tài khóa và khởi nghiệp không thể kết luận phiến diện mà tùy thuộc vào các yếu tố như thuế, thặng dư trên vốn, thuế thu nhập
cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
2.2.2.3 Tự do thương mại quốc tế
Trang 23Tự do thương mại là một yếu tố quan trọng khác của thị trường tự do với sự vắng mặt của các quy định khắc khe và các rào cản cản trở sự di chuyển tự do của hàng hóa
và dịch vụ Dòng chảy thương mại lớn vào một quốc gia có thể cho thấy dấu hiệu tiếp cận chi phí quốc tế, do đó cho phép các doanh nhân tiềm năng tận dụng các cơ hội không chỉ trong nước mà cả quốc tế Hoạt động khởi nghiệp gia tăng do tự do thương mại tăng lên mặc dù mối quan hệ không đáng kể (Bjørnskov và Foss, 2008)
Trong khi nghiên cứu của Bartlett và Ghoshal (1999) kết luận rằng toàn cầu hóa làm tăng thuận lợi cho các doanh nghiệp, là cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp nhỏ trong khi các doanh nghiệp lớn tận dụng quy mô lớn và lợi thế của họ để khai thác triệt
và tinh thần khởi nghiệp Tự do thương mại không chỉ thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp mà còn tỷ lệ với thất bại kinh doanh Tự do thương mại quốc tế có nghĩa là không chỉ tự do bước vào và thành công, mà còn tự do thất bại (Sobel và cộng sự, 2007)
Tóm lại, dù chiều hướng tác động là tích cực hay tiêu cực, thì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa tự do thương mại quốc tế và tinh thần khởi nghiệp (Bjørnskov và Foss, 2008; Nyström, 2008; McMullen và cộng sự, 2008)
2.2.2.4 Tự do đầu tư
Tầm quan trọng của nguồn vốn là một điều kiện tiên quyết để bắt đầu một doanh
dòng vốn sẽ làm cản trở tốc độ tăng trưởng trong hình thành doanh nghiệp Bên cạnh
đó, các nghiên cứu sâu rộng của Gompers và Lerner (2001); Henderson (2002), khẳng định rằng sự sẵn có của các nguồn lực tài chính, đặc biệt là đầu tư mạo hiểm là quan trọng để phát triển kinh doanh Như vậy, tự do đầu tư cung cấp các công cụ và cơ chế tài chính cho doanh nghiệp, mở đường cho đầu tư trong và ngoài nước
Tóm lại, trong phần này tác giả đưa ra nhận định đúc kết được từ các nghiên cứu trước đây, chứng minh rằng thị trường tự do là nguồn gốc và tiền đề cho doanh nhân
Trang 24hoạt động khởi nghiệp Thị trường tự do tạo điều kiện cho người tham gia theo đuổi kế hoạch của riêng mình và đưa ra quyết định của riêng họ khiến cho các nhà khởi nghiệp hứng khởi sử dụng khả năng và kiến thức của mình để theo đuổi mục tiêu kinh tế Có
sự đồng thuận cao giữa các nhà nghiên cứu rằng thị trường tự do sẽ thúc đẩy doanh nhân tìm kiếm cơ hội, cho phép họ theo đuổi kế hoạch, mục đích của bản thân Tuy nhiên bên cạnh đó còn có ý kiến trái chiều về thị trường tự do đối với tinh thần khởi nghiệp Mục đích của bài nghiên cứu là phân tích sự kết nối giữa các yếu tố khác nhau tác động đến khởi nghiệp, trong đó phân tích các khía cạnh của thị trường tự do liên quan đến vấn đề hàng rào thuế quan, thương mại quốc tế, dòng vốn tự do và tự do để bắt đầu, vận hành và đóng cửa một doanh nghiệp ở các nước mới nổi và đang phát triển khu vực Châu Á Bên cạnh đó, xem xét yếu tố nào có sự tác động lớn nhất đến tinh thần khởi nghiệp, đồng thời tương tác giữa chất lượng thể chế và FDI đến tinh thần khởi nghiệp cũng là mục tiêu nghiên cứu của tác giả
2.2.3 Khởi nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Một loạt các nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nhân được hưởng lợi từ việc
đầu tư trực tiếp nước ngoài Các nhân tố tác động được phân tích theo ba cách chính
Đầu tiên, đối với các nước đang phát triển, luật pháp thể hiện một cách yếu ớt trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, rủi ro lớn hơn chính là cơ hội lớn để các nhà đầu
tư nước ngoài - những người chấp nhận rủi ro để theo đuổi lợi nhuận lớn hơn (White and Fan, 2006) Thứ hai, Alfaro và cộng sự (2009), Alfaro và Charlton (2008) đã chỉ
ra rằng hoạt động kinh tế và phát triển khởi nghiệp xuất hiện nhiều hơn ở những ngành công nghiệp phụ thuộc vào đầu tư tài chính quốc tế Thứ ba, theo Görg and Strobl (2002), Acs và cộng sự (2009), Ayyagari và cộng sự (2010) cho rằng nguồn vốn FDI
có thể có tác động theo cấp số nhân, kích thích mở rộng nhiều mục kinh doanh một ngành công nghiệp (sự lan tỏa theo chiều ngang) và trong các ngành công nghiệp có
liên quan trong một chuỗi sản xuất (lan tỏa theo chiều dọc)
Một số nghiên cứu của các tác giả Aitken và Harrison (1999) tại Venezuela;
Konings (2001) tại Bulgaria, Romania và Poland kết luận rằng, tác động tích cực của
Trang 25FDI đến tăng trưởng kinh tế là rất nhỏ và lợi ích chỉ nhận được đối với các doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài cao nhất
Một nghiên cứu khác của tác giả De Backer và Sleuwaegen (2003) xác định rằng
sự có mặt của FDI không những không khuyến khích các doanh nghiệp mới thành lập mà còn đẩy nhanh sự sụp đổ của doanh nghiệp hiện có ở Bỉ Như vậy, ông đưa ra bằng chứng thực nghiệm rằng FDI không có lợi cho các doanh nghiệp ở nước sở tại
Bên cạnh đó, Barbosa và Eiriz (2009) nghiên cứu trường hợp của Bồ Đào Nha tác động của FDI ban đầu là tương quan dương với khởi nghiệp nhưng về dài hạn nó có một tác động tương quan âm đến việc khởi lập doanh nghiệp của doanh nhân
Liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài có thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của doanh nhân trong và ngoài nước Nghiên cứu của tác giả cố gắng tìm thêm những bằng chứng xác thực về tác động của FDI đến tinh thần khởi nghiệp ở các nước mới nổi và đang phát triển tại khu vực Châu Á Mặc dù dữ liệu được thu thập không đầy đủ cho cả giai đoạn nghiên cứu, nhưng bài nghiên cứu sẽ trả lời câu hỏi liệu FDI có khuyến khích doanh nghiệp ở nước sở tại khởi nghiệp hoặc liệu nó có tạo ra rào cản cho doanh nhân khởi nghiệp, đồng thời tác giả tìm ra bằng chứng thực nghiệm về tương tác giữa các thành phần (FDI, chất lượng thể chế, thị trường tự do) hoặc là để tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây ra ngăn cản cho việc hình thành doanh nghiệp trong nhóm các quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á mói chung và liên hệ thực trạng khởi nghiệp ở Việt Nam nói riêng
2.2.4 Sự tương tác giữa chất lượng thể chế và FDI đến tinh thần khởi nghiệp
Có bằng chứng về mối quan hệ qua lại giữa chất lượng thể chế và đầu tư, như đã trình bày ở các phần trước, North (1990) đã khẳng định rằng thể chế sẽ thiết lập ra
“quy tắc của cuộc chơi” mà các tổ chức và công ty đa quốc gia phải tuân theo trong quá trình theo đuổi mục đích kinh doanh của họ Thể chế tốt sẽ làm giảm mức độ không chắc chắn, cho phép các cá nhân và doanh nghiệp tương tác với nhau một cách
có hiệu quả Như vậy, chất lượng thể chế tốt sẽ thúc đẩy đầu tư bên cạnh làm giảm chi
Trang 26phí giao dịch, tăng lợi nhuận Cùng nhận định rằng chất lượng thể chế tốt là một nhân
tố quan trọng trong thu hút FDI theo nghiên cứu của Kaufman và cộng sự (2010), Rodrik và cộng sự (2004), Daniele và Marani (2011)
Có một số ít các nghiên cứu về tác động của FDI đối với việc cải thiện chất lượng thể chế của nước sở tại Kwok và Tadesse (2006) kết luận rằng các công ty đa quốc gia
có thể giúp cải thiện thể chế thông qua tác động lên mức độ tham nhũng tại các nước tiếp nhận Bên cạnh đó, Dang (2013) cho thấy rằng FDI có tác động tích cực đến thể chế của 60 tỉnh thành Việt Nam thông qua mức độ cạnh tranh cấp tỉnh, các quy định về kinh doanh, trách nhiệm giải trình
Như vậy, sự tương tác giữa FDI và chất lượng thể chế đến tinh thần khởi nghiệp đến các nước mới nổi và đang phát triển ở Châu Á như thế nào, sẽ được tác giả phân tích ở các phần sau thông qua các mô hình hồi quy dành cho dữ liệu bảng
2.3 Thực trạng khởi nghiệp kinh doanh ở Việt Nam giai đoạn 2013 – 2017:
Các dữ liệu về tinh thần khởi nghiệp trong bài nghiên cứu này được thu thập đến năm 2016, tuy nhiên để khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam sát theo thực trạng khởi nghiệp kinh doanh đến thời điểm hiện nay, tác giả xem xét tình hình khởi sự kinh doanh của Việt Nam theo báo cáo mới nhất được VCCI công bố về chỉ số khởi nghiệp năm 2017/18 của GEM, chỉ số tỷ lệ các hoạt động kinh doanh ở giai đoạn khởi sự (TEA) của Việt Nam năm 2017 là 23.3%, có nghĩa là cứ 100 người trưởng thành thì có
23 người đang trong giai đoạn khởi sự kinh doanh Tỷ lệ này năm 2017 đã cao hơn so với các năm trước đây (năm 2015 là 13.7%, năm 2014 là 15.3% và năm 2013 là 15.4%) Đồng thời, theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập năm 2017 với 126,859 doanh nghiệp, cao nhất từ trước đến nay Tại Biểu 2.1 thể hiện kết quả đáng khích lệ khi tỷ lệ Khởi sự kinh doanh năm 2017 ở Việt Nam cao hơn nhiều so với khu vực và các quốc gia khác trên thế giới
Trang 27Đồng thời, tại Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp 2017/2018 của VCCI cũng nhận định Việt Nam đã tăng từ vị trí 20/60 năm 2015 lên 6/54 năm 2017 về tỷ lệ người trong giai đoạn khởi sự kinh doanh (TEA) Tỷ lệ TEA của Việt Nam đã cao hơn so với các nước trong khu vực ASEAN cùng tham gia nghiên cứu GEM năm 2017, gồm Indonesia (7.5%, xếp thứ 41/54), Thái Lan (21.6%, xếp thứ 8/54), Malaysia (21.6%, xếp thứ 8/54) Chỉ số TEA của Việt Nam cũng cao hơn nhiều so với mức trung bình của các nước phát triển ở giai đoạn I cũng như các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Biểu 2.1 Tỷ lệ Khởi sự kinh doanh ở Việt Nam so với các nước trên thế giới (%)
Nguồn: theo Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp 2017/2018 của VCCI [truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại:
http://vbis.vn/bao-cao-chi-so-khoi-nghiep-2017-2018.html ]
Tuy nhiên, để đánh giá tính bền vững của khởi sự doanh nghiệp, tôi quan tâm đến
tỷ lệ từ bỏ kinh doanh của doanh nghiệp và so sánh giữa tỷ lệ từ bỏ kinh doanh và tỷ lệ khởi sự kinh doanh cũng được trình bày trong Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp 2017/2018 của VCCI tại Biểu 2.2 và Biểu 2.3
Biểu 2.2 Tỷ lệ từ bỏ kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam so với các nước trên
thế giới (%)
Trang 28Nguồn: theo Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp 2017/2018 của VCCI [truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại:
http://vbis.vn/bao-cao-chi-so-khoi-nghiep-2017-2018.html ]
Tỷ lệ từ bỏ kinh doanh năm 2017 của Việt Nam giảm so với năm 2013 mặc dù mức độ giảm không đáng kể (năm 2013 là 4.3% và năm 2017 là 4.2%) Tuy nhiên, tín hiệu đáng mừng là tỷ lệ từ bỏ kinh doanh ở Việt Nam vẫn thấp hơn so với trung bình các nước trong khu vực (khu vực Châu Á – Thái Bình Dương) Kết quả này cho thấy những tín hiệu tích cực cho việc khuyến khích thúc đẩy khởi nghiệp ở Việt Nam, nhất
là về tỷ lệ các hoạt động khởi sự thành công, góp phần thực hiện mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp hoạt động năm 2020
Nhìn nhận những kết quả đạt được của Việt Nam về khởi sự doanh nghiệp là đáng khích lệ Tuy nhiên, quy mô của các doanh nghiệp mới khởi nghiệp chủ yếu có quy mô siêu nhỏ, mang tính chất hộ kinh doanh cá thể Đánh giá về triển vọng tăng trưởng về việc làm trong vòng 5 năm tới ở Việt Nam, có đến 59.9% hoạt động dự kiến không tạo thêm việc làm, 31.1 % hoạt động chỉ tạo từ 1-5 việc làm và chỉ có 9.1% hoạt động tạo ra từ 6 việc làm trở lên Đáng chú ý là tỷ lệ các hoạt động kinh doanh khởi nghiệp dự kiến tạo thêm việc làm đều thấp hơn so với năm 2015, cho thấy triển vọng tăng trưởng về việc làm đang giảm đi (Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp 2017/2018 của VCCI)
Trang 29Biểu 2.3 So sánh các chỉ số trong hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam với các
nước trong khu vực:
Nguồn: theo Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp 2017/2018 của VCCI [truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại:
http://vbis.vn/bao-cao-chi-so-khoi-nghiep-2017-2018.html ]
Tại Biểu 2.3, trong khi Việt Nam có tới 6 chỉ số kém hơn tất cả ba nước ASEAN, thì Indonesia dường như đang nỗ lực xây dựng một hệ sinh thái tốt cho khởi nghiệp khi mà đứng đầu đến 10 chỉ số của hệ sinh thái so với các nước ASEAN
Rõ ràng, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là cần phải có những cơ chế, giải pháp thúc đẩy các hoạt động khởi sự kinh doanh để theo kịp với các nước trong khu vực Các yếu tố tác động đến tinh thần khởi nghiệp được đề cập trong bài nghiên cứu này bao gồm chất lượng thể chế (cơ chế chính sách, bảo hộ của nhà nước về quyền lợi của người dân, thực thi pháp luật,…), chỉ số về thị trường tự do, FDI của Việt Nam, trong
đó hành lang pháp lý, thể chế thị trường xác lập và tôn trọng quyền sở hữu và quyền tự
do kinh doanh được xem là yếu tố quan trọng nhất, tuy nhiên kết quả đạt được trong
Trang 30thời gian qua vẫn còn thấp, chưa tạo động lực để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp Kết quả về Chỉ số tự do Kinh doanh của Việt Nam được trình bày tại Biểu 2.4 như sau
Biểu 2.4 Chỉ số tự do Kinh doanh của Việt Nam so với một số nước trong khu vực
Tại Biểu 2.4 cho thấy rằng điểm số về thị trường tự do của Việt Nam là 58,3% năm 2016, thấp hơn các nước trong khu vực là Thái Lan, Malaysia, Singapore Mặc dù
đã tăng điểm từ 40% năm 1999 lên 58,3% của năm 2016 nhưng trong cả giai đoạn
1999 – 2016 điểm số của Việt Nam vẫn thấp nhất
Nhìn chung, thực trạng doanh nhân khởi nghiệp ở Việt Nam có nhiều bước tiến
so với giai đoạn trước, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại Nhận định về thực trạng khởi nghiệp ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm (2018) cũng đã nêu đa số doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam thường non trẻ, nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ nhân
sự chỉ là những người làm chuyên môn Do đó, những kiến thức về thủ tục hành chính, pháp lý… đang khiến những doanh nghiệp khởi nghiệp còn gặp nhiều lúng túng
Trang 31Như vậy, để có cơ sở đưa ra những khuyến nghị thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của Việt Nam nói riêng và các quốc gia mới nổi và đang phát triển của Châu Á nói chung, tác giả thu thập dữ liệu và xây dựng mô hình nghiên cứu để đo lường, đánh giá các yếu tố tác động đến tinh thần khởi nghiệp sẽ được trình bày ở các phần tiếp theo
Trang 32CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương 3 này, tác giả sẽ trình bày về các biến, mô hình, nguồn dữ liệu và phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra tác động của chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thị trường tự do đến tinh thần khởi nghiệp ở nhóm các quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á; đồng thời, xem xét mối quan hệ tương tác qua lại giữa các thành phần gồm chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thị trường tự do đến tinh thần khởi nghiệp
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng bao gồm 428 quan sát được thu thập từ 39 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016 Dữ liệu được lấy từ trang dữ liệu
các chỉ số về khởi nghiệp theo “Doing business annual report” của Ngân hàng thế giới, trang dữ liệu về các chỉ số thể chế “Worldwide Governance Indicators” (WGI) và trang dữ liệu về các chỉ số của thị trường tự do “Index of Economic Freedom” (IEF) Ngoài ra để thống kê dữ liệu về Việt Nam, bài viết còn thu thập số liệu từ “Báo cáo
tổng quan về tình hình doanh nghiệp và nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2015” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
2014-Dữ liệu mẫu được sàng lọc như sau:
Đầu tiên, qua xem xét cách phân loại các quốc gia của các tổ chức trên thế giới,
tác giả chọn các quốc gia mới nổi và đang phát triển theo phân loại quốc gia của IMF, tuy nhiên dữ liệu thu thập không đầy đủ cho 150 quốc gia mới nổi và đang phát triển, đồng thời để loại bỏ bớt yếu tố khác biệt về văn hóa do các quốc gia ở các châu lục khác nhau thì có tập quán văn hóa khác nhau, tác giả lựa chọn các quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á để thuận lợi cho việc đánh giá và khuyến nghị chính sách ở Việt Nam
Tiếp theo, tác giả sẽ tiến hành loại bỏ các quốc gia không có đầy đủ các dữ liệu
Trang 33Châu Á Cuối cùng sau khi loại bỏ còn lại 39 quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á
Thông qua phương pháp định lượng dữ liệu bảng, bằng mô hình fixed effect, random effect và mô hình Feasible Generlized Least Square tác giả kiểm định tác động của chất lượng thể chế, thị trường tự do và FDI đến tinh thần khởi nghiệp của các doanh nhân và sự tương tác giữa các biến giải thích, thông qua hai bước:
Giai đoạn thứ nhất, tác giả xem xét ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ
thuộc thông qua các phương pháp kiểm định dành cho dữ liệu bảng để lựa chọn mô hình phù hợp (Phương pháp bình phương bé nhất Pool OLS, mô hình hiệu ứng cố định fixed effect và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên random effect)
Giai đoạn thứ hai, sau khi lựa chọn được mô hình phù hợp, tác giả phân loại biến
chất lượng thể chế thành hai nhóm, nhóm thứ nhất có chất lượng thể chế từ trung vị 0.4251489) trở xuống (là những quốc gia có chất lượng thể chế thấp và ngược lại, nhóm thứ hai gồm các quốc gia có chất lượng thể chế trên trung vị là những quốc gia
(-có chất lượng thể chế cao Từ việc phân loại nhóm quốc gia theo chất lượng thể chế để đánh giá sự tương tác giữa các biến chất lượng thể chế, thị trường tự do và đầu tư trực tiếp nước ngoài lên biến tinh thần khởi nghiệp
Dựa trên bài nghiên cứu: “Foreign direct investment, institution quality,
economic freedom and entrepreneurship in emerging markets” của tác giả Echeverry
và cộng sự được đăng trên tạp chí Journal of Business Research năm 2013, bài viết này sẽ nghiên cứu tác động của chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thị trường tự do đến tinh thần khởi nghiệp để đưa ra các bằng chứng thực nghiệm ở các quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á
Mô hình hồi quy:
𝑌𝑖𝑡= 𝛼𝑖 + 𝛽1 𝑥𝑖𝑡 + 𝛽2 𝛾𝑖𝑡+ 𝛽3 𝛿𝑖𝑡 + 𝛽4 ∅𝑖𝑡+ 𝜀𝑖𝑡
Trong đó:
Trang 34Yit : Biến đo lường số lượng thành lập doanh nghiệp của nước i trong năm t
xit : Biến “Chất lượng thể chế” của nước i trong năm t
γit: Biến “Thị trường tự do” của nước i trong năm t
δit: Biến “FDI” của nước i trong năm t
∅it : Những biến kiểm soát của nước i trong năm t
εit : sai số
Tất cả các kết quả hồi quy sẽ được đánh giá với mức ý nghĩa từ 10%, 5% và 1% tương ứng với *, ** và ***
Mục tiêu là tìm ra giá trị phù hợp cho các hệ số của mô hình hồi quy, trong đó lưu
ý các trường hợp có thể xảy ra: (1) sai số của dữ liệu ở một quốc gia có thể tương quan với sai số của dữ liệu trước đây trong nghiên cứu cho quốc gia đó, ví dụ biến tinh thần khởi nghiệp của quốc gia ở năm t có thể tương quan với năm t-1 hoặc tương quan trong cùng một năm với các quốc gia khác ở những biến chưa được thể hiện trong mô hình (tương quan chuỗi, tự tương quan), (2) các biến trong mô hình có thể có phương sai sai
số thay đổi (không đồng nhất) Trường hợp mô hình có thể xảy ra các trường hợp nêu trên làm bóp méo các hệ số của mô hình, có thể dẫn đến ngược dấu của các hệ số, làm giảm độ tin cậy của kết quả Do vậy, quan trọng nhất là lựa chọn phương pháp sao cho giải quyết được các vấn đề về tự tương quan, đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi của mô hình (nếu có) Cuối cùng, để giảm thiểu vấn đề nội sinh giữa FDI với các chỉ số kinh tế tự do, FDI hoặc chất lượng thể chế của các quốc gia, tác giả phân biệt sự khác biệt về thời gian giữa các biến, tác giả sử dụng biến FDI với độ trễ t-1 và t-2 và biến số lượng hàng hóa giao dịch (trade) với độ trễ thời gian t-1, đồng thời biến chất lượng thể chế, thị trường tự do và biến số lượng thành lập doanh nghiệp được quan sát trong thời gian t
Trang 353.2 Mô tả biến và dữ liệu
3.2.1 Biến phụ thuộc
Như đã trình bày ở phần trên, biến phụ thuộc là tinh thần khởi nghiệp được tiếp cận bằng nhiều phương thức khác nhau và do vậy phương pháp đo lường cũng khác nhau Tinh thần khởi nghiệp được đo lường về khía cạnh tự làm chủ hoặc được xét trên phương diện là tổng số lượng công ty được thành lập (được sử dụng bởi các nhà khoa học trong thời gian gần đây: Bartelsman và cộng sự, 2004; Klapper và cộng sự, 2006; Verheul, 2009; Klapper và Love, 2010) Để thuận lợi trong việc thu thập số liệu và đảm bảo nguồn khai thác đủ uy tín, tác giả sử dụng biến phụ thuộc như là số lượng các công ty được tạo ra tính trên 1.000 người trong độ tuổi lao động hay còn gọi là mật độ gia nhập mới (entry density) theo dữ liệu khảo sát của Ngân hàng thế giới trên 143 quốc gia từ năm 1960 đến năm 2016 (phát huy một cách tiếp cận đã được sử dụng bởi Echeverry và cộng sự, 2013) Bài nghiên cứu lấy số liệu của 39 quốc gia mới nổi và đang phát triển ở khu vực Châu Á được chi tiết tại Bảng 3.1 như sau:
Bảng 3.1: Mẫu các quốc gia:
Samoa Solomon Islands Russia
Saudi Arabia Sri Lanka Tajikistan Tonga Thailand Timor-Leste Turkey United Arab Emirates Vietnam
Vanuatu Yemen
Trang 363.2.2 Hạn chế của việc sử dụng mật độ gia nhập mới là biến phụ thuộc
Có một số vấn đề với biến phụ thuộc có thể bóp méo nghiên cứu Đầu tiên, mật
độ gia nhập mới (số lượng doanh nghiệp thành lập mới tính trên 1,000 lao động) được xác định theo các điều khoản pháp lý nhiều hơn các điều kiện kinh tế bởi thực tế là một công ty đã đăng ký không nhất thiết rằng nó là một công ty hoạt động Như vậy rõ ràng đây không phải là sự phản ánh các doanh nghiệp hoạt động vì các công ty được tạo ra chỉ như các phương tiện tài chính Điều này làm giảm ý nghĩa của bài nghiên cứu trong thực tiễn
Ngoài ra, bài nghiên cứu của tác giả sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp chính thức mặc dù có một sự thật rằng các doanh nhân có xu hướng hoạt động không chính thức để tránh né quan liêu và tham nhũng Trường hợp khung pháp lý quá nghiêm ngặt hoặc quản lý quá nghiêm khắc có thể khuyến khích các doanh nhân thiết lập các mô hình kinh doanh phi chính thức Bài viết này tập trung vào những yếu tố thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp để thiết lập doanh nghiệp chính thức, không dự báo cho các kênh thành lập không chính thức
3.2.3 Các biến độc lập
3.2.3.1 Biến “Chất lượng thể chế”
Chất lượng thể chế được xác định theo các chỉ số theo phiên bản cập nhật gần nhất của WGI dựa trên bài nghiên cứu của tác giả Kaufmann và cộng sự (2010) và được Ngân hàng Thế giới công bố hàng năm Số liệu bao gồm 215 quốc gia từ năm
1996 trên sáu khía cạnh quản trị quốc gia có thang đo từ -2.5 (chất lượng thấp nhất) đến 2.5 (chất lượng cao nhất), được mô tả qua Bảng 3.2
Bảng 3.2 Mô tả các chỉ số thành phần quản trị toàn cầu
Trang 37STT Chỉ số Tên tiếng anh Viết tắt Giải thích
trách nhiệm giải
trình
gia có thể tham gia lựa chọn chính phủ của họ, cũng như quyền tự do ngôn luận, báo chí và tham gia các hiệp hội
Pol_Sta
Được đo bằng khả năng chính phủ có thể bị bất ổn bởi các hành vi vi phạm hoặc bạo lực, bao gồm cả chủ nghĩa khủng bố
sự cùng với sự độc lập của
nó từ những áp lực về chính trị, và chất lượng của việc xây dựng chính sách
5
Quy định của
pháp luật hay nhà
nước pháp quyền
Đo lường mức độ đáng tin cậy của các cơ quan nhà nước và việc tuân thủ các quy tắc xã hội, bao gồm chất lượng quyền sở hữu, cảnh sát và tòa án, cũng như nguy cơ tội phạm
kể cả hình thức tham nhũng
ít nghiêm trọng đến cực kì nghiêm trọng