Như vậy, trở thành một Công ty quốc gia, được hạch toán độc lập và có vai trò, chức năng, nhiệm vụ hoàn toàn bình đẳng với Bảo Việt, liệu Bảo Minh có thể thực hiện tốt công tác bảo hiểm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN TIẾN
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM TP HỒ CHÍ MINH
(BẢO MINH)
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - LƯU THÔNG TIỀN TỆ - TÍN DỤNG
MÃ SỐ : 5.02.09
LUẬN VĂN CAO HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : Giáo Sư NGUYỄN THANH TUYỀN
TP HỒ CHÍ MINH 1997
Trang 2MỤC LỤC
TRANG
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM 5
1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH BẢO HIỂM 5
2 BẢN CHẤT - CHỨC NĂNG CỦA BẢO HIỂM 8
2.1 Sự Cần Thiết Khách Quan Của Bảo Hiểm Đối với Đời Sống Kinh Tế - Xã Hội 8
2.2 Bản Chất Của Bảo Hiểm 11
2.3 Chức Năng Của Bảo Hiểm 13
2.4 Vai Trò Của Bảo Hiểm 15
3 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA BẢO HlỂM 16
4 PHÂN LOẠI BẢO HIỂM 19
5 TÁI BẢO HIỂM 21
6 PHÂN BIỆT GIỮA BẢO HlỂM THƯƠNG MẠI VÀ BẢO HlỂM XÃ HỘI……….29
CHƯƠNG II: HỆ THỐNG BẢO HlỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM TP HỒ CHÍ MINH (BẢO MINH) HIỆN NAY 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM TP HỒ CHÍ MINH , …32
1.1 Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Ngành Bảo Hiểm Việt Nam Và Công Ty Bảo Hiểm TP Hồ Chí Minh … 32
1.2 Thị Trường Bảo Hiểm - Tái Bảo Hiểm Tại Việt Nam Hiện Nay …42
2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BẢO HlỂM - TÁI BẢO HlỂM TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 48
2.1 Thị Phần Bảo Hiểm Của Bảo Minh 48
2.2 Hoạt Động Nghiệp Vụ Bảo Hiểm Gốc 49
2.3 Hoạt Động Tái Bảo Hiểm 57
2.4 Công Tác Quản Lý Tài Chính Và Hiệu Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Công Ty Bảo Hiểm TP Hồ Chí Minh 59
2.5 Phân Tích Tình Hình Đầu Tư vốn 65
2.6 Phân Tích Khả Năng Thanh Toán 68
2.7 Bộ Máy Tổ Chức Quản Lý Của Công Ty Bảo Hiểm TP Hồ Chí Minh ………… 70
2.7.1 Hệ Thống Tổ Chức Nhân Sự Và Đào Tạo 70
Trang 32.7.2 Công Tác Thống Kê - Tin Học 71
2.7.3 Công Tác Quản Lý Nghiệp Vụ 72
2.7.4 Công Tác Kế Toán Tài Chính 73
2.7.5 Công Tác Xây Dựng Và Thực Hiện Kế Hoạch 74
CHƯƠNG III MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHAM HOÀN THIệN Hệ THốNG BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM TạI CÔNG TY BảO HlỂM TP HỒ CHÍ MINH 1 BIỆN PHÁP CHÍNH 78
1.1 Hoàn Thiện Hệ Thông Sản Phẩm Bảo Hiểm Gốc 78
1.1.1 Sản Phẩm Bảo Hiểm 79
1.1.2 Hoàn Thiện Sản Phẩm Bảo Hiểm Hiện Hành 81
1.1.3 Thiết Kế Sản Phẩm Bảo Hiểm Mới 94
1.1.4 Hoàn Thiện Công Tác Khai Thác - Giám Định - Bồi Thường Và Đề Phòng Hạn Chế Tổn Thất 98
1.2 Hoàn Thiện Hoạt Động Tái Bảo Hiểm 99
1.2.1 Thực Hiện Tái Bảo Hiểm Bắt Buộc ThôngQua Công Ty Tái Bảo Hiểm Quốc Gia Việt Nam (VINARE) 101
1.2.2 Tăng Cường Tái Bảo Hiểm Trực Tiếp Với Nước Ngoài 101
1.2.3 Tăng Cường Khả Năng Nhận Tái Bảo Hiểm ; 103
1.2.4 Tăng Cường Cộng Đồng Bảo Hiểm 103
1.2.5 Phổ Biến Chương Trình Tái Bảo Hiểm 103
1.3 Hoàn Thiện Hoạt Động Đầu Tư Vốn 104
1.3.1 Chuyên Mồn Hóa Công Tác Đầu Tư Vốn 105
1.3.2 Thành Lập Công Ty Liên Doanh Bảo Hiểm 105
1.3.3 Tham Gia Quỹ Đầu Tư 105
1.3.4 Chuẩn Bị Tham Gia Thị Trường Chứng Khoán 106
2 BIỆN PHÁP ĐỒNG BỘ 107
2.1 Hoàn Thiện Hệ Thông Tổ Chức Quản Lý 107
2.2 Hoàn Thiện Nguồn Nhân Lực 109
2.3 Hoàn Thiện Hệ Thống Kế Toán - Tài Chính 109
2.4 Hoàn Thiện Hệ Thống Thống Kê - Vi Tính 110
2.5 Hoàn Thiện Việc Sử Dụng Các Đòn Bẩy Kinh Tế 111
2.6 Sự Cần Thiết Của Việc Ban Hành Luật Bảo Hiểm 112
2.7 Sự Cần Thiết Của Việc Thành Lập Hiệp Hội Bảo Hiểm 115
Kết luận 116
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN
Ngành bảo hiểm hình thành và phát triển gắn liền với quá trình phát triển không ngừng của xã hội loài người Từ những ý niệm sơ khai về bảo hiểm đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm, đến nay đã có những điều khoản, luật lệ bảo hiểm mang tính chất pháp lý sâu sắc, chuẩn mực không những đối với một quốc gia mà còn có giá trị tiêu chuẩn quốc tế, được nhiều nước công nhận và áp dụng
Bảo hiểm là một nhu cầu, một tập quán không thể thiếu được đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người Thực vậy, trên thế giới ngày nay, ta thây các nước có nền kinh tế càng phát triển, ngành bảo hiểm càng phát triển; và ngược lại, ngành bảo hiểm của một quốc gia càng phát triển, là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội của quốc gia đó Người ta luôn tìm thấy ở bảo hiểm, một trợ thủ đắc lực, một sự đảm bảo cho quá trình sản xuất
- kinh doanh và đời sống xã hội được duy trì liên tục và ổn định trước những biến cố, rủi ro bất ngờ không thể nào lường trước được
Một số cường quốc trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Nhật, , đã có
lịch sử hình thành các công ty bảo hiểm cách đây hàng trăm năm, và cho đến nay, ngành bảo hiểm đã giữ vị trí vô cùng quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế cũng như trong mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên , đối với nước ta, trong suổt 30 năm, kể từ khi ngành bảo hiểm ra đời (1965 - 1995), do điều kiện chiến tranh và cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp, nên Nhà Nước chủ trương thực hiện chế độ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm, với một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất - đó là Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt)
Trong thời gian qua, mặc dù công tác bảo hiểm đã có những đóng góp nhất định đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, song do cơ chế độc quyền, sự phục vụ của Bảo Việt đối với các đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm còn nhiều hạn chế, cho nên, dù có nhu cầu bảo hiểm, người ta vẫn cảm thấy dịch vụ bảo hiểm tại Việt Nam vẫn còn xa lạ, chưa đủ sức thuyết phục khách hàng tích cực tham gia bảo hiểm Chính vì vậy, ngành bảo hiểm đã không phát triển đúng mức và chựa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế - xã
Trang 5hội ở nước ta Kể từ khi Đảng và Nhà Nước Việt Nam ban hành chính sách kinh
tế mở, đất nước ta đã thực sự chuyển mình bước vào giai đoạn mới :"xây dựng nền kinh tế thị trường, có sự quản lý cuả Nhà nước", hầu hết các ngành sản xuất
- kinh doanh - dịch vụ đều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao và đời sống đại đa số’ nhân dân ngày càng được cải thiện Dĩ nhiên, ngoại trừ các
ngành có liên quan đến lợi ích, an ninh quốc gia, Chính phủ cần phải duy trì cơ
chế độc quyền; còn tất cả các ngành khác đều có sự chuyển động theo nhịp thở của thị trường, hàng rào cản của mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp dần dần được tháo gỡ
Sự cạnh tranh trong hoạt động của các doanh nghiệp, tạo ra sự năng động, sáng tạo của các doanh nhân, đó là tiền đề và cũng là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời gian qua Công cuộc đổi mới kinh tế nước nhà, do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đã gặt hái được những kết quả khả quan, qua đó khẳng định tính đúng đắn của tiến trình "đổi mới" ở nước ta Đứng trước sự phát triển của các ngành kinh tế và đời sống nhân dân, đòi hỏi ngành bảo hiểm phải có những thay đổi căn bản phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhằm làm cho dịch vụ bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu bảo đảm an toàn cho sản xuất, kinh doanh và đời sống
Như vậy, mô hình độc quyền kinh doanh bảo hiểm đã không còn thích hợp nưã, bởi vì nó đã tạo ra yếu tố cản trở sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và của chính ngành bảo hiểm nói riêng Điều này thể hiện ở chỗ thiếu tính linh hoạt, nấng động, không kịp thời cung ứng những dịch vụ bảo hiểm cần thiết cho khách hàng và khi xảy ra sự cố, rủi ro, người-được-bảo-hiểm hiểm chưa được phục vụ một cách chu đáo, tận tình và thoả đáng từ phiá người-bảo-hiểm độc quyền
Nhằm hướng tới sự phát triển toàn dịện ngành bảo hiểm Việt Nam, và tăng cường quản lý Nhà Nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của công cuộc đổi mới kinh tế, Chính Phủ CHXHCNVN
đã ban hành Nghị Định số 100/CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm Theo tinh thần Nghị Định nêu trên, Bộ Tàỉ Chính đã ban hành các Thông Tư
hướng dẫn thi hành và chuẩn bị cho sự ra đời một số doanh nghiệp bắo hiểm
khác, ngoài một doanh nghiệp Nhà Nước đã có từ trước đến nay (Bảo Việt), thực hiện chủ trương của Chính Phủ : "Xoá bỏ cơ chế độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm"
Trong bối cảnh đó, Công Ty Bảo Hiểm TP.Hồ Chí Minh (gọi tắt là Bảo Minh) là một doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Bộ Tài chính, được thành lập
Trang 6theo Quyết định số 1164/TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 của Bộ Trưởng Bộ Tài
Chính, Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Kinh Doanh số 103094 do Oy Ban Nhân Dân
Thành Phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/12/1994 và được phép hoạt động chính
thức kể từ ngày 01/01/1995
Thực chất, Công ty Bảo Minh chính là Chi nhánh Bảo Việt TP.HCM trước
đây, được Bộ Tài Chính cho phép tách ra khỏi hệ thốVig Bảo Việt và được hoạt
động độc lập trên phạm vi toàn quốc và quốc tế Như vậy, trở thành một Công ty
quốc gia, được hạch toán độc lập và có vai trò, chức năng, nhiệm vụ hoàn toàn
bình đẳng với Bảo Việt, liệu Bảo Minh có thể thực hiện tốt công tác bảo hiểm
và tái bảo hiểm để đứng vững, tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh
với Bảo Việt và các doanh nghiệp bảo hiểm khác được hay không ? Đó là vấn đề
thưc tiễn đặt ra mà luận án cần phải đi sâu phân tích và lý giải
MỤC TIÊU VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
Luận án muốn đưa ra các giải pháp toàn diện, tổng thể về nghiệp vụ bảo
hiểm - tổ chức quản lý - tài chính nhằm hoàn thiện hệ thống bảo hiểm và tái
bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm TP.HỒ Chí Minh (Bảo Minh) trên phạm vi toàn
quốc, làm cho các loại hình bảo hiểm tại Bảo Minh ngày càng đa dạng, phong
phú, hoạt động của Bảo Minh ngày càng phát triển, đáp ứng được nhu cầu bảo
hiểm không ngừng tăng lên của sản xuất - kinh doanh - đời sông, qua đó khẳng
định vị trí của Bảo Minh trong thị trường bảo hiểm Việt Nam và hướng tới sự hòa
nhập vào thị trường bảo hiểm quốc tế
Thông qua các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thông bảo hiểm và tái bảo
hiểm tại Bảo Minh, giúp cho công ty này có khả năng tồn tại trong nền kinh tế
thị trường, bảo tồn và phát triển nguồn vốn của Nhà nước giao cho, đồng thời
khẳng định chủ trương của Chính phủ cho phép cạnh tranh trong hoạt động kinh
doanh bảo hiểm là hoàn toàn đúng đắn
GIỚI HẠN CỦA LUẬN ÁN
Các loại hình dịch vụ bảo hiểm rất đa dạng, phong phú Hiên nay trên thế
giới có đến hàng trăm loại nghiệp vụ bảo hiểm đã được triển khai phục vụ cho
các ngành sản xuất - kinh doanh và đời sống xã hội
Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm đều liên quan đến một hoặc một số rủi ro nhất
định Tuỳ theo đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành khác nhau, rủi ro
cũng khác nhau và do đó, có những nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau tương ứng Vì
Trang 7điều kiện thời gian có hạn, nên luận án không thể đi sâu vào lĩnh vực kỹ thuật của từng nghiệp vụ bảo hiểm mà chủ yếu nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống tổng thể trên cơ sở đặc trưng riêng của ngành này
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên nền tảng của học thuyết kinh tế - chính trị Mác - Lênin, đồng thời kết hợp với các học thuyết kinh tế hiện đại, những đặc trưng của nền kinh tế thị trường và các quan điểm đổi mới của Đảng ta qua các Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII và VIII
Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh và đôi chiếu các số liệu thống kê - kế toán - nghiệp vụ, kết hợp hàí hòa giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn, xem thực tiễn là cơ sở để kiểm định lại tính xác đáng của lý thuyết
Trang 8Chương
LÝ LUẬN CHUNG
VỀ BẢO HIỂM
Trang 9CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH BẢO HIỂM (INSURANCE / ASSURANCE)
Lịch sử đã chứng minh rằng trong thế giới sinh vật muôn hình muôn vẻ này, chỉ có duy nhất con người là có khả năng tư duy sáng tạo, và là chủ thể của các hoạt động có ý thức, khác với các hoạt động theo bản năng của các loài còn lại Chính vì thế, chỉ có nhân loại tồn tại một cách có ý thức và có ước vọng thống trị muôn loài Thiên nhiên đã tạo ra con người và con người đã biết sông dựa vào thiên nhiên Từ những của cải vật chất trong tự nhiên, con người sáng tạo ra những sản phẩm hữu ích riêng cho mình thông qua quá trình lao động Tất cả những sản phẩm ấy chính là tài sản, phương tiện sống của con người Như vậy trên cõi đời này, cái qúy gía nhất là tính mạng, sức khỏe của con người và sau đó
là tài sản của họ Đây là những bảo vật thiêng liêng mà con người phải ra sức bảo vệ
Tuy nhiên những thứ mà con người mong muốn bảo vệ - tính mạng, tài sản, lại luôn luôn bị đe dọa bởi rất nhiều hiểm họa, nguy cơ Có rất nhiều yếu tố có khả năng gây ra thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người, nhưng tựu trung lại, xuất phát từ hai nguồn chính là những rủi ro có nguồn gôc tự nhiên và những rủi ro có nguồn gốc xã hội hay kỹ thuật
Con người là sản phẩm của tự nhiên và tự nhiên đã mang lại cho con người biết bao nhiêu nguồn sống, song chính tự nhiên cũng mang lại cho con người rất nhiều tai họa như bão tố, núi lửa, động đất, mưa đá, gây ra
Con người đã biết tạo ra những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của mình Khoa học kỹ thuật càng phát triển, sản phẩm càng hiện đại, phong phú Chính những sản phẩm này vừa mang lại lợi ích cho con người vừa có nguy cơ tiềm ẩn gây ra thiệt hại về tính mạng, tài sản của con người Chẳng hạn các phương tiện giao thông hiện đại (xe cơ giới, máy bay, tàu thủy ), giúp con người đi lại nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, công sức, thế nhưng chúng cũng gây ra nhiều tai nại giao thông Năng lượng hạt nhân mang đến nguồn điện năng phục vụ đời sông con người song những hiểm họa do nó gây ra (như vụ nổ nhà máy Trecnobưl ở Liên Xô cũ ) cũng không thể lường trước được
Trang 10Không thể nào loại trừ hết những rủi ro, nên từ xa xưa con người đã biết nghĩ ra cách cộng đồng hóa rủi ro Đó là, trước những hậu quả nặng nề về tính mạng, sức khỏe, tài sản do sự cố" ngoài ý muốn gây ra, con người biết đoàn kết lại cùng nhau chia sẻ, gánh chịu tổn thất Nếu thiệt hại quá lớn mà chỉ một cá nhân hay một tập thể đơn phương gánh chịu, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bình thường, gây bất ổn trong sản xuất kinh doanh và đời sông, thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản "Nếu hậu quả của hiểm họa này được chia
sẻ, phân tán thật rộng cho nhiều cá thể, tập thể khác, hậu quả tổn thất, thiệt hại
sẽ bớt nặng nề và ai nấy đều có thể gánh chịu được một cách dễ dàng, không chút ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt của mình."[4,2]
Nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội loài người, chúng ta thấy :
Năm 4.500 trước Công nguyên, tại hạ Ai Cập, những người thợ đẽo đã biết hình thành những "Quỹ tương trợ" để giúp đỡ lẫn nhau khi chẳng may có ai bị tai nạn trong qúa trình lao động Đây chính là một ý niệm về bảo hiểm: "lấy số đông bù số" ít"
Năm 3.000 trước CN, tại Trung Quốc, các lái buôn đã biết phân chia hàng hóa ra nhiều thuyền nhỏ thay vì chuyên chở tất cả trên một chiếc thuyền lớn, để tránh tổn thất toàn bộ khi lưu thông trên sông hồ, biển cả Đây là ý niệm "không
nên bỏ hết trứng vào một giỏ" và cũng là nguyên lý "phân tán rủi ro" trong bảo
hiểm
Năm 2.250 trước CN, tại Babylon, các nhà buôn đã thuê những người chuyên chở bằng lạc đà (gọí là Darmathe) vận chuyển hàng hoá với điều kiện là nếu kinh doanh suông sẻ, các nhà buôn sẽ chia cho họ phân nửa tiền lãi, ngược lại nếu bị lỗ vốn, các Darmathe sẽ phải đền bù Tuy nhiên nếu hàng hoá bị cướp bóc mà không có sự đồng lõa của Darmathe thì họ cũng khỏi phải bồi thường Đây là khái niệm "miễn trách" trong ngành hàng hải, được áp dụng cho đến ngày nay và vẫn được vận dụng trong bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nói chung Năm 916 trước CN, tại Rhodes, Hoàng đế xứ này đã ban hành các đạo luật
để bảo vệ các thương gia: Chủ hàng, chủ tàu nào không bị hy sinh trong biến cố
Trang 11hàng hải, phải bù đắp cho chủ hàng, chủ tàu bị thiệt hại vì phải hy sinh hàng hoá để cứu tàu, cứu hàng khi con tàu bị gặp nạn Đây là khái niệm "tổn thất chung"
Từ những ý niệm thô sơ nói trên, trải qua thời gian hàng ngàn năm, con người đã tổng kết lại, thể chế hóa bằng các kỹ thuật bảo hiểm, nguyên tắc bảo hiểm, để hình thành khái niệm bảo hiểm một cách khoa học Từ đó người ta đã xây dựng những quy tắc, điều khoản bảo hiểm làm cơ sở cho việc ký kết hợp đồng bảo hiểm (HĐBH)
Người ta đã ghi nhận rằng vào đầu thế kỷ XIV, tại Italia, HĐBH hàng hải đầu tiên đã được ký kết trên bến cảng Genoa, bên bờ Điạ Trung Hải nhằm ngày 23.10.1347
Còn tại Anh Quốc, trước thế kỷ XVII đã có loại hình bảo hiểm hàng hải và
đã có HĐBH được ký kết vào năm 1547, song mãi đến cuối thế kỷ XVII, tại quán càphê do Ông Edvvard Lloyd làm chủ (LloycTs Coffee House), bảo hiểm mứĩ chính thức trở thành một dịch vụ kinh doanh có tổ chức Những qui tắc, điều khoản bảo hiểm, đơn bảo hiểm hàng hải được ký kết giữa NgƯời-bảo-hiểm (The Insurer) và Người-được-bảo-hiểm (The Insured) do LloycTs cấp, dần dần được tiêu chuẩn hóa, không những tại Anh mà nhiều nước trên thế giới công nhận và áp dụng Ngày nay Lloyd's London đã trở thành một Trung tâm Bảo hiểm Quốc tế
về tàu và hàng hóa nổi tiếng trên thế giới
Khoảng đầu thế kỷ XVIII, tại Châu Âu, ngành công nghiệp phát triển dẫn đến các nhu cầu bảo hiểm trên đất liền :
Bảo hiểm hỏa hoạn đã ra đời tại Anh, sau vụ hỏa tai khủng khiếp tại London vào tháng 9/1666, thiêu hủy trên 10.000 căn nhà, đó là văn phòng bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên do Nicholas Barbon thành lập vào năm 1 667, với tên gọi đơn giản là "Phòng Hoả hoạn" (The Fire Office) Tuy nhiên, Công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên, được tổ chức với quy mô lớn hơn phải nói là công ty "the Sun Insurance Office of London" ra đời năm 1710 và vẫn còn hoạt động đến ngày nay Sau đó, lần lượt tại Đức, Pháp cũng triển khai dịch vụ bảo hiểm này
Bảo hiểm nhân thọ cũng đã được ghi nhận hình thành rất sớm, vảo năm
1583, HĐBH Nhân thọ Anh quốc ("English Life Insurance Policy") lần đầu được xác lập, nhưng chưa được người ta hưởng ứng mạnh mẽ lắm ở Hoa Kỳ, năm
1759, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ đầu tiên đã được thiết lập: "Tập đoàn giúp cho việc hạn chế sự nghèo khó và những tín đồ túng quẫn, những người goá bụa, trẻ em nghèo và cùng khổ", song tập đoàn chỉ đảm bảo cho các thành viên của nhà thờ mà họ sở hữu mà thôi Đến năm 1762, tại Anh, người ta đã thành lập
Trang 12Ẩluận (Ụăn *Z7ô't iệịi dao dịọ c
8
"Hội bảo đảm công bằng cho những người sống và người thừa kế", đây là công
ty đầu tiên thực hiện loại hình bảo hiểm nhân thọ cho cộng đồng Loại hình này thực sự phát triển khi cuộc Cách mạng Công nghiệp nổ ra vào đầu thế kỷ XIX, với nhiều công ty, xí nghiệp mới được thành lập, kéo theo số lượng công nhân được tuyển dụng vào các nhà máy, xí nghiệp sản xuất ngày càng đông và do đó, -số vụ tai nạn lao động xảy ra ở những nơi đó cũng ngày càng gia tăng Nhu cầu
bù đắp những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người lao động khi xảy ra tai nạn và các luật lệ về an toàn lao động, quy định về trách nhiệm của chủ đô'i với công nhân, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cho người lao động, là một thực tế được các nhà bảo hiểm quan tâm phát triển loại hình bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm khác liên quan đến con người
Sự phát minh ra các phương tiện giao thông hiện đại (ô tô, tàu thủy, máy hay, ) đã mang lại cho con người sự tiện nghi trong sinh hoạt, đi lại, thương mại và giao lưu văn hoá với nhau, song đây cũng là nguồn nguy hiểm cao độ có khả năng gây ra những thiệt hại về tính mạng và tài sản cho người thứ ba Do đó các loại hình bảo hiểm xe ôtô nói riêng và bảo hiểm các phương tiện giao thông
cơ giới khác ra đời
Ngành công nghiệp dầu khí phát triển đã kéo theo sự xuất hiện của nhiều loại hình bảo hiểm phục vụ cho việc thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển dầu khí, nguồn năng lượng chủ yếu trong thế kỷ cuả chúng ta
Các ngành kinh doanh, dịch vụ trên thế giới ngày càng phát triển, đời sông con người ngày càng vấn minh tiến bộ, người ta ngày càng quan tâm đến việc đảm bảo an toàn cho tính mạng sức khỏe và tài sản của họ,đồng thờingười ta cũng biết rằng, không thể nào loại trừ hết tất cả những rủi ro ra khỏi sản xuất kinh doanh
và cuộc sống của con người, nên càng ngày người ta càng nhận thức được vai trò và lợi ích của bảo hiểm Chĩ có bảo hiểm mới là phương tiện hữu hiệu giúp cho cuộc sôYig con người được ổn định, hoạt động sản xuất - kinh
doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục khi chẳng may gặp những sự cố rủi
ro, tai nạn bất ngờ Bảo hiểm ngày nay thực sự trở thành một phạm trù kinh tế quen thuộc trong hệ thống các phạm trù kinh tế hiện đại
2 BẢN CHẤT - CHỨC NĂNG CỦA BẢO HIỂM
2.1 Sự Cần Thiết Khách Quan Của Bảo Hiểm Đối Với Đời sống Kinh Tế
- Xã Hội
Như phần đầu chúng ta đã đề cập, rủi ro hiện diện khắp nơi nơi trong thế giới xung quanh ta, rủi ro tiềm tàng trong cuộc sống, nó có thể dẫn đến tổn thất
Trang 13về tài sản và tính mạng của con người vào bất cứ lúc nào Con người sẽ và vẫn luôn luôn bất lực trước những rủi ro; việc giải phóng con người hoàn toàn thoát khỏi mọi rủi ro là vấn đề không thể nào có được trong thực tế cuộc sống Tuy nhiên, con người hoàn toàn không thụ động trước rủi ro, họ phải tìm cách xử lý rủi ro như thế nào để đạt được lợi ích tối đa cho mình cho dù gặp phải rủi ro
Một trong các biện pháp xử lý rủi ro dễ cảm nhận nhất là tìm mọi cách để
"tránh né rủi ro" (Avoiding risk) càng nhiều càng tốt Song, không phải lúc nào người ta cũng có thể thực hiện được ý định "tránh né rủi ro", do vậy, điều dễ dàng nhất là chúng ta phải sẩn sàng "gánh chịu rủi ro" (retention of risk) và tìm phương thức để "giảm thiểu rủi ro" ( reducing risk) hoặc "hoán chuyển rủi ro" (shifting risk) Trong đó, nếu phân tích sâu vào mục đích, ý nghĩa, bản chất, và chức năng của bảo hiểm, chúng ta sẽ thấy đó là một phương pháp tổng hợp của
sự hoán chuyển rủi ro và sự hạ giảm rủi ro
Việc xử lý rủi ro ở đây là những biện pháp nhằm làm giảm bớt ảnh hưỏng cuả rủi ro dẫn đến tổn thất và/hoặc né tránh, chuyển giao hậu quả tài chính cuả rủi ro từ một hoặc nhiều cá thể này sang một hoặc nhiều cá thể khác Khi hậu quả cuả rủi ro cá thể được chuyển giao sang một tập hợp bao gồm những cá thể
đủ lớn có rủi ro tương đồng có thể gánh chịu được hậu quả ấy, người ta gọi biện pháp xử lý rủi ro này là bảo hiểm Như vậy, không ai có thể bảo vệ cho người khác khỏi những rủi ro trong cuộc sống, những rủi ro trong sản xuất kinh doanh Bởi vậy mọi hoạt động cuả con người cũng không nhằm mục đích triệt tiêu những rủi ro trên thế giới này, nếu có ai nghĩ đến một ngày nào đó sẽ không còn tồn tại rủi ro, đó là điều không tưởng Do đó, bảo hiểm là cách thức hoán chuyển rủi ro - không có nghĩa là ngăn ngừa được thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cuả con người - mà là phương tiện chủ yếu 'để bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần đã được định lượng (dưới hình thái giá trị) do những hậu quả, những ảnh hưởng cuả rủi ro gây ra cho tài sản và chính bản thân con người
Thật vậy, "xét cho cùng mọi rủi ro đều có liên quan tới những sự cố gây thiệt hại về trí óc, cơ thể và tài sản Bảo hiểm bảo vệ tài sản, vật chất bằng cách cung cấp những nguồn lực cho chủ sở hữu để thay thế thiệt hại đã xảy ra để hồi phục sức khỏe ban đầu hoặc an ủi những người đã bị tàn phế Bằng việc cung cấp một nguồn thu nhập cho người đến tuổi về hưu, chế độ hưu trí đã tạo ra một hình thái bảo vệ, điều này "cùng với những đặc trưng khác" đã chứng minh được chế độ hưu trí cá nhân và các chương trình hưu bổng cũng là một sản phẩm bảo hiểm" ."khái niệm bảo vệ là cung cấp tiền (hoặc bồi thường tương đương ở một
số trường hợp ví dụ như quyền của hãng hàng không được thay thế một máy bay
Trang 14Qua những phân tích trên, ta thấy rủi ro là cơ sở để hình thành bảo hiểm, nên chừng nào con người vẫn còn bất lực trước rủi ro, chừng đó con người sẽ và vẫn còn cần đến hoạt động bảo hiểm Ngành bảo hiểm ngày nay đã trở thành một dịch vụ không thể thiếu được, một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội cuả loài người Nó ra đời và phát triển tuỳ thuộc vào sự phát triển cuả nền kinh tế - xã hội cuả mỗi quốc gia, từng khu vực
và trên toàn thế giới Ngược lại, ngành bảo hiểm càng phát triển kéo theo sự tác động trở lại cuà nó đối với nền kinh tế và đời sông xã hội
Đặc biệt hơn nữa, bảo hiểm không những cần thiết cho đời sống kinh tế và
xã hội trong việc bù đắp về mặt tổn thất vật chất mà còn tạo ra những giá trị tinh thần, có tác dụng kích thích nền kinh tế phát triển vượt bậc hơn, con người đạt dược những thành tựu vĩ đại hơn chẳng hạn, một vận động viên thể thao biết rằng mình đã được bảo hiểm, anh ta có thể tự tin hơn, yên tâm hơn để thi thô" tài năng và có khả nấng đạt thành tích cao hơn Trong hoạt động kinh tế cũng vậy, nhà doanh righiệp sẽ toàn tâm, toàn ý tập trung vào công việc kinh doanh và khả nấng đạt được thành công sẽ cao hơn vì yên tâm rằng đàng sau hoạt động cuả mình đã có một điểm tựa vững chắc, đó là các nhà bảo hiểm, đúng như lời Ong Henry Ford - chủ nhân Hãng Ôtô Ford nổi tiếng cuả Mỹ, đã nói: " New York không phải là chiếc nôi cuả nhân loại, nhưng lại là nơi sản sinh ra các nhà bảo hiểm
Không có các nhà bảo hiểm, sẽ không có các tòa nhà chọc trời bởi không một công nhân nào chấp nhận làm việc ở độ cao như vậy và có nguy cơ bị rơi xuống chết người, để lại nỗi thống khổ cho gia đình
Không có bảo hiểm sẽ không có nhà đầu tư nào dám đầu tư hàng triệu đô la
để xây các tòa nhà lớn, bởi chỉ cần một tàn thuốc lá mỏng manh cũng có thể dễ dàng biến tòa nhà ấy thành đống tro đổ nát
Trang 15Không có bảo hiểm, không ai dám lái xe hơi qua các phố Một người lái xe giỏi vẫn ý thức được rằng anh ta có thể đâm vào người đi bộ bất cứ lúc nào"
2.2 Bản Chất của Bảo Hiểm
Trong thực tế cuộc sống hàng ngày, thuật ngữ "bảo hiểm" thường được sử dụng rộng rãi, đôi khi chỉ là một khái niệm về "quỹ dự trữ" mang tính chất cá nhân, riêng lẻ hoặc một "quỹ tương trợ" được phân phối theo kiểu bình quân, có
ý nghĩa từ thiện hoặc chĩ đơn thuần là một ý niệm về "sự an toàn", do đó, rất
dễ bị lầm lẫn giưã bảo hiểm và những khái niệm, ý niệm đã nói Chẳng hạn, tại cửa hàng mua bán y phục thời trang (fashion shop), các mẫu trang phục mới tung
ra thị trường thường được người ta bán với giá rất cao so với giá thành thực tế, chủ nhân dùng số tiền chênh lệch này hình thành một "quỹ dự trữ" để bù đắp vào việc thua lỗ có thể sẽ phải gánh chịu khi hàng hóa bị tồn đọng, do việc sản xuất trang phục hàng loạt trước đó và mẫu thời trang mới ra đời, mẫu trang phục được bán với giá rẻ, thậm chí thấp hơn giá thành Qũy tích dùng để bù dắp chi phí do sự biến động giá bán nói trên, chủ nhân các "shop" cũng thường gọi là
"bảo hiểm" Khái niệm về bảo hiểm như vậy là không đầy đủ, "bảo hiểm không phải đơn thuần là sự tích lũy để đôi phó với những tổn thất bất ngờ"[4,12]
Các nhà nghiên cứu lý thuyết bảo hiểm cho rằng, có rất nhiều định nghĩa bảo hiểm khác nhau tùy theo giác độ phân tích và quan điểm của mỗi người, song "Một định nghĩa thích hợp của bảo hiểm phải bao gồm sự xây dựng một qũy, sự hoán chuyển rủi ro, và thêm nữa là phải bao gồm sự kết hợp số nhiều các đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng, dự toán được Tổn thất dự toán này được phân bổ theo tỷ lệ cho cac đơn vị được kết hợp (cộng đồng) Định nghĩa này bao gồm cả hai yếu tố: Giảm thiểu rủi ro và phân tán tổn thất" [ 4,12]
Theo M.J Burkinshavv : " Bảo hiểm là một hệ thốhg mà qua đó một số người đồng ý đóng góp vào một qũy chung, được dùng để chia sẻ các chi phí tổn thất của một cá nhân trong đó có thể sẽ phải gánh chịu" [5,7]
Hay nói cách khác về phương diện pháp lý, Bảo hiểm là một hợp đồng được ký kết, trong đó một bên (Người-bảo-hiểm) đồng ý nhận một số tiền đã được tính toán (gọi là phí bảo hiểm) để bồi thường cho người khác (Người-được- bảo-hiểm ) về những tổn thất người ấy phải gánh chịu do hậu qủa của những sự cô' đã xảy ra
Đúng về phía Người-được-bảo-hiểm, bảo hiểm có thể được định nghĩa là:
"Phương tiện để Người-được-bảo-hiểm chỉ phải gánh chịu một phí tổn nhỏ và nhất định thay vì phải gánh chịu một tổn thất lớn, nhưng chưa chắc chắn xảy ra,
Trang 16Đứng trên giác độ kinh tế, Bảo hiểm là một hệ thcíng các biện pháp kinh tế
để huy động sự đóng góp của các tể chức, các cá nhân một số tiền nhất định dưới dạng phí bảo hiểm hình thành quỹ bảo hiểm nhằm chi trả hay bù đắp cho các đối tượng của người đóng góp khi có sự cố xảy ra, đảm bảo ổn định đời sống được thường xuyên và liên tục
Về phương diện nghiệp vụ, " Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên là
người được bảo hiểm đóng góp một số tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra sự cố" sẽ được nhận một khoản tiền đền bù từ phía người khác được gọi là nhà bảo hiểm Người này nhận toàn
bộ trách nhiệm đối với các rủi ro và đền bù thiệt hại theo quy luật thông kê" [6,17]
Về phía người kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm là một hệ thống trong đó
một số đông người đồng ý đóng góp một khoản tiền nhỏ (phí bảo hiểm) cho công
ty bảo hiểm hình thành một quỹ bảo hiểm để đổi lấy sự an toàn và chia sẽ chi phí cho một tổn thất mà có khả năng một cá nhân trong số họ phải gánh chịu đơn lẻ Nhiệm vụ của nhà bảo hiểm là nhận diện rủi ro, phân tán tổn thất có khả năng xảy ra và quản lý tốt quỹ bảo hiểm
Một định nghĩa rộng hơn, đầy đủ về mặt kỹ thuật và pháp lý, vừa bao gồm đặc điểm của bảo hiểm thương mại (insurance) mà chúng ta đang nghiên cứu, vừa bao gồm đặc điểm của bảo hiểm xã hội (social security), theo các chuyên gia bảo hiểm Pháp thì "Bảo hiểm là một hoạt động qua đó, một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ
ba trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo phương pháp của thống kê" [6,1 8]
Mục đích cuả bảo hiểm là nhằm hoán chuyển rủi ro, hay nói cách khác là hoán chuyển về mặt tài chính của rủi ro từ Người-được-bảo-hiểm sang Người- bảo-hiểm (công ty bảo hiểm) - người có khả nấng gánh chịu hậu quả tốt hơn, bởi
vì công ty bảo hiểm là người có trách nhiệm quản lý quỹ bảo hiểm được hình
Trang 17Bảo hiểm là một công cụ tài chính quan trọng cuả một quốc gia nói riêng và cuả nền kinh tế thế giới nói chung Cũng như các ngành tài chính khác, bản chất cuả bảo hiểm được biểu hiện qua tổng thể các mối quan hệ phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm - một quỹ dự trữ dưới hình thức tiền tệ
Về phương diện hình thành quỹ bảo hiểm: Các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi tham gia bảo hiểm phải đóng góp trước một khoản tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm Công ty bảo hiểm là người đứng ra huy động, tập hợp toàn bộ phí bảo hiểm để thành lập quỹ bảo hiểm Mối quan hệ phát sinh trong quá trình này dựa trên cơ sở hoán chuyển rủi ro cá thể thành rủi ro cộng đồng
Về phương diện sử dụng quỹ bảo hiểm: Chính trong quá trình này phát sinh các môi quan hệ đa dạng và phức tạp Mối quan hệ chủ yếu thể hiện qua việc chi trả bồi thường từ quỹ bảo hiểm này, dựa trên cơ sở lấy "số đông bù số ít", cho nên việc phân phối mang tính chất không đều - chỉ có một số ít người nhận và số" tiền bồi thường khác nhau (hậu quả khác nhau) Lợi ích cuả Người-được-bảo- hiểm còn được thực hiện dưới hình thức gián tiếp thông qua các cơ quan chức năng và cạc ngành kinh tế khác trong việc chi trả cho công tác đề phòng, hạn chế tổn thất được trích từ quỹ bảo hiểm Ngoài ra, ta thấy các môi quan hệ thông thường phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm như các khoản thuế: môn bài, doanh thu, lợi tức, thu nhập, Đặc biệt, việc Người-bảo- hiểm sử dụng số tiền nhàn rỗi để đầu tư, phát sinh rất nhiều mốì quan hệ kinh
tế đa dạng dựa trên nguyên tắc "các bên cùng có lợi" với mục đích bảo toàn và phát triển vốn, tăng thêm nguồn quỹ bảo hiểm để rồi quay về phục vụ lại cho Người-được-bảo-hiểm
Như vậy, bản chất sâu xa cuả bảo hiểm là sự phục vụ tích cực cho mục tiêu
an toàn cuả nền kinh tế - xã hội, biểu hiện các mô"i quan hệ kỉnh tế và xã hội phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm
2.3 Chức Năng - Nhiệm Vụ của Bảo Hiểm
Trang 18Đối với Người-bảo-hiểm, chức năng cơ bản cuả bảo hiểm là bảo vệ cho
Người-được bảo hiểm trước những hậu quả tài chính cuả rủi ro Điều này thể
hiện ở khả năng gánh chịu tổn thất và là phương pháp gánh chịu như thế nào để
có được lợi ích tối Ưu đối với cả Người-bảo-hiểm lẫn Người-được-bảo-hiểm Qua
nghiên cứu kỹ thuật và phương pháp bảo hiểm, người ta nhận thấy bảo hiểm đã
thể hiện được các chức năng sau:
• Hạ giảm ảnh hưởng tài chính của rủi ro đối với Người-được-bảo-hiểm
Người-bảo-hiểm thực hiện điều này thông qua việc chuyển giao rủi ro, có nghiã
là thay thế một chi phí đã được ấn định (phí bảo hiểm) bằng một số" tiền chưa
thể biết trước (khả năng tổn thất)
• Hạ giảm ảnh hưởng tài chính đối với Người-bảo-hiểm Sự không chắc
chắn cuả những rủi ro cá thể cùng được tập hợp lại để hình thành một quỹ đủ
lớn cuả những rủi ro tương đồng mà trong đó những hậu quả xảy ra có thể dự
đoán được vớí một mức độ chắc chắn nào đó
Nhiệm vụ chính cuả hoạt động bảo hiểm là tiến hành các công việc: khai
thác - giám định - bồi thường
Trước hết, nói về khai thác bảo hiểm: Người-bảo-hiểm trực tiếp hoặc thông
qua hệ thống Đại lý bảo hiểm (Insurance Agents) hoặc Môi giới bảo hiểm
(Insurance Brokers) để giới thiệu và triển khai các loại hình bảo hiểm đến với
khách hàng (Customers), người có nhu cầu bảo hiểm, muốn hạn chế hoặc chuyển
giao rủi ro của mình cho cộng đồng Nếu khách hàng cảm thấy "Sản phẩm Bảo
hiểm" (Insurance Product) - được thể hiện qua nội dung cuả "Quy tắc Bảo hiểm"/
"Đơn Bảo hiểm" - phù hợp với nhu cầu đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức
khoẻ, tài sản hoặc trách nhiệm cuả mình đối với người khác, và Người-bảo-hiểm
xét thấy đô"i tượng bảo hiểm có thể bảo hiểm được, hai bên sẽ tiến hành ký kết
hợp đồng bảo hiểm Nhiệm vụ khai thác là nhiệm quan trọng vụ hàng đầu cuả
doanh nghiệp bảo hiểm Trong khâu khai thác bảo hiểm bao gồm hai giai đoạn:
• Tiếp thị bảo hiểm (Marketing)
• Xét nhận bảo hiểm (Undervvriting)
Khi hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết và có hiệu lực, sản phẩm bảo hiểm
đã trở thành hàng hoá Tuy nhiên, khác với hàng hoá thông thường, Người-được-
bảo-hiểm chỉ thực sự nhận biết được giá trị sử dụng cuả sản phẩm hàng hoá bảo
hiểm khi xảy ra sự cố, rủi ro thuộc phạm vỉ bảo hiểm và được Người-bảo-hiểm
phục vụ như đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm, ở đây, vai trò cuả công tác
Giám định (Survey) - Bồi thường (Claim) là vô cùng quan trọng, thể hiện uy tín,
Trang 19tinh thần, thái độ, đạo đức phẩm chất cũng như trình độ cuả Người-bảo-hiểm Giám định và bồi thường là những nhiệm vụ tất yếu cuả hoạt động mua bán bảo hiểm
Giám định là cơ sở để xem xét sự cố xảy ra có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không ? Thời gian xảy ra sự cố có nằm trong hiệu lực cuả hợp đồng bảo hiểm hay không ? Việc xác định nguyên nhân và hậu quả cuả sự cố rủi ro bảo hiểm, để đưa đến quyết định bảo hiểm có bồi thường hay không trong sự vụ này, và nếu phải bồi thường thì tính toán như thế nào, bồi thường một phần hay toàn bộ ?
Không thể nói đến bảo hiểm mà không nói đến bồi thường vì đây thực sự là yêu cầu cuả Người-được-bảo-hiểm khi chẳng may họ gặp phải sự cố bất ngờ, cho
dù họ không bao giờ mong muốn điều đó xảy ra Bồi thường nhanh chóng, kịp thời, chính xác và hợp lý là sự thể hiện thành công cuả doanh nghiệp bảo hiểm, chứng minh dịch vụ cuả Người-bảo-hiểm mang lại cho khách hàng có tốt hay không ? Thêm nữa, bồi thường không chỉ là trách nhiệm thực hiện cam kết đã quy định trong hợp đồng bảo hiểm mà còn là một cách tuyên truyền tốt nhất cho doanh nghiệp bảo hiểm Rõ ràng, nó có tác động rất lớn đối với công tác khai thác, làm cho khách hàng luôn luôn gắn bó với doanh nghiệp bảo hiểm và đó chính là nền tảng vững chắc cuả đơn vị
Ngoài nhiệm vụ chính là khai thác - giám định - bồi thường, bảo hiểm còn
có những nhiệm vụ hỗ trợ khác đảm bảo cho sự thành công cuả doanh nghiệp
Có thể kể là công tác tuyên truyền - quảng cáo, đề phòng hạn chế tổn thất (Loss Prevention), đầu tư (Investment) vốn nhàn rỗi, tư vấn (Consultant) cho Người- được-bảo-hiểm,
Tất cả những nhiệm vụ nỗi trên dù ít, dù nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp đều mang lại lợi ích cho khách hàng và nói lên tầm quan trọng cuả dịch vụ bảo hiểm đối với hoạt động kinh tế và đời sông con người
2.4 Vai Trò của Bảo Hiểm
Thực hiện chức năng - nhiệm vụ nói trên, ngành bảo hiểm đã tồn tại và phát triển, xứng đáng là chỗ dựa đáng tin cậy, là một trong những phương thức đảm bảo an toàn và ổn định cho toàn bộ hoạt động cuả con người Bảo hiểm ngày càng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thế giới và góp phần vào việc giải quyết những vấn đề xã hội của nhân loại
Vị trí ngành bảo hiểm trong quá trình phát triển xã hội được thể hiện thông qua vai trò cuả nó về phương diện kinh tế - xã hội và tài chính
Trang 20Đối với hoạt động tài chính: Bảo hiểm có nguồn vốn lớn bao gồm vốn điều
lệ cuả doanh nghiệp bảo hiểm và các quỹ dự phòng bảo hiểm như dự phòng phí, dự phòng bồi thường, dự phòng dao động lớn, Nguồn vốn này thể hiện khả năng đảm bảo thanh toán cuả doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thực hiện các cam kết cuả mình đối với khách hàng Tuy nhiên, việc thanh toán này chỉ phát sinh khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và hiếm khi diễn ra đồng loạt Thông thường, sự
cố rủi ro trãi dần trong một năm (nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ) và có thể kéo dài trong vài chục nấm (nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ), do vậy, bao giờ bảo hiểm cũng tồn tại một lượng vốn nhàn rỗi rất lớn Nguồn vốn này dùng để đầu
tư vào các ngành trong nền kinh tế quốc dân, có khả năng sinh lời rất lớn
Như vậy, về phương diện tài chính, bảo hiểm đóng vai trò cuả một trung gian tài chính, hay nói rõ hơn bảo hiểm là một trong những định chế tín dụng không phải ngân hàng (Non-bank credit institutions)
Đối với đời sống kinh tế - xã hội: Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và đời sống, sinh hoạt hàng ngày cuả con người khi gặp phải sự cố rủi ro dẫn đến tổn thất về tính mạng, sức khoẻ và tài sản con người, làm ngưng trệ, gián đoạn quá trình tái sản xuất xã hội Bảo hiểm tham gia kịp thời vào quá trình này, giúp cho hoạt động kinh tế và đời sống con người nhanh chóng trở lại nhịp
độ bình thường Như vậy, về phương diện này, bảo hiểm không những là một định chế tài chính trung gian, mà còn có vai trò của một trong những phương tiện bảo đảm an toàn đối với sự phát triển kinh tế xã hội cuả nhân loại
3 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CUẢ BẢO HlỂM
3.1 Nguyên tắc "Hợp đồng" (Contract)
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa hai bên (Người-bảo-hiểm và Người-đuợc-bảo-hiểm), ràng buộc lẫn nhau trên cơ sở pháp lý Đây là một hợp hồng mang tính chất gia nhập: trên cơ sở Quy tắc bảo hiểm - do Người-bảo-hiểm đưa ra, Người-được-bảo-hỉểm sẽ gia nhập vào nếu thấy phù hợp với nhu cầu cuả mình Vì vậy, một bên sẽ thanh toán hoặc cam kết thanh toán phí bảo hiểm, bên
kia cam kết sẽ bồi thường trong những trường hợp sự cố xảy ra đã được thoả
thuận trước
3.2 Nguyên tắc "Tín tưởng tuyệt đối" (utmost good faith)
Trong hoạt động bảo hiểm, quan hệ giao dịch khác xa với quy luật thông thường, bởi vì chỉ có một người có khả năng biết được tất cả các yếu tố liên quan đến đối tượng bảo hiểm - đó là người đề nghị bảo hiểm Chính vì vậy, theo tập quán bảo hiểm đã hình thành từ lâu đời, nguyên tắc bảo hiểm được áp dụng ở
Trang 21về quyền sở hữu được pháp luật thừa nhận Như vậy, chủ sở hữu cuả đối tượng bảo hiểm đương nhiên là người đầu tiên có mối quan hệ về "quyền lợi bảo hiểm" được luật pháp bảo hộ Bên cạnh đó, những người được chủ sở hữu giao cho chiếm dụng, sử dụng đối tượng bảo hiểm cũng đều là những người liên quan
và có quyền lợi bảo hiểm
Điều này dễ thấy trong bảo hiểm tài sản, chủ sở hữu hoặc người được chủ
sở hữu giao cho (bán, cho thuê, cho mượn, ) quản lý/ sử dụng tài sản, đều là những người có quyền lợi bảo hiểm trên tài sản đó Còn trong bảo hiểm con người thì "Mọi cá nhân đều có quyền lợi bảo hiểm không giới hạn đối với cuộc sống cuả mình và có thể bảo hiểm sinh mạng cuả mình với bất cứ giá trị nào mong muốn (tuỳ theo tình trạng thể chất) miễn là có đủ tiền đóng phí bảo hiểm Anh ta cũng có quyền lợi bảo hiểm đối với cuộc sông cuả người bạn đời và ngược lại" [8,12]
Mục đích cuả hợp đồng bảo hiểm là nhằm bù đắp hoặc đền bồi thiệt hại cho Người-được-bảo-hiểm Thực chất cuả công việc này là bồi thường tài chính một cách chính xác, đủ để khôi phục vị trí tài chính ban đầu cuả Người-được- bảo-hiểm Nguyên tắc trong môi liên hệ giữa quyền lợi bảo hiểm và bồi thường là: Khi có khiếu nại, số tiền bồi thường cho Người-được-bảo-hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi bảo hiểm
Nguyên tắc về quyền lợi bảo hiểm cũng như nguyên tắc bồi thường đều dựa nhiều vào đánh giá tài chính Do vậy, chúng ta không thể đưa ra được số tiền thiệt hại chính xác khi tính toán tổn thất về tính mạng hoặc sức khoẻ con người
3.4 Nguyên tắc "Đóng góp bồi thường" (Contribution)
"Đóng góp bồi thường là quyền cuả một doanh nghiệp bảo hiểm được kêu gọi những doanh nghiệp bảo hiểm trùng khác cùng chia sẻ chi phí bồi thường, tuy nhiên không nhất thiết phải chịu trách nhiệm tương đương với nhau đối với
Trang 22Người-được-bảo-hiểm" [8,24] Nguyên tắc này cho phép chia sẻ toàn bộ tổn
thất một cách công bằng, hợp lý
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, nếu đã bồi thường toàn bộ, thì công ty bảo
hiểm có thể thu hồi một tỷ lệ thích ứng từ các công ty bảo hiểm trùng khác
Đối với Người-được-bảo-hiểm, nếu chưa được bồi thường đầy đủ (ít hơn
quyền lợi bảo hiểm), anh ta có quyền khiếu nại đến một số công ty bảo hiểm
khác để đòi bồi thường phần còn lại
Luật pháp quy định các điều kiện trước khi tiến hành đóng góp bồi thường:
♦ Phải tồn tại ít nhất hai hợp đồng bồi thường
♦ Các hợp đồng phải có cùng phạm vi bảo hiểm nhu nhau : cùng bảo hiểm một lợi ích chung; cùng một đối tượng bảo hiểm; cùng một hiểm hoạ gây nên tổn thất, tổn hại
♦ Mỗi hợp đồng đều có phát sinh trách nhiệm đối với tổn thất, tổn hại
3.5 Nguyên tắc "Thế quyền" (Subrogatỉon)
"Thế quyền là quyền của một người (Người bảo hiểm), sau khi bồi thường
cho một người khác (Người được bảo hiểm) theo bổn phận pháp lý (hợp đồng
bảo hiểm) có thể thay thế vị trí của người đó, cũng như được hưởng mọi quyền
lợi hợp pháp của người đó bất chấp đã có hiệu lực hay chưa."[8,23]
Nguyên tắc thế quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bồi thường,
nghĩa vụ bồi thường tổn thất của người bảo hiểm được gắn liền với quyền lợi là
thế quyền Sau khi nhận được tiền bồi thường từ công ty bảo hiểm, người được
bảo hiểm phải thực hiện việc thế quyền lại cho công ty bảo hiểm, tức là công ty
bảo hiểm được hưởng những quyền lợi hợp pháp khác của Người-được-bảo-hiểm
có thể có nhằm giảm bớt thiệt hại tổn thất
Tuy nhiên, có một lưu ý quan trọng là Người-được-bảo-hiểm không được
nhận bồi thường quá mức tổn thất thực tế của mình và Người-bảo- hiểm cũng
không được thu từ việc thế quyền nhiều hơn số’ tiền đã bồi thường
3.6 Nguyên tắc " Nguyên nhân trực tiếp" (Proximate cause)
Xác định nguyên nhân là vấn đề quan trọng đối với bảo hiểm Tất cả những
đơn bảo hiểm đều quy định những tổn thất, tổn hại, gây ra bởi hiểm họa nào
Trang 23được bảo hiểm và những nguyên nhân loại trừ khác Không có đơn bảo hiểm nào
mà không có những điểm loại trừ, như vậy việc xác định nguyên nhân của tổn thất trở thành nhân tố quyết định việc có bồi thường hay không theo đơn bảo hiểm đó Không phải nguyên nhân nào cũng được giải thích một cách rõ ràng Đôi khi một số những yếu tố cùng dẫn đến nguyên nhân và người ta có thể quay trở lại tìm một nguyên nhân quá khứ trong một chuỗi những nguyên nhân đã diễn ra
Trong thực tế, có nhiều trường hợp, việc xác định nguyên nhân gây nên tổn thất là rất khó khăn Để giải quyết điều này, trong hoạt động bảo hiểm, người ta
sử dụng quan điểm về "nguyên nhân gần" hoặc cũng có thể gọi là "nguyên nhân trực tiếp"
Nguyên nhân gần không phải là nguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng Ta có thể coi nó là nguyên nhân chi phối, nguyên nhân thực tế dẫn đến tổn thất
Nói về nguyên nhân chủ động, chi phối, có nghĩa là nó có mối liên hệ trực tiếp giữa nguyên nhân và kết quả, là yếu tố chính tạo nên một chuỗi các sự kiện
để dẫn đến hậu quả tổn thất Nguyên nhân này mạnh đến nỗi ở mỗi giai đoạn trong cả chuỗi sự cố, ta có thể dự đoán một cách lô-gích sựcố” tiếp theo trong suốt quá trình, cho đến khi hậu quả dự đoán xảy ra
Vậy, nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động, chi phối tạo nên một chuỗi các sự kiện , gây ra một hậu quả nhất định nào đó mà không cần có sự can thiệp của một động lực nào Nguyên nhân này bắt đầu và tiến triển mạnh
mẽ từ một nguồn mới, độc lập".[ 8,29]
4 PHÂN LOẠI BẢO HIỂM
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, người ta phân loại bảo hiểm theo các
tiêu thức sau:
4.1 Phân loại theo đặc điểm nghiệp vụ (phương pháp liệt kê)
4.1.1 Liệt kê theo nhóm nghiệp vụ
Bảo hiểm tàu thủy: Bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm liên quan đến tàu thủy
Bảo hiểm hàng hoá: Bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm liên quan đến vận chuyển hàng hoá
Bảo hiểm xe cơ giới: Bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm liên quan đến
xe cơ giới
Trang 24 Bảo hiểm con người: Bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm liên quan đến con người
……
4.4.2 Liệt kê chi tiết theo từng nghiệp vụ
(Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm có quy tắc riêng) Dưới đây là phương pháp liệt kê theo NĐ 100/CP ngày 1 8/12/1993:
Bảo hiểm nhân thọ (có thể phân loại chi tiết hơn)
Bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm tai nạn con người
Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
Bảo hiểm vận chuyển đường bộ, đường bộ, đường sông, đường sắt
và đường hàng không
Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu
Bảo hiểm trách nhiệm chung
Bảo hiểm hàng không
Bảo hiểm xe cơ giới
Bảo hiểm cháy
Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
Bảo hiểm nông nghiệp
Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do Bộ Tài Chính quy định
Các loại nghiệp vụ bảo hiểm từ điểm 2 đến điểm 13 trên đây gọi chung là bảo hiểm phi nhân thọ
4.2 Phân loại theo đối tượng bảo hiểm
Toàn bộ các nghiệp vụ bảo hiểm được chia làm 3 loại:
Bảo hiểm con người: Bảo hiểm tai nạn con người, tai nạn hành khách, bảo hiểm tai nạn học sinh, tai nạn khách du lịch,
Bảo hiểm tài sản: Bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm vật chất xe, bảo hiểm hoả hoạn,
Trang 25 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe
cơ giới với người thứ ba, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ hãng hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với sản phẩm,
Trong thực tế cách phân loại theo đối tượng bảo hiểm là phổ biến nhất
4.3 Phân loại theo kỹ thuật bảo hiểm
Căn cứ vào kỹ thuật phân bổ: Bao gồm các loại bảo hiểm cho một rủi ro có ính chất thay đểi theo thời gian, đối tượng gắn liền với tuổi thọ của con người, gọi chung là Bảo Hiểm Nhân Thọ (Life Assurance)
Căn cứ kỹ thuật tồn tích vốn: Bao gồm các loại bảo hiểm cho những rủi ro có tính chất tương đối ổn định theo thời gian và độc lập với tuổi thọ con người, gọi chung là Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ (Non-life Insurance)
4.4 Phân loại theo đặc điểm trả tiền bảo hiểm
Trả tiền bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường: Bao gồm các loại bảo hiểm có quy định số tiền bồi thường không vượt quá tổn thất thực
tế người được bảo hiểm đã phải gánh chịu, gọi chung là bảo hiểm thiệt hại (bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự)
Trả tiền bảo hiểm theo nguyên tắc khoán: Bao gồm các bảo hiểm liên quan đến bồi thường về tính mạng, sức khoẻ của con người
4.5 Phân loại theo tính chất pháp lý
Bảo hiểm bắt buộc: Bao gồm các loại bảo hiểm liên quan đến sự an toàn chung của cộng đổng xã hội, Nhà nước bắt buộc phải bảo hiểm (bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm tai nạn hành khách, )
Bảo hiểm tự nguyện: Bao gồm các loại bảo hiểm còn lại (bảo hiểm
về tài sản: BH hỏa họan, hàng hóa, vật chất xe; BH du lịch, ) Nhà nước không bắt buộc phải bảo hiểm
5 TÁI BẢO HIỂM
5.1 Định Nghĩa về Tái Bảo Hiểm (Reinsurance / Reassurance)
Trang 26Nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển cuả bảo hiểm ở phần trên,
chúng ta thấy rằng không có hoạt động nào cuả con người thoát khỏi rủi ro Lẽ dĩ
nhiên, điều này cũng đúng ngay cả đối với ngành bảo hiểm, hay nói cụ thể hơn,
một doanh nghiệp bảo hiểm - cho dù khả năng tài chính có mạnh đến đâu -
cũng có khả năng gặp phải rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh cuả
mình Đến lượt mình, hậu quả tài chính cuả rủi ro đối với doanh nghiệp bảo
hiểm cũng được giải quyết bằng phương thức bảo hiểm ! Thế nhưng, không lẽ
doanh nghiệp bảo hiểm lại tự bảo hiểm (self-insurance) cho chính mình Điều
này về lý thuyết và thực tế đã chứng minh rằng, tự bảo hiểm là phương thức hạ
sách, khả năng đảm bảo tài chính không cao vì không tuân thủ quy luật số đông
(The law of large numbers); Thêm nưã, nếu cố gắng phấn đấu nâng cao khả năng
tự bảo hiểm để đối phó với tổn thẩí: lớn có thể xảy ra thì lại "không kinh tế" vì
phải dùng một quỹ dự trữ bằng tiền rất lỡn, chậm đưa vào lưu thông, khả năng
sinh lợi kém Mặt khác, có những rủi ro cá biệt mà Người-được-bảo-hiểm đưa ra
quá lớn đến nổi khả năng tài chính bình thường cuả Người-bảo-hiểm không thể
nào đáp ứng được Trường hợp này, Người-bảo-hiểm có thể từ chối nhận rủi ro
đó Nhưng làm như vậy sẽ để mất khách hàng và rất đáng tiếc, vì Người-bảo-
hiểm không thể nhận được 100% rủi ro, nhưng khả năng đảm bảo một tỷ lệ
phần trăm nào đó cuả rủi ro là có thể thực hiện được
Như vậy, phương thức tốt nhất là các doanh nghiệp bảo hiểm phải chia sẻ rủi
ro với doanh nghiệp bảo hiểm khác bằng cách cùng nhau ký kết hợp đồng bảo
hiểm nhận lãnh rủi ro, đó là "đồng bảo hiểm" (Co-insurance); hoặc doanh
nghiệp bảo hiểm nhận bảo hiểm toàn bộ rủi ro đó rồi đi mua bảo hiểm về rủi ro
đó cho chính mình ở các doanh nghiệp bảo hiểm khác - hành động này người ta
gọi là "Tái bảo hiểm" (Reinsurance)
Có thể có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tái bảo hiểm, chẳng hạn theo
M.J Burkinshavv thì: "Một cá nhân có thể làm nhẹ bớt gánh nặng rủi ro thông
qua nhà bảo hiểm, tương tự, một công ty bảo hiểm cũng có thể làm nhẹ bớt gánh
nặng rủi ro mà nó đã chấp nhận (cấp đơn bảo hiểm) bằng cách chia sẻ rủi ro đó
với các nhà bảo hiểm khác Tái bảo hiểm nghĩa là nhận bảo hiểm một rủi ro đã
được bảo hiểm" [5,8.1] Song định nghĩa chung và dễ hiểu nhất là: Tái bảo hiểm
là bảo hiểm lại cho Người-bảo-hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm)
Nói cụ thể hơn, tái bảo hiểm về cơ bản là một phương thức trong đó các công
ty bảo hiểm gốc chuyển một phần của một hay nhiều rũi ro cho một hay nhiều
công ty bảo hiểm hoặc công ty tái bảo hiểm khác
Người ta được biết rằng vào cuối thời trung cổ, cùng với sự hình thành và
phát triển cuả nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, ngành bảo hiểm bắt đầu phát triển
Trang 27SO SÁNH ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ TÀI BẢO HIỂM
TÁI BẢO HIỂM
ĐỒNG BẢO HIỂM
Trang 28Có tổ chức, dần dần mở rộng ở Châu Au và đã có những hợp đồng bảo hiểm đầu
tiên ở Italia Khi đã có hoạt động bảo hiểm cho các thương gia, đồng thời cũng
xuất hiện nhu cầu bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm Chính vì vậy, người ta cũng
tìm thấy hợp đồng tái bảo hiểm đầu tiên cũng ở Italia vào năm 1370 Nhưng
hoạt động tái bảo hiểm chỉ thực sự phát triển vào giữa thế kỷ XIX, khi nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa đang trên đà phát triển mạnh mẽ, sự phồn thịnh cuả nền
thương mại quốc tế về quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu, ngành bảo hiểm càng
ngày càng phát triển và đa dạng hoá về tổ chức và nghiệp vụ Các công ty tái
bảo hiểm lần lượt ra đời ở Châu Au : Tại Đức, có Công ty Tái bảo hiểm Kohn
(Kôlnische Ruck, AG) thành lập năm 1 846; Công ty Tái bảo hiểm Thụy Sĩ (Swiss
Re) - 1 863; Công ty Tái bảo hiểm London Guarantee Reinsurance Co., Ltd - 1 869;
Công ty Tái bảo hiểm Munich (Munich Re - Munichenes Ruck, AG) - 1 880; Đặc
biệt tại Anh Quốc, LloycTs London đã trở thành thị trường tái bảo hiểm quan
trọng nhất thế giới kể từ năm 1864 về tàu và hàng hoá và cho đến nay, vị trí ấy
cuả Lloyd's vẫn không hề thay đổi Tiếp theo Châu Au, cằc thị trường tái bảo
hiểm Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada), Châu Á (Nhật), Châu Úc (Australia), càng
ngày càng phát triển, gắn liền với sự phát triển cuả nền kinh tế thế giới
Mục đích của hoạt động tái bảo hiểm là nhằm phân tán rủi ro và giảm trách
nhiệm bồi thường của các công ty bảo hiểm gốc (Reinsured/Cedant/Ceding
Company) trong trường hợp có tổn thất xảy ra, đảm bảo số tiền bồi thường không
vượt qúa khả năng dự trữ tài chính của các công ty này, thông qua nhà nhận tái
bảo hiểm (Reinsurer) - một công ty bảo hiểm hoặc công ty tái bảo hiểm chuyên
nghiệp nhận phần trách nhiệm về những rủi ro được nhượng lại (Cede)
5.2 Chức Năng của Tái Bảo Hiểm
Chúng ta đã biết, thực chất tái bảo hiểm cũng là bảo hiểm, vì vậy mọi đặc
điểm, bản chất, vai trò, tác dụng, cuả chúng có những nét tương đồng cơ bản
Tuy nhiên, khác với bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm là nhận bảo hiểm lại một hay
nhiều rủí ro đã được bảo hiểm rồi, cho nên, dù sao tái bảo hiểm cũng có một số
chức năng khác, đó là:
• Tăng Cường Khả Năng Nhận Bảo Hiểm Cho Công Ty Bảo Hiểm Gốc
Như đã nói trên, đối với trường hợp có nhiều rủi ro hoặc rủi ro có giá trị lớn,
nếu không có tái bảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc muốn nhận bảo hiểm, sẽ phải
duy trì một số vốn rất lớn để bảo đảm khả năng thanh toán sau này; nếu không,
công ty sẽ không có khả năng nhận một số lượng lớn các rủi ro cũng như các rủi
ro có giá trị cao như vậy Tái bảo hiểm giúp cho các công ty bảo hiểm tăng
Trang 29cường khả năng nhận bảo hiểm mà không cần phải thường xuyên tăng dự trữ vốn của mình
• Loại Bỏ Những Rủi Ro Có Nguy Cơ Cao
Giá trị của một hoặc một số rủi ro mà một công ty bảo hiểm gôc nhận lãnh
có khi lên đến hàng triệu dollars hoặc hơn thế nữa Vì thế, một nhà bảo hiểm thận trọng thường cố’ gắng đảm bảo an toàn cho mình, bằng cách nhượng tái bảo hiểm nhằm duy trì duy trì một cơ cấu rủi ro thuần nhất, chỉ giữ lại phần rủi ro trong khả năng tài chính của công ty, có nghĩa là đã loại bỏ được những rủi ro có nguy cơ cao
• Cân Đối Cơ Cấu Các Loại Hình Nghiệp Vụ
Các công ty bảo hiểm thường giữ lại phần lớn các nghiệp vụ có khả năng mang lại lợi nhuận cao, dây cũng là một thực tế hợp lý Tuy nhiên, nếu một công
ty để mất cân đôi khá nhiều giữa các loại hình nghiệp vụ, khi chẳng may gặp phải tổn thất lớn xảy ra thuộc về loại hình có doanh số phí chiếm tỷ trọng cao
mà không có tái bảo hiểm, chắc chắn sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài chính công ty Vì vậy, để ổn định tình hình hoạt động kinh doanh, đảm bảo điều hoà hiệu qủa kinh tế hàng năm, không phụ thuộc quá nhiều vào một loại nghiệp vụ nào đó, cần phải nhượng tái bảo hiểm một phần thu nhập phí của loại hình nghiệp vụ có tỷ trọng cao để cân bằng cơ cấu giữa các loại hình bảo hiểm khác nhau
• Tạo Ra Công Cụ Để Tiến Hành Trao Đổi, Hợp Tác Lẩn Nhau
Trên thế giới này, thực chất không có một quốc gia, một dân tộc nào tồn tại
và phát triển mà không có mối quan hệ lẫn nhau Cũrig như không có công ty bảo hiểm nào, dù hùng mạnh đến đâu, có thể đảm bảo khả năng thanh toán tất
cả rủi ro Do vậy, giữa các công ty bảo hiểm luôn luôn vừa cạnh tranh, vừa hợp tác lẫn nhau để tăng cường sức mạnh cho chính mình Một trong những công cụ
để các công ty bảo hiểm trao đổi, hợp tác cùng nhau, đó là tái bảo hiểm
"Kết qủa kinh doanh của các công ty bảo hiểm khác nhau, cũng như ở các nước khác nhau, thường là không giống nhau Các công ty bảo hiểm có thể mở rộng nguyên tắc phân tán rủi ro bằng cách trao đổi một phần những rủi ro tốt vượt qúa mức giữ lại của mình cho công ty khác trên cơ sở có đi có lại Cách làm
sẽ cho phép các công ty được hưởng mức phí giữ lại cao hơn bao gồm những rủi
ro có mức phân tán rộng hơn và có thể bao gồm những cả những rủi ro tốt của những nước khác."[9,1 7]
Trang 30• Góp Phần Ổn Định Và Bảo Vệ Công Ty Bảo Hiểm Gốc Trước Tổn Thất
Các công ty bảo hiểm cần phải nắm chắc con số thống kê kinh nghiệm, đồng thời dự toán được xác suất rủi ro trong tương lai đối với từng nghiệp vụ, mới
có khả năng cân đôi tài chính Song, nếu công ty bảo hiểm gốc không có một chương trình tái bảo hiểm tốì ưu nhằm kế hoạch hóa chi phí bồi thường, thì có thể làm ảnh hưởng đến khả năng tài chính của mình khi có sự cố rủi ro dẫn đến tổn thất lớn Ngược lại, nếu có kế hoạch tái bảo hiểm tốt, số tiền bồi thường trong phần rủi ro giữ lại, sẽ nằm trong khả năng dự kiến và do đó đảm bảo ổn định hoạt động tài chính của công ty
Đối với những thảm họa lớn có thể xảy ra, tái bảo hiểm là một nhu cầu nhằm bảo vệcác công ty bảo hiểm gốc trước những tổn thất khốc liệt "Những tổn thất qúa lớn này có thể phát sinh từ việc tích tụ các tài sản được bảo hiểm biết trước và không biết trước bị phá hủy trong mổi một sự cố xảy ra như gió bão, mưa đá, động đất, núi lửa phun, hỏa hoạn lớn và kể cả những vụ nỗ công nghiệp Mỗi một sự cố xảy ra cũng có thể ảnh hưởng đến nhiều loại hình nghiệp vụ, và do đó mà cần phải có sự bảo vệ của tái bảo hiểm."[9,1 8]
• Khuyến Khích Bảo Hiểm Gốc Tiến Hành Các Loại Hình Nghiệp Vụ
Mới
Khi tiến hành các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới hay triển khai bảo hiểm ở một khu vực mới, công ty bảo bảo hiểm luôn luôn thận trọng do thiếu kinh nghiệm, nên qúa trình thực hiện thường gặp nhiều khó khăn và tốc độ triển khai rất chậm, hơn nữa chì muốn giữ lại một phần nhỏ của dịch vụ Nếu có sự giúp đỡ của các công ty tái bảo hiểm, bảo hiểm gốc có thể nhận được những kĩến thức, sự hướng dẫn cần thiết trong việc tham giạ vào một lĩnh vực nghiệp
vụ mới khi có nhu cầu Đây là một chức năng và cũng là trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm khuyến khích các công ty bảo hiểm mở rộng hoạt động bảo hiểm
và đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm, bởi vì bảo hiểm gốc chính là khách hàng của tái bảo hiểm
• Giảm Bớt Căng Thẳng Tài Chính Do Tốc Độ Tăng Trưởng Nhanh
Để kiểm soát và quản lý khả năng thanh toán của các công ty bảo hiểm, tránh nguy cơ mất khả năng chi trả các cam kết đối với khách hàng của các công ty bảo hiểm, cơ quan quản lý bảo hiểm của chính phủ (ở Việt Nam là Bộ Tài chính) bắt buộc các công ty thành lập qũy dự phòng phí (qũy này được thành lập căn cứ vào tổng số phí sẽ thu được và giữ lại vào cuối năm) và quỹ dự
Trang 315.3 Các Hình Thức Tái Bảo Hiểm
Tái bảo hiểmnhiệm ý/tạm thời/tuỳ ý lựa chọn (FacultativeReinsurance)
Tái bảo hiểm bắt buộc/tự động (Obligatory)
Tái bảo hiểmnhiệm ý - bắt buộc (Facultative - Obligatory) hay còn gọi là
"Đảm bảo để ngỏ" (Open cover)
So sánh các hình thức tái bảo hiểm nói trên:
HÌNH
THỨC
NHIỆM Ý Facultative Reinsurance
BẮT BUỘC (Obligatory Reinsurance)
NHIỆM Ý - BẮT BUỘC (Facultative - obligatory Reinsurance) NỘI
DUNG Mỗi đơn vị rủi ro được
chào tái bảo hiểm riêng biệt cho nhà tái bảo hiểm
Nhà tái bảo hiểm được quyền tự do lựa chọn tỷ lệ tham gia mà
họ muốn hoặc từ chối không nhận tham gia
Phụ thuộc vào các điều kiện và nội dung đấ được thỏa thuận giữa các bên
và được đặt ra trong
hợp đồng Công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm đều bắt buộc phải đem tái bảo hiểm và nhận tái bảo hiểm các
rũ ỉ ro của mọ í loại bảo hiểm mà thuộc phạm vỉ giới hạn
đã quy định trong hợp đồng
Nhà tái bảo hiểm đồng ý chấp nhận một cách bắt buộc một phần hoặc bất cứ dịch vụ nào đó phù hợp với những điều kiện định trước về loại nghiệp vụ bảo hiểm, loại rủi ro, nước sở tại, v.v do đối tượng sau đây chào:
1 Công ty nhượng, hay
2 Môi giới (khỉ hình thức chào hợp đồng là "đảm bảo để ngỏ" cũa Môi giới và có thể bao gồm các dịch vụ bảo hiểm do các công ty nhượng khác nhau nhận)
Công ty nhượng hay Môi giới không bắt buộc phải đem tái
Trang 32Có hai phương pháp tái bảo hiểm là tái bảo hiểm theo tỷ lệ và tái bảo hiểm không theo tỷ lệ
5.4.1 Phương Pháp Tái Bảo Hiểm Theo số Tiền Bảo Hiểm/ Theo Tỷ Lệ
(Proportỉonal Reinsurance/Proportíonal Treaty)
Là phương pháp tái bảo hiểm mà trong đó trách nhiệm của công ty nhượng (ceding company) và nhà tái bảo hiểm (reinsurer) đối với các đơn vị rủi ro được bảo hiểm được phân chia theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên dựa trên cơ sở số tiền bảo hiểm (Insured Amount)
Phương pháp tái bảo hiểm theo tỷ lệ được chia làm 3 dạng chính:
Tái bảo hiểm thặng dư Vốn/Tái bảo hiểm "mức dôi" (Surplus)
Tái bảo hiểm số thành/Tái bảo hiểm phân ngạch thuần/Tái bảo hiểm
"tham gia" (Quota share)
Tái bảo hiểm kết hợp "thặng dư - số thành" (Surplus - Quota share)
5.4.2 Phương Pháp Tái Bảo Hiểm Phi Tỷ Lệ (non-proportional
reinsurance) Tái Bảo Hiểm Thặng Dư Tổn Thất/Tái Bảo Hiểm Theo Mức Bồi Thường Bảo Hiểm
Là cách thức tái bảo hiểm mà trong đó công ty nhượng tái ấn định một giới hạn bồi thường bằng một số tiền mà họ có thể tự gánh chịu cho tổn thất là hậu quả của "mỗi một sự cố" đối với một hay nhiều loại bảo hiểm mà mình đảm trách và tổn thất vượt quá hạn mức đó được chuyển cho nhà tái bảo hiểm chịu
Tái bảo hiểm phi tỷ lệ có các dạng chính sau:
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường (Excess of Loss, gọi tắt là X/L)
♦ Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ
(Undervvriting/VVorking cover Excess of Loss)
bảo hiểm mọi dịch vụ
PHƯƠNG
THỨC ÁP
DỤNG
Chủ yếu các dạng tái bảo hiểm theo tỷ
lệ
Áp dụng mọi dạng tái bảo hiểm tỷ lệ
Trang 33CHU TRÌNH NHƯỢNG TÁI BẢO HIỂM
PHƯƠNG PHÁP TÁI BẢO HIỂM
Trang 34♦ Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo tai họa khốc liệt
(Catastrophe Excess of Loss)
Tái bảo hiểm vượt mức tỷ lệ bồi thường (Loss ratio) hay chặn đừng tổn
thất (Stop loss)
• Các dạng Tái bảo hiểm phi tỷ lệ được áp dụng trên các cơ sở sau:
Theo từng đơn vị rủi ro (per risk)
Theo từng sự cố (per event)
Theo từng sự cố - rủi ro (per risk and per event)
5.5 Sự Cần Thiết Khách Quan của Tái Bảo Hiểm Đối Với Các Doanh
Nghiệp Bảo Hiểm
Cũng giống như Người-được-bảo-hiểm, mua bảo hiểm là để giảm bớt lo âu
về tổn thất bất ngờ sẽ có thể xảy ra trong tương lai, ngoài khả năng chịu đựng của chính mình, Công ty bảo hiểm cần phải mua bảo hiểm lại (tái bảo hiểm) ở một công ty bảo hiểm/tái bảo hiểm khác
Thật vậy, một công ty bảo hiểm, thông thường thuộc loại hình tương tự công ty trách nhiệm hữu hạn, được thành lập với một số vốn nhất định Cho nên, khả năng nhận bảo hiểm cho một rủi ro đảm bảo khả năng thanh tóan luôn luôn bị giới hạn trong phạm vi số vốn này Tuy nhiên, trong qúa trình kinh doanh, cồng ty bảo hiểm có thể nhận được những yêu cầu ký kết hợp đồng bảo hiểm với số" tiền bảo hiểm vượt xa khả năng cũa mình "Để có thể bảo hiểm cho những rủi ro lớn như vậy và cung cấp được mọi dịch vụ mà khách hàng yêu cầu, cần thiết phải tiến hành tái bảo hiểm cho những phần vượt qùa mức giữ lại cho một hoặc nhiều các cồng ty bảo hiểm hay tái bảo hiểm khác trên thị trường Nếu không có tái bảo hiểm, các công ty bảo hiểm gốc sẽ gặp phải những khó khăn nhất định trong qúa trình hoạt động kinh doanh của mình."[9,1 6]
Trong quá trình tiến hành nhận bảo hiểm cho các khách hàng cuả mình, Người-bảo-hiểm (công ty bảo hiểm) phải có phương thức tính toán nhằm xác định mức độ rủi ro về mặt tài chính công ty có thể đảm đương được, khả năng chịu trách nhiệm được trong mỗi một đơn vị rủi ro, sự cố tổn thất Phần rũi ro Người-bảo-hiểm giữ lại cho mình và tự đảm đương được, người ta gọi là "mức giữ lại" (retention) Khi đạt đến giới hạn "mức giữ lại", công ty bảo hiểm sẽ phải thu xếp chuyển phần vượt mức giữ lại cho các nhà nhận tái bảo hiểm
Trang 35Ví dụ, có một khách hàng yêu cầu bảo hiểm cho một tài sản trị giá
20.000.000 USD Dĩ nhiên, Người-bảo-hiểm rất mong muốn được nhận bảo
hiểm toàn bộ dịch vụ bảo hiểm này, song do khả năng tài chính của công ty có
giới hạn, không cho phép nhận và giữ lại toàn bộ rủi ro cuả tài sản trị giá lớn
như vậy Nếu Người-bảo-hiểm chỉ có thể nhận bảo hiểm vổi trị giá tối đa tương
đương 1.000.000 USD (mức giữ lại) cho mỗi một rủi ro, như vậy cần phải tái bảo
hiểm phần trách nhiệm vượt mức là 19.000.000 USD còn lại
Mặt khác, Người-bảo-hiểm cũng có thể tránh sự biến động trong các khoản
thanh toán về tổn thất trong một năm và các năm tiếp theo, tạo ra sự an tâm cho
khách hàng tiếp tục gắn bó với công ty vì công ty luôn đảm bảo không những
đối với các tổn thất thông thường mà cả trường hợp tổn thất khốc liệt (thảm họa)
bằng cách tái bảo hiểm phần vượt "mức giữ lại" cuả mình
Tương tự như thế, các nhà tái bảo hiểm cũng cần phải tái bảo hiểm phần
trách nhiệm vượt qúa mức giữ lại của họ,nghĩa là phải chuyển nhượng phần vượt
mức cho những công ty nhận nhượng tái bảo hiểm Quá trình tái bảo hiểm cứ
diễn ra theo trình tự tiếp tục theo chu trình đó, làm cho rủi ro được chia nhỏ và
san sẻ dần cho một số lớn các nhà bảo hiểm và nhà tái bảo hiểm, Cuối cùng, khi
tổn thất dù lớn đến mấy, nếu chẳng may xảy ra, ai nấy đều gánh chịu một cách
dễ dàng trong khả năng dự tính cuả mình Đó là điểm đặc sắc chứng minh tác
dụng và tầm quan trọng của hoạt động tái bảo hiểm
Như vậy, sự cần thiết của tái bảo hiểm đối với các doanh nghiệp bảo hiểm
thể hiện ở chỗ, nếu không có tái bảo hiểm, các công ty bảo hiểm sẽ không có
khả năng nhận qúa nhiều rủi ro có giá trị lớn, vì nếu trong trường hợp xảy ra tổn
thất đòi hỏi phải bồi thựờng, sự an toàn về mặt tài chính của công ty sẽ bị ảnh
hưởng M.J Burkinshavv - thuộc Viện Nghiên cứu Bảo hiểm New Zealand - đã
phát biểu: " Tái bảo hiểm cho phép các nhà bảo hiểm ổn định sau tổn thất bằng
cách giảm đến mức thấp nhất các tác động xấu khi có tổn thất lớn Điều này
giúp tránh được tình trạng tổn thất lớn trong một thời hạn kế toán có thể làm tài
khoản mất cân đối, gây ảnh hưởng đến mức thặng dư hoặc lợi nhuận, hoặc thậm
chí đưa công ty đến chỗ phá sản Nếu không có tái bảo hiểm, nhà bảo hiểm sẽ
phải giới hạn khả năng nhận bảo hiểm cho từng cá nhân và sẽ phải từ chối các
trường hợp người tham gia bảo hiểm không đáp ứng được các yêu cầu khắt khe
cuả nhà bảo hiểm."[5,8.1]
6 PHÂN BIỆT GIỮA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Trang 36Trong phần định nghĩa về bảo hiểm nói trên, chúng ta dùng thuật ngữ "Bảo hiểm", có nghĩa là "Bảo hiểm Thương mại" (Insurance) để phân biệt với phạm trù "Bảo hiểm Xã hội" (Social Security) Nói một cách khái quát, "Bảo hiểm xã hội là một định chế pháp lý bảo vệ người lao động bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ người lao động, người sử dụng lao đọng (nếu có), cộng với sự hổ trợ của nhà nước, thực hiện việc trợ cấp vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người tham gia bảo hiểm xã hội và gia đình họ trong các mtrường hợp người lao động tham gia bảo hiểm xã hội gặp rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, rủi ro tuổi già, làm cho gia đình bị mất hoặc giảm thu nhập bất ngờ" [6,23]
Như vậy, điểm giống và khác nhau giữa bảo hiểm thương mại và bảo hiểm
xã hội như thế nào ? Qua so sánh, chúng ta thấy:
6.1 Những Điểm Giống Nhau
♦ Quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm thương mại đều là loại quỹ dự trữ tiền tệ, được hình thành trên cơ sở "luật số đông" ( the lavv of large numbers), do tất cả cá nhân hoặc tể chức đóng góp theo nguyên tắc
1.1.2 Đối tượng bảo hiểm: Ngoài việc
bảo vệ tính mạng và sức khoẻ con người, nó còn bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân sự _
Bảo hiểm xã hội (Social Security)
1 Thông thường, đây là một định chế pháp lý bắt buộc do Quốc hội hoặc Chính phủ ban hành
2 Đối tượng bảo hiểm: chỉ nhằm bảo
vệ quyền lợi và sự an toàn cho đời sống chính bản thân người lao động
Trang 371.1.3 Đa số các loại hình bảo hiểm,
hình thức tự nguyện là chính
1.1.4 Thể hiện sự sòng phẳng giữa người
được bảo hiểm và ngu6ồi bảo hiểm khi ký kết hợp đồng bảo hiểm Tuỳ theo điều kiện kinh tế tài chính của mình, người được bảo hiểm có thể tham gia với mức bảo hiểm cao và quyền lợi được thụ hưởng cao tương ứng
1.1.5 Mục tiêu phục vụ gắn liền với mục
tiêu kinh doanh, đảm bảo hiệu quả cuối cùng (có doanh lợi)
3 Bảo hiểm xã hội thường mang tính chất bắt buộc đối với toàn xã hội
4 Thể hiện sự bình đẳng của mọi người lao độngtrong việc phân phối các quyền lợi: Đóng góp theo thu nhập
và được thụ hưởng quyền lợi theo chế
độ
5 Mục tiêu phục vụ cho an sinh xã hội
là chính, đồng thời coi trọng khả năng cân đôi thu chi, nhưng không nhằm mục đích kinh doanh
(Tóm lại, bảo hiểm đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của các tổ chức, cá nhân nhằm phòng tránh các biến cố xảy ra gây thiệt hại về người và tài sản Lịch sử phát triển xã hội đã chứng minh rằng bảo hiểm là người bạn đồng hành của sản xuất - kinh doanh và đời scíng con người, bỡĩ vì rủi ro luôn luôn là lực cản vô hình đối với sự phát triển của mỗi cá nhân nói riêng và nền kinh tế - xã hội của nhân loại nói chung, còn bảo hiểm là người tuyên chiến với rủi ro, làm suy giảm tác hại của nó đối với mỗi cá nhân và cả cộng đồng Thực tế cho thấy, bảo hiểm
đã có khả năng thực hiện được điều ấy và xứng đáng là chỗ dựa vững chắc, là
"tấm lá chắn" cuả nền kinh tế và xã hội, như lời phát biểu của Tổng thống George Pompidou : " Người nông dân ngày xưa gắn bó với nông trại và nếu nó bị cháy ông ta sẽ khốn khổ; người công nhân ngày nay gắn bó với chiếc xe hơi và nếu có người phá huỷ nó, anh ta buồn Anh ta chỉ buồn bởi đã có bảo hiểm Anh ta sẽ khốn khổ nếu không có bảo hiểm ! Tất nhiên người ta có thể nói rất dài về khái niệm bảo hiểm, có nghĩa là về nhu cầu mà con người cần đảm bảo chống lại nỗi bất hạnh Điều đó xuất phát từ việc kiếm tìm hạnh phúc."
Trang 39HIEM VIETNAM VA SV RA DOl CUA CONG TY BAO HIEM ' , , ~ , ?
THANH PHO HO CHI MINH (BAO MINH) Qua Trinh Hlnh Thanh Va Phat Tri~n Cua Nganh Bao Hi~m Vi~t Nam Va Cong Ty Bao Hi~m TP.H6 Chi Minh (Bao Minh)
C6 th~ so luqc qua cac giai do(;ln sali
1.1.1 Giai do\}n trttoc 30/04/1975
Trlioc ngay mi~n Nam hoan toan giai ph6ng, ch€ d<? cO (Chfnh quy~n Sai Gon) da t6 chuc h~ th6ng quan ly hanh chann ch~t che tren toan lanh th6 mi~n Nam nuoc ta, trong d6 Sai Gon duqc chQn Ia thu do Trong giai do(;ln nay, Sai Gon Ia trung tam kinh t€ lon nha"t mi~n Nam Vi~t Nam va giu vi trf quan trQng trong khu vljc 8ong NamA, nguoi ta con gQi Sai Gon Ia "Han NgQc Vi~n 8ong)
- noi c6 ye'u t6 kinh t€ ph at tri~n theo con duong tli ban chu ngh ia, lu~t phap chu truong bao v~ cho slj phat tri~n m(;lnh me tu ban tu nhan va tlJ do c(;lnh tranh
Vi the', chi rieng trong lanh vljc bao hi~m, t(;li thanh ph6 Sai Gon da c6 d€n
53 cong ty bao hi~m (trong nuoc va nuoc ngoai) d6ng thai ho(;lt d<?ng va c(;lnh tranh quy€t li~t, trong d6 Cong Ty Bao Hi~m va Tai Bao Hi~m Vi~t Nam (The Vietnamese Assurance and Reassuance Company, gQi tat Ia cong ty V.A.R.), Ia cong ty bao hi~m lon nha"t , c6 tn) sa d~t t(;li s6 26, duong Ton Tha"t 8(;1m, Sai Gon (nay Ia tn,J sa chfnh cua Cong Ty Bao hi~m TP.HCM)
VAR Ia m<?t cong ty c6 ph~n bao hi~m (thu~t ngu cO gQi Ia cong ty hqp doanh - joint venture), duo<;: thanh l~p nam 1960 C6 dong chfnh cua VAR Ia Vi~t Nam Thuong Tin (1he Commercial Credit of Vietnam) - m<?t ngan hang cua
Trang 40 Đào tạo các chuyên viên Việt Nam có nghiệp vụ bảo hiểm giỏi
Dần dần tiến tới lành mạnh hoá t|ị trường bảo hiểm Việt Nam
Sau một thời gian hoạt động, VAR đã đạt được tất cả các mục tiêu trên và trở thành công ty bảo hiểm lớn nhất Việt Nam, có uy tín trong nước và cả trên trường quốc tế, góp phần đắc lực vào việc phát triển kinh tế của miền Nam lúc bấy giờ
Cũng như hầu hết các công ty bảo hiểm khác, VAR có các đại diện, đại lý ở các tỉnh, thành phố lớn của miền Nam VAR hoạt động trong khuôn khổ "Luật
Bảo Hiểm và các Hội Tương Hỗ" do Chính quyền cũ ban hành năm 1965; Giám
đốc công ty VAR cũng đồng thời giữ chức chủ tịch Liên hội các Công ty Bảo chi hiểm Việt Nam (Chairman of the Insurers' sociation), trong đó VAR là một Hội
viên
VAR và 52 công ty bảo hiểm còn lại thực hiện rất nhiều loại hình bảo hiểm, với đội ngũ nhân viên được huấn luyện chu đáo và đã từng được tu nghiệp nhiều lần ở các Công ty Bảo hiểm ngoại quốc, có tỉnh thần phục vu nhiệt tình, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng khi tham gia bảo hiểm Số lượng các loại hình bảo hiểm được triển khai thực hiện cũng rất đa dạng, bao gồm hầu hết các nghiệp vụ chính, quan trọng như bảo hiểm huyên chở (transports), bảo hiểm hoả hoạn (fire), bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm du lịch (travel), bảo hiểm tai nạn lao động (accident), bảo hiểm tai nạn linh tinh (miscellaneous),
b) Tại miền Bắc (từ vĩ tuyến 17 trở ra)
Trong giai đoạn này, miền Bắc đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng và Nhà nước giao cho, đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Do chiến tranh phá hoại của Mỹ, miền Bắc chịu ảnh hưởng nặng nề về
nhân tài, vật lực; nền kinh tế miền Bắc rất yếu kém, đời sống nhân dân còn