1.2 Mục tiêu nghiên cứu: Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập quốc tế và có nhiều đổi mới theo từng ngày như hiện nay, đề tài của luận văn mang tính ứng dụng vào lĩnh vực cụ thể
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS MAI THỊ HOÀNG MINH
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực Các kết quả này chưa được công bố
ở bất kì công trình nào
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng, nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Đinh Vũ Khánh Ngọc
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 5
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU VÀ VẬN DỤNG ĐÁNH GIÁ TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BCTC 8
2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 8
2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 8
2.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 9
2.2 Tổng quan về trọng yếu và vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC: 11
2.2.1 Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kế toán và kiểm toán 11
2.2.1.1 Trên Thế giới 11
2.2.1.2 Tại Việt Nam 13
2.2.2 Khái niệm tính trọng yếu trong kế toán và kiểm toán 14
2.2.3 Đặc điểm tính trọng yếu 17
2.3 Quy trình vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC: 18
2.3.1 Sự cần thiết vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC 18
2.3.2 Quy trình vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC 18
2.3.2.1 Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 19
2.3.2.2 Trong quá trình thực hiện kiểm toán 25
Trang 52.3.2.3 Khi hoàn thành kiểm toán 26
2.3.3 Kiểm soát chất lượng vận dụng đánh giá tính trọng yếu 27
2.4 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa: 28
2.4.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam và trên thế giới: 28
2.4.2 Tổng quan về doanh nghiệp kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại Việt Nam: 31
2.4.2.1 Quá trình hình thành và phát triển các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam 31
2.4.2.2 Doanh nghiệp kiểm toán độc lập quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam 32
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Thiết kế nghiên cứu: 35
3.1.1 Khung nghiên cứu 35
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 38
3.1.3 Giả thuyết nghiên cứu định lượng 38
3.1.3.1 Định nghĩa các khái niệm liên quan đến vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC 38
3.1.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu 39
3.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 40
3.2.1 Đặc điểm của chủ thể kiểm toán với việc lựa chọn mẫu nghiên cứu 40
3.2.2 Nghiên cứu tình huống 40
3.2.3 Khảo sát qua bảng câu hỏi 42
3.3 Xử lý dữ liệu 44
3.3.1 Nghiên cứu tình huống 44
3.3.2 Khảo sát qua bảng câu hỏi 44
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VẬN DỤNG ĐÁNH GIÁ TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BCTC CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 49
4.1 Các quy định liên quan đến tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC tại Việt Nam 49
4.1.1 Các quy định liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam 49
4.1.2 Các quy định liên quan đến tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC tại Việt Nam 50
Trang 64.2 Thực trạng vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các
công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh 52
4.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC 52
4.2.1.1 Lựa chọn nhân sự cho việc xác định mức trọng yếu 52
4.2.1.2 Tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động kinh doanh 53
4.2.1.3 Xác định mức trọng yếu 54
4.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán BCTC 58
4.2.3 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán BCTC 58
4.2.4 Kiểm soát chất lượng vận dụng đánh giá tính trọng yếu 58
4.2.5 Phân tích mối quan hệ giữa vận dụng đánh giá tính trọng yếu và các nhân tố khác 59
4.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh thực hiện 62
4.3.1 Những kết quả đạt được trong việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC 62
4.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC 64
4.3.2.1 Hạn chế trong việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC 64
4.3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC 66
CHƯƠNG 5 BIỆN PHÁP NÂNG CAO VIỆC VẬN DỤNG ĐÁNH GIÁ TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BCTC CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHỎ VÀ VỪA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 70
5.1 Giải pháp nâng cao việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC về phía các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh 70
5.1.1 Nâng cao năng lực trình độ của KTV chú trọng đến tính xét đoạn của KTV trong việc vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC 70
5.1.2 Hoàn thiện quy trình vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC 71
5.1.2.1 Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 72
5.1.2.2 Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán 77
5.1.2.3 Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán 78
Trang 75.1.3 Hoàn thiện kiểm soát chất lượng vận dụng đánh giá tính trọng yếu 79
5.2 Kiến nghị nhằm thực hiện giải pháp nâng cao việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh 80
5.2.1 Về phía KTV và công ty kiểm toán độc lập 80
5.2.2 Về phía Bộ Tài chính 81
5.2.3 Về phía Hội nghề nghiệp KTV Việt Nam 83
5.2.4 Về phía các trường đại học có đào tạo chuyên ngành kiểm toán 84
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận văn 85
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu viết tắt Chữ viết đầy đủ
toán Bắc Đẩu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng xác định mức trọng yếu ban đầu theo chỉ tiêu lợi nhuận gộp 22
Bảng 2.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của World Bank 28
Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số quốc gia 29
Bảng 3.1 Các tiêu chí phân loại nhóm nghiên cứu 47
Bảng 4.1 Kiểm định sự tương quan giữa vận dụng đánh giá tính trọng yếu và các yếu tố khác 60
Bảng 4.2 Kết quả phân tích bằng kiểm định tham số trung bình hai mẫu 61
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Khung nghiên cứu 37 Hình 4.1 Trích giấy tờ làm việc của Công ty TNHH Dịch vụ Kiểm toán và Tư vấn
Kế toán Bắc Đẩu 55 Hình 4.2 Trích giấy tờ làm việc của Công ty TNHH Kiểm toán U&I 55 Hình 4.3 Trích giấy tờ làm việc của Công ty TNHH Dịch vụ Kiểm toán và Tư vấn
Kế toán Bắc Đẩu 56 Hình 4.4 Trích giấy tờ làm việc của Công ty TNHH Dịch vụ Kiểm toán và Tư vấn
Kế toán Bắc Đẩu 57
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Kiểm toán là một hoạt động đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính, giúp người sử dụng thông tin ra quyết định đúng đắn và thích hợp Một nền kinh tế phát triển lành mạnh với kênh cung cấp vốn từ thị trường chứng khoán và ngân hàng đòi hỏi phải được cung cấp thông tin từ các dịch vụ kiểm toán có chất lượng cao (Trần Thị Giang Tân, 2011) Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập đã hình thành và phát triển ở Việt Nam trong hơn hai mươi lăm năm qua, trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp (Khánh Linh, 2016)
Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận
độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, góp phần đáng kể vào hoạt động sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp và thu hút các hoạt động đầu tư của nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước Ngoài những đóng góp tích cực nêu trên cho nền kinh tế, kiểm toán độc lập còn là hoạt động dịch vụ và như vậy nó tạo ra giá trị cho nền kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập quốc dân, nâng cao nguồn thu cho ngân sách Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực lượng lớn các lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng chuyên gia tư vấn nước ngoài làm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế
Điều những nhà quản lý mong muốn từ các công ty kiểm toán là phải có chất lượng đồng đều Có những công ty kiểm toán ghi rất rõ ràng, nhưng có những ý kiến của công ty kiểm toán mà phải yêu cầu giải thích nhiều lần mới có thể hiểu được tại sao kiểm toán lại đưa ra ý kiến như thế trong BCTC Cơ quan quản lý muốn có những thông tin đầy đủ và sớm để có những quyết định nhanh, cảnh báo sớm để hạn chế ảnh hưởng đến nhà đầu tư, nhưng có những trường hợp giải thích của kiểm toán không rõ ràng, nên không thể đưa ra quyết định ngay đối với công ty niêm yết, nên ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư Do đó, mong muốn lớn nhất các công ty kiểm toán cần đưa ra ý kiến càng chi tiết càng rõ ràng càng tốt để bảo
Trang 12vệ nhà đầu tư cũng như đảm bảo trách nhiệm của một công ty kiểm toán (Bảo Châu
và Ngọc Linh, 2016)
Kiểm toán BCTC là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực, hợp lý của các thông tin trên BCTC Nhưng do sự đa dạng của các hoạt động tài chính và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong đơn vị được kiểm toán nên trong thực tế không thể kiểm toán được tất cả thông tin được phản ánh hoặc chưa được phản ánh trên các tài liệu kế toán Xuất phát từ nguyên nhân trên, dẫn tới tính tất yếu của phải lựa chọn nội dung kiểm toán để vừa đánh giá đúng bản chất của đối tượng kiểm toán vừa đáp ứng nhu cầu của người quan tâm với chi phí và thời gian cho phép Để giải quyết được vấn đề trên chỉ có thể lựa chọn những điều cốt yếu, cơ bản được coi
là trọng yếu, phản ánh bản chất của đối tượng kiểm toán
Nhìn nhận thực tế, ngành kiểm toán độc lập Việt Nam đang còn non trẻ so với thế giới, vì vậy chứa đựng nhiều rủi ro (Trần Khánh Lâm, 2011) Nhiều vụ việc gian lận dẫn đến sụp đổ của các công ty, chẳng hạn như trường hợp nổi tiếng của tập đoàn Enron Mỹ và kéo theo sự sụp đổ của một hãng kiểm toán lớn là Arthur Andersen là câu chuyện mà ngành kiểm toán không bao giờ quên được Bên cạnh
đó là các vụ việc khác với những cái tên nổi tiếng như WorldCom, HH Tyco, Vivendi… Tại Việt Nam cũng xảy ra hàng loạt các vụ trong đó có lỗi công ty kiểm toán, như vụ việc của Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông hay gần đây là Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành Từ các sai phạm này đã làm cho những năm đầu thế kỷ 21, nghề nghiệp kiểm toán toàn cầu đã hiệu đính lại chuẩn mực kiểm toán nhằm nâng cao và kiểm soát chất lượng trong ngành nghề kiểm toán Ở Việt Nam, năm 2014 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 157/2014 “Quy định về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán” nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán đã thể hiện được vấn đề chất lượng dịch vụ kiểm toán là thực sự rất quan trọng, được Nhà nước quan tâm và thực hiện thắt chặt trong giai đoạn hiện nay
Song song với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế là sự phức tạp ngày càng gia tăng của hệ thống kế toán và kiểm toán Chính điều này đã dẫn đến hệ quả
là trong mọi cuộc kiểm toán đều xuất hiện rủi ro Vậy vấn đề đặt ra ở đây là làm thế
Trang 13nào để KTV có thể vận dụng “tính trọng yếu” một cách hợp lý nhằm bao quát được mọi khía cạnh trọng yếu trong việc thực hiện quá trình kiểm toán BCTC Từ đó tăng khả năng giảm thiểu rủi ro trong việc thực hiện kiểm toán Nhìn chung, nội dung về tính trọng yếu đã được nhóm các công ty kiểm toán Big4 và một phần các công ty kiểm toán độc lập có quy mô lớn thực hiện bài bản do những công ty trên bên cạnh lịch sử hình thành đã lâu, đã xây dựng được một hệ thống kiểm toán chặt chẽ có khuôn khổ và nguồn nhân sự đầy đủ đáp ứng được yêu cầu vận hành của hệ thống Đối với các công ty kiểm toán độc lập có quy mô nhỏ và vừa thì việc vận dụng chưa thực sự hoàn chỉnh, do đó Hội Kiểm toán viên hành nghề đã xây dựng và ban hành chương trình kiểm toán mẫu để tạo sự thống nhất và tuân thủ đầy đủ chuẩn mực đối với các công ty Điều này có tác động đến quy trình thực hiện kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập có quy mô nhỏ và vừa hay không?
Xuất phát từ các lý do nêu trên, việc “Nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh” là một vấn đề cần thiết hiện nay, nhằm góp phần phát triển và hoàn thiện tốt hơn dịch vụ kiểm toán trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế quốc tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập quốc tế và có nhiều đổi mới theo từng ngày như hiện nay, đề tài của luận văn mang tính ứng dụng vào lĩnh vực
cụ thể đó là lĩnh vực kiểm toán, do đó luận văn đã đặt ra mục tiêu tổng quát là đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao khả năng vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh bằng cách kiểm tra sự khác biệt trong việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC giữa các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa với các công ty kiểm toán độc lập lớn, với các mục tiêu cụ thể sau:
- Một là, Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về trọng yếu trong kiểm toán
BCTC
- Hai là, Khảo sát và đánh giá thực trạng vận dụng đánh giá tính trọng yếu vào
quá trình kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập tại thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 14- Ba là, Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao khả năng vận dụng đánh giá
tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập quy
mô nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Xuất phát từ tính cấp thiết hiện nay và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, câu hỏi được đặt ra nhằm mục đích tìm được câu trả lời sau khi hoàn thành nghiên cứu này là:
Câu hỏi 1: “Những vấn đề lý luận cơ bản về trọng yếu được phát triển từ những vấn đề lý luận chung trong kiểm toán BCTC như thế nào?”
Câu hỏi 2: “Quy trình vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC được các công ty kiểm toán độc lập tại thành phố Hồ Chí Mình thực hiện như thế nào?”
Câu hỏi 3: “Biện pháp nào để hoàn thiện việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh?”
Từ câu hỏi nghiên cứu, tác giả sẽ cụ thể hóa và diễn giải chi tiết thành câu hỏi điều tra nhằm thu thập thông tin, dữ liệu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp nghiên cứu tổng quát là phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Cụ thể, nghiên cứu vận dụng các phương pháp kỹ thuật như phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, điều tra thống kê và thực hiện khảo sát, phân tích thực tiễn nhằm đưa ra các biện pháp nâng cao việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập quy mô nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
Dữ liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu qua phương pháp điều tra, thực hiện hoạt động khảo sát bằng bảng câu hỏi với đối tượng chính là các công ty kiểm toán độc
Trang 15lập tại thành phố Hồ Chí Minh, mỗi công ty tác giả tiến hành thu thập thông tin từ một nhân viên kiểm toán của công ty (thu được 48 câu trả lời cho bảng câu hỏi)
Đối với phương thức điều tra, tác giả thực hiện xây dựng bảng câu hỏi và gửi đến các cá nhân nhằm thu thập thông tin Nội dung của mỗi phiếu điều tra có các câu hỏi đóng và một vài câu hỏi mở, người được khảo sát thực hiện trả lời lựa chọn phương án phù hợp nhất với thực trạng công ty mà người được khảo sát đang công tác
Bên cạnh dữ liệu sơ cấp, tác giả cũng sử dụng các dữ liệu thứ cấp, bao gồm các báo cáo về hoạt động kiểm toán, các tài liệu kiểm toán, kết quả nghiên cứu và một số tài liệu có sẵn khác nhằm mục đích hệ thống hóa lý thuyết Mặt khác, tác giả cũng thực hiện nghiên cứu tình huống đối với các công ty kiểm toán độc lập được chọn đại diện cho từng nhóm quy mô công ty kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng thực tế và các thủ tục kiểm toán đã thực hiện
1.5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các công ty kiểm toán độc lập có quy mô nhỏ và vừa đang hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh Với khách thể nghiên cứu cụ thể là các nhân viên tham gia thực hiện dịch vụ kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập với cấp bậc từ trợ lý KTV đến giám đốc công ty Đề tài này không nghiên cứu các loại hình kiểm toán khác như kiểm toán nội bộ và kiểm toán Nhà nước
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn trong vấn đề tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC Nghiên cứu việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch, đánh giá các sai lệch khi thực hiện thử nghiệm cơ bản trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán và vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
Đề tài được nghiên cứu trình bày một cách tổng quát về sự vận dụng đánh giá tính trọng yếu vào kiểm toán BCTC của ngành kiểm toán độc lập Việt Nam trong thời điểm hiện tại, bên cạnh đó là đưa ra các biện pháp hoàn thiện việc vận dụng trọng yếu trong thời gian tới giúp cho các công ty kiểm toán có cơ sở và thông
Trang 16tin trong việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu cho riêng công ty mình sao cho phù hợp với sự phát triển của ngành kiểm toán trong bối cảnh nền kinh tế ngày một phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi sự phát triển tương đương đối với
bộ phận ngành kiểm toán
Trang 17Kết luận Chương 1
Nội dung chương trình bày một cách tổng quát sơ lược về đề tài nghiên cứu được tác giả thực hiện Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển nhanh chóng theo thời gian cùng với sự phát triển hòa nhập toàn cầu của các nước trên thế giới đã đặt ra nhiều thử thách song song với các yêu cầu đối với sự phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia Yêu cầu về thông tin minh bạch, đáng tin cậy nhằm tạo sự tin tưởng từ các đối tượng sử dụng thông tin là một trong những yêu cầu cấp thiết và quan trọng Trong đó, vai trò của nghề nghiệp kiểm toán đóng vị trí quan trọng Bên cạnh đó, áp lực về thời gian và chi phí cũng tạo một áp lực khác đối với nghề nghiệp kiểm toán Làm sao để cân bằng giữa chi phí và lợi ích? Từ câu hỏi trên dẫn đến khái niệm tính trọng yếu được vận dụng trong kiểm toán Khái niệm đã được hình thành từ rất lâu trong nghề nghiệp kiểm toán nhưng việc vận dụng khái niệm một cách đầy đủ và phù hợp thì chưa thực sự hoàn chỉnh, chỉ được vận dụng một cách rập khuôn Điều
đó dẫn đến yêu cầu nghiên cứu của đề tài với câu hỏi nghiên cứu được đặt ra đối với các đối tượng được xác định phạm vi
Trang 18CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU VÀ VẬN DỤNG ĐÁNH GIÁ
TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BCTC 2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Song song với sự thay đổi trong môi trường hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và sự phát triển của ngành nghề kiểm toán cũng như những yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng kiểm toán, các nghiên cứu về kiểm toán BCTC nói chung và tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC nói riêng ngày càng phong phú, điển hình gồm các nghiên cứu sau:
Nghiên cứu của Cushing (1989) về vai trò quan trọng của kiểm soát chất lượng đối với chất lượng kiểm toán, nghiên cứu cho rằng các sai lệch trọng yếu trên BCTC có thể dễ phát hiện hơn nếu công ty kiểm toán duy trì một hệ thống kiểm soát chất lượng tốt
Luận án tiến sĩ của Lau Tze Yiu, Peter tại đại học Hongkong (1997) về
“Phân tích tác động của rủi ro, trọng yếu và cấu trúc đối với việc lựa chọn bằng chứng kiểm toán” Nội dung nghiên cứu phân tích đầy đủ các vấn đề cơ bản về trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán cũng như mối quan hệ giữa hai nhân tố trên trong việc nâng cao chất lượng đối với bằng chứng kiểm toán
Có nhiều nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của nhân tố này đến chất lượng kiểm toán và hầu hết các tác giả đều nhắc đến việc tuân thủ các quy định trong ISQC 1 Một nghiên cứu của Ismail và Mohamed (2012) về việc nâng cao chất lượng kiểm soát các KTV trong các công ty kiểm toán Mục tiêu của bài viết nhằm
lý giải các cách thức mà các công ty kiểm toán ở Malaysia phát triển hệ thống kiểm soát trong quản lý nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng kiểm toán Nghiên cứu trên tập trung đặc biệt vào cách kiểm soát đội ngũ nhân lực KTV trong các công ty kiểm toán và tiến hành thực hiện các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc tại các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ và vừa tại Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các tiêu chuẩn thuộc ISQC 1 là khó đối với các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ và vừa do sự thiếu hụt nhân viên trong hệ thống kiểm soát chất lượng đòi hỏi
Trang 19cần có một chính sách phù hợp khác nhằm áp dụng việc kiểm soát chất lượng đối với các công ty kiểm toán nhỏ và vừa
Gần đây, nghiên cứu của Moeinnadin và cộng sự (2013) khẳng định nhân tố kiểm soát chất lượng của các công ty kiểm toán chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong các yếu tố thuộc về chủ thể kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán
Bên cạnh các nghiên cứu được thực hiện, còn phải kể đến hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA, IFAC…
2.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nhìn lại mục tiêu tổng thể của kiểm toán BCTC là KTV cần thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết để đảm bảo một cách hợp lý rằng không còn chứa đựng những sai sót trọng yếu do nhầm lẫn hoặc gian lận gây ra trên BCTC của đơn vị được kiểm toán Do đó, khái niệm trọng yếu đóng một vai trò đặc biệt quan trọng và KTV cần nắm vững thuật ngữ trọng yếu nhằm mục đích vận dụng một cách thích hợp vào trong quy trình kiểm toán BCTC, đem lại sự lành mạnh cho nền tài chính
và hệ thống thông tin kinh tế đáng tin cậy
Tuy nhiên, hiện tại cho thấy việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu vào trong quá trình thực hiện kiểm toán BCTC vẫn còn mang tính hình thức, chưa được áp dụng một cách phù hợp nhất vào từng hoàn cảnh, tình huống cụ thể Nguyên nhân của thực trạng trên đến từ việc bước đánh giá tính trọng yếu trong khâu lập kế hoạch cũng như thực hiện kiểm toán BCTC chưa được các doanh nghiệp kiểm toán quan tâm đúng mức Đây cũng là một vấn đề nhận được sự quan tâm của các học giả tại Việt Nam Để kể đến có một số công trình nghiên cứu sau:
Luận văn tiến sĩ trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tác giả Đoàn Thanh Nga (2011) với đề tài “Nghiên cứu đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam” Đề tài với nội dung nghiên cứu đi sâu vào lĩnh vực đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập, đặc biệt trong quan hệ với việc nâng cao chất lượng kiểm toán Đặc biệt, luận văn đã tiến hành xây dựng mô hình cụ thể hóa mối quan
hệ tương tác giữa các nhân tố có ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán cụ thể trong
Trang 20đó nhấn mạnh các nhân tố thuộc về kỹ thuật đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán Luận văn đã chỉ ra rằng việc đánh giá rủi ro kinh doanh là một nguồn dữ liệu đặc biệt quan trọng trong đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC Theo đó, sử dụng phương pháp tiếp cận đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán theo rủi ro kinh doanh sẽ hiệu quả hơn so với cách tiếp cận truyền thống là dựa trên các đánh giá và kết luận về các khoản mục cụ thể trên BCTC Đồng thời, luận văn đã chỉ ra được mối quan hệ giữa chất lượng đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán với một số nhân tố liên quan
Luận văn tiến sĩ kinh tế trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Trần Khánh Lâm (2011) với đề tài “Xây dựng cơ chế kiểm toán chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam” Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của của cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập của các quốc gia trên thế giới và thực trạng tại Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm xây dựng cơ chế và giải pháp hoàn thiện công tác trên Nghiên cứu vận dụng phương pháp kế thừa kinh nghiệm được tiến hành theo phương pháp tìm hiểu và hệ thống hóa thông tin tại các quốc gia nghiên cứu, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam Đồng thời nghiên cứu phân tích thực tiễn theo quan điểm lịch sử gắn với sự phát triển của việc kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán với những điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia trong từng thời kỳ Cuối cùng kết hợp với phương pháp phân tích định lượng như thống kê mô tả, so sánh nhằm đánh giá thực trạng
Luận văn tiến sĩ kinh tế của tác giả Phan Văn Dũng (2016), đề tài “Các nhân
tố tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam” Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp kết hợp, mở ra hướng nghiên cứu định lượng trong kiểm toán tại Việt Nam Kết quả của nghiên cứu khám phá ra các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam trong đó có nhân tố kiểm toán chất lượng từ bên trong gồm các yếu tố tính đầy
đủ, chặt chẽ của quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán, phân cấp kiểm soát trong hoạt động kiểm soát chất lượng, thang đo đánh giá chất lượng kiểm toán được xây
Trang 21dựng chặt chẽ, công tác kiểm soát chất lượng được thực hiện thường xuyên liên tục
và nhân tố kiểm soát chất lượng từ bên ngoài bao gồm các yếu tố tính pháp lý của việc kiểm soát chất lượng từ bên ngoài, quy trình - phương thức - trình độ tổ chức việc kiểm soát, tần suất kiểm soát chất lượng của các cơ quan chức năng, biện pháp
xử lý đối với sai phạm
Về cơ bản, xu hướng trong việc vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC trên thế giới và tại các công ty kiểm toán độc lập có quy mô lớn tại Việt Nam đều được tuân thủ theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán có nét tương đồng với các chuẩn mực kiểm toán quốc tế Cụ thể là phương pháp để áp dụng khái niệm trọng yếu trong kiểm toán BCTC được xem xét trong suốt ba giai đoạn: giai đoạn lập kế hoạch, giai đoạn thực hiện và giai đoạn hoàn thành
Mặc dù vậy, giai đoạn từ năm 2012 cho đến nay khi mà chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được ban hành mới, gia tăng thêm các quy định, hướng dẫn nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, đồng thời trong giai đoạn trên cũng có nhiều vụ việc không hay xảy ra ảnh hưởng đến hình ảnh của các công ty kiểm toán, thì trong giai đoạn trên chưa có đề tài nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Tổng quan về trọng yếu và vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC:
2.2.1 Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kế toán và kiểm toán
2.2.1.1 Trên Thế giới
Sự ra đời, phát triển thuật ngữ trọng yếu trong kiểm toán gắn liền với sự ra đời và phát triển của ngành nghề kiểm toán Do vậy có thể chia thành ba giai đoạn chính bao gồm giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và giai đoạn hiện đại (Từ Thái Sơn, 2007), cụ thể từng giai đoạn như sau:
- Giai đoạn hình thành
Kiểm toán ra đời vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại Ở thời kỳ đầu, kiểm toán chỉ mới ở mức độ
Trang 22sơ khai, biểu hiện là những người làm công tác kiểm toán đọc to những số liệu, tài liệu cho một bên độc lập nghe và sau đó chứng thực Cho đến khi có sự ra đời của thị trường chứng khoán và công ty cổ phần cũng như do sự mở rộng quy mô của các doanh nghiệp, dần dần đã diễn ra sự tách rời giữa quyền sở hữu của các cổ đông và chức năng điều hành của những Nhà quản lý Kiểm toán độc lập đã ra đời vào thế
kỷ 18 để đáp ứng cho nhu cầu này Trong giai đoạn này, khái niệm trọng yếu chưa được đề cập
Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, có sự chuyển dịch vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác về hợp nhất các công ty lớn ở Anh trong ngành khai thác mỏ, đường sắt, nhiên liệu, điện thoại…đã dẫn đến sự thay đổi quan điểm về mục đích, bản chất và nguồn vốn đầu tư vào các công ty Do vậy, trách nhiệm chính của kiểm toán không còn là phát hiện gian lận trên BCTC đã dần được thay thế bằng đảm bảo BCTC không còn sai lệch trọng yếu
Ở Hoa kỳ, sau khủng hoảng về tài chính vào những năm 1929, đến năm 1934
Ủy ban bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC) đã xây dựng và ban hành quy chế về KTV bên ngoài Đồng thời, trường đào tạo kế toán viên công chứng của Hoa Kỳ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán tài khoản của các công
ty Cũng trong giai đoạn này, các tổ chức kinh doanh, các doanh nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và phát triển chức năng kiểm tra một cách độc lập trong nội bộ với tên gọi kiểm toán nội bộ Từ các yêu cầu này, thuật ngữ trọng yếu đã xuất hiện
- Giai đoạn phát triển
Khái niệm trọng yếu đã được hình thành tại Hoa Kỳ trong suốt những năm của thế kỷ 20 và từ đó đã trở thành một bộ phận nền tảng của việc trình bày BCTC cũng như mục tiêu kiểm toán BCTC tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới
Trong giai đoạn này, các cuộc tranh luận về tính trọng yếu diễn ra Cụ thể, năm 1957, Hiệp hội kế toán Mỹ (AAA) đưa ra quan điểm về vấn đề trọng yếu như sau “khoản mục được xem xét là trọng yếu nếu có lý do tin rằng sự hiểu biết về khoản mục ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu từ được thông tin” Đến năm
1965, Học viện Canada (CI) cho là “sai lệch kế toán là trọng yếu nếu sự bóp mép có
Trang 23thể ảnh hưởng đến quyết định của người đọc BCTC” Năm 1968, Học viện Anh (EI) đưa ra “một vấn đề là trọng yếu nếu sự không trình bày, hoặc trình bày sai lệch hoặc sự bỏ sót các vấn đề này có thể bóp méo thông tin cho người đọc…”
Sự phát triển mạnh mẽ khái niệm tính trọng yếu trong kế toán của các quốc gia đã kéo theo sự phát triển tính trọng yếu trong kiểm toán Các chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ, Anh, Canada đều có chuẩn mực liên quan đến tính trọng yếu Vào tháng 10 năm 1987, Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) là Ủy ban thường trực của Liên đoàn kế toán quốc tế IFAC, cũng đã đưa ra nguyên tắc kiểm toán quốc
tế IAG số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán” Đến tháng 07 năm 1994 thì được sửa đổi và ban hành thành chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”
Trong giai đoạn này, tính trọng yếu không chỉ liên quan đến trách nhiệm của KTV khi thực hiện kiểm toán BCTC mà còn là một trong những thủ tục kiểm toán cần thiết khi thực hiện kiểm toán
- Giai đoạn hiện đại
Sau sự đổ vỡ một loạt các công ty hàng đầu trên thế giới diễn ra vào đầu năm
2000, trong đó có lỗi của công ty kiểm toán, dẫn đến việc hiệu đính lại chuẩn mực trọng yếu theo hướng là đưa ra nhiều hơn các hướng dẫn vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong các giai đoạn của quy trình kiểm toán
2.2.1.2 Tại Việt Nam
Hoạt động kiểm toán tại Việt Nam trước thập niên 90 của thế kỷ 20 chủ yếu
là do Nhà nước tiến hành thông qua công tác kiểm tra kế toán Đến cuối những năm
1980, khi mà Việt Nam từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường và có sự xuất hiện của những nhà đầu tư nước ngoài đã tạo nên nhu cầu cần có kiểm toán độc lập
để kiểm toán các BCTC (Tập thể tác giả khoa Kế toán- Kiểm toán trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, 2014)
Để phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới, vào đầu thập niên 1990, hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam được tái lập với sự ra đời của Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) vào tháng 05 năm 1991
Trang 24Việt Nam cũng đã từng bước thể chế hóa hoạt động kiểm toán Khởi đầu là vào tháng 01 năm 1994, Quy chế kiểm toán độc lập được Chính phủ ban hành theo Nghị định 07/CP ngày 19 tháng 01 năm 1994 và được hướng dẫn thực hiện bởi Thông tư 22/TC/CĐKT ngày 19 tháng 03 năm 1994 của Bộ Tài chính
Như một yêu cầu cấp thiết của sự phát triển ngành kiểm toán độc lập, đó là
sự ra đời của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tài chính, nâng cao chất lượng của kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập
Đến ngày 14 tháng 3 năm 2003, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC với nội dung ban hành 5 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trong
đó có chuẩn mực kiểm toán số 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán” với định nghĩa
về trọng yếu như sau:
“Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong BCTC
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng BCTC Mức trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính.”
2.2.2 Khái niệm tính trọng yếu trong kế toán và kiểm toán
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Trọng yếu là một tính từ để chỉ sự quan trọng
thiết yếu Một sự vật, hiện tượng hay một địa danh được đi kèm với trọng yếu đều mang ý nghĩa quan trọng Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, trọng yếu mang một ý nghĩa cụ thể riêng” (Nguyễn Phúc, 2002)
Trong lĩnh vực kế toán, theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn
mực chung” trình bày cụ thể “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể
Trang 25báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.”
Theo SFAC 2 - Khái niệm kế toán BCTC được ban hành bởi Ủy ban tiêu chuẩn kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB), trọng yếu được hiểu là độ lớn của thông tin bị bỏ sót hoặc sai phạm của thông tin kế toán dẫn đến khả năng việc phán xét dựa vào thông tin kế toán đó bị thay đổi hoặc bị ảnh hưởng bởi việc bỏ sót hoặc sai phạm đó (Đoạn 132)
Theo Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) xác định thông tin được coi là trọng yếu như sau: “Thông tin được coi là trọng yếu nếu việc bỏ sót thông tin hoặc sai phạm có thể ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô của chỉ tiêu hoặc sai sót được phán xét trong những điều kiện cụ thể Trọng yếu liên quan đến độ lớn hoặc bản chất của sai phạm (bao gồm cả việc bỏ sót thông tin tài chính) hoặc đơn lẻ hoặc tổng hợp lại với nhau) dẫn đến khả năng các quyết định kinh tế đưa ra bị ảnh hưởng”
Trong lĩnh vực kiểm toán, khái niệm trọng yếu thường xuyên được nhắc
đến, được định nghĩa trong rất nhiều các tài liệu về kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán BCTC
Theo chuẩn mực kiểm toán Quốc tế số 320 (ISA 320) về tính trọng yếu trong kiểm toán đã định nghĩa: “Thông tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin đó có thể ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mục hay sai sót được đánh giá theo bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó Vì thế tính trọng yếu là một ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản mà một thông tin hữu ích cần phải có”
Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 “Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán” có định nghĩa cụ thể như sau:
Trang 26“Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong BCTC Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC.” và;
“Mức trọng yếu: Là một mức giá trị do KTV xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính;”
Ngoài ra, theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 450 “Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán”, định nghĩa mức trọng yếu tổng thể của BCTC, mức trọng yếu thực hiện và bên cạnh đó yêu cầu KTV cũng cần xác định ngưỡng sai sót không đáng kể, cụ thể như sau:
“- Mức trọng yếu tổng thể của BCTC là mức giá trị mà KTV xác định ở cấp
độ toàn BCTC, có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC Mức trọng yếu này là cơ sở để KTV kết luận rằng BCTC có trình bày trung thực và hợp
lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Nó thường được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm dựa trên một số tiêu chí nhất định
- Mức trọng yếu thực hiện là một số tiền được xác định thấp hơn mức trọng yếu tổng thể BCTC, được sử dụng trong việc lập kế hoạch hay đánh giá kết quả kiểm toán trong các thử nghiệm cụ thể Việc xác lập mức trọng yếu thấp hơn này nhằm ngăn chặn những sai sót nhỏ khác khi tổng hợp lại có thể làm cho tổng thể bị sai sót trọng yếu
- Ngưỡng sai sót không đáng kể Đây không phải là mức trọng yếu nhưng việc xác định ngưỡng này giúp KTV loại bỏ những sai sót quá nhỏ mà ngay cả khi tổng hợp lại cũng không đủ gây ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.”
Giữa các mức trọng yếu bao gồm: mức trọng yếu tổng thể đối với BCTC, mức trọng yếu được thiết lập cho từng khoản mục, mức trọng yếu thực hiện trong quá trình kiểm toán và ngưỡng sai sót không đáng kể có mối quan hệ với nhau
Trang 27Khái niệm “trọng yếu” bao hàm hai mặt liên quan đến nhận thức đối tượng: định lượng (quy mô hay tầm cỡ) và định tính (tính hệ trọng) của sai phạm được đánh giá trong từng hoàn cảnh cụ thể (Đoàn Thanh Nga, 2011) Khi xem xét đối tượng hoặc một vấn đề cần quan tâm đến cả mặt định tính và định lượng của đối tượng hoặc vấn đề đó Từ đây cũng tạo ra cơ sở cho chúng ta phân biệt giữa tính trọng yếu và mức trọng yếu Thông thường tính trọng yếu được đề cập sẽ gắn liền với sai phạm Khi đánh giá tính trọng yếu của một sai phạm tức là đánh giá sai phạm đó có trọng yếu hay không Đánh giá tính trọng yếu đối với sai phạm của nội dung kiểm toán cũng được đánh giá trên hai mặt: định tính và định lượng Còn mức trọng yếu là một yếu tố định lượng, đó là một ngưỡng (sai lệch tối đa có thể chấp nhận được) mà nếu sai phạm vượt quá ngưỡng đó thì sẽ làm người đọc hiểu sai về tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, ảnh hưởng đến quyết định của người
sử dụng BCTC Mức trọng yếu được xác định bởi KTV và nó sẽ thay đổi tùy thuộc vào từng doanh nghiệp khách hàng cụ thể
Rõ ràng, khái niệm “trọng yếu” đã đặt ra yêu cầu xác định nội dung thực hiện kiểm toán trên nền tảng không bỏ sót các nghiệp vụ có quy mô lớn và có tính
hệ trọng tương ứng với hai mặt định tính và định lượng của trọng yếu
Trang 28Đối với bản chất, khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng của các nghiệp
vụ và khoản mục Thông thường, các khoản mục và nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận thì được coi là trọng yếu Bên cạnh đó, các sai sót hệ trọng cũng được xem là trọng yếu cho dù quy mô của sai sót là nhỏ
Xem xét tính trọng yếu về mặt bản chất của các sai phạm sẽ góp phần cung cấp thêm thông tin cho KTV có thể đánh giá các sự kiện một cách toàn diện hơn
2.3 Quy trình vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC:
2.3.1 Sự cần thiết vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC
Xuất phát từ sự giới hạn về thời gian cũng như chi phí trong việc thực hiện kiểm toán BCTC mà KTV không thể kiểm tra toàn bộ các chứng từ, nghiệp vụ và ngay cả trong quá trình thực hiện kiểm toán nếu KTV kiểm tra được toàn bộ các chứng từ và nghiệp vụ thì cũng không đảm bảo được khả năng phát hiện các sai phạm nếu như có sự cố tình che giấu của nhà quản lý
Do đó, vận dụng đánh giá tính trọng yếu có vai trò quan trọng đối với việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán với các mục đích cụ thể Mức trọng yếu càng thấp đồng nghĩa với yêu cầu sự chính xác của số liệu trên BCTC càng cao, khi đó bằng chứng cần thu thập càng nhiều và ngược lại
2.3.2 Quy trình vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC
Trọng yếu có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế chương trình kiểm toán cũng như việc thực hiện kiểm toán và đưa ra kết luận kiểm toán
Việc vận dụng khái niệm trọng yếu trong kiểm toán BCTC được quy định bởi chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 “Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán”, chuẩn mực hướng dẫn như sau: “KTV phải áp dụng khái niệm mức trọng yếu cả khi lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện cuộc kiểm toán, khi đánh giá ảnh hưởng của các sai sót đã phát hiện trong quá trình kiểm toán, kể cả ảnh hưởng của những sai sót chưa được điều chỉnh (nếu có) đối với BCTC và khi hình thành ý kiến kiểm toán”
Trang 29Như vậy, việc vận dụng khái niệm trọng yếu được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của một cuộc kiểm toán, quá trình này có thể khái quát như sau:
Bước 1: Thiết lập và phân bổ mức trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán
Bước 2: Thiết lập và phân bổ mức trọng yếu trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Ước tính tổng sai sót cho từng khoản mục và toàn bộ BCTC
Bước 3: So sánh sai số tổng hợp ước tính với mức trọng yếu được thiết lập trong
giai đoạn hoàn thành kiểm toán
2.3.2.1 Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán và đóng một vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, mức trọng yếu được thiết lập nhằm mục đích ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC Cũng từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các thử nghiệm kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 “Mức trọng yếu trong lập kế hoạch
và thực hiện kiểm toán” quy định cụ thể :
“Khi lập chiến lược kiểm toán tổng thể, KTV phải xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC Trong những trường hợp cụ thể của đơn vị được kiểm toán, nếu có một hoặc một số nhóm các giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh (nếu xét riêng lẻ) có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC nhưng có thể ảnh hưởng (nếu xét tổng thể) đến quyết định kinh tế của người
sử dụng BCTC, thì KTV phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh.”
Phương pháp xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC thường được
áp dụng như sau:
Mức trọng yếu = Tiêu chí (a) x Tỷ lệ % (b)
Trong đó:
Trang 30(a) Việc xác định tiêu chí được lựa chọn là điểm khởi đầu trong việc xác
định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC và có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau (VACPA, 2012):
Thứ nhất, các yếu tố của BCTC (ví dụ như tài sản, các khoản nợ, nguồn vốn,
doanh thu, chi phí)
Thứ hai, các khoản mục trên BCTC mà người sử dụng có xu hướng quan
tâm
Thứ ba, đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, đặc
điểm ngành nghề mà đơn vị đang hoạt động Chẳng hạn khi kiểm toán các đơn vị nhỏ hoặc các đơn vị trong lĩnh vực công sẽ có sự khác biệt khi lựa chọn tiêu chí nhằm đạt được sự phù hợp
Thứ tư, cơ cấu vốn chủ sở hữu của đơn vị được kiểm toán và cách thức đơn
vị huy động vốn
Thứ năm, khả năng thay đổi tương đối của tiêu chí đã được xác định Thông
thường KTV nên lựa chọn những tiêu chí mang tính tương đối ổn định qua các năm
Thông thường các tiêu chí phù hợp được lựa chọn có thể là: lợi nhuận trước thuế, tổng doanh thu, lợi nhuận gộp, tổng chi phí, tổng vốn chủ sở hữu, giá trị tài sản ròng Việc sử dụng tổng tài sản hoặc tổng doanh thu làm tiêu chí đế xác định mức trọng yếu có ưu điểm đó là những khoản mục này thường ít biến động qua các năm tài chính và cũng được xem là thông tin then chốt đối với người sử dụng BCTC
đó là khoản mục thu thập thuần hoặc bình quân thu nhập của một số năm gần nhất
Bên cạnh đó, có đặc điểm cần lưu ý khi xác định tiêu chí để xác định mức trọng yếu được chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 “Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán” quy định cụ thể như sau:
“Liên quan đến các tiêu chí đã được lựa chọn, các dữ liệu tài chính phù hợp thường bao gồm các số liệu về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của các kỳ trước, các số liệu về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính lũy kế đến kỳ này, và
kế hoạch hay dự đoán cho kỳ hiện tại, được điều chỉnh khi có biến động lớn theo từng trường hợp của đơn vị được kiểm toán (ví dụ, một giao dịch hợp nhất kinh
Trang 31doanh lớn) và những thay đổi liên quan trong ngành nghề hay môi trường kinh doanh mà đơn vị đang hoạt động.”
Ví dụ như lợi nhuận trước thuế của năm 2016 là 1.000 triệu đồng, trong đó bao gồm lãi từ thanh lý tài sản cố định là 300 triệu đồng, như vậy trong tình huống này cần loại bỏ phần lãi đến từ thanh lý tài sản trước khi sử dụng lợi nhuận trước thuế làm tiêu chí xác định mức trọng yếu
(b) Việc xác định tỷ lệ % cho tiêu chí được lựa chọn đòi hỏi KTV phải sử
dụng xét đoán chuyên môn Và mức tỷ lệ % này cao hay thấp sẽ có tác động đến khối lượng công việc kiểm toán sẽ được thực hiện, chi tiết hơn đó là số mẫu cần phải thực hiện kiểm tra Tỷ lệ % cũng được xác định tùy thuộc vào tiêu chí đã được lựa chọn
Hiện nay, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng như chuẩn mực kế toán quốc tế không đưa ra quy định cụ thể đối với tỷ lệ % này Tuy nhiên trên thế giới có nhiều nghiên cứu của các học giả và các hướng dẫn thực hiện kiểm toán của các hãng kiểm toán có liên quan đến việc xác định mức trọng yếu ban đầu
Đầu tiên là nghiên cứu được thực hiện bởi Woolsey vào năm 1954, nghiên cứu đưa ra ý kiến phần lớn các công ty kiểm toán sử dụng mức trọng yếu từ 5% đến 15% thu nhập trước thuế Nghiên cứu được thực hiện bằng cách gửi phiếu điều tra cho các KTV để xác định mức trọng yếu được các công ty kiểm toán áp dụng
Đến năm 1982, nghiên cứu của Holstrum và Messier kết luận rằng KTV thường coi các khoản mục có giá trị từ 5% đến 10% lợi nhuận sau thuế là trọng yếu
và lợi nhuận sau thuế là một nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức trọng yếu
Tiếp đến, vào năm 1985, Leslie thực hiện rà soát các nghiên cứu tại Mỹ và Canada kết hợp với thực hiện phỏng vấn các KTV và kế toán viên tại hai quốc gia trên Cuối cùng đưa ra phương pháp xác định mức trọng yếu ban đầu như sau: mức trọng yếu bằng 5% tổng lợi nhuận trước thuế; hoặc 0,5% tổng tài sản; hoặc 1% tổng vốn chủ sở hữu; hoặc 0,5% tổng doanh thu
Trang 32Cũng trong nghiên cứu của Leslie có phần nhấn mạnh trước đó Hiệp hội Kế toán viên công chứng Canada (CICA) đã có đưa ra phương pháp xác định mức trọng yếu ban đầu dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận gộp, được gọi là phương pháp chuỗi giá trị do mức trọng yếu ban đầu được xác định bằng cách dùng chỉ tiêu lợi nhuận gộp nhưng sẽ có khoảng giá trị để lựa chọn tỷ lệ % Chi tiết phương pháp như sau: (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Bảng xác định mức trọng yếu ban đầu theo chỉ tiêu lợi nhuận gộp
Từ 1.000.000 USD đến 100.000.000 USD Từ 0,5%-1% lợi nhuận gộp
Nguồn: Leslie, 1985
Cuối cùng, Leslie đề xuất phương pháp bình quân trong nghiên cứu vào năm
1985 Theo đó, mức trọng yếu ban đầu được xác định bằng cách lấy trung bình cộng của các mức trọng yếu ban đầu đã được tính theo cả năm phương pháp nêu trên
Bên cạnh đó, trong những năm 1980, hãng kiểm toán Peat Marwick International đã xây dựng công thức nhằm tính toán mức trọng yếu ban đầu dựa vào việc nghiên cứu thống kê từ các khách hành của hãng Theo đó, mức trọng yếu ban đầu được xác định như sau:
(∑
∑
)
Trong đó: M là mức trọng yếu ban đầu được xác định
là một hằng số dương, thông thường >1
là một hằng số và 0< <1 I=1,2,3,…,N là chỉ số của từng loại tài sản hoặc doanh thu Đến năm 1986, Warren và Elliott đã thực hiện nghiên cứu bằng cách khảo sát cách xác định mức trọng yếu ban đầu trong kiểm toán BCTC tại 60 hãng kiểm
Trang 33toán và xây dựng thêm phương pháp các định mức trọng yếu ban đầu, cụ thể phương pháp như sau :
Mức trọng yếu ban đầu = 0,038657 x (Doanh thu)0.86723 ; hoặc
Mức trọng yếu ban đầu = 0,146924 x (Lợi nhuận trước thuế)0,942554 ; hoặc Mức trọng yếu ban đầu = 0,271762 x (Lợi nhuận thuần)0,894640
Sau đó đến năm 1989, Pany và Wheeler đã thực hiện áp dụng các phương pháp xác định mức trọng yếu ban đầu được trình bày ở trên cho dữ liệu của 330 công ty tại Mỹ và chỉ ra rằng phương pháp trung bình cộng của Leslie cho kết quả ở mức không quá cao hoặc không quá thấp, mang tính ổn định nhất trong các phương pháp trên đối với việc xác định mức trọng yếu ban đầu trong kiểm toán BCTC
Các công ty kiểm toán thường dựa vào các phương pháp trên làm cơ sở cho việc hỗ trợ các KTV trong việc xác định mức trọng yếu ban đầu, từ đó xây dựng các hướng dẫn thực hiện việc xác định mức trọng yếu ban đầu, cụ thể là các chỉ tiêu làm
số gốc và tỷ lệ % Theo nghiên cứu của Julia Baldauf và cộng sự (2015) về sự ảnh hưởng của rủi ro kiểm toán và hướng dẫn tính trọng yếu đến giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC của KTV, đã tổng hợp các tỷ lệ % từ các nghiên cứu về tính trọng yếu đã được thực hiện trước đây thành một hướng dẫn định lượng như sau:
- 5% đến 10% lợi nhuận trước thuế ;
- 0,5% đến 1% tổng doanh thu ;
- 0,5% đến 1% lợi nhuận gộp ;
- 0,5% đến 1% giá trị tài sản thuần ;
- 2% đến 5% vốn chủ hữu
Tương tự xu hướng trên thế giới được nghiên cứu theo thời gian hình thành
và phát triển hơn 100 năm của ngành kiểm toán Tại Việt Nam, theo chương trình kiểm toán mẫu được ban hành bởi Hội KTV hành nghề Việt Nam, cụ thể là tài liệu A710 Xác định mức trọng yếu (kế hoạch - thực tế) có hướng dẫn nội dung về tỷ lệ
% khi xác định mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC như sau :
- 5%-10% Lợi nhuận trước thuế;
- 0,5%-3% Doanh thu thuần;
Trang 34- 0,5%-3% Tổng chi phí;
- 1%-5% Vốn chủ sở hữu;
- 1%-2% Tổng tài sản
KTV và công ty kiểm toán có thể lựa chọn tỷ lệ % sao cho phù hợp với thực
tế hoạt động kiểm toán của mình Tuy nhiên, dù áp dụng tỷ lệ % nào, mỗi công ty cần có chính sách xác định mức trọng yếu cụ thể để đảm bảo sự áp dụng nhất quán trong tất cả các cuộc kiểm toán
Sau khi đã thực hiện xác định mức trọng yếu cho tổng thể BCTC, KTV thực hiện phân bổ mức trọng yếu tổng thể BCTC cho từng khoản mục trên BCTC Đây
là bước cần thiết vì bằng chứng thường được thu thập theo từng khoản mục hơn là theo toàn bộ BCTC nói chung, do đó bước phân bổ này sẽ có tác động giúp xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp cần thu thập đối với từng khoản mục cụ thể với mục đích duy trì ở mức chi phí thấp nhất có thể nhưng vẫn đảm bảo tổng hợp các sai phạm vượt quá mức trọng yếu trên BCTC không bị bỏ sót
Mức trọng yếu được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch đem đến cho KTV các tác động sau:
Đầu tiên, giúp KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục đánh giá rủi ro Mức trọng yếu là một trong những cơ sở cho quá trình đánh giá rủi
ro bởi vì rủi ro kiểm toán xảy ra khi KTV đưa ra ý kiến kiểm toán rằng BCTC đã được trình bày trung thực và hợp lý trong khi đó bản chất BCTC vẫn còn chứa đựng các sai sót trọng yếu
Tiếp đó, nhận biết và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu Việc hiểu biết
và xác lập từ đầu mức trọng yếu sẽ giúp KTV dễ dàng nhận biết và đánh giá các rủi
ro có sai sót trọng yếu trong BCTC
Cuối cùng, xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo Trên cơ sở rủi ro được đánh giá, các thủ tục kiểm toán tiếp theo được thiết kế tham chiếu với mức trọng yếu thực hiện Và tùy theo mức trọng yếu được
Trang 35xác định mà KTV sẽ xác định nội dung cụ thể là thủ tục kiểm toán nào được áp dụng, lịch trình và phạm vi
2.3.2.2 Trong quá trình thực hiện kiểm toán
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC
có thể có sự thay đổi, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 “Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán” có quy định như sau:
“KTV phải sửa đổi mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC và mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu cho các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh trong trường hợp KTV có thêm thông tin trong quá trình kiểm toán mà
có thể dẫn đến việc thay đổi mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu so với mức xác định trước đó.”
Việc sửa đổi mức trọng yếu trong quá trình thực hiện kiểm toán sẽ ảnh hưởng đến các thủ tục kiểm toán được thực hiện Cụ thể có ba cách sửa đổi mức trọng yếu, đó là:
- Cập nhật lại giá trị của tiêu chí xác định mức trọng yếu: Xảy ra khi mà tiêu chí xác định mức trọng yếu thay đổi đáng kể so với mức dự kiến
- Sửa đổi tiêu chí xác định mức trọng yếu: Xảy ra khi mà đối tượng chính sử dụng BCTC có sự thay đổi về nhu cầu thông tin tài chính được cung cấp
- Sửa đổi tỷ lệ xác định mức trọng yếu: Xảy ra khi mà KTV có sự thay đổi mức độ rủi ro đánh giá so với ban đầu ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Đồng thời, trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV phát hiện ra các sai phạm và thực hiện ước tính tổng số các sai phạm này, được dùng để so sánh với sai phạm có thể bỏ qua KTV tiến hành thông báo với Nhà quản lý của doanh nghiệp khách hàng về các sai phạm được phát hiện và thực hiện điều chỉnh Đối với các sai phạm không được Nhà quản lý đồng ý điều chỉnh thì mức trọng yếu này nhằm mục đích giúp KTV đưa ra quyết định có chấp nhận thông tin trên khoản mục đó hay không hoặc phải tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán phù hợp
Từ ước tính tổng sai phạm trong từng khoản mục, KTV sẽ thực hiện tổng hợp và ước tính các sai phạm của toàn bộ BCTC Số liệu tổng hợp này sẽ được
Trang 36dùng so sánh với mức trọng yếu ban đầu hoặc mức trọng yếu đã được điều chỉnh trong quá trình thực hiện kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 450 “ Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán”, yêu cầu “KTV phải tổng hợp tất cả các sai sót đã được phát hiện trong quá trình kiểm toán, trừ những sai sót không đáng kể.”
Sau khi đã tiến hành tổng hợp các sai sót, KTV cần: “Nếu tổng hợp các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán gần đạt mức trọng yếu theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 thì có thể có rủi ro cao hơn mức độ chấp nhận được, là do ảnh hưởng của các sai sót không được phát hiện khi cộng gộp vào với các sai sót đã phát hiện và được tổng hợp trong quá trình kiểm toán có thể vượt mức trọng yếu Các sai sót không được phát hiện có thể tồn tại do rủi ro lấy mẫu và rủi ro ngoài lấy mẫu.”
Đặc biệt KTV cần thực hiện đánh giá ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh, theo chuẩn mực như sau “KTV phải xác định liệu các sai sót không được điều chỉnh có trọng yếu hay không khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại Để đạt được điều này, KTV phải xem xét:
- Thứ nhất, quy mô và bản chất của các sai sót trong mối quan hệ với từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh và mối quan hệ với tổng thể BCTC cũng như các tình huống cụ thể phát sinh sai sót’
- Thứ hai, ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh của kỳ trước đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh liên quan và đối với tổng thể BCTC.”
2.3.2.3 Khi hoàn thành kiểm toán
Căn cứ vào sai số tổng hợp của toàn bộ BCTC được so sánh với mức trọng yếu tổng thể BCTC hoặc mức trọng yếu được điều chỉnh trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV thực hiện đưa ra ý kiến kiểm toán đối với BCTC được kiểm toán Trong trường hợp nếu sai số tổng hợp ước tính cho toàn bộ BCTC nhỏ hơn mức trọng yếu ban đầu (hoặc mức trọng yếu đã được điều chỉnh) đối với tổng thể BCTC, thì KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về BCTC Với trường hợp ngược
Trang 37lại, KTV xem xét những khoản mục nào có ước tính sai phạm cao, nhằm tăng cường các thủ tục kiểm toán và mở rộng quy mô chọn mẫu nhằm tạo bằng chứng vững chắc để yêu cầu khách hàng điều chỉnh Nếu khách hàng không thực hiện điều chỉnh thì KTV sẽ đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
Nhưng thực chất, việc đưa ra ý kiến kiểm toán không hoàn toàn chỉ dựa vào việc so sánh giữa ước tính sai số tổng hợp toàn bộ BCTC với mức trọng yếu ban đầu (hoặc đã được điều chỉnh) đối với tổng thể BCTC mà còn là sự kết hợp với việc đánh giá các loại rủi ro trong kiểm toán BCTC
Tóm lại, KTV cần có sự hiểu biết đầy đủ về cách vận dụng đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC Quy trình đánh giá được thực hiện linh loạt ngay khi có các thông tin được thay đổi nhận từ khách hàng Việc đánh giá trọng yếu là một công việc đòi hỏi kinh nghiệm, trình độ và tính xét đoán chuyên môn cao của nghề nghiệp kiểm toán
2.3.3 Kiểm soát chất lượng vận dụng đánh giá tính trọng yếu
Trên cơ sở Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISQC 1, tại Việt Nam Bộ Tài chính cũng đã ban hành chuẩn mực kiểm toán để quy định về vấn đề này thông qua Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1 “Kiểm soát chất lượng doanh nghiệp thực hiện kiểm toán, soát xét BCTC, dịch vụ đảm bảo và các dịch vụ liên quan khác” Về cơ bản VSQC 1 có nội dung tương tự như ISQC 1 Theo đó, kiểm soát chất lượng kiểm toán BCTC nói chung và kiểm soát chất lượng vận dụng đánh giá tính trọng yếu nói riêng gồm các yếu tố: Trách nhiệm của Ban Giám đốc về chất lượng trong doanh nghiệp kiểm toán; chuẩn mực, các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan; việc chấp nhận và duy trì quan hệ khách hàng và các hợp đồng dịch vụ cụ thể; nguồn nhân lực thực hiện hợp đồng dịch vụ cũng như hoạt động giám sát đối với hoạt động kiểm toán BCTC
Do vậy, duy trì tốt kiểm soát chất lượng vận dụng đánh giá tính trọng yếu sẽ đảm bảo rằng KTV tuân thủ các quy định về pháp luật trong quá trình vận dụng đánh giá tính trọng yếu; kết luận phù hợp với mức trọng yếu được xác định Từ nguyên do đó đặt ra yêu cầu công ty kiểm toán cần thiết lập quy trình kiểm soát tốt
Trang 38cùng với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp để đảm bảo kiểm soát chất lượng kiểm toán thỏa mãn yêu cầu của chuẩn mực, chẳng hạn như: lực lượng nhân sự cần am hiểu quy định pháp luật kiểm toán, kế toán; quy trình vận dụng đánh giá tính trọng yếu Quy trình kiểm soát chất lượng vận dụng đánh giá tính trọng yếu cần được thực hiện từ bước đầu tiên cho đến bước cuối cùng của các giai đoạn kiểm toán nhằm đánh giá tính đúng đắn của công việc kiểm toán, kịp thời đưa ra những chấn chỉnh (nếu cần thiết) nhằm tăng cường chất lượng kiểm toán BCTC nói chung và chất lượng việc vận dụng đánh giá tính trọng yếu nói riêng
2.4 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa:
2.4.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam và trên thế giới:
Hiện nay, thị trường doanh nghiệp nhỏ và vừa có tầm quan trọng và quy mô đáng kể nhưng vẫn còn nhiều định nghĩa và cách phân loại khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân chia thành 3 loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Tiêu chí phân loại bao gồm số lượng nhân viên, tài sản và doanh thu hàng năm Bên cạnh đó còn có thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của World Bank
Quy mô vay trung bình
Siêu nhỏ <$10,000
gia tiên tiến)
Nguồn tổng hợp từ World Bank
Trang 39Bên cạnh đó, tại mỗi quốc gia trên thế giới do có đặc điểm nền kinh tế khác nhau nên theo từng giai đoạn phát triển thì định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng khác nhau Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số quốc gia trên thế giới chi tiết như sau (Bảng 2.3)
Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số quốc gia
Nguồn: IFC, 2009
Dựa vào các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của World Bank cũng như một số quốc gia trên thế giới, nhìn chung doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về mặt số lao động doanh thu hay vốn
Tại Việt Nam, theo Luật số 04/2017/QH14 về Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Quốc hội ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018, quy định cụ thể tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
“Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hoa Kỳ <500 (cho phần lớn hoạt động sản xuất và
khai thác)
<7 triệu USD (đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất, mức tối đa là 35,5 triệu đô la)
Mexico <500 trong hoạt động sản xuất
<50 trong hoạt động dịch vụ
Thái Lan <200 (ngành sử dụng nhiều lao động)
Trang 401 Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây:
a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;
b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng
2 Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.”
Trước đó, căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có hướng dẫn định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa chi tiết như sau:
“1.Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên
200 người đến
300 người