- Việc hình thành các tập đoàn TC-NH theo chính quy luật của thị trường, đó là sự kết hợp tổng thể các phương thức phát triển, có thể là con đường nội sinh của chính công ty mẹ trên cơ s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
………
NGUYỄN THỊ HUẾ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2015 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
………
TP Hồ Chí Minh - Năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3-i-
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là do bản thân tự nghiên cứu và thực hiện theo sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn Các kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 09 năm 2011
Người Cam Đoan
Nguyễn Thị Huế
Trang 4-ii-
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vii
Danh mục các hình vẽ ix
Danh mục các bảng x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: Tổng quan về tập đoàn Tài chính – ngân hàng 5
1.1 Tập đoàn tài chính – ngân hàng 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm 6
1.1.2.1 Cấu trúc tổ chức phức tạp 6
1.1.2.2 Quy mô lớn 6
1.1.2.3 Dịch vụ tài chính đa dạng 9
1.1.3 Cơ cấu tổ chức 10
1.2 Mô hình cơ bản của tập đoàn tài chính – ngân hàng 10
1.2.1 Theo mức độ chuyên môn hoá 10
1.2.2 Theo tính chất và phạm vi hoạt động 11
1.2.3 Mô hình cấu trúc của tổ chức tập đoàn tài chính – ngân hàng 11
1.3 Phương thức hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng 15
1.3.1 Sáp nhập tổ chức tín dụng 15
1.3.1.1 Khái niệm 15
1.3.1.2 Các hình thức sáp nhập 15
1.3.2 Hợp nhất tổ chức tín dụng 15
1.3.1.1 Khái niệm 15
1.3.1.2 Các hình thức hợp nhất 15
1.3.3 Mua lại tổ chức tín dụng 15
Trang 5-iii-
1.3.1.1 Khái niệm 15
1.3.1.2 Các hình thức mua lại 16
1.4 Sự cần thiết hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng 19
1.4.1 Sức ép hội nhập, cạnh tranh 19
1.4.2 Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế 20
1.4.3 Phát triển chiến lược, quảng bá thương hiệu 21
1.4.4 Số lượng ngân hàng tại Việt Nam nhiều nhưng quy mô nhỏ 21
1.5 Điều kiện hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng 22
1.5.1 Điều kiện khách quan 22
1.5.1.1 Nền tảng pháp lý 22
1.5.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23
1.5.2 Điều kiện chủ quan 23
1.6 Một số tập đoàn tài chính – ngân hàng trên thế giới 24
1.6.1 Tập đoàn tài chính – ngân hàng Citigroup 24
1.6.2 Tập đoàn Oversea Chinese Banking Corporation (OCBC) 25
1.6.3 Tập đoàn Ngân hàng Trung Quốc (Hồng Kông)-BOCHK 25
1.6.4 Những qui định có tính thông lệ chung về Tập đoàn tài chính – ngân hàng một số nước 26
1.6.5 Bài học kinh nghiệm đối với ngân hàng thương mại Việt Nam 29
Kết luận Chương I 30
CHƯƠNG II: Thực trạng và kết quả hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt Nam giai đoạn 2008 - 2010 31
2.1 Mô hình hoạt động và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công thương Việt Nam 31 2.1.1 Mô hình hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt Nam 31
2.1.1.1 Ngân hàng Công thương Việt Nam hoạt động theo mô hình đa năng 31 2.1.1.2 Nhận xét về mô hình hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt Nam 36
2.1.2 Cấu trúc vốn của Ngân hàng Công thương Công thương Việt Nam 36
2.1.2.1 Cấu trúc vốn của ngân hàng Công thương Việt Nam 36
Trang 6-iv-
2.1.2.2 Nhận xét chung về cấu trúc vốn của Ngân hàng Công thương Việt
Nam 39
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công thương Việt Nam 41
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công thương Việt Nam 41
2.1.3.2 Cơ cấu bộ máy quản lý của Ngân hàng Công thương Việt Nam 42
2.1.4 Nguồn nhân lực của Ngân hàng Công thương Việt Nam 44
2.2 Kết quả hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt Nam 46
2.2.1 Ngành nghề, phạm vi kinh doanh và hoạt động 46
2.2.1.1 Huy động vốn 46
2.2.1.2 Hoạt động tín dụng 46
2.2.1.3 Hoạt động đầu tư 46
2.2.1.4 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 46
2.2.1.5 Các hoạt động khác 46
2.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Việt Nam giai đoạn năm 2008 – 2010 47
2.2.2.1 Huy động vốn 47
2.2.2.2 Hoạt động tín dụng 51
2.2.2.3 Các hoạt động khác 54
2.2.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Việt Nam năm 2010 57
2.2.3 Kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng Công thương Việt Nam từ nay đến 2015 60
Kết luận chương II 66
CHƯƠNG III: Giải pháp phát triển Ngân hàng Công thương Việt Nam thành tập đoàn Tài chính – ngân hàng từ nay đến 2015 67
3.1 Chiến lược phát triển của Ngân hàng Công thương Việt Nam từ nay đến năm 2015 67
3.1.1 Mục tiêu chiến lược tổng thể 67
3.1.2 Mục tiêu chiến lược cụ thể 67
Trang 7-v-
3.1.2.1 Chiến lược tăng cường năng lực tài chính, phát triển mạng lưới, đa
dạng hóa sản phẩm dịch vụ và nâng cao hiệu quả kinh doanh 67
3.1.2.2 Chiến lược về chuẩn hóa mô hình tổ chức, quản trị điều hành và minh bạch hóa tài chính 68
3.1.2.3 Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 68
3.1.2.4 Chiến lược về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin 68 3.2 Thuận lợi và khó khăn của Ngân hàng Công thương Việt Nam trong giai đoạn mới 69
3.2.1 Thuận lợi 69
3.2.1.1 Tiềm năng phát triển của ngành tài chính - ngân hàng 69
3.2.1.2 Ngân hàng Công thương Việt Nam là thương hiệu lớn 69
3.2.1.3 Mạng lưới hoạt động phủ khắp các tỉnh thành trong cả nước 70
3.2.1.4 Hệ thống công nghệ thông tin ngân hàng hiện đại 71
3.2.2 Nhân tố khó khăn 71
3.2.2.1 Diễn biến bất lợi của nền kinh tế Việt Nam và thế giới 71
3.2.2.2 Khó khăn do áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt 72
3.2.2.3 Khó khăn do sự chuyển dịch nguồn lao động 73
3.2.2.4 Hạn chế về công nghệ thông tin 73
3.2.2.5 Các hạn chế khác 74
3.3 Mô hình và giải pháp phát triển Ngân hàng Công thương Việt Nam thành tập đoàn Tài chính - ngân hàng 74
3.3.1 Mô hình tập đoàn Tài chính – Ngân hàng Công thương Việt Nam 74
3.3.2 Giải pháp phát triển Ngân hàng Công thương Việt Nam thành tập đoàn Tài chính – Ngân hàng từ nay đến năm 2015 78
3.3.2.1 Tái cơ cấu mô hình tổ chức và hoạt động 78
3.3.2.2 Nâng cao năng lực tài chính 79
3.3.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng 80
3.3.2.4 Mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động trong nước và quốc tế 81
3.3.2.5 Hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng 82
Trang 8-vi-
3.3.2.6 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 82
3.3.2.7 Tìm kiếm, lựa chọn ngân hàng mục tiêu cho chính sách liên kết hợp tác, sáp nhập và mua lại ngân hàng 83
3.3.3 Lộ trình bước đi để thực hiện các giải pháp xây dựng NHCTVN thành tập đoàn TC – NH 86
Kết luận Chương III 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9-vii-
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung đầy đủ
Đại hội đồng cổ đông
Earning Per Share – Thu nhập trên mỗi cổ phiếu Đầu tư trực tiếp nước ngoài
NHNN
Merge & Acquisition-Sáp nhập và mua lại Ngân hàng Nhà nước
Trang 10-viii-
chính Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 11-ix-
Bảng 1.1: Quy mô của một số ngân hàng lớn trên thế giới
Bảng 1.2: Quy mô tập đoàn tài chính trong 100 tập đoàn kinh tế lớn nhất thế giới
Theo giá trị tài sản (năm 2010)
Bảng 1.3: Tổng tài sản của top 10 tập đoàn tài chính – ngân hàng lớn nhất thế giới đến
năm 2010
Bảng 1.4: Tóm tắt mô hình cấu trúc của tập đoàn tài chính – ngân hàng
Bảng 2.1: Tóm tắt 06 công ty con của Ngân hàng Công thương Việt Nam
Bảng 2.2: Cơ cấu Vốn Điều lệ của Ngân hàng Công thương Việt Nam sao đợt IPO
Bảng 2.3: Phân loại lao động tại thời điểm 31/12/2010
Bảng 2.4: Cơ cấu huy động vốn của NHCTVN giai đoạn 2008 – 2010
Bảng 2.5: Cơ cấu tiền gửi của khách hàng giai đoạn 2008 – 2010
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động kinh doanh của NHCTVN
thời điểm 31/12/2010 và 30/06/2011
Bảng 3.1: Một số hệ số tài chính dự kiến giai đoạn 2012 – 2015
Trang 12-x-
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức NHCTVN cấp chi nhánh (Mô hình 1)
Hình 2.3: Cơ cấu tổ chức NHCTVN cấp chi nhánh (Mo hình 2)
Hình 3.1: Mô hình tập đoàn Tài chính – Ngân hàng Công thương Việt Nam
Đồ thị 2.1: Cơ cấu Vốn Điều lệ NHCTVN thời điểm 31/12/2010
Đồ thị 2.2: Phân tích hoạt động huy động vốn của NHCTVN thời kỳ 2008 - 2010
Đồ thị 2.3: Cơ cấu tiền gửi năm 2010 và giai đoạn 2008-2010
Đồ thị 2.4: Tốc độ tăng trưởng tài sản và dư nợ cho vay
Đồ thị 2.5: Thu nhập từ lãi cho vay khách hàng
Đồ thị 2.6: Hệ số an toàn vốn năm 2008 - 2010
Đồ thị 2.7: Quỹ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng
Đồ thị 2.8: Vốn Điều lệ và Lợi nhuận sau thuế dự kiến của NHCTVN
Trang 13- Việc hình thành các tập đoàn TC-NH theo chính quy luật của thị trường, đó là
sự kết hợp tổng thể các phương thức phát triển, có thể là con đường nội sinh của chính công ty mẹ trên cơ sở thành lập, góp vốn thành lập hàng loạt các công ty trực thuộc ở trong và ngoài nước và con đường ngoại sinh thông qua việc mua lại, sáp nhập, hợp nhất các công ty trong lĩnh vực tài chính ngân hàng để mở rộng phạm vi, thâu tóm thị trường
- Việc hình thành mô hình tập đoàn TC-NH ở Việt Nam là một xu thế tất yếu xuất phát từ nhu cầu phát triển nội tại của mỗi ngân hàng, mỗi định chế tài chính
Do đó, cũng như sự trưởng thành của một đứa trẻ, mỗi giai đoạn lớn lên sẽ cần phải
có “chiếc áo” đủ rộng, đáp ứng và thích nghi
- Tuy nhiên, so với các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ngoài, hệ thống NHTM Việt Nam còn yếu kém về nhiều mặt như nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, công nghệ, kỹ thuật, chất lượng và loại hình dịch vụ, cũng như khả năng chống đỡ rủi ro Điều này đòi hỏi mỗi NHTM phải có định hướng và giải pháp thích hợp để phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, làm chủ được thị trường tài chính trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài Trong đó, việc hình thành những ngân hàng lớn, hoạt động đa năng, có khả năng thích ứng trước những thay
Trang 14-Trang 2-
đổi nhanh chóng trong thế giới hiện đại đã và đang trở thành một nhu cầu bức xúc
và một xu thế tất yếu Trở thành tập đoàn TC-NH là một xu hướng hấp dẫn, tuy nhiên không phải bất cứ ngân hàng nào cũng dễ dàng đạt được nó Bên cạnh tiềm lực tài chính khổng lồ, các ngân hàng cũng phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về tổ chức, cơ cấu hoạt động, nhân sự … theo tiêu chuẩn quốc tế
- Trước những diễn biến phức tạp khó lường của nền kinh tế trong nước và quốc
tế, thời gian qua, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (NHCTVN - Vietinbank) luôn tích cực phát huy vai trò NHTM hàng đầu qua việc thực thi gương mẫu các giải pháp chính sách tiền tệ quốc gia, góp phần đạt mục tiêu điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nhưng vẫn bảo đảm những mục tiêu, nhiệm vụ lớn đề ra, trong đó, lớn nhất là việc chuyển đổi mô hình hoạt động và chính thức niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HoSE)…
- Đến nay, VietinBank là ngân hàng duy nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thành lập Trường Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực của riêng mình Với việc đưa Trung tâm xử lý tài trợ thương mại tập trung theo chuẩn mực quốc tế, Trung tâm thông tin dự phòng vào hoạt động và khởi động giai đoạn hai Dự án hiện đại hóa ngân hàng, VietinBank đã và sẽ tiếp tục khẳng định vị thế của một trong những NHTM hàng đầu Việt Nam có vai trò chủ lực, chủ đạo trên thị trường tài chính tiền tệ nước nhà
- Là một người đang công tác trong NHCTVN Chi Nhánh tỉnh Bình Phước, với mong muốn NHCTVN ngày càng phát triển, vững bước trên con đường hội nhập
và lớn mạnh thành một tập đoàn TC-NH đa năng tầm cỡ quốc tế hòa mình vào dòng chảy của thế giới, tôi mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện luận văn với đề tài:
“ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM THÀNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TỪ NAY ĐẾN NĂM 2015”
Trang 15-Trang 3-
2 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu tổng quan những lý luận cơ bản về tập đoàn TC-NH và tham khảo kinh nghiệm một số mô hình tập đoàn TC-NH trên thế giới
Phân tích thực trạng, đánh giá những thuận lợi và khó khăn của NHCTVN trở thành tập đoàn TC-NH và đưa ra các giải pháp góp phần hình thành tập đoàn tài chính - NHCTVN giai đoạn từ nay đến 2015 Các giải pháp đề xuất được cân nhắc
và trình bày mang tính định hướng ở tầm quản lý vĩ mô và vi mô
3 PH ƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong đề tài bao gồm phương pháp hệ
thống so sánh, phân tích, khái quát cụ thể, thu thập và xử lý số liệu từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của NHCTVN và những kinh nghiệm của một
số tập đoàn TC-NH trên thế giới từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp vận dụng vào tình hình thực tế của NHCTVN
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn dựa trên thực trạng tình hình hoạt động của NHCTVN, từ đó đi sâu vào phân tích những thuận lợi và khó khăn và đưa ra các giải pháp để NHCTVN hình dung được hướng phát triển thành một tập đoàn TC-NH trong giai đoạn từ nay đến 2015
6 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN
Việc đưa ra những giải pháp chỉ dựa trên cơ sở lý luận và những kinh nghiệm đúc kết từ các nước Vì vậy, những định hướng, giải pháp còn mang tính chủ quan, đồng thời với thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn hẹp, luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp qúy báu của qúy Thầy Cô để học viên điều chỉnh, hoàn thiện luận văn và mở rộng
kiến thức của mình trong công tác nghiên cứu sau này
Trang 16-Trang 4-
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : Tổng quan về tập đoàn tài chính – ngân hàng
CHƯƠNG II : Thực trạng và kết quả hoạt động của NHCTVN
giai đoạn 2008-2010
CHƯƠNG III : Giải pháp phát triển NHCTVN thành tập đoàn
tài chính – ngân hàng từ nay đến năm 2015
PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 17- Căn cứ vào nguyên tắc hoạt động: Tập đoàn TC-NH là một tổ chức gồm hai hay nhiều định chế tài chính được liên kết lại với nhau, được xem là một tổ chức đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Phải là một tổ chức bao gồm ba mảng hoạt động tài chính quan trọng đó là ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm
+ Phải là một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chính là hoạt động tài chính
Từ đó có thể hiểu tập đoàn TC-NH là một tổ chức mà ở đó hoạt động ngân hàng
là lĩnh vực kinh doanh chủ yếu
- Căn cứ vào nghiệp vụ: Tập đoàn TC-NH là một tập đoàn kinh doanh đa năng nhiều dịch vụ tài chính khác nhau Các dịch vụ tài chính đó được tổ chức thành nhóm do các công ty kinh doanh chuyên nghiệp một hay một số loại dịch vụ tài chính nhất định Các nhóm dịch vụ tài chính do các công ty trực thuộc kinh doanh
có quan hệ mật thiết với nhau, nhằm phân tán rủi ro, tăng quy mô lợi nhuận, đáp ứng trọn gói, đầy đủ các dịch vụ tài chính cho một khách hàng
Như vậy, tập đoàn TC-NH là một thực thể kinh tế gồm một số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực TC-NH và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động TC-NH; mỗi thành viên tập đoàn là những pháp nhân độc lập, trong đó có
một doanh nghiệp làm nòng cốt Giữa các doanh nghiệp đó có mối liên kết nhất định để cùng nhau thực hiện một liên kết kinh tế có quy mô lớn nhằm đạt được
hiệu quả hoạt động tối đa
Tập đoàn TC-NH, về mặt pháp lý, là một liên hợp pháp nhân; Tổ chức tập đoàn
Trang 18-Trang 6-
gồm nhiều tầng lớp, với nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi Điều này có nghĩa
là không cưỡng ép và không thể cứ “gom” các doanh nghiệp lại là có thể thành lập
tập đoàn kinh tế Các thành viên trong tập đoàn TC-NH phải tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, cạnh tranh lành mạnh, cùng nhau chia sẻ nguồn lực nhằm giảm các chi phí trong hoạt động, tăng cường sức mạnh và tận dụng tổng lực của tập đoàn để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong lĩnh vực hoạt động tài chính-tiền tệ đầy
bất trắc
Mục tiêu của việc hình thành tập đoàn TC-NH là mở rộng quy mô hoạt động
và đổi mới công nghệ, giảm chi phí để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó đem
lại lợi nhuận tối đa cho tập đoàn
1.1.2.1 Cấu trúc tổ chức phức tạp
Tập đoàn kinh tế nói chung và tập đoàn TC-NH nói riêng có cơ cấu tổ chức rất
đa dạng, bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều mô hình khác nhau Theo Bank of Japan (2010), tập đoàn TC-NH có thể được tổ chức theo 3 mô hình:
- Mô hình ngân hàng đa năng (universal banking)
- Mô hình công ty mẹ - con (parent - subsidiary relationship)
- Mô hình công ty sở hữu tài chính (financial holding company)
1.1.2.2 Quy mô lớn
Các tập đoàn TC-NH có quy mô rất lớn về vốn, tổng tài sản và mạng lưới hoạt động cả trong nước và nhiều quốc gia trên thế giới Với quy mô vốn lớn và tài sản khổng lồ, các tập đoàn tài chính luôn khẳng định được uy tín và vị thế của mình trên thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của tập đoàn trước các đối thủ cạnh tranh Trong một tập đoàn TC-NH, quy mô vốn chủ sở hữu và tiềm lực tài chính đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho tập đoàn phát triển lâu dài Nguồn vốn của công ty mẹ phải đủ mạnh để:
- Thứ nhất, cung cấp và phân bổ vốn cho các công ty con trong tập đoàn
- Thứ hai, đủ khả năng đầu tư cho các chương trình và dự án phát triển sản phẩm mới, tăng cường trang thiết bị và công nghệ hiện đại
Trang 19-Trang 7-
- Thứ ba, cho phép mở rộng trụ sở, chi nhánh và văn phòng nhằm bắt kịp sự phát triển của thị trường, mở rộng địa bàn phục vụ đa dạng các đối tượng khách hàng Quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của tập đoàn TC-NH không ngừng tăng mạnh, đạt được những con số khổng lồ và chiếm tỷ lệ đáng kể trong GDP
Bảng 1.1 : Quy mô của một số ngân hàng lớn trên thế giới
Đơn vị: triệu USD
Tập đoàn hạng Xếp Tổng tài sản CSH Vốn CAR (%) Tên nước GDP
Tổng TS/GD
P Citigroup 1 2,374,562 119,064 11,85 Mỹ 17,333,587 14 % HSBC Holdings 3 2,042,845 107,614 12,00 Anh 2,483,899 82 % MTFG 7 1,568,456 63,891 11,76 Nhật 6,365,965 25 % Bank of China 11 825,555 55,762 11,04 TQ 2,638,926 31 % Kookmin Bank 76 282,523 12,528 11,01 HQ 1,087,478 26 % DBS 83 171,922 11,531 15,80 Singapore 167,989 102 % Maybank 161 74,478 5,122 15,10 Malaixia 188,440 40 % Bangkok Bank 196 57,646 3,936 13,50 Thái Lan 261,586 22 % Bank of the
Philipine Islands 396 13,384 1,560 8,50 Philipin 155,086 8,6%
(Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê, website của các
ngân hàng, WB và ADB, số liệu năm 2010)
Bảng 1.2 : Quy mô tập đoàn tài chính trong 100 tập đoàn kinh tế lớn nhất thế
giới theo giá trị tài sản (năm 2010)
lượng Tỷ lệ Giá trị tài sản Tỷ lệ lượng Số Tỷ lệ về sl Giá trị tài sản Tỷ lệ
Tập đoàn
tài chính 84 88% 93,473.9 94,7% 21 21% 48,607.5
49,3
% Tập đoàn
Trang 20-Trang 8-
Trong 100 tập đoàn kinh tế lớn nhất thế giới về tổng tài sản năm 2010, đã có đến
84 tập đoàn tài chính, chiếm gần 95% tổng tài sản của cả 100 tập đoàn Hơn nữa, trong số 100 tập đoàn này, có 21 tập đoàn có giá trị tài sản lên tới hơn 1000 tỷ USD, điều đặc biệt là tất cả 21 tập đoàn này đều thuộc khu vực tài chính và có tổng giá trị tài sản chiếm gần 50% giá trị tài sản của 100 tập đoàn lớn nhất Điều đó đã cho thấy
sự lớn mạnh chưa từng thấy của lĩnh vực TC-NH trong nền kinh tế toàn cầu
Bảng 1.3: Tổng tài sản của Top 10 tập đoàn TC-NH lớn nhất thế giới đến năm 2010
Đơn vị: tỷ USD
Hạng Tên tập đoàn Giá trị tài sản Tên tập đoàn trị tài Giá
sản Tên tập đoàn Giá trị tài sản
123
Trang 21-Trang 9-
1.1.2.3 Dịch vụ tài chính đa dạng
Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng cốt lõi, tập đoàn TC-NH còn cung cấp một danh sách rất rộng các dịch vụ tài chính khác như: chứng khoán, quản lý tài sản, tài trợ tài chính tiêu dùng, bảo hiểm,… Các dịch vụ tài chính phi ngân hàng này do các công
ty con của tập đoàn cung cấp, có liên quan chặt chẽ tới hoạt động ngân hàng và mang lại lợi ích chung cho tập đoàn như: tăng chất lượng và hạ giá thành dịch vụ Hơn thế nữa, các hoạt động và dịch vụ tài chính đang chuyển từ phương thức truyền thống là tập trung vào sản phẩm (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán) sang phương thức tập trung vào khách hàng, “không phải cung cấp cái mình có mà cung cấp cái khách hàng cần” Với phương thức này, sản phẩm của tập đoàn tài chính được phân chia theo đối tượng khách hàng: cá nhân và doanh nghiệp nhỏ (bán lẻ), các công ty lớn (bán buôn) và cá nhân giàu có Khách hàng có nhu cầu ngày càng tăng, đặc biệt là xu hướng về những dịch vụ tài chính trọn gói
Trong các đối tượng khách hàng trên, tập trung vào phục vụ khối khách hàng cá nhân đang là xu hướng kinh doanh mới của các tập đoàn TC-NH Một trong những nguyên nhân chính là do sự tiến bộ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, giúp ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ hàm lượng công nghệ cao đáp ứng nhu cầu đòi hỏi
về tính tiện dụng và tiết kiệm cho khách hàng cá nhân: như dịch vụ ngân hàng trực tuyến (online banking), ngân hàng qua điện thoại (phone banking),…
Ngoài ra, sự lớn mạnh không ngừng của thị trường vốn đã tạo ra sự dịch chuyển các khách hàng doanh nghiệp lớn sang thị trường chứng khoán, đó là mảnh đất màu
mỡ cho các công ty chứng khoán - công ty con của tập đoàn khai thác, trong việc cung ứng các dịch vụ liên quan tới chứng khoán như môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành,…
Dịch vụ tài chính đa dạng không chỉ xuất phát từ nhu cầu ngày càng cao của mạng lưới khách hàng rộng lớn, mà còn từ nhu cầu của chính ngân hàng về mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và phân tán rủi ro về dòng tiền và nguồn thu nhập Khi ngân hàng thực hiện việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sang các lĩnh vực hoạt động tài chính khác, tạo ra tính đa dạng hoá sản phẩm Theo đó, tập
Trang 22-Trang 10-
đoàn có dòng tiền mới khác dòng tiền hiện tại Dòng tiền và nguồn thu nhập được
đa dạng hoá giúp tăng tính ổn định và có khả năng chống lại những biến động lớn trong môi trường cạnh tranh gay gắt
Cơ cấu tổ chức của tập đoàn TC-NH sẽ bao gồm: Công ty mẹ đóng vai trò hạt nhân và các công ty con Công ty mẹ có thực lực kinh tế mạnh, khống chế và điều chỉnh vốn, tài sản, cơ cấu tổ chức, quản lý, nhân sự… ở công ty con Mỗi công ty con được phép thành lập công ty khác hoặc tham gia góp vốn, tài sản
của mình vào công ty mới sau khi được phép của công ty mẹ Nguyên tắc cơ bản
mỗi thành viên tập đoàn vẫn là những pháp nhân độc lập với mục đích tạo ra lợi nhuận, mối quan hệ lẫn nhau mang nặng nội dung là quan hệ tài chính
1.2 Mô hình cơ bản của tập đoàn TC-NH
Các tập đoàn TC-NH trên thế giới được phân thành 2 nhóm chính: Nhóm tập đoàn chuyên ngành hẹp và nhóm tập đoàn đa ngành, kinh doanh tổng hợp Các tập đoàn TC-NH chuyên ngành hẹp có mức độ chuyên môn hóa sâu, gồm các công
ty con hoạt động trong cùng lĩnh vực dịch vụ tài chính và liên kết chặt chẽ với nhau nhằm khai thác thế mạnh trong kinh doanh dịch vụ TC-NH
Đặc điểm của tập đoàn TC-NH là lấy ngân hàng cỡ lớn làm hạt nhân của tập đoàn để liên kết và khống chế các doanh nghiệp xung quanh bằng mối quan hệ nắm giữ cổ phần, cho vay vốn và sắp xếp nhân sự
Mô hình phổ biến nhất của tập đoàn TC-NH là tổ chức theo kiểu công ty mẹ – công ty con Trong đó, công ty mẹ và công ty con đều có tư cách pháp nhân độc
lập, có tài sản và bộ máy quản lý riêng Giao dịch giữa ngân hàng mẹ và các công ty con hay giữa các công ty con trong cùng một tập đoàn là giao dịch bên ngoài, giao dịch thị trường
Đặc điểm của mô hình này là ngân hàng mẹ (holding company) sở hữu toàn bộ
hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các công ty con, đề ra chiến lược và định hướng phát triển tổng thể của tập đoàn, đồng thời phân bổ nguồn lực của tập đoàn thông qua các hoạt động tài chính như phát hành, mua bán chứng khoán, cơ
Trang 23-Trang 11-
cấu lại tài sản của các công ty con Ngoài ra, ngân hàng mẹ còn sử dụng vốn của mình để đầu tư, góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết để hình thành các công ty con hoặc công ty liên kết
Các công ty con là những pháp nhân độc lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách nhiệm Hình thức pháp lý của công ty con khá đa dạng, có thể là công ty cổ
phần do ngân hàng mẹ nắm giữ cổ phần chi phối; công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong đó ngân hàng mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty liên doanh với nước ngoài do ngân hàng mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty TNHH một thành viên do ngân hàng mẹ là chủ sở hữu
Tập đoàn TC-NH kinh doanh theo mô hình công ty mẹ-công ty con có hai loại:
Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy và mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh Trên thực tế, không có sự tách bạch rõ ràng, nhiều tập đoàn kinh doanh theo mô hình công ty mẹ-công ty con là hỗn hợp của hai loại hình trên Tập đoàn TC-NH theo mô hình công ty mẹ-công ty con cũng hoạt động theo
mô hình hỗn hợp, trong đó ngân hàng mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh
một số công ty con, đồng thời chỉ nắm vốn thuần túy một số công ty con khác
Ngoài hoạt động kinh doanh ngân hàng, tập đoàn TC-NH còn cung cấp dịch vụ tài chính phi ngân hàng (do các công ty con thực hiện), những dịch vụ này liên quan chặt chẽ với hoạt động ngân hàng và mang lại lợi ích chung cho tập đoàn
Tập đoàn TC-NH được xây dựng theo ba cấu trúc tổ chức chủ yếu sau đây:
• Mô hình ngân hàng đa năng (universal banking)
Đây là mô hình tập đoàn phổ biến nhất ở Châu Âu Các cổ đông của ngân hàng trực tiếp quản lý mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, không có sự phân biệt về quản lý vốn giữa các lĩnh
vực Điều này gây ra khó khăn trong việc xác định rủi ro của mỗi lĩnh vực, bên cạnh đó rủi ro của lĩnh vực này có thể kéo theo rủi ro của cả những lĩnh vực khác
Trang 24-Trang 12-
Ở Châu Âu, ngân hàng có thể chiếm lĩnh cả kinh doanh chứng khoán, nhưng không một nước công nghiệp chính nào cho phép một công ty đơn lẻ thực hiện cả 3 hoạt động kinh doanh: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán
• Mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa kinh doanh ngân hàng (parent – subsidiary relationship)
Trong mô hình này, các công ty tài chính khác là công ty con của ngân hàng Các cổ đông của ngân hàng quản lý trực tiếp ngân hàng nhưng không quản lý trực
tiếp các công ty bảo hiểm hay công ty chứng khoán Còn các lãnh đạo các ngân hàng quản lý trực tiếp hoạt động của công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm Đối với mô hình này, vốn của ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty bảo
hiểm được quản lý một cách độc lập nhưng rủi ro của các lĩnh vực vẫn có thể gây
ra rủi ro dây chuyền
• Mô hình công ty sở hữu tài chính (công ty mẹ nắm vốn thuần túy - holding company)
Trong mô hình này một công ty mẹ đứng trên chịu trách nhiệm quản lý các công ty con trên từng lĩnh vực Các cổ đông của công ty mẹ không trực tiếp
quản lý những hoạt động của các công ty con Với ưu thế rủi ro của lĩnh vực này không ảnh hưởng đến lĩnh vực khác, mô hình này đặc biệt phổ biến ở những
tập đoàn tài chính quốc tế, ở Mỹ và cũng đã được cho phép ở Nhật Bản
Trang 25-Trang 13-
Bảng 1.4: Tóm tắt mô hình cấu trúc của tập đoàn TC-NH
Loại hình Ngân hàng đa năng Quan hệ công ty mẹ- con Công ty sở hữu tài chính
Các cổ đông của ngân
hàng chi phối tất cả hoạt
động kinh doanh (ngân
Cổ đông công ty mẹ gián tiếp chi phối tất cả các công ty con trong
cả ba lĩnh vực: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm
- Thực hiện quyền nắm giữ cổ phần tại công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm
Ban quản trị công ty mẹ
có quyền nắm giữ cổ phần ở tất cả các công
Ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm nắm giữ vốn của chính mình
lên một hoạt động kinh
doanh sẽ lan truyền trực
tiếp đến những hoạt động
khác
Có thể cách ly rủi ro ở một mức nhất định
Những tác động của mạng an toàn lên ngân hàng mẹ có thể lan truyền trực tiếp đến các công ty con
Tương đối dễ dàng cách
ly các rủi ro
Những tác động của mạng an toàn lên một lĩnh vực không tác động trực tiếp đến các lĩnh vực khác
Điển hình
Ở Châu Âu, ngân hàng có
thể thực hiện kinh doanh
chứng khoán, nhưng
không có một nước công
nghiệp lớn nào cho phép
một công ty đơn lẻ hoạt
động cả ba lĩnh vực tài
chính
ở Mỹ và Nhật Bản, mô hình này chỉ được chấp thuận khi các ngân hàng quốc gia tham gia kinh doanh chứng khoán hoặc bảo hiểm
Cấu trúc này được áp dụng ở nhiều tập đoàn quốc tế
Được áp dụng phổ biến
ở Mỹ, Nhật Bản và chủ yếu là các ngân hàng lớn
Ngân hàng
Kinh doanh
b ảo
hi ểm
Cổ đông
Kinh doanh chứng khoán
Công ty chứng khoán
Công
ty bảo
hi ểm
Cổ đông Công ty mẹ
Ngân hàng
Công ty chứng khoán
Công
ty b ảo
hi ểm
Trang 26-Trang 14-
(Nguồn : The expansion of Corporate Groups in the Financial Services Industry: Trends in Financial Conglomeration in Major Industrial Country - Bank of Japan)
Mỗi mô hình có một cấu trúc tổ chức khác nhau, chủ yếu về quyền chi phối của
cổ đông công ty đứng đầu với các công ty con, quyền điều hành của ban quản trị công ty đứng đầu trong mọi hoạt động của các công ty con Mối quan hệ vốn giữa công ty đứng đầu với các công ty thành viên khác và giữa các công ty thành viên khác với nhau tác động lớn đến mức độ lây truyền rủi ro cũng như tính an toàn của một đơn vị trong tập đoàn đến các đơn vị còn lại
Tuy nhiên, cả 3 mô hình đều có điểm chung lớn nhất, đó là vai trò hạt nhân của ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì ngân hàng có những đặc trưng lợi thế hơn hẳn các công ty khác về các mặt: chức năng hoạt động ngân hàng đảm bảo tốt hơn cho quá trình quản trị tài chính, quy mô và phạm vi hoạt động rộng hơn trong lĩnh vực tài chính và mức độ quan hệ với các chủ thể trên thị trường, đội ngũ cán bộ mang tính chuyên nghiệp hơn,…
Vì vậy, hiện nay, các tập đoàn TC-NH chủ yếu do các ngân hàng cỡ lớn đứng đầu Vị thế của ngân hàng này trước hết biểu hiện ở biểu tượng (logo) của tập đoàn
và ở khả năng chi phối hướng phát triển của các công ty con trong tập đoàn Các ngân hàng lớn thường là những chủ thể chủ động mua các tổ chức tài chính khác Sau quá trình sáp nhập, công ty bị sáp nhập chấm dứt sự tồn tại, tên và logo sẽ được thay thế bằng tên và logo của tập đoàn (thực chất là của ngân hàng nhận sáp nhập) Tất cả các bộ phận trong tập đoàn được quản trị thống nhất và tập trung theo ngành dọc, bao gồm: Hội đồng quản trị, Hội đồng điều hành, Uỷ ban kiểm toán, Uỷ ban quản lý rủi ro và các uỷ ban khác Hội đồng quản trị tập đoàn chỉ kiểm soát về mặt tài chính, chiến lược đầu tư thông qua các đòn bẩy kinh tế Các công ty thành
viên hoàn toàn chủ động trong việc quyết định hoạt động kinh doanh của mình Các công ty thành viên có ban quản trị và ban giám đốc riêng để lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động riêng của công ty đó theo định hướng và chiến lược chung của cả tập đoàn Các thành viên trong Hội đồng quản trị và các uỷ ban chức năng hoạt động theo tôn chỉ và mục đích chung đã được các bên thống nhất từ trước và
Trang 27-Trang 15-
đa số theo cơ chế kiêm nhiệm Chính nhờ mô hình chặt chẽ và rõ ràng như vậy, do
đó, dù có cơ cấu phức tạp đến đâu và dù có thay đổi nào (sáp nhập, hợp nhất, chia, tách), tập đoàn vẫn duy trì hoạt động ổn định và giữ chân được khách hàng
1.3 Phương thức hình thành tập đoàn TC – NH
1.3.1.1 Khái niệm
Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập
1.3.1.2 Các hình thức sáp nhập
- Công ty tài chính, tổ chức tín dụng hợp tác sáp nhập vào một ngân hàng
- Công ty tài chính sáp nhập vào một công ty tài chính
- Công ty cho thuê tài chính sáp nhập vào một công ty cho thuê tài chính
1.3.1.1 Khái niệm
Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất
1.3.1.2 Các hình thức hợp nhất
- Ngân hàng được hợp nhất với ngân hàng, công ty tài chính, tổ chức tín dụng hợp tác để thành một ngân hàng
- Các công ty tài chính hợp nhất thành một công ty tài chính
- Các công ty cho thuê tài chính hợp nhất thành một công ty cho thuê tài chính
1.3.1.1 Khái niệm
Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác Sau khi mua lại, tổ
Trang 28-Trang 16-
chức tín dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại
Hoạt động mua lại về cơ bản giống với sáp nhập, đều là hoạt động qua đó các công ty tìm kiếm lợi ích kinh tế nhờ tăng quy mô, giảm chi phí, mở rộng thị
trường nhưng chúng có những điểm khác biệt đó là sáp nhập thường để chỉ sự kết
hợp giữa hai công ty “tương đồng” tức là có quy mô, uy tín, sức mạnh tài chính…
như nhau xét trên nhiều mặt và kết quả thường tạo ra một công ty mới, mục đích
của sáp nhập là sự hợp tác cùng có lợi của cả hai bên sáp nhập Trong khi đó mua lại thường để chỉ hành động một công ty “nuốt chửng” một công ty khác (thường là yếu hơn) để biến công ty đó thành một phần sở hữu của mình, kết quả mua lại thường không hình thành công ty mới, mục đích của mua lại là nhằm “thâu tóm” công ty mục tiêu
1.3.1.2 Các hình thức mua lại
- Một ngân hàng được mua lại công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính
- Một công ty tài chính được mua lại công ty cho thuê tài chính
► Lợi ích của việc sáp nhập, mua lại và hợp nhất (M&A):
Dưới sức ép cạnh tranh của môi trường kinh doanh toàn cầu, các công ty buộc
phải phát triển để tồn tại, và một trong những cách tốt nhất để tồn tại là sáp nhập
và mua lại các công ty khác, điều này có thể đưa đến những lợi ích sau:
• Nâng cao hi ệu quả hoạt động
Thông qua M&A các công ty có thể tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô khi nhân đôi thị phần, giảm chi phí cố định (trụ sở, nhà xưởng), chi phí nhân công, hậu cần, phân phối Các công ty còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực (đầu vào) và các thế mạnh khác của nhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách hàng, bán chéo sản phẩm hay tận dụng
những tài sản mà mỗi công ty chưa sử dụng hết giá trị Ngoài ra, còn có trường
hợp công ty thực hiện M&A với một công ty đang thua lỗ nhằm mục đích trốn thuế cho phần lợi nhuận của bản thân hay khi vay nợ để mua lại công ty mục tiêu, công ty sáp nhập được hưởng lá chắn thuế, có trường hợp các công ty thực hiện M&A để đạt được thị phần khống chế nhằm áp đặt giá cho thị trường
Trang 29-Trang 17-
• Gi ảm chi phí gia nhập thị trường
Ở những thị trường có sự điều tiết mạnh của chính phủ, việc gia nhập thị
trường đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe hoặc chỉ thuận lợi trong một giai đoạn nhất định thì những công ty đến sau chỉ có thể gia
nhập thị trường đó thông qua mua lại những công ty đã hoạt động trên thị trường Điều này rất phổ biến đối với đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, đặc biệt là ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm Theo cam kết của Việt Nam với WTO, nước ngoài
chỉ được lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài từ tháng 4/2007, lập chi nhánh
nhưng không được lập chi nhánh phụ, không được huy động tiền gửi bằng đồng
Việt Nam từ người Việt Nam trong 5 năm Công ty chứng khoán 100% nước ngoài chỉ được thành lập sau 5 năm (2012) Như vậy, rõ ràng nếu các ngân hàng, công ty chứng khoán nước ngoài không muốn chậm chân trong việc cung cấp đầy
đủ các dịch vụ và giành thị phần trong giai đoạn phát triển rất mạnh của thị
trường ngân hàng tài chính Việt Nam, thì họ buộc phải mua lại cổ phần của các doanh nghiệp trong nước (tuy cũng bị hạn chế 30%)
Hơn nữa, không những tránh được các rào cản về thủ tục để đăng ký thành
lập (vốn pháp định, giấy phép), bên mua lại còn giảm được cho mình chi phí và
rủi ro trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất và cơ sở khách hàng ban đầu Nếu sáp nhập một công ty đang ở thế yếu trên thị trường, những lợi ích này còn lớn
hơn giá trị vụ chuyển nhượng, và chứng minh quyết định gia nhập thị trường theo cách này của người “đến sau” là một quyết định đúng đắn Trong một số
trường hợp, mục đích chính của người thực hiện M&A không chỉ là gia nhập
thị trường mà còn nhằm mua lại một ý tưởng kinh doanh có nhiều triển vọng
• H ợp lực thay cạnh tranh
Chắc chắn số lượng công ty sẽ giảm đi khi có một vụ sáp nhập hoặc mua lại
giữa các công ty vốn là đối thủ của nhau trên thương trường, cũng có nghĩa là sức nóng cạnh tranh không những giữa các bên liên quan mà cả thị trường nói chung
sẽ được hạ nhiệt Hơn nữa, tư duy cùng thắng (win - win) đang ngày càng chiếm
ưu thế đối với tư duy cũ thắng - thua (win - lose) Các công ty hiện đại không còn
Trang 30-Trang 18-
theo mô hình công ty của một chủ sở hữu - gia đình sáng lập, mang tính chất
“đóng” như trước, mà các cổ đông bên ngoài ngày càng có vị thế lớn hơn Chủ
sở hữu chiến lược của các công ty đều có thể dễ dàng thay đổi, và việc nắm sở
hữu chéo của nhau đã trở nên phổ biến Thực chất, đứng đằng sau các tập đoàn hùng mạnh về sản xuất công nghiệp hay dịch vụ đều là các tổ chức tài chính
khổng lồ Do đó, xét về bản chất các công ty đều có chung một chủ sở hữu Họ đã
tạo nên một mạng lưới công ty, mà trong đó không có xung lực cạnh tranh nào đối
lập hẳn với nhau, ngược lại tất cả chỉ cùng chung một mục tiêu phục vụ tốt hơn khách hàng và giảm chi phí để tạo lợi nhuận cao và bền vững hơn
• Th ực hiện chiến lược đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi giá trị
Nhiều công ty chủ động thực hiện M&A để hiện thực hóa chiến lược đa dạng hóa sản phẩm hoặc mở rộng thị trường của mình Khi thực hiện chiến lược này, công ty sẽ xây dựng được cho mình một danh mục đầu tư cân bằng hơn nhằm tránh rủi ro phi hệ thống Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm ngoài việc giảm thiểu
rủi ro, công ty còn có thể phục vụ khách hàng tốt hơn với một chu trình khép kín, đa dạng hóa sẽ giữ chân khách hàng vì làm tăng tiện ích cho khách hàng
• Tham vọng bành trướng tổ chức và tập trung quyền lực thị trường
Các công ty đã thành công thường nuôi tham vọng rất lớn trong việc phát triển tổ chức của mình ngày một lớn mạnh và thống trị không những trong phân khúc và dòng sản phẩm hiện tại mà còn lan sang cả những lĩnh vực khác
Những tập đoàn như GE của Mỹ, Chungho Holdings của tỷ phú Li Ka Shing của Hongkong, hay trường hợp Công ty FPT, Công ty Trung Nguyên của Việt Nam là những ví dụ điển hình Từ một công ty thành danh trong lĩnh vực công nghệ tin học, FPT hiện đã mở rộng sang các lĩnh vực mạng điện thoại cố định,
di động, truyền hình trực tuyến, ngân hàng, đào tạo đại học, chứng khoán và sắp
tới cả bất động sản, giáo dục phổ thông
Trang 31Trước kia, khối các NHTMQD nhờ có lợi thế về quy mô, thương hiệu, mạng lưới đã chiếm thị phần áp đảo trong thị trường sản phẩm dịch vụ tài chính, ngân hàng Tuy nhiên, trong những năm gần đây khi môi trường pháp luật ngày càng rõ ràng hơn, tạo điều kiện bình đẳng cho các thành phần kinh tế cùng phát triển theo
cơ chế của nền kinh tế thị trường, thị trường đã ghi nhận sự phát triển vượt bậc
của khối các NHTMCP và có thể nói đây đã và sẽ là những đối thủ cạnh tranh của hệ thống các NHTMQD Thời gian qua, các NHTMCP đã không
ngừng nâng cao năng lực tài chính (bổ sung vốn điều lệ), đầu tư cho các hoạt động phát triển mạng lưới, thành lập mới các chi nhánh, phát triển hệ thống các phòng giao dịch, đầu tư công nghệ, đầu tư lắp đặt hệ thống máy ATM tại các địa bàn để có thể phục vụ khách hàng tốt hơn Bên cạnh đó, các NHTMCP cũng thực
hiện hàng loạt các chiến dịch, chương trình quảng cáo, tiếp thị, quan hệ công chúng để nâng cao vị thế và hình ảnh trên thị trường
Sức ép cạnh tranh buộc các ngân hàng trong nước phải chủ động điều chỉnh mô hình và chính sách quản lý, đào tạo nhân viên, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo được lợi thế với các ngân hàng nước ngoài
Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường vô cùng tiềm năng đối với các
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tại
Việt Nam chưa có sự đa dạng, tính phù hợp nhắm đến các đối tượng sử dụng khác nhau, mà vẫn mang tính đơn điệu, chung chung…do vậy làm cho sự cạnh tranh lại càng gay gắt hơn
Trang 32-Trang 20-
1.4.2 Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế
Xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc
biệt là công nghệ thông tin và sự nới lỏng các quy định pháp lý về TC-NH là nguyên nhân chính thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của các tập đoàn TC-NH Khi phát triển đến mức độ nhất định và do nhu cầu của nền kinh tế, các ngân hàng, công ty bảo hiểm hay công ty chứng khoán đều vươn ra hoạt động đa
năng và hướng ra toàn cầu thông qua những hình thức khác nhau như liên kết, hợp
nhất, sáp nhập, thành lập các công ty trực thuộc Mục tiêu của việc hình thành tập đoàn TC-NH là mở rộng quy mô hoạt động và đổi mới công nghệ, giảm chi phí
để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó đem lại lợi nhuận tối đa cho tập đoàn
Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO, các tổ chức tín dụng nước ngoài như: Văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoặc ngân hàng 100% vốn nước ngoài; các công ty tài chính liên doanh hoặc công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, các công ty cho thuê tài chính theo lộ trình của đàm phán thương mại sẽ được phép kinh doanh và
hoạt động tài chính tại thị trường Việt Nam Bên cạnh những đối thủ cạnh tranh truyền thống trước đây, các ngân hàng thương mại trong nước còn phải đương đầu
với các định chế tài chính khác như các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty tài chính, tổ chức phi ngân hàng khác
Việc thành lập các ngân hàng, hay tổ chức ngân hàng trong tập đoàn kinh tế là hoàn toàn có thể và sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh không chỉ trong nước và khu vực Và một trong những nguyên nhân thúc đẩy thành lập Tập đoàn TC-NH chính
là yêu cầu quản lý rủi ro và hạn chế thấp nhất rủi ro
Theo chủ trương của Chính phủ và để có thể đứng vững trong hội nhập,
NHTMCP Công thương sẽ phát triển theo hướng trở thành tập đoàn tài chính hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam Tập đoàn này sẽ kinh doanh theo nhiều hình
thức khác nhau
Trang 33-Trang 21-
1.4.3 Phát triển chiến lược, quảng bá thương hiệu:
Ngân hàng được xem là một ngành kinh doanh niềm tin Khi ngân hàng giành được niềm tin của khách hàng, điều đó đồng nghĩa với việc khẳng định được thương hiệu của mình, và vì vậy, sẽ có được lợi thế cạnh tranh từ thương hiệu
Ngân hàng, nhờ lợi thế cạnh tranh về uy tín thương hiệu sẽ tiến hành thâm nhập vào thị trường dịch vụ tài chính khác như bảo hiểm, chứng khoán bằng cách thiết lập các công ty con, công ty liên doanh, liên kết Các công ty thường sử dụng tên, logo và hoạt động dưới thương hiệu của ngân hàng mẹ Khi đó, hình ảnh của các công ty thành viên này đã được đảm bảo bởi uy tín của ngân hàng mẹ, vì thế dễ dàng tiếp cận khách hàng, thâm nhập thị trường thành công hơn, đặc biệt là thị trường hiện tại của ngân hàng Như vậy, tập đoàn TC-NH đã được hình thành từ nhu cầu thực tiễn hoạt động đó
Các tập đoàn lớn kinh doanh nói chung, các tập đoàn ngân hàng nói riêng chuyển dần từ đầu tư trực tiếp bằng vốn sang đầu tư bằng tri thức và thương hiệu Thương hiệu có ý nghĩa trong chiến lược toàn cầu hoá về kinh tế Thương hiệu là quyền lực kinh tế toàn cầu với sự phát triển không ngừng của những sản phẩm liên quốc gia như: Citibank, Hongkong and Shanghai Bangking Coporation, Deutsche bank, Standard Chartered Bank,…
Tại Hàn Quốc, nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới chỉ có khoảng 20 ngân hàng Thái Lan, nền kinh tế lân cận, lớn hơn Việt Nam cũng có không quá 20 ngân hàng Trong khi đó, Việt Nam có khoảng 80 ngân hàng, thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay
đã bão hòa So về quy mô với các ngân hàng trong khu vực, các ngân hàng Việt Nam còn rất nhỏ bé Số lượng hơn 40 ngân hàng trong nước, 30 ngân hàng 100% nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khoảng 10 công ty cho thuê tài chính cùng thực hiện các hoạt động của một tổ chức tín dụng là nhiều Nếu tình hình tài chính, kinh doanh của các ngân hàng này tốt thì có cơ sở để phát triển thị trường nhưng trên thực tế, số lượng ngân hàng yếu kém còn cao, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ, dịch vụ hạn chế, chủ yếu huy động và cho vay phục vụ mục tiêu
"gia đình", ngân hàng nhỏ, vốn nhỏ, thị phần nhỏ, sản phẩm không đa dạng, quản lý
Trang 34-Trang 22-
rủi ro thấp, quản trị công ty không theo thông lệ quốc tế, dẫn đến việc phát triển rất khó khăn
Theo quy định, thời điểm 31/12/2010 là hạn cuối để các ngân hàng phải tăng vốn
đủ 3.000 tỷ đồng - một tiêu chí quan trọng để khẳng định quy mô và chất lượng của các ngân hàng Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, đã bước qua nửa cuối của năm
2011, "món nợ" tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng của nhiều ngân hàng từ năm ngoái vẫn
còn "treo", cụ thể là hiện còn 10 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ VNĐ (xem phụ lục 1), 12 ngân hàng có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ VNĐ - 4.000 tỷ VNĐ Số lượng
ngân hàng Việt Nam hiện quá nhiều so với quy mô và yêu cầu của nền kinh tế Trong đó, rất nhiều ngân hàng nhỏ, yếu kém, không đóng góp nhiều mà còn gây ra những rủi ro và bất ổn cho nền kinh tế Số ngân hàng quá nhiều dẫn đến việc quản
lý kém tập trung và hoạt động kém hiệu quả Các ngân hàng nhỏ vì sức cạnh tranh yếu sẽ khá mạo hiểm trong chính sách cho vay cũng như huy động
Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hệ thống ngân hàng, sàng lọc và loại bỏ các ngân hàng yếu kém là một yêu cầu bức thiết, cần phải cấu trúc lại hệ thống ngân hàng bằng cách tiến hành sáp nhập các ngân hàng trong nước với sự khuyến khích, chủ trì và giám sát của NHNN thông qua một khung pháp lý, chính sách và đường lối phù hợp với thông lệ quốc tế kiến nghị NHNN có cơ chế giảm từ 15%- 20% số lượng các ngân hàng cổ phần thông qua các hình thức sáp nhập, hợp nhất, giải thể
và quốc hữu hóa thông qua việc thâu tóm từ ngân hàng cổ phần nhà nước
1.5 Điều kiện hình thành tập đoàn TC – NH
Có nhiều yếu tố tác động đến khả năng hình thành tập đoàn TC-NH, trong đó các yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau Từ phương diện phân tích, có thể phân chia thành yếu tố (điều kiện) khách quan và điều kiện chủ quan
1.5.1.1 Nền tảng pháp lý
Môi trường pháp lý có thể cản trở hoặc thúc đẩy sự hình thành và phát triển các
tập đoàn TC-NH, nhất là những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán Nói cách khác, quá trình hình thành và phát triển tập
Trang 35-Trang 23-
đoàn TC-NH diễn ra theo quy luật khách quan, nhưng các chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quy định và chính sách phát triển dịch
vụ tài chính nói chung và tập đoàn TC-NH nói riêng
1.5.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trình độ phát triển của thị trường dịch vụ tài chính tác động đến khả năng mở
rộng quy mô hoạt động của tập đoàn tài chính như thông qua các công ty con hay công ty trực thuộc Trên thực tế, sự hình thành các tập đoàn TC-NH thường bắt nguồn từ việc mở rộng các loại hình kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ của ngân hàng mẹ, từ chỗ chỉ kinh doanh dịch vụ ngân hàng, mở rộng sang dịch vụ bảo hiểm,
chứng khoán, v.v Mặt khác, thị trường tài chính càng phát triển, khách hàng càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng và tiện ích của dịch vụ TC-NH là yêu cầu khách quan để đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, hình thành nhiều loại hình hoạt động, nhiều công ty
Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cũng là yếu tố và điều kiện để một
tổ chức tài chính phát triển thành tập đoàn TC-NH Các tập đoàn này phải kịp thời
nắm bắt thông tin, nhất là công nghệ mới có liên quan đến hoạt động TC-NH để có thể khai thác và ứng dụng các thành tựu về công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh, mang lại nhiều lợi nhuận cho tập đoàn và tiện ích cho khách hàng
Tiềm lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động và khả
năng phát triển lâu dài của tập đoàn Trong đó, nguồn vốn có tác dụng hỗ trợ cho
tập đoàn đổi mới công nghệ, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh, phát triển dịch
vụ mới, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần Các ngân hàng tiên
tiến và tập đoàn chính mạnh thường cung cấp dịch vụ đa dạng và đạt chất lượng cao với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau Tương tự, chất lượng nguồn nhân lực cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và tập đoàn tài chính…
Trang 36-Trang 24-
1.6 Một số tập đoàn TC – NH trên thế giới
Citigroup là tập đoàn ngân hàng đa quốc gia, được hình thành thông qua việc
hợp nhất giữa Citicorp và Travelers Insurance, bao gồm nhiều công ty khác nhau, từ tín dụng thương mại đến hỗ trợ tiêu dùng, môi giới đến bảo hiểm Citigroup có trụ sở chính tại New York với công ty mẹ là Citibank Ngân hàng này đã mở chi nhánh đầu tiên tại Luân Đôn (năm 1902) và Buenos Aires (năm 1914), các hoạt động quốc tế của ngân hàng phát triển mạnh trong những năm 1920-1940 (khoảng 100 văn phòng đại diện và chi nhánh tại gần 100 nước trên
thế giới) Năm 1955, Citibank sáp nhập với First National (New York) để trở thành một tổ hợp lớn với tên gọi First National City Bank Năm 1968, ngân hàng này cải tổ để trở thành một công ty mẹ (holding company) và hình thành tập đoàn ngân hàng dưới tên gọi là First National City Corp (năm 1974 đổi tên thành Citicorp), trọng tâm là các dịch vụ tài chính và ngân hàng bán lẻ Citibank
là ngân hàng đầu tiên lắp đặt máy rút tiền tự động ATM (năm 1977) với trên 500 máy tại New York Trong những năm 80, Citibank đã mua lại một số tổ chức tài chính ở San Francisco, Chicago, Miami, Washington DC và năm 1998 sáp nhập với Travelers Group (công ty kinh doanh thẻ nổi tiếng) để trở thành tập đoàn TC-NH đứng đầu thế giới Doanh thu năm 2009 đạt 114 tỷ đô la Mỹ, lợi nhuận ròng đạt 5,07 tỷ đô la Mỹ
Hoạt động của Citigroup theo mô hình khối gồm 3 khối chính:
- Khối tiêu dùng toàn cầu (Global Consumer Group): bao gồm việc cung cấp các
loại sản phẩm dịch vụ tài trợ cho tiêu dùng gồm các dịch vụ về ngân hàng, thẻ tín dụng, cho vay và bảo hiểm,
- Khối dịch vụ ngân hàng đầu tư và cho vay doanh nghiệp (Institutional Clients Group): cung cấp việc quản lý tiền mặt, kho bạc, đầu tư kinh doanh, giám hộ, thanh toán, ký quỹ, đầu tư vào các dự án, bất động sản, tư vấn tài chính và đưa ra các
giải pháp nhằm cung cấp nguồn vốn rộng rãi nhất vào hơn 100 quốc gia trên thế giới
chủ yếu là các tổ chức cần vốn, các công ty, chính phủ các nước Mục tiêu của Citi
là sử dụng nguồn vốn của mình một cách linh hoạt và có hiệu quả nhất, đa dạng
Trang 37-Trang 25-
hóa nguồn vốn kinh doanh và duy trì một cách tập trung, thường xuyên
- Hoạt động của nhóm là cung cấp các dịch vụ tư vấn về quản lý tài sản,quản lý
tiền mặt, quản lý các danh mục đầu tư, các giải pháp về vốn, chiến lược kinh doanh, bất động sản, giáo dục cho các khách hàng cá nhân, công ty, các quỹ đầu tư
ở các quốc gia trên thế giới Ngoài ra Citi cũng là đơn vị nghiên cứu, phân tích vĩ
mô và định lượng về tài chính cho thị trường toàn cầu
OCBC là một trong những tập đoàn tài chính hàng đầu trên thị trường Singapore
và Malaysia hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con trong đó OCBC Bank là công ty mẹ, có tổng tài sản vào khoảng 134 tỷ đô la Singapore (90 tỉ USD), trên 310 chi nhánh và văn phòng đại diện tại 15 quốc gia và vùng lãnh thổ OCBC Bank cũng là một trong những tổ chức tài chính lớn nhất ở Singapore cung
cấp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, cho vay tư nhân và hộ gia đình, tín thác, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ Công ty con của OCBC Bank là Great Eastern Holdings cũng là tập đoàn bảo hiểm lớn nhất ở Singapore và Malaysia về
tổng tài sản cũng như thị phần, riêng OCBCBank nắm khoảng 80% cổ phần của Great Eastern Holdings Trong lĩnh vực quản lý tài sản, Lion Capital Management
là một trong những công ty quản lý tài sản lớn nhất Đông Nam Á OCBC Bank cung cấp hàng loạt dịch vụ ngân hàng mới và các công cụ tài chính liên quan tới cho vay tiêu dùng, cho vay doanh nghiệp, ngân hàng đầu tư, tài chính toàn cầu và
quản lý đầu tư, môi giới và kinh doanh chứng khoán, quản lý khách sạn, kinh doanh bất động sản
Tập đoàn Ngân hàng Trung Quốc (Hồng Kông) thành lập năm 1983, bao gồm
13 ngân hàng tại Trung Quốc, Hồng Kông, Macao Năm 2001, Tập đoàn đã thực
hiện tái cơ cấu theo hướng sáp nhập nghiệp vụ của 10 trong số 12 ngân hàng cũ
của Tập đoàn và đổi tên thành Công ty TNHH Ngân hàng Trung Quốc chi nhánh
Hồng Kông (Bank of China Hong Kong Ltd – BOCHK), là một trong 4 đơn vị trực thuộc Ngân hàng Trung Quốc (BOC)
Các hoạt động chính là dịch vụ NHTM, ngân hàng đầu tư, bảo hiểm, bất động
Trang 38-Trang 26-
sản, thẻ tín dụng thông qua mạng lưới 300 chi nhánh và 400 máy rút tiền
tự động (ATM) BOCHK là một trong 3 ngân hàng phát hành giấy bạc tại Hong Kong và hoạt động với tư cách là ngân hàng đứng đầu trong Hiệp hội Ngân hàng tại Hong kong Ngoài ra, BOCHK còn có 14 chi nhánh và các chi nhánh
trực thuộc tại lục địa của Trung Quốc nhằm đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ ngân hàng xuyên lục địa của khách hàng Hong Kong và lục địa
Sau khi thực hiện tái cơ cấu, BOCHK đã có một số thay đổi lớn như xây dựng
cơ chế quản trị công ty, xây dựng cơ chế giám sát rủi ro độc lập, cơ chế truy
cứu trách nhiệm toàn diện, thực hiện phương châm “khách hàng là trọng tâm.”
1.6.4 Những qui định có tính thông lệ chung về Tập đoàn TC-NH một số nước
Để xây dựng được những quy định cụ thể cho tập đoàn TC-NH tại Việt Nam, chúng ta tham khảo những quy định về tập đoàn TC-NH tại một số nước sau đây:
• Hoa Kỳ: Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLB Act) được Quốc hội Hoa
Kỳ thông qua năm 1999 là kết quả của một quá trình hợp nhất các quy định pháp lý đối với thị trường dịch vụ tài chính trong nhiều thập kỷ Với việc dỡ bỏ Đạo luật Glass-Steagall quy định từ năm 1933, trong đó hạn chế sự sáp nhập giữa các ngân hàng và các công ty chứng khoán; và sự phân đoạn do Đạo luật Bank Holding Company (BHC Act) ban hành năm 1956, trong đó hạn chế sự sáp nhập
giữa các ngân hàng và các công ty bảo hiểm Đạo luật GLB đã tạo điều kiện cho các ngân hàng đăng ký thành lập các tập đoàn tài chính– ngân hàng đa năng tại Hoa Kỳ thông qua việc mở thêm hoạt động môi giới bảo hiểm Mặt khác, các công
ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm cũng có thể chuyển đổi thành các tập đoàn TC-NH nếu họ mua lại một ngân hàng trong trường hợp họ thỏa mãn các điều
Trang 39-Trang 27-
quan Giám sát tiền tệ (OCC), Cục Dự trữ Liên bang (FED) và Công ty Bảo hiểm
tiền gửi liên bang (FDIC); hoạt động của các Công ty Chứng khoán chịu sự giám sát và điều chỉnh của Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (SEC); hoạt động của các Công ty Bảo hiểm do Ủy ban Bảo hiểm Quốc gia (SIC) giám sát và điều chỉnh
Một tập đoàn TC-NH (FHC) phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Các yêu cầu về vốn và khả năng quản lý: để có thể được chấp thuận trở thành một FHC, ngân hàng phải chứng thực với FED rằng tất cả các chi nhánh phụ
của ngân hàng đều đảm bảo an toàn vốn và được quản lý tốt
- Yêu cầu về việc tài trợ vốn cho cộng đồng: một FHC chỉ được công nhận khi
tất cả các chi nhánh phụ phải được đánh giá ở mức đạt yêu cầu trở lên về tài trợ vốn cho cộng đồng (các hộ gia đình có thu nhập thấp và các cộng đồng thiểu số) theo quy định tại Đạo luật Tái đầu tư Cộng đồng (CRA) được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1977
- Những yêu cầu trong việc quản lý tập đoàn tài chính: cho dù có sự hiện diện
của cấu trúc tập đoàn tài chính, các quy định pháp lý vẫn yêu cầu đơn vị thành viên
là ngân hàng phải:
• Xây dựng và thực hiện các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp;
• Có Hội đồng Quản trị riêng và;
• Tuân thủ những điều kiện kinh doanh (tỷ lệ an toàn vốn, quy tắc cho vay,
quản lý rủi ro và các phương thức hạch toán kế toán theo thông lệ)
Chính những khác biệt trong quy định đối với lĩnh vực ngân hàng và một loạt các dịch vụ tài chính khác như bảo hiểm, môi giới chứng khoán, bất động sản, tín thác, thẻ tín dụng, cho thuê tài chính đã làm tập đoàn tài chính trở nên một mô hình rất phức tạp, đòi hỏi năng lực điều hành, lãnh đạo của chủ tập đoàn phải đủ sức bao quát các hoạt động một cách chuyên nghiệp
• Đài Loan
Tương tự như ở Hoa Kỳ, Đài Loan đã ban hành Đạo luật về Tập đoàn tài chính (Financial Holding Company Act) vào năm 2001 để hỗ trợ việc tập trung vốn trong khu vực dịch vụ TC-NH, đa dạng hóa các dịch vụ tài chính và tăng
Trang 40-Trang 28-
cường sức cạnh tranh khi Đài Loan gia nhập WTO Đạo luật nói trên cho phép một
tập đoàn có thể đầu tư và sở hữu 100% vốn của tất cả các ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm Theo đó, các tập đoàn của Đài Loan đều đầu tư tất cả nguồn lực tài chính của mình để sở hữu 100% các đơn vị thành viên, bao gồm ngân hàng, công ty chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ
Năm 2005, Đài Loan cũng đã công bố quy định về đảm bảo an toàn vốn cho các tập đoàn TC-NH dựa trên các nguyên tắc đánh giá tách bạch từng chi nhánh
của ngân hàng Đạo luật FHC và các quy định pháp lý về tập đoàn đã tạo điều kiện cho thị trường tài chính Đài Loan củng cố, hợp nhất và hình thành các tập đoàn TC-NH có quy mô tài sản lớn và mức độ đa dạng dịch vụ rất cao thông qua sáp
nhập, thôn tính hoặc liên kết chiến lược Đến nay, Đài Loan đã có rất nhiều tập đoàn TC-NH lớn hoạt động đa năng trên các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và
bảo hiểm, điển hình là Tập đoàn tài chính– ngân hàng Chinfon
• Trung Qu ốc:
Trước đây, Luật Ngân hàng thương mại quy định các NHTM Trung Quốc không được phép thực hiện các giao dịch chứng khoán và bảo chứng, không được đầu tư vào những doanh nghiệp phi ngân hàng Nhưng trước sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế Trung Quốc trong hai thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã phải sửa đổi Luật Ngân hàng thương mại theo hướng cho phép các NHTM (công ty mẹ) sở
hữu các công ty tài chính (công ty con) theo mô hình tập đoàn tài chính (FHC) khi thiết lập đầy đủ những cơ chế pháp lý thận trọng cần thiết Bên cạnh đó, Luật
Chứng khoán và Luật Bảo hiểm cũng đã được điều chỉnh theo hướng cho phép
một cách có điều kiện sự kết hợp cung cấp các sản phẩm tại các NHTM thay vì cô lập các lĩnh vực này như trước kia
Trên thực tế, mô hình tập đoàn TC-NH với sự phát triển độc lập của hệ thống các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới Các tập đoàn đều được thành lập một cách tự nguyện trên cơ sở các liên kết về vốn và hoạt động kinh doanh thực chất nhằm cung cấp trọn gói các sản phẩm, dịch vụ tài chính cho khách hàng và tăng cường