Phương pháp nguyên cứu Việc nghiên cứu và đánh giá các vấn đề trong đề tài chủ yếu dựa vào các cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu như sau: -Vận dụng cơ sở lý thuyết về phân khúc t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2
CAO ĐỨC TỈNH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC MARKETING CHO SẢN PHẨM ẮC QUY GẮN MÁY KÍN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN PIN ẮC QUY MIỀN NAM (2014-2020)
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG NGỌC ĐẠI
TP HỒ CHÍ MINH - Năm 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thật
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển, nghiên cứu khảo sát thực tế và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đặng Ngọc Đại
Các số liệu, những kết quả trong luận văn là trung thực, các giải pháp hoàn thiện công tác Marketing đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi
“Hội đồng đánh giá luận văn thạc sỹ kinh tế”
Một lần nữa tôi xin khẳng định về tính trung thực của lời cam đoan trên
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các phụ lục
Phần mở đầu
Chương 1- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING 1
1.1 Khái niệm về Marketing 1
1.2 Vai trò của Marketing 1
1.3 Nội dung công tác Marketing 3
1.3.1 Môi trường Marketing 3
1.3.1.1 Môi trường vĩ mô 3
1.3.1.2 Môi trường vi mô 6
1.3.2 Phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu 9
1.3.2.1 Phân khúc thị trường 9
1.3.2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu 13
1.3.3 Định vị 15
1.3.4 Marketing hỗn hợp 20
1.3.4.1 Chiến lược sản phẩm 20
1.3.4.2 Chiến lược giá 23
1.3.4.3 Chiến lược phân phối 25
1.3.4.4 Chiến lược chiêu thị 25
Tóm tắt chương 1 26
Trang 5Chương 2- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC MARKETING TẠI CÔNG TY PINACO
CHO SẢN PHẨM ẮC QUY GẮN MÁY KÍN 27
2.1 Giới thiệu về công ty Pinaco 27
2.2 Thực trạng công tác Marketing tại công ty Pinaco cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín 31
2.2.1 Tình hình sản xuất kinh doanh 31
2.2.2 Môi trường Marketing của sản phẩm ắc quy gắn máy kín 32
2.2.3 Thực trạng công tác phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu 39
2.2.4 Thực trạng công tác định vị 40
2.2.5 Thực trạng công tác Marketing Mix 42
2.2.5.1 Chiến lược sản phẩm 42
2.2.5.2 Chiến lược giá 46
2.2.5.3 Chiến lược phân phối 49
2.2.5.4 Chiến lược chiêu thị 52
Tóm tắt chương 2 57
Chương 3- GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC MARKETING CHO SẢN PHẨM ẮC QUY GẮN MÁY KÍN TẠI CÔNG TY PINACO ĐẾN NĂM 2020 58
3.1 Định hướng phát triển và mục tiêu Marketing của công ty 58
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác Marketing cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín tại công ty Pinaco 60
3.2.1 Giải pháp phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu 60
3.2.2 Giải pháp định vị 62
3.2.3 Giải pháp chiến lược sản phẩm 63
3.2.4 Giải pháp chiến lược giá 64
3.2.5 Giải pháp chiến lược phân phối 66
3.2.6 Giải pháp chiến chiêu thị 68
Trang 63.2.7 Giải pháp hỗ trợ 70 Tóm tắt chương 3 72 KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8
Bảng 1.1 Các tiêu thức phân khúc khách hàng doanh nghiệp 12
Bảng 1.2 Lựa chọn các chiến lược định vị 18
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Pinaco 31
Bảng 2.2 Danh mục sản phẩm ắc quy gắn máy kín của công ty GS Việt Nam 34
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty KungLong 35
Bảng 2.4 Danh mục sản phẩm ắc quy gắn máy kín của công ty Lê Long Việt Nam 35
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát khách hàng về công tác định vị sản phẩm ắc quy gắn máy kín 41
Bảng 2.6 Các sản phẩm ắc quy gắn máy kín của công ty Pinaco 43
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát khách hàng về chiến lược sản phẩm ắc quy gắn máy kín 44
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát khách hàng về chiến lược giá ắc quy gắn máy kín 47
Bảng 2.9 Chiến lược giá khi thâm nhập thị trường và giá hiện tại của sản phẩm ắc quy gắn máy kín của công ty Pinaco 48
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát khách hàng về chiến lược phân phối ắc quy gắn máy kín49 Bàng 2.11 Thống kê số liệu đại lý, nhà phân phối tại công ty Pinaco 50
Bảng 2.12 Kết quả khảo sát khách hàng về chiến lược chiêu thị ắc quy gắn máy kín 54 Bảng 3.1 Sản lượng tiêu thụ và nhu cầu thị trường cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín của công ty Pinaco giai đoạn 2014-2020 58
Trang 9DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Dàn bài thảo luận công tác Marketing đối với sản phẩm ắc quy gắn máy
kín với Ban lãnh đạo công ty Pinaco
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi khảo sát ý kiến khách hàng về sản phẩm ắc quy gắn máy kín Phụ lục 3: Tổng hợp đánh giá của Ban lãnh đạo công ty Pinaco cho sản phẩm ắc quy
gắn máy kín VRLA
Phụ lục 4: Tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến người tiêu dùng đối với sản phẩm ắc quy
gắn máy kín của công ty Pinaco
Phụ lục 5: Thành phần ban lãnh đạo công ty và lý lịch chuyên gia
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỉ 21 tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Đó không chỉ là thách thức để trở nên thịnh vượng về khía cạnh tài chính, mà còn để tồn tại trong môi trường kinh doanh khốc liệt Marketing đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định các thách thức này Tài chính, sản xuất, kế toán và các phòng ban chức năng khác sẽ không thực sự có
ý nghĩa nếu thiếu nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ Nói cách khác thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động Marketing
Marketing giúp giới thiệu các sản phẩm mới và làm cho các sản phẩm đó dành được sự chấp thuận của người tiêu dùng Marketing cũng tạo ra cảm hứng cho việc gia tăng các sản phẩm hiện hữu nhờ nỗi lực sáng tạo của các chuyên gia Marketing trong việc nâng cao vị thế của các sản phẩm đó trên thương trường
Là công ty sản xuất pin và ắc quy hàng đầu tại Việt Nam, Công ty Cổ phần Pin Ắc Quy Miền Nam đã có những bước phát triển vững mạnh Pinaco cung cấp đa dạng và đầy đủ các chủng loại ắc quy kín và ắc quy nước cho ô tô, tàu thuyền, gắn máy…
Trong các sản phẩm của công ty có sản phẩm ắc quy gắn máy kín dành xe gắn máy chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ lớn có vốn đầu tư nước ngoài như: GS Việt Nam, Globe (Lê Long)… Pinaco gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển và giữ thị phần ở dòng sản phẩm này Do đó công ty cần có công tác Marketing hiệu quả để có thể nâng cao thị phần và vươn lên chiếm lĩnh thị trường đối với sản phẩm ắc quy gắn máy kín
Xuất phát từ thực tiễn thiết thực và tính cấp bách của vấn đề, Tôi chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác Marketing cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín tại Công ty Cổ phần Pin ắc quy miền Nam giai đoạn 2014 -2020”
Trang 112 Mục tiêu nguyên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả công tác Marketing của công ty Pinaco đối với sản phẩm ắc quy gắn máy kín
Cụ thể nghiên cứu có các mục tiêu sau:
- Đánh giá thực trạng công tác Marketing của công ty Pinaco cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác Marketing cho dòng sản phẩm ắc quy gắn máy kín tại công ty Pinaco
3 Phạm vi và đối tượng nguyên cứu
Nội dung hoạt động Marketing là rất phong phú, mỗi công ty với những hoàn cảnh
và giai đoạn phát triển khác nhau sẽ có các công tác Marketing khác nhau
Phạm vi của nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện tại Công Ty Cổ Phần Pin ắc Quy Miền Nam đối với sản phẩm ắc quy gắn máy kín giai đoạn 2014-2020
Đối tượng của nghiên cứu là công tác Marketing của Công Ty Cổ Phần Pin Ắc Quy Miền Nam cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín
4 Phương pháp nguyên cứu
Việc nghiên cứu và đánh giá các vấn đề trong đề tài chủ yếu dựa vào các cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu như sau:
-Vận dụng cơ sở lý thuyết về phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị và lý thuyết Marketing Mix để tổng hợp, phân tích đánh giá thực trạng công tác Marketing tại công ty Pinaco cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín
- Sử dụng phương pháp định tính thông qua khảo sát tay đôi với Ban Lãnh Đạo công
ty Pinaco để tìm hiểu định hướng, chiến lược Marketing chung công ty Pinaco cũng như định hướng, chiến lược Marketing đối với sản phẩm ắc quy gắn kín
Trang 12Chuyên gia trong bài khảo sát là Chị Nguyễn Bảo Hạnh, Phó Tổng Giám Đốc phụ trách kinh doanh đồng thời là Trưởng phòng Tiêu Thụ Thị Trường, là người chịu trách nhiệm trong việc đề ra định hướng phát triển, mục tiêu và các công tác Marketing cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín tại công ty Pinaco Bản câu hỏi khảo sát ở dạng mở để phỏng vấn sâu các vấn đề Marketing của công ty cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín Nghiên cứu còn sử dụng phương pháp xử lý thống kê thông qua khảo sát người tiêu dùng để đánh giá thực trạng công tác Marketing tại công ty Pinaco cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín
Bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm (từ 1- là hoàn toàn không đồng ý đến 5- là hoàn toàn đồng ý) Số lượng bản khảo sát gửi đi là 120 bản, số lượng thu về là 112 bản Đối tượng được khảo sát là khách hàng mua sản phẩm ắc quy tại các cửa hàng, đại
lý, nhà phân phối bán sản phẩm ắc quy gắn máy tại Thành phố Hồ Chí Minh
Từ thực trạng công tác Marketing tại công ty Pinaco cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín, vận dụng lý thuyết về phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị, Marketing Mix và kinh nghiệm thực tế để đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Marketing tại công ty Pinaco
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Vận dụng lý thuyết về Marketing để giải quyết một vấn đề thực tiễn Cụ thể phân tích thực trạng công tác Marketing từ đó xác định những yếu kém nhằm đưa ra những giải pháp Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị của công ty Pinaco trong việc đánh giá, hoàn thiện công tác Marketing cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín giai đoạn 2014-2020
Trang 13Chương 1- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING
1.1 Khái niệm về Marketing
Có nhiều khái niệm về Marketing, tùy theo quan điểm, góc độ nhìn nhận mà giữa các định nghĩa có sự khác nhau nhất định
Khái niệm Marketing của hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, 2008:“ Marketing là toàn bộ hoạt động kinh doanh nhằm hướng các luồng hàng hóa và dịch vụ mà người cung ứng đưa ra về phía người tiêu dùng và người sử dụng.”
Khái niệm này chịu ảnh hưởng của tư tưởng marketing truyền thống, nhấn mạnh khâu phân phối, lưu thông hàng hóa Tức là nỗ lực nhằm bán cái đã sản xuất, chưa thể hiện được tư tưởng làm sao có thể sản xuất ra một sản phẩm có thể bán được
Theo khái niệm của Kotler thì Marketing là tiến trình qua đó cá nhân và tổ chức
có thể đạt được nhu cầu và ước muốn thông qua việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm giữa các bên (Kotler, 2011)
Khái niệm này được trình bày dưới dạng triết lý, phương châm con người Giải thích cụ thể gốc rễ của Marketing là xuất phát từ nhu cầu và mong muốn của con người, bản chất của Marketing là trao đổi giá trị
Như vậy Marketing là hoạt động của doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu, mong muốn của người tiêu dùng và tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng
1.2 Vai trò của Marketing
Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện, đáp ứng và làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Marketing giúp thấy rõ hướng đi trong tương lai để đạt được mục tiêu cụ thể nhất định, nhận biết các cơ hội và nguy cơ thông qua thông tin đầy đủ từ sự phản hồi của khách hàng để kịp thời bổ sung, cải
Trang 14tiến, nâng cao các đặc tính sử dụng sản phẩm làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Đồng thời xác định chính xác các mục tiêu sinh lợi, tạo thế lực và đảm bảo an toàn trong kinh doanh, hướng tới tiết kiệm chi phí bằng cách tăng lợi nhuận Để đạt hiệu quả tối ưu, Marketing đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả mọi người trong tổ chức (Kotler, 2011)
Thập niên đầu niên của thế kỷ 21 tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp
Đó không chỉ là thách thức để trở nên thịnh vượng về khía cạnh tài chính, mà còn
để tồn tại trong môi trường kinh doanh khốc liệt Tiếp thị đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định các thách thức này Tài chính, sản xuất, kế toán và các phòng ban chức năng khác sẽ không thực sự có ý nghĩa nếu thiếu nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ Nói cách khác, thành công về tài chính phụ thuộc vào khả năng của Marketing (Kotler, 2011)
Vai trò quan trọng của Marketing còn mở rộng sang phạm vi xã hội nói chung Marketing giúp giới thiệu các sản phẩm mới và khiến cho các sản phẩm đó dành được sự chấp thuận của người tiêu dùng Nó cũng có thể tạo cảm hứng cho việc gia tăng các sản phẩm hiện hữu nhờ nỗ lực sáng tạo của các chuyên gia Marketing đối với việc nâng cao vị thế của các sản phẩm đó trên thương trường Một chiến dịch tiếp thị thành công tạo ra nhu cầu cho sản phẩm, dịch vụ và đến lượt mình, các sản phẩm và dịch vụ này sẽ tạo ra công ăn việc làm cho con người Bằng việc đóng góp vào nguồn doanh thu, một chiến dịch Marketing thành công còn cho phép doanh nghiệp tham gia các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội (Kotler, 2011)
Các giám đốc Marketing đều nhận biết vai trò của tiếp thị trong việc xây dựng một thương hiệu mạnh cùng một cơ sở khách hàng trung thành – một tài sản vô hình góp phần tạo nên giá trị cho doanh nghiệp Các nhà sản xuất tiêu dùng và công
ty bảo hiểm sức khỏe, các tổ chức phi lợi nhuận cũng như nhà sản xuất sản phẩm công nghiệp đều ca vang điệp khúc về những thành quả Marketing của mình Nhiều doanh nghiệp trong đó tuyển dụng các giám đốc tiếp thị và đặt họ ngang hàng với
Trang 15các chuyên gia điều hành khác như giám đốc tài chính hay giám đốc thông tin (Kotler, 2011)
1.3 Nội dung công tác Marketing
1.3.1 Môi trường Marketing
1.3.1.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là tổng hợp những yếu tố bên ngoài tác động đến các yếu tố
vi mô của doanh nghiệp Đó là các yếu tố như nhân khẩu học, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính trị - pháp luật và văn hóa Sự tương tác của các yếu tố trên sẽ dẫn đến nhiều cơ hội cũng như nguy cơ mới Chẳng hạn, sự tăng trưởng dân số (nhân khẩu học) sẽ dẫn đến sự suy kiệt về nguồn lực và ô nhiễm môi trường tự nhiên – điều sẽ kiến người tiêu dùng phải áp dụng các quy định pháp luật (chính trị - pháp luật), kích thích các giải pháp công nghệ mới và các sản phẩm (công nghệ) nhằm đảm bảo rằng nếu khả thi (kinh tế) cũng có thể thay đổi thái độ và hành vi (văn hóa) (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)
Nhân khẩu học
Môi trường dân số bao gồm các yếu tố như quy mô dân số, mật độ dân số, tuổi tác, giới tính, chủng tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp… đó là các khía cạnh được người làm Marketing quan tâm nhiều nhất bởi liên quan trực tiếp đến con người và con người cũng là tác nhân tạo ra thị trường Những biến động về dân số có thể làm thay đổi về mặt lượng của thị trường (tăng hoặc giảm quy mô dân số sẽ dẫn đến tăng hoặc giảm quy mô thị trường) đồng thời cũng cũng ảnh hưởng trực tiếp, làm thay đổi vể mặt chất của thị trường Việt Nam có dân số rất trẻ cùng với mức tăng trưởng dân số cao và dân số chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị nên ảnh hưởng đến hoạt động Marketing nếu như doanh nghiệp có sản phẩm tiêu thụ chủ yếu là ở thành thị và người tiêu dùng chủ yếu là người có độ tuổi trẻ (Kotler, 2011)
Kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố tác động đến khả năng chi tiêu của khách hàng Việc hiểu rõ thị trường không chỉ biết rõ về yếu tố mong muốn của con
Trang 16người mà còn phải nắm được khả năng chi tiêu của họ Khả năng này ngoài việc phụ thuộc vào nhu cầu và giá cả còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế, mức thu nhập của người dân, nhu cầu tiết kiệm và các điều kiện tài chính – tín dụng Do đó các nhà Marketing phải nhận biết được các xu hướng chính về thu nhập trong dân chúng và những thay đổi về chi tiêu của các nhóm dân chúng khác biệt (Kotler, 2011)
Tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên được xem là những nhân tố đầu vào cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp và còn có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp Một số xu hướng của môi trường tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động Marketing của một doanh nghiệp như sự khan hiếm của nguồn nguyên vật liệu, sự gia tăng chi phí năng lượng làm tăng chi phí hoạt động sản xuất của doanh nghiệp đồng thời làm tăng chi phí sinh hoạt, sử dụng sản phẩm - dịch vụ của người tiêu dùng làm tình trạng ô nhiễm môi trường tăng lên Điều này ảnh hưởng to lớn đến hoạt động của doanh nghiệp và ý thức sinh hoạt, tiêu dùng của dân chúng (Smith et al, 1991)
Đặc thù địa lý của mỗi địa phương, quốc gia mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cũng tác động rất lớn đến hoạt động phân phối, đặc biệt là với các quốc gia khoảng cách giữa nơi sản xuất và tiêu thụ là lớn làm tăng chi phí vận chuyển, phân phối hàng hóa cũng như tăng các chi phí Marketing khác (Smith et al, 1991)
Đặc điểm khí hậu của mỗi quốc gia, vùng miền cũng có những tác động đến hoạt động Marketing, chẳng hạn với các quốc gia ở vùng nhiệt đới, nóng ẩm và mưa nhiều sẽ ảnh hưởng tới công tác bảo quản sản phẩm và ảnh hưởng chất lượng sản phẩm (Smith et al, 1991)
Công nghệ
Việc áp dụng công nghiệp giúp cho doanh nghiệp tạo ra sản phẩm mới và làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường Tiến bộ khoa học kỹ thuật tác động đến thị trường ở nhiều mặt như làm thay đổi căn bản hay xóa bỏ hoàn toàn sản phẩm hiện
Trang 17hữu, kích thích sự phát triển những sản phẩm mới Ví dụ như sự phát triển công nghệ giúp tạo ra sản phẩm mới, ngành nghề mới, sự phát triển của máy vi tính dẫn đến sự phát triển các dịch vụ mạng, công nghệ phần mềm (Đinh Tiên Minh, 2014)
Sự phát triển công nghệ làm chu kỳ sống sản phẩm bị rút ngắn lại Sự ra đời ngày càng nhiều với tốc độ ngày càng cao các sản phẩm mới ưu việt hơn thay thế các sản phẩm hiện hữu trên thị trường (Đinh Tiên Minh, 2014)
Với sự phát triển Internet tác động rất lớn đến công tác Marketing của các doanh nghiệp Các nhà Marketing có thể sử dụng web, thư điện tử và các phương tiện truyền thông để xây dựng hình ảnh thương hiệu trực tuyến và gia tăng hệ thống bán hàng cả trực tuyến và ngoại tuyến
Chính trị - Pháp luật
Môi trường này được hình thành từ cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền, các nhóm áp lực (ví dụ Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng) và từ hệ thống pháp luật của quốc gia đó Các lực lượng này điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng khuôn khổ cho phép của pháp luật Môi trường chính trị - pháp luật có ba chức năng chủ yếu, thứ nhất là bảo vệ lợi ích các công ty trong quan hệ với nhau, bảo vệ người tiêu dùng tránh được các kinh doanh gian dối của doanh nghiệp, thứ ba là bảo
vệ lợi ích rộng lớn của xã hội tránh khỏi các hành vi kinh doanh sai lệch (Đinh Tiên Minh, 2011)
Văn hóa
Những đặc trưng về môi trường văn hóa – xã hội sẽ có tác động nhất định đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp Các giá trị văn hóa được hình thành, tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử của một dân tộc, hay một quốc gia và là nền tảng của niềm tin và giá trị cuộc sống của mỗi người Do đó nó thường rất bền vững và khó thay đổi Con người sinh ra và lớn lên trong một xã hội cụ thể; do đó những niềm tin, nhận thức về các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, hành vi của con người bị ảnh hưởng từ xã hội, từ nền văn hóa mà họ đang sinh sống Vì vậy để tiếp cận, gia nhập một thị trường, các nhà Marketing phải thấu hiểu được nền văn hóa riêng biệt ở nơi
Trang 18đó, tránh những hành vi, những thông điệp, thậm chí những sản phẩm dịch vụ không tương thích với các giá trị văn hóa ở đó Ngoài ra tính đặc thù của các nền văn hóa khác biệt đôi khi còn giúp sản phẩm của doanh nghiệp xâm nhập tốt hơn vào thị trường đó (Kotler, 2011)
1.3.1.2 Môi trường vi mô
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố sau: nội bộ doanh nghiệp, nhà cung ứng, đối thủ cạnh tranh, khách hàng và công chúng (Kotler, 2011)
Nội bộ doanh nghiệp
Trong việc thiết kế một kế hoạch Marketing cho doanh nghiệp, bộ phận Marketing chịu sự lãnh đạo từ Ban giám đốc đồng thời phải hợp tác với những bộ phận khác trong doanh nghiệp như bộ phận nghiên cứu và phát triển, vật tư, sản xuất, tài chính và kế toán Tất cả các bộ phận liên quan này hình thành nên môi trường nội tại của doanh nghiệp
Ban giám đốc công ty là người thiết lập nên những nhiệm vụ, những mục tiêu chung, chiến lược tổng thể cho doanh nghiệp Các chương trình công tác Marketing trước hết phải được thông qua bởi ban giám đốc trước khi thực hiện Hay như bộ phận tài chính là người tìm kiếm và cung cấp nguồn tài chính để thực hiện các chương trình Marketing Bộ phận nghiên cứu phát triển tập trung vào việc thiết kế
và tạo ra những sản phẩm có tính năng thu hút và tương thích với nhu cầu mong muốn từ thị trường Bộ phận mua hàng có trách nhiệm tìm kiếm nguồn cung ứng và nguồn nguyên vật liệu thích hợp Bộ phận sản xuất có trách nhiệm tạo ra sản phẩm đúng số lượng và chất lượng Tất cả các hoạt động của các bộ phận, phòng ban khác nhau trong công ty cùng tác động đến kế hoạch và hành động Marketing của doanh nghiệp đó (Smith et al, 1991)
Nhà cung ứng
Là các cá nhân hoặc tổ chức cung cấp các nguồn lực (có thể là sản phẩm, dịch
vụ, nguyên liệu, nhiên liệu và nguồn nhân lực) cần thiết cho hoạt động của doanh
Trang 19nghiệp Sự tăng giá hay khan hiếm các nguồn lực này trên thị trường có thể ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động Marketing của doanh nghiệp (Kotler, 2011) Các nhà cung ứng đảm bảo nguồn lực cần thiết cho doanh nghiệp trong việc sản xuất kinh doanh sản phẩm Các nhà quản trị Marketing cần phải nắm bắt được khả năng của các nhà cung ứng cả về chất lẫn lượng Sự thiếu hụt hay chậm trễ về lượng cung ứng, không đảm bảo chất lượng đầu vào hoặc sự tăng giá từ phía nhà cung cấp cũng gây khó khăn cho các hoạt động Marketing (Kotler, 2011)
Các trung gian Marketing
Các trung gian Marketing có trách nhiệm giúp doanh nghiệp truyền thông, bán
và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng Đó là các trung gian phân phối, công ty cung ứng dịch vụ Marketing như quảng cáo, nghiên cứu thị trường, các cơ sở vật chất phục vụ phân phối hay các tổ chức tài chính (Kotler, 2011)
Trung gian phân phối là các doanh nghiệp hoặc cá nhân mà hoạt động của họ hỗ trợ các nhà sản xuất trong việc tìm kiếm khách hàng, tiêu thụ sản phẩm Họ có thể
là các nhà bán buôn, bán lẻ, đại lý và mô giới Các trung gian này sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi về địa điểm, thời gian và sự am hiểu khách hàng, giúp cho quá trình tiêu thụ sản phẩm trở nên nhanh chóng và tiết kiệm chi phí hơn (Kotler, 2011)
Tổ chức cung cấp dịch vụ lưu thông sản phẩm giúp các trung gian phân phối dự trữ sản phẩm và vận chuyển chúng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Đây là các doanh nghiệp chuyên hoạt động trong các lĩnh vực như kho bãi, vận tải (Kotler, 2011)
Tổ chức cung cấp dịch vụ Marketing bao gồm các công ty nghiên cứu thị trường, quảng cáo, tư vấn Hoạt động của họ giúp cho các doanh nghiệp định hướng chính xác hơn về nhu cầu, mong muốn của khách hàng và định vị tốt sản phẩm của
họ trên thị trường (Kotler, 2011)
Tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính – tín dụng bao gồm các ngân hàng, các công
ty tài chính, các công ty bảo hiểm Họ cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp thực
Trang 20hiện sản xuất và lưu thông sản phẩm Việc tăng cường hay thu hẹp khả năng tín dụng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Marketing của doanh nghiệp (Kotler, 2011)
Khách hàng
Khách hàng là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp và là nhân tố tạo nên thị trường Do đó doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ khách hàng của mình Nhìn chung có các dạng khách hàng như sau: người tiêu dùng là những cá nhân, hộ gia đình mua sản phẩm cho mục đích cá nhân và gia đình; người tiêu dùng là nhà sản xuất mua sản phẩm với mục đích sản xuất cho hoạt động của mình và người tiêu dùng là các trung gian phân phối, là các tổ chức hay cá nhân mua sản phẩm với mục đích bán lại kiếm lời Khách hàng cũng có thể là các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp phi lợi nhuận mua sản phẩm để sử dụng trong cơ quan công quyền hoặc
chuyển giao cho những người cần đến nó với mục đích xã hội (Porter, 1998)
Đối thủ cạnh tranh
Là những công ty hoạt động trong cùng ngành nghề của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phân tích đối thủ cạnh tranh của mình để hiểu rõ thực lực, khả năng phản kháng, mục tiêu tài chính, mục tiêu kinh doanh cũng như dự đoán công tác Marketing của đối thủ để từ đó đưa ra công tác Marketing thích hợp cho doanh nghiệp mình Mỗi khi đối thủ cạnh tranh thay đổi chiến lược sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp như chiến lược quảng cáo, định vị, chiến lược phân phối, chiến lược giá (Porter, 1998)
Công chúng
Công chúng là bất kỳ nhóm nào quan tâm thực sự hay sẽ quan tâm đến doanh nghiệp và có ảnh hưởng đến khả năng đạt tới những mục tiêu của doanh nghiệp Công chúng có thể hỗ trợ hoặc chống lại những nỗ lực của công ty Công chúng bao gồm giới tài chính, giới truyền thông, giới công quyền, giới địa phương, các tổ chức
xã hội, công chúng rộng rãi và công chúng nội bộ (Porter, 1998)
Trang 211.3.2 Phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu
1.3.2.1 Phân khúc thị trường
Phân khúc thị trường là một quá trình tập hợp các cá nhân hoặc các doanh nghiệp có những đặc điểm tương tự nhau liên quan đến việc sử dụng, hoặc lợi ích của một sản phẩm hay dịch vụ Kết quả của việc phân khúc thị trường là những nhóm khách hàng, được gọi là mảng thị trường Ở đây sử dụng cụm từ “những nhóm” theo nghĩa rộng Nói về kích thước của mảng thị trường thì thực sự đa dạng,
nó có thể có bất kì kích thước nào, thậm chí từ một người đến hàng triệu người (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)
Cơ sở phân khúc thị trường là một tập các biến hay các đặc tính được sử dụng
để phân nhóm khách hàng thành các nhóm có tính đồng nhất cao Các tiêu thức để phân khúc thị trường là phân khúc thị trường theo địa lý, nhân khẩu học, tâm lý, hành vi, thị trường doanh nghiệp (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)
Phân khúc thị trường theo đặc điểm địa lý
Thị trường được chia cắt theo các biến số như vùng miền và khu vực địa lý (Miền Nam, Miền Bắc, vùng ven, trung tâm; châu Âu, châu Á…), vùng khí hậu (nhiệt đới, hàn đới, xích đạo…), mật độ dân cư (số người/km2…)
Yếu tố địa lý gắn liền với văn hóa, thói quen, hành vi khách hàng, mức thu nhập trung bình, điều kiện kinh tế… Cách phân loại này thuận lợi cho việc quản lý của doanh nghiệp – quản lý theo vùng (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)
Phân khúc thị trường theo nhân khẩu học
Phân khúc thị trường theo nhân khẩu là phân chia khách hàng thành các nhóm căn cứ vào giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, quy mô gia đình, tình trạng hôn nhân, thu nhập, giai tầng xã hội… Những căn cứ này tương đối dễ đo lường do tính định lượng của nó, mặt khác các thông tin này còn được sử dụng
Trang 22trong giai đoạn phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)
Tùy vào từng loại hình sản phẩm, dịch vụ có thể sử dụng các tiêu chí này làm
cơ sở phân khúc thị trường, hoặc kết hợp nhiều yếu tố trong nhân khẩu học để đưa
ra những phân khúc thị trường hợp lý
Phân khúc thị trường theo tâm lý học
Khi phân khúc theo tâm lý học, người tiêu dùng được phân thành các nhóm theo đặc điểm như giai tầng xã hội (thượng lưu, trung lưu, hạ lưu), lối sống (cổ điển, hiện đại, hướng ngoại, hướng nội), nhân cách (phóng khoáng, dè dặt, điềm tĩnh, nóng nảy…) Tâm lý là cơ sở chính khi phân khúc thị trường những sản phẩm tiêu dùng gắn với cá nhân (mang tính thời trang, nhạy cảm, thể hiện cá tính người mua), ví dụ như điện thoại, quần áo, thể thao, âm nhạc…(Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)
Yếu tố tâm lý thường được chọn làm tiêu chí phân khúc thị trường đi kèm với các yếu tố về địa lý, nhân khẩu học
Phân khúc theo đặc điểm hành vi
Thị trường tiêu dùng sẽ được phân chia thành các nhóm đồng nhất về các đặc tính Có thể phân khúc thị trường dựa vào lý do mua, ví dụ mua cho nhu cầu cá nhân, cho gia đình, nhu cầu công việc, nhu cầu giao tiếp Hoặc phân khúc dựa vào lợi ích sản phẩm hay dựa vào số lượng và tỷ lệ tiêu dùng, ví dụ thị trường được phân thành dùng ít, dùng nhiều, dùng thường xuyên, dùng vừa phải hay dựa vào mức độ trung thành với nhãn hiệu (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)
Thông thường doanh nghiệp hay dùng nhiều tiêu chí phân khúc để đưa ra những căn cứ phân khúc một cách hợp lý nhất bởi mỗi một căn cứ phân khúc đều có liên quan đến nhau và khi tách biệt thì mỗi căn cứ đều có những ưu nhược điểm nhất định
Trang 23 Phân khúc thị trường doanh nghiệp
Phân khúc thị trường doanh nghiệp là quá trình phân khúc khi khách hàng là doanh nghiệp, là tổ chức chứ không phải người tiêu dùng Phân khúc thị trường doanh nghiệp có thể phân khúc dựa vào địa lý, tâm lý, quy mô công ty, loại hình, ngành kinh doanh… hoặc có thể phân khúc dựa vào những lợi ích mà doanh nghiệp tìm kiếm, cách sử dụng sản phẩm, mức độ sử dụng sản phẩm và mức độ trung thành Thị trường doanh nghiệp bao gồm thị trường doanh nghiệp và thị trường chính phủ (Đinh Tiên Minh, 2014)
Thị trường doanh nghiệp
Thị trường doanh nghiệp liên quan đến việc Marketing sản phẩm tới các đối tác
là doanh nghiệp Các doanh nghiệp bán hàng hóa và dịch vụ cho doanh nghiệp thường phải đối mặt với người mua chuyên nghiệp, những người nắm bắt rõ nguồn thông tin và biết đánh giá các đề xuất cạnh tranh Các chuyên gia Marketing cần thể hiện cách thức mà sản phẩm của họ sẽ giúp đạt được mức sinh lợi nhuận cao hay chi phí thấp Quảng cáo có thể đóng vai trò quan trọng nhưng nguồn lực bán hàng, giá cả và danh tiếng của công ty cũng là những yếu tố quan trọng (Đinh Tiên Minh, 2014)
Thị trường chính phủ
Các doanh nghiệp - những thực thể bán cho các tổ chức phi chính phủ với quyền lực mua sắm giới hạn, chẳng hạn nhà thờ, trường đại học, các tổ chức từ thiện hay các đại diện chính phủ - cần định giá cẩn thận Giá bán thấp tác động đến đặc điểm và chất lượng mà người bán có thể thiết lập khi đề xuất Việc mua bán của chính phủ có thể diễn ra dưới hình thức đấu thầu, và người mua thường hướng trọng tâm vào các giải pháp thực tiễn và tỏ ra ưa chuộng giá đấu thầu thấp (Đinh Tiên Minh, 2014)
Trang 24Bảng 1.1 Các tiêu thức phân khúc khách hàng doanh nghiệp
Địa điểm công ty Miền Bắc, Trung, Nam, khu vực quốc tế…
Quy mô công ty Nhỏ, trung bình, lớn so với tương đối ngành
Loại hình tổ chức Nhà sản xuất, bán sỉ, bán lẻ, cơ quan nhà nước
Mức độ sử dụng Ít, trung bình, nhiều
Mức độ mua hàng Thỉnh thoảng, thường xuyên…
Trình độ công nghệ Hiện đại, trung bình, kém
Ứng dụng sản phẩm Bảo trì, sản xuất, bán thành phẩm
Tính trung thành Không trung thành, tí, vừa, rất trung thành
Tiêu chí mua hàng Chất lượng, giá cả, dịch vụ, chiết khấu cao…
(Nguồn: Bonoma, T.V & Shapiro, B.P, 1983 Segmenting the Industrial Market,
Lexington, Massachusetts: Lexington Books) Việc phân khúc thị trường thường được tiến hành qua các bước sau: xác định thị trường kinh doanh, xác định tiêu thức để phân khúc thị trường và tiến hành phân khúc thị trường bằng các tiêu thức đã chọn (Kotler, 2007)
Bước 1: Xác định thị trường kinh doanh
Xác định thị trường kinh doanh mà doanh nghiệp muốn hướng tới Thị trường này sẽ bao gồm các khách hàng không đồng nhất
Bước 2: Xác định tiêu thức để phân khúc thị trường
Tìm ra các tiêu thức để phân khúc thị trường vốn không đồng nhất thành nhóm các khách hàng đồng nhất
Bước 3: Tiến hành phân khúc thị trường
Với các tiêu thức đã chọn, doanh nghiệp sẽ tiến hành phân khúc thị trường, sau khi tiến hành phân khúc thị trường, doanh nghiệp sẽ các các khúc thị trường khác nhau cả về quy mô lẫn về lượng Một số doanh nghiệp sử dụng các tiêu thức khác như khả năng tiếp cận, lợi nhuận và tăng trưởng để tiến hành phân khúc thị trường
Trang 251.3.2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu là một hoặc một vài khúc thị trường được doanh nghiệp lựa chọn và tập trung nỗ lực nhằm thỏa mãn nhu cầu – ước muốn của khách hàng trên thị trường đó, có khả năng cạnh tranh và đạt mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp Sau khi đã phân khúc thị trường thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn thị trường mục tiêu cho mình dựa trên các yếu tố như đánh giá sức hấp dẫn của mỗi phân khúc thị trường, lựa chọn số lượng khúc thị trường làm thị trường mục tiêu
Đánh giá sức hấp dẫn của mỗi khúc thị trường mục tiêu
Sức hấp dẫn của mỗi khúc thị trường mục tiêu được đo bằng những cơ hội và rủi
ro trong kinh doanh; năng lực cạnh tranh và khả năng thực hiện mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp trên phân khúc đó
Khi đánh giá các phân khúc thị trường mục tiêu người ta thường dựa vào 3 tiêu chuẩn cơ bản sau: quy mô và tăng trưởng của khúc thị trường, mức độ hấp dẫn của khúc thị trường; mục tiêu và các nguồn lực của doanh nghiệp (Kotler, 2011)
Quy mô và tăng trưởng của khúc thị trường
Là tiêu chuẩn đầu tiên khi đánh giá cơ hội và rủi ro thị trường Quy mô và mức tăng trưởng giúp doanh nghiệp tìm được những phân khúc có quy mô và tốc độ tăng trưởng vừa sức
Đối với thị trường quy mô lớn thì tiềm ẩn cơ hội thu lợi nhuận cao do tận dụng được lợi thế theo quy mô và ảnh hưởng của đám đông (quy mô càng lớn ảnh hưởng của khuynh hướng đám đông càng lớn), thích hợp với các công ty có tiềm lực lớn Nhưng cũng có tiềm ẩn rủi ro là chiếc bánh ngon thường thu hút nhiều đối thủ cạnh tranh lớn, có tiềm lực mạnh (Kotler, 2007)
Đối với thị trường quy mô nhỏ là khúc thị trường mà các đối thủ cạnh tranh đã
bỏ qua hoặc bỏ sót Với quy mô thị trường này đòi hỏi sản phẩm có tính chất đặc thù nhất định do nhóm người tiêu dùng có nhu cầu tương đối đặc biệt Thị trường
Trang 26quy mô nhỏ tiềm ẩn cơ hội thu lợi nhuận siêu ngạch nếu doanh nghiệp đáp ứng được các nhu cầu của thị trường (Kotler, 2007)
Với tốc độ tăng trưởng cao thì hứa hẹn tiềm năng phát triển cao do nhu cầu rất
đa dạng và liên tục thay đổi tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp xuất hiện sớm trên thị trường khi thị trường chưa phân chia cho các doanh nghiệp khác và nhu cầu chưa được đáp ứng ở mức cao Ngược lại cũng mang đến rủi ro cao trong kinh doanh do tốc độ tăng trưởng của thị trường này quá cao nếu doanh nghiệp không kịp thay đổi để đáp ứng với sự thay đổi trong nhu cầu (Kotler, 2007)
Khi thị trường tăng trưởng ổn định thì có đặc điểm là khả năng sinh lời ổn định nhưng thấp và là dấu hiệu cho sự phát triển dài hạn Những thông tin giúp dự báo quy mô và tốc độ tăng trưởng thị trường là doanh số, sự biến đổi doanh số theo thời gian, lợi nhuận, những biến đổi lợi nhuận theo thời gian và những yếu tố gây ra sự biến đổi của thị trường, của cầu thị trường trong tương lai (xu hướng, lối sống, môi trường kinh tế, chính trị…).(Kotler, 2007)
Phân tích mức độ hấp dẫn của khúc thị trường
Một khúc thị trường có qui mô và mức tăng trưởng mong muốn nhưng có thể lại thiếu tiềm năng sinh lời Michael Porter đã đưa ra mô hình 5 áp lực quyết định mức độ hấp dẫn nội tại về lợi nhuận lâu dài của một thị trường hay khúc thị trường
Mô hình 5 áp lực của Michael Porter đưa ra năm lực lượng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời lâu dài, đó là các đối thủ cạnh tranh trong ngành, đối thủ tiềm năng gia nhập ngành, khách hàng, nhà cung cấp và sản phẩm dịch vụ thay thế (Porter, 1998)
Mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp
Ngay cả khi một khúc thị trường lớn đang tăng trưởng và hấp dẫn về cơ cấu, doanh nghiệp vẫn cần xem xét những mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp so với khúc thị trường đó Một số khúc thị trường hấp dẫn vẫn có thể bị loại bỏ bởi chúng không phù hợp với mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp Ngay cả khi khúc thị trường là phù hợp với những mục tiêu của mình, doanh nghiệp vẫn phải xem xét có
Trang 27đủ khả năng thỏa mãn được những đòi hỏi của khác hàng về số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ khách hàng, giá cả phù hợp và có đủ nguồn lực về vốn, công nghệ, tay nghề, bí quyết và khả năng phân phối để thành công trong khúc thị trường
đó hay không Doanh nghiệp chỉ nên xâm nhập những khúc thị trường nào mà mình
có thể cung ứng giá trị lớn hơn (Porter, 1998)
Lựa chọn thị trường mục tiêu
Việc đánh giá các khúc thị trường khác nhau dựa trên các yếu tố trên sẽ giúp doanh nghiệp thấy được đâu là những khúc thị trường hấp dẫn với doanh nghiệp Công việc kế tiếp là doanh nghiệp sẽ xác định đâu là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp để có thể tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường và có thể tận dụng hiệu quả các nguồn lực Marketing của doanh nghiệp (Porter, 1998)
1.3.3 Định vị
Theo Philip Kotler thì định vị là thiết kế cho sản phẩm và doanh nghiệp hình ảnh làm thế nào để chiếm giữ một vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí khách hàng mục tiêu (Kotler, 2007) Như vậy khi triển khai một chiến lược định vị, doanh nghiệp cần phải xác định cho sản phẩm và doanh nghiệp một vị trí trên thị trường mục tiêu để chiếm giữ một vị trí đặc biệt và có ý nghĩa trong tâm trí khách hàng Định vị nhằm nỗ lực đem lại cho sản phẩm một hình ảnh riêng biệt và đi vào nhận thức khách hàng Đó là điều đầu tiên khách hàng liên tưởng đến khi đối diện với sản phẩm của doanh nghiệp, là những lợi ích sản phẩm được chọn làm cốt lõi cho chiến lược và là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra các công tác Marketing Mix và phối hợp chúng với nhau (Kotler, 2007)
Một định vị mạnh mẽ tạo ra cho sản phẩm/thương hiệu một bản sắc, một điểm khác biệt để khách hàng nhận biết và có khả năng thu hút họ trong đám đông của sản phẩm cạnh tranh Định vị phải tìm ra và dựa vào lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra sự khác biệt nhằm thu hút và giữ chân khách hàng Định vị nhằm khắc phục tình trạng cạnh tranh ngày càng phức tạp do hàng hóa ngày càng đa dạng,
Trang 28hình thức cạnh tranh phong phú, người tiêu dùng dễ bị nhiễu thông tin, khó nhận biết sự khác biệt của sản phẩm trên thị trường
Cơ sở để đưa ra các chiến lược trong hoạt động Marketing Mix một cách thống nhất, đồng bộ, hiệu quả là dựa trên thị trường, mục tiêu và định vị
Để định vị doanh nghiệp cần làm rõ 3 vấn đề là:
- Khách hàng đánh giá thế nào về sản phẩm
- Đặc tính nào của sản phẩm được khách hàng ưa chuộng
- Công ty có lợi thế gì trong việc tạo ra và cung cấp các sản phẩm có đặc tính
Lựa chọn một định vị giá trị cho thị trường mục tiêu
Lựa chọn một định vị giá trị cho thị trường mục tiêu là tạo sự khác biệt cho sản phẩm/thương hiệu Điểm khác biệt là đặc tính, tính cách riêng của sản phẩm/thương hiệu hoặc tạo ra được ấn tượng đặc biệt và tích cực với khách hàng như gây ra sự chú ý, gia tăng sự nhận biết, thúc đẩy hành động (Kotler, 2007)
Có bốn công cụ gây ra sự khác biệt trong việc lựa chọn một định vị giá trị cho thị trường mục tiêu Thứ nhất là tạo sự khác biệt cho sản phẩm vật chất, áp dụng khi
có công nghệ đặc biệt hoặc là lợi thế cạnh tranh mà đối thủ cạnh tranh không có được Thứ hai là tạo sự khác biệt bằng dịch vụ, áp dụng khi các sản phẩm có tính đồng nhất, sản phẩm ít có sự biến đổi, chỉ có cạnh tranh về dịch vụ Thứ ba là khác biệt về nhân sự, tạo ra sự khác biệt về thái độ phục vụ, khả năng giao tiếp, phong
Trang 29cách, kiến thức về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Cuối cùng là tạo sự khác biệt về hình ảnh, tạo sự khác biệt về tên gọi, bầu không khí, sự kiện…(Kotler, 2007)
Lựa chọn và khuếch trương các điểm khác biệt có ý nghĩa
Truyền thông góp phần quan trọng trong việc tạo dựng và khắc họa những liên tưởng về giá trị mà doanh nghiệp muốn định vị trong tâm trí khách hàng Không có truyền thông, thông tin về định vị không được truyền tải đến công chúng
Những vấn đề cơ bản của truyền thông là:
- Chọn ra một hình ảnh nổi bật nhất, dễ gây ấn tượng tới khách hàng nhất để làm hình ảnh cho quảng bá
- Nội dung và các hình thức truyền thông phải thể hiện tính nhất quán cao
- Lựa chọn công cụ truyền thông thích hợp và phối hợp chúng có hiệu quả
Người làm Marketing có thể nhiều chiến lược định vị khác nhau Không có
doanh nghiệp nào tốt về mọi thứ Trước hết, nguồn tài nguyên chính của doanh nghiệp là có hạn và họ cần phải quyết định sẽ phải tập trung vào đâu Thứ hai là khi lựa chọn sẽ làm tốt ở mặt này có thể làm giảm khả năng làm tốt ở mặt khác Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp lựa chọn sản xuất đại trà một sản phẩm tiêu chuẩn để có giá thành thấp nhất thì doanh nghiệp sẽ không thể tự do để đáp ứng nhiều yêu cầu của khách hàng về sự bổ sung điều chỉnh mặt hàng
Doanh nghiệp phải đưa ra một định vị cụ thể cho sản phẩm của mình Ví dụ như bột giặt Tide được định vị “trắng như Tide”, định vị dựa trên một thuộc tính của sản phẩm Hay kem đánh răng Colgate được định vị “ngừa sâu răng”, định vị dựa trên lợi ích của sản phẩm đem lại cho khách hàng Một định vị khác dựa trên tầng lớp người sử dụng, ví dụ như xe máy dành cho người thu nhập cao, trung bình và thấp
Trang 30Bảng 1.2 Lựa chọn các chiến lược định vị
Dẫn đầu về đổi mới
Sáng tạo nhất trong áp dụng công nghệ mới
Dẫn đầu về mối quan hệ
Gắn liền sự thành công với khách hàng
(Nguồn: Kotler, 2011, Marketing management, 14 edition, Prentice Hall)
Cuối cùng doanh nghiệp chọn một định vị giá trị cho sản phẩm của mình Có năm chiến lược định vị giá trị mà doanh nghiệp có thể theo đuổi là tốt hơn- giá đắt hơn, tốt hơn nhưng giá không đổi, sản phẩm không đổi nhưng giá rẻ hơn, kém hơn nhưng giá rẻ hơn nhiều và tốt hơn nhưng giá rẻ hơn
Tốt hơn và giá đắt hơn
Định vị giá trị này thường được các doanh nghiệp chuyên làm các mặt hàng rất cao cấp rồi bán lại với giá cao để bù vào các chi phí đã bỏ ra Đó là các mặt hàng được gọi xa xỉ phẩm, được coi là tốt hơn về chất lượng, đòi hỏi tay nghề tinh xảo, bền lâu, hoạt động tốt hay có tính thời thượng Những sản phẩm như xe Mercedes, bút máy Mont Blanc, quần áo hiệu Gucci là các ví dụ tiêu biểu Sản phẩm loại này
Trang 31không chỉ bản thân nó đẹp, mà còn đem lại niềm hãnh diện cho người mua (Kotler, 2007)
Tốt hơn nhưng giá không đổi
Các công ty có thể tấn công lại thương hiệu “tốt hơn thì đắt hơn” bằng cách đưa
ra một thương hiệu với chất lượng và hiệu năng ngang hàng nhưng giá thấp hơn nhiều Ví dụ Công ty Toyota đưa ra loại ôtô mới Lexus với cách định vị “ tốt hơn nhưng giá không đổi” Công ty chứng minh chất lượng cao của ôtô Lexus bằng nhiều cách như thông qua các tờ báo có thế lực và tạp chí về xe ôtô, đăng ý kiến các chuyên gia, thông qua các băng video được phân phát khắp nơi, chiếu hình ảnh chiếc Mercedes và Lexus đứng cạnh bên nhau với tính ưu việt hơn của Lexus (Kotler, 2007)
Sản phẩm không đổi nhưng giá rẻ hơn
Chiến lược này là cung cấp ra sản phẩm có chất lượng không đổi nhưng với mức giá thấp hơn Ví dụ như thành công của nhiều nhà sản xuất máy vi tính cá nhân
là dựa vào việc sao chép các thương hiệu gốc hàng đầu như “IBM hay Apple” rồi đem ra bán với thương hiệu nhái có giá rẻ hơn từ 20-30%.(Kotler, 2007)
Kém hơn nhưng giá rẻ hơn nhiều
Một số người tiêu dùng phàn nàn rằng một số nhà sản xuất cung cấp dịch vụ đưa ra sản phẩm hay dịch vụ vượt ra ngoài yêu cầu của họ và họ phải trả thêm cho cái họ không cần Một trong các công ty thành công với chiến lược định vị “kém hơn nhưng giá rẻ hơn nhiều” là Hãng Southwest Airline, một hãng hàng không có lợi nhuận lớn nhất nước Mỹ, có giá vé máy bay rất rẻ do không phục vụ bữa ăn, không cố định ghế ngồi, không bán vé qua các đại lý và không có dịch vụ chuyển hành lý qua các hãng hàng không khác nhau (Kotler, 2007)
Tốt hơn nhưng giá rẻ hơn
Cách định vị giá trị này là đem lại cho khách hàng niềm năng và khách hàng hiện có sản phẩm và dịch vụ “tốt hơn nhưng có giá rẻ hơn” Ví dụ như hệ thống cửa
Trang 32hàng bán đồ chơi Toys „R‟Us đưa cho khách hàng nhiều sự lựa chọn tốt nhất với giá
cả rẻ nhất hay như Wal-Mart là nơi mà có thể mua được hàng tốt hơn và giá rẻ hơn (Kotler, 2007)
1.3.4 Marketing hỗn hợp (Marketing Mix)
Chiến lược Marketing hỗn hợp bao gồm 4 hình thức mà chúng ta thường gọi là
4 chữ cái P: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Place (phân phối) và Promotion (chiêu thị) (Perreault and Carthy, 2005) Các biến số của chữ cái P được thể hiện trong hình bên dưới
Marketing hỗn hợp (Marketing mix)
Chiêu thị
Chiêu thị Quảng cáo Nguồn lực bán hàng Quan hệ công chúng Tiếp thị trực tiếp
Kênh phân phối
Kênh
Độ phủ thị trường Chủng loại sản phẩm
Vị trí Lưu kho Vận chuyển
(Nguồn: Kotler, 2011, Marketing management, 14 edition, Prentice Hall)
Marketing Mix là tập hợp những công cụ Marketing mà doanh nghiệp sử dụng
để đạt được các mục tiêu trong thị trường đã chọn Các công cụ Marketing được pha trộn và kết hợp với nhau thành một thể thống nhất để ứng phó với những khác biệt
và thay đổi trên thị trường
1.3.4.1 Chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm gồm chiến lược chủng loại, chiến lược chất lượng sản phẩm và chiến lược đa dạng hóa mặt hàng - chủng loại sản phẩm
Chiến lược chủng loại
Trong điều kiện thị trường luôn luôn thay đổi theo thời gian, không gian, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập… thì một doanh nghiệp không thể nào an tâm về vị trí
Trang 33của mình nếu chỉ kinh doanh duy nhất một sản phẩm vì sẽ khó tránh được rủi ro Vì vậy doanh nghiệp phải có một chiến lược chủng loại hợp lý Chiến lược chủng loại bao gồm tái định vị nhãn hiệu sản phẩm, mở rộng hoặc cắt tỉa chủng loại sản phẩm
và chiến lược biến đổi sản phẩm (Perreault and Carthy, 2005)
Chiến lược tái định vị nhãn hiệu sản phẩm
Dù một sản phẩm đã được định vị tốt thế nào trong thị trường thì qua một thời gian, nhà sản xuất phải thực hiện tái định vị cho nó Những đối thủ cạnh tranh có thể tung một sản phẩm gần giống và lấn vào thị trường doanh nghiệp Hoặc là sở thích của khách hàng đã thay đổi, hay là sản phẩm không còn phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nữa (Perreault and Carthy, 2005)
Chiến lược mở rộng hoặc cắt tỉa chủng loại sản phẩm
Chiến lược mở rộng nhãn hiệu là những nỗ lực nhằm sử dụng một tên thương hiệu đã thành công để tung ra những sản phẩm mới hay những sản phẩm cải tiến Việc mở rộng nhãn hiệu tiết kiệm cho nhà sản xuất chi phí dành cho hoạt động Marketing, đồng thời sản phẩm mới sẽ được thị trường nhanh chóng chấp nhận (Perreault and Carthy, 2005)
Ngược lại trong quá trình kinh doanh, những thông tin phản hồi từ thị trường giúp cho doanh nghiệp nhận biết được sản phẩm nào được người tiêu dùng ưa dùng, sản phẩm nào bị thải hồi Từ đó có thể quyết định cắt tỉa bớt những chủng loại sản phẩm kinh doanh không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp, để dành nguồn lực tập trung phát triển sản phẩm có hiệu quả cao (Perreault and Carthy, 2005)
Chiến lược biến đổi chủng loại
Nhà sản xuất có thể làm khác đi ít nhiều so với những sản phẩm đã có Chiến lược biến đổi chủng loại bao hàm cả việc cải tiến về hình dáng, vật liệu, cách trang trí, bao bì… trong nhiều trường hợp, các đặc tính kỹ thuật và cách sử dụng của bản thân sản phẩm vẫn giữ nguyên như cũ xong, chỉ cần thay đổi về bao bì cũng có thể mang lại cho nhà sản xuất những cơ hội tiêu thụ lớn (Perreault and Carthy, 2005)
Trang 34 Chiến lược về chất lượng sản phẩm
Có 3 chiến lược về chất lượng sản phẩm là chiến lược hoàn thiện cải tiến sản
phẩm, chiến lược duy trì chất lượng sản phẩm và chiến lược giảm dần chất lượng sản phẩm (Perreault and Carthy, 2005)
Chiến lược hoàn thiện và cải tiến chất lượng sản phẩm là chiến lược nhằm hoàn thiện cấu trúc sản phẩm, nâng cao đặc tính sản phẩm như độ bền, mức an toàn, tăng tuổi thọ sản phẩm, thay đổi kiểu dáng, kích cỡ và quan tâm đặc biệt đến màu sắc, mùi vị sản phẩm
Chiến lược duy trì chất lượng sản phẩm là chiến lược mà doanh nghiệp vẫn duy trì chất lượng ban đầu không đổi trừ khi xảy ra những sai lầm hiển nhiên hoặc thị hiếu mới thay đổi
Chiến lược giảm dần chất lượng được thực hiện khi doanh nghiệp ban đầu giới thiệu sản phẩm mới có chất lượng rất tốt, sau khi gây được tiếng vang và chiếm được thị phần đáng kể thì bắt đầu giảm chất lượng để bù vào chi phí tăng cao với hi vọng khách hàng sẽ không cảm nhận được sự khác biệt
Chiến lược đa dạng hóa mặt hàng và chủng loại sản phẩm
Chiến lược này hướng vào phát triển một số sản phẩm mới cho thị trường hiện tại hay phát triển một số sản phẩm cho thị trường mới Nhìn chung trong giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, việc đổi mới các chủng loại sản phẩm làm cho khối lượng tiêu thụ tăng lên, giúp cho công ty củng cố được thị phần ở thị trường hiện tại và tăng cường khả năng tấn công vào phân khúc mới của thị trường (Perreault and Carthy, 2005)
Tóm lại, điều quan trọng trong chiến lược sản phẩm là phải linh hoạt, nhạy bén, quyết định kịp thời, lúc nào cũng phải đảm bảo có một số sản phẩm mới để có những đột phá trong thị trường
Trang 351.3.4.2 Chiến lược giá
Các phương pháp định giá
Doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp định giá như định giá cộng chi phí, định giá theo mục tiêu lợi nhuận, định giá theo người mua và định giá theo đối thủ cạnh tranh (Perreault and Carthy, 2005)
Định giá cộng chi phí là phương pháp định giá mà giá sản phẩm tính bằng phần lợi nhuận tiêu chuẩn cộng với chi phí sản phẩm (Perreault and Carthy, 2005)
Định giá theo lợi nhuận mục tiêu là phương pháp định giá này dựa vào việc phân tích hòa vốn Trong phương pháp này, nhà sản xuất phải xem xét các mức giá khác nhau và ước lượng sản lượng hòa vốn, nhu cầu về lượng cầu, và lợi nhuận đơn
vị sản phẩm để xác định tính khả thi của lợi nhuận mục tiêu (Perreault and Carthy, 2005)
Định giá theo người mua, đây là phương pháp định giá theo nhận thức của khách hàng về sản phẩm chứ không phải theo chi phí sản xuất Nhận thức của khách hàng về giá trị sản phẩm là yếu tố chủ yếu cho phương pháp này Doanh nghiệp sử dụng các biến khác nhau trong hỗn hợp Marketing để xây dựng giá trị trong tâm trí khách hàng đồng thời phải tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh (Perreault and Carthy, 2005)
Định giá theo đối thủ cạnh tranh dựa vào giá hiện tại của đối thủ trên thị trường
mà không chú ý đến chi phí cũng như nhu cầu thị trường Công ty có thể định giá bằng, thấp hoặc cao hơn một ít so với đối thủ cạnh tranh (Perreault and Carthy, 2005)
Các chiến lược giá
Các chiến lược về giá điển hình mà doanh nghiệp có thể áp dụng là chiến lược giá sản phẩm mới, chiến lược giá cho hỗn hợp sản phẩm, chiến lược điều chỉnh giá
và chiến lược thay đổi giá
Chiến lược giá sản phẩm mới bao gồm chiến lược lược giá thâm nhập thị trường và chiến lược giá hớt kem Chiến lược giá xâm nhập thị trường là chiến lược doanh nghiệp định giá sản phẩm tương đối thấp với hi vọng sẽ thu hút một lượng
Trang 36khách mua đủ lớn và đạt được một thị phần lớn Chiến lược giá hớt kem hay chắt lọc thị trường là chiến lược trong đó doanh nghiệp định giá cao ngay từ đầu cho sản phẩm mới để chớp thị trường Sau khi lượng tiêu thụ chậm lại, doanh nghiệp mới hạ giá sản phẩm để lôi kéo lớp khách hàng kế tiếp vốn nhạy cảm với giá cả Bằng cách này, doanh nghiệp thu được doanh thu tối đa từ những khúc thị trường khác nhau (Perreault and Carthy, 2005)
Chiến lược giá cho hỗn hợp sản phẩm áp dụng nếu doanh nghiệp sản xuất cả một dòng sản phẩm (một chủng loại hàng hóa), thì phải xem xét việc định giá cho từng sản phẩm trong dòng sản phẩm Điều này phụ thuộc vào mức cạnh tranh của chi phí sản xuất, sự đánh giá của khách hàng, cũng như đối thủ cạnh tranh để ra quyết định đúng Doanh nghiệp có thể đặt giá cho sản phẩm tự chọn, đặt giá cho sản phẩm bổ sung hay đặt giá thứ phẩm hoặc chính phẩm kèm theo Đặt giá sản phẩm
tự chọn khi nhiều doanh nghiệp đặt giá cho những phần tự chọn kèm theo sản phẩm
mà khách hàng mua Đặt giá sản phẩm kèm theo khi một số doanh nghiệp sản xuất một số sản phẩm kèm theo sản phẩm bắt buộc Trong những trường hợp này, thông thường giá cả sản phẩm chính thường không cao vì doanh nghiệp đã kiếm lời nhiều qua việc tiêu thụ sản phẩm kèm theo Đôi khi việc sản xuất ra sản phẩm sẽ kèm theo một số thứ phẩm hoặc sản phẩm khác; và doanh nghiệp cố gắng tiêu thụ các sản phẩm này để gia tăng lợi nhuận ví dụ trong ngành chế biến dầu mỏ sẽ tạo ra nhiều sản phẩm phụ như nhớt, khí đốt…(Perreault and Carthy, 2005)
Doanh nghiệp theo đuổi chiến lược thay đổi giá cả tùy theo những điều kiện kinh doanh khác nhau và các yếu tố thị trường Doanh nghiệp có thể giảm giá nhằm
tăng khả năng tiêu thụ Nếu nhà máy còn công suất, thực hiện chiến lược giá thấp
dựa vào hiệu quả kinh tế nhờ quy mô Giảm giá còn nhằm mục đích là muốn khống chế thị trường và tạo cuộc chiến về giá với các đối thủ cạnh tranh nhờ lợi thế của
công ty Doanh nghiệp có thể tăng giá khi chi phí đầu vào tăng cao như chi phí nhân
công, nguyên vật liệu, bán hàng… hoặc khi lượng cầu quá lớn, cung không đáp ứng được cầu (Perreault and Carthy, 2005)
Trang 37Chiến lược điều chỉnh giá có thể là định giá chiết khấu – các khoản giảm giá cho khách hàng; định giá phân biệt đối với từng khách hàng, từng loại sản phẩm và từng khu vực tiêu thụ; định giá tâm lý khi doanh nghiệp xem xét yếu tố tâm lý của khách hàng chứ không đơn thuần về khía cạnh kinh tế
1.3.4.3 Chiến lược phân phối
Chiến lược phân phối bao gồm kênh phân phối, độ phủ thị trường, chủng loại sản phẩm, vị trí, lưu kho Ba chiến lược phân phối cơ bản là chiến lược phân phối độc quyền, chiến lược phân phối có chọn lọc và chiến lược phân phối rộng (Keegan, 2002)
Chiến lược phân phối độc quyền hạn chế nhà phân phối trung gian, chỉ sử dụng một địa điểm để bán hoặc lắp đặt sản phẩm và quy định nhà trung gian không được bán sản phẩm của đối thủ cạnh tranh (Keegan, 2002)
Với chiến lược phân phối có chọn lọc, doanh nghiệp chọn lọc một số kênh phân phối vì thế không tốn nhiều chi phí để bao quát hết toàn bộ thị trường (Keegan, 2002)
Chiến lược phân phối rộng nhằm tìm ra càng nhiều điểm tiêu thụ càng tốt vì khách hàng cần tìm đến các điểm bán hàng thuận lợi Nhưng doanh nghiệp sẽ mất quyền kiểm soát, sắp xếp trưng bày sản phẩm hay các dịch vụ đi kèm (Keegan, 2002)
1.3.4.4 Chiến lược chiêu thị
Chiến lược chiêu thị là truyền tải thông tin về sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp Chiêu thị bao gồm: chiêu thị, quảng cáo, bán hàng, quan hệ công chúng, tiếp thị trực tiếp Chiến lược chiêu thị được xây dựng tùy theo tình trạng sản phẩm trên thị trường và định vị thị trường của sản phẩm (Keegan, 2002)
Ví dụ như giai đoạn giới thiệu sản phẩm, khách hàng không chú ý đến đặc điểm sản phẩm cũng không hiểu sản phẩm thế nào Chiến lược chiêu thị là quảng cáo, thuyết phục khách hàng rằng sản phẩm đã hiện diện trên thị trường, sử dụng như thế nào và thỏa mãn được các lợi ích gì Đối với giai đoạn tăng trưởng thì khách hàng
Trang 38chú ý đến lợi ích sản phẩm và sản phẩm đang bán chạy Chiến lược chiêu thị trong giai đoạn này là kích thích nhu cầu thị trường Giai đoạn trưởng thành thì cạnh tranh
ở mức cao và doanh thu đã dừng ở mức ổn định Chiến lược chiêu thị là giảm chi phí quảng cáo để tiết kiệm chi phí vì sản phẩm đã người người tiêu dùng chấp nhận Cuối cùng đối với giai đoạn suy thoái, khi mà doanh thu và lợi nhuận đều giảm, các sản phẩm mới đang dần xâm nhập thị trường Chiến lược chiêu thị trong giai đoạn suy thoái là giảm đến mức tối thiểu chi phí quảng cáo vì sản phẩm đang rút dần ra khỏi thị trường, giảm giá và khuyến mãi để tiêu thụ hết sản phẩm (Keegan, 2002) Tóm lại, thực hiện Marketing Mix không theo khuôn mẫu nào mà thay đổi theo các yếu tố ảnh hưởng như vị trí uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm Nếu doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được thị phần cao thì lúc đó không cần tốn nhiều chi phí cho các hoạt động xúc tiến nhưng vẫn bán được hàng Các sản phẩm khác nhau phải có cách bán hàng, xúc tiến khác nhau Do đó, doanh nghiệp phải thiết kế hệ thống phân phối và sử dụng các công cụ xúc tiến khác nhau Tùy thuộc vào khả năng mua hàng của từng thị trường mà doanh nghiệp phải có công tác Marketing mix khác nhau Ví dụ sức mua của thị trường thành thị cao hơn sức mua của thị trường vùng sâu, vùng xa Và cuối cùng Marketing Mix phụ thuộc vào chu kỳ sống của sản phẩm, mỗi giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm có đặc điểm khác nhau nên cần có công tác Marketing khác nhau
Tóm tắt chương 1
Chương 1 đã tổng kết cơ sở lý thuyết Marketing về phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị, môi trường Marketing và công tác Marketing Mix Chương này đưa ra đã khái quát những khía cạnh ảnh hưởng đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp Chương tiếp theo tập trung phân tích thực trạng công tác Marketing cho sản phẩm ắc quy gắn máy kín tại Công ty cổ phần Pin ắc Quy Miền Nam
Trang 39Chương 2 - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC MARKETING TẠI CÔNG TY PINACO CHO SẢN PHẨM ẮC QUY GẮN MÁY KÍN
2.1 Giới thiệu về công ty Pinaco
Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN PIN ẮC QUY MIỀN NAM
Tên tiếng anh : DRY CELL AND STORAGE BATTERY JOINT STOCK
COMPANY
Tên viết tắt : PINACO
Giấy CNĐKKD : Số 0300405462 do Sở Kế hoạch Đầu tư TP.HCM cấp lần đầu
ngày 23/09/2004 và đăng ký thay đổi lần thứ 12 ngày 26/08/2013
Vốn Điều lệ : 269.878.430.000 VNĐ (Hai trăm sáu mươi chín tỷ tám trăm bảy
mươi tám triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng)
Trụ sở chính : Số 321 Trần Hưng Đạo, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Trang 40Trong suốt 37 năm hình thành và phát triển, Pinaco đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn của thời kỳ bao cấp cũng như diễn biến phức tạp của thời kỳ mới Tuy nhiên với tinh thần “trong mọi hoàn cảnh vẫn đồng tâm hiệp lực vững bước đi lên, chủ động sáng tạo sớm tiếp cận với quan điểm mới, tiên tiến trong công tác quản lý và khoa học kỹ thuật, đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại của thế giới” Pinaco đã gặt hái được những thành quả đáng tự hào cho công ty nói riêng cũng như ngành công nghiệp pin và ắc quy nói chung
Trong tình hình cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế hội nhập ngày nay, Pinaco đã bảo vệ vững chắc vị thế của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất pin và ắc quy tại Việt Nam đồng thời nhận được nhiều thành tích và danh hiệu cao quý do nhà nước và các tổ chức trao tặng
Ngành nghề kinh doanh
Sản xuất pin và ắc quy: cung cấp đa dạng các chủng loại pin và ắc quy cho thị trường nội địa và xuất khẩu Bao gồm các loại pin thông dụng (như pin đại, pin tiểu, pin đũa…) và các loại ắc quy cho nhiều mục đích sử dụng như Ắc quy cho xe
ô tô, tàu thuyền, Ắc quy miễn bảo dưỡng (CMF), Ắc quy dân dụng, Ắc quy cho xe gắn máy, Ắc quy xe đạp điện và ắc quy công nghiệp
Thị trường của công ty Pinaco
Trong nước: Chiếm hơn 50% thị phần sản xuất, kinh doanh Pin và Ắc quy
nội địa, các xí nghiệp và chi nhánh của Pinaco có mặt ở cả ba miền đất nước, trong
đó các xí nghiệp sản xuất chính phần lớn tập trung ở khu vực miền Nam
Xuất khẩu: Không chỉ thể hiện sức mạnh thương hiệu ở thị trường Việt
Nam, Pinaco còn vươn ra phát triển ở khu vực Asian và thế giới Hiện sản phẩm của Pinaco đã được xuất khẩu sang 20 quốc gia trên thế giới, trong đó có: Campuchia, Trung Đông, Brunei, Hồng Kông, Nigeria, Algeria, Ai Cập, Arab Saudi, Yemen, Myanmar…