Nghiên cứu thực hiện dựa trên BCTN của 48 công ty tại Nhật Bản nhằm đo lường ảnh hưởng của các nhân tố quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp đến mức độ CBTT tự nguy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN LÊ VÂN THANH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2NGUYỄN LÊ VÂN THANH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết quả của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TP.HCM, ngày tháng năm
Tác giả
Nguyễn Lê Vân Thanh
Trang 5MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
PHẦN TÓM TẮT - ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa của đề tài 3
7 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 18
1.3 Nhận xét và khe hổng nghiên cứu 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 25
2.1 Tổng quan về công bố thông tin 25
2.1.1 Khái niệm về công bố thông tin 25
2.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin 26
2.1.3 Đo lường mức độ công bố thông tin 32
2.2 Các lý thuyết nền liên quan đến công bố thông tin 35
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 35
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 36
2.2.3 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary cost theory) 37
2.2.4 Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory) 37
Trang 62.2.5 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) 38
2.2.6 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin (Information cost saving theory) 38
2.2.7 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) 39
2.2.8 Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory) 40
2.2.9 Áp dụng các lý thuyết nền cho vấn đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 41
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết ngành hàng tiêu dùng 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
3.1 Quy trình nghiên cứu 50
3.2 Mô hình nghiên cứu 51
3.3 Các giả thuyết nghiên cứu 54
3.4 Phương pháp nghiên cứu 55
3.4.1 Chọn mẫu nghiên cứu 55
3.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 56
3.4.3 Xây dựng chỉ số công bố thông tin 56
3.4.4 Mã hóa và đo lường các biến 46
3.4.5 Phương pháp xử lý dữ liệu 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 68
4.1 Kết quả nghiên cứu 68
4.1.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 68
4.1.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình 60
4.1.3 Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam 73
4.1.4 Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam 75
4.1.5 Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Tp.HCM 78
Trang 74.1.6 Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Hà Nội 79
4.2 Bàn luận kết quả nghiên cứu 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 86
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 87
5.2.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 88
5.2.2 Đối với các công ty niêm yết ngành hàng hiêu dùng 90
5.2.3 Đối với các nhà đầu tư 93
5.3 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài 93
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 93
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 95
KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
* Chữ viết tắt Tiếng Việt
CBTT: Công bố thông tin
CTĐC: Công ty đại chúng
CTNY: Công ty niêm yết
BCTC: Báo cáo tài chính
BCTN: Báo cáo thường niên
HNX: Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội
HSX: Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
UBCKNN: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
* Chữ viết tắt Tiếng Anh
AIMR (Association for Investment Management and Research): Hiệp hội Nghiên cứu và Đầu tư
EPS (Earning Per Share): Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
FAF (Financial Analysts Federation): Liên đoàn phân tích tài chính
GAAP (Generally Accepted Accounting Principles): Các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung
IFRS (International Financial Reporting Standards): Tiêu chuẩn quốc tế báo cáo tài chính
ROA (Return on Assets): Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản
ROE (Return on Equity): Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
S&P: công ty Standard & Poor’s
Trang 9SPSS (Statistical Package for the Social Sciences): Phần mềm phân tích thống kê VIF (Variance Inflation Factor): Hệ số phóng đại phương sai
VAS (Vietnam Accounting Standars): Chuẩn mực kế toán Việt Nam
VACPA (Vietnam Association of Certified Public Accountants): Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
VAMC (Vietnam Asset Management Company): Công ty quản lý tài sản Việt Nam
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về vấn đề công bố thông tin 12
Bảng 1.2: Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về vấn đề công bố thông tin 21
Bảng 2.1: Tổng hợp các lý thuyết nền liên quan đến đề tài nghiên cứu 41
Bảng 2.2: Tổng hợp các nhân tố liên quan đến các đề tài nghiên cứu 48
Bảng 3.1: Quy trình nghiên cứu 51
Bảng 3.2: Các chỉ mục công bố thông tin của công ty niêm yết 57
Bảng 3.3: Mã hóa và cách đo lường các biến 62
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trên SGDCK Việt Nam 68
Bảng 4.2: So sánh giá trị bình quân của các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng giữa SGDCK TpHCM và SGDCK Hà Nội 71
Bảng 4.3: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 72
Bảng 4.4: Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến 74
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 75
Bảng 4.6: Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến lần đầu – HSX 78
Bảng 4.7: Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến lần cuối – HSX 78
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp mô hình hồi quy tuyến tính đa biến – HSX 79
Bảng 4.9: Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến lần đầu – HNX 80
Bảng 4.10: Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến lần hai – HNX 80
Bảng 4.11: Kết quả phân tích mô hình hồi quy đơn biến – HNX 81
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến – HNX 81
Bảng 4.13: Tổng hợp tác động của các nhân tố trong mô hình 82
Bảng 4.14: Tổng hợp tác động các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngàng hàng tiêu dùng trên SGDCK TP.HCM và SGDCK Hà Nội 84
Bảng 4.15: Tổng hợp và so sánh nội dung nghiên cứu của tác giả với nghiên cứu của Nguyển Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2018) 84
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng mức độ công bố thông tin của
các công ty niêm yết ngành hàng tiêu dùng 53
Hình 3.2: Các chỉ mục công bố thông tin của công ty niêm yết 57
Hình 4.1: Biểu đồ phân tán của phần dư đã được chuẩn hóa 76
Hình 4.2: Biểu đồ P-P Plot của phần dư - đã được chuẩn hóa 76
Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư - đã được chuẩn hóa 77
Hình 4.4: Mô hình hồi quy các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các CTNY ngành hàng tiêu dùng 77
Trang 12khoán Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên năm 2018 của 140 công
ty niêm yết và được thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa biến qua phần mềm SPSS 20.0 Mười giả thuyết được đưa ra để xem xét mối quan hệ giữa
một số biến giải thích (cụ thể là quy mô công ty, số năm niêm yết, khả năng thanh toán, tài sản cố định, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ sở hữu vốn cổ đông lớn, tỷ lệ
sở hữu vốn cổ đông nước ngoài, công ty kiểm toán, tỷ lệ thành viên không điều hành trong hội đồng quản trị) và mức độ công bố thông tin trong các báo cáo thường niên của công ty niêm yết Kết quả của nghiên cứu này cho thấy quy mô công ty, khả năng thanh toán, tỷ lệ sở hữu vốn cổ đông nước ngoài, công ty kiểm toán, tỷ lệ thành viên không điều hành trong hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố
thông tin, các nhân tố còn lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Từ đó, đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết ngành hàng tiêu dùng trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các kết luận từ nghiên cứu này có thể được các nhà hoạch định chính
sách và các nhà quản lý tham khảo để cải thiện việc công bố các thông tin bắt buộc và các thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên của công ty niêm yết
Từ khóa: Công bố thông tin - Báo cáo thường niên – Công ty niêm yết – Ngành hàng tiêu dùng
Trang 13ABSTRACT
Currently, listed companies in the consumer goods industry in Vietnam do not attach much importance to the disclosure of information in annual reports This study will identify and measure the impact of factors on the level of disclosure in the annual report of consumer companies listed on Vietnam's stock market The data was collected from the 2018 annual report of 140 listed companies and statistically described, correlated, multivariate regression analysis via SPSS 20.0 software Ten hypotheses have been proposed to examine the relationship between a number of explanatory variables (namely firm size, number of years of listing, solvency, fixed assets, profitability, leverage major shareholding ratio, foreign equity ownership, auditing company, percentage of non-executive members in the board of directors) and the level of information disclosure in the reports Annual list of listed companies The results of this study show that firm size, solvency, foreign equity ownership, auditing firms, and non-executive members in the board of directors have a positive influence
To the extent of information disclosure, the remaining factors do not affect the level of information disclosure Since then, providing policy implications to improve the level
of information disclosure in the annual report of companies listed consumer goods on the stock market of Vietnam The conclusions from this study can be consulted by policy makers and regulators to improve the disclosure of mandatory and voluntary information in the company's annual reports listing
Keyword: Information disclosure – Annual report – Listed company – Consumer goods industry
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Thông tin TTCK rất đa dạng và phong phú Thông tin là yếu tố then chốt, nhạy cảm, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả các đối tượng tham gia TTCK Những nhà đầu tư có thể phân tích, so sánh và đầu tư có hiệu quả thông qua những nguồn thông tin về tình trạng tài chính, bản chất, bối cảnh của công ty Vì vậy, để đảm bảo cho TTCK hoạt động được công khai, minh bạch thì các CTNY cung cấp thông tin cũng phải thực hiện một cách minh bạch và công khai Nguyên tắc công khai được hiểu như là cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời Thông tin chính thống và thông tin phi chính thống về CTNY sẽ được huy động từ mọi nguồn: từ các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, sách báo, internet đến các thông tin mang tính truyền miệng qua diễn đàn, sàn giao dịch Một số chính sách, văn bản hỗ trợ cho tái cấu trúc nền kinh tế đã được Chính phủ ban hành như nghị định 60/2015/NĐ-
CP với những thay đổi của khung pháp lý và đòi hỏi mới của thị trường, Bộ Tài Chính cùng với UBCKNN đã ban hành những quy định mới hướng dẫn CBTT, đăng ký giao dịch và niêm yết trên TTCK tại các thông tư 155/2015/TT-BTC, thông tư 180/2015/TT-BTC và thông tư 29/2017/TT-BTC đáp ứng yêu cầu phù hợp với sự phát triển của thị trường và hướng tới các chuẩn mực quốc tế về CBTT và niêm yết Tuy nhiên, hiện nay việc CBTT của các CTNY đang bị xem nhẹ, nhiều nhà đầu tư chưa thực sự nhận được những thông tin tương xứng về CTNY mà họ bỏ vốn để đầu tư Do
đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT giúp cho các nhà điều hành, các tổ chức thấy được những tác động để có thể đưa ra những quy định phù hợp, khả thi
Việc công khai thông tin, đặc biệt là CBTT trên BCTN theo sổ tay CBTT trên SGDCK Hà Nội thì: “Báo cáo thường niên là ấn phẩm thường niên cung cấp thông tin toàn diện về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty trong năm liền trước” Thông tin cung cấp trong BCTN sẽ giúp cho các bên có liên quan đánh giá để đưa ra quyết định kinh tế CBTT trong BCTN là nghĩa vụ bắt buộc mà các CTNY phải công bố trung thực, đầy đủ và kịp thời nhằm hướng tới tính minh bạch, công khai thông tin hữu ích cho nhà đầu tư và cho quản lý Nhà nước Thực tế, những quy định CBTT trong BCTN theo các văn bản hướng dẫn chỉ gợi ý các đề mục, chưa hướng dẫn
Trang 15chuyên sâu, chặt chẽ về nội dung công bố Mức độ CBTT trong BCTN phụ thuộc vào tính tự nguyện của các CTNY, dẫn đến các CTNY trên SGDCK thực hiện CBTT trên BCTN sai lệch và chậm trễ, không cập nhật thường xuyên, gây nhiều thiệt hại cho các nhà đầu tư và những người sử dụng thông tin Vì vậy, để duy trì hệ thống thị trường vốn hiệu quả, có tính thanh khoản cao, TTCK Việt Nam ngày càng phát triển như các nước tiên tiến trên thế giới thì cần thiết phải hoàn thiện việc CBTT trên BCTN của các CTNY để có được BCTN chất lượng cao, minh bạch, đầy đủ, sẵn có để tất cả đối tượng tham gia có thể đưa ra quyết định khi phân bổ vốn
Ngành hàng tiêu dùng là ngành hàng vô cùng phát triển tại Việt Nam, luôn chiếm tỷ trọng cao so với các nhóm ngành khác cũng như so với tổng thu nhập của đất nước Trước đó, “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp thuộc ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam” đã được hai tác giả Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc nghiên cứu dựa trên BCTN năm 2015 Nhưng mỗi nghiên cứu có sự khác nhau về địa điểm nghiên cứu, thời gian nghiên cứu
và mẫu nghiên cứu, nên cần thiết nghiên cứu thực nghiệm trong mỗi giai đoạn, nhằm giải thích hiện tượng và tiến triển CBTT trong mỗi giai đoạn, góp phần bổ sung vào cơ
sở lý thuyết về CBTT Từ đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam ở giai
đoạn hiện nay là rất cần thiết Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài: “Các nhân tố
ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các công
ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Việt Nam – Ngành hàng tiêu dùng” đã
được tác giả lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Thứ nhất, xác định các nhân tố đo lường mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam
-Thứ hai, đo lường tác động của từng nhân tố đến mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Thứ nhất, các nhân tố nào đo lường mức độ CBTT trong BCTN của các
CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam?
- Thứ hai, cách đo lường tác động của từng nhân tố đến mức độ CBTT trong
Trang 16BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam.?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK
Phạm vi nghiên cứu: BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Thời gian nghiên cứu: BCTN năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp định tính: Hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích lý thuyết để xác định các nhân tố đo lường mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam
- Phương pháp định lượng: sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel để thống
kê và phần mềm SPSS 20.0 để xây dựng mô hình hồi quy nhằm đo lường tác động của
từng nhân tố đến mức độ CBTT trong BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam
6 Ý nghĩa của đề tài:
Bổ sung và củng cố cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTN của các CTNY ngành hàng tiêu dùng
Là tài liệu tham khảo giúp các đối tượng sử dụng BCTN hiểu rõ hơn về mức độ CBTT của các CTNY ngành hàng tiêu dùng trên SGDCK Việt Nam
Là cơ sở khoa học giúp các CTNY thấy được tầm quan trọng và tính pháp lý của việc CBTT trong BCTN Đồng thời là cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao mức độ CBTT nhằm làm giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư và các CTNY ngành hàng tiêu dùng, góp phần phát triển TTCK Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn:
Bài nghiên cứu gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty trong nhiều thời điểm với những phạm vi khác nhau, tại nhiều quốc gia trên thế giới
Nghiên cứu của Firth (1979) tại Anh đã tiến hành nghiên cứu đối với 180 công
ty nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện với quy mô công ty, tình trạng niêm yết và loại công ty kiểm toán Kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô công ty, tình trạng niêm yết và mức độ CBTT, không có mối liên hệ giữa loại công ty kiểm toán và mức độ CBTT
Nghiên cứu McNally et al (1982) tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu trên
103 công ty để nghiên cứu mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện với quy mô công
ty, tỷ lệ lợi nhuận, tỷ lệ tăng trưởng, quy mô công ty kiểm toán, nhóm ngành công nghiệp Kết quả cho thấy quy mô công ty có mối quan hệ tích cực với mức độ CBTT
tự nguyện
Nghiên cứu của Cooke (1992) tại Nhật Bản để nghiên cứu mối liên hệ giữa mức
độ CBTT tự nguyện và bắt buộc với quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp Nghiên cứu được tiến hành đối với 35 công ty Kết quả cho thấy quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp có mối quan hệ tích cực với mức độ CBTT bắt buộc và tự nguyện Và Coooke tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về mức độ CBTT tự nguyện của các công ty tại Nhật được thể hiện trong nghiên cứu của Cooke (1993) Nghiên cứu thực hiện dựa trên BCTN của 48 công ty tại Nhật Bản nhằm đo lường ảnh hưởng của các nhân tố quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp đến mức độ CBTT tự nguyện với chỉ số công bố thông tin không trọng
số Kết quả tìm ra được mức độ CBTT tự nguyện có mối liên hệ với tình trạng niêm yết của công ty
Nghiên cứu của Ahmed and Nicholls (1994) về mức độ CBTT bắt buộc được thực hiện tại Bangladesh được tiến hành đối với 63 công ty, 94 mục công bố nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin bắt buộc với chỉ số công bố, quy mô công
ty, đòn bẩy, công ty kiểm toán, công ty đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng thông qua sử dụng phương pháp nghiên cứu mô hình hồi quy Nghiên cứu cho thấy công ty
Trang 18đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng và quy mô công ty ảnh hưởng đến mức độ CBTT bắt buộc
Nghiên cứu của Hossain và các cộng sự (1994) tại Malaysia được tiến hành đối với 67 công ty, 78 mục công bố, sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi quy đơn biến và
đa biến, nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa mức độ CBTT tự nguyện với chỉ số công
bố, quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tài sản, công ty kiểm toán và tình trạng niêm yết Kết quả cho thấy quy mô công ty, cấu trúc sở hữu và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện
Nghiên cứu của Wallace và các cộng sự (1994) tạiTâyBanNhađượctiếnhànhđối với 50 công ty, 79 mục công bố, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô hình hồiquy đabiến,nhằmnghiêncứu mốiliênhệ giữamứcđộ CBTTvớichỉ sốcôngbố,quy
mô công ty, đòn bẩy, lợi nhuận, công ty kiểm toán và khả năng thanh toán Kết quả cho thấy quy mô công ty, tình trạng niêm yết có ảnh hưởng tích cực, ngược lại thì khả năng thanh toán có ảnh hưởng tiêu cực
Nghiên cứu của Meek & Gray (1995) đãnghiên cứuthực nghiệm ở116 doanhnghiệpở Mỹ,64 doanhnghiệp ở Anh và 46 doanh nghiệp ở Châu Âu là các tập đoàn
đa quốc gia, nhằm nghiên cứu mốiliênhệ giữa các nhân tố quy mô công ty, khu vực công ty, loại ngành, đòn bẩy, công ty đa quốc gia, lợi nhuận, thời gian niêm yết và mức độ CBTT tự nguyện trong báo cáo hàng năm Kết quả nghiên cứu cho thấy quy
mô công ty, khu vực mà công tyhoạtđộng,thờigianniêmyết,ngànhnghềkinhdoanh
làcácnhântốthenchốtcóảnhhưởng đến việc CBTT tự nguyện
Nghiên cứu của Zarzeski (1996) thực hiện nghiên cứu BCTN từ năm 1991 đến năm 1993 trên 7 quốc gia (Pháp, Đức, Hồng Kông, Nhật Bản, Na Uy, Anh, Mỹ) với
256 công ty có quy mô nhỏ, vừa và lớn Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ CBTT phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh củathịtrườngthôngquacác nhântốdoanhthuxuấtkhẩu,đònbẩytàichính vàquymôcôngty
Nghiên cứu của Owusu - Ansah (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểmcôngty đếnmức độ CBTTbắt buộctại Zimbabwe Nghiên cứu kết hợp sử dụng báo cáo tài chính và báo cáo thường niên năm 1994 của 49 CTNY tại Zimbabwe, nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tuổi công ty, quy mô công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu, chất lượng kiểm toán, loại ngành, khả năng thanh toán và đầu tư
Trang 19tài chính ( công ty có công ty con, công ty là công ty liên kết) Kết quả cho thấy tuổi công ty, quy mô của công ty, khả năngsinh lời,cấu trúcchủsở hữu có tác độngtíchcực đến mức độ CBTT bắt buộc của công ty
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001) thực hiện kiểm tra các mối quan hệ giữa
cơ chế quản trị chính trong công ty (tỷ lệ giám đốc độc lập so với tổng số giám đốc trong HĐQT, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán tự nguyện, sự tồn tại của cá nhân vừa là giám đốc điều hành vừa là chủ tịch HĐQT, tỷ lệ thành viên gia đình trong HĐQT) và mức độ CBTT tự nguyện ở Hồng Kông Kết quả cho thấy sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán có liên quan đáng kể, tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, trong khi tỷ lệ thành viên gia đình trong HĐQT, có mối liên quan tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện Hạn chế của bài nghiên cứu là chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố
về cơ chế quản trị trong công ty mà không xét đến các nhân tố liên quan đến hiệu quả hoạt động của công ty như lợi nhuận, tính thanh khoản
Nghiên cứu của Châu và Gray (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc
sở hữu và mức độ CBTT tự nguyện ở Hồng Kông và Singapore Kết quả cho thấy rằng mức độ sở hữu bên ngoài có liên quan tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện và nội bộ hoặc quyền sở hữu gia đình có liên quan tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện Hạn chế của bài nghiên cứu cũng như nghiên cứu của Ho và Wong (2001), chỉ mới nghiên cứu các nhân tố quản trị trong công ty
Nghiên cứu của Ros Haniffa và Terry Cooke (2002) về ảnh hưởng của nhân tố văn hóa, quản trị công ty đến mức độ CBTT tự nguyện của các công ty tại Malaysia Nghiên cứu đượctiếnhànhđốivới167 côngty,65 mụccôngbố,kiểmtramốiliênhệgiữa mức độ CBTT tự nguyện với chỉ số công bố, quản trị công ty, văn hóa và đặcđiểmcụ thể của côngty thôngquaviệcnghiêncứu mô hìnhhồi quyđa biến.Kếtquảchothấy đặc điểm cụ thể của từng công ty và đặc điểm quản trị công ty có mối quan
hệ với mức độ CBTT tự nguyện, cụ thể cácthànhviêngia đìnhthuộcHĐQT, chủtịchkhôngđiềuhànhcó mối quan hệ tiêu cực với mức độ CBTT tựnguyện Trong đó nhân
tố chủ tịchkhông điều hành có hệ số hồi quy cao nhất, cho thấy một chủ tịch không điều hành là điều cần thiết như một cơ chế kiểm tra và cân bằng Mộttrongnhữnghạnchế trongnghiên cứu nàylà chỉ xem xét mối quan hệ của ba nhóm biến với mức độCBTT tự nguyện.Như vậy, một phần mở rộngcủa nghiên cứu nàysẽ là kết hợp các
Trang 20nhóm biến này trong các nghiên cứu tiếp theo xem xét với mức độ CBTT bắt buộc,đặc biệt ở các nước đangphát triển bởi vì có lậpluận rằng các nước đangphát triểnthườngkhôngcôngbố thôngtinrộngrãivàcóthểkhôngtuânthủtấtcảcácyêucầu
Nghiên cứu của Jeffrey J Archambault và Marie E Archambault (2003), nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin và mức độ CBTT Theo nghiên cứu, các nhân tố: quy mô công ty, quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách cổ tức, kiểm toán, đòn bẩy tài chính, lĩnh vực kinh doanh, doanh thu xuất khẩu,… ảnh hưởng đến mức độ CBTT được phân thành nhóm nhân tố: nhóm nhân tố văn hóa, nhóm nhân tố hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia, nhóm nhân tố hệ thống tài chính và hoạt động của công ty Bằng nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trên với mẫu khảo sát là 1.000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia (trong quá trình chạy mô hình thì chỉ còn lại 33 quốc gia), Jeffrey J
và Marie E Archambault đã đưa ra được mô hình hồi quy về sự tương quan giữa mức
độ CBTT và minh bạch thông tin tài chính với các nhân tố đã nêu trên Jeffrey J và Marie E Archambault kết luận rằng CBTT như là một chức năng của hệ thống văn hóa, hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia, hệ thống chính sách tài chính và hoạt động của công ty Kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy, mỗi nhóm nhân tố trên đều ảnh hưởng đáng kể đến quá trình CBTT, ngay cả đối với những nhân tố mà trong các nghiên cứu trước khẳng định là không có quan hệ với quá trình CBTT thì ở nghiên cứu này tác giả cũng đã chứng minh là khá quan trọng Riêng ở góc độ công ty, kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho rằng, hầu hết các nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính và quá trình hoạt động của công ty đều ảnh hưởng đến mức độ CBTT Ngoài ra, nhóm tác giả cũng cho rằng CBTT là một quá trình phức tạp chịu sự ảnh hưởng bởi một tập hợp các nhân tố
Nghiên cứu của Ali và các cộng sự (2004) được thực hiện tại Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh nhằm kiểm tra tác động các nhân tố quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, ảnh hưởng của công ty đa quốc gia, quy mô công ty kiểm toán và lợi nhuận đến mức
độ CBTT bắt buộc Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia và lợi nhuận có ảnh hưởng tích cực đối đến CBTT bắt buộc và quy
mô công ty kiểm toán không có mối liên hệ nào với CBTT bắt buộc
Nghiên cứu của Waresul Karim và Jamal Udin Ahmed (2005) nhằm kiểm tra
Trang 21mức độ CBTT tài chính khi áp dụng các chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS) ở Bangladesh và ảnh hưởng của nhân tố đặc đểm của công ty (quy mô công ty, lợi nhuận, mức độ bảo mật của các loại giao dịch chứng khoán, liên kết quốc tế của kiểm toán viên công ty, chi nhánh đa quốc gia) đến mức độ công khai trên BCTN của công
ty ở Bangladesh Bài nghiên cứu sử dụng chỉ số công bố không trọng số bao gồm 411 mục và áp dụng cho BCTN năm 2003 của 188 công ty thông qua nghiên cứu nhiều mô hình hồi quy tuyến tính Kết quả chỉ ra rằng quy mô công ty, lợi nhuận, mức độ bảo mật của các loại giao dịch chứng khoán, liên kết quốc tế của kiểm toán viên của công
ty và chi nhánh đa quốc gia đều có ảnh hưởng đến mức độ CBTT
Nghiên cứu của Oliveira và cộng sự (2006) về ảnh hưởng của các nhân tố quy
mô công ty, kiểm toán viên, sự tập trung quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, ngành, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận đến mức độ CBTT tự nguyện Nhóm tác giả sử dụng BCTN năm 2003 của 56 CTNY tại Bồ Đào Nha để thực hiện nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, loại kiểm toán viên, sự tập trung quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, ngành có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, trong khi đó đòn bẩy tài chính, lợi nhuận không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện
Nghiên cứu của Cheung và các cộng sự (2007) đã xem xét các mức độ CBTT
và tính minh bạch thông tin của các CTNY ở thị trường chứng khoán Thái Lan và Hồng Kông Nghiên cứu phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT và tính minh bạch thông tin thành nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị công ty Trong nhóm nhân tố tài chính, nhóm tác giả đưa ra các nhân tố gồm: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu quả sử dụng tài sản Đối với nhóm nhân tố quản trị công ty, nhóm tác giả đưa ra các nhân tố gồm: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu HĐQT và quy mô HĐQT Nghiên cứu trên của nhóm tác giả thực hiện khảo sát với số lượng 265 CTNY tại Thái Lan và 148 CTNY tại Hồng Kông Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTT và minh bạch thông tin của các công ty Thái Lan thì cao hơn các công ty ở Hồng Kông Trong đó, nhóm nhân tố tài chính như: quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo và khả năng sinh lợi dài hạn của công ty ảnh hưởng đến mức độ CBTT và minh bạch thông tin các công ty ở Hồng Kông, nhưng lại không ảnh hưởng đến các công ty ở Thái Lan Nhóm nhân tố quản trị công ty như quy mô HĐQT và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến
Trang 22mức độ CBTT và minh bạch thông tin các công ty ở Thái Lan nhưng lại không ảnh hưởng các công ty ở Hồng Kông Riêng biến tỷ lệ các giám đốc điều hành không phải
là thành viên của HĐQT (trong biến cơ cấu của HĐQT) càng lớn thì tính minh bạch và mức độ CBTT của các công ty càng cao ở cả Thái Lan và Hồng Kông Nghiên cứu cũng đã thực nghiệm để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT và tính minh bạch thông tin và kết luận rằng quản trị công ty tốt thì việc CBTT và minh bạch thông tin sẽ tốt hơn ở Thái Lan Tuy nhiên, nhóm tác giả chủ yếu chỉ so sánh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên giữa Thái Lan và Hồng Kông, đồng thời chỉ mới thống
kê mô tả về mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố tài chính và quản trị công ty, nhưng chưa giải thích được nguyên nhân sâu xa của các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm, chẳng hạn vì sao hầu như các nhân tố tài chính lại không ảnh hưởng đến mức
độ CBTT và minh bạch thông tin của các công ty ở Thái Lan nhưng lại có ảnh hưởng đối với các công ty ở Hồng Kông
Nghiên cứu Ageca và Onder (2007) về các nhân tố quản trị công ty ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện Nhóm tác giả sử dụng thông tin trên BCTN năm 2003 của 51 CTNY tại Thổ Nhĩ Kỳ để nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu cho thấy: lợi nhuận, kiểm toán viên có mối liên hệ tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, ngược lại quy mô công ty có tác động tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện, các nhân tố như cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tính đa quốc gia không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện
Nghiên cứu thực nghiệm của Mohamed và các cộng sự (2009) về nhân tố quản trị công ty ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện của các CTNY tại Malaysia, sử dụng thông tin công bố trên BCTN năm 2002 của 94 CTNY Các nhân tố quản trị được kiểm tra là quy mô HĐQT, tỷ lệ các giám đốc độc lập không điều hành trong HĐQT, cổ phần sở hữu bên ngoài, kiểm soát gia đình và tỷ lệ phần trăm thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành viên HĐQT Kết quả của cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô công ty, tỷ lệ các giám đốc độc lập với mức độ CBTT tự nguyện Tuy nhiên, mức độ CBTT tự nguyện có mối liên hệ tiêu cực đến kiểm soát gia đình Trong khi đó tỷ lệ phần trăm thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành viên HĐQT không có tác động đến mức độ CBTT tự nguyện
Nghiên cứu của Despina Galani và các cộng sự (2011) về tác động của đặc
Trang 23điểm công ty đến mức độ CBTT bắt buộc Nhóm tác giả sử dụng BCTN năm 2009 của
43 CTNY tại TTCK Athens, bao gồm 100 khoản mục CBTT bắt buộc để thực hiện nghiên cứu Kết quả cho thấy quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT bắt buộc, trong khi đó tuổi của công ty và khả năng sinh lời không có tác động đến mức độ CBTT bắt buộc Hạn chế mà bài nghiên cứu đưa ra là chỉ thực hiện trong một năm và tại một quốc gia, nghiên cứu cũng đề xuất thực hiện nghiên cứu trong khoảng thời gian dài hơn, từ năm tới mười năm
Nghiên cứu của Abdur Rouf (2011) về ảnh hưởng các nhân tố đặc điểm công ty
và các nhân tố quản trị công ty đến mức độ CBTT tự nguyện, sử dụng thông tin công
bố trên BCTN năm 2007 của 120 CTNY tại Bangladesh Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố: quy mô HĐQT, ủy ban kiểm toán, cơ cấu lãnh đạo HĐQT đến việc tăng mức độ CBTT tự nguyện Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng thành viên HĐQT và
ủy ban kiểm toán của công ty có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện
Nghiên cứu của Sanjay Bhayani (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
CBTT trên BCTN từ năm 2008 đến năm 2010 của 81 CTNY tại Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các công ty công bố thong tin nhiều hơn và thông tin minh bạch hơn là các công ty có quy mô lớn, đòn bẩy cao, lợi nhuận cao, niêm yết tại TTCK nước ngoài và được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn Tuy nhiên, thời gian hoạt động của một công ty và tình trạng cư trú (công ty đa quốc gia và công ty trong nước) không ảnh hưởng đáng kể đến mức độ CBTT
Nghiên cứu của Nandi và Ghosh (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTN từ năm 2000 đến năm 2009 của 60 CTNY tại Ấn Độ Kết quả cho thấy quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên ủy ban kiểm toán trên tổng số thành viên HĐQT, kiểm soát gia đình, chủ tịch HĐQT tách biệt với giám đốc điều hành, quy mô công ty, lợi nhuận, tính thanh khoản ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT, tỷ lệ giám đốc không điều hành trong HĐQT, đòn bẩy tài chính, tuổi công ty ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT
Nghiên cứu của các tác giả Ali Uyar, Merve Kilic, Nizamettin Bayyurt (2013)
về đặc điểm công ty và việc CBTT tự nguyện trên BCTN năm 2010 của 138 CTNY tại Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa mức độ CBTT tự nguyện
và các biến như quy mô công ty, quy mô của công ty kiểm toán, mức độ độc lập của
Trang 24các giám đốc trong hội đồng, đòn bẩy tài chính lại có mối liên hệ tiêu cực Nghiên cứu này có một số ý nghĩa đối với các công ty, kiểm toán viên, nhà đầu tư và nhà quản lý Tất cả các chủ thể này đóng vai trò quan trọng trong cải thiện tính minh bạch và CBTT của các công ty Các công ty có thể tăng việc CBTT tự nguyện bằng cách nhận thức được lợi ích của việc CBTT Các nhà đầu tư có thể yêu cầu công bố cao hơn từ sự quản lý Các nhà chức năng có thể hướng dẫn các công ty bằng việc ban hành các nguyên tắc hướng dẫn cho việc CBTT tự nguyện phù hợp trong BCTN Các công ty kiểm toán cũng có thể đóng góp vào việc cải thiện văn hoá công ty về CBTT
Nghiên cứu của Mohamed Moustafa Soliman (2013) đã khảo sát về ảnh hưởng của các nhân tố đặc điểm công ty với mức độ CBTT tự nguyện trong BCTN của 50 công ty ở Ai Cập đang niêm yết trên TTCK Ai Cập trong giai đoạn 2007 – 2010 Tác giả thực hiện phương pháp nghiên cứu phân tích hồi quy đa biến các nhân tố: quy mô công ty, chủ thể kiểm toán, lợi nhuận, thời gian niêm yết Kết quả là quy mô công ty
và lợi nhuận có mối quan hệ đáng kể đến mức độ CBTT trong BCTC của các công ty, còn chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động của công ty không có mối quan hệ nào với mức độ CBTT
Nghiên cứu Khaled Aljifri và các cộng sự (2014) nhằm xem xét ảnh hưởng của nhân tố đặc điểm công ty đến vấn đề CBTT thông qua nghiên cứu BCTN năm 2005 của 153 công ty ở các nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất Bài nghiên cứu đã tìm hiểu tác động của các nhân tố như: loại ngành, quy mô công ty, lợi nhuận, khả năng thanh toán, tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập đến mức độ CBTT và đưa ra tám giả thuyết nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng niêm yết, ngành nghề, quy mô công ty có tác động đến mức độ CBTT Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố loại ngành và quy mô công ty có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ CBTT Kết luận rút ra từ nghiên cứu này có thể được quan tâm bởi những nhà hoạch định chính sách và những nhà quản lý muốn cải thiện CBTT tài chính cho các công ty
ở nước họ
Nghiên cứu của Alnabsha, Abdou, Ntim, Elamer (2018) về các nhân tố ảnh hưởng mức độ CBTT trên BCTN của các CTNY tại Libya Nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu trên 211 BCTN từ năm 2006 đến năm 2010 của 45 công ty tại Libya, nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố quy mô HĐQT, tách biệt vai trò giám đốc điều
Trang 25hành, thành phần HĐQT, tần suất họp HĐQT, ủy ban kiểm toán, cấu trúc sở hữu (nước ngoài, nhà nước, công ty, giám đốc), quy mô công ty, tuổi công ty, lợi nhuận, thanh khoản, tình trạng niêm yết, loại ngành, kiểm toán viên, tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu đến mức độ CBTT Kết quả nghiên cứu được các nhân tố: tần suất họp HĐQT, ủy ban kiểm toán, tuổi công ty, thanh khoản, tình trạng niêm yết, loại ngành, kiểm toán viên, quy mô công ty ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT, ngược lại các nhân tố: quy mô HĐQT, thành phần HĐQT ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT Nghiên cứu này có ý nghĩa lý thuyết đối với các công ty, kiểm toán viên, nhà đầu tư và nhà quản lý của các nước đang phát triển
Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về vấn đề công bố thông tin
Tên tác giả
(Năm) Tên đề tài nghiên cứu Mục tiêu
Phương pháp nghiên cứu
Phạm vi và thời gian nghiên cứu Các nhân tố
Kết quả nghiên cứu
Firth (1979)
The Impact of Size,
Stock Market Listing and Auditors on Voluntary Disclosure in Corporate Annual Reports
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC năm
1975 của
180 CTNY tại Anh
Quy mô, tình trạng niêm yết, công ty kiểm toán
Quy mô, tình trạng niêm yết ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện
McNally et al
(1982)
Corporate Financial
Reporting in New Zeeland: An analysis of user preferences, corporate characteristics listed on the London Stock Exchange
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC năm
1978 của
103 CTNY tại New Zeeland
Quy mô công
ty, tỷ lệ lợi nhuận, tỷ lệ tăng trưởng, quy mô công
ty kiểm toán, nhóm ngành công nghiệp
Quy mô công ty ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện
Cooke (1992)
The Impact of Size,
Stock Market Listing and Industry
Type on Disclosure
in the Annual Repots of Japanese listed Corporations
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC năm
1989 của 35 CTNY tại Nhật
Quy mô công
ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp
Quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT
Cooke (1993) Japanese Corporate Disclosure in
Annual Reports
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
1989 của 48 CTNY tại Nhật
Quy mô công
ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp
Tình trạng niêm yết ảnh hưởng tích cực với mức
độ CBTT tự nguyện Ahmed and
Nicholls
(1994)
The impact of financial company characteristics on mandatory
non-Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC năm
1991 của 63 CTNY tại Bangladesh
Chỉ số công
bố, quy mô công ty, đòn bẩy, công ty
Trình độ kế toán trưởng, quy mô công
ty ảnh hưởng
Trang 26disclosure compliance in developing countries: the case
of Bangladesh
buộc kiểm toán,
công ty đa quốc gia, trình
độ kế toán trưởng
tích cực đến mức độ CBTT bắt buộc
Hossain và
các cộng sự
(1994)
Voluntary disclosure in an emerging capital market: Some empirical evidence from companies listed on the Kuala Lumpur Stock Exchange
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC năm
1991 của 67 CTNY tại Kuala Lumpur
Chỉ số công
bố, quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tài sản, công ty kiểm toán, tình trạng niêm yết
Quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, tình trạng niêm yết có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện
Wallace và
các cộng sự
(1994)
The Relationship between the comprehensiveness
of corporate annual reports and firm specific characteristics in Spain
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
1991 của 50 CTNY tại Tây Ban Nha
Chỉ số công
bố, quy mô công ty, đòn bẩy, lợi nhuận, công ty kiểm toán, tình trạng niêm yết, khả năng thanh toán
Quy mô công ty, tình trạng niêm yết ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT Khả năng thanh toán ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT
Meek & Gray
(1995)
Factors influencing
voluntary annual report disclosure U.S., U.K., and Continental European multinational corporations
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy, so sánh
BCTN (1989) 116 CTNY Mỹ,
64 CTNY Anh, 46 CTNY Châu
Âu
Quy mô công
ty, khu vực công ty, loại ngành, đòn bẩy, công ty
đa quốc gia, lợi nhuận, thời gian niêm yết
Quy mô, khu vực, thời gian niêm yết, ngành kinh doanh ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện.
Zarzeski
(1996)
Spontaneous harmonization effects of culture and market forces
on accounting disclosure practices
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy, so sánh
BCTN (1991-1993) của 256 CTNY (Pháp, Đức, Hồng Kông, Nhật Bản,
Na Uy, Anh, Mỹ)
Văn hóa doanh thu xuất khẩu, đòn bẩy tài chính, quy
mô công ty
Văn hóa doanh thu xuất khẩu, đòn bẩy tài chính, quy
mô công ty ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT
Owusu -
Ansah (1998)
The Impact of Corporate Attributes on the Extent of Mandatory Disclosure and Reporting by Listed
Companies in Zimbabwe
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT bắt buộc
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC, BCTN năm
1994 của 49 CTNY tại Zimbabwe
Tuổi công ty, quy mô công
ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu, chất lượng kiểm toán, loại ngành, khả năng thanh toán, đầu tư tài chính
Tuổi công
ty, quy mô công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu
có ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT bắt buộc
Trang 27Ho và Wong
(2001)
A stude of the relationship beteen corporate governance structure and the extent of voluntary disclosure
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
1997 của 98 CTNY tại Hồng Kông
Tỷ lệ các giám đốc độc lập/tổng số giám đốc trong HĐQT,
ủy ban kiểm toán, chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc điều hành, tỷ lệ thành viên gia đình trong HĐQT
Ủy ban kiểm toán ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện Tỷ
lệ thành viên gia đình trong HĐQT ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện
Châu và Gray
(2002)
Onership structure and corporatevoluntary disclosure in Hong Kong and Singgapore
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy, so sánh
BCTN năm
1999 của các CTNY tại Hồng Kông and Singgapore
Tỷ lệ sở hữu bên ngoài, công ty nội bộ hoặc quyền sở hữu gia đình
Tỷ lệ sở hữu bên ngoài ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện Công ty nội
bộ hoặc quyền sở hữu gia đình ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện
Ros Haniffa
và Terry
Cooke (2002)
Culture, corporate governance and disclosure in Malaysian corporations
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
1995 của
167 CTNY tại Malaysia
Văn hóa, quản trị (tỷ lệ giám đốc/HĐQT, vai trò kép trong công ty, trình độ giám đốc…) Tài chính (cơ cấu vốn, tài sản, lợi nhuận, nợ…)
Tỷ lệ thành viên gia đình trong HĐQT, chủ tịch không điều hành ảnh hưởng tiêu cực đến CBTT
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy, so sánh
BCTN của
1000 CTNY tại 33 quốc gia
Nhân tố văn hóa, nhân tố
hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia, nhân
tố hệ thống tài chính và hoạt động của công
ty
Tất cả các nhân tố trong nghiên cứu đều có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT
Ali và các
cộng sự
(2004)
Disclosure compliance with national accounting standards by listed companies in South
Asia
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc
Phân tích, tổng hợp, hồi quy, so sánh
BCTN của CTNY tại Pakistan, Ấn
Độ, Bangladesh
Quy mô công
ty, đòn bẩy tài chính, công ty
đa quốc gia, quy mô công
ty kiểm toán, lợi nhuận
Quy mô công ty, công ty đa quốc gia, lợi nhuận ảnh hưởng tích cực đến CBTT bắt buộc Waresul
Karim và Determinants of IAS Disclosure Xác định các nhân tố ảnh tích, tổng Phân BCTN năm 2003 của Quy mô công ty, lợi nhuận, Tất cả các nhân tố
Trang 28Jamal Udin
Ahmed
(2005)
Compliance in Emerging Economies:
Evidence from Exchangelisted Companies in Bangladesh
hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
hợp, hồi quy 188 CTNY tại
Bangladesh
mức độ bảo mật của các loại giao dịch chứng khoán, liên kết quốc
tế của kiểm toán viên công
ty, chi nhánh
đa quốc gia
trong nghiên cứu đều có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT
Oliveira và
cộng sự
(2006)
Firm specific determinants of intangibles reporting: evidence from the Portuguese
stock market
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
2003 của 56 CTNY tại
Bồ Đào Nha
Quy mô công
ty, kiểm toán viên, sự tập trung quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, ngành, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận
Quy mô công ty, kiểm toán viên, sự tập trung quyền
sở hữu, tình trạng niêm yết, ngành ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện
Cheung và
các cộng sự
(2007)
Determinants of Corporate Disclosure and Transparency:
Evidence from Hong Kong and Thailand Determinants of Corporate Disclosure and Transparency
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy, so sánh
BCTC, BCTN (2002) của
265 CTNY Thái Lan,
148 CTNY Hồng Kông
Quy mô công
ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo, hiệu quả sử dụng tài sản, mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu HĐQT, quy
mô HĐQT
Hồng Kông: quy mô công
ty, hiệu quả
sử dụng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo, lợi nhuận ảnh hưởng CBTT Thái Lan: quy mô/cơ cấu HĐQT ảnh hưởng CBTT Tỷ lệ giám đốc điều hành không là thành viên HĐQT ảnh hưởng CBTT 2 nước
Ageca và
Onder (2007)
Voluntary Disclosure In Turkey: A Study
On Firms Listed In Istanbul Stock Exchange (ISE)
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
2003 của 51 CTNY tại Thổ Nhĩ Kỳ
Quy mô công
ty, lợi nhuận, kiểm toán viên, cấu trúc
sở hữu, đòn bẩy, tính đa quốc gia
Lợi nhuận, kiểm toán viên ảnh hưởng tích cực đến CBTT tự nguyện Quy
mô công ty viên ảnh hưởng tiêu cực đến CBTT tự nguyện Mohamed và
các cộng sự
(2009)
Corporate Governance and Voluntary
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
Phân tích, tổng hợp, hồi
BCTN năm
2002 của 94 CTNY tại
Quy mô HĐQT, tỷ lệ giám đốc độc
Quy mô công ty, tỷ lệ các giám đốc
Trang 29Disclosure in Corporate Annual Reports of Malaysian Listed Firms
độ CBTT tự nguyện quy Malaysia lập không điều hành trong
HĐQT, tổng
số giám đốc điều hành, cổ phần sở hữu bên ngoài, kiểm soát gia đình, TLTV ban kiểm toán/tổng số thành viên HĐQT, lợi nhuận, đòn bẩy, tài sản, công ty kiểm toán
độc lập ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện Kiểm soát gia đình ảnh hưởng tiêu cực đến mức
độ CBTT tự nguyện
of Greece
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
2009 của 43 CTNY tại
Hy Lạp
Quy mô công
ty, tuổi của công ty, khả năng sinh lời
Quy mô công ty ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT bắt buộc
Abdur Rouf
(2011)
Corporate Characteristics, governance attributes and the exten of voluntary disclosure in Bangladesh
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
2007 của
120 CTNY tại Bangladesh
Quy mô HĐQT, ủy ban kiểm toán, cơ cấu lãnh đạo HĐQT
Quy mô HĐQT, ủy ban kiểm toán ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện
Sanjay
Bhayani
(2012)
Association beteen Firm-Specific Characteristics and Corporate Disclosure: The case of India
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN (2008-2010) của 81 CTNY tại
Ấn Độ
Quy mô công
ty, lợi nhuận, đòn bẩy, tình trạng niêm yết, cơ cấu sở hữu, quy mô công ty kiểm toán, khu vực, tuổi công ty
Quy mô, lợi nhuận, đòn bẩy, tình trạng niêm yết, cơ cấu
sở hữu công
ty, quy mô công ty kiểm toán ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT
Nandi và
Ghosh (2012)
Corporate governance attributes, firm characteristics and the level of corporate disclosure:
Evidence from the Indian listed firms
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN (2000-2009) của 60 CTNY tại
Ấn Độ
HĐQT, TLTV
ủy ban kiểm toán/tổng số thành viên HĐQT, kiểm soát gia đình, tách biệt chủ tịch HĐQT /giám đốc điều hành, quy mô công ty, lợi nhuận, thanh khoản, tỷ lệ giám đốc không điều hành trong HĐQT, đòn
Quy mô HĐQT, TLTV ủy ban kiểm toán/tổng số thành viên HĐQT, kiểm soát gia đình, tách biệt chủ tịch HĐQT/giám đốc điều hành, quy
mô công ty, lợi nhuận, thanh khoản ảnh hưởng
Trang 30bẩy, tuổi công
ty tích cực đến mức độ
CBTT Tỷ lệ giám đốc không điều hành trong HĐQT, đòn bẩy, tuổi công ty ảnh hưởng tiêu cực đến mức
Evidence from Turkish listed companies
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN năm
2010 của
138 CTNY tại Thổ Nhĩ
Kỳ
TLSH vốn cổ đông lớn, TLSH vốn tổ chức, TLSH vốn giám đốc độc lập, quy
mô HĐQT, chỉ
số quản trị công ty, tuổi công ty, quy
mô công ty, lợi nhuận, đòn bẩy, quy mô công ty kiểm toán
Tỷ lệ giám đốc độc lập, quy mô công
ty, quy mô công ty kiểm toán ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện Đòn bẩy ảnh hưởng tiêu cực đến mức
độ CBTT tự nguyện
of Egypt
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN (2007-2010) của 50 CTNY tại Ai Cập
Quy mô công
ty, chủ thể kiểm toán, lợi nhuận, tuổi công ty
Quy mô công ty, lợi nhuận ảnh hưởng tích cực đến mức
độ CBTT tự nguyện.
Khaled Aljifri
và các cộng
sự (2014)
The association between firm characteristics and corporate financial disclosures:
evidence from UAE
companies
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy, so sánh
BCTN năm
2005 của
153 CTNY ở các nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất
Ngành, tình trạng niêm yết, quy mô công ty, lợi nhuận, khả năng thanh toán, tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, ủy ban kiểm toán
Tình trạng niêm yết, loại ngành, quy mô công
ty ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT
Evidence from a developing country
Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức
độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
211 BCTN (2006-2010) của 45 công
ty tại Libya
Quy mô HĐQT, tách biệt vai trò giám đốc điều hành, thành phần HĐQT, tần suất họp HĐQT, ủy ban kiểm toán, cấu trúc sở hữu (nước ngoài, nhà nước, công ty, giám đốc), quy mô
Tần suất họp HĐQT, ủy ban kiểm toán, tuổi công ty, thanh khoản, tình trạng niêm yết, loại ngành, kiểm toán viên, quy mô công ty ảnh hưởng tích cực đến mức
Trang 31công ty, tuổi công ty, lợi nhuận, thanh khoản, tình trạng niêm yết, loại ngành, kiểm toán viên, tỷ lệ tổng nợ/vốn chủ sở hữu
độ CBTT Quy mô HĐQT, thành phần HĐQT ảnh hưởng tiêu cực đến mức
độ CBTT
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Các nghiên cứu trong nước cũng thể hiện một sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu đối với vấn đề CBTT của các CTNY nói chung và các CTNY từng của một số ngành trên TTCK Việt Nam
Nghiên cứu của Đoàn Nguyễn Trang Phương (2010): “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” cho rằng hai nhân tố khả năng sinh lời và chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng
đến mức độ công bố thông tin Nghiên cứu này giới thiệu một phương pháp ghi nhận chỉ số công bố thông tin Tuy nhiên, mẫu nghiên cứu chỉ có 50 công ty, một con số khá khiêm tốn so với tổng thể hơn 250 công ty tại thời điểm đó
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2013): “Nghiên cứu mức độ công bố thông tin
kế toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại SGDCK Hà Nội” chỉ
nghiên cứu các tác động của các biến thuộc đặc điểm tài chính đối với việc công bố thông tin như: quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lợi, đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán hiện hành, chủ thể kiểm toán, tốc độ tăng trưởng doanh thu Kết quả cho thấy chỉ
có nhân tố quy mô doanh nghiệp tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin, các biến còn lại không có ý nghĩa
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương (2013): “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” đã mở rộng mô hình nghiên
cứu của mình khi đưa ra các nhân tố thuộc về quản lý công ty, cấu trúc sở hữu và tính chất công ty Mô hình nghiên cứu này gồm các biến độc lập: tỷ lệ thành viên HĐQT không phải nhà quản trị, sự đồng nhất chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc, số lượng thành viên HĐQT, ban kiểm soát, sở hữu của cổ đông nước ngoài, sở hữu nhà nước, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, mức độ sinh lời, khả năng thanh toán, thời
Trang 32gian niêm yết, lĩnh vực hoạt động, tình trạng niêm yết, kiểm toán độc lập, số công ty con Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố: quy mô doanh nghiệp, mức độ sinh lời, thời gian niêm yết, kiểm toán độc lập, tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013): “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội” đã nghiên cứu ảnh hưởng của các
nhân tố: quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động, tài sản cố định Kết quả đã chỉ ra rằng nhân tố khả năng sinh lời, nhân tố tài sản cố định là các nhân tố tác động tích cực đến mức độ công
bố thông tin trong báo cáo tài chính
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” đã nghiên cứu các nhân tố: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, khả năng
sinh lợi, khả năng thanh toán, tài sản cố định, công ty kiểm toán ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính Kết quả nghiên cứu được khả năng thanh toán của các công ty có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ công bố thông tin, các biến còn lại không có ý nghĩa
Nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh
Phương (2014): “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính của công ty niêm yết” đã giới thiệu phương pháp khoa học khi xây dựng hệ thống chỉ mục
đo lường mức độ công bố thông tin khá hoàn chỉnh và lập luận một cách chặt chẽ về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Nghiên cứu đã hệ thống hoá và đóng góp nhiều giải pháp nhằm cải thiện mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về đặc điểm quản trị và sở hữu đến mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của hai tác giả Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015):
“Ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” đã phân các nhân tố đặc điểm doanh nghiệp
thành 4 nhóm: nhóm nhân tố thị trường (ngành sản xuất, công ty kiểm toán); nhóm
Trang 33hiệu suất hoạt động (khả năng thanh toán, lợi nhuận); nhóm quản trị (tỷ lệ sở hữu của HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT); nhóm cấu trúc công ty (quy mô công
ty, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ sở hữu nước ngoài) của 100 công ty trên SGDCK thành phố
Hồ Chí Minh Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sở hữu của HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin nhưng không cao, các nhân tố còn lại không ảnh hưởng
Nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2018):
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
đã phân tích ảnh hưởng của các nhân tố: quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, khả năng thanh toán, tài sản cố định, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập với ban giám đốc, tính độc lập của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành, thời gian niêm yết, chủ thể kiểm toán đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên năm 2015 của các công ty ngành hàng tiêu dùng trên TTCK Việt Nam Kết quả của nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin, khả năng thanh toán và chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ công bố thông tin, các nhân tố còn lại không ảnh hưởng
Trang 34Bảng 1.2: Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về vấn đề công bố thông tin
Tên tác
giả
(Năm) Tên đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phạm vi
và thời gian nghiên cứu
Các nhân tố Kết quả nghiên cứu
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC
2009 của
50 CTNY
Khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán
Khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT
kế toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại SGDCK Hà Nội
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC
2011 của
51 CTNY ngành xây dựng tại SGDCK
tăng trưởng doanh thu
Quy mô doanh nghiệp tác động đến tích cực đến mức độ CBTT
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC
2011 của
99 CTNY tại SGDCK TP.HCM
TLTV HĐQT không phải nhà quản trị, chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc, số lượng thành viên HĐQT, ban kiểm soát, TLSH vốn nước ngoải, TLSH vốn nhà nước, quy
mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, mức độ sinh lời, khả năng thanh toán, thời gian niêm yết, lĩnh vực hoạt động, tình trạng niêm yết, kiểm toán độc lập, số công ty con
Quy mô doanh nghiệp, mức độ sinh lời, thời gian niêm yết, kiểm toán độc lập, TLSH vốn nước ngoài có ảnh hưởng thuận chiều với mức
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC
2012 của
80 CTNY tại SGDCK
Hà Nội
Quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động,
TSCĐ
Khả năng sinh lời, tài sản cố định tác động tích cực đến
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC
2012 của
35 CTNY chế biến lương thực thực phẩm tại SGDCK TP.HCM
Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán, TSCĐ, công ty kiểm toán
Khả năng thanh toán của các CTNY có ảnh hưởng thuận chiều với mức
độ CBTT
Trang 35Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC
2011 của
99 CTNY tại SGDCK TP.HCM
TLTV HĐQT không điều hành, chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc, quy mô HĐQT, ban kiểm soát, TLSH vốn nước ngoài, TLSH vốn nhà nước, quy
mô công ty, thời gian niêm yết, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, lĩnh vực hoạt động-ngành sản xuất công nghiệp, công ty kiểm toán, số công ty con
Quy mô doanh nghiệp, thời gian niêm yết, TLSH cổ đông nước ngoài thuận chiều với mức độ CBTT trong BCTC Khả năng sinh lời có ảnh hưởng ngược chiều
và mức độ CBTT
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTN
2013 của
100 CTNY tại SGDCK TP.HCM
Loại ngành, công ty kiểm toán, lợi nhuận, khả năng thanh toán, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, TLSH vốn của HĐQT, doanh thu thuần, tổng tài sản, tỷ lệ đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài
Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập,
tỷ lệ đòn bẩy, tỷ
lệ sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng thuận chiều với mức
độ CBTT TLSH vốn của HĐQT
có ảnh hưởng ngược chiều
Phân tích, tổng hợp, hồi quy
BCTC, BCTN
2015 của
104 CTNY trên TTCK Việt Nam
Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, tỷ suất
nợ, khả năng thanh toán, tài sản cố định, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập với ban giám đốc, tính độc lập của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành, thời gian niêm yết, chủ thể kiểm toán
Quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT Khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
1.3 Nhận xét và khe hổng nghiên cứu
Qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, có thể nhận thấy nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin đã được nhiều tác giả nghiên cứu Mỗi nghiên cứu đều có những cách tiếp cận khác nhau và góp phần trình bày hệ thống cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Các nghiên cứu nước ngoài do thực hiện ở các nước khác nhau trên thế giới,
mà mỗi quốc gia khác nhau lại có sự phân biệt về luật pháp, chính sách, chế độ, cũng như các yêu cầu liên quan đến việc công bố thông tin cho nên không thể áp dụng kết quả nghiên cứu một cách rập khuôn, máy móc cho các công ty tại SGDCK Việt Nam Còn các nghiên cứu trong nước về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin đã được nhiều tác giả nghiên cứu với nhiều khía cạnh như: ngành nghề (xây dựng, chế biến, tài chính, hàng tiêu dùng, ), trên nhiều SGDCK (HSX, HNX, UPCoM,
Trang 36OTC), phân loại các nhân tố đặc điểm doanh nghiệp (tài chính, quản trị, cấu trúc vốn, hiệu suất hoạt động,…), trong các loại báo cáo (báo cáo tài chính, báo cáo quý, báo cáo thường niên,…) Trong đó, ngành hàng tiêu dùng đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm nên nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2018):
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
đã nghiên cứu ảnh hưởng 9 nhân tố (quy mô công ty, số năm niêm yết, khả năng thanh toán, tài sản cố định, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập với ban giám đốc, tính độc lập của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành, công ty kiểm toán) ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN năm 2015 của các CTNY ngành tiêu dùng trên TTCK Việt Nam Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu, mẫu nghiên cứu, hoàn cảnh nghiên cứu khác nhau sẽ có kết quả nghiên cứu khác nhau, nên cần thiết nghiên cứu thực nghiệm lại trong mỗi giai đoạn, nhằm so sánh sự thay đổi và tiến triển công bố thông tin trong mỗi giai đoạn, góp phần bổ sung vào cơ sở lý thuyết về
công bố thông tin Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên sở giao
dịch chứng khoán Việt Nam – Ngành hàng tiêu dùng” để nghiên cứu Đồng thời, dựa
trên các nghiên cứu trước đây, đặc biệt là nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2018), tác giả đã kế thừa và lựa chọn nghiên cứu ảnh hưởng của 10 nhân tố (quy mô công ty, số năm niêm yết, khả năng thanh toán, tài sản cố định, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ sở hữu vốn cổ đông lớn, tỷ lệ sở hữu nước vốn
cổ đông nước ngoài, tỷ lệ thành viên không điều hành trong HĐQT, công ty kiểm toán) đến mức độ CBTT trong BCTN năm 2018 của các CTNY ngành hàng tiêu dùng
trên SGDCK Việt Nam
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này tác giả trình bày các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty trên thế giới và Việt Nam Qua tham khảo các nghiên cứu trước đây có thể nhận thấy rằng, đề tài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin đã được nhiều tác giả nghiên cứu Trong đó, nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc có cùng hướng nghiên cứu với nghiên cứu của tác giả đều
là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty thuộc ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam Tuy nhiên, tác giả muốn nghiên cứu thực nghiệm lại vì hiện tượng và tiến triển công bố thông tin trong mỗi giai đoạn đều có sự khác nhau Dựa trên các nghiên cứu trước, tác giả kế thừa và lựa chọn xem xét một số các nhân tố tác động lên mức độ công bố thông tin như: quy mô công
ty, số năm niêm yết, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, tài sản cố định, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ sở hữu vốn cổ đông lớn, tỷ lệ sở hữu nước vốn cổ đông nước ngoài, công ty kiểm toán, tỷ lệ thành viên không điều hành trong HĐQT, để nghiên cứu đề
tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên
của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam – Ngành hàng tiêu
dùng”
Trang 38CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về công bố thông tin
2.1.1 Khái niệm về công bố thông tin
Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của thị trường chứng khoán là công bố thông tin Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế,
tổ chức khi tham gia vào thị trường phải có nghĩa vụ, trách nhiệm cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của công ty cho nhà đầu tư
Trong sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết, công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của công ty nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và
đồng thời Với định nghĩa này, có thể hiểu rằng: “Minh bạch thông tin là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một đơn vị, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này” (theo International Finance Corporation,
Public disclosure and transparency, Yerevan, May 2006)
Cụ thể hơn, công bố thông tin kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo thông tin tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên) CBTT bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc (Madatory disclosure)
và các công bố tự nguyện/không bắt buộc (Voluntarydisclosures):
- Công bố bắt buộc là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật kế toán, Luật kinh doanh, Ủy ban Chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán, các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán của VAS, GAAP, IFRS Hiện nay, CBTT bắt buộc mặc dù đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp quy tuy nhiên mức độ tuân thủ vẫn khác nhau giữa các công ty, ý thức
về công bố thông tin ở các công ty vẫn chưa cao
- Công bố tự nguyện là sự lựa chọn của công ty, không bắt buộc có nghĩa là một công ty có thể có hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu Hiện tại, các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của
Trang 39người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó và các công ty cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin dạng này
Nội dung được quy định trên báo cáo thường niên bị chi phối bởi chuẩn mực kế toán và chỉ mang tính hướng dẫn Như vậy trong phạm vi nghiên cứu này, nội dung thông tin báo cáo thường niên bao gồm thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện Nghiên cứu thông tin được công bố trên báo cáo thường niên chính là nghiên cứu hành
vi công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện
Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và làm giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa công ty
và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài công ty (Adina, Iond- 2008) Do đó, hành vi công bố thông tin của các công ty niêm yết trên SGDCK, có ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm vi mô trong tình hình tài chính của từng công ty, từng nhà đầu tư mà còn lan rộng trong cả nền kinh tế Điều đó giải thích vì sao các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng mức độ CBTT và đo lường mức độ CBTT không ngừng được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới Việc nghiên cứu này đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh nghiệp
Có nhiều cách tiếp cận với thông tin được công bố của các công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán như: qua website của các công ty, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng… Nguồn thông tin mà các nhà đầu tư, các bên thứ ba, các cơ quan quản lý có thể sử dụng bao gồm một hệ thống đa dạng các báo cáo thường niên, báo cáo bán niên, báo cáo bất thường của các doanh nghiệp
2.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin
Yêu cầu công bố thông tin trong chuẩn mực kế toán
Theo IFRS Framework - khuôn mẫu lý thuyết theo chuẩn mực quốc tế có 4 tính chất quan trọng của thông tin kế toán được yêu cầu phải thể hiện là:
Tính có thể hiểu được (Understandability): người lập báo cáo tài chính giả
định rằng người sử dụng có một kiến thức nhất định về kinh doanh, các hoạt động kinh
tế và kế toán Tuy nhiên không có nghĩa là các thông tin phức tạp nhưng thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng lại có thể không trình bày trên báo cáo tài chính với lý do là chúng được cho là quá khó hiểu đối với người sử dụng
Trang 40Tính thích hợp (Relevance): thông tin thích hợp là khi nó ảnh hưởng đến
quyết định của người dùng, giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai hay điều chỉnh các đánh giá trong quá khứ của họ Thông tin thích hợp chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu của nó
Trong một vài trường hợp, chỉ riêng bản chất cũng đủ để xác định tính thích hợp của chúng Ví dụ: báo cáo của một đơn vị thành viên có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro và cơ hội mà đơn vị đang đối mặt mà không cần xét đến tính trọng yếu của kết quả đạt được của đơn vị thành viên đó trong kỳ báo cáo Trong các trường hợp khác, cả bản chất và mức trọng yếu của thông tin đều quan trọng Ví dụ: giá trị của mỗi loại hàng hoá tồn kho chủ yếu đều quan trọng đối với doanh nghiệp
Thông tin được xem là trọng yếu, nếu thiếu hay sai lệch thông tin có thể ảnh hưởng đến người sử dụng khi họ dựa trên báo cáo tài chính để ra quyết định Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn của khoản mục hay sai sót được đánh giá trong từng trường hợp cụ thể
Tính đáng tin cậy (Reliability): thông tin đáng tin cậy là thông tin không chứa
đựng các sai sót hay chênh lệch trọng yếu và được trình bày trung thực Để đạt được điều này, thông tin cần phải được:
- Trình bày trung thực: trình bày các sự kiện, nghiệp vụ theo đúng nội dung xảy
ra hay dự đoán hợp lý Phần lớn các thông tin tài chính có thể được trình bày thiếu trung thực không phải vì chênh lệch mà do khó khăn trong việc xác định nghiệp vụ hay sự kiện cũng như đo lường giá trị của nghiệp vụ
- Tôn trọng nội dung hơn hình thức: các nghiệp vụ hay sự kiện phải được tính
toán và trình bày theo nội dung và tính chất kinh tế chứ không phải đơn thuần theo hình thức pháp lý Nội dung và hình thức pháp lý không phải lúc nào cũng nhất quán
- Khách quan: thông tin được trình bày phải khách quan, không bị xuyên tạc,
không được trình bày nhằm để đạt được kết quả đã được xác định trước
- Thận trọng: là việc cân nhắc trong điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc
thận trọng không cho phép khai thiếu tài sản và thu nhập hay khai khống chi phí
- Đầy đủ: thông tin trình bày trên BCTC phải đầy đủ trong giới hạn của tính
trọng yếu và chi phí Việc thiếu thông tin có thể dẫn đến thông tin sai lệch hay chệch hướng và thông tin có thể trở nên không đáng tin cậy hay không thích hợp