1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty xi măng Nghi Sơn đến năm 2015

78 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 687,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.2 Phân tích và đánh giá môi trường bên ngoài Phân tích môi trường bên ngoài tập trung vào việc nhận diện và đánh giá các xu hướng cùng sự kiện vượt quá khả năng kiểm soát của công t

Trang 1

- 1 -

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

===o0o===

TRẦN XUÂN PHƯƠNG

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG TY XI MĂNG NGHI SƠN ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG NGỌC ĐẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2006

Trang 2

- 2 -

CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC

“Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh

nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động (courses of action) và phân bố các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó” (Alfred

Chandler, Strategy & Structure, 1962) Đây là một trong những định nghĩa được dùng

phổ biến nhất hiện nay

Những chiến lược chủ yếu của một công ty bao gồm những mục tiêu, những đảm bảo về nguồn lực (tài nguyên) để đạt được những mục tiêu và những chính sách chủ yếu cần được tuân theo (cách thức hay đường lối) trong khi sử dụng những nguồn lực này Do đó, chiến lược cần được định ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát chỉ hướng cho công ty đi đến mục tiêu mong muốn

Quá trình hình thành chiến lược bao gồm việc xác định sứ mạng và phát

triển các mục tiêu kinh doanh của công ty, thực hiện phân tích và đánh giá môi trường bên ngoài để xác định các cơ hội và nguy cơ đe dọa đến công ty từ bên ngoài, đồng thời phân tích môi trường bên trong công ty nhằm chỉ rõ các điểm mạnh và điểm yếu trong nội bộ công ty, từ đó thiết lập các mục tiêu dài hạn, tạo ra các chiến lược thay thế và lựa chọn ra những chiến lược đặc thù để theo đuổi

1.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

1.2.1 Xác định sứ mạng và mục tiêu của doanh nghiệp

Khái niệm: Sứ mạng hay nhiệm vụ (mission) là một phát biểu có giá trị lâu

dài về mục đích, nó phân biệt công ty này với công ty khác Những phát biểu như vậy còn gọi là phát biểu của một công ty về triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh, những niềm tin của công ty

Trang 3

Bản sứ mạng của công ty cần được triển khai và phác họa thành một loạt những mục tiêu cụ thể Mục tiêu được định nghĩa là những thành quả hoặc kết quả mà nhà quản trị muốn đạt được trong tương lai cho tổ chức mình

1.2.2 Phân tích và đánh giá môi trường bên ngoài

Phân tích môi trường bên ngoài tập trung vào việc nhận diện và đánh giá các

xu hướng cùng sự kiện vượt quá khả năng kiểm soát của công ty, chẳng hạn như mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia, việc cạnh tranh ở nước ngoài, bùng nổ công nghệ thông tin … sẽ cho thấy những vận hội và các mối nguy cơ quan trọng mà một tổ chức gặp phải để các nhà quản lý có thể soạn thảo chiến lược nhằm tận dụng những cơ hội và tránh hay làm giảm đi ảnh hưởng của các mối đe dọa đó Môi trường bên ngoài bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô

1.2.2.1 Môi trường vĩ mô

Có rất nhiều yếu tố của môi trường vĩ mô khác nhau ảnh hưởng đến bối cảnh tác nghiệp tạo ra những cơ hội và nguy cơ đe dọa đối với các hoạt động của doanh

nghiệp như yếu tố kinh tế, luật pháp, văn hóa-xã hội v.v…

a Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đối với sức thu hút tiềm năng của các chiến lược khác nhau Các ảnh hưởng của môi trường kinh tế như: tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh tế, sự tăng/giảm lãi suất, giá cổ phiếu, xu hướng

về giá trị của đồng đô la Mỹ, hệ thống thuế và mức thuế; v.v…

Trang 4

- 4 -

b Môi trường luật pháp và chính trị

Môi trường luật pháp bao gồm các thể chế, chính sách, quy chế, định chế, luật lệ, chế độ đãi ngộ, thủ tục, qui định, … của Nhà nước Tại một số nước cũng phải kể đến mức độ ổn định chính trị hay tính bền vững của chính phủ Luật lệ và các cơ quan nhà nước cùng với các nhóm áp lực đều có vai trò điều tiết các hoạt động kinh

doanh cụ thể nhằm ba mục đích chính sau: (1) Bảo vệ quyền lợi của các công ty trong

quan hệ cạnh tranh với nhau, ngăn cản các thủ thuật cạnh tranh không lành mạnh,

(2)Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong trường hợp các nhà kinh doanh không tôn

trọng khách hàng của mình về chất lượng sản phẩm, về giá cả, về cách thức phân

phối và cả trong chiêu thị, (3) Bảo vệ công chúng dưới dạng các nhóm xã hội, chống lại các cung cách kinh doanh tùy tiện, vô trách nhiệm đối với xã hội

c Môi trường văn hóa-xã hội

Môi trường này bao gồm các yếu tố như vai trò nữ giới, áp lực nhân khẩu, phong cách sống, đạo đức, truyền thống, tập quán, tỷ lệ tăng dân số, sự dịch chuyển dân số, trính độ dân trí v.v… Những thay đổi về địa lý, nhân khẩu, văn hóa và xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến hầu như tất cả các quyết định về sản phẩm, dịch vụ, thị trường và người tiêu thụ

d Môi trường tự nhiên

Phân tích môi trường tự nhiên bao gồm việc xem xét đến các vấn đề về ô nhiễm môi trường, nguồn năng lượng ngày càng khan hiếm, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản được khai thác bừa bãi, chất lượng môi trường tự nhiên có nguy cơ xuống cấp, v.v… Ngoài ra, nhà quản trị phải lưu ý các trường hợp bất khả kháng trong thiên nhiên như thiên tai, bão lụt, dịch họa … để dự trù các biện pháp đối phó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

e Môi trường công nghệ

Đối với doanh nghiệp, các yếu tố công nghệ hoặc liên quan đến công nghệ

Trang 5

- 5 -

như R&D (nghiên cứu và phát triển), bản quyền công nghệ, khuynh hướng tự động hóa, chuyển giao công nghệ, … đều có thể vừa là vận hội, vừa là mối đe dọa mà chúng phải được xem xét đúng mức trong việc soạn thảo chiến lược Vì sự thay đổi công nghệ nhanh cũng có nghĩa thu ngắn chu kỳ sống hay vòng đời của sản phẩm liên hệ Những công nghệ mới cũng đem lại những qui trình công nghệ mới giúp giảm chi phí đáng kể trong giá thành sản phẩm Tiến bộ kỹ thuật có thể tạo ra những ưu thế cạnh tranh mới, mạnh mẽ hơn các ưu thế hiện có

f Môi trường Quốc tế

Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay Các luật lệ và qui định thống nhất của các thành viên của Cộng đồng chung Châu Aâu, ngân hàng thế giới, Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các hiệp định tự do thương mại khu vực và thế giới, các hội nghị thượng đỉnh về kinh tế … đã góp phần vào sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên toàn cầu và những thị trường chung toàn cầu đang xuất hiện, đặt ra các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn về vấn đề ô nhiễm môi trường, các luật chống độc quyền, chống bán phá giá … Các chiến lược gia cần phải tận dụng được những lợi thế mà xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, đồng thờiø hạn chế những rủi ro từ môi trường quốc tế, đó là sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ nước ngoài, với sản phẩm có giá cả cạnh tranh và chất lượng hơn v.v…

1.2.2.2 Môi trường vi mô

Đây là môi trường tác nghiệp của công ty Michael Porter (thuộc trường Quản

Trị Kinh Doanh Harvard) đã đưa ra mô hình 5 tác lực tạo thành bối cảnh cạnh tranh

trong ngành kinh doanh như hình 1-1

Trang 6

- 6 -

Hình 1-1: Mô hình 5 tác lực cạnh tranh của Michael Porter

Nguy cơ từ đối thủ Cạnh tranh mới

Khả năng thương lượng Khả năng mặc cả của nhà cung cấp của khách hàng

Nguy cơ từ sản phẩm thay thế

Đối thủ tiềm năng

Sản phẩm thay thế

CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH

Cạnh tranh trong ngành

Người Mua

Nhà Cung cấp

Nguồn: Nguyễn Tấn Phước (1996), Chiến lược và chính sách kinh doanh

a Đối thủ tiềm năng (Potential competitors)

Đối thủ tiềm năng bao gồm các công ty mới tham gia vào ngành, khả năng cạnh tranh hiện tại của họ còn yếu, nhưng rất có tiềm năng và vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai Đối thủ tiềm năng có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết Do đó, khi xây dựng chiến lược nhà quản trị cần xem xét đến nguy cơ do sự gia nhập ngành của những đối thủ mới có tiềm

năng

b Đối thủ cạnh tranh hiện tại

Tác lực thứ hai trong 5 tác lực cạnh tranh theo mô hình của Michael Porter là các đối thủ cạnh tranh vốn đã có vị thế vững vàng trên thị trường trong cùng một ngành nghề kinh doanh Mức độ cạnh tranh càng cao, giá cạnh tranh càng giảm kéo theo lợi nhuận giảm Có ba nhân tố quan trọng tạo thành mức độ cạnh tranh giữa các

Trang 7

- 7 -

công ty hoạt động trong cùng ngành kinh doanh, đó là (1) cơ cấu cạnh tranh; (2) tình hình nhu cầu thị trường; và (3) Các rào cản ra khỏi ngàng của các doanh nghiệp Phần quan trọng của việc kiểm soát các yếu tố bên ngoài là phải nhận diện được tất cả các đối thủ cạnh tranh và xác định được ưu thế, khuyết điểm, khả năng, vận hội, mối đe dọa, mục tiêu và chiến lược của họ

c Khách hàng

Tác lực thứ ba trong 5 tác lực theo mô hình của Michael Porter là khả năng mặc cả của khách hàng Thông thường, khách hàng yêu cầu giảm giá hoặc yêu cầu chất lượng hàng hóa phải tốt hơn, đi kèm với dịch vụ hoàn hảo Điều này khiến cho chi phí hoạt động tăng thêm tạo nguy cơ về giá cạnh tranh

d Nhà Cung cấp

Tác lực thứ tư là khả năng mặc cả của nhà cung cấp Nhà cung cấp không chỉ cung ứng nguyên vật liệu, trang thiết bị, sức lao động mà cả những công ty tư vấn, cung ứng dịch vụ quảng cáo, vận chuyển, nói chung là cung cấp các đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh Để tránh được sự mặc cả hoặc sức ép của nhà cung cấp công ty nên xây dựng mối quan hệ đôi bên cùng có lợi (win-win relations) hoặc dự trù các nguồn cung cấp đa dạng khác nhau

e Sản phẩm thay thế

Tác lực cuối cùng trong 5 tác lực theo mô hình của Michael Porter là sức cạnh tranh của những sản phẩm thay thế Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành hoặc các ngành hoạt động kinh doanh cùng có chức năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng giống nhau của khách hàng Để hạn chế sức ép quan trọng của nguy cơ này, công ty cần phải xem xét hết sức cẩn thận khuynh hướng giá cả và dự báo của các sản phẩm thay thế trong tương lai

Ngoài năm tác lực quan trọng trong mô hình năm tác lực của Michael Porter nói trên, trong quá trình phân tích môi trường vi mô, công ty cũng phải hết sức quan tâm đến một số yếu tố khác như: nhà phân phối, cổ đông, cộng đồng, liên đoàn lao

Trang 8

- 8 -

động, … để xác định những cơ hội và nguy cơ đến hoạt động kinh doanh của công ty

1.2.2.3 Ma trận đánh giá môi trường bên ngoài (EFE)

Ma trận EFE cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá các thông tin kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân khẩu, địa lý, chính trị, pháp luật, công nghệ và cạnh tranh v.v… bằng cách phân loại tầm quan trọng và cho điểm từ 0 đến 1 cho mỗi yếu tố Từ đó, các nhà chiến lược có thể nhận diện được những cơ hội và mối đe dọa từ bên ngoài tác động đến công ty Tiến trình xây dựng một ma trận EFE (hình 1-2):

Hình 1-2: Tiến trình xây dựng ma trận EFE

Cộng điểm các yếu tố trên danh mục

Phân loại các yếu tố từ 1 đến 4

Tính điểm mỗi yếu tố tố

(1) (2) (3) (4) (5)

Nguồn: Fred R.David (2003),Khái luận về Quản trị chiến lược

1.2.2.4 Ma trận hình ảnh cạnh tranh

Trong tất cả các sự kiện và xu hướng môi trường có thể ảnh hưởng đến vị trí chiến lược của một công ty, ảnh hưởng cạnh tranh thường được xem là quan trọng nhất Ma trận hình ảnh cạnh tranh nhận diện những nhà cạnh tranh chủ yếu cùng những ưu thế và khuyết điểm đặc biệt của họ

1.2.3 Phân tích và đánh giá môi trường bên trong

Phân tích môi trường bên trong của công ty là việc nhận định và đánh giá các điểm mạnh và các điểm yếu trong quan hệ với các chiến lược cấp bộ phận chức năng của công ty, bao gồm quản trị, marketing, tài chính, kế toán, sản xuất, nhân lực, nghiên cứu và phát triển (R&D), và các hệ thống thông tin Xây dựng các chiến lược một phần nhằm cải thiện các điểm yếu của công ty, biến nó thành điểm mạnh, và nếu có thể thì trở thành khả năng đặc biệt của công ty

1.2.3.1 Quản trị

Hoạt động quản trị có năm chức năng cơ bản sau:

Trang 9

- 9 -

¾ Hoạch định bao gồm tất cả các hoạt động quản trị liên quan đến việc

chuẩn bị cho tương lai Các nhiệm vụ cụ thể là dự đoán, thiết lập mục tiêu, đề ra các chiến lược, phát triển các chính sách, hình thành các mục đích

¾ Tổ chức bao gồm tất cả các hoạt động quản trị tạo ra cơ cấu của mối

quan hệ giữa quyền hạn và trách nhiệm Những công việc cụ thể là thiết kế tổ chức, chuyên môn hóa công việc, chi tiết hóa công việc, thống nhất mệnh lệnh, phối hợp sắp xếp, thiết kế công việc, và phân tích công việc

¾ Thúc đẩy gồm những nổ lực nhằm định hướng hoạt động của con người,

cụ thể là lãnh đạo, các nhóm làm việc chung, thay đổi cách hoạt động, ủy quyền, nâng cao chất lượng công việc, thay đổi tổ chức, tinh thần nhân viên và quản lý…

¾ Nhân sự, hoạt động nhân sự tập trung vào quản lý cá nhân hay quản lý

nguồn nhân lực, bao gồm tuyển dụng, quản lý tiền lương, phúc lợi nhân viên, an toàn cho nhân viên, cơ hội làm việc công bằng, quan hệ với liên đoàn lao động, chính sách kỷ luật, thủ tục phản đối, công tác quần chúng

¾ Kiểm soát liên quan đến tất cả các hoạt động quản lý nhằm đảm bảo

cho kết quả thực tế phù hợp, nhất quán với kết quả đã được hoạch định, như kiểm tra chất lượng, kiểm soát tài chính, bán hàng, tồn kho, phân tích những thay đổi,

1.2.3.2 Sản xuất/tác nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh, sản xuất/tác nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động nhằm biến đổi đầu vào thành hàng hóa và dịch vụ Quản trị sản xuất là quản trị đầu vào, quá trình biến đổi và đầu ra, những yếu tố này khác nhau tùy theo ngành nghề và môi trường Các chức năng cơ bản của hoạt động quản trị sản xuất: (1) Qui trình

sản xuất; (2) Công suất; (3) hàng tồn kho; (4) Lực lượng lao động; (5) Chất lượng

Sản xuất là chức năng gắn liền với việc chế tạo ra sản phẩm, một trong những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp Có hai khái niệm quan trọng cần phải lưu ý khi triển khai chiến lược sản xuất, một trong những chiến lược cấp bộ phận

chức năng, đó là Đường cong kinh nghiệm và vòng đời của sản phẩm Các

Trang 10

- 10 -

hoạt động sản xuất/ tác nghiệp thường chiếm phần lớn nhất trong tổng tài sản vốn và con người của một tổ chức Các chi phí chủ yếu để sản xuất ra sản phẩm đều nằm trong quá trình thực hiện sản xuất, vì vậy sản xuất có thể có giá trị lớn, là vũ khí cạnh tranh trong chiến lược tổng quát của công ty

1.2.3.3 Marketing

Có thể được mô tả như một quá trình xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mãn các nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm hay dịch vụ Các yếu tố marketing ngày càng giữ vai trò quan trọng trong kinh doanh nhất là trên quan điểm chiến lược Quản trị chiến lược marketing chú trọng các điểm sau:

¾ Nghiên cứu thị trường

¾ Phân khúc thị trường (market segmenting)

¾ Chọn lựa những phân khúc thị trường mục tiêu (target market segments)

¾ Hoạch định chiến lược marketing-mix (4P, bao gồm sản phẩm, giá cả, chiêu thị và phân phối)

¾ Định vị thị trường (market positioning)

Chức năng của bộ phận quản lý Marketing bao gồm việc phân tích, lập kế hoạch , thực hiện và kiểm tra các nỗ lực tiếp thị Đây là một tiến trình toàn vẹn nhằm giúp các công ty đạt được các cơ may thị trường Chiến lược Marketing bao gồm việc nhận dạng các thị trường mục tiêu, đồng thời đưa ra các chương trình tiếp thị phù hợp với thị trường hoặc phân khúc thị trường đã chọn lựa

1.2.3.4 Tài chính

Điều kiện tài chính thường được xem là phương pháp đánh giá vị trí cạnh tranh tốt nhất của công ty và là điều kiện thu hút nhất đối với các nhà đầu tư Để hình thành hiệu quả các chiến lược cần xác định những điểm mạnh và yếu về tài chính của tổ chức Các yếu tố tài chính thường làm thay đổi các chiến lược hiện tại và việc thực hiện các kế hoạch Các chức năng của tài chính bao gồm:

¾ Khả năng huy động vốn

Trang 11

- 11 -

¾ Quản trị rủi ro tài chính

¾ Khả năng sinh lãi

1.2.3.5 Nghiên cứu và phát triển (R&D)

Để nghiên cứu hiệu quả những mặt mạnh, yếu thì cần phải xem xét đến hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D) Chiến lược R&D của một công ty có thể tập trung vào ba loại chính:

¾ Chiến lược đổi mới sản phẩm (Product Innovation)

¾ Chiến lược phát triển sản phẩm (Product Development)

¾ Chiến lược đổi mới tiến trình (Process Innovation)

Ngoài ra, các chiến lược R&D còn phụ thuộc vào các giai đoạn trong vòng đời hay chu kỳ sống của ngành kinh doanh hoặc ngành công nghệ để có thể xác định tỷ lệ phát triển hay đổi mới một cách thích nghi

1.2.3.6 Nguồn nhân lực

Nhân lực là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của một tổ chức Quản trị nguồn nhân lực có thể hiểu một cách khái quát bao gồm các công tác tuyển mộ, sắp xếp, đào tạo và điều động nhân sự Mục tiêu của quản trị chiến lược về nguồn nhân lực là phát triển một kế hoạch nhân sự phù hợp với những yêu cầu chiến lược của công ty, cả ngắn hạn lẫn dài hạn

1.2.3.7 Hệ thống thông tin

Thông tin liên kết tất cả các chức năng trong kinh doanh với nhau và cung cấp

cơ sở cho tất cả các quyết định quản trị Thông tin biểu hiện những bất lợi hay lợi thế cạnh tranh chủ yếu Đánh giá các điểm mạnh và yếu về các hệ thống thông tin bên trong của công ty là khía cạnh quan trọng của việc thực hiện kiểm soát nội bộ Mục đích của hệ thống thông tin là nhằm cải tiến các hoạt động ở một công ty bằng cách nâng cao chất lượng của các quyết định quản trị

1.2.4 Ma trận đánh giá môi trường bên trong (IFE)

Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (hình 1-3) cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh và yếu quan trọng của các bộ phận kinh doanh chức năng, và nó cũng cung cấp cơ sở để xác định và đánh giá mối quan hệ giữa các bộ phận này Tiến trình xây dựng một ma trận IFE cũng bao gồm 5 bước (hình 1-2)

Trang 12

- 12 -

tương tự như tiến trình xây dựng ma trận EFE đã được trình bày ở phần trên

Hình 1-3: Tiến trình xây dựng ma trận IFE

Liệt kê

các yếu tố

bên trong

Xác định mức độ quan trọng của từng yếu

Phân loại các yếu tố từ 1-4

Tính điểm mỗi yếu tố

Cộng điểm các yếu tố

(1) (2) (3) (4) (5)

Nguồn: Fred R.David (2003),Khái luận về Quản trị chiến lược

1.2.5 Các mục tiêu dài hạn

Các mục tiêu dài hạn biểu hiện các kết quả mong đợi của việc theo đuổi các

chiến lược nào đó Khung thời gian cho mục tiêu và chiến lược phải phù hợp nhau, từ 2 đến 5 năm Các mục tiêu phải có khả năng định lượng, đo lường, thực tế, dễ hiểu, khó khăn, được sắp xếp có hệ thống, có thể đạt được và thích hợp với các đơn

vị của công ty Các mục tiêu thường được ấn định cho các chỉ tiêu, chẳng hạn như mức tăng trưởng của vốn, của doanh thu, mức doanh lợi, thị phần …

Những mục tiêu được thiết kế rõ ràng sẽ mang lại rất nhiều lợi ích Chúng sẽ định hướng, làm phát triển tinh thần làm việc tập thể, hỗ trợ cho việc đánh giá, thiết lập các thứ tự ưu tiên, giảm những điều không chắc chắn, tối thiểu hóa các mâu thuẫn, kích thích sự nỗ lực, hỗ trợ cho việc phân phối nguồn lực và thiết kế công việc

1.3 PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC VÀ LỰA CHỌN

Việc phân tích chiến lược và lựa chọn chủ yếu là việc ra các quyết định chủ quan dựa trên các thông tin khách quan, thiết lập các mục tiêu dài hạn, đề ra các chiến lược có khả năng thay thế, và chọn lựa các chiến lược để theo đuổi Phân tích chiến lược và lựa chọn nhằm xác định các tiến trình hoạt động có thể lựa chọn để nhờ chúng mà công ty có thể hoàn thành trách nhiệm và mục tiêu của nó Các chiến lược, mục tiêu và sứ mệnh hiện tại của công ty cộng với các thông tin kiểm soát bên

Trang 13

Các khía cạnh hình thành và lựa chọn chiến lược như cách cư xử, văn hóa và chính trị luôn luôn là vấn đề quan trọng cần phải được xem xét và quản trị Do sự gia tăng áp lực của luật pháp từ các nhóm bên ngoài mà các ban quản trị đảm trách vai trò chủ động hơn trong việc phân tích và lựa chọn chiến lược

Kết luận chương 1:

Xây dựng chiến lược là một quá trình bao gồm việc phân tích môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp trên cơ sở sứ mạng và mục tiêu kinh doanh vạch sẵn của doanh nghiệp để soạn thảo và chọn lựa các chiến lược thích nghi Để hình thành các chiến lược cần đánh giá xem công ty có thực hiện những biện pháp đúng đắn hay không, và những hoạt động hiện tại của nó có thể được thực hiện hiệu quả hơn bằng cách nào Sự đánh giá lại thường xuyên các chiến lược sẽ giúp cho các nhà quản trị tránh được sự tự mãn Các mục tiêu và chiến lược nên được quan tâm phát triển và kết hợp và không vượt ra khỏi các quyết định thực hiện hàng ngày

Các khía cạnh hình thành và lựa chọn chiến lược như cách cư xử, văn hóa và chính trị luôn luôn là vấn đề quan trọng cần phải được xem xét và quản trị Do sự gia tăng áp lực của luật pháp từ các nhóm bên ngoài mà các ban quản trị đảm trách vai trò chủ động hơn trong việc phân tích và lựa chọn chiến lược

Trang 14

- 14 -

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

CỦA CÔNG TY XI MĂNG NGHI SƠN 2.1 TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY XI MĂNG NGHI SƠN

2.1.1 Giới thiệu chung

Tên công ty: Công ty Liên Doanh Xi Măng Nghi Sơn

Tên giao dịch tiếng Anh: Nghi Sơn Cement Corporation (NSCC)

Biểu tượng của công ty:

Biểu tượng của công ty Xi măng Nghi Sơn là hình ba quả núi, biểu trưng cho sự vững mạnh và đoàn kết giữa ba tập đoàn: Tổng Công ty xi măng Việt Nam

(VNCC), Tập đoàn xi măng Taiheiyo và Công ty vật liệu Mitsubishi

Trụ sở chính/ Nhà máy: Tại xã Hải Thượng, Huyện Tĩnh Gia, Tỉnh Thanh Hóa Các chi nhánh: Chi nhánh Hà Nội & TP.Hồ Chí Minh

Trạm phân phối Tp.HCM: Tại KCN Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, Tp.HCM

Hình thức đầu tư: Liên doanh giữa VNCC (35%) và NMCC (65%)

Công ty Xi măng Nghi Sơn (NSCC) là liên doanh được thành lập vào năm

1995 giữa Tổng Công ty xi măng Việt Nam (VNCC) – nhà sản xuất xi măng hàng đầu trong nước, và hai tập đoàn của Nhật Bản là Tập đoàn xi măng Taiheiyo và Công ty vật liệu Mitsubishi (NMCC) – là những tập đoàn đa quốc gia có uy tín của Nhật Bản, do Uûy Ban Nhà Nước về hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư) phê duyệt theo Giấy phép đầu tư số 1200/GP ngày 11 tháng 4 năm 1995 Công

ty xi măng Nghi Sơn đã trở thành thành viên mới của Ngành công nghiệp Xi măng Việt Nam Cho đến nay, đây là dự án đầu tư lớn nhất của Nhật Bản vào Việt Nam

Những công nghệ Nhật Bản tiên tiến nhất được ứng dụng cho mỗi công đoạn trong nhà máy của công ty Xi măng Nghi Sơn Phần lớn sản phẩm sẽ được tiêu thụ

Trang 15

- 15 -

trong nước và phần còn lại sẽ được xuất ra nước ngoài Một trong những điểm đặc trưng lớn nhất của sản phẩm xi măng Nghi Sơn đó là chất lượng cao và ổn định Nhà máy được trang bị công nghệ Nhật Bản tiên tiến nhất để đảm bảo cung cấp xi măng chất lượng cao

2.1.2 Giới thiệu các bên liên doanh

Tổng công ty xi măng Việt Nam (VNCC) là doanh nghiệp Nhà nước được Thủ

tướng Chính Phủ ký quyết định thành lập số 670/TTg ngày 14/11/1994, chuyển đổi từ Liên hiệp các Xí nghiệp xi măng Việt Nam, bao gồm 5 thành viên với tổng công suất thiết kế khoảng 6,1 triệu tấn/năm Là nhà cung cấp xi măng lớn nhất Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm, chiếm 85% thị phần xi măng nội địa trong cả nước Với chức năng và Nhiệm vụ:”… Tổng công ty xi măng Việt Nam là công cụ chủ yếu của Nhà Nước để tham gia bình ổn và kiểm soát thị trường xi măng trong toàn quốc…”

Tập đoàn xi măng Taiheiyo (Taiheiyo Cement Corporation) thành lập vào

tháng 5 năm 1881, trụ sở tại Tokyo-Nhật bản, bao gồm 327 chi nhánh và 153 cơ sở được tổ chức thành bảy công ty thành viên kinh doanh về các lĩnh vực xi măng, khai thác khoáng sản, môi trường, bất động sản, vật liệu xây dựng, gạch men & điện tư, và kinh doanh quốc tế Là một trong những tập đoàn lớn nhất Nhật Bản với tổng vốn đầu tư là 610 triệu USD, 2143 nhân viên, và 48089 cổ đông (tính đến 31/3/2006)

Công ty vật liệu Mitsubishi (Mitsubishi Materials Corporation) thành lập vào

năm 1950, trụ sở tại Tokyo-Nhật bản, với tổng vốn đầu tư là 893 triệu USD, số lượng nhân viên là 19020 người, và doanh thu tính đến 31/3/2006 là 10,03 tỷ USD

2.2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI

Việc phân tích và đánh giá môi trường bên ngoài của Công ty xi măng Nghi Sơn sẽ cho thấy những cơ hội và nguy cơ quan trọng mà công ty gặp phải để từ đó xây dựng các chiến lược nhằm tận dụng những cơ hội và giảm thiểu sự ảnh hưởng của các mối nguy cơ đó Môi trường bên ngoài bao gồm môi trường vĩ mô và môi

Trang 16

- 16 -

trường vi mô

2.2.1 Môi trường vĩ mô

2.2.1.1 Môi trường kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt tốc độ khá cao trong năm qua và sẽ tiếp tục tăng cao trong những năm tới Tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm 2001-

2005 bình quân đạt 7.5%/năm, riêng trong năm 2005 đạt mức kỷ lục trong 9 năm qua là 8.43% (hình 2-1), tốc độ tăng cao nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam

Á và thuộc loại cao trên thế giới Đây cũng là cơ sở để phấn đấu 5 năm tới đây phải đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn nữa, từ 7.5% - 8%/năm

Về đầu tư, lượng vốn đầu tư tuyệt đối năm 2005 đạt khoảng 326 nghìn tỷ đồng,

tăng so với năm trước Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP đạt 38.2%, thuộc loại cao nhất từ trước tới nay (năm 2004 đạt 38.5%, năm 2003 đạt 37.8%, năm 2002 đạt 37.1%, năm 2001 đạt 35.4% và năm 2000 đạt 34.2%), tỷ lệ này chỉ đứng sau tỷ lệ trên 40% của Trung Quốc và cao hơn nhiều nước trong khu vực (Hàn Quốc là 29.3%, Thái Lan là 27.8%, Malaysia là 19.6%, Singapore là 15.3%) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2006 đạt khoảng 41% GDP Đây là một cố gắng rất lớn trong việc huy động các

nguồn lược cho đầu tư phát triển và là yếu tố rất quyết định cho tăng trưởng GDP Hình 2-1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam

Trang 17

TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP QUA CÁC NĂM (%)

Nguồn: Thời báo kinh tế ViệtNam ngày 31/12/2005

Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hiện đại hóa đất nước Tỷ trọng của nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm xuống 20.7%, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng ngày càng tăng lên, năm

hóa-2005 ngành công nghiệp tăng lên 40.8% trong tổng GDP Ngành công nghiệp đã và đang trở thành động lực cho sự tăng trưởng nền kinh tế Trong đó, ngành vật liệu, xây dựng, định hướng phát triển là tập trung phát triển sản xuất nhằm đáp ứng đủ nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, tiếp tục đầu tư phát triển một số loại vật liệu cơ bản như xi măng, vật liệu xây, ốp lát, đá xây dựng …

Riêng ngành xi măng Việt Nam, tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành xi măng đã góp phần đáng kể vào mức tăng trưởng chung của cả ngành công nghiệp Việt Nam Sản phẩm xi măng đã trở thành một trong những sản phẩm công nghiệp chủ yếu Theo dự báo của ngành công nghiệp thì giá trị sản xuất của ngành xi măng đạt cao nhất từ năm 2006 đến năm 2010, ước đạt 33 ngàn tỷ đồng năm 2006 và 50 ngàn tỷ đồng vào năm 2010, tiếp đó mới đến ngành Than và Dầu Đây được xem là

cơ hội rất lớn nhằm phát triển hơn nữa ngành công nghiệp xi măng Việt nam

b Đầu tư n ước ngồi

Trang 18

- 18 -

Đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) vào Việt Nam đã từng bước phục hồi, nhất là

từ năm 2004 đến nay Tính chung 5 năm, Việt Nam đã thu hút được hơn 18 tỷ USD vốn FDI đăng ký mới, 13,6 tỷ USD vốn FDI thực hiện, gĩp phần bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển và nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu của nền kinh tế Khu vực kinh tế cĩ vốn đầu tư nước ngồi hiện đĩng gĩp hơn 14% GDP, hơn 20% tổng vốn đầu

tư tồn xã hội và hơn 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (khơng kể dầu thơ)

Về khoản viện trợ ODA, Nhật Bản là quốc gia đứng đầu danh sách các nước

viện trợ cho Việt Nam, với cam kết tài trợ Việt Nam khoản ODA trong năm 2006 trị giá 835,6 triệu USD Mức ODA của Trung Quốc năm nay nhảy vọt lên tới 200 triệu USD so với mức hơn 100 triệu USD năm ngối Mức tài trợ của các quốc gia khác khơng thay đổi nhiều: Pháp cam kết tài trợ 397,7 triệu USD, Đức 114,7 triệu USD, Hàn Quốc 105 triệu USD Về phía các tổ chức phi chính phủ, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam 539 triệu USD, Ngân hàng Thế giới là 750 triệu USD và Liên hiệp quốc 69,1 triệu USD

Về tình hình đầu tư phát triển trong ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong thời gian qua theo Quyết định quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn 1991 đến nay tốc độ phát triển khá nhanh với hàng loạt nhà máy mới công nghệ lò quay hiện đại, công suất tương đối lớn, đồng thời với chương trình đầu tư 3 triệu tấn xi măng lò đứng cơ giới hóa (đã hoàn thành năm 1997) Cùng với việc xây dựng những nhà máy do Việt Nam tự đầu tư, đã bắt đầu thực hiện loại hình các công ty xi măng liên doanh với nước ngoài Song song với việc đầu tư các nhà máy xi măng hợp nhất (từ nguyên liệu đến nung luyện clinke và nghiền xi măng) cũng ra đời hàng loạt các trạm nghiền riêng biệt (gần 30

cơ sở) với tổng công suất khoảng 4 triệu tấn/năm

Nhu cầu vốnđđầu tư cho phát triển xi măng đến năm 2015 cần khoảng 4200 triệu USD Để có nguồn vốn lớn như vậy cần tìm mọi biện pháp huy động tối đa các nguồn vốn trong nước và nước ngoài bao gồm vốn tín dụng, trái phiếu công trình, vốn tự có, vốn cổ phần, vốn góp liên doanh … để đầu tư xi măng, kể cả đầu tư nước

Trang 19

- 19 -

ngoài theo hình thức liên doanh hay cổ phần

c Nhu cầu và thị trường xây dựng ở Việt Nam

Ngành xây dựng đã cĩ những bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại Khơng chỉ trong lĩnh vực xây dựng cơng trình, vật liệu xây dựng, kiến trúc và quy hoạch xây dựng

mà cịn cả những lĩnh vực khác: phát triển đơ thị và nhà ở, năng lực xây dựng cơng trình

cĩ nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng Vì vậy, tới thời điểm này cĩ thể nĩi thị trường xây dựng ở Việt Nam đã bắt đầu hình thành Với giá trị sản lượng của ngành xây dựng đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 16,5%/năm, giá trị gia tăng 10%, thị trường xây dựng đã trở thành yếu tố quan trọng gĩp phần vào sự nghiệp tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị của đất nước

Giai đoạn 2001- 2005, tổng giá trị sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng là 14,3 tỷ USD, đạt gần 279% so với giai đoạn 1996- 2000 Cũng trong giai đoạn này, các doanh nghiệp trong Bộ Xây dựng đã triển khai hơn 700 dự án các loại Vốn đầu tư thực hiện hơn 51.000 tỷ đồng (tương đương 3,29 tỷ USD), trong đĩ tập trung vào các lĩnh vực phát triển nhà ở, khu đơ thị, sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ điện, giao thơng Những lĩnh vực này tuy cĩ mang lại hiệu quả đáng kể về kinh tế nhưng cũng cần thu hút một lượng vốn lớn

d Tỷ lệ lạm phát và lãi suất

Nếu giá tiêu dùng năm 2003 tăng 12,3%, 2004 tăng 9,5%, thì năm 2005 giá tiêu dùng tăng 8,2%, tỷ lệ này vừa thấp hơn năm trước vừa thấp hơn tốc tộ tăng trưởng kinh tế Sở dĩ đạt được kết quả này, chủ yếu do Nhà nước thực hiện chính sách tài chính-tiền tệ thận trọng, linh hoạt, như trong năm 2005 Nhà nước đã thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ, chống lạm phát thông qua điều chỉnh tăng lãi suất (khoảng 9%/năm) nhưng không để ảnh hưởng quá nặng đến tăng trưởng kinh tế Chính phủ đã cố gắng điều hòa kinh tế vĩ mô về thị trường và giá cả thông qua việc điều tiết quan hệ cung-cầu hàng hóa thiết yếu, kiểm soát giá những mặt hàng độc quyền kinh doanh hoặc có thị phần khống chế với chính sách “chấp nhận lạm phát cao để tăng trưởng”, tốc độ tăng trưởng đạt 8.43% cao nhất trong vòng 9 năm qua Tuy nhiên, giá tiêu dùng đã vượt qua mục tiêu kiểm soát lạm phát của Quốc hội ở

Trang 20

- 20 -

mức 6.5%

e Thuế nhập khẩu

Thuế suất hiện hành đối với xi măng nhập khẩu là 20% (trên giá CIP) và clinke nhập khẩu là 10% (trên giá CIP) Theo Bộ Xây dựng, từ đầu tháng tới, VN sẽ giảm mạnh thuế nhập khẩu clinker và xi măng từ 10% xuống 5% đối với một số nước ASEAN để đổi lại việc hỗn thực hiện CEPT đối với linh kiện phụ tùng

Tĩm lại, qua phân tích môi trường kinh tế của Việt Nam qua các năm, tác giả

có thể xác định được những cơ hội cho Công ty, đó là sức tiêu thụ xi măng trong

nước lớn do mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và nhu cầu đầu tư xây dựng đáp ứng tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, đô thị hóa ngày càng tăng cao; làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lớn, nhất là của Nhận Bản, đây là cơ hội tốt để một liên doanh xi măng Việt-Nhật NSCC cung cấp xi măng cho các dự án đầu tư xây dựng công trình lớn bằng nguồn vốn ODA Đồng thời cũng nhận diện được những

nguy cơ, đó là sự tăng giá của một số nguyên nhiên liệu đầu vào trong nước tăng do

lạm phát và lãi suất tăng; và sự cạnh tranh mạnh mẽ từ xi măng ngoại nhập do thuế xuất nhập khẩu xi măng giảm

2.2.1.2 Môi trường chính trị, luật pháp

Trong xu thế hội nhập nói chung và để đáp ứng yêu cầu của việc gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nói riêng, Quốc hội Việt Nam đã thông qua hàng loạt đạo luật quan trọng nhằm cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, thu hút đầu

tư và cho phù hợp với các cam kết quốc tế như Luật đầu tư, Luật đấu thầu, Luật sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT và Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật các công cụ chuyển nhượng, Luật giao dịch điện tử … và cả những luật có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường kinh doanh như Luật phòng chống tham nhũng, Luật bảo vệ môi trường, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Bên cạnh đó, để tạo môi trường bình đẳng, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, hạn chế tiêu cực do độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, vừa

Trang 21

Về chính trị, Việt Nam hiện nay được bầu chọn là nước an toàn nhất về đầu

tư tại Châu Á, và là một trong số các quốc gia có nền chính trị ổn định trên thế giới

Những điều kiện thuận lợi của môi trường chính trị-pháp luật mang lại cơ hội

cho công ty, đó là tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp; và các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư sản

xuất kinh doanh tại Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những nguy cơ, một số

tồn tại cần phải được Quốc hội bàn sửa như hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và còn nhiều thay đổi làm cho các nhà đầu tư chưa yên tâm khi đầu tư vào Việt Nam

2.2.1.3 Môi trường văn hóa-xã hội và dân số

Theo báo cáo “Dân số thế giới năm 2006” của Cục Tham Chiếu dân số Mỹ cho thấy những năm qua chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam đã tăng từ mức trung bình lên mức khá cao, vị trí xếp hạng về HDI năm 2005 là 108/177 nước được xếp hạng trên thế giới, tăng 4 bậc so với năm 2004 Chỉ số HDI chú trọng vào

3 yếu tố có thể đo lường của sự phát triển con người là cuộc sống khỏe mạnh và tuổi thọ cao, được học hành và cĩ mức sống tốt Tuổi thọ trung bình của dân số từ 66,4 tuổi năm 1998 lên 71,3 tuổi năm 2005

Dân số Việt Nam khá cao, tính đến giữa năm 2006 là 84,2 triệu người Cơ cấu dân số theo độ tuổi đang thay đổi theo chiều hướng tích cực Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi giảm mạnh, từ 33,5% năm 1999 còn 27,1% năm 2005 Tỷ lệ dân số

Trang 22

- 22 -

trong độ tuổi lao động từ 15-59 tuổi tăng từ 58,4% lên 64%, tăng từ 45,4 triệu năm

2000 lên 58,7 triệu ước tính năm 2015 Tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên chỉ tăng từ 8,1% lên 9% trong 5 năm qua

Qua phân tích ở trên tác giả xác định những Cơ hội, đó là lực lượng lao động dồi dào, thông minh và sáng tạo; giá nhân công thấp Và những nguy cơ, đó là dư

thừa lao động không có chuyên môn và không được đào tạo hợp lý

2.2.1.4 Môi trường tự nhiên

Khu vực miền Bắc Việt Nam, cụ thể là tỉnh Thanh Hóa là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú với trữ lượng lớn nhất nước Tại Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa có mỏ đá vôi lớn nhất với trữ lượng hơn 200 triệu tấn được khai thác theo phương pháp cắt tầng để lấy khoảng 2,3 triệu tấn mỗi năm một cách an toàn và ổn định Bên cạnh đó, nơi đây có bờ biển dài và cảng nước sâu Nghi Sơn cho phép tàu chuyên dụng 10.000 tấn xi măng cập cảng rất thuận tiện Và một cầu cảng đa chức năng, xuất và tiếp nhận nguyên liệu và xi măng Uï tàu chính có thể tiếp nhận tàu trọng tải lớn tới 35.000 tấn được xây dựng ở bờ biển Nghi Sơn Và hệ thống đường bộ tại Nghi Sơn – Thanh Hóa cũng được nâng cấp và phát triển Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc vận chuyển xi măng bằng cả đường bộ lẫn đường thủy

Trạm Phân phối xi măng Hiệp Phước, Tp.Hồ Chí Minh tọa lạc tại khu công nghiệp Hiệp Phước, cách thành phố khoảng 25km, nằm sát hệ thống sông Soài Rạp cho phép tàu trọng tải 10000 tấn cập cảng Tương lai, Hiệp Phước là cụm cảng lớn của Thành Phố Hồ Chí Minh Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc vận chuyển xi măng bằng đường thủy Ngoài ra, hệ thống giao thông đường bộ nối từ khu công nghiệp Hiệp Phước đi vào thành phố và các tỉnh lân cận cũng đã được qui hoạch và phát triển rất thuận lợi

Qua phân tích môi trường tự nhiên ở trên tác giả xác định những Cơ hội, đó là

Trang 23

- 23 -

vị trí nhà máy thuận lợi; trữ lượng nguyên liệu lớn (đá vôi, đất sét v.v ) Và nguy

cơ về vấn đề bảo vệ môi trường

2.2.1.5 Môi trường công nghệ

Với xu hướng hội nhập kinh tế và chuyển giao công nghệ quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới Nên Việt Nam đã tranh thủ cơ hội để nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ mới và phát triển, đặc biệt là ứng dụng tự động hóa trong qui trình sản xuất xi măng nhằm tiết kiệm đáng kể chi phí nhân công và năng lượng tiêu hao, góp phần tăng năng suất và sản lượng xi măng

Từ những năm 70 của thế kỷ 20, hầu hết các nước trên thế giới sử dụng công nghệ lò đứng phương pháp khô trong sản xuất xi măng Hiện nay hầu hết các nhà máy xi măng đều có xu hướng sử dụng công nghệ sản xuất lò quay vì cho sản phẩm chất lượng cao và ổn định, sản lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao Tuy nhiên, công nghệ này đòi hỏi vốn đầu tư lớn và thời gian xây dựng dài Mặt khác, qui mô đầu tư tối thiểu để đạt hiệu quả của công nghệ lò quay đòi hỏi ở mức rất cao Theo số liệu nghiên cứu của Hiệp Hội xi măng Việt Nam, mỗi nhà máy

xi măng có qui mô tối thiểu hiệu quả của công nghệ sản xuất xi măng lò quay phải đạt tối thiểu 1,4 triệu tấn/năm, đòi hỏi một lượng vốn đầu tư tối thiểu từ 220 triệu đến 250 triệu USD

Theo quyết định 108/2005/QĐ-TTg ngày 16/05/2005 của Thủ tướng chính phủ Việt Nam về qui hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, về công nghệ sản xuất xi măng “sử dụng công nghệ tiên tiến, tự động hóa ở mức cao, … Chuyển dần công nghệ lò đứng sang lò quay và tiến tới loại bỏ công nghệ xi măng lò đứng trước năm 2020.” Từ năm 1991 đến nay, Việt Nam với tốc độ phát triển công nghệ xi măng khá nhanh với hàng loạt nhà máy mới công nghệ hiện đại, công suất tương đối lớn Cùng với việc xây dựng những nhà máy do Việt Nam tự đầu tư, chúng ta cũng đã bắt đầu thực hiện loại hình các công ty

xi măng liên doanh với nước ngoài

Trang 24

- 24 -

Qua phân tích môi trường công nghệ tác giả xác định những Cơ hội, đó là

công nghệ hiện đại sẽ cho năng suất cao, ổn định; chất lượng sản phẩm tốt và chủng

loại phong phú; giảm chi phí sản xuất và nhân công Và Nguy cơ: suất đầu tư lớn;

thời gian xây dựng và hoàn vốn lâu

2.2.2 Môi trường quốc tế

2.2.2.1 Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu sắc như hiện nay, khả năng ổn định và phục hồi của nền kinh tế khu vực và thế giới trong thập kỉ tới có những tác động tích cực, tạo điều kiện cho nước ta mở ra khả năng hợp tác kinh tế, khai thác lợi thế so sánh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát huy tốt hơn nội lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp phát triển đất nước

Bước vào năm 2006, Việt Nam tiến vào thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện hơn và sâu rộng hơn Điều này có nghĩa các mặt hàng và doanh nghiệp Việt nam cùng “chới” trên một sân đấu với qui định và ràng buộc chung của khu vực và thế giới Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết của AFTA, thực hiện hầu hết các cam kết chủ yếu của Hiệp định thương mại Việt-Mỹ, bắt đầu thức hiện các cam kết của khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc, theo đó hàng rào bảo hộ đã giảm thiểu đáng kể, đồng thời Việt Nam cũng sẽ có khả năng khai mở thị trường lớn hơn với AFTA, Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia thành viên của Tổ Chức thương mại Thế Giới (WTO) khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, trong đó có cam kết mở cửa thị trường xi măng

Tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ đối diện với những thách thức, đó là tăng sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong ngành xi măng nói riêng Và sự tác động bất lợi của giá cả một số mặt hàng nguyên liệu đầu vào sản xuất của doanh nghiệp như xăng dầu, clinker nhập khẩu, v.v…

2.2.2.2 Tác động của xi măng thế giới

Trang 25

- 25 -

Nhìn chung, các nhà sản xuất xi măng thế giới đang đối diện với tình hình tăng chi phí nghiêm trọng do tăng giá nhiên liệu và vận chuyển, cùng với chi phí điện cũng cao hơn và do tác động của luật mới của EU, như giảm thiểu khí CO2 tại nhiều quốc gia Tại Mỹ, do phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu cùng với sự gia tăng chi phí vận tải đang làm thay đổi cân bằng giữa cung và cầu xi măng Và đương nhiên giá cũng sẽ tiếp tục tăng cao

Qua bảng tổng kết (bảng 2-1) của 5 quốc gia sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu

xi măng hàng đầu thế giới vào năm 2005, ta thấy Trung Quốc là quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới, với sản lượng xi măng chiếm trên 40% sản lượng của Thế Giới, và trở thành nước xuất khẩu quan trọng do gia tăng công suất sản xuất Trong khi đó Mỹ là nước phải nhập khẩu xi măng lớn nhất thế giới với sản lượng nhập khẩu 27,3 triệu tấn/năm 2005 Thái lan là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới với sản lượng xuất khẩu là 11,2 triệu tấn trong năm 2005 Và Việt Nam được đánh giá là một trong số năm quốc gia nhập khẩu xi măng nhiều nhất thế giới, xếp hạng thứ 4 sau Mỹ, Tây Ban Nha và Ý

Bảng 2-1: Các quốc gia sản xuất xi măng hàng đầu thế giới (năm 2005)

930,0 Thái Lan 11,2 U.S.A 27,3

2 Aán Độ 127,6 Aán Độ 123,1 ThổNhK

4 Nhật Bản 72,4 Nhật Bản 58,0 Aán Độ 10,1 Việt Nam 4,0

5 Hàn Quốc 55,8 Hàn Quốc 54,9 Ai Cập 8,6 Hà Lan 3,8

Nguồn: World Cement Review, 2005

Vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 là thập kỷ phát triển mạnh mẽ nhất của công nghiệp xi măng Châu Á, với qui mô hoạt động chiếm hơn một nữa hoạt động xi

Trang 26

xi măng như Việt Nam

Trong khu vực Đông Nam Á, tình hình sản xuất và tiêu thụ xi măng và clinke của cả khu vực qua các năm thì cung luôn vượt cầu Trong số các quốc gia có tiềm năng sản xuất xi măng thì Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipin đang dư thừa một lượng lớn vì nhu cầu tiêu thụ nội địa của các nước này thấp hơn so với năng lực sản xuất Trong những năm sau cuộc khủng hoảng Châu Á 1997, Thái Lan trở thành quốc gia xuất khẩu lớn nhất, theo sau là Indonesia Trong khi đó, thị trường xi măng Lào, Campuchia và Singapore thì cầu luôn luôn vượt cung do khả năng sản xuất hạn chế tại các nước này Đây là cơ hội để xi măng Nghi Sơn đẩy mạnh chiến lược xuất khẩu sang các thị trường này

Tóm lại, Sự kiện gia nhập WTO của Việt Nam, Diễn đàn Hợp tác kinh tế

Châu Á-Thái Bình Dương trong năm 2006 … là các sự kiện, cơ hội thúc đẩy phát triển cho môi trường kinh doanh tại Việt Nam Đồng thời quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Xi măng Nghi Sơn nói riêng, đó là sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp nước ngoài và xi măng ngoại nhập

2.2.3 Phân tích môi trường vi mô

2.2.3.1 Phân tích tổng quát ngành xi măng Việt Nam

a Sơ lược quá trình xây dựng và phát triển ngành xi măng Việt Nam

Cùng với ngành cơng nghiệp than, dệt, đường sắt ngành sản xuất xi măng ở

Trang 27

- 27 -

nước ta đã được hình thành từ rất sớm Bắt đầu là việc khởi công xây dựng nhà máy

xi măng Hải Phòng vào ngày 25/12/1889, cái nôi đầu tiên của ngành xi măng Việt Nam

Một thế kỷ trước đây, xi măng Việt Nam mới chỉ có một thương hiệu con Rồng nhưng đã nổi tiếng ở trong nước và một số vùng Viễn Đông, Vladivostoc (LB Nga), JAWA (Inđônêxia), Singapore, Hoa Nam (Trung Quốc) Sau 1975 lại có thêm thương hiệu xi măng Hà Tiên, đến nay ngành xi măng nước ta đã có thêm hàng loạt những thương hiệu nổi tiếng như: Xi măng Bỉm Sơn nhãn hiệu Con Voi, xi măng Hoàng Thạch nhãn hiệu con Sư Tử, xi măng Hà Tiên II, Bút Sơn, Hoàng Mai, Tam Điệp, Holcim (trước đây là Sao mai), Nghi Sơn, Chinfon Công nghệ sản xuất xi măng ở nước ta cũng đa dạng từ các nhà máy có công nghệ lò đứng đến các nhà máy có công nghệ lò quay và sản xuất từ phương pháp ướt đến phương pháp khô

Từ năm 1996 Hiệp hội Xi măng Việt Nam được thành lập đến nay đã quy tụ gần

90 thành viên, đơn vị trực tiếp sản xuất và phục vụ sản xuất xi măng trong cả nước Sản xuất xi măng hàng năm của các thành viên trong Hiệp hội xi măng đều vượt kế hoạch được giao và liên tục năm sau cao hơn năm trước Riêng năm 2004 cả nước đã sản xuất

và tiêu thụ đạt trên 27 triệu tấn, trong đó Tổng công ty xi măng Việt Nam đạt 12,5 triệu tấn, xi măng địa phương đạt 7,1 triệu tấn, các công ty liên doanh đạt 7,4 triệu tấn; sản xuất kinh doanh của toàn ngành luôn đạt mức tăng trưởng cao

Ngành sản xuất xi măng Việt Nam còn được đánh giá là ngành công nghiệp có nhiều sáng tạo, vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới vào điều kiện

cụ thể của nước ta như: cải tiến vòi phun sử dụng 100% than cám (trước đây phải phun thêm dầu FO từ 10 - 30%); nghiên cứu sản xuất xi măng hỗn hợp PCB30 có pha 20% phụ gia; nghiên cứu công nghệ nâng cao và ổn định chất lượng Clinker Trong quá trình quản lý, vận hành, sửa chữa các nhà máy xi măng đã xây dựng và thống nhất áp dụng được hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 và hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000

Theo định hướng phát triển giai đoạn từ nay đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt thì phải xây dựng thêm một loạt các nhà máy xi măng mới như: Bình Phước, Hoàng Thạch 3, Bút Sơn, Bỉm Sơn mới nhằm nâng công suất của ngành sản xuất xi măng nước ta lên trên 40 triệu tấn/năm với tổng mức đầu tư tới gần 6 tỷ USD, để cho

Trang 28

- 28 -

ngành cơng nghiệp xi măng Việt Nam tiến vững chắc trong quá trình hội nhập khu vực

và quốc tế

b Tình hình sản xuất kinh doanh của ngành xi măng Việt Nam:

™ Thị trường và Cung – Cầu xi măng

Hiện nay, cơ cấu thị trường xi măng Việt Nam được cấu thành bởi ba thành phần chủ yếu (hình 2-2):

+ Tổng công ty xi măng Việt Nam (VNCC), đây là thành phần mạnh nhất, nắm vai trò chủ đạo trong việc điều tiết, chi phối nguồn cung và giá cả trên thị trường xi măng Việt Nam, chiếm 51% thị phần

+ Các công ty xi măng liên doanh giữa VNCC và các tập đoàn xi măng nươc ngoài như Holcim, Nghi Sơn, Chinfon, Luckvaxi Chiếm 30% thị phần

+ Các Trạm nghiền, nhà máy xi măng địa phương, chiếm 19% thị phần xi măng chất lượng thấp, chỉ có thể dùng làm các công trình nhỏ, vùng sâu vùng xa, đường nông thôn

Hình 2-2: Cơ cấu thị trường xi măng Việt Nam

VNCC 51%

Local 19%

JV 30%

Nguồn: Hiệp hội xi măng Việt Nam-VNCA,2005

Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm (2001 – 2005), nhu cầu tiêu thụ xi măng của cả nước tăng nhanh qua các năm, đạt tốc độ tăng tiêu thụ bình quân đạt 16,18%/năm, cao nhất từ năm 2000-2002 và nhu cầu tiêu thụ vẫn tiếp tục tăng trong các năm sau nhằm đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

Trang 29

- 29 -

nước Sản lượng sản xuất của cả nước từ năm 2004 đến 2005 đều không đáp ứng đủ

nhu cầu tiêu thụ trong nước và mức thiếu hụt khoảng 3,5 triệu tấn/năm (bảng 2-2)

Nhu cầu sử dụng xi măng trong năm 2005 tăng mạnh, bởi trước hết do chịu ảnh

hưởng của những đợt giá thép xây dựng tăng quá cao Trong năm 2004, một lượng đáng

kể các cơng trình xây dựng bị chậm lại và kéo dài sang năm 2005 Trong khi đĩ, trong

năm 2005, các cơng trình xây dựng thuộc kế hoạch 5 năm (2001-2005) phải phấn đấu

hồn thành đúng tiến độ, do vậy, nhịp độ xây dựng khẩn trương hơn Hơn nữa, từ năm

2004 đến nay, giá nhiều loại nơng lâm thuỷ sản (lúa gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu ) tăng

liên tục và luơn đứng ở mức cao đã làm gĩp phần đáng kể làm tăng thu nhập và sức

mua cho người nơng dân, nhờ đĩ mà đầu tư xây dựng cơ bản trong nơng nghiệp, nơng

thơn và các tầng lớp dân cư cũng đầy tiềm năng Tổng cơng ty Xi măng Việt Nam cơng

bố trong năm 2005, nhu cầu sử dụng Xi măng của cả nước đạt 28,9 triệu tấn, tăng gần

10% so với năm 2004 Trong khi sản lượng xi măng sản xuất của các nhà máy trong

nước đạt khoảng 22,6 triệu tấn, như vậy nguồn cung thiếu hụt tới 6,3 triệu tấn

Bảng 2-2: Nhu cầu tiêu thụ và sản lượng xi măng VN giai đoạn 2001-2005:

- Nhu cầu tiêu thụ (triệu tấn) 16,5 19,85 22,6 26,4 28,9

Nguồn: Hiệp hội xi măng Việt Nam-VNCA,2005

.Bên cạnh đĩ, tình hình nhập khẩu clinker để sản xuất xi măng đang gặp nhiều

khĩ khăn, do giá mặt hàng này tăng mạnh Đây cũng là một trong những nguyên nhân

làm cho cung khơng đủ cầu, do sản xuất xi măng Việt Nam phụ thuộc nhiều vào clinke

nhập khẩu, khoảng 4-6 triệu tấn/năm (bảng 2-3) Cách đây 2 năm, giá clinker chỉ cĩ 14

USD/tấn, năm 2003 giá 1 tấn clinker nhập khẩu (FOB Thái lan) chỉ 19,1USD, năm

2004 tăng lên đến 25USD/tấn, và năm 2005 tăng lên 28USD/tấn (giá FOB tại các cảng

biển Thái Lan) Cước vận tải đã tăng từ 8USD/tấn lên 13USD/tấn và rất thiếu tàu để vận

chuyển Điều này làm cho việc nhập khẩu clinker bị hạn chế

Bảng 2-3: Sản lượng Clinker nhập khẩu qua các năm (ĐVT:triệu tấn)

Trang 30

- 30 -

Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005Sản

lượng

Nguồn: Tổng cục thống kê 2005

Ngoài ra, một trong những yếu tố quyết định sản lượng xi măng của các trạm nghiền lại chính là giá bán xi măng Trong khi đó, giá thành “đầu vào-đầu ra” hiện không hợp lý khiến hầu hết các trạm nghiền chỉ hoạt động cầm chừng và sản lượng

xi măng bị giảm Đây là nguyên nhân chính gây nên mất cân đối quan hệ cung cầu và làm thị trường xi măng rối loạn trong thời gian qua

Về nguồn cung, mức dự trữ của Tổng Cơng ty Xi măng Việt Nam hiện đã đạt gần 1,5 triệu tấn (bao gồm clinker, xi măng rời, và xi măng bao), cùng với sản lượng sản xuất của các đơn vị trong thời gian tới hồn tồn cĩ khả năng đáp ứng nhu cầu Cùng với việc tăng nguồn cung, ngành xi măng tiếp tục triển khai các biện pháp kiểm sốt chặt chẽ trong khâu kinh doanh, việc tiếp tục ổn định giá xi măng là hồn tồn cĩ khả năng thực hiện

™ Giá xi măng

Về giá xi măng trong những năm qua, thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Tổng công ty xi măng Việt Nam vẫn kiên trì giữ giá bán xi măng trên thị trường cả nước ổn định Mặc dù từ đầu năm 2004 đến nay giá nguyên liệu đầu vào để sản xuất xi măng đều tăng từ 10 đến 80%, cụ thể giá dầu DO hiện nay đã tăng khoảng 80% so với năm 1995, giá clinke cũng tăng tương ứng khoảng 30% (giá nhập khẩu clinke FOB từ Thái Lan đã là 28 USD/tấn) v.v… Nên các doanh nghiệp đã phải nỗ lực tìm mọi biện pháp về công nghệ để tăng năng suất lao động, giữ lò chạy dài ngày, giảm định mức tiêu hao vật tư nguyên nhiên liệu, tổ chức quản lý sản xuất đến việc triệt để thực hành tiết kiệm nhằm hạ giá thành sản phẩm Theo số liệu thống kê, những năm vừa qua, bình quân giá thành sản xuất 1 tấn xi măng của Tổng cơng ty xi măng Việt Nam đã tăng lên gần 30.000 đồng/tấn Tính đến thời điểm cuối năm 2005, hầu hết các công ty

xi măng đã điều chỉnh giá bán của mình theo chiều hướng tăng thêm từ

Trang 31

- 31 -

15.000đ đến 20.000đ/tấn Cụ thể: xi măng Holcim 890.000đ/tấn, Xi măng Nghi Sơn 870.000đ/tấn, xi măng của các nhà máy lò đứng cũng tăng từ 10.000đ đến 15.000đ/tấn Hiện nay giá bán lẻ xi măng (các thương hiệu nổi tiếng như xi măng Hà Tiên 1, Hà Tiên 2, Holcim, Nghi Sơn ) tại khu vực miền Nam dao động khoảng 960.000 - 1.020.000 đồng/tấn, thuộc loại cao so với các nước trong khu vực

Đáng chú ý, khi thực hiện Hội Nhập AFTA, giá bán xi măng sẽ phụ thuộc vào mặt bằng giá của xã hội và sự tăng trưởng của nền kinh tế Nếu không tính toán kỹ ngay từ bây giờ ngành công nghiệp xi măng Việt Nam rất dễ bị sức ép của các nước trong khu vực Chúng ta hiểu bình ổn giá thị trường, bình ổn giá xi măng khơng cĩ nghĩa là giữ giá thị trường, giá xi măng cố định khơng tăng, khơng giảm mà giá thị trường, giá xi măng phải lên xuống theo mặt bằng giá chung của tồn bộ nền kinh tế

Do đĩ, Chính phủ cần xây dựng một lộ trình giá xi măng để cĩ một giá xi măng hợp lý phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực để bảo đảm cho ngành xi măng hoạt động cĩ hiệu quả, cĩ tích luỹ hợp lý để gĩp phần tạo nguồn vốn cho đầu tư và phát triển bền vững

c Khả năng cạnh tranh của ngành xi măng Việt Nam khi hội nhập:

Ngành xi măng Việt Nam sẽ tụt hậu so với khu vực, nếu thị trường này không

tạo được sự cạnh tranh phát triển ngay từ bây giờ Thực vậy, ngành xi măng Việt Nam

phần lớn bị chi phối bởi Tổng cơng ty Xi măng Việt Nam- nơi gần như khống chế việc khai thác nguyên liệu trong nước và cả nhập khẩu từ nước ngồi Việc nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất xi măng thành phẩm các doanh nghiệp phải lệ thuộc vào giấy phép do Tổng cơng ty Xi măng Việt Nam cấp

Xi măng cùng với một số mặt hàng như bưu chính viễn thơng, phân bĩn, xăng dầu được nhà nước quản lý về giá Điều này khơng cĩ nghĩa giá hồn tồn do nhà nước chủ động và thao túng giá Bằng chứng là năm 1995 đợt sốt giá xi măng đầy kịch tính đã làm điêu đứng ngành xây dựng và thị trường Việt Nam vì sự găm hàng và làm giá của Tổng cơng ty Xi măng Việt Nam, lúc bấy giờ đã nâng giá xi măng lên 90USD/tấn trong khi giá xi măng hiện nay chỉ khoảng 46USD/tấn

Năm 2006 là thời điểm hội nhập hồn tồn của nền kinh tế Việt Nam với khu

Trang 32

- 32 -

vực Điều này cĩ nghĩa các mặt hàng và các doanh nghiệp Việt Nam cùng "chơi" trên một sân đấu với qui định và ràng buộc chung của khu vực Năm 2006 cũng là thời điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO và thực hiện một số cam kết với Hoa Kỳ trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA), trong đĩ cĩ cam kết mở cửa thị trường xi măng Ngành xi măng cĩ thể cạnh tranh với khu vực vào năm 2006, thời điểm mà thuế suất thuế nhập khẩu xi măng từ 30% hiện nay sẽ giảm xuống cịn trên 21% Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh đĩ hiện nay rất thấp, đĩ là một trong những thách thức lớn nhất cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng khi Việt Nam tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế

2.2.3.2 Phân tích các đối thủ tiềm năng

Đối thủ tiềm năng trong tương lai của công ty xi măng Nghi Sơn, trước hết là các dự án ximăng mới trong nước đã, đang và sẽ đầu tư đến năm 2015, có công suất sản xuất tương đương hoặc lớn hơn Nghi Sơn và sẽ phát triển mạnh về qui mô lẫn chất lượng sản phẩm và dịch vụ hậu mãi Thứ hai là nguồn xi măng nhập khẩu từ các nước trong khu vực và thế giới khi Việt Nam tham gia vào AFTA và WTO

™ Các dự án xi măng mới

Theo quy hoạch phát triển ngành xi măng Việt Nam của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục các dự án xi măng mới đến năm 2015 và định hướng

đến năm 2020 (xem phần phụ lục 14), thì các đối thủ tiềm năng của Công ty xi măng

Nghi Sơn trong tương lai là Xi măng Cổ phần Thăng Long, Xi măng Hạ Long, Xi măng Cẩm Phả, Xi măng Thạnh Mỹ, Đông Lâm, các dự án này đã đầu tư từ năm

2001, sẽ hoàn thành và có sản lượng tương đối lớn trên thị trường chậm nhất là vào năm 2008; và các dự án Xi măng Sông Gianh, Bình Phước …sẽ đầu tư vào năm 2006, sẽ hòan thành và sản phẩm có mặt trên thị trường vào năm 2010 Đây là các dự án có công suất tương đương hoặc lớn hơn Xi măng Nghi Sơn, tương lai sẽ trở thành các đối thủ cạnh tranh đáng quan tâm của Nghi Sơn Còn các dự án khác có công suất nhỏ hơn chỉ là các dự án mở rộng của các đối thủ cạnh tranh hiện tại, hay các dự án

xi măng địa phương với công suất nhỏ và khả năng cạnh tranh không cao, chủ yếu

Trang 33

- 33 -

cung cấp cho các địa phương và vùng nông thôn với xi măng giá rẻ và chất lượng không cao

™ Nguồn xi măng nhập khẩu

Từ năm 1996, Việt Nam đã bắt đầu nhập khẩu xi măng với sản lượng nhập khẩu là 1,35triệu tấn, năm 1997 là 0,5 triệu tấn Nhưng từ đó đến nay Việt Nam không nhập xi măng nữa mà chủ yếu các doanh nghiệp nhập clinke để sản xuất xi măng, do thuế nhập khẩu xi măng cao, chi phí vận chuyển và bảo quản cao làm cho giá bán xi măng nhập khẩu cao, không thể cạnh tranh được với xi măng nội địa

Tuy nhiên, sau khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các điều khoản cam kết của AFTA và tham gia vào WTO, thì thuế suất sẽ giảm xuống dưới 5% (đối với các nước ASEAN) và 21% đối với các nước còn lại, không còn là rào cản để xi măng ngoại nhập tràn vào thị trường Việt Nam Điều này sẽ tạo nên áp lực cạnh tranh mạnh trên thị trường xi măng trong nước

Lợi thế của nguồn xi măng nhập khẩu là chất lượng cao; có nhãn hiệu uy tín trên thị trường thế giới; lợi thế về qui mô sản xuất lớn, hiện đại nên giá cạnh tranh Bất lợi của nguồn xi măng nhập khẩu là không đảm bảo nguồn cung ổn định; các chính sách khuyến mãi, dịch vụ khách hàng, hỗ trợ kỹ thuật không được thực hiện tốt; chi phí vận chuyển và bảo quản lớn Đây là lợi thế cạnh tranh của xi măng nội địa

2.2.3.3 Phân tích đối thủ cạnh tranh trong ngành

Qua việc so sánh, phân tích một số chỉ tiêu quan trọng của một số công ty xi

măng (xem phần phụ lục 7), chúng ta có thể đánh giá các đối thủ cạnh tranh có tầm

ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh của Công ty Nghi Sơn như sau:

™ Tại thị trường miền Bắc: đối thủ cạnh tranh của Xi măng Nghi Sơn là

Xi măng Hoàng Thạch và Xi măng Chinfon

Bảng 2-4: Ma trận hình ảnh cạnh tranh tại thị trường miền Bắc

Bảng ma trận hình ảnh cạnh tranh được thực hiện bằng phương pháp chuyên

Trang 34

- 34 -

gia trong ngành xi măng và các chuyên gia kinh tế (xem phần phụ lục 8), kết hợp với

sự đánh giá của tác giả, ta có bảng 2-4:

Stt Các yếu tố thành công

Mức độ quan trọng Hạng

Điểm quan trọng

Hạng Điểm quan

trọng

Hạn

g

Điểm quan trọng

Chất lượng sản phẩm

Khả năng cạnh tranh về giá

Lòng trung thành của

khách hàng

Khả năng tài chính

Sản phẩm đa dạng

Nguồn nhân lực

Lợi thế về vị hệ thống phân

phối

0.25 0.20 0.05 0.20 0.10 0.05 0.10 0.05

Xi măng Hoàng Thạch, là doanh nghiệp 100% vốn Nhà Nước, thành viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam, công suất khá lớn 2,3 triệu tấn/năm Sản phẩm rất được ưu chuộng tại thị trường công nghiệp miền Bắc, với giá thấp hơn Nghi Sơn Tuy nhiên, Xi măng Hoàng Thạch chỉ cung cấp xi măng bao PC30 và PCB30 chủ yếu cho các dự án công trình cầu đường và xây dựng dân dụng Độ bao phủ thị trường không rộng, chủ yếu tập trung ở thị trường miền Bắc và miền Trung

Xi măng Chinfon là liên doanh xi măng đầu tiên của Việt Nam, sản phẩm có mặt trên thị trường cả nước Thương hiệu xi măng Chinfon khá nổi tiếng và được ưu chuộng đối với thị trường công nghiệp ở miền Bắc và miền Trung như Xi măng Hoàng Thạch, nhưng không mạnh ở thị trường miền Nam Chiến lược tương lai của Chinfon sẽ tập trung vào thị trường miền Nam đầy tiềm năng, bằng việc xây dựng nhà máy sản xuất clinke và trạm trộn tại miền Nam

Qua phân tích ma trận hình ảnh cạnh tranh (bảng 2-4), với số điểm 2.85 (cao nhất) chúng ta thấy Xi măng Nghi Sơn giữ vị trí ưu thế hơn trong quan hệ cạnh tranh với Xi măng Chinfon và Hoàng Thạch tại thị trường miền Bắc Tuy nhiên, chiến

Trang 35

- 35 -

lược kinh doanh của công ty xi măng Nghi Sơn vẫn phải phòng thủ đối với các đối thủ này và phát huy hơn nữa điểm mạnh của mình và khắc phục điểm yếu nhằm giữ thế cạnh tranh trên thị trường này

™ Tại thị trường miền Nam: đối thủ cạnh tranh của Nghi Sơn là Holcim

Việt Nam và Hà Tiên 1

Bảng 2-5: Ma trận hình ảnh cạnh tranh tại thị trường miền Nam

Bảng ma trận hình ảnh cạnh tranh được thực hiện bằng phương pháp chuyên

gia trong ngành xi măng và các chuyên gia kinh tế (xem phần phụ lục 8), kết hợp với

sự đánh giá của tác giả, ta có bảng 2-5:

Stt Các yếu tố thành công Mức độ

quan trọng Hạng

Điểm quan trọng Hạng

Điểm quan trọng Hạng

Điểm quan trọng

Chất lượng sản phẩm

Khả năng cạnh tranh về giá

Lòng trung thành của khách

hàng

Khả năng tài chính

Sản phẩm đa dạng

Nguồn nhân lực

Lợi thế về hệ thống phân

phối

0.25 0.20 0.05 0.20 0.10 0.05 0.10 0.05

Holcim Việt Nam là liên doanh của tập đoàn Holcim Thụy Sỹ, trước đây được biết đến là xi măng Sao Mai với nhãn hiệu đầu trâu Holcim có nhà máy tại Cát Lái-TP.HCM, hoạt động sản xuất kinh doanh tập trung chính tại thị trường miền Nam với công suất 1.45 tr.tấn clinke/năm và 1,76 tr.tấn ximăng/năm Holcim có ưu thế về

Trang 36

- 36 -

năng lực tài chính, khả năng cung ứng cao, sản phẩm rất đa dạng và hoạt động tiếp thị khuyến mãi rất mạnh, nên sản phẩm xi măng Holcim rất phổ biến và ưu chuộng tại thị trường dân dụng phía Nam, chiếm 25% thị phần Các dịch vụ hậu mãi và hỗ trợ kỹ thuật khách hàng của Holcim rất được chú trọng và mang tính chuyên nghiệp Chiến lược bán hàng của Holcim là bán hàng trực tiếp và bán hàng qua hệ thống nhà phân phối, nên sản lượng tiêu thụ hàng năm rất lớn, năm 2004 đạt 2,4 triệu tấn Tuy nhiên, Holcim Việt Nam chưa tạo dựng được sự trung thành của khách hàng đối với công ty, giá cao hơn Xi măng Nghi Sơn và mức độ bao phủ thị trường chưa cao

Hà Tiên 1 là doanh nghiệp Nhà Nước, thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, với ưu thế nhãn hiệu xi măng nổi tiếng lâu đời, rất được ưu chuộng đối với thị trường xây dựng dân dụng phía Nam Chiến lược bán hàng của Hà Tiên 1 là bán hàng trực tiếp và bán hàng qua hệ thống nhà phân phối Tuy nhiên, giá của xi măng Hà Tiên 1 cao nhất trên thị trường, sản phẩm chỉ có xi măng bao 50kg và độ bao phủ thị trường không cao, từ khu vực Nam Bình Thuận trở vào Nam

Qua phân tích ma trận hình ảnh cạnh tranh (bảng 2-5), chúng ta có thể xếp hạng đối thủ cạnh tranh như sau: thứ nhất là Holcim, theo sau là Hà Tiên 1 Tổng số điểm quan trọng của Holcim là 3.15 cho thấy Holcim là đối thủ mạnh nhất, nếu xét theo khía cạnh chiến lược thì Holcim ứng phó rất hiệu quả với các yếu tố bên trong và bên ngoài Đối thủ cạnh tranh Hà Tiên 1 có tổng số điểm quan trọng là 2.60, thấp hơn số điểm của Xi măng Nghi Sơn trong thời điểm hiện tại nhưng là đối thủ cũng rất đáng lo ngại Do vậy việc xây dựng chiến lược của công ty xi măng Nghi Sơn cần hướng đến việc hạn chế những mặt mạnh của Holcim, hoàn thiện những điểm yếu của mình và thực hiện chiến lược phòng thủ đối với Hà Tiên 1

™ Tại thị trường miền Trung: Xi măng Nghi Sơn còn đang bỏ ngõ, chỉ

cung cấp cầm chừng cho các khách hàng hiện tại nhằm giữ chân khách hàng và tạo sự xuất hiện trên thị trường này

Trang 37

- 37 -

2.2.3.4 Phân tích khách hàng

Hiện nay, hầu hết các công ty xi măng đều thiết lập hệ thống các nhà phân phối chính của mình, và xem đây là khách hàng, nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhà phân phối có vai trò hết sức quan trọng, họ như những người trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng Do đó, việc chọn lựa và thiết lập nhà phân phối phải hết sức thận trọng, phải xem xét năng lực tài chính, nhân lực, mạng lưới tiêu thụ, … vì họ là đại diện cho nhà sản xuất quảng bá hình ảnh công ty và bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng

Nhằm tăng cường quan hệ hợp tác và phát triển giữa công ty xi măng Nghi Sơn (NSCC) và các nhà phân phối trong cả nước NSCC đã tổ chức các hội nghị khách hàng phía Nam tại Bangkok, Thái lan, và khu vực phía Bắc tại Tp.Hà Nội Các hội nghị là cơ hội gặp gỡ và trao đổi thông tin giữa NSCC và và các nhà phân phối đồng thời cùng xem xét, đánh giá lại tình hình thị trường Bên cạnh đó, công ty cũng thông báo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và công ty nhận được các ý kiến đóng góp liên quan đến chất lượng sản phẩm, chính sách bán hàng của NSCC để từ đó hoàn thiện xi măng Nghi Sơn hơn nữa để đáp ứng nhu cầu thị trường tốt nhất

Tuy nhiên, hiện nay qui mô và trình độ của nhà phân phối ngày càng cao, hiện tượng các nhà phân phối vừa và nhỏ liên kết lại thành một nhà phân phối lớn có đủ tài lực và thực lực đối trọng lại với nhà sản xuất hay trở thành nhà cung cấp xi măng khi họ đầu tư vào dây chuyền nghiền xi măng bằng cách nhập clinke, nghiền và sản xuất xi măng cạnh tranh ngược lại với các nhà sản xuất hiện tại Đây chính là những đối thủ tiềm năng lớn mà các nhà sản xuất cần quan tâm

2.2.3.5 Nhà cung cấp

Cơng ty xi măng Nghi Sơn luơn phấn đấu xây dựng mối quan hệ hợp tác chiến lược và lâu dài với các nhà cung ứng Mối quan hệ đĩ vừa đáp ứng những lợi ích chung của đơn vị sản xuất và các nhà cung ứng, vừa đem lại lợi ích cho khách hàng của Xi

Trang 38

- 38 -

măng Nghi Sơn theo phương châm "Hợp tác để cùng Phát triển" Việc cung ứng vật tư, hàng hĩa, dịch vụ tại Việt Nam, và cả nhập khẩu được tổ chức thực hiện trên cơ sở cân nhắc tính cạnh tranh về chất lượng, giá cả, khả năng cung cấp và các yếu tố khác

™ Cung cấp nhiên liệu gồm than, dầu và điện, hiện nay nhà cung cấp than lớn cho nhà máy xi măng Nghi Sơn là Tổng công ty than Việt Nam (Vinacoal), các loại dầu dùng trong vận hành máy móc và để đốt lò là do các doanh nghiệp xăng dầu Nhà nước cung cấp như Petrolimex, Saigon Petro hay các liên doanh như

BP Việc cung cấp điện do công ty điện lực Việt Nam và Điện lực Hiệp Phước cung cấp đủ để vận hành nhà máy 24/24

™ Nhà cung cấp bao bì xi măng, gồm có Công ty ThanhPac tại Thanh Hóa, Công ty dịch vụ công nghiệp Nghệ An chuyên sản xuất bao bì xi măng và bao nơng sản, thực phẩm trên dây chuyền cơng nghệ hiện đại, tiên tiến của Đức, Áo và Nhật, cĩ cơng suất 15 triệu bao xi măng/năm, đạt tiêu chuẩn Quốc tế Sản xuất bằng nguyên liệu hạt PP, PE và giấy Krap nhập ngoại

™ Công ty Lilama 69-3, tư vấn thiết kế, gia cơng chế tạo máy và lắp máy cho cơng ty xi măng Nghi Sơn trong quá trình xây dựng và bảo trì nhà máy Ngồi ra, cơng ty cịn cung cấp nguồn lao động dồi dào và cĩ tay nghề cho nhà máy chính Nghi Sơn tại Thanh Hĩa

™ Cung cấp phụ tùng thay thế, các phụ tùng thay thế trong ngành xi măng nói chung và xi măng Nghi Sơn nói riêng là các phụ tùng chuyên dùng, đều phải nhập khẩu Hiện nay, các nhà cung cấp phụ tùng chính là Haver & Boecker (Đức), Seimens (Đức), ABB (Thụy Sỹ), Atlascopco, v.v…

™ International Labour Corporation (Inlaco SaiGon), và Vosco là hai đại lý tàu biển của Xi măng Nghi Sơn cho quá trình vận chuyển xi măng của tàu chuyên dụng Development với trọng tải 10.000 tấn và tàu Heritage với trọng tải 7.000 tấn từ nhà máy chính Thanh Hóa vào Trạm phân phối TP Hồ Chính Minh

™ Công ty dịch vụ tàu biển Vũng tàu (Vung Tau Shipping), là nhà cung

Trang 39

- 39 -

ứng lao động cho Trạm phân phối xi măng Nghi Sơn tại Khu công nghiệp Hiệp Phước, TP Hồ Chí Minh

2.2.3.6 Sản phẩm thay thế

Theo đặc điểm và tính chất đặc biệt của xi măng, thì ngày nay xi măng đã trở thành loại vật liệu xây dựng cơ bản, không thể thay thế được trong ngành công nghiệp xây dựng Xi măng là cấu thành chủ yếu của bê tông, tùy theo yêu cầu về cường độ chịu lực và tính kết cấu kỹ thuật của công trình xây dựng mà người ta sản xuất các loại xi măng có mác khác nhau như PC30, PCB30, PCB40, bền Sulfat v.v… Tuy nhiên, trong ngành xây dựng còn có một số loại vật liệu xây dựng khác tuy không thể thay thế được xi măng nhưng ít nhất cũng làm ảnh hưởng đến việc sử dụng xi măng như gạch, gỗ, silka, nhựa đường, các loại thép tấm, kiếng v.v…

Tóm lại, quan phân tích môi trường tác nghiệp của doanh nghiệp, tác giả có thể xác định được những cơ hội, đó là nhu cầu xi măng tại thị trường nội địa, nhất là

thị trường miền Nam hiện nay và trong tương lai là rất lớn; tính trung thành và hợp tác lâu dài của khách hàng cũng như nhà cung cấp đối với Xi măng Nghi Sơn Và

nguy cơ, đó là sự chi phối hay độc quyền của Tổng công ty xi măng Việt Nam còn

cao; Cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại, quan trọng nhất là Holcim Việt Nam, và các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, đó là các dự án xi măng mới và xi măng ngoại nhập

2.2.4 Ma trận đánh giá môi trường bên ngoài

Bảng đánh giá môi trường bên ngoài được thực hiện bằng phương chuyên gia Tác giả lập danh mục tất cả yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công như đã nhận diện trong quá trình phân tích và đánh giá môi trường bên ngoài của Công

ty xi măng Nghi Sơn, sau đó gửi đến các chuyên gia gồm có Oâng Trần Ngọc Anh – Tổng Giám đốc công ty xi măng Hà Tiên 1, Oâng Nguyễn Văn Hạnh – Giám đốc Tổng Công ty xi măng Việt Nam, Oâng Nguyễn Văn Thiện – Chủ tịch Hiệp hội xi măng Việt Nam, Oâng Tống Văn Nga – thứ trưởng Bộ Xây Dựng, Oâng Nguyễn Văn Lược – phó Tổng Giám đốc Công ty xi măng Nghi Sơn, Oâng Nguyễn Bốn

Ngày đăng: 01/09/2020, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm