Cơ cở dữ liệu về Viện trợ phát triển Hệ thống Phân tích Hợp tác Phát triển của UNDP Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh Tổng công ty Điện lực Việt Nam Hỗ trợ kỹ thuật độc lập Cứu trợ và
Trang 1NGUYỄN THỊ HUYỀN
KHAI THÁC NGUỒN VỐN ODA TRONG SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62 31 12 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS VŨ THỊ MINH HẰNG
2 TS PHẠM ĐẮC DUYÊN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2008
Trang 2trong luận án là trung thực Kết quả của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trang 3Cơ cở dữ liệu về Viện trợ phát triển Hệ thống Phân tích Hợp tác Phát triển của UNDP Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
Tổng công ty Điện lực Việt Nam Hỗ trợ kỹ thuật độc lập
Cứu trợ và viện trợ khẩn cấp Quỹ đầu tư phát triển đô thị thành phố Hồ Chí Minh Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp
Quỹ Tiền tệ quốc tế Hiệp hội Phát triển quốc tế Hỗ trợ kỹ thuật có liên quan đến đầu tư Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật bản
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật bản Hỗ trợ Phát triển
Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Đức Tuyên bố cam kết Hà nội
Nhóm nhà tài trợ đồng chính kiến Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Quỹ Tín thác đa bên các nhà tài trợ Nghị Định
Các tổ chức phi chính phủ Hỗ trợ phát triển chính thức Dòng tài chính chính thức khác Tài chính phát triển chính thức Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế Hỗ trợ theo chương trình/ngân sách hoặc hỗ trợ cán cân thanh
Trang 4Dự án Tăng cường năng lực Theo dõi và Đánh giá Việt Nam –Australia II
Ngân hàng Phát triển Việt Nam Ngân hàng Thế giới
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5Bảng 1.2: Giá trị hiện tại của nợ năm 2004 của một số quốc gia……….……… 26
Bảng 1.3: Đầu tư và tiết kiệm của Thái Lan……….…… 51
Bảng 1.4: Tiếp nhận OA ở nước có nền kinh tế chuyển đổi (1998-2004)………56
Bảng 2.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995-2005……… 65
Bảng 2.2 : Cơ cấu sử dụng ODA theo lĩnh vực giai đoạn 1993-2007……….69
Bảng 2.3: Tỷ lệ giải ngân qua các giai đoạn 1996-2000 và 2001-2005……….77
Bảng 2.4: Cam kết và giải ngân của 6 PRSC ở Việt Nam………92
Bảng 2.5: Các văn bản pháp lý về quản lý dự án đầu tư trong nước có liên quan đến quản lý dự án có sử dụng ODA……….…………102
Bảng 3.1: Các ngưỡng an toàn nợ do WB và IMF xây dựng ………127
Bảng 3.2: Các chỉ số nợ nước ngoài của Việt Nam từ 2000-2007……… 128
Bảng 3.3:Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2006-2010 (theo giá năm 2005)…………130
Bảng 3.4:Nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng đến năm 2020……… 132
Bảng 3.5 Danh mục dự án đầu tư từ các nguồn vốn giai đoạn 2006-2010…………141
Bảng 3.6: Những cam kết trung và dài hạn của những đối tác chiến lược……….151
Bảng 3.7: ODA góp phần hỗ trợ đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng……….156
Bảng 3.8: Khoản vay ODA trực tiếp vào các Quỹ Đầu tư Phát triển địa phương….…160 Bảng 3.9 Xu hướng giải ngân ODA trong thời gian tới……… 163
Bảng 3.10: Hai loại cho vay của Ngân hàng thế giới dành cho các nước đang phát triển ………167
Trang 6Hình 1.2: Phân loại nguồn vốn nước ngoài……… 16
Hình 1.3: Các bước cơ bản của quy trình vận động, đàm phán và ký kết ODA.30 Hình 1.4: Khả năng sản xuất của quốc gia X trước khi có viện trợ……….41
Hình 1.5: Khuynh hướng sản xuất của quốc gia X khi có viện trợ………42
Hình 2.1: Các chỉ số phát triển kinh tế của Việt Nam 1993-2007………64
Hình 2.2: ODA cam kết, ký kết và giải ngân qua các giai đoạn……….68
Hình 2.3: Các loại hình ODA giải ngân ở Việt Nam giai đoạn 1993-2007……… 71
Hình 2.4: Số giải ngân ODA không hoàn lại và vay ưu đãi từ 1993-2007………….73
Hình 2.5: Mười nhà tài trợ có số giải ngân lớn nhất giai đoạn 1993-2007………….75
Hình 2.6: ODA cam kết và tỷ lệ giải ngân ODA ở Việt Nam 1993-2007………… 76
Hình 2.7: Vốn đầu tư xã hội, mức cam kết và mức giải ngân ODA từ 1993-2007……79
Hình 2.8: Đầu tư cơ sở hạ tầng và đóng góp từ ODA 1993-2007………81
Hình 2.9: Mức giải ngân ODA theo các lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng chính………83
Hình 2.10: Cơ cấu nguồn đầu tư trong lĩnh vực giao thông do Bộ GTVT quản lý… 85
Hình 2.11: Tỷ lệ tiếp cận dịch vụ cơ sở hạ tầng 1996-2004……….88
Hình 2.12: ODA đổ vào nông nghiệp; phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo1993-2007……… 89
Hình 2.13: Các công trình cơ sở hạ tầng và cơ cấu đầu tư tính đến năm 2005….90 Hình 2.14: Mức giải ngân ODA vào giáo dục và y tế từ 1993-2007……… 97
Hình 2.15: Vốn ODA giải ngân giai đoạn 1993-2007………108
Hình 2.16: Nguồn cho vay lại lũy kế qua các năm của Ngân hàng Phát triển…………118 Hình 3.1: Dòng chảy ODA và dự báo ODA đến năm 2010 được cung cấp từ OECD…122
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
I Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam luôn nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế cho mục tiêu phát triển thông qua nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Tuy là quốc gia không phụ thuộc về viện trợ nhưng cũng như các nước đang phát triển khác, ODA là nguồn ngoại lực bổ sung đã đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam nói riêng Thật vậy, hơn 60% khối lượng ODA được giải ngân đã đổ vào đầu tư cho cơ sở hạ tầng chính yếu, lĩnh vực được coi là cốt lõi để giúp Việt Nam duy trì mức tăng trưởng cao và giảm nghèo nhiều hơn Cùng với sự đóng góp cho đầu tư, ODA chảy vào Việt Nam với nhiều chương trình, dự án liên quan đến cải cách thể chế và chính sách, tạo điều kiện cải cách bộ máy hành chính, cải thiệân môi trường kinh doanh, cải thiện nền quản trị công vốn dĩ còn nhiều yếu điểm trong một đất nước nghèo và đông dân Không những thế, các chương trình liên quan đến giáo dục, sức khỏe và bệnh tật, bình đẳng giới, bảo vệ tài nguyên và môi trường… cũng là những nội dung mà ODA đóng góp nhằm thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ tại Việt Nam, mục tiêu mà các nhà tài trợ quan tâm
Với gần 15 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA, Việt Nam tỏ ra là một quốc gia nhận nhiều viện trợ và sử dụng viện trợ tương đối thành công Tuy nhiên, xét về thời gian và hiệu quả, việc khai thác ODA trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển còn chưa tương xứng với quy mô cam kết từ các nhà tài trợ, có nhiều trở ngại trong giải ngân cũng như sự bị động của các cấp quản lý trong tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn này Và hơn lúc nào hết, Việt Nam đang ở trong giai đoạn tạo đà cho phát triển nhanh, bền vững, sự kết hợp giữa ngoại lực và nội lực là cần thiết
Trang 8và tất yếu cho đầu tư phát triển, củng cố thể chế, hoàn thiện môi trường và giảm nghèo
Chính vì thế tác giả chọn đề tài: “KHAI THÁC NGUỒN VỐN ODA TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM” làm luận án tiến sĩ, nhằm góp phần nghiên cứu về mặt lý luận cũng như
thực tiễn thu hút, sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA ở Việt Nam
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Bối cảnh quốc tế, nguồn vốn ODA trên thế giới tăng liên tục từ năm 2001 đến nay Bối cảnh trong nước, Việt Nam đang nằm trong giai đoạn thích hợp nhất để thu hút và vận động ODA phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH Do vậy, luận án nghiên cứu trên cơ sở những vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm gắn liền với lịch sử ODA đối với các nước đang phát triển để xem xét phân tích vấn đề khai thác ODA cho đầu tư phát triển ở Việt Nam trong thời gian qua Từ đó, luận án đề xuất những giải pháp liên quan đến quá trình vận động, phân bổ, sử dụng và giải ngân nguồn vốn ODA trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là nguồn vốn ODA và vấn đề khai thác ODA ở Việt Nam Khai thác nguồn vốn ODA là nội dung bao hàm các mặt: huy động, vận động tài trợ (gia tăng mức cam kết ODA), phân bổ và sử dụng, khả năng hấp thụ (thể hiện tỷ lệ giải ngân) nguồn vốn ODA Khai thác ODA phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều lĩnh vực như vận động và đám phán tài trợ, phân bổ và sử dụng, đầu tư hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, quản lý nợ, CNH, HĐH…
Do giới hạn về thời gian, khuôn khổ luận án, chuyên ngành nghiên cứu nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Trang 9- Nguồn ODA được khai thác như thế nào vào đầu tư cơ sở hạ tầng, cải cách thể chế và xóa đói giảm nghèo
- Vấn đề “khai thác nguồn vốn ODA” mà luận án đề cập không chỉ là vận động tài trợ, tìm kiếm thêm nguồn vốn mà chính là quản lý và sử dụng cho tốt vốn ODA đã được ký kết nhất là trong giai đoạn 2006-2010
- Chính sách phân bổ, sử dụng và khả năng hấp thụ ODA ở Việt Nam từ
1993 đến nay
- Không đi sâu vào thủ tục và nghiệp vụ giải ngân ODA
- Không đi sâu vào cơ sở lý luận và những kinh nghiệm của sự nghiệp CNH, HĐH
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu thường sử dụng đối với lĩnh vực kinh tế xã hội như phương pháp phân tích chuỗi thời gian, phương pháp nghiên cứu định lượng trên cơ sở hồi quy, phương pháp so sánh (so sánh với một quốc gia có điều kiện tương tự), phương pháp mô hình hóa… thì luận án lấy phương pháp chuỗi thời gian làm chủ đạo vì những lý do sau:
Phương pháp nghiên cứu định lượng là phương pháp tốt nhưng luận án không lựa chọn bởi lẽ:
- Từ 1993-2004, Việt Nam chưa có một dữ liệu tổng hợp hoàn chỉnh về ODA Các số liệu về ODA được quản lý phân tán ở các cơ quan như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng Phát triển và không tổng hợp chính xác theo ngành hoặc lĩnh vực
- Việt Nam không phải là một nước phụ thuộc về viện trợ nên các kết quả để đưa ra tương quan về tăng trưởng và viện trợ hoặc những tương
Trang 10quan vĩ mô khác sẽ đưa đến kết quả đóng góp của viện trợ rất thấp Tuy nhiên, có sự tương quan chặt chẽ giữa viện trợ với việc gia tăng năng lực trong từng lĩnh vực khá cao thông qua dữ liệu đầu vào và đầu
ra như cơ sở hạ tầng, cải cách thể chế, xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam gần 15 năm qua
Phương pháp so sánh: việc thu thập dữ liệu hai nước có điều kiện tương tự để so sánh gặp khó khăn do dữ liệu chi tiết về ODA của quốc gia khác để
so sánh với Việt Nam không dễ thực hiện
Phương pháp mô hình hóa: là phương pháp nghiên cứu cao và đòi hỏi thời gian khá dài
Phương pháp phân tích chuỗi thời gian là phương pháp đo lường ảnh hưởng nhân quả giữa các biến quan tâm theo thời gian Qua biểu đồ biểu diễn các biến số theo thời gian, khuynh hướng vận động giữa các biến số được xác lập từ đó rút ra quan hệ nhân quả Tuy nhiên, phương pháp cũng có những hạn chế, có những biến số không lượng hóa được theo thời gian ví dụ như mức độ cải thiện thể chế Trong những trường hợp này, tác giả còn sử dụng các sự kiện để minh chứng những nhận định từ nghiên cứu Ngoài việc sử dụng phương pháp chuỗi thời gian, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp cũng được sử dụng để làm rõ những vấn đề nghiên cứu mà luận án đề cập
2 Dữ liệu nghiên cứu:
- Số liệu thứ cấp đáng tin cậy của các cơ quan chính phủ như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng Phát triển thông qua các báo cáo hàng năm,
Trang 11- Dữ liệu chi tiết từ cơ sở dữ liệu dùng chung giữa cộng đồng các nhà tài trợ và chính phủ được được công khai từ năm 2005 trên trang web http://dad.mpi.gov.vn
- Sử dụng những chỉ tiêu về kết quả nghiên cứu của các đối tác chiến lược của Việt Nam như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật bản
- Các dữ liệu trên các tạp chí của DAC (OECD)
V NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án có những đóng góp mới như sau:
Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ODA trong điều kiện tài liệu về lý luận ODA khá ít ỏi
Nhận diện những trở ngại trong khả năng hấp thụ và sử dụng ODA ở Việt Nam, dựa trên cơ sở lý luận về ODA kết hợp với bài học kinh nghiệm của một số nước, luận án đưa ra định hướng trong phân bổ và quan điểm khai thác ODA cũng như mục tiêu khai thác ODA trong từng giai đoạn
Với việc đề xuất hai nhóm giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm khai thác ODA và dự báo giải ngân ODA ở Việt Nam đến năm 2010, 2015 và 2020 Luận án góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn liên quan đến đặc thù nguồn vốn ODA ở Việt Nam
Luận án là một tài liệu nghiên cứu giúp cho các cơ quan, cán bộ quản lý nhất là ở cấp địa phương trong bối cảnh phân cấp quản lý ODA hiểu rõ hơn về mục tiêu sử dụng ODA của Việt Nam và những hình thức tài trợ, những lợi ích cũng như những hạn chế khi sử dụng nguồn ODA để có những bước thu hút và vận động ODA phù hợp với địa phương và từng thời kỳ
Trang 12 Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công tác giảng dạy và học của chuyên ngành tài chính công tại các trường đại học chuyên ngành kinh tế, tài chính
Trang 131 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 Tổng quan về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
trên thế giới
Năm 1944, Hội nghị tài chính và tiền tệ của Liên Hiệp Quốc ở Bretton Woods, New Hampshire, ở Mỹ triệu tập 44 nước thành viên và thành lập Ngân hàng quốc tế cho hoạt động tái thiết và phát triển và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Viện trợ nước ngoài khởi đầu bằng hoạt động tái thiết châu Âu sau thế chiến thứ hai với kế hoạch Marshal của Mỹ và các khoản vay của Ngân hàng Thế giới (WB) vào năm 1947 Kế hoạch Marshal kết nối các khoản viện trợ lớn đến các quốc gia ở châu Âu với khuôn khổ của sự hợp tác, đồng thuận, và có trách nhiệm về chiến lược của sự hòa giải và hoạt động tái thiết Ngày 16/04/1948, các nước nhận viện trợ từ kế hoạch Marshal đã ký tại Hội nghị thành lập Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu (Ogarnisation for European Economic Cooperation - OEEC) và Mỹ, nhà tài trợ chính, đã thành lập Cục Hợp tác Kinh tế (Economic Cooperation Agency - ECA) để quản lý Chương trình hồi phục châu Âu (European Recovery Programme -ERP) từ năm 1948 đến năm
1951 Trong khoảng thời gian này, Mỹ đã cung cấp cho châu Âu khoản viện trợ tương đương 2,5%GDP của quốc gia [15, tr.236] Chương trình viện trợ phát huy hiệu quả và châu Âu hồi phục nhanh chóng Sự thành công của kế hoạch Marshal đã tạo ra sự lạc quan tột bực về triển vọng giúp đỡ các nước nghèo hơn trong một tình huống hoàn toàn khác thông qua hỗ trợ nước ngoài
Trang 14Năm 1958, Hiệp hội Tôn giáo thế giới gởi đến phái đoàn Liên Hiệp Quốc thông điệp giới thiệu ý tưởng “mục tiêu 1%” có nghĩa là khoản viện trợ không hoàn lại và khoản vay ưu đãi đến các nước đang phát triển ít nhất đạt 1% GNP của những nước giàu Con số này trở thành mục tiêu của thập niên phát triển đầu tiên của Liên Hiệp Quốc và được xác nhận lại trong phiên họp đầu tiên của Hội nghị thương mại và phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) được tổ chức
ở Geneva vào 1964 Trong phiên họp thứ hai của UNCTAD tổ chức ở New Delhi vào 1968, Hội nghị đặt ra mục tiêu là ¾ của 1% GNP của các nước giàu dành cho ODA
Trong thời gian này, các định chế phát triển đa phương được thành lập Năm 1959, Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (The Inter-American Development Bank (IDB) được thành lập bởi 19 nước thuộâc châu Mỹ la tinh và Hoa Kỳ để cho vay với điều kiện ưu đãi ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Năm 1960, Ngân hàng Thế giới thành lập Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) với sự quyên góp ban đầu hơn 900 triệu USD để cung cấp những khoản vay mềm cho các nước nghèo và đang phát triển Năm 1961, các nước tài trợ chính đã thành lập Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (Development Assistance Committee – DAC) của OECD như một diễn đàn nhằm điều phối việc trợ giúp và nhằm thảo luận các vấn đề phát triển Hai năm 1960-1961, Mỹ cung cấp hơn 40% tổng viện trợ chính thức đến các nước đang phát triển và hơn 30% đến từ nước Pháp và nước Anh Ngân hàng Phát triển châu Phi được thành lập năm 1964 và Ngân hàng Phát triển châu Á được thành lập vào năm 1966 với mục đích tương tự
Năm 1961, Đại hội đồng Liên hiệp Quốc đã chỉ rõ thập niên 60 là thập niên phát triển của Liên Hiệp Quốc và xây dựng hai mục tiêu chính: Thứ nhất, đến năm 1970, tỷ lệ tăng trưởng của các nước đang phát triển là 5% năm; Thứ hai, gia tăng dòng vốn hỗ trợ quốc tế đến các nước đang phát triển xấp xỉ 1%NI
Trang 15(thu nhập quốc dân-national incomes) của các nước đã phát triển Năm 1962, Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) phát động thực hiện bản tin hằng năm về những nỗ lực hỗ trợ phát triển và chính sách của mỗi nước thành viên gọi là “Aid Reviews” DAC cũng đưa ra chỉ thị về báo cáo viện trợ và các dòng vốn khác đến các nước đang phát triển dựa trên nền tảng so sánh Cải thiện và hài hòa điều kiện tài chính của viện trợ là một trong những điều mà DAC quan tâm thường xuyên
Tuy nhiên trên thực tế dòng viện trợ này đến các nước đang phát triển khá chậm và không chỉ không đạt đến mục tiêu 1% mà bắt đầu từ 1961 trở đi, dòng vốn có xu hướng sút giảm liên tục Những năm đầu của thập niên 60, tỷ lệ của các nước phát triển dành cho viện trợ là 0,53% GNI giảm còn 0,39% trong thời kỳ 1966-1969 và còn 0,32% trong thời kỳ 1970-1973 Năm 1969, báo cáo của Chủ tịch Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển đã đưa ra mục tiêu huy động viện trợ hay còn gọi là nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là 0.7% GNI (gross national income) và được các nước nhất trí thông qua [42, tr 21]
Thụy Điển là thành viên đầu tiên của DAC duy trì mức cung cấp ODA chiếm 0,7% GNI vào năm 1974, tiếp theo là Hà Lan vào năm 1975, Na Uy vào năm 1976 và Đan Mạch vào năm 1978 Nhật đã đề xướng kế hoạch “gấp đôi viện trợ” và thực hiện giải ngân gia tăng từ 1,4 tỉ USD năm 1977 lên 2,8 tỷ USD năm 1980 Không thể không kể đến nguồn viện trợ từ các nước OPEC, các nước đang phát triển đã nhận được ODA song phương của OPEC với sự gia tăng rất ngoạn mục: từ 450 triệu USD năm 1972 lên 4,2 tỷ USD năm 1974 và đạt đỉnh cao vào năm 1980 với hơn 8,7 tỷ USD [15, tr 238 ]
Tuy vậy, nguồn ODA trong những năm đầu thập niên 80 vẫn tăng không đáng kể (vào năm 1982-1983, ODA xấp xỉ 0,35% GNI) Đến đầu thập niên 90, nguồn ODA huy động từ các nước phát triển khoảng 0,33% GNI và có sự sụt
Trang 16giảm liên tục và mức thấp nhất chỉ còn 0,22% GNI vào năm 1997.(Xem hình 1.1)
Nguồn: Tạp chí Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) 2005 [44, tr.45]
Hình 1.1: Các dòng vốn từ các nước thành viên DAC đến các nước đang phát triển
Dòng viện trợ vào các nước đang phát triển tiếp tục giảm trong thập niên
90 là do chiến tranh lạnh kết thúc làm cho các nước viện trợ thay đổi quyết định
vì trước đây mục đích là hỗ trợ phe đồng minh để củng cố uy thế chính trị, áp lực cân đối ngân sách của nước viện trợ cũng làm cho mức viện trợ giảm mặc dù viện trợ chiếm tỷ lệ nhỏ trong ngân sách của họ, các nước viện trợ xem xét và nghi ngờ về hiệu quả viện trợ, đồng thời dòng vốn tư nhân tăng mạnh (nhất là FDI) làm giảm tầm quan trọng của viện trợ
Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) đã xây dựng những mục tiêu Phát triển quốc tế (tiền thân của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ) lần đầu tiên vào 1996 Sau đó, Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) được 189 nguyên thủ quốc
Trang 17gia thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc vào
tháng 09/2000 Đây là một chương trình nghị sự quốc tế cho thế kỷ 21 thể hiện
cam kết toàn cầu về mục tiêu phát triển Toàn bộ MDGs bao gồm 8 mục tiêu
chung, 18 chỉ tiêu và 48 chỉ số Trong đó, mục tiêu bao trùm là giảm một nửa tỷ
lệ nghèo (người có thu nhập dưới 1USD/ngày) vào năm 2015 (1,5 tỷ người
xuống còn 750 triệu người trong giai đoạn 1990- 2015) (xem phụ lục 2)
Trong giai đoạn 1993-2005, 95% tổng lượng ODA trên thế giới do các
nước là thành viên của Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD) cung cấp
Các nhà tài trợ cung cấp ODA không theo xu hướng tăng đều dẫn đến tỷ lệ
ODA/GNI giảm trong giai đoạn 1995-2000, ổn định ở giai đoạn 2000-2002 và
tăng liên tục từ 2002-2005(xem bảng 1.1)
Bảng 1.1: Giải ngân ODA từ các nhà tài trợ từ 1990-2005 (tỷ USD)
Nước tài trợ 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Trang 18Sau quá trình tăng mạnh khối lượng ODA, đến năm 2005, tỷ lệ ODA/GNI là 0,33% ngang bằng với tỷ lệ ODA/GNI vào năm 1990 Điều này cho thấy các nước phát triển vẫn chưa thực hiện được cam kết viện trợ của mình 0,7% GNI
Diễn đàn cấp cao về “Hiệu quả viện trợ ” tổ chức ở Paris vào tháng 03/2005 đã đưa ra sự thay đổi về quản lý và phân phối các khoản viện trợ Cam kết Paris về hài hòa hóa thủ tục là bước tiến về tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả ODA nhằm đem lại những thành quả trong thực hiện các MDGs
1.1.2 Khái niệm về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Năm 1969, Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (Development Assistance Committee – DAC) đã thông qua khái niệm về hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) để phân biệt ODA với những dòng tài chính chính thức khác (Other Official Flows - OOF) Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là những sự chuyển giao hỗ trợ chính thức mà mục tiêu chính là xúc tiến sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển với điều kiện tài chính
ưu đãi Thành tố hỗ trợ hay gọi là yếu tố không hoàn lại “grant element”đđược đề cập để đo lường mức độ ưu đãi
Năm 1972, DAC đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn về ODA mà cho đến nay vẫn còn được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp quy cũng như trong hoạt động nghiên cứu Theo định nghĩa này, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức là những dòng vốn từ bên ngoài dành cho các nước đang phát triển,đđược các cơ quan chính thức của các Chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ tài trợ Mỗi sự chuyển giao nguồn vốn này phải thỏa mãn: i) Mục đích chính của nguồn vốn này là hỗ trợ cho phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển; và ii) yếu tố không hoàn lại trong khoản cho vay ưu đãi
Trang 19chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ (được tính toán với suất chiết khấu là 10%) [42, tr 24]
Đầu thập niên 2000, DAC đưa ra định nghĩa chi tiết hơn về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nhằm phân biệt với nguồn viện trợ chính thức (Official aid – OA) như sau:
“ODA được định nghĩa là những khoản viện trợ và cho vay ưu đãi từ nước ngoài đến những quốc gia và lãnh thổ đang phát triển được liệt kê trong phần I của bản danh sách của DAC (xem phụ lục 1) vàø thỏa mãn các nội dung : i) được thực hiện bởi khu vực chính thức; ii) mục đích chính là xúc tiến sự phát triển kinh tế xã hội của nước đối tác; iii) điều kiện cho vay ưu đãi với yếu tố cho không ít nhất là 25% (tính toán theo suất chiết khấu 10%) Thêm vào đó, ODA bao gồm cả hỗ trợ kỹ thuật, xóa nợ, cứu trợ khẩn cấp và lương thực và những chi phí liên kết với sự quản lý từ những chương trình hợp tác phát triển Viện trợ không hoàn lại, khoản cho vay và tín dụng vì mục đích quân sự sẽ bị loại trừ.” [44, tr.41]
“Viện trợ chính thức (Official Aid – OA) được định nghĩa là những dòng viện trợ từ nước ngoài hội đủ các điều kiện như ODA nhưng những nước nhận viện trợ là những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi (transition countries) được liệt kê trong phần II của bản danh sách của DAC (xem phụ lục 1)” [44, trang 41] Những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Nga, Balan, Hungary, Isarel, Trung Quốc, Cộng Hòa Czech, Rumani …
Theo định nghĩa này, cả nguồn ODA và nguồn OA được mô tả như là những dòng vốn từ ngân sách chính thức của các nước đã phát triển cũng như tổ chức quốc tế hỗ trợ cho sự phát triển của các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi Nguồn hỗ trợ này không chỉ là hỗ trợ cán cân thanh toán mà còn là hợp tác kỹ thuật và giảm nợ
Trang 20Ngoài ra, để hiểu rõ hơn và tránh nhầm lẫn trong sử dụng thuật ngữ chúng
ta cần đề cập đến một khái niệm về nguồn tài chính chính thức khác (Other Official Flows - OOF) để phân biệt với ODA Tài chính chính thức khác là tất cả các nguồn tài chính mà chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển bao hàm cả khoản cho vay với yếu tố không hoàn lại trong khoản vay ưu đãi ít hơn 25% và một số khoản cho vay có mức lãi suất gần với lãi suất thương mại Trong khi đó, ODA có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với khoản cho vay ưu đãi chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ Cả hai nguồn ODA và OOF đều được gọi là nguồn tài chính phát triển chính thức (Official Development Finance - ODF)
Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ban hành kèm theo Nghị Định 87/CP ngày 05/08/1997 của Chính phủ Việt Nam), Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được định nghĩa là sự hợp tác phát triển giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, bao gồm các hình thức chủ yếu sau đây: (i) hỗ trợ cán cân thanh toán; (ii) hỗ trợ theo chương trình; (iii) hỗ trợ kỹ thuật; (iv) hỗ trợ theo dự án ODA có thể ở dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (lãi suất thấp, thời hạn vay dài) ODA cho vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại ít nhất đạt 25% giá trị khoản vay
Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ban hành kèm theo Nghị Định 17/2001/NĐ-CP ban hành ngày 04/05/2001, Nghị Định này thay thế cho Nghị Định 87/CP), hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được định nghĩa là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia Hình thức cung cấp ODA bao gồm ODA không hoàn lại và ODA cho vay ưu đãi có yếu tố
Trang 21không hoàn lại (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 25% Phương thức cung cấp ODA bao gồm hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ chương trình, hỗ trợ dự án
Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức được ban hành theo Nghị Định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Việt Nam, định nghĩa về ODA cũng tương tự như Nghị Định 17/2001/NĐ-CP nhưng có sự thay đổi nhỏ về các hình thức cung cấp ODA bao gồm:
- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn lại cho nhà tài trợ
- ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm
“yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
- ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
Như vậy, theo các khái niệm và định nghĩa nêu trên đều thống nhất nguồn hỗ trợ phát triển chính thức là nguồn vốn vay ưu đãi từ các cơ quan chính thức bên ngoài hỗ trợ cho các nước đang phát triển hoặc cho các nước đang gặp khó khăn về kinh tế tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của các nước này Mức độ ưu đãi của dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức được đo lường từ chênh lệch hiện giá giữa khoản vay ưu đãi với khoản vay thương mại và ít nhất là 25% Nói cách khác, đứng trên góc độ tổng
Trang 22thể, ODA là một bộ phận trong kết cấu các dòng vốn nước ngoài vào các nước đang phát triển, được biểu hiện cụ thể qua sơ đồ sau (xem hình 1.2):
VỐN NƯỚC NGOÀI
Vốn phát triển chính
Vốn đầu tư trực tiếp (FDI)
Vốn đầu tư chứng khoán
Vốn vay tư nhân
Tín dụng XNK
Vay thương mại
GE ≥ 25%
GE <
25%
Hình 1.2: Phân loại nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn nước ngoài vào các nước đang phát triển bao gồm nguồn tài chính phát triển chính thức và nguồn vốn tư nhân trong đó: nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và nguồn vốn chính thức khác hình thành nên nguồn tài chính phát triển chính thức; nguồn vốn tư nhân bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn đầu tư chứng khoán (vốn đầu tư gián tiếp) và nguồn vốn vay tư nhân như tín dụng xuất nhập khẩu và vay thương mại
1.1.3 Phân loại nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 231.1.3.1 Dựa vào nhà tài trợ, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức được chia
làm hai loại
• ODA song phương: là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước khác thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ Hiện nay, viện trợ song phương chiếm khoảng 70-80% trong tổng viện trợ
• ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của các định chế tài chính quốc tế và các quỹ như Ngân hàng thế giới(WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á(ADB), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID) … hay các tổ chức quốc tế và liên chính phủ như Ủy ban châu Âu, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), Quỹ Quốc tế và Phát triển nông nghiệp (IFAD),Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Quỹ Đầu tư Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) cũng cung cấp ODA cho các nước nghèo và đang phát triển Hoạt động của NGOs chủ yếu mang tính nhân đạo và chủ yếu là viện trợ không hoàn lại
1.1.3.2 Dựa vào tính chất khoản viện trợ, nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức được chia làm ba loại
• ODA không hoàn lại: là khoản chuyển giao bằng tiền hoặc hiện vật sao cho bên nhận viện trợ sẽ không chịu khoản nợ pháp lý nào Viện trợ có thể bao gồm các khoản xóa nợ, hỗ trợ dưới hình thức các Quỹ tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật; hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ; và các chi phí trong quá trình thực hiện chương trình
Trang 24• ODA vay ưu đãi: là khoản chuyển giao mà bên nhận viện trợ phải chịu khoản nợ mang tính pháp lý với điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn vay Các nhà tài trợ cung cấp ODA vay ưu đãi thông qua các khoản vay: rút vốn nhanh bằng tiền, vay theo dự án, chương trình ngành
• ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản chuyển giao bằng tiền hoặc hiện vật kết hợp một phần ODA không hoàn lại và ODA vay ưu đãi theo các điều kiện của nhà tài trợ
1.1.3.3 Dựa vào loại hình hỗ trợ, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức được
chia làm 5 loại
• Cứu trợ và viện trợ khẩn cấp: cung cấp nguồn lực cứu trợ khẩn cấp, giảm nhẹ tác động và nâng cao mức sống cho người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai hay thảm họa do con người gây ra Hỗ trợ này chỉ tập trung vào viện trợ nhân đạo, không tập trung vào hỗ trợ hợp tác phát triển
• Hỗ trợ lương thực: cung cấp lương thực để tiêu dùng theo các Chương trình Quốc gia và quốc tế với mục tiêu phát triển bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ cho vay
• Hỗ trợ hợp tác kỹ thuật độc lập: là hoạt động cung cấp nguồn lực với mục tiêu chuyển giao công nghệ và năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất và bí quyết công nghệ theo các mục tiêu tăng cường năng lực tiến hành các hoạt động phát triển, không liên quan đến việc thực hiện một dự án đầu
tư cụ thể nào Hỗ trợ này bao gồm chi phí nhân sự, đào tạo và nghiên cứu, cũng như chi phí hành chính và trang thiết bị
• Hỗ trợ ngân sách/ chương trình hoặc hỗ trợ cán cân thanh toán: Hỗ trợ trong trường hợp chương trình phát triển mở rộng và theo các mục tiêu kinh tế vĩ mô, với mục đích cụ thể hỗ trợ cán cân thanh toán của nước tiếp
Trang 25nhận và cung cấp dự trữ ngoại hối Hỗ trợ này cũng bao gồm các khoản hỗ trợ nhằm cắt giảm nợ chính phủ
• Hỗ trợ dự án: là hỗ trợ tài chính bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho các dự án đầu tư vốn cụ thể Viện trợ này bao gồm những dự án tăng cường hoặc nâng cao nguồn vốn vật chất của nước tiếp nhận; dự án cụ thể thông qua hợp phần hợp tác kỹ thuật như dịch vụ tư vấn, bí quyết thực thi một dự án đầu tư, đóng góp nhân sự trực tiếp thực hiện dự án
Trong các hình thức hỗ trợ trên, hai hình thức được các nhà tài trợ cũng như nước tiếp nhận chú ý và sử dụng nhiều nhất là hỗ trợ theo dự án và hỗ trợ theo chương trình/ngân sách Mỗi hình thức đều có ưu điểm và nhược điểm riêng và phù hợp với những giai đoạn và lĩnh vực khác nhau
Hình thức hỗ trợ theo dự án (còn được gọi là cơ chế tiếp cận theo dự án) được sử dụng nhiều trong những năm đầu tiếp nhận ODA của các nước đang phát triển vì nó phù hợp với những công trình, dự án có qui mô lớn như dự án cơ sở hạ tầng (giao thông, cầu, cảng, điện, nước…) thuộc lĩnh vực đầu tư mà Chính phủ tập trung ODA nhiều nhất Cơ chế tiếp cận theo dự án còn gọi là cơ chế tiếp cận truyền thống
Hình thức hỗ trợ theo chương trình/ngân sách hoặc hỗ trợ cán cân thanh toán(còn gọi là cơ chế tiếp cận theo chương trình/ngân sách) cũng xuất hiện ngay từ đầu tiếp nhận viện trợ nhưng với tỷ lệ ODA thấp hơn do cần có một số điều kiện ràng buộc như cải cách chính sách, chiến lược và kế hoạch phát triển chương trình, ngành, cơ chế quản lý chi tiêu công minh bạch và hiệu quả,… Ví dụ như: Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo, Chương trình giải quyết việc làm, Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng khó khăn (Chương trình 135)…Hình thức này được áp dụng nhiều trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xây dựng và bảo trì giao thông nông thôn…
Trang 26Một hình thức hỗ trợ tương tự như hỗ trợ theo chương trình nhưng nhỏ hơn, liên quan đến một ngành được gọi là “Cách tiếp cận theo ngành rộng(SWAPs – Sectoral wide approaches)” SWAPs là một hình thức mà nguồn tài trợ từ bên ngoài lồng ghép vào hệ thống lập kế hoạch và quản lý của Chính phủ để có thể hỗ trợ sự phát triển một ngành (hoặc phân ngành) Ví dụ: Chương trình giáo dục tiểu học, Chương trình y tế… Cách tiếp cận theo ngành rộng thích hợp với những đối tượng được đầu tư dàn trãi trên lãnh thổ, nhiều công trình nhỏ theo ngành, theo vùng như y tế, giáo dục, giao thông nông thôn…
1.1.4 Đặc điểm và tính hai mặt của nguồn hỗ trợ phát triển chính thức đối
với các nước đang phát triển
1.1.4.1 Đặc điểm nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
Ngay tên gọi của nguồn vốn này thể hiện ba đặc tính cơ bản của ODA là:
- Đây là nguồn vốn chính thức (Official) do chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ quan chính thức của một nước
- Nguồn ODA phục vụ cho phát triển (development) không cấp cho chương trình, dự án mang tính chất thương mại, mà chỉ nhằm hỗ trợ vì mục đích phát triển, nâng cao lợi ích kinh tế xã hội của nước nhận viện trợ
- Nguồn ODA là nguồn hỗ trợ (Assistance) dưới hình thức phổ biến là viện trợ không hoàn lại và vay ưu đãi với thành tố hỗ trợ (còn gọi là yếu tố không hoàn lại) phải chiếm từ 25% giá trị của khoản vốn vay trở lên
Yếu tố không hoàn lại ( grants element - GE) của khoản vay ưu đãi được xác định như sau:
Trang 27t T
t
P F
GE : Yếu tố không hoàn lại (grant element)
F : Giá trị danh nghĩa của khoản vay
T : Thời hạn trả nợ
Pt : Tổng số tiền nợ gốc và lãi phải trả vào năm t
k : Hệ số chiết khấu (là lãi suất thương mại tham chiếu của đồng ngoại
tệ tương ứng với mỗi khoản nợ do Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế (OECD) công bố tại thời điểm tính toán hoặc sử dụng hệ số chiết khấu do IMF áp dụng)
Vì Pt bao gồm cả tiền trả lãi nên nếu các điều kiện khác không tính đến,
yếu tố không hoàn lại sẽ cao hơn khi một trong các yếu tố như lãi suất thấp hơn,
tỷ lệ chiết khấu cao hơn, thời gian trả nợ lâu hơn
Xuất phát từ cách tính yếu tố không hoàn lại (grants element – GE), tỷ lệ
yếu tố không hoàn lại được xác định:
(hiện giá khoản vay ưu đãi) Tỷ lệ GE = 1 - -
( hiện giá khoản vay thương mại tương ứng)
Hay: Tỷ lệ GE = * 100 %
) 1 /(
T
t
t t
(1.2)
Ví dụ: Một quốc gia X ở châu Phi được vay từ WB một khoản vay trị giá
200 triệu USD vào cuối năm 2000 Thời gian ân hạn là 3 năm Từ năm 2004 đến
2010, quốc gia phải trả lãi theo lãi suất 3%/năm (trả một lần trong một năm)
Trang 28Vốn gốc được hoàn trả toàn bộ trong năm 2010 Nếu cũng trong năm 2000 quốc gia Phi châu này phát hành trái phiếu quốc tế trên thị trường với tổng trị giá 200 triệu USD, thì để trái phiếu bán ra đúng mệnh giá, lãi suất của trái phiếu phải bằng 8%
Theo ví dụ, F = 200 triệu USD, k = 8%, khoản lãi vay trả hàng năm là 6 triệu USD(3%*200 triệuUSD) Mỗi năm (từ 2004 đến 2009), quốc gia X phải trả lãi là 6 triệu USD; đến năm 2010, quốc gia X phải trả 206 triệu USD
Tại sao yếu tố không hoàn lại trong khoản vay phải đạt ít nhất là 25% giá trị khoản vay mới được coi khoản vay đó là ODA? Bản chất của hỗ trợ phát triển chính thức là hỗ trợ các nước nghèo vì mục tiêu phát triển nên khoản vay được ký kết với lãi suất ưu đãi và thời hạn cho vay dài để tạo điều kiện các nước này nỗ lực trong mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn và có khả năng hoàn trả Tuy nhiên theo lịch sử của viện trợ nước ngoài, một số nước giàu khi viện trợ cho các nước nghèo thường kèm theo điều kiện như sử dụng hàng hóa, thiết bị, thuê chuyên gia nước ngoài của chính nước viện trợ… như một phần của viện trợ, và có khi các điều kiện này chiếm đến 20-25% giá trị khoản vay Do vậy, Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) khuyến cáo các nước giàu nên hạn chế các điều kiện khi viện trợ và quy định yếu tố không hoàn lại phải đạt ít nhất 25%
1.1.4.2 Tính hai mặt của nguồn hỗ trợ phát triển chính thức đối với các nước
đang phát triển
* Lợi thế sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Thứ nhất, nguồn ODA bổ sung nguồn vốn đầu tư lớn với chi phí sử dụng vốn thấp: thời gian ân hạn, lãi suất cho vay và thời hạn trả nợ là những yếu tố xác định mức độ ưu đãi của nguồn ODA Yếu tố không hoàn lại ít nhất là 25% tạo điều kiện cho các nước nghèo vay và có khả năng hoàn trả
Trang 29Với chính sách thể chế yếu kém, cơ sở hạ tầng kinh tế nhỏ bé, nhân lực không được đào tạo đúng mức, thật khó để các nước nghèo có khả năng tạo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cùng với việc giải quyết các vấn đề xã hội như đói nghèo, bệnh tật, thiên tai….Phần lớn các nước đang phát triển ở trong tình trạng không tạo ra đủ nguồn lực và cũng không thể vay tiền cho việc đầu tư của họ từ thị trường vốn quốc tế với lãi suất thị trường Nguồn ODA là nguồn lực quan trọng và dành cho mục tiêu tăng trưởng và giảm nghèo của các nước này đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển Các chính phủ của nước tiếp nhận viện trợ sẽ tận dụng nguồn vốn ODA để đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng, các dự án đóng góp vào tiến trình cải cách chính sách thể chế, dự án hỗ trợ giáo dục, y tế, môi trường… để tạo tiền đề cho sự tăng trưởng và giảm nghèo Hầu như các dự án này có ngoại tác tích cực lớn Ví dụ như những dự án cơ sở hạ tầng về giao thông, phân tích kinh tế dự án mang đến kết quả khả quan(gia tăng lưu lượng hàng hóa, tạo điều kiện xuất khẩu, giảm chi phí vận chuyển, giảm nghèo…) nhưng phân tích tài chính âm theo suất chiết khấu hiện hành do vốn đầu
tư lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài Nguồn ODA sẽ cung cấp tài chính cho những dự án như vậy và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội rất lớn Càng thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển bao nhiêu, đất nước đó càng có lợi bấy nhiêu vì nguồn ODA sẽ giảm bớt về số lượng lẫn tính ưu đãi đối với các nước từng bước gia nhập vào nước có thu nhập trung bình
Thứ hai, nguồn ODA bổ sung nguồn ngoại tệ, bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán Hầu hết các nước nghèo và đang phát triển đều đối mặt với thâm hụt cán cân thanh toán do kim ngạch nhập khẩu thiết bị hàng hóa cho đầu tư ngày càng tăng Việc tiếp nhận nguồn vốn ODA không những là nguồn lực từ bên
Trang 30ngoài để hỗ trợ nguồn lực trong nước mà còn là nguồn ngoại tệ bổ sung bù đắp thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu
Thứ ba, thông qua ODA, nước tiếp nhận viện trợ tiếp thu công nghệ, chất lượng quản lý và kỹ năng làm việc ODA có nhiều hình thức: cứu trợ và viện trợ khẩn cấp, viện trợ lương thực, hỗ trợ dự án đầu tư, hợp tác kỹ thuật liên quan đến đầu tư, hợp tác kỹ thuật độc lập, hỗ trợ cán cân thanh toán…Hợp tác kỹ thuật và hỗ trợ dự án đầu tư là những hoạt động cung cấp nguồn lực với mục tiêu chuyển giao công nghệ và năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất và bí quyết công nghệ theo mục tiêu tăng cường năng lực tiến hành các hoạt động phát triển Hợp tác kỹ thuật liên quan đến đầu tư có thể là các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật đóng góp nhân sự trực tiếp thực hiện dự án Thông qua các hình thức hỗ trợ này, nước tiếp nhận sẽ học tập được kỹ thuật công nghệ, kỹ năng làm việc, phương pháp quản lý hiện đại mà ít khi có dịp được tiếp xúc
Thứ tư, nguồn ODA sẽ là nguồn vốn vay tốt để thực hiện được cân bằng trong đầu tư giữa các thế hệ Giả sử để xây một cái cầu cần vốn là 100 triệu USD và phải thu hồi vốn trong 40 năm (cầu được sử dụng cho nhiều thế hệ) Nếu chính phủ xây cầu bằng nguồn thu từ thuế (là nguồn vốn hiện tại gắn với một thế hệ), danh mục đầu tư được thực hiện sẽ hạn chế do qui mô vốn eo hẹp Nếu chính phủ vay từ nguồn ODA để xây cầu với lãi suất ưu đãi và thời hạn trả nợ kéo dài gần bằng thời gian sử dụng cầu thì chính phủ đang sử dụng nguồn lực của nhiều thế hệ Xét với giác độ đòn bẩy tài chính thông qua vay nợ, nguồn ODA sẽ giúp chính phủ sử dụng nguồn lực tốt hơn trong một hoàn cảnh nhu cầu về vốn vượt xa khả năng Do vậy, việc vay nợ để đầu tư không phải là không tích cực cho quá trình phát triển của quốc gia
* Hạn chế khi sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Trang 31Thứ nhất, nước tài trợ đưa ra những ràng buộc về chính sách tài trợ: những ràng buộc về chính trị như nước tài trợ muốn nước tiếp nhận đưa ra đường lối đối nội, đối ngoại theo một hoạch định có sẵn (xảy ra nhiều trong thời gian còn chiến tranh lạnh vì động cơ của nhà tài trợ là củng cố liên minh và gây uy thế chính trị) Những ràng buộc về kinh tế chính trị: nước tài trợ đưa ra những ràng buộc tác động đến chính sách kinh tế xã hội của nước tiếp nhận theo hướng mà nước tài trợ mong muốn như nước tiếp nhận phải cam kết tự do hóa thị trường, cam kết đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, từng bước giảm độc quyền trong cung cấp điện, nước, hàng không, hoặc công khai các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (dự trữ ngoại tệ, nợ quốc gia…) Ví dụ như năm 2004, IMF không tiếp tục chương trình cho vay thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo (PRGF) với Việt Nam do phía Việt Nam không thực hiện một số yêu cầu của IMF: kiểm toán Ngân hàng Nhà nước bởi một công ty kiểm toán độc lập, công khai dự trữ ngoại tệ quốc gia và một số các tài khoản quan trọng của bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Nhà nước Những ràng buộc về kinh tế: ràng buộc đưa ra nhằm mang lại lợi ích cho nước tài trợ như nước tiếp nhận sử dụng hàng hóa, thiết bị, dịch vụ, chuyên gia nước ngoài… từ nước tài trợ
Thứ hai, vay mượn ODA sẽ tăng nợ quốc gia Bản chất của ODA là khoản vay có tính ưu đãi Nếu chính phủ sử dụng tốt và đúng mục đích nguồn này sẽ đóng góp rất lớn vào tiến trình phát triển, tạo hành lang môi trường cho khu vực kinh tế hoạt động, giảm bất bình đẳng giữa các vùng….từng bước tăng trưởng, giảm nghèo và tăng tính khả thi về khả năng hoàn trả nợ vay Ngược lại, nếu chính phủ sử dụng nguồn này sai mục đích, thất thoát và lãng phí sẽ là gánh nặng nợ cho thế hệ mai sau Theo kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới, giới hạn an toàn cho phép dư nợ nước ngoài của quốc gia là dưới 60%GDP Thập niên 90, IMF và WB cho rằng nước đang phát triển được xem là nước nghèo
Trang 32mắc nợ cao (HIPCs) nếu thỏa hai điều kiện: NPVnợ/Xuất khẩu ≥150% và
NPVnợ/thu ngân sách ≥ 250%).Những năm gần đây, thực tế các khoản nợ quốc
gia được qui về giá trị hiện tại có mức thấp hơn (xem bảng 1.2)
Bảng 1.2:Giá trị hiện tại của nợ năm 2004 của một số quốc gia
Năm 2004 Số quốc gia
Mức trung bình NPV Nợ/XK (%)
Mức trung bình NPV Nợ/GNI (%)
Các nước chuẩn bị
Nước thu nhập thấp khác 18 99,5 46,3
Nước có thu nhập trung
Nguồn: Tài chính Phát triển toàn cầu 2006 [47, tr.94]
Thứ ba, nước tiếp nhận nguồn ODA bổ sung vào đầu tư qua các dự án đầu
tư công cộng nếu không hiệu quả sẽ gây tác động chèn lấn đầu tư tư nhân Các
nước đang phát triển ở châu Phi rơi vào tình trạng này như Ghana, Zambia,
Ethiopia… do có xu hướng lựa chọn những dự án quá lớn và việc đánh giá không
đầy đủ về lợi ích, chi phí cũng như phạm vi hưởng lợi của các đối tượng từ dự án
làm cho các dự án này thu hút nhiều nguồn lực của quốc gia nhưng tính hiệu quả
không cao Điều này dẫn đến đầu tư tư nhân gặp khó khăn trong tìm kiếm nguồn
lực cũng như không có cơ hội để đầu tư Bên cạnh đó, một tác động tiêu cực đi
kèm là các quan chức địa phương có xu hướng tìm kiếm nguồn đầu tư từ nhà
nước hơn là tập trung vào thu hút đầu tư tư nhân Dự án từ đầu tư tư nhân thường
giải quyết khối lượng việc làm lớn sẽ không thực hiện được trong một môi
trường bất lợi do đầu tư công tạo ra
Trang 33Thứ tư, nguồn ODA không ổn định và khó có thể dự báo được: do mức tài trợ thường phụ thuộc vào cảm tính của nhà tài trợ mặc dù các nhà tài trợ có dựa trên những tiêu chí nhất định để đưa ra mức cam kết tài trợ hàng năm Do đó, nguồn ODA chảy vào các nước nghèo và đang phát triển không đồng đều giữa các vùng trên thế giới
Thứ năm, thủ tục giải ngân phức tạp: mặc dù có những ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn nhưng trở ngại của việc huy động nguồn ODA là thủ tục giải ngân Thủ tục giải ngân giữa các nhà tài trợ có điểm khác nhau, trình tự các bước và quy trình thực hiện dự án cũng khác nhau giữa nhà tài trợ với nước tiếp nhận viện trợ Nếu như một quốc gia nhận viện trợ với số lượng các nhà tài trợ
quá nhiều sẽ dẫn đến việc giải ngân chậm và phức tạp Do vậy, trên thực tế, các
bên ngồi lại với nhau để hài hòa hóa thủ tục hoặc giảm bớt số lượng nhà tài trợ
Ở phạm vi thế giới, Tuyên bố Pari được thông qua vào tháng 3 năm 2005 Ở Việt Nam, Cam kết Hà nội về hiệu quả viện trợ được Hội nghị giữa kỳ Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam thông qua nội dung vào ngày 03/06/2005 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 9 năm 2005, nhằm hài hòa hóa thủ tục, giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả viện trợ
1.2 Vấn đề khai thác nguồn vốn ODA và khái quát quy trình vận động, đàm phán và ký kết ODA
1.2.1 Vấn đề khai thác nguồn vốn ODA
Là nguồn vốn vay từ bên ngoài, mang tính chất hỗ trợ chính thức giữa nước tiếp nhận với các nhà tài trợ song phương và đa phương, vấn đề khai thác nguồn vốn ODA tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: mục tiêu tài trợ của cộng đồng quốc tế; tình trạng kinh tế xã hội của nước tiếp nhận; chính sách ngoại giao trong quan hệ hợp tác quốc tế; khả năng hấp thụ thông qua mức độ hài hòa thủ
Trang 34tục, điều kiện giải ngân; tốc độ triển khai dự án ODA…Đối với các nước nghèo có thu nhập thấp như Việt Nam, các yếu tố khách quan đều thuận lợi vì nằm trong mục tiêu tài trợ của cộng đồng quốc tế Vấn đề là cải thiện các yếu tố mang tính chủ quan và có những định hướng thu hút nguồn vốn này phù hợp trong từng giai đoạn
Khai thác nguồn vốn ODA có thể hiểu ở hai khía cạnh chính: Thứ nhất, huy động và thu hút nguồn vốn này trên cơ sở vận động tài trợ (mức cam kết ODA được xác định qua diễn đàn quốc tế hoặc Hội nghị CG), sau đó đàm phán hai bên và ký kết Hiệp định tín dụng Thứ hai, trên cơ sở vốn ODA đã ký kết, mức độ khai thác ODA thể hiện rõ ở tỷ lệ giải ngân và các dự án được đầu tư từ ODA mang lại hiệu quả và tác động kinh tế xã hội như thế nào để thuyết phục nhà tài trợ rằng nước tiếp nhận viện trợ sử dụng nguồn ODA đúng mục đích và có hiệu quả Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận động tài trợ trong tương lai
Thông thường về phía nước tiếp nhận, khía cạnh thứ nhất được quan tâm trong giai đoạn đầu mới thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế với các nhà tài trợ vì lúc ấy, nguồn vốn ODA cam kết chưa cao, quy mô cam kết từng nhà tài trợ chưa lớn, khoản nợ nước ngoài còn khiêm tốn Khía cạnh thứ hai được quan tâm nhiều hơn ở giai đoạn mà nước tiếp nhận hấp thụ ODA qua nhiều lĩnh vực, hình thức tài trợ đa dạng và các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ giải ngân so với ODA cam kết và ODA ký kết Đặc biệt những nước tiếp nhận viện trợ có tỷ lệ giải ngân thấp hơn tỷ lệ giải ngân trung bình của các nước có điều kiện tương tự thì chiến lược thu hút và khai thác ODA phải tập trung vào những khâu quản lý và sử dụng để cải thiện tỷ lệ giải ngân
1.2.2 Khái quát quy trình vận động, đàm phán và ký kết ODA
Trang 351.2.2.1 Các hình thức vận động ODA
Các hình thức vận động ODA bao gồm:
Vận động ODA thông qua các diễn đàn như Hội nghị thường niên Nhóm tư vấn các Nhà tài trợ (gọi tắt là hội nghị CG) Bộ là cấp cơ quan của Chính phủ, và là cơ quan đầu mối đảm trách việc chuẩn bị Hội nghị CG do Hiệp hội các nhà tài trợ và Chính phủ chủ trì Các diễn đàn quốc tế về ODA cho các khu vực, vùng lãnh thổ cũng có thể vận động ODA cho từng quốc gia theo mục tiêu phát triển của khu vực, vùng lãnh thổ
Vận động ODA thông qua các hoạt động của các cơ quan ngoại giao của chính phủ nước tiếp nhận tại nước ngoài hoặc thông qua các mối quan hệ hợp tác song phương giữa nước tiếp nhận và nước tài trợ, các đàm phán cấp cao giữa hai nước được thực hiện
Vận động ODA thông qua Hội nghị điều phối viện trợ ODA theo ngành, lĩnh vực và địa phương Các ngành, đơn vị chủ trì tổ chức (thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) trực tiếp vận động ODA trên
cơ sở quy hoạch về thu hút, vận động và sử dụng ODA do Chính phủ xây dựng
1.2.2.2 Các bước cơ bản của quy trình vận động, đàm phán và ký kết vốn
ODA
Quy trình vận động, đàm phán và ký kết ODA do nước tiếp nhận viện trợ tự xây dựng và thông thường theo các bước cơ bản như sau:
Trang 36Hình 1.3: Các bước cơ bản của quy trình vận động, đàm phán và ký kết ODA
Trước tiên, nước tiếp nhận xây dựng chiến lược, quy hoạch về thu hút và sử dụng ODA (chính sách chung về ODA) ở cấp quốc gia để làm cơ sở vận động tài trợ ODA Ở bước 2: vận động ODA phải xác định cơ quan đầu mối chủ trì, tổ chức vận động và điều phối ODA cũng như áp dụng các hình thức vận động phù hợp Sau khi có kết quả vận động ODA hay nói khác đi cộng đồng tài trợ đã có những cam kết tài trợ cụ thể về lĩnh vực cũng như qui mô, bước 3 (chuẩn bị dự án ODA), nước tiếp nhận chuẩn bị chi tiết dự án ODA với những nội dung như xác định loại hình dự án, chủ đầu tư, xây dựng nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, thẩm định và phê duyệt để đàm phán, ký kết điều ước quốc tế về ODA Sau khi điều ước quốc tế về ODA, quá trình triển khai thực hiện dự án sẽ có hiệu lực
1.3 Vai trò của nguồn hỗ trợ phát triển chính thức đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở các nước đang phát triển
CHÍNH SÁCH CHUNG VỀ ODA
VẬN ĐỘNG ODACHUẨN BỊ DỰ ÁN ODA
ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT ĐIỀU ƯỚC THỰC HIỆN DỰ ÁN ODA
Trang 371.3.1 Vấn đề công nghiệp hóa và quan điểm của Việt Nam
1.3.1.1 Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo giáo sư Trần Văn Thọ: “Công nghiệp hóa là quá trình biến đổi nền kinh tế mà nông nghiệp và khai thác nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn sang một nền kinh tế mà công nghiệp đóng vai trò chủ đạo Trong quá trình đó, tỷ trọng của công nghiệp sẽ ngày càng lớn trong sản xuất, xuất khẩu và lực lượng lao động Trong nền kinh tế mở, công nghiệp hóa cũng có nghĩa là quá trình ngày càng xây dựng nhiều ngành công nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.”[30]
Theo giáo sư Đỗ Quốc Sam: “ Theo nghĩa hẹp, CNH được hiểu là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm đa số giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp và từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp Tóm lại là quá trình chuyển tiếp từ một xã hội nông nghiệp sang một xã hội công nghiệp, trong đó sự thay đổi về kinh tế được coi là căn bản.”[29, tr.5]
Công nghiệp hóa có 2 hình thức: CNH cổ điển xuất hiện từ cuối thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 20 với đặc trưng CNH gắn liền với thị trường hóa, đô thị hóa, dân chủ hóa Ví dụ như Anh, Pháp, Thụy sĩ, Đan Mạch… Hàn Quốc và các nước công nghiệp mới (NICs) đã thực hiện giai đoạn nước rút khoảng 30-40 năm và hoàn thành CNH vào thập niên 80, 90 của thế kỷ 20 được xem là CNH kiểu mới có nghĩa là ngoài những đặc trưng của CNH cổ điển còn kết hợp với toàn cầu
Trang 38hóa, tin học hóa và hội nhập kinh tế để thích ứng với giai đoạn phát triển mới của nhân loại (xem phụ lục 3)
Hiện đại hóa (HĐH) là sự áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất và quản lý, từ đó chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, như vậy CNH là giai đoạn đầu của thời kỳ HĐH Hay nói khác
đi, HĐH là quá trình đưa xã hội với nền kinh tế truyền thống cũ sang nền kinh tế có ứng dụng khoa học công nghệ với trình độ tiên tiến hiện đại
*Các yếu tố dẫn đến tăng trưởng nhanh và công nghiệp hóa thành công ở các nước đang phát triển ở Đông Á
Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, các yếu tố đóng góp vào nền kinh tế tăng trưởng nhanh là tăng tiết kiệm, đầu tư để tích lũy vốn; sự can thiệp đúng mức của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường; đầu tư giáo dục, đào tạo để xây dựng nguồn nhân lực thành thạo và năng động; cộng với chính sách phát triển hợp lý đã tạo nên cơ cấu các ngành công nghiệp trong nước phát triển phù hợp với sự phân công lao động quốc tế
Những yếu tố quyết định tăng trưởng là tỷ lệ đầu tư cao và chính sách mở cửa tích cực Tỷ lệ đầu tư cao sẽ tạo ra nguồn vốn để đẩy mạnh năng lực sản xuất đồng thời làm tăng nhu cầu, mở rộng thị trường để sản xuất có điều kiện mở rộng Tuy nhiên để đầu tư cao phải đi kèm với mức tiết kiệm cao và như các nước đang phát triển khác, các nước Đông Á phải đối mặt với hai khoảng thiếu hụt: thiếu hụt giữa đầu tư và tiết kiệm và thiếu hụt trong cán cân ngoại thương Sự thiếu hụt này sẽ được bù đắp từ dòng vốn nước ngoài dưới các hình thức ODA, FDI, vay thương mại… Vấn đề là dòng vốn này phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả và phục vụ cho xuất khẩu để gia tăng ngoại tệ, gia tăng tiết kiệm trong nước trong tương lai để các khoảng thiếu hụt trên sẽ thu hẹp dần và nền kinh tế không còn phụ thuộc vào vay mượn và viện trợ
Trang 391.3.1.2 Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Quan điểm về CNH, HĐH ở Việt Nam được đề cập trong các Báo cáo của Đại Hội Đảng toàn quốc các Khóa như sau:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khóa VII của Đảng Cộng sản Việt
Nam (1994) nêu rõ: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.” [29]
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta nhấn mạnh: “
Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [29]
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 được thông qua
tại Đại hội IX xác định: “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút
ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt Phát triển những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức.” Đảng cũng đề ra
mục tiêu “phấn đấu trong giai đoạn 2001-2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo
Trang 40nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [29]
Chính phủ phải trực tiếp hỗ trợ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế thông qua đầu tư phát triển nhất là kết cấu hạ tầng kinh tế: hệ thốâng giao thông, đường xá, thủy lợi, điện lực, nước sạch… Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và như vậy nhu cầu đầu tư của nhà nước khá lớn trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển Mặt khác, đầu tư của nhà nước để phát triển các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
Trong thời kỳ đầu của chiến lược công nghiệp hóa, qui mô chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi chính sách thu hút vốn đầu tư chưa được hoàn thiện, Nhà nước phải tăng cường quy mô đầu tư từ NSNN để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hóa Nguồn vốn ODA có khả năng hỗ trợ chính phủ ở cả hai phương diện trên: đầu tư hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội Thật vậy, với nguồn vốn có tính ưu đãi cao, ODA sẽ góp sức cùng với nguồn vốn đầu tư công của chính phủ nâng xấp, xây dựng mới hệ thống huyết mạch về
cơ sở hạ tầng chính yếu (điện, giao thông, nước sạch, viễn thông) để tạo điều kiện cho giao thương, thu hút đầu tư FDI, đầu tư tư nhân, chuyển dịch cơ cấu và giảm nghèo
Bên cạnh đó, thông qua ODA chính phủ của nước tiếp nhận sẽ thiết lập quan hệ hợp tác thường xuyên với cộng đồng quốc tế, tạo điệu kiện giao lưu hợp tác kinh tế Các dự án ODA không những hỗ trợ về tài chính mà trong quá trình thực hiện sẽ có một sự truyền dẫn về công nghệ, kinh nghiệm quản lý thông qua